Từ những mục tiêu đó được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm khoa Chănnuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự hướng dẫn của cô giáo và sự tiếp nhận của cơ sở, tôi đã tiến hành
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K45 - TY - N03 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Hữu Hòa
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại Học Nông Lâm TháiNguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, nhờ sự nỗ lực của bảnthân và sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè, tôi đã hoàn thành tốt đợt thựctập tốt nghiệp
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệunhà trường, các phòng ban, các thầy cô giáo trong nhà trường, các thầy côgiáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trongsuốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo ThS Nguyễn Hữu Hòa
người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoànthành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cán bộ và công nhân trong trại lợnBảy Tuân - Chương Mỹ - Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thựchiện đề tài tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiệnthuận lợi để tôi hoàn thành tốt chương trình học tập tại trường
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Sinh viên
Ngô Văn Thực
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo của Nhà trường, thực hiện phươngchâm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tế sản xuất”, thực tậptốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình dạy và học củacác trường Đại học nói chung và của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyênnói riêng Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn vô cùng quan trọng đối với mỗisinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian giúp cho sinh viêncủng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp cho sinhviên làm quen dần với thực tế sản xuất, từ đó nâng cao được trình độ chuyênmôn, nắm bắt được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu,ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, tạo cho mình tác phong làmviệc nghiêm túc, sáng tạo để khi ra trường trở thành một bác sĩ thú y cóchuyên môn, đáp ứng được yêu cầu của thực tế sản xuất, góp phần nhỏ vào sựnghiệp phát triển đất nước
Từ những mục tiêu đó được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm khoa Chănnuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự hướng dẫn
của cô giáo và sự tiếp nhận của cơ sở, tôi đã tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sản khoa cho lợn nái nuôi tại trại Bảy Tuân - Chương Mỹ - Hà Nội”.
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên trong quá trìnhthực hiện chuyên đề không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy rấtmong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp đểchuyên đề của tôi ngày càng hoàn chỉnh hơn
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Sinh viên
Ngô Văn Thực
Trang 6Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 35
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của trại năm 2015 và năm 2017 44
Bảng 4.2 Kêt quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 45
Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại lợn Bảy Tuân trong 6 tháng 46
Bảng 4.4 Kết quả chẩn đoán bệnh sản khoa trên đàn lợn nái 47
Bảng 4.5 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái 48
Bảng 4.6 Kết quả chẩn đoán cho đàn lợn con tại trại Bảy Tuân 49
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn con tại trại 50
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện thủ thuật trên đàn lợn con 51
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 51
Trang 9LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích thực hiện chuyên đề 2
1.2.1 Về chuyên môn 2
1.2.2 Về thái độ 2
1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc 2
1.3 Ý nghĩa của chuyên đề 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 4
2.1.1 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 7
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 7
2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 7
2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 11
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 15
2.2.4 Một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của lợn nái 20
2.2.5 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 25
Trang 102.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 31
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 33 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 33
3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 33
3.4 Phương pháp thực hiện 33
3.4.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 33
3.4.2 Quy trình vệ sinh chuồng nuôi hàng ngày 33
3.4.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại36 3.4.4 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn tại trại 40
3.4.5 Quy trình xuất bán lợn 43
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 44
4.2 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại 45
4.2.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 45
4.2.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vaccine 46
4.3 Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn tại trại 47
4.3.1 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 47
4.3.2 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con 49
4.3.3 Kết quả thực hiện biện pháp thủ thuật trên đàn lợn con tại trại 50
4.4 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn 51
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 11Không những cung cấp thực phẩm cho con người mà ngành chăn nuôilợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt Ngoài ra còn
có các sản phẩm phụ như: lông, da, mỡ là nguồn nguyên liệu cho ngành côngnghiệp chế biến và công nghiệp thuộc da Do đó, để phát triển đàn lợn trongmỗi trại, chúng ta cần làm tốt các yếu tố về con giống, thức ăn, chế độ chămsóc nuôi dưỡng, quản lý và đặc biệt là công tác thú y cũng phải đặc biệt đượcchú trọng để hạn chế bệnh tật và nâng cao chất lượng chăn nuôi
Trong chăn nuôi lợn thì lợn nái có vai trò rất quan trọng đó là làm tăng
số lượng cũng như chất lượng cho đàn lợn
Tuy nhiên, chăn nuôi lợn nái cũng gặp những khó khăn như tình hìnhdịch bệnh hay xảy ra gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế, đặc biệt làchất lượng sản phẩm Đặc biệt là lợn nái thường mắc phải một số bệnh như:Bệnh viêm tử cung, bệnh đẻ khó, bệnh viêm vú, bệnh mất sữa sau đẻ,bệnh bạiliệt sau đẻ, hiện tượng rặn đẻ yếu…
Chính vì vậy, nhằm tăng khả năng sản xuất và hạn chế các bệnh mà đànlợn nái hay mắc phải, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôiThú y, thầy giáo hướng dẫn và cơ sở nơi tôi thực tập tôi tiến hành thực hiện
chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sản khoa cho lợn nái nuôi tại trại Bảy Tuân - Chương Mỹ - Hà Nội”.
