Thông qua các hoạt động trực tiếptại trại sẽ giúp sinh viên củng cố kiến thức đã được học và nâng cao tay nghề.Xuất phát từ nhu cầu của sinh viên cũng như những đòi hòi của thực tiễn sản
Trang 1-o0o -NGUYỄN ĐỨC HẢI
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH Ở ĐÀN LỢN NÁI MANG THAI VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI BÙI HUY HẠNH – XÃ TÁI SƠN – HUYỆN TỨ KỲ -
TỈNH HẢI DƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017
Thái Nguyên, 2017
Trang 2-o0o -NGUYỄN ĐỨC HẢI
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH Ở ĐÀN LỢN NÁI MANG THAI VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI BÙI HUY HẠNH – XÃ TÁI SƠN – HUYỆN TỨ KỲ -
TỈNH HẢI DƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thu Quyên
Thái Nguyên, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường và thực tập tại cơ
sở, đến nay em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp đại học Để hoàn thànhbản khoá luận này em đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của cô giáohướng dẫn, sự giúp đỡ của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi – Thú y, trườngĐại học Nông Lâm Thái Nguyên và trang trại Bùi Huy Hạnh Em cũng nhậnđược sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ độngviên của người thân trong gia đình Để đáp lại tình cảm đó, qua đây em xinbày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạođiều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, BanChủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoaChăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ
và dìu dắt em trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian thực tậptốt nghiệp
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn
nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thu Quyên, người đã trực tiếp
hướng dẫn em thực hiện thành công khóa luận này
Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới trang trại Bùi HuyHạnh cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại về sự hợp tác giúp
đỡ em trong suốt quá trình thực tập, hướng dẫn các công tác kỹ thuật, theo dõicác chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Qua đây, em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân vàbạn bè đã giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tạitrường
Cuối cùng, em xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong hộiđồng đánh giá khóa luận lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 12 năm 2017
Sinh viên
NGUYỄN ĐỨC HẢI
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Khẩu phần cho lợn nái nuôi tại trại 36
Bảng 3.2 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 37
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn chăn nuôi tại trại lợn Bùi Huy Hạnh từ năm 2015 đến năm 2017 39
Bảng 4.2 Khẩu phần ăn cho lợn nái nuôi tại trại 41
Bảng 4.3 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 42
Bảng 4.4 Số lượng lợn nái chửa, nái nuôi con và lợn con trực tiếp chăm sóc trong 6 tháng thực tập 43
Bảng 4.5: Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh 44
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện đỡ đẻ, phẫu thuật trên đàn lợn con 46
Bảng 4.7 Kết quả trực tiếp đỡ đẻ và can thiệp khi lợn nái đẻ khó 48
Bảng 4.8 Kêt quả trực tiếp thực hiện công việc vệ sinh, sát trùng tại trại 50
Bảng 4.9: Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ .52
Bảng 4.10 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ trong thời gian thực tập 53
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm) 5
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 7
2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 7
2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 11
2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 15
2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp tại cơ sở trong thời gian thực tập 18
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 30
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 30
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 32
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 34
3.1 Đối tượng và phạm vi tiến hành 34
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 34
3.3 Nội dung tiến hành 34
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 34
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 34
Trang 73.4.2 Phương pháp thực hiện 34
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 38
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại lợn Bùi Huy Hạnh từ năm 2015 đến năm 2017 39
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn 40
4.2.1 Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 40
4.2.2 Kết quả thực hiện biện pháp phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 49
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 58
Trang 8Trong chăn nuôi cũng vậy, việc áp dụng quy trình chăn nuôi sẽ giúp chongười chăn nuôi có được cái nhìn tổng quát những việc cần làm, khi phátsinh bất cứ vấn đề khiến hiệu quả chăn nuôi giảm xuống, người chăn nuôi cóthể dựa vào quy trình để xác định điểm thực hiện chưa đúng và có biện phápđiều chỉnh.
