Theo tínhtoán của các nhà kinh tế, năng suất của lợn nái được tính bằng số lợn con sinh ra, số lợn con còn sống sót đến lúc cai sữa, thời gian tái sản xuất của lợn náinhất là do không th
Trang 1MAI HÀ NGA
T
ên chuyên đ ề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ
MỘT SỐ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NUÔI TẠI TRẠI LỢN
TUẤN HÀ – LỤC NAM – BẮC GIANGKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2MAI HÀ NGA
T
ên chuyên đ ề:
THựC HIệN QUY TRÌNH NUÔI DƯỡNG, CHĂM SÓC VÀ ĐIềU TRị
MộT Số BệNH CHO ĐÀN LợN NUÔI TạI TRạI LợN
TUấN HÀ – LụC NAM – BắC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K45 - TY - N02 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Giảng viên hướng dẫn: TS Hà Văn Doanh
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập, rèn luyện tại trường và 6 tháng thực tập tốtnghiệp tại trại lợn nái Tuấn Hà – Lục Nam – Bắc Giang Được sự đồng ý củakhoa Chăn Nuôi Thú Y, sự giúp đỡ của thầy giáo Ts.Hà Văn Doanh , các thầy
cô giáo bộ môn , các bạn bè đồng nghiệp, chú Tuấn chủ trại và toàn thể cán bộcông nhân viên của trại tôi đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám Hiệunhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa ChănNuôi Thú Y, các thầy cô giáo đã tận tình dìu dắt tôi trong suốt quá trình thựctập, rèn luyện tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Ts.Hà Văn Doanh đãtrực tiếp hướng dẫn, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thựctập tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn, các bác, các côcác chú, các anh chị cán bộ công nhân viên trong trại lợn nái Tuấn Hà đã chỉbảo giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại trại
Tôi xin chân thành cảm ơn người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôngiúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Một lầnnữa cho phép tôi xin gửi tới các thầy cô giáo trong nhà trường, cán bộ côngnhân viên của trại Tuấn Hà cùng các bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn, lời chúcsức khỏe cùng mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống
Thái Nguyên, ngày tháng… năm 2017
Sinh viên
Mai Hà Nga
Trang 5Bảng 2.1 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 20
Bảng 3.1 Bảng khẩu phần ăn cho lợn nái trước ngày đẻ dự kiến 32
Bảng 3.2 Bảng khẩu phần ăn cho lợn mẹ sau sinh 33
Bảng 3.3 Lịch sát trùng trại lợn nái 37
Bảng 3.4: Lịch phòng bệnh của trại lợn 38
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợntại trại lợn Tuấn Hàqua 3 năm 2015 - 2017 44
Bảng 4.2: Kết quả nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản 45
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái trực tiếp theo dõi trong thời gian thực tập 46
Bảng 4.4: Kết quả nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con 47
Bảng 4.5 Kết quả khử trùng tại cơ sở 48
Bảng 4.6 Kết quả tiêm phòng vắc-xin tại cơ sở 50
Bảng 4.7: Kết quả thực hiện một số công tác khác 51
Bảng 4.8: Kết quả theo dõi tình hình nhiễm một số bệnh trên đàn lợn nái 52
Bảng 4.9 Kết quả theo dõi tình hình nhiễm một số bệnh trên đàn lợn con 53
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP: Charoen PokphandCs: Cộng sự
E.coli: Escherichia coliNxb: Nhà xuất bản STT: Số thứ tự
TT: Thể trọng
TB:Trung bình
TNHH:Trách nhiệm hữu hạn
Trang 8LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đối tượng vật nuôi và các kết quả sản xuất của cở sở 6
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 9
2.2.1 Đại cương về sinh lý sinh sản của lợn nái 9
2.2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn con theo mẹ 13
2.2.3 Một số bệnh thường gặp ở lợn nái và lợn con theo mẹ 15
2.2.4 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái đẻ 26
2.2.5 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 28
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31 3.1 Đối tượng 31
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31
3.2.1 Địa điểm tiến hành 31
3.2.2 Thời gian tiến hành 31
Trang 93.3 Nội dung tiến hành 31
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 31
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.2 Phương pháp thực hiện 31
3.4.3 Phương pháp xác định chỉ tiêu 43
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại 44
4.2 Kết quả về nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn tại trại 45
4.2.1 Kết quả nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn nái 45
4.2.2 Kết quả nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con 47
4.3 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh thú y, phòng bệnh và công tác khác 48 4.3.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 48
4.3.2 Kết quả tiêm vacxin phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con 49 4.3.3 Kết quả thực hiện một số công tác khác 51
4.4 Kết quả thực hiện chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn tại cơ sở 52
4.4.1 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái 52
4.4.2 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con 53
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh
mẽ, chất lượng và nhu cầu cuộc sống tăng lên không ngừng, kéo theo nhu cầu