Trang 121.2 Mục đích thực hiện chuyên đề
1.2.1 Về chuyên môn
- Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn
- Theo dõi những bệnh thường gặp, cách phòng trị ở đàn lợn nái nuôitại trại
- Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn nái
và phòng trị một số bệnh, góp phần phát triển ngành chăn nuôi lợn nói chung
và nghề chăn nuôi lợn nái nói riêng ở trang trại
1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc
* Kỹ năng làm việc
+ Học được cách sắp xếp, bố trí công việc trong học tập, nghiên cứu,làm việc một cách khoa học
+ Tuân thủ giờ giấc hoạt động của trang trại
- Làm việc nghiêm túc, làm việc theo kế hoạch đã được quy định
Trang 13- Không tự ý nghỉ, không tự động rời bỏ vị trí thực tập.
- Tham gia đầy đủ, tích cực các hoạt động và trào tại đơn vị thực tập
- Củng cố kiến thức đã học, ứng dụng vào thực tiễn chăn nuôi lợn tại trại
- Học tập, bổ sung kiến thức, nâng cao tay nghề trong việc chẩn đoán
và điều trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái
1.3 Ý nghĩa của chuyên đề
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của chuyên đề là những thông tin khoa học có giátrị bổ sung thêm những hiểu biết về một số đặc điểm sinh lý sinh sản của lợnnái và các bệnh thường gặp trên lợn nái
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của chuyên đề là cơ sở thực tiễn giúp người chăn nuôi biếtđược quá trình sản xuất của lợn nái, các bệnh thường gặp của lợn nái từ đótìm ra biện pháp khắc phục nhằm giảm thiệt hại trong chăn nuôi và có chế độchăm sóc hợp lý mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Cơ sở vật chất của trang trại
- Trại chăn nuôi của công ty được đặt trên một khu vực cao, dễ thoátnước, được tách biệt riêng với khu dân cư Xung quanh trại có hàng rào bảo
vệ, cổng chính và cổng vào nơi sản xuất có hố sát trùng để ngăn ngừa dịchbệnh từ ngoài xâm nhập vào Tổng diện tích của trại là 7 ha, trong đó:
+ 2,5 ha dung để chăn nuôi
3500 con/chuồng Một chuồng lợn thịt, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệthống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ Hai bêntường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,0 m², cách nền 1,2 m,mỗi cửa sổ cách nhau 50 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằngtôn
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: kínhhiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủydụng cụ và một số thiết bị khác
Trang 15Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đềuđược đổ bê tông và có các hố sát trùng.
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nướcuống cho lợn được cấp từ hai bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 3 vàchuồng bầu
3 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
2.1.1.1 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
- 01 chủ trại
- 01 quản lý trại
- 03 kỹ thuật trại
- 02 kế toán
- 02 thợ điện nước, cơ khí
- 01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
- 10 công nhân, 15 chú phạm nhân và 7 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhaunhư tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp Mỗi tổ thực hiện công việchàng ngày một cách nghiêm túc, tinh thần trách nhiệm cao, đúng quy định củatrại, thúc đẩy sự phát triển của trại
2.1.1.2 Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật
Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,5 lứa/năm
Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 9,86 con/đàn Trại hoạt độngvào mức khá theo đánh giá của công ty TNHH De Heus Việt Nam
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang chuồng cai sữa và xuất bán
Trang 16Trong trại có 15 con lợn đực giống, các lợn đực giống này được nuôinhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinhnhân tạo Tinh lợn được khai thác từ bốn giống lợn Landrace ,Yorshire ,Duroc
và Pidu Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao,được công ty TNHH De Heus Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phảisát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữ cácchuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôibột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổngvào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được chouống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ
Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêmtúc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từlợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏemạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm vàcác bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%
- Công tác trị bệnh: cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểmtra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được
Trang 17kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnhnên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy khônggây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn.