Với việc áp dụng quy trình chăn nuôi sẽ giúp cho công việc chăn nuôi tạicác trang trại lớn, nhỏ trở nên chuyên nghiệp hơn, góp phần nâng cao hiệuquả kinh tế, giảm công và sức lao động
Trong những năm gần đây, nhờ việc áp dụng những thành tựu khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đã có những bước pháttriền lớn như: tổng đàn lợn tăng, cơ cấu đàn lợn đa dạng, năng suất cao, khảnăng phòng bệnh tốt… Các nhà khoa học cũng không ngừng tìm tòi, nghiêncứu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất chăn nuôi
Là một sinh viên được đào tạo trong nhà trường, việc áp dụng các kiếnthức nền tảng đã được học vào thực tiễn sản xuất là một việc làm cần thiết Đểnâng cao kỹ năng nghề cho sinh viên trước khi ra trường, mỗi sinh viên phải
có thời gian thực tập tại các trại chăn nuôi Thông qua các hoạt động trực tiếptại trại sẽ giúp sinh viên củng cố kiến thức đã được học và nâng cao tay nghề.Xuất phát từ nhu cầu của sinh viên cũng như những đòi hòi của thực tiễn
sản xuất, em đã tiến hành thực hiện đề tài “ Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh ở lợn nái mang thai và lợn con theo mẹ nuôi tại trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh”.
Trang 9- Giúp sinh viên củng cố kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thông qua việc
áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái và lợn con theo mẹ
- Có thể chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thường gặptrên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ
- Xác định được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đànlợn nái nuôi con tại trại
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi con
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
Trang 102.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
2.1.1.1.Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập
* Vị trí địa lý
Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh nằm độc lập giữa một vùngbát ngát màu xanh của cánh đồng lúa, được thành lập và đi vào sản xuất từnăm 2007, trên địa bàn của xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
* Điều kiện khí hậu
Trại chăn nuôi nằm trong địa bàn của xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, chính
vì vậy điều kiện khí hậu của trại mang đặc trưng khí hậu của huyện Tứ Kỳ làkhí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 22,7 - 24,10C; Lượng mưatrung bình 1.297 - 1910.5mm; Độ ẩm trung bình 81,3 %; Số giờ nắng trongnăm từ 1530-1776 giờ
Gió chủ đạo là gió Đông Nam và Đông Bắc Hàng năm có gió bão, mưa
to và cũng bị ảnh hưởng bởi các cơn bão xảy ra trong năm
2.1.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập
* Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại có tổng diện tích 3ha, trong đó 1ha dành cho xây dựng khuchăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và 2ha trồng cây xanh và ao
hồ Khu chăn nuôi của trại chuyên nuôi lợn sinh sản do công ty C.P cung cấphai giống lợn Landrace - Yorkshire và Pietrain - Duroc
Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trạicho 1300 nái, bao gồm: 6 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4
m x 1,6 m/ô), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m x
Trang 11Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệthống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8quạt thông gió đối với chuồng nái chửa, 2 quạt đối với chuồng cách ly Haibên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóngbằng tôn lạnh.
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máyđếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóngliều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu vực khácđều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nướcuống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 vàchuồng nái chửa 2 Nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác, được bố trí
từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa cácchuồng
Hệ thống điện: nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Đốivới chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụcho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con, mỗi chuồng đẻđược lắp đặt cố định 10 bóng thắp sáng so le nhau, cùng với hệ thống bóngsưởi cho mỗi ô chuồng có lợn con được sinh ra
Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng cho cán bộ kỹ thuật và công nhân gồm
3 phòng, có phòng sát trùng dành riêng cho nam, nữ và phòng sát trùng dànhcho kỹ sư Mỗi phòng sát trùng được chia làm 3 khoang gồm 1 khoang thay
đồ, 1 khoang sát trùng và 1 khoang tắm tráng với đầy đủ các trang thiết bịnhư: bình nóng lạnh, sen tắm, chậu rửa, gương soi, móc quần áo, khăn, xàbông, dầu gội Hệ thống sát trùng khu vực ngoài chuồng nuôi gồm: nhà sáttrùng xe, hố sát trùng, máy nén phun sát trùng di động trong khu vực chuồngnuôi
Trang 12Hệ thống xử lý môi trường: chất thải được xử lý bằng hệ thống biogastrước khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sauquạt hút gió, có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi.