về số lượng và chất lượng thịt cũng tăng cao Để đáp ứng được nhu cầu đó,nghành chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ, sản phẩm của nghành khôngngừng phục vụ nhu cầu trong nước mà còn mở rộng xuất khẩu
Trước đây năng suất chăn nuôi còn thấp là do người chăn nuôi chỉ quenvới tập quán chăn nuôi lợn nội và tận dụng các phụ phẩm trong nông nghiệp
để nuôi Hiện nay, năng suất chăn nuôi lợn tăng lên gấp nhiều lần là do ngườichăn nuôi đã biết nuôi lợn ngoại theo theo phương thức công nghiệp Để nuôilợn ngoại đạt hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh các yếu tố về thức ăn, chuồngtrại, kỹ thuật chăn nuôi Thì yếu tố đầu tiên cần đảm bảo là có đàn giống tốt.Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suất sinh sản của đàn lợn nái Theo tínhtoán của các nhà kinh tế, năng suất của lợn nái được tính bằng số lợn con sinh
ra, số lợn con còn sống sót đến lúc cai sữa, thời gian tái sản xuất của lợn náinhất là do không thụ thai Để đạt được hiệu quả kinh tế cao cần phải có quytrình chăn nuôi phù hợp với từng giống vật nuôi, từng thời điểm và từng giaiđoạn cụ thể khác nhau
Tuy nhiên, chăn nuôi lợn cũng gặp những khó khăn như tình hình dịchbệnh hay xảy ra, có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế, đặc biệt là chấtlượng sản phẩm.Để góp phần giảm thiểu thiệt hại về kinh tế và góp phần vàoviệc chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng, trị bệnh cho đàn lợn tốt hơn, được sự đồng
ý của ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y cùng giảng viên hướng dẫn và cơ
sở thực tập, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và điều trị một số bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại lợn Tuấn
Hà – Lục Nam – Bắc Giang”.
Trang 111.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Tìm hiểu quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nuôi tại trại Tuấn Hà– Lục Nam – Bắc Giang
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại trại
- Theo dõi những bệnh thường gặp ở đàn lợn nuôi tại trại
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập
2.1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu
Trại chăn nuôi Tuấn Hà thuộc địa bàn thôn Mai Thưởng, xã Yên Sơn,huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Về địa lí: Xã Yên Sơn nằm trải dài bên cạnh con đê Thống Nhất uốncong theo dòng sông Lục Nam Đây là xã nằm ở phíaTây Nam của huyện LụcNam, cách trung tâm huyện khoảng 10 km về phía Tây, địa giới hành chínhđược xác định như sau:
- Phía Đông giáp 2 xã Khám Lạng, Bắc Lũng
- Phía Nam giáp xã Vũ Xá
-Phía Bắc giáp xã Lan Mẫu
- PhíaTây giáp xã Trí Yên của huyện Yên Dũng
Xã có diện tích tự nhiên là 1.840,5 ha, diện tích đất nông nghiệp là1436,06 ha, diện tích đất trồng lúa là 1133,85 ha; toàn xã có 16 thôn, 2276 hộ
và dân số là 9608 người Xã nằm chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và miềnnúi, địa hình bằng phẳng thuận lợi cho canh tác nông nghiệp
Về khí hậu: Yên Sơn chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa,một năm có 4 mùa rõ rệt.Độ ẩm trung bình trong năm là 83%, một số thángtrong năm có độ ẩm trung bình trên 85% Các tháng mùa khô có độ ẩmkhông khí dao động khoảng 74% - 80% Nhiệt độ trung bình trong nămkhoảng 23,9°C, sự thay đổi nhiệt độ giữa các mùa trong năm khá lớn Nhiệt
độ cao nhất vào tháng 6 và tháng 7 đạt 39,1°C, thấp nhất vào tháng 1 vàtháng 2 là 16,1°C
Trang 13Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.533 mm, mưa nhiều trongthời gian các tháng từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng nước bốc hơi bình quânhàng năm khoảng 1.000 mm, 4 tháng có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa là
từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau
Chế độ gió cơ bản chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam (mùa Hè) và gióĐông Bắc (mùa Đông) Một số khu vực thuộc miền núi cao có hình thái thờitiết khô lạnh, rét đậm, có sương muối vào mùa Đông Ít xuất hiện gió Lào vàomùa Hè Một số huyện miền núi có hiện tượng lốc cục bộ, mưa đá, lũ vàomùa mưa Bắc Giang ít chịu ảnh hưởng của bão do có sự che chắn của nhiềudãy núi cao
Nắng trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.700 giờ, thuận lợi cho canh tác,phát triển các cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới
2.1.1.2 Quá trình thành lập và phát triển của trang trại Tuấn Hà(trại lợn nái gia công của công ty Charoen Pokphand)
Quá trình thành lập
Trang trại lợn nái Tuấn Hà nằm trên địa phận xã Yên Sơn, huyện LụcNam, tỉnh Bắc Giang Trại được thành lập năm 2013, là trại lợn gia công củacông ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand ViệtNam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuêcông nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật.Hiện nay, trang trại do ông bà Tuấn Hà làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công
ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại
Cơ sở vật chất của trang trại
- Trại lợn có tổng diện tích khoảng 30.000 m2đất để xây dựng nhà điềuhành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và cáchoạt động khác của trại