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.1.1 Phòng bệnh
Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnhđược đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặnđược bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng
Trang 18đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vâỵ, việcphòng bệnh cũng như trị, bệnh phải kết hợp nhiều biêṇ pháp khác nhau.
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt :
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2003) [18] bệnh xuất hiện trong một đànlợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặckhông truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đãđược đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đànlợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền cáctác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs, (1993) [21], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là
vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vâṭ chủ Khi môitrường quá ô nhiễm do vê sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi nhiễm
vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi cảm
nhiễm E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê sinh, chăm sóc có môṭ ý nghĩa
to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹthuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súckhoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn náiphải được vê sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiêṭ đô trong chuồng phải đảmbảo 27 - 300C đối với lợn sơ sinh và 28 - 300C với lợn cai sữa Chuồng phảiluôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm ápvào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồngngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phântrắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [17] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,
ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất nhưCrezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợnnái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Trang 19Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoángmát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xungquanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, đểkhô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ítnhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản.Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền
nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi
chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịchsát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từmái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thảirắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nướcrửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cầnphun sát trùng 1-2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưavào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
Trang 20Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnhngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch.
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kémvượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thìkhông nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [10] các biện phápchữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện
vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hôhấp, phân , nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thờiđối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậythường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữabệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn,
có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh khángđộc tố)
Trang 21+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phốihợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụngngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn.Tuy nhiên sử dụngkháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gâynên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của khángsinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽchữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xácđịnh Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian đểphát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng vàđộc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tácdụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái
Để đánh giá một cách đúng đắn năng suất sinh sản của lợn nái cần phải xác
định được các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng, lấy đó làm cơ sở, thước đo để định ra
Trang 22thời gian sử dụng lợn nái hiệu quả Các chỉ tiêu này cần phải được tính chungtrong toàn bộ thời gian sử dụng lợn nái từ lứa đẻ đầu đến lứa đẻ cuối cùng.
Theo Nguyễn Thiện và cs (2005) [25] cho rằng khi khảo sát và đánhgiá năng suất sinh sản của lợn nái cần chú ý các chỉ tiêu: tuổi thành thục sinhdục, chu kỳ động dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian mang thai và sốcon đẻ ra/lứa Tuy nhiên, Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao (1996) [24] chorằng số lợn con cai sữa/nái/năm là chỉ tiêu thể hiện sự đánh giá đúng đắn vàchính xác nhất về năng suất sinh sản của lợn nái Cũng theo Legault, các chỉtiêu ảnh hưởng đến số lợn con cai sữa/nái/năm bao gồm: số con đẻ ra, tỷ lệchết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu, thờigian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau
Ở Việt Nam vào những giai đoạn khác nhau, đã có những tiêu chuẩnkhác nhau để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái như: số con đẻ ra cònsống/lứa, khối lượng lợn cai sữa/lứa, tuổi đẻ lứa đầu với nái đẻ lứa 1 hoặckhoảng cách giữa 2 lứa đẻ với lợn đẻ từ lứa thứ 2 trở đi (theo TCVN 1647 -
82, TCVN 666 - 89 hoặc TCVN 1280 - 81, TCVN 1282 - 81) Trong điềukiện chăn nuôi hiện nay dù là chăn nuôi lợn nái ở bất cứ khu vực nào thì thờigian cho con bú của lợn nái cũng thấp hơn 60 ngày, thậm chí có những trangtrại với quy mô trung bình và nhỏ cũng đã thực hiện được việc tách con vào
21 ngày tuổi Đó cũng là một giải pháp góp phần tăng năng suất sinh sản củalợn nái
Ngoài các chỉ tiêu quan trọng trên thì chỉ tiêu về số con đẻ ra còn sốngcũng là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng chăn nuôi lợn nái Chỉ tiêu nàyđược tính cho số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng, khôngtính những con có khối lượng những con có khối lượng dưới 0,2 kg đối vớilợn nội; 0,5 đối với lợn lai và lợn ngoại Chỉ tiêu này cho biết khả năng đẻnhiều hay ít con của lợn nái, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa, kỹthuật thụ tinh nhân tạo và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống
Trang 23Tỷ lệ sống đến 24 giờ sau đẻ: tỷ lệ này không đảm bảo đạt 100% donhiều nguyên nhân khác nhau như lợn con chết ngạt, thai gỗ, thai non.