Các công trình phụ trợ khác: khu sinh hoạt cho cán bộ, nhân viên của trạiđược tách biệt với khu chăn nuôi gồm phòng kỹ sư, nhà ở công nhân, nhà bếp,nhà tắm, nhà vệ sinh Cổng trại, tường rào đảm bảo an ninh Có nhà kho phục
vụ chăn nuôi như nhà để vôi bột, bể tôi vôi nước
Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc
để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng,máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi
* Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:
01: Chủ trại là giám đốc công ty
01: Trưởng trại
02: Kỹ thuật trại
02: Kế toán
14: công nhân và 6 sinh viên thực tập
01: bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổchuồng đẻ, tổ chuồng bầu Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cáchnghiêm túc, đúng quy định của trại
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)
2.1.2.1 Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật Trại lợn nuôi lợn nái sinh sản gồm các giống lợn khácnhau như: Yorkshire, Landrace, Pietrain, Hampshire, Duroc Hiện nay, trung
Trang 13Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 24ngày thì tiến hành cai sữa, sau đó được chuyển sang chuồng úm.
Trong trại có 20 lợn đực giống các loại, các lợn đực giống này được nuôinhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinhnhân tạo, một số cho phối giống trực tiếp Tinh lợn được khai thác chủ yếu từgiống lợn Duroc Lợn nái được phối 2 lần và được luân chuyển giống cũngnhư con đực
Thức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao củacông ty cổ phần CP Việt Nam cho từng đối tượng lợn của trại
2.1.2.2 Công tác thú y
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luônthực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty cổphần CP Việt Nam
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát vềmùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinhchuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, đường đi trong trại được quét dọn vàrắc vôi theo quy định
- Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phảisát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa cácchuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôibột, các phương tiện ra vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng
Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” nên tất cả lợn ở đây đều
được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ Quy trình phòng bệnh bằngvắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối vớitừng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con
Trang 14trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đànlợn luôn đạt 100 %.
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểmtra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được
kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnhnên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90 % trong một thời gian ngắn Vì vậy,không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
có liên quan đến nội dung của chuyên đề
2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.1.1 Phòng bệnh
Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnhđược đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể haṇ chế hoặc ngăn chặnđược bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vâṭ chủ Do vâỵ, việc phòngbệnh cũng như trị, bệnh phải kết hơp nhiều biêṇ pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt :
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004) [13] bệnh xuất hiện trong một đànlợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm hoặc khôngtruyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa
ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phầnlớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhângây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs, (1993) [8], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vâṭ chủ Khi môi trườngquá ô nhiễm do vê sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi nhiễm vi
Trang 15trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật làđiều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻmạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phảiđược vê sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiêṭ đô trong chuồng phải đảm bảo
27 – 300C đối với lợn sơ sinh và 28 – 300C với lợn cai sữa Chuồng phải luônkhô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùađông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trongnhững ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang laịhiêụ quả cao trong chăn nuôi
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [23] từ 3 – 5 ngày trước dự kiến đẻ,
ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất nhưCrezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợnnái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoángmát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xungquanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, đểkhô sau đó khử trùng chuồng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ítnhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản.Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyềnnhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏichuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịchsát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từmái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thảirắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nướcrửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần
Trang 16vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi.
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnhngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
Trang 17+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu quá trình chữa bệnh kéodài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa.
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thìkhông nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [10] các biện pháp chữa bệnh truyềnnhiễm là :
+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệsinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp,phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đốiphó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh.+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậythường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnhbằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, cótác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độctố)
+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phốihợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị,vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụngngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn.Tuy nhiên sử dụngkháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây
Trang 18nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của khángsinh.Vì vậy, khi thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây :
- Phải chẩn đoán đúng bệnh đúng thuốc, sai thuốc sẽ chữa không khỏibệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xácđịnh Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian đểphát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tínhcủa từng loại, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn khángthuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,
bổ sung thêm vitamin, truyền nước sinh lý… cho gia súc
2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.2.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
* Sự thành thục về tính:
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và
có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đãphát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Concái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối
Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế
độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại
+ Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau:những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giốngthuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơnnhững giống có tầm vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh và cs, (2003) [18] cho rằng: Tuổi động dục đầutiên ở lợn nội (ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4-5 tháng khi khối lượng đạt từ 20-25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn sơ với lợn nội thuần, ở
Trang 19lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng
cơ thể đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúcđộng dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điềukiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau.Lợn ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầumuộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
- Chế độ dinh dưỡng: Theo John Nichl (1992) [5],chỉ rõ Chế độ dinhdưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thườngnhững lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớmhơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôitrong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày(6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sựthành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khốilượng cơ thể là 48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là
do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinhdưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xungquanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường củachúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen vàprogesterone trong máu làm cho hàm lượng của trong trong cơ thể không đạtmức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Theo Dwane và cs, (1992) [3] mùa vụ
và thời kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợnnái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnhhưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trongcác tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thụcsớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày(mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các
Trang 20mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so vớinhững biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày.
- Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc,nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớnlên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và
cs, (2003) [18] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên
vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinhdưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quảsinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lầnđầu rồi mới cho phối giống
* Sự thành thục về thể vóc:
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs, (2003) [11] tuổi thành thục về thể vóc làtuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc
ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục
về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầutiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, tronggiai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn
mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt,nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xươngchậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năngsuất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm.Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nêncho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 -110kg mới nên cho phối
2.2.3.2 Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể
đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện
Trang 21tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao,noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thảitrứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạtcác biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đóđược lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính.
Theo Nguyễn Thiện và cs, (1993) [15], chu kỳ tính của lợn nái thườngdiễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dàikhoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chialàm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực(phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)
+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưacho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trênđối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40h, với lợn nội là 25 - 30h
+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lênlưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yênkhi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu đượcphối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30h
+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở,đuôi cụp và không chịu đực
- Thời điểm phối giống thích hợp
Theo Nguyễn Thiện và cs, (1993) [15] trứng rụng tồn tại trong tử cung 2
- 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ Thời điểm phốigiống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiềungày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục.Đối với lợn náinội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian độngdục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậuthai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảykép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
Trang 222.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.3.1.Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợncon có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con.Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
- Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [23] thức ăn dùng cho lợn nái đẻphải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợnnái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó,hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạngsức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối vớinhững lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức
ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sứckhỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằngcách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phảicăn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độdinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh(0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ
có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăncháo loãng Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách độtngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cầnchế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăncho lợn nái
- Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đếnnăng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs,
Trang 23(2004) [23] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú,thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trườnghợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngàycần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng,nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phảikhô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên đểtrống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần
vệ snh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dínhtrên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làmnhư vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trựctiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sach sẽ cho lợnnái,chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quendần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quantrọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs,(2004) [23] ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừalợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt,
mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điềukiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vàonhững tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ănsớm cho lợn con ( để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi ) màkhông bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ củalợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm : 1,2m x 1,5m
Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 – 5 ngày trước khiđón lợn con sơ sinh
2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
- Quá trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [23] thức ăn cho lợn nái nuôi conphải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó
Trang 24là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,
cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn
bổ sung đạm động, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợnnái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗnhợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủprotein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩnquy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 – 1,0 %,phospho 0,7 %
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng vàảnh hưởng trưc tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ,chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡngcho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [23] trong quá trình nuôicon, lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg)hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ
+ Số bữa ăn trên ngày : 2 (sáng và chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kgthức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 – 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu
có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 – 30%
Trang 25+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước.
- Quy trình chăm sóc
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [23] vận động tắm nắng là điều kiệntốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa củalợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi
có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gianvận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trongchăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ,không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng củathức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin
Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảmbảo luôn khô ráo, sach sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinhchuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[23] chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cholợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 – 200C, độ ẩm 70 – 75%
2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp tại cơ sở trong thời gian thực tập
2.2.4.1 Bệnh ở lợn nái sinh sản
* Bệnh viêm tử cung
Theo Đỗ Quốc Tuấn, ( 2005) [1] cho rằng: bệnh viêm tử cung xảy ra trêncác giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôicon đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh,chăm sóc nuôi dưỡng Khi gia súc sinh đẻ trong trường hợp đẻ khó phải canthiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, tổn thương, vikhuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễmnhư sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… cũng thường gây viêm
tử cung
- Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Trang 26Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [22], viêm tử cung là một quá trìnhbệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷcác tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở giasúc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [17], Phạm Sỹ Lăng và cs,(2002) [19], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằngphương pháp thụ tinh nhân tạo , dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phốigiống
+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vậthoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âmđạo truyền sang cho lợn khoẻ
+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
+ Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm,Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm
+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻkhông sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện đểxâm nhập vào gây viêm
Theo Đoàn Kim Dung và cs, (2002) [2] cho biết, nguyên nhân gây viêm
tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella,
E.coli….