Trang 14- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thốngchuồng trại cho >600 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng có 28 ô kíchthước 2,4m × 1,6m/ô, 1 chuồng bầu mỗi chuồng có 500 ô kích thước 2,4m ×0,65m/ô, 4 chuồng cách ly, 1 chuồng cai sữa cùng một số công trình phụ phục
vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, khothuốc…
Hệ thống chuồngxây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệthống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, và 8quạt thông gió đối với chuồng bầu, và 2 quạt đối với các chuồng cách ly, 2quạt đối với chuồng cai sữa Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ
có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trầnđươc lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa Phòng pha tinh của trại được trang
bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bịcảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một
số thiết bị khác Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, cáckhu khác đều được đổ bê tông
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khơi Nướctrướckhi cho lợn sử dụng được xử lý bằng clorin và có đi qua hệ thống lọc bằngmàng nano sau đó bơm lên téc nước để lợn uống Nước tắm, nước xả gầm,nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệthống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
* Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: 01 chủ trại, 01 quản lý trại, 01quản lý kỹ thuật, gần 10 công nhân Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ralàm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, chuồngcách ly, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoánđến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển củatrại
Trang 152.1.2 Đối tượng vật nuôi và các kết quả sản xuất của cở sở
2.1.2.1 Đối tượng vật nuôi của trại
Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, giống lợn là Landrace - Yorshire.Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng
về phía trước, mình dài, lưng hơi cong, bụng gọn chân dài chắc chắn, có 14
vú Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh, khối lượng khitrưởng thành lên tới 300kg (con đực), 250kg (con cái) Lợn Yorkshire có mứctăng khối lượng bình quân 700g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn trung bình khoảng3,0kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nạc 56% Lợn có khả năng sinh sản cao, trungbình 10 – 12 con/lứa, khối lượng sơ sinh trung bình 1,2kg/con
Giống lợn Landrace
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [15], giống lợn này được tạo ra ởĐan Mạch (1895) Lợn có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn3,0kg/kg tăng khối lượng, tăng khối lượng bình quân 750g/con/ngày, tỷ lệ nạc59% Khối lượng lợn trưởng thành có thể lên tới 320kg (con đực), 250kg (concái) Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo Đây làgiống lợn chuyên hướng nạc và dùng để lai kinh tế Một trong những giảipháp nâng cao năng suất lợn nái là sử dụng nhiều giống lợn lai tạo với nhau,nhằm tạo ưu thế lai cao nhất cho nái sinh sản là phương pháp lai hai giống lợnngoại giữa Landrace, Yorkshire và ngược lại tạo ra con lai có ưu thế lai cao
về nhiều tiêu chí sinh sản, trở thành một tiến bộ trong thực tế sản xuất(Nguyễn Văn Thắng va cs, 2016) [21]
Trang 162.1.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở
- Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 – 2,5 lứa/năm.Số con sơ sinh là 11,72 con/đàn, số con cai sữa: 10,54 con/đàn
- Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26ngày thì tiến hành cai sữa và lợn con được chuyển sang chuồng cai sữa
Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹthuật, đầu tưtrang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…,trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phươngchâm “phòng dịch hơn dập dịch” Trang trại chăn nuôi Tuấn Hà là một gươngsáng điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóahiện nay
2.1.2.3 Công tác thú y
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luônthực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công tychăn nuôi CP Việt Nam
- Công tác vệ sinh:
Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp vềmùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thugom phân, nước tiểu, thu gom cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn
và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khuchăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áobảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh:
Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữ các chuồng, hành lang giữacác chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vàotrại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châmphòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm
Trang 17phòng vắc xin đầy đủ Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thựchiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trìnhtiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ởtrạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnhtruyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốtnhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%.