Số lợn con cai sữa/lứa: đây là chỉ tiêu rất quan trọng thể hiện trình độchăn nuôi lợn nái sinh sản Nó quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tớihiệu quả kinh tế của quá trình chăn nuôi lợn nái Thời gian cai sữa tùy thuộcvào trình độ chăn nuôi bao gồm kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y,phòng chống dịch bệnh Số lợn con cai sữa/lứa đẻ tùy thuộc vào kỹ thuật chănnuôi lợn nái nuôi con, kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ cũng như khảnăng tiết sữa của lợn mẹ, sức đề kháng và khả năng phòng chống bệnh củalợn con
Mặt khác số con cai sữa/lứa phụ thuộc vào số con để nuôi Người ta cóthể tiêu chuẩn hóa số con để nuôi/lứa là từ 8 - 10 con Nếu số con nhiều hơnhoặc ít hơn cần có sự điều phối giữa các lợn nái và phải làm muộn nhất là 48giờ sau khi đẻ Đơn giản nhất là chuyển lợn con từ ổ đông con sang ổ ít con,cần ghi rõ số hiệu của mẹ nuôi Khi lợn đạt 21 ngày tuổi cần ghi chép số connuôi sống/ổ, khối lượng toàn ổ kể cả những con nuôi ghép Việc “chuẩn hóa”
số con cho mỗi nái có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá lợn nái sinh sản
Số lượng lợn con/ổ có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chính cáclợn nái sau này Những lợn nái từng nuôi con đông sau này sẽ đẻ ra nhữngcon cái nhẹ cân hơn Việc tiêu chuẩn hóa số con đẻ ra/ổ là 8 - 10 con sẽ giảmbớt ảnh hưởng tiêu cực đó, giúp cho việc xác định giá trị giống chính xác hơn,
vì sau khi được chuẩn hóa và được nuôi dưỡng trong cùng một môi trườngnên khả năng làm mẹ, tiết sữa nuôi con của lợn nái được đánh giá chính xáchơn qua khối lượng của lợn con lúc 21 ngày tuổi
Số con cai sữa/lứa phụ thuộc tỷ lệ nuôi sống: tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinhđến cai sữa chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như ỉa chảy 10,8%; bệnh đãbiết 9,8%; bệnh chưa biết 1,1%; bị đói 19,9%; bị mẹ đè 4,2%; nguyên nhânkhác 3,2% Lợn con trước cai sữa thường bị chết với các nguyên nhân và tỷ lệ
Trang 24khác nhau như di truyền 4,5%; nhiễm khuẩn 11,1%; mẹ đè, thiếu sữa 50%;dinh dưỡng kém 8%; nguyên nhân khác 26,4% Theo Nguyễn Khắc Tích(2002) [26] tỷ lệ lợn con chết sau khi sinh ở mỗi giai đoạn có sự khác nhau:ngày 1 là 28%; ngày 2: 24%; ngày: 11%; từ ngày 4 - 7: 10%; từ ngày 8 - 14:15%; từ ngày 15 - 21: 6%; từ ngày 22 trở đi: 6%.