Theo Lê Văn Năm và cs, (1999) [7] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân
từ ngoại cảnh gây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ
đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chấtnhày có trong cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc
Trang 27chăm sóc nuôi dưỡng không hợp lý và thiếu vận động đã làm chậm quá trìnhthu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường dạ con trở vềkhối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điều kiện tốt để
vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bênh Biến chứng nhiễm trùng do vikhuẩn xâm nhập vào dạ con gây lên trong thời gian động đực (vì lúc đó tửcung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật
+ Bệnh còn xảy ra do sự bất hợp lý về dinh dưỡng và quản lý: Khẩuphần thiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm
tử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xâyxát Thiếu khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung
- Triệu chứng:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệttới 6 - 7 ngày Sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sangvàng hay trắng và trong Trong trường hợp bị viêm thì sản dịch có thể có màuđen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 - 420C trong vài ngày đầu âm môn sưngtấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ.+ Thể mãn tính: hông sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịchnhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉchảy ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kếtquả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âmđạo tử cung lan sang thai làm chết thai
- Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinhdục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnhhưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triểncủa lợn con
Trang 28Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [22], Trần Thị Dân (2004) [21], khilợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co
thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có
thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung
tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồngtrứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây comạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến
thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng
Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung
tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chếtlưu
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung đểgiúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung
giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con tronggiai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt
của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết
kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa.Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêuchảy, còi cọc
+ Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Trang 29Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự
phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trởlại được và không thải trứng được
+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khisinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau
là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong cácnguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sốngthấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnhhưởng tới hoạt động của buồng trứng
- Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiệnvào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nêndịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới
200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màutrắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá.Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính,viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ
ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi cónhững mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kếttinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợnnái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy
ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì cóthể bị nhầm lẫn
Trang 30nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặtkhác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán chochính xác.
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểuhậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
* Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân gây bệnh viêm vú:
Theo Trần Minh Châu (1996) [20] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi
không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi
khuẩn đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhânchính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái,không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cholượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không búhết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm
+ Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ,viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu vềtuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú mộthàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Theo Trương Lăng, (2000) [26], Lợn con
bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vúcăng dễ dẫn đến viêm
+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn,sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú,thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
Trang 31ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [9], viêm vú thườngxuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màuhồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau.Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dài trongsuốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuốngsàn, ít cho con bú Theo Lê Hồng Mận, (2002) [6], Lợn con thiếu sữa kêu lachạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chếtcao 30 - 100% Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa cónhững cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng,xanh lợn cợn, đôi khi có máu.
- Hậu quả của bệnh viêm vú:
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
+ Theo Nguyễn Đức Lưu và cs, (2004) [12], bệnh viêm tử cung và viêm
vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con.+ Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [17] cũng khẳng định: Mất sữa saukhi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thểthường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảmảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinhdưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồichức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa cónhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh vàtrọng lượng cai sữa thấp
Trang 32Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnhhưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau.
+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh
truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu
tạo của nhau
- Triệu chứng: Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:+ Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắcthường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn
+ Sót nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhaucòn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau rangoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ
Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005) [1]: Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sótnhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sảndịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cholợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm sốnhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không
Trang 33can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương TiêmOxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy rangoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cungtrong ba ngày liên tục.
* Bệnh bại liệt sau sinh
Là bệnh mà lợn mẹ mất khả năng vận động sau thời gian sổ thai
- Nguyên nhân:
+ Do thai quá to, tư thế và chiều hướng của thai không bình thường.+ Quá trình thủ thuật kéo thai quá mạnh hay không đúng thao tác…từ đógây tổn thương thần kinh tọa hoặc ảnh hưởng đến đám rối hông khum dẫnđến lợn mẹ bại liệt
+ Do thiếu lượng Ca trong máu một cách đột ngột ngột gây ra bại liệt cho lợn
+ Thao tác can thiệp kịp thời, đúng kỹ thuật
+ Hằng ngày trở mình cho lợn mẹ để tránh bầm huyết, hoại tử da và kếphát với chướng bụng, đầy hơi
Trang 34+ Tiêm mg-calcium cho lợn Đồng thời kết hợp với châm cứu.