- Công tác trị bệnh:
Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thườngxuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên pháthiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệuquả từ 80 – 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về
Trang 18- Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏngảnh hưởng đến công tác sản xuất.
- Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử
lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề
2.2.1.Đại cương về sinh lý sinh sản của lợn nái
Sự thành thục về tính
Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinhdục đã phát triển cơ bản hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết, convật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng có khả năngthụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ, biểu hiện của con vật là lôngmượt, tai thính, thường xuyên phá chuồng và nhảy lên lưng những con khác
Sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, tính biệt và cácđiều kiện ngoại cảnh như chăm sóc nuôi dưỡng
- Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau:những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giốngthuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơnnhững giống có tầm vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: Tuổi động dục đầutiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4-5 tháng khi khối lượng đạt từ 20-25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ởlợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng
cơ thể đạt 50-55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúcđộng dục 6-7 tháng khi lợn có khối lượng 60-80kg Tuỳ theo giống, điều kiệnchăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn
ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4-5 tháng tuổi (121-158 ngày tuổi)
Trang 19các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộnhơn từ 7-8 tháng tuổi.
- Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý
Cùng một giống nhưng nếu điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lýtốt thì gia súc phát triển tốt, sự thành thục về tính sớm hơn và ngược lại
- Điều kiện ngoại cảnh:
Khí hậu và nhiệt độ cũng có ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính giasúc, những giống lợn nội nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thườngthành thục về tính sớm
Trong điều kiện chăn thả chung giữa gia súc đực và gia súc cái cũngảnh hưởng tới tính thành thục sớm của gia súc cái
- Tuổi thành thục về tính của gia súc
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc,nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớnlên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: Không nên cho phốigiống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy
đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cáchhoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần
bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
Trang 20sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo, chức năng sinh
lý Các biến đổi lặp đi lặp lại theo chu kỳ như trên được gọi là chu kỳ độngdục (chu kỳ tính)
Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [24], chu kỳ tính của lợn nái thườngdiễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dàikhoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chialàm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực(phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)
Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưacho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trênđối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35-40h, với lợn nội là 25-30h
Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưnggần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi
có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phốigiống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28-30h
Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở,đuôi cụp và không chịu đực
- Thời điểm phối giống thích hợp
Thời điểm phối giống thích hợp: Trứng rụng tồn tại trong tử cung 2-3h.Tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30-48h Thời điểm phối giống thích hợpnhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 vàsáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục
Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ
3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnhhưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quảkém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu.(Nguyễn Thiện và cs, 1993 [24])
Trang 21Mang thai: Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113
-115 ngày) Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
Sinh lý đẻ
- Quá trình sinh đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2006)[7], gia súc cái mang thai trong mộtthời gian ngắn tùy từng loại gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ dưới tácđộng của hệ thống thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ,đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi
là quá trình sinh đẻ
Khi gần đẻ con cái sẽ có triệu chứng biểu hiện: Trước khi đẻ 1 tuần, nútniêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục, lỏng, sánh, dính và chảy ra ngoài.Trước đẻ 1-2 ngày, cơ quan sinh dục bắt đầu có những thay đổi, âm môn phù
to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu căng to, sữa bắt đầu tiết
- Giai đoạn tiết sữa Khả năng tiết sữa của lợn nái phụ thuộc vào mức
độ dinh dưỡng thức ăn giống lợn và số lượng lợn con, lợn nái thường tiết sữanhiều nhất vào tuần thứ 2-3 Ở những giống lợn khác nhau thì khả năng tiếtsữa khác nhau Sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kíchthích vào đầu vú gây nên, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn vàchuyển dần từ trước ra sau Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiếtsữa, khi lợn con thúc bú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ nãolại chuyển xuống vùng Hypothalamus từ đó các luồng xung động tác độngvào tuyến yên và tuyến yên tiết ra kích tố Oxytocin, kích tố Oxytocin đếntuyến bào kích thích làm cho lợn nái tiết sữa
Qua theo dõi, sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhaucũng không giống nhau, các vú phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất
Trang 22tốt, các vú phía sau nhìn chung kém hơn Theo Trương Lăng (2000)[4] chobiết: Vú phía trước lượng sữa tiết nhiều hơn (nên cố định cho lợn con sơ sinh
có khối lượng kém bú), vì Oxytocin theo máu đến tuyến vú phía trước sớmhơn, kéo dài hơn lên vú trước nhiều sữa hơn
Sản lượng sữa của lợn nái phụ thuộc vào số lợn và chất lượng thức ăn
vì thế trong giai đoạn lợn nái nuôi con thì thức ăn cho lợn nái cần đủ chất dinhdưỡng Chăm sóc lợn nái ăn với khẩu phần đẩy đủ chất dinh dưỡng khôngnhững nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn nái Ở lợnkhông có bể sữa do đó không thể đo lượng sữa bằng cách vắt sữa mà chỉ cóthể đo lượng sữa của lợn nái qua khối lượng đàn con
Theo Trương Lăng, (2003)[14], sữa lợn nái là nguồn thức ăn có đầy đủchất dinh dưỡng, không có loại thức ăn nào có thể so sánh bằng và thay thếđược Do đó để tăng năng suất của lợn con phải thoả mãn nhu cầu tối đa trongthời gian bú sữa
2.2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn con theo mẹ
Đặc điểm bộ máy tiêu hóa của lợn con theo mẹ
Sau khi sinh, trong thời gian bú mẹ trọng lượng bộ máy tiêu hóa củalợn con tăng từ 10 – 15 lần, chiều dài của ruột non tăng lên gấp 5 lần so vớilúc mới sinh Dung tích của bộ máy tiêu hóa cũng tăng từ 40 đến 50 lần Ởngày tuổi thứ 30 trọng lượng của tuyến tụy tăng lên 4 lần và gan tăng lên 3 lần
so với lúc mới sinh Lúc mới sinh dạ dày của một lợn con trung bình nặng từ
6 – 8 gam và chứa được từ 35 – 50 gam sữa, nhưng sau 3 tuần đã tăng lên gấp
4 lần
Mặc dù bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoànthiện Khả năng tiêu hóa của lợn con còn rất kém do số lượng và hoạt lực củacác men trong đường tiêu hóa còn hạn chế
Theo Vasnhixky, (1954) [29] dịch vị của lợn con dưới một tháng tuổihoàn toàn không có HCl tự do, vì lượng acid tiết ra ít và nó nhanh chóng kết
Trang 23hợp với các niêm dịch là cho hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn toànkhông có trong dạ dày của lợn con bú sữa Vì thiếu HCl tự do nên hệ vi sinhvật lên men dễ phát triển gây hiện tượng tiêu chảy ở lợn con.
Trong dịch tụy của lợn trưởng thành có tới 15 loại men tiêu hóa songlợn con chỉ có 2 men là Kimozin và Lipaza, sau một tuần tuổi có thêm một sốmen như Trypsin và Amilase Hoạt tính cả các men tăng dần theo tuổi, từ 1đến 28 ngày tuổi hoạt tính của Trypsin tăng 20 lần, Amilase tăng 30 lần, cácmen như Kimotipxin, Protease, Amilase, Elastase, Carbuaxipolypeptidasacũng tăng dần theo tuổi của lợn con Hàm lượng vật chất khô trong dịch tụycũng tăng dần Dịch ruột do 2 tuyến Bruner và Liberkun tiết ra chưa đầy đủcác men tiêu hóa như ở lợn con chưa có men Lactose, các men tiêu hóa khác
có hàm lượng rất thấp không đủ khả năng để tiêu hóa các thức ăn nhân tạo.Dịch mật của lợn con trong những tuần tuổi đầu con hạn chế, chưa có khảnăng nhũ tương hóa mỡ
Khả năng điều hòa thân nhiệt
Cơ thể lợn con thường sinh ra nhiệt năng lớn, nhiệt lượng liện tục tỏa
ra bên ngoài do sự chênh lệch giữa nhiệt độ cơ thể với nhiệt độ môi trường.Lông của lợn con thưa, lớp mỡ dưới da mỏng, diện tích bề mặt so với khốilượng cơ thể cao nên khả năng chống lạnh kém, lượng mỡ và glycogen dự trữtrong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng lượng chống lạnh bị hạn chế
Hệ thần kinh điều khiển thân nhiệt chưa hoàn thiện Trong thời giannày lợn con có khả năng điều hòa thân nhiệt do sự hoạt động rất mạnh của hệtuần hoàn cũng như sự thay đổi tư thế của lợn Vì vậy cần phải sưởi ấm đảmbảo cho lợn con không bị lạnh
Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Lợn con sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể, song lượngkháng thể trong máu lợn con tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu,
Trang 24cho nên nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động Nó phụthuộc vào lượng kháng thể hấp thu nhiều hay ít từ sữa mẹ Quá trình hấp thunguyên vẹn γ-globulin bị giảm nhanh theo thời gian Lợn con có thể hấp thunguyên vẹn phân tử γ-globulin vì trong sữa đầu có kháng men Antitripsin nólàm mất hoạt lực của men Tripsin của tuyến tụy Đồng thời khoảng cách giữacác tế bào vách ruột của lợn con rất lớn nên phân tử γ-globulin được chuyểnqua bằng đường ẩm bào Xuất phát từ đó chúng ta thấy rằng cho lợn con búsữa đầu là rất quan trọng và việc cho bú càng sớm càng tốt (Nguyễn Thiện và
Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [8], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫntới một số hậu quả chính như: Lợn dễ bị sảy thai, bào thai phát triển kém hoặcthai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất sữa, nếu lợn nái bị viêm tử cung mãntính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Nguyên nhân bệnh viêm tử cung theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6],viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau
đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử
Trang 25cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mấtkhả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], Phạm Sỹ Lăng và cs(2002) [12], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằngphương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫntinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn náigây viêm
+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vậthoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âmđạo truyền sang cho lợn khoẻ
+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêmmạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
+ Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm,phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm
+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện đểxâm nhập vào gây viêm
Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thi Tài (2002) [5] cho biết, nguyên nhân
gây viêm tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli….
Theo Lê Văn Năm và cs (1999) [15] cho rằng, có rất nhiều nguyênnhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp
đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chấtnhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc
Trang 26nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh
lý của dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về khối lượngkích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điều kiện tốt để vi khuẩnxâm nhập vào tử cung gây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâmnhập vào dạ con gây lên trong thời gian động đực (vì lúc đó tử cung mở) và
do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật
Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: Khẩu phầnthiếu hay thừa protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm
tử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xâyxát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung
- Triệu chứng:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệttới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sangvàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màuđen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu
- Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41-42°C trong vài ngày đầu âm môn sưngtấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ
+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịchnhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quảhoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo
tử cung lan sang thai làm chết thai
- Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quansinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều
Trang 27ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, pháttriển của lợn con.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], Trần Thị Dân (2004) [3], khilợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai Lớp cơ trơn ở thành tửcung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đidưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung.Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiếtnhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồngtrứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây comạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đếnthể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượngProgesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cungtăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chếtlưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung đểgiúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượngProgesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cunggiảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con tronggiai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung,trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ranội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên,
do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thayđổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
Trang 28+ Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trởlại Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thểvàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thuỳ trướctuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồngtrứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được.
+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung saukhi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻsau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trongcác nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôisống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnhhưởng tới hoạt động của buồng trứng
- Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểuhiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mởnên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài mlcho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dungdịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màumáu cá
Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấptính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượngchảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung Tuy nhiên, cầnphải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giốngnhư mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từtrong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là doviêm bàng quang có mủ gây ra Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rấtchặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy
ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn
Trang 29Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối.Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủnên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặtkhác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán chochính xác Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và cómức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chếtối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗithể viêm từ đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trịcao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất Để chẩn đoánngười ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục vàtriệu chứng toàn thân.
Bảng 2.1 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung
Dịch viêm Màu Trắng,trắng xám Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
Bỏ ăn Bỏ ăn một phần
hoặc hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn
Hiện tượng đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy rangoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó khôngnhững gây tổn thương cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vôsinh, thậm chí cả lợn mẹ và lợn con có thể chết
Trang 30- Nguyên nhân
+ Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ: Khi chăm sóc, nuôi dưỡng khôngtốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mangthai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn
đẻ của lợn yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩythai ra ngoài
+ Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó.Lợn quá gầy cũng dẫn đến đẻ khó
+ Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: Cổ tử cung, âm đạo giãn nởkhông bình thường có chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩycon ra ngoài gặp khó khăn
+ Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triểnkhông bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ
độ giãn nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra đươc Khi quátrình rặn đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con bị chết
+ Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn
ép tử cung làm tử cung bị xoắn vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinhdục trở nên không bình thường cũng gây đẻ khó
+ Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: Kích tố nhau thai Relaxinlúc đẻ tiết ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bán động háng, không giãn dâychằng xương chậu (không sụt mông) hoặc Prostagladin tiết ít không đủ gây cobóp tử cung nên không tống thai ra ngoài được
+ Đẻ khó do nguyên nhân bào thai Chiều hướng, tư thế của thai lúc đẻkhông bình thường Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996) [9], các trường hợp lợncon nằm không đúng tư thế: Bốn chân lợn con hướng về xương sống lợn mẹ,lợn con nằm đưa vai ra trước, lợn con đầu ngước ra sau lưng, lợn con đầuquẹo sang một bên, lợn con đưa đầu và bốn chân ra một lượt, lợn con mõm ra
Trang 31trước, hai chân trước co xuống bụng, lợn con đầu cúp xuống ngực Chế độdinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợpvới kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ Thai bị dị hìnhhay quái thai.
Đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4, những nguyên nhân
và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bàothai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế thai không bìnhthường… khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra được
- Triệu chứng
Lợn nái đến ngày đẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưngkhông thấy thai ra Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợnnái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưngthai vẫn không ra Do thời gian rặn đẻ mạnh và kéo dài mà thai vẫn không ralàm cho lợn nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt
mà chết Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai tohoặc ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu
- Hậu quả
Tử cung co bóp mạnh mà thai không ra, thai bị chèn ép, bị ngạt thở dẫnđến lợn con bị chết Nếu mổ để lấy thai ra ngoài thì lợn mẹ hay bị chết hoặckhông thể dùng sinh sản lứa sau Do lợn nái rặn đẻ mạnh và kéo dài làm lợnnái mệt mỏi, kéo dài thời gian đẻ, sức co bóp của tử cung giảm, gây ra hiệntượng sót nhau, sót con dẫn đến viêm đường sinh dục Khi dùng biện phápcan thiệp không đúng cách, gây xây xát niêm mạc tử cung, hoặc dụng cụ thủthuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một số bệnh: viêm tử cung,viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… khi đó, niêm mạc sẽ có những vết sẹo gâycản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ… dẫn đến xảy thai, tiêu thai, đẻ non
ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm chí là vô sinh
Trang 32Actinobacillus pleuropneumoniae có thể sản sinh ra lông hay còn gọi là pili.
Thành tế bào vi khuẩn được bao bọc bởi một lớp giáp mô có bản chấtpolysaccharid được cấu thành từ nhiều oligosaccharid Giáp mô quyết định độclực của vi khuẩn, nhưng lại không thực sự cần thiết cho quá trình sống Tính
đặc hiệu về mặt huyết thanh học của vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae được quyết định bởi thành phần polisaccharid của giáp mô
và lipopolisaccharid của vách tế bào vi khuẩn Do vậy, các thành phần nàythường được sử dụng trong các phản ứng huyết thanh học như phản ứngELISA
da đùi, bụng tím xanh thành từng mảng Một số trường hợp lợn chết có thểchết mà không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng
Trang 33+ Thể cấp tính: Triệu chứng tương tự như thể quá cấp nhưng tiến triểnchậm hơn Lợn sốt cao trên 41°C, ho, khó thở, thở thể bụng, bụng hóp lại, lợn
ỉa chảy, nôn mửa, mắt có dử đôi khi nhầm là bệnh dịch tả Thể cấp tính đa sốlợn chết, một số con chữa được Lợn chết trong vòng từ1 - 4 ngày Lợn sốngsót có thể phục hồi hoàn toàn hoặc có thể phát triển thành thể mãn tính
+ Thể mãn tính: Thể này xuất hiện sau khi các dấu hiệu cấp tính mất đi.Lợn sốt nhẹ (40,5°C – 41°C), hay nằm, lúc ăn lúc bỏ ăn, ho kéo dài, thở thểbụng, da nhợt nhạt, lông xù, gầy còm, tăng trọng kém, mắt có dử, dịch mũiđặc và đục
- Bệnh tích:
+ Thể quá cấp: Lợn chết không có bệnh tích điển hình, lợn vẫn to béo.+ Thể cấp tính và mãn tính: Màng phổi viêm dính Fibrin kèm theo chảymáu và dịch Viêm màng bao tim, viêm phổi dính sườn, tích nước vàng đục
có lẫn máu ở trong ngực Phổi có mầu sẫm và cứng lại (phổi bị gan hoá) Các
ổ áp xe chứa đầy mủ nằm rải rác khắp phổi Có bọt khí lẫn máu trong đường
hô hấp
Bệnh viêm khớp
- Nguyên nhân:
Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis gây viêm
khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con1- 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, rốn, vết thương trênda,đầu gối khi chà sát trên nền chuồng (Nagy và cs, 1994) [31]
- Triệu chứng:
Lợn đi khập khiễng, khớp chân sưng lên Thường thấy viêm khớp cổchân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượngquè, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sung, sờ nắn vào có phản xạđau (Nguyễn Ánh Tuyết, 2015) [34]
Trang 34Hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Theo Purvis và cs (1985) [32] cho rằng phương thức cho ăn không phùhợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở lợn
Niconxki (1971) [16] đã nhấn mạnh “Khi cơ thể gia súc non bị lạnh kéodài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thựcbào, giảm khả năng diệt trùng của máu do đó gia súc dễ bị vi khuẩn tấn công”
Hội chứng tiêu chảy lợn con ở nước ta đã được nghiên cứu từ năm
1959 tại các cơ sở chăn nuôi tập trung (trại chăn nuôi và các nông trườngquốc doanh)
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [21] thì hội chứng tiêu chảy lợncon là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đadạng, đặc biệt là dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh Tác nhân
gây bệnh chủ yếu là E.coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus Bệnh xảy ra quanh năm ở những nơi tập
trung nhiều gia súc, bệnh thường bùng phát mạnh từ mùa đông sang mùa hè(tháng 11 đến tháng 5) đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ oi bứcchuyển sang mưa rào, từ khô ẩm chuyển sang rét).Tỷ lệ mắc bệnh tới 50% và
tỷ lệ chết tới 30- 45% (Nguyễn Như Thanh, 1997) [20]
- Nguyên nhân:
+ Do vi khuẩn: Vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy cho lợn thường gặp bao
gồm một loại như E Coli, Salmonella, Shigella, Clostridium perfringens…
Lợn con sơ sinh có thể bị nhiễm bệnh do vi khuẩn từ chuồng nuôi, da lợn mẹ,phân lợn mẹ thải ra Do đó, trong điều kiện vệ sinh kém hoặc trong hệ thốngnuôi liên tục, mầm bệnh tồn tại trong môi trường có thể dẫn đến dịch tiêuchảy trên lợn con sơ sinh Lợn con được sinh ra từ những lợn mẹ chưa đượctiêm phòng hoặc không có kháng thể chống lại các loại mầm bệnh trong sữađầu sẽ rất nhạy cảm với bệnh