Số con đẻ/nái/năm: chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng rất nhiều vào thời giannuôi con và số ngày bị hao hụt (thời gian chờ phối, mang thai, sảy thai, chếtthai…) Trước kia ở Việt Nam thời gian lợn nái nuôi con trung bình là 60ngày, hiện nay tùy điều kiện cụ thể số ngày cho con bú đã rút ngắn còn từ 21 -
45 ngày Nếu cai sữa lợn con trước 22 ngày tuổi sẽ khắc phục được nhữngnguyên nhân gây chết đến, 5% trước cai sữa Nếu áp dụng các biện pháp đểtăng số lợn con cai sữa/lứa và số lứa đẻ/nái/năm sẽ tăng được số con cai sữa/nái/năm, kết hợp với chỉ tiêu khối lượng cai sữa/ổ sẽ mang lại hiệu quả kinh tếcho người chăn nuôi
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đàn con: chất lượng của đàn lợn connói lên chất lượng của lợn nái đồng thời phản ánh trình độ chăn nuôi của cơ
sở hoặc người chăn nuôi Các chỉ tiêu đó bao gồm:
+ Khối lượng sơ sinh toàn ổ: khối lượng đàn con cân được sau khi đỡ
đẻ xong, chưa cho con bú sữa đầu Đây là khối lượng của tất cả lợn con đẻ racòn sống, phát dục bình thường Chỉ tiêu này ảnh hưởng rất lớn tới quá trìnhphát triển sau này của đàn con
+ Khối lượng 21 ngày toàn ổ: được sử dụng để đánh giá khả năng tiếtsữa của lợn mẹ và khả năng tiết sữa của đàn con Tại 21 ngày sau đẻ khả năngtiết sữa của lợn mẹ đạt đỉnh cao về số lượng và chất lượng sau đó giảm dần.Đây chính là cơ sở của việc vận dụng để cai sữa sớm cho lợn con ở ngày tuổithứ 21
+ Khối lượng cai sữa toàn ổ: khối lượng cai sữa toàn đàn còn có quan hệkhăng khít với khối lượng sơ sinh và đây chính là cơ sở cho khối lượngxuất
Trang 25chuồng sau này Ngày nay thời gian cai sữa ngày càng được rút ngắn nhưngkhối lượng lợn con ở thời điểm cai sữa sớm chỉ có ý nghĩa trong việc địnhmức dinh dưỡng cho chúng ở giai đoạn tiếp theo cho chúng ở giai đoạntiếp theo chứ không cho phép đánh giá thành tích của lợn nái Năng suất củalợn nái phải được xác định dựa trên cơ sở đàn con với khối lượng ở 60 ngàytuổi.
+ Độ đồng đều của đàn lợn con: được thể hiện qua tỷ lệ đồng đều, chophép đánh giá được khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc phòngbệnh cho lợn con Nếu sự chênh lệch giữa cá thể có khối lượng nhỏ nhất trongđàn so với cá thể có khối lượng lớn nhất càng thấp thì độ đồng đều càng cao
+ Khoảng cách lứa đẻ: là số ngày tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngày đẻlứa tiếp theo gồm: thời gian chờ động dục trở lại sau cai sữa và phối giống cóchửa; thời gian chửa; thời gian nuôi con Nếu khoảng cách lứa đẻ ngắn thì sốlứa đẻ của nái/năm tăng lên Trong các yếu tố cấu thành khoảng cách lứa đẻthì thời gian có chửa không thể rút ngắn được, vấn đề đặt ra là cần áp dụngcác biện pháp kỹ thuật tiên tiến để rút ngắn khoảng thời gian còn lại Hiện nay
đã áp dụng cai sữa sớm cho lợn con ở 21 ngày tuổi và cho lợn nái ăn theo chế
độ phù hợp nhằm rút ngắn thời gian động dục trở lại sau cai sữa
Như vậy các tác giả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái đềuthống nhất rằng hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng
số lợn cai sữa (số lợn con có khả năng chăn nuôi/nái/năm) Chỉ tiêu này lạiphụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, tổng số lợn con đẻ ra, sốlứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống Giữa các chỉ tiêu trên có mối quan hệ với nhau(Đinh Văn Chỉnh, 2006) [6]
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộcvào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tínhcon giống, các giống lợn khác nhau thì thì có tính năng sản xuất khác nhau.Yếu tố ngoại cảnh bao gồm thức ăn dinh dưỡng, vệ sinh thú y, chuồng trại
Trang 26Mặt khác năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu: sốtrứng rụng, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa/lứa, thời gianchờ phối… Các chỉ tiêu này có hệ số di truyền thấp nên chúng chịu sự tácđộng mạnh mẽ của các điều kiện ngoại cảnh.