2.2.4.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
* Bệnh viêm phổi
Lứa tuổi bị bệnh: bệnh thường xảy ra ở lợn con giai đoạn sau cai sữa vàlợn choai, đặc biệt là lợn lúc 7 tuần tuổi trở lên
- Nguyên nhân: Theo Trung tâm chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [25]
bệnh viêm phổi do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có Mycoplasma
hyponeumoniae gây ra
- Triệu chứng và bệnh tích:
+ Cấp tính: thường gặp trong đàn lần đầu bị nhiễm bệnh, viêm phổinặng, ho râm ran, thở khó, sốt và tỉ lệ chết cao Tuy nhiên những triệu chứngnày biến động và biến mất đi khi bệnh nhẹ đi
+ Mãn tính: thường gặp trong đàn có mầm bệnh xuất hiện nhiều lần, hokéo dài và nhiều lần (ho theo kiểu chó ngồi) Một số con bị hô hấp nặng vàbiểu hiện triệu chứng viêm phổi, sẽ có khoảng 30 - 70% số lợn có bệnh tíchtổn thương phổi khi mổ khám
- Chẩn đoán: dựa trên tiền sử bệnh trong trại, dấu hiệu lâm sàng vàphương pháp phòng thí nghiệm Mổ khám thấy có bệnh tích phổi hóa gan trênthùy phổi trước
- Phòng bệnh và điều trị:
+ Phòng bệnh: dùng kháng sinh amoxicillin 15% trộn với thức ăn vớiliều lượng 2 - 3 kg/1 tấn thức ăn, hoặc dùng khác sinh Dynamutilin 10%trộn với thức ăn với tỷ lệ 2kg/1 tấn thức ăn Kết hợp dùng vitamin, chấtđiện giải…
+ Điều trị: kháng sinh Tylan 200 tiêm bắp với liều 0,5ml/10kg TT, kếthợp với vitamin, thuốc bổ tăng sức khỏe cho lợn con
Trang 35Bệnh xảy ra quanh năm, tùy theo ảnh hưởng của thời tiết mà phát sinh, pháttriển Bệnh thường phát sinh vào mùa mưa khi thời tiết ẩm thấp hay thay đổiđột ngột, lứa tuổi mắc bệnh trầm trọng nhất là lợn từ 1 - 21 ngày tuổi.
- Nguyên nhân:
+ Do điều kiện vệ sinh dinh dưỡng cho lợn con không đảm bảo Quátrình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ không đầy đủ, nhất là giai đoạn lợn mẹmang thai bị thiếu chất dinh dưỡng, khoáng, nhất là sắt , côban, can xi,Vitamin B12 làm bào thai phát triển kém, do đó lợn con sơ sinh dễ bị bệnhphân trắng Bên cạnh đó, lợn con ỉa phân trắng còn do rối loạn trao đổi chất vìlợn con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu chất dinh dưỡng, nhất là thiếu sắt lạikhông bổ sung đầy đủ dinh dưỡng cho lợn con và cũng bởi trong giai đoạncòn bú mẹ, lợn con rất cần nước, thiếu nước chúng sẽ uống nước bẩn dẫn đếnmắc các chứng về đường ruột
+ Do đặc điểm sinh lý của lợn con Khi mới sinh hệ điều tiết thân nhiệtcủa lợn con chưa hoàn chỉnh, sẽ không thích nghi với sự thay đổi bất thườngcủa thời tiết, khí hậu và lượng mỡ dưới da của lợn con lúc mới sinh chỉ cókhoảng 1% Bởi vậy, nếu khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quátrình sản nhiệt và thải nhiệt, khi khí hậu thời tiết thay đổi thất thường sẽ khiếnlợn mắc bệnh
Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi theo
mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 - 14ngày tuổi (Nagy và Fekete , 2005) [33]
- Triệu trứng:
+ Lợn con bú ít, rồi bỏ hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo
+ Tiêu chảy, da khô nhăn nheo, đầu to bụng hóp, lợn gầy sút rất nhanh,hậu môn thường dính bết phân