+ Yếu tố di truyền: ở lợn nái các tính trạng năng suất sinh sản của lợnnái đều có hệ số số di truyền thấp Với những tính trạng có hệ số di truyềnthấp để cải tiến năng suất có hiệu quả cần sử dụng phương pháp lai (Đặng VũBình (2002) [1] Số trứng rụng/chu kỳ đây là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọngtrong đánh giá năng suất của lợn nái Nó chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố là ditruyền, tuổi nái và chế độ dinh dưỡng
+ Phương thức chăn nuôi và trình độ kỹ thuật: có ảnh hưởng tới quátrình phát triển sinh dục của lợn nái Ở lợn hậu bị nếu nuôi nhốt và cách ly lợnđực thì tuổi thành thục sinh dục sẽ dài hơn Trong quy trình chăn nuôi lợn náihậu bị đã đặt vấn đề tiếp xúc với lợn đực giống hàng ngày Theo Hughes vàJemes (1996) [32] thì có đến 83% lợn nái hậu bị có khối lượng cơ thể trên 90
kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày, 20
- 25 phút/lần Mặt khác tuổi động dục lần đầu của lợn nái sẽ bị chậm ít nhất 1tháng nếu điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y Đểđạt kết quả thì lợn nái hậu bị phải nuôi chung thành nhóm đồng đều về giống,tuổi, khối lượng với mật độ theo từng thời kỳ: 3 - 5 tháng tuổi cần 0,4 - 0,5m²/con; 6 - 8 tháng tuổi: 0,5 - 0,8 m²/con (5 - 6 con/nhóm) sẽ đảm bảo cho lợnđộng dục lần đầu đúng thời gian biểu hiện đặc trưng cho giống
+ Khẩu phần ăn và quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng: nhu cầu dinh dưỡngcủa lợn nái khác nhau tùy thuộc giống, tuổi, trạng thái sinh lý Đây là mộttrong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất sinh sản Việcxác định chế độ nuôi dưỡng thích hợp với lợn nái cần đảm bảo làm tăng sốtrứng rụng, từ đó tăng các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng sơsinh, để mang lại hiệu quả trong chăn nuôi
Trang 27+ Tuổi của lợn nái: có liên quan chặt chẽ với khối lượng phối giống Đểđảm bảo điều kiện cho phối giống lần đầu lợn nái cần thành thục về tính vàthể vóc Nếu phối giống lần đầu quá sớm hoặc quá muộn, khối lượng khi đóquá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới hiệu quả Phối sớm khi khối lượng
cơ thể chưa đạt yêu cầu, các cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh, sức sống kém,chậm phát triển đồng thời ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể lợn mẹ về sau.Nếu để quá muộn, lợn nái hậu bị có khối lượng cơ thể quá lớn, quá béo cũng
sẽ làm giảm mức độ đạt được của các chỉ tiêu, từ đó giảm hiệu quả kinh tế.Chỉ nên phối giống cho nái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 thángtuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70 kg đốivới lợn lai (nội × ngoại), 9 - 10 tháng tuổi nặng trên 80 - 90 kg đối với lợnngoại và lợn lai (ngoại × ngoại)
+ Lứa đẻ: trên cơ sở số trứng rụng/chu kỳ, thứ tự các lứa đẻ cũng cóảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chúng Theo Hughes, Varley (1980)[33], lứa 1 có số con/ổ thấp nhất vì số trứng rụng ở lần đầu tiên là 11,3 Sau
đó tăng dần tới lứa 6, từ lứa 7 trở đi bắt đầu giảm dần hoặc sẽ giữ được ở mức
độ ổn định Nếu trong sản xuất áp dụng kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng theoquy trình, đảm bảo cho lợn nái không quá béo hoặc quá gầy và giữ cho haohụt lợn mẹ trong khoảng 12 - 16% sẽ có thể đảm bảo kéo dài về khả năng sinhsản đến lứa 10 - 12 Do vậy việc áp dụng quy trình và các tiến bộ kỹ thuật vàochăn nuôi lợn nái sinh sản là cần thiết để nâng cao thành tích sinh sản chochúng, mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi
+ Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ thụ thai: trứng rụng nếu gặp tinh trùng đúngthời điểm thích hợp sẽ được thụ tinh và phát triển thành hợp tử Vì vậy việcxác định được thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái có vai trò quyếtđịnh tới tỷ lệ thụ tinh số trứng rụng/chu kỳ
Trang 28Nếu số trứng rụng tăng quá cao so với bình thường thì ngay sau khiđược thụ tinh, số trứng phát triển bình thường sẽ giảm, từ đó ảnh hưởng tớichỉ tiêu số con đẻ ra/lứa.
+ Tỷ lệ chết phôi: sự sống sót của phôi sau khi được hình thành chịuảnh hưởng quan trọng của một số yếu tố như dinh dưỡng, sự phát triển củaphôi, các yếu tố khác như chăm sóc, vệ sinh thú y… Phôi thai chết chủ yếu ởthời kỳ đầu của giai đoạn chửa (thời kỳ phôi thai) Đặc điểm sinh lý cơ bảncủa thời ký này là hợp tử đang di chuyển từ vị trí hình thành (1/3 phía trênống dẫn trứng) về vị trí làm tổ (sừng tử cung) dễ bị tác động của điều kiệnngoại cảnh Mặt khác quá trình làm tổ của phôi ở sừng tử cung có thể cónhững tương tác không thích hợp giữa tử cung và mẹ gây chết phôi Số phôichết trong thời kỳ này rất cao (30 - 40%) đã là nguyên nhân để Scrofield gọiđây là pha khủng hoảng của sự phát triển phôi (Scrofield, 1972) [34]
+ Khí hậu thời tiết, mùa vụ: ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinhsản với các mức độ khác nhau Có ý kiến cho rằng mùa vụ không có ảnhhưởng gì tới tỷ lệ thụ thai Tuy nhiên nghiên cứu của Adlovic và cs (1983)[29] cho thấy mùa vụ liên quan tới tỷ lệ thụ thai thể hiện ở sự giảm sụt 10%khi phối giống lợn ở các tháng 6, 7, 8 so với tháng 11, 12 trong năm Điều nàyphù hợp với các nhận định của các tác giả khác cho rằng vào mùa hè, nhiệt độtrên 30 C thì sẽ giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi, số con đẻ ra/lứathấp Nếu nhiệt độ quá thấp ở mùa đông ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởngphát dục của đàn con, tỷ lệ mắc các bệnh đường tiêu hóa và hô hấp cao Nhiệt
độ thích hợp khoảng 18 - 22 C
+ Thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại: một số tác giả kếtluận rằng thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại ở lợn có mối tươngquan không thuận Thời gian cho con bú càng dài thì thời gian động dục trởlại càng ngắn Giữa các giống lợn, thời gian động dục trở lại có sự sai kháckhông đáng kể Thời gian động dục trở lại còn phụ thuộc vào chế độ cho ăn
Trang 29của lợn nái Với 7 kg thức ăn/ngày thì thời gian động dục trở lại là 5,5 ngày sovới 8 ngày khi cho ăn kg/ngày Việc xác định thời gian cai sữa cho lợn con có
ý nghĩa rất quan trọng vì nó ảnh hưởng tới số lứa đẻ/năm, mặt khác có liênquan đến sức khỏe của lợn mẹ và sự phát triển của đàn con sau cai sữa Nếucai sữa ở 3 tuần tuổi có thể nâng số lứa đẻ/năm lên 2,5 so với ở 8 tuần là 1,8 -
2 lứa Tùy theo tập quán chăn nuôi và điều kiện cụ thể, có thể cai sữa ở 19ngày (Mỹ), 23 - 28 ngày (Australia) Tốt nhất nên cai sữa cho lợn con ở 21 -
28 ngày tuổi (Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao, 1996) [24]
+ Số con cai sữa/ổ: chỉ tiêu này cùng với số lứa đẻ/nái/năm quyết định
số lợn con cai sữa/nái/năm, là 1 chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng đánh giáhiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản
+ Số con đẻ ra/ổ nhiều chứng tỏ trạng thái hoạt động của buồng trứngtốt, tình trạng sinh lý của lợn mẹ bình thường Số con đẻ ra/ổ có sự biến độngvới mức độ khác nhau Phần lớn lợn nái đẻ 11 - 12 con/lứa chiếm tỷ lệ caonhất (49,86%); số nái đẻ trên 13 con/lứa không nhiều (15,25%); số lợn đẻdưới 10 con/lứa chiếm tỷ lệ tương đối cao (34,89%) Số con sơ sinh/ổ thấp do
sự tác động của các yếu tố thời tiết, khí hậu Lợn nái động dục ở các điều kiệnkhác nhau, mùa vụ khác nhau, nhất là khi các điều kiện đó có sự thay đổi độtngột tạo stress, gây ảnh hưởng tới hoạt động thần kinh, nội tiết làm giảm sốlượng trứng phát triển, chín và rụng Phương thức phối giống, quá trình caisữa… cũng ảnh hưởng đáng kể tới số con sơ sinh/ổ
+ Khoảng cách lứa đẻ: là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất sinhsản của lợn nái Đây là thời gian tính từ lứa đẻ trước tới lứa đẻ sau, gồm thờigian mang thai, nuôi con, chờ phối Trong đó chỉ có thể tác động đến thờigian nuôi con và chờ phối để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ từ đó nâng số lứađẻ/nái/năm Vì vậy vấn đề đặt ra là phải áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào chănnuôi lợn nái sinh sản ở giai đoạn nuôi con và chờ phối để có thể nâng cao hiệuquả sinh sản
Trang 302.2.4 Một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của lợn nái
2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung
Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộphận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất làtrong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kémthì bệnh dễ sảy ra
Viêm tử cung thường xuất hiện trên nái sau khi sinh từ 2 - 3 ngày.Trong quá trình đẻ dịch và các chất trong tử cung chảy ra, cổ tử cung mở,niêm mạc tử cung xây sát, vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung (Đặng ThanhTùng, 1999) [27]
* Nguyên nhân:
Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặclợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bìnhthường Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tửcung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tửcung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối rữa tạo điều kiện cho
sự phát triển của vi khuẩn
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [19], lợn nái sinh ra đều mang vikhuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở chất tiếtchảy ra tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn
Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàngquang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn,bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung
Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [27], mầm bệnh có mặt trong một tuyếnqua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính là sựkém nhu động của ruột nhất là táo bón Vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào do vikhuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu
Trang 31Kết quả của Nguyễn Hữu Phước (1982) [19], tỷ lệ các loại vi khuẩn
gây viêm tử cung ở lợn như sau: E.coli chiếm 27%; Proteus valgaris chiếm 16%; Klebsielle chiếm 10,2%; Steptococus chiếm 34,5%; Staphylococus
chiếm 11,2%; Còn lại các loài vi khuẩn khác chiếm 2 - 7%
Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cho biết: Viêm tử cung
thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli dung huyết,
Staphylococus spp và Staphylococus aureus, đó là nguyên nhân chính gây
bệnh
Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinhbột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc dothiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại
vi trùng xâm nhập cũng gây viêm
Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêmnhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn
Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyềnbệnh sang lợn nái
Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thờitiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
* Triệu chứng:
Triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:
Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng hoặcxám và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cunggiảm nhẹ
Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu đỏ
và có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cungyếu ớt Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (1994) [16], viêm cơ tử cung thường kếphát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vikhuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối
Trang 32rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ítlớp tương mạc của tử cung bị hoại tử.
Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có mầu nâu rỉsắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm theo triệu chứng viêm phúcmạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn
* Hậu quả của bệnh viêm tử cung:
Theo Lê Thị Tài và cs (2002) [20], cho rằng: đây là một bệnh khá phổbiến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khảnăng sinh sản của gia súc cái
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chứcnăng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di
chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc
tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bàotích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ởtrong môi trường dại con bất lợi cũng dễ bị chết non
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lýtrong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóaniêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên quacác chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm chobào thai phát triển không bình thường
2.2.4.2 Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú
Trần Minh Châu (1996) [5] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không
đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn
đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây
ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảmkhẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra
Trang 33quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu làmôi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm.
Phạm Tiến Dân (1998) [7], nghiên cứu xác định vi khuẩn gây viêm vú
ở lợn nái sinh sản gồm: E.coli chiếm 18,2%, Staphylococcus chiếm 19%,
Streptococcus chiếm 27,18%, Klebsiella chiếm 14,7%.
+ Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ,viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu vềtuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú mộthàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợncon bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (TrươngLăng, 2000) [12]
+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻbẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu
vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
* Triệu chứng
Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 5 giờ cho đến 5
-7 ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [22], viêm vúthường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú
có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phảnứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéodài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu
vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn
mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (LêHồng Mận, 2004) [15] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa
có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng,xanh lợn cợn, đôi khi có máu
Trang 34* Hậu quả của bệnh viêm vú
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [14], bệnh viêm tửcung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợnnái nuôi con Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], cũng khẳng định: mất sữa saukhi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thểthường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảmảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinhdưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồichức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa cónhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh vàtrọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khóchữa, lợn nái có thể chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnhhưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
2.2.4.3 Bệnh bại liệt sau đẻ
* Nguyên nhân:
Bệnh thường xuất hiện do thai quá to, tư thế chiều hướng của thaikhông bình thường hoặc do quá trình thủ thuật kéo dài làm cho lợn nái bị tổnthương thần kinh tọa làm ảnh hưởng tới đám rối hông khum
Một phần do điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc kém dẫn đến lợn mẹ gầyyếu gây bại liệt
Trang 352.2.5 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục:
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ giasúc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh conkhỏe mạnh
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [17] so với khối lượng sơ sinh thìkhối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đềuqua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm vàhàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảmsinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng củalợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợncon sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh