1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA HÀNH VI TRÁNH THUẾ ĐẾN CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

58 246 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, bằng các nghiên cứu ở nước ngoài, như bài nghiên cứu của Lim 2010, Lim 2011, bài nghiên cứu của Desai và Dharmapala 2006, bài nghiên cứu Dyreng và các cộng sự 2007, bài nghiên

Trang 1

I

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

NĂM 2017 Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA HÀNH VI TRÁNH THUẾ ĐẾN CHI PHÍ SỬ DỤNG

VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT: BẰNG CHỨNG THỰC

NGHIỆM Ở VIỆT NAM

Nhóm sinh viên thực hiện

Họ và tên MSSV Đơn vị Nhiệm

0907087036 thuannc14409

@st.uel.edu.vn

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Vĩnh Khương

TP.HCM, Tháng 03 Năm 2018

Trang 3

II

LỜI TRI ÂN

Sau thời gian nghiên cứu, học tập tại khoa Kế toán - Kiểm toán trường Đại học Kinh Tế-Luật trực thuộc Đại Học Quốc Gia TP.Hồ Chí Minh, nhóm nghiên cứu đã hoàn thành bài báo cáo nghiên cứu khoa học, có được điều này cũng chính là nhờ sự giúp đỡ

hỗ trợ của quý Thầy cô, gia đình, bạn bè Nhóm nghiên cứu chúng tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô giáo trong khoa Kế toán Kiểm toán trường đại học Kinh tế - Luật, Trung tâm nghiên cứu Kinh tế - Tài chính trường đại học Kinh tế - Luật đã giúp đỡ, hỗ trợ nhóm nghiên cứu hoàn thành bài báo cáo này Đồng thời nhóm nghiên cứu xin chân thành gửi lời cảm ơn đặc biệt về sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Vĩnh Khương đã luôn theo sát hỗ trợ giúp đỡ nhóm nghiên cứu trong suốt quá trình hoàn thành bài báo cáo này Tuy vậy, do thời gian có hạn, cũng như kinh nghiệm

và kiến thức còn hạn chế nên trong bài nghiên cứu khoa học này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, nhóm nghiên cứu rất mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng toàn thể các đồng môn để nhóm nghiên cứu có điều kiện bổ sung hoàn thiện bài báo cáo, nâng cao kiến thức của mình, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỤC LỤC

CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1

1 SỰCẦNTHIẾTCỦAĐỀTÀI 1

2 MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 2

3 ĐỐITƯỢNGVÀPHẠMVINGHIÊNCỨUCỦAĐỀTÀI 2

4 PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 2

5 ÝNGHĨAĐỀTÀI 3

6 KẾTCẤUCỦABÀINGHIÊNCỨU 3

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1

1 CÁC KHÁI NIỆM 1

1.1 Hành vi tránh thuế 1

1.2 Chi phí sử dụng vốn 1

2 CÁC LÍ THUYẾT NỀN TẢNG 2

2.1 Lý thuyết đại diện 2

2.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 3

3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 4

3.1 Nghiên cứu nước ngoài 4

3.2 Nghiên cứu trong nước 9

4 KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU 11

5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 12

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

1 MẪU NGHIÊN CỨU 13

2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 13

3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ CÁCH THỨC ĐO LƯỜNG 14

3.1 Giả thuyết nghiên cứu 14

3.2 Các biến kiểm soát 15

3.3 Cách thức đo lường 17

3.4 Chi phí sử dụng nợ 18

4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 18

5 KỲ VỌNG BIẾN TƯƠNG QUAN 19

6 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 19

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20

1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 20

2 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN CÁC BIẾN 20

Trang 5

IV

3 PHÂN TÍCH HỒI QUY 21

3.1 Biến phụ thuộc theo đo lường theo Cheng và các cộng sự (2012) 21

3.2 Biến phụ thuộc theo đo lường theo McGuire và các cộng sự, 2012 23

4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

4.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu theo TAC1 27

4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu theo TAC2 30

5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 34

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35

1 KẾT LUẬN 35

2 GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ 36

3 HẠN CHẾ 38

4 GỢI Ý HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 38

KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG SỬ DỤNG TRONG BÀI NGHIÊN CỨU

Bảng 2- 1 Mối quan hệ của các biến với Cost of debt 19

Bảng 3- 1: Thống kê mô tả biến 20

Bảng 3- 2: Hệ số tương quan các biến 20

Bảng 3- 3: Kiểm định Hausman 21

Bảng 3- 4: Bảng kết quả hồi quy ban đầu (FEM) 21

Bảng 3- 5: Kiểm định Modified Wald cho phương sai thay đổi trong dữ liệu bảng 22

Bảng 3- 6: Kiểm định Wooldrige cho hiện tượng tự tương quan trong dữ liệu bảng 22

Bảng 3- 7: Khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi 23

Bảng 3- 8: Kiểm định Hausman 24

Bảng 3- 9: Bảng kết quả hồi quy ban đầu (FEM) 24

Bảng 3- 10: Kiểm định Modified Wald cho phương sai thay đổi trong dữ liệu bảng 25

Bảng 3- 11: Kiểm định Wooldrige cho hiện tượng tự tương quan trong dữ liệu bảng 25 Bảng 3- 12: Khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi 26

Bảng 3- 13: Kết quả nghiên cứu so với kỳ vọng 28

Bảng 3- 14: Kết quả nghiên cứu so với kỳ vọng 31

Trang 7

VI

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG BÀI NGHIÊN CỨU

CFO Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

FEM Phương pháp tác động cố định

FRQ Chất lượng báo cáo tài chính

GAAP Các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung

HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

REM Phương pháp tác động ngẫu nhiên

ROA Biến lợi nhuận ròng trên tổng tài sản

Trang 8

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, có vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, là công cụ để điều tiết nền kinh tế, thực hiện công bằng xã hội Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những hành vi trốn thuế, tránh thuế ngày càng diễn ra phức tạp, phạm vi rộng khắp, quy mô lớn với những thủ đoạn tinh vi, gây thất thu nghiêm trọng cho ngân sách nhà nước Việc nghiên cứu hành vi trốn thuế, tránh thuế và đề xuất các giải pháp thiết thực là thực sự cần thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Trốn thuế và tránh thuế đều có một điểm chung là xuất phát từ động cơ làm giảm tối đa số thuế phải nộp, tuy nhiên trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế còn tránh thuế là hành vi lợi dụng những “kẻ hở” của hệ thống luật thuế để làm giảm số thuế phải nộp Ở Việt Nam, các đề tài nghiên cứu về vấn đề tránh thuế này khá ít, nếu có chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề chuyển giá để tránh thuế của các công ty đa quốc gia Hầu như chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hoàn chỉnh về hành vi tránh thuế, nhất

là sử dụng mẫu nghiên cứu là các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tiêu biểu như một vài bài nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Lan (2009); Phan Trần Thanh Trúc và Ngọc Anh (2016) Hơn nữa, bằng các nghiên cứu ở nước

ngoài, như bài nghiên cứu của Lim (2010), Lim (2011), bài nghiên cứu của Desai và

Dharmapala (2006), bài nghiên cứu Dyreng và các cộng sự (2007), bài nghiên cứu Fuest

và Riedel (2009), bài nghiên cứu Huang và các cộng sự (2016), nhóm nghiên cứu nhận thấy có mối quan hệ giữa hành vi tránh thuế và chi phí sử dụng vốn trong đó chi phí sử dụng vốn là một trong những nhân tố có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp

Xuất phát từ những lý do đó, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Tác động của hành

vi tránh thuế đến chi phí sử dụng vốn: Nghiên cứu tại Việt Nam” với mục đích nghiên cứu tác động của hành vi này lên chi phí sử dụng vốn để từ đó đưa ra những kiến nghị thiết thực đối với những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và cơ quan quản lý

Trang 9

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Cung cấp bằng chứng thực nghiệm để xem xét ảnh hưởng của hành vi tránh thuế

có tác động như thế nào đến chi phí sử dụng vốn của các công ty niêm yết tại Việt Nam

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đối tượng nghiên cứu: Hành vi tránh thuế và và tác động của hành vi tránh thuế đến chi phí sử dụng vốn

Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, cụ thể là báo cáo tài chính đã được kiểm toán và công bố, báo cáo thường niên của các công ty niêm yết tại Việt Nam tính tới thời điểm 2016 của 718 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn giao dịch HNX và HOSE trong 8 năm từ 2009 đến 2016 Tuy nhiên nhóm nghiên cứu chỉ giữ lại các công ty có đầy đủ BCTC thường niên đã được kiểm toán liên tục trong giai đoạn nghiên cứu và đầy

đủ số liệu Do đó, sau khi loại, mẫu nghiên cứu còn lại 125 công ty

Phạm vi nghiên cứu:

Các công ty niêm yết tại Việt Nam, cụ thể là BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn chứng khoán Việt Nam, giai đoạn 2010 – 2016 (bao gồm 7 năm quan sát)

Phạm vi về không gian: Phân tích ảnh hưởng của hành vi tránh thuế đến chi phí sử

dụng vốn của các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK tại Việt Nam niêm yết trên

cả 2 sàn giao dịch HOSE và HNX (Không nghiên cứu về các công ty tài chính như Ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán )

Phạm vi về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 2010 – 2016

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu định lượng

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng Dãy số liệu được biểu diễn theo dữ liệu bảng Dữ liệu bảng bao gồm số liệu của

nhiều đơn vị chéo công ty và mỗi đơn vị chéo nghiên cứu qua thời gian

Nghiên cứu định lượng bao gồm: phương pháp thống kê mô tả, phân tích hệ số

tương quan, phân tích kiểm định và phân tích hồi quy theo dữ liệu bảng

Trang 10

Nghiên cứu này được thực hiện dựa vào các lý thuyết nền tảng phổ biến trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán như lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết bất cân xứng thông tin,…

5 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI

Về mặt khoa học: Bài nghiên cứu được hoàn thành sẽ bổ sung thêm lý thuyết về

mô hình, thiết lập mối quan hệ giữa hành vi tránh thuế và chi phí sử dụng vốn, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan

Về mặt thực tiễn:

Nghiên cứu là một căn cứ có giá trị để giúp đánh giá thực trạng thực hiện việc tránh thuế trong các DN Việt Nam hiện nay bằng những con số định lượng, cụ thể Bài nghiên cứu sẽ đề cập và làm rõ vấn đề về tác động của hành vi tránh thuế lên chi phí sử dụng vốn đến các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đưa ra cái nhìn tổng quan nghiên cứu về hành vi tránh thuế Từ đó đưa ra những kiến nghị giúp cho Nhà nước và doanh nghiệp hiểu rõ hơn về hành vi tránh thuế

Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, bài nghiên cứu sẽ cung cấp một cái nhìn đầy

đủ về hành vi tránh thuế, từ đó có những chính sách quản lý thuế một cách hợp lý hơn Đối với các công ty niêm yết, bài nghiên cứu sẽ giúp doanh nghiệp nhìn nhận về chi phí sử dụng vốn và điều tiết mối quan hệ giữa việc tránh thuế và chi phí sử dụng vốn phù hợp để phát triển mạnh mẽ hơn và hoàn toàn tự nguyện tuân thủ các quy định về thuế

6 KẾT CẤU CỦA BÀI NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu tập trung đo lường tác động của hành vi tránh thuế lên chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam và có thể được chia thành các phần

chính như sau:

Phần mở đầu

Chương này bao gồm các nội dung giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu từ xác định vấn đề nghiên cứu cho đến mục tiêu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây

Trang 11

Chương này bao gồm các nội dung về các khái niệm có liên quan đến đề tài, các

lý thuyết nền làm cơ sở xây dựng các giả thiết và mô hình nghiên cứu Ngoài ra, phần tổng quan các nghiên cứu trước cũng được trình bày để từ đó xác định khoảng trống trong nghiên cứu và phác thảo mô hình lý thuyết

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương này bao gồm các nội dung mô tả về quy trình nghiên cứu trong đó nêu cụ thể việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu, chọn mẫu, thu thập, phân tích dữ liệu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Sau đó sẽ bày các kết quả của quá trình thực hiện nghiên cứu và các bàn luận, so sánh, đối chiếu…kết quả nghiên cứu để đi đến các kết luận trả lời cho các câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu đã thiết lập

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Chương này trình bày tóm lược lại các kết quả nghiên cứu đã đạt được, các hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo đồng thời cũng đưa ra các hàm ý cho các đối tượng có liên quan

Trang 12

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN

CỨU TRƯỚC ĐÂY

1 Các khái niệm

1.1 Hành vi tránh thuế

Tránh thuế là một khoản tiết kiệm thuế phát sinh từ các phương pháp giảm thuế và

ẩn thuế nói chung, có tính pháp lý đáng ngờ để giảm thiểu nghĩa vụ thuế Nói cách khác, phương pháp tránh thuế thì dựa trên khái niệm tập hợp số lượng giao dịch tích lũy để giảm thiểu nghĩa vụ thuế (Desai và Dharmapala, 2006)

Tránh thuế là phương thức sử dụng hợp pháp các quy tắc về thuế nhằm đạt lợi ích cho chủ thể, làm giảm số thuế phải nộp trong khuôn khổ pháp luật cho phép (Pasternak

Tránh thuế là khai thác hợp pháp các cơ chế thuế để giảm thiểu khoản thuế phải nộp bằng các phương tiện trong khuôn khổ pháp luật và khai báo các thông tin trọn vẹn cho cơ quan thuế

1.2 Chi phí sử dụng vốn

Chi phí sử dụng vốn là lãi suất nợ của công ty, được tính bằng cách lấy chi phí lãi vay trong năm chia cho nợ ngắn hạn và dài hạn trung bình trong năm (Pittman và Fortin 2004)

Chi phí vốn theo truyền thống được định nghĩa là tỷ lệ hiệu quả mà một công ty trả cho khoản nợ hiện tại Chi phí sử dụng vốn của bất kỳ công ty nào cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, chẳng hạn như đặc điểm của công ty, chi phí người đại diện

và rủi ro vỡ nợ đối với phát hành trái phiếu, vấn đề bất đối xứng thông tin (Bhojraj và Sengupta, 2003), lãi suất (Diamond, 1989), đòn bẩy và dòng tiền từ hoạt động (Petersen

và Rajan, 1994), quy mô công ty (Carey và cộng sự, 1993) Nếu việc tránh thuế doanh nghiệp đóng vai trò như một sự thay thế cho việc sử dụng nợ (Graham and Tucker,

Trang 13

2006, Lim, 2010, 2011, Kim, 2010), nó có thể làm tăng sự kiệt quệ tài chính, tăng cường chất lượng tín dụng, giảm rủi ro mặc định, giảm chi phí phá sản dự kiến và do

đó giảm chi phí nợ (Lim 2011) Mặc khác, vì các công ty sử dụng ít nợ hơn khi họ tham gia vào việc tránh thuế (Graham and Tucker, 2006), cách tránh thuế được coi như

là một sự thay thế cho các khoản khấu trừ lãi trong việc xác định cơ cấu vốn và chi phí Các hoạt động tránh thuế có thể chuyển tài sản từ chính phủ sang các công ty, và

do đó để lại nhiều nguồn lực sẵn có cho các công ty để phục vụ nghĩa vụ nợ Chi phí

sử dụng vốn là một tỷ lệ hiệu quả đánh giá đúng những gì công ty phải trả cho các khoản nợ hiện tại của mình

Chi phí sử dụng vốn được đo lường hoặc là trước hoặc sau thuế, tuy nhiên, bởi vì chi phí lãi vay được khấu trừ trước thuế nên chi phí sử dụng vốn sau thuế thường được quan tâm hơn Đây là một phần của cấu trúc tài chính doanh nghiệp, cấu trúc tài chính còn bao gồm cả chi phí sử dụng vốn cổ phần

Một công ty sẽ sử dụng nhiều loại trái phiếu khác nhau, các khoản vay và các hình thức nợ khác, vì vậy, chi phí sử dụng vốn là một sự đo lường hữu ích cho biết chi phí trung bình mà công ty phải trả cho mỗi đồng tiền nợ tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp là bao nhiêu Chi phí sử dụng vốn cũng giúp nhà đầu tư có được một hình dung ban đầu về rủi ro tài chính của công ty so với các công ty khác, bởi vì một công ty có mức rủi ro cao hơn thường có chi phí sử dụng vốn cao hơn

2 Các lí thuyết nền tảng

2.1 Lý thuyết đại diện

Người ta cho rằng lý thuyết đại diện được xây dựng bởi Ross (1973), sau đó được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976 Lý thuyết này đề cập đến sự phân chia rủi ro giữa người ủy quyền (chủ sở hữu) và người đại diện do họ có mục tiêu và sự phân công lao động khác nhau Lý thuyết cho rằng cả người ủy nhiệm và người được ủy nhiệm đều theo đuổi những mục đích của riêng mình, do đó trong mối quan hệ này luôn tồn tại những mâu thuẫn và làm phát sinh một khoản chi phí đại diện (agency cost) Người ủy quyền giao nhiệm vụ cho người đại diện thông qua một hợp đồng, lý thuyết này chỉ giới hạn trong trường hợp giữa họ có mâu thuẫn về lợi ích, đặc biệt xuất phát từ nguyên nhân người đại diện là người có thông tin đầy đủ hơn người ủy

Trang 14

quyền, tức là người đại diện hiểu rõ hơn về công việc mình đang làm Điều này dẫn đến nguy cơ hành vi cơ hội của người đại diện

2.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng được biết đến lần đầu tiên vào những năm 1970 (A.G.Akerlof) và đã được Spence (1973), Stiglitz (1975) bổ sung và hoàn thiện Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trước khi tiến hành ký kết hợp đồng Các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị đích thực của hàng hóa khi đó dẫn đến lựa chọn bất lợi (adverse selection) cho nhà đầu tư Mặt khác, thông tin bất cân xứng còn gây ra rủi

ro đạo đức (moral hazard) sau khi hợp đồng đã được giao kết nhưng một bên có hành động che đậy thông tin mà bên kia khó lòng kiểm soát, hoặc muốn kiểm soát thì cũng phải tốn kém chi phí

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thông tin bất cân xứng được nhóm nghiên cứu thu thập lại như sau:

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì không biết đích thực thông tin đó ở mức độ nào đó (Nguyễn Trọng Hoài, 2006) Thông tin bất cân xứng là khái niệm mô tả các tình huống trong đó những người tham gia tương tác trên thị trường nắm được thông tin khác nhau về giá trị hoặc chất lượng của một tài sản đang được giao dịch (trao đổi) trên thị trường Nói một cách khác nếu không tồn tại tình trạng bất cân xứng đối với việc tiếp cận thông tin về tài sản thì được gọi là tình trạng “cân xứng” về thông tin.1

Tóm lại, Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin không chính xác Điều này khiến cho bên

ít thông tin hơn có những quyết định thiếu chính xác khi thực hiện giao dịch, đồng thời

1 Thời báo kinh tế Sài Gòn, Thương hiệu và lý thuyết bất đối xứng thông tin,

26/4/2017

Trang 15

bên nhiều thông tin hơn sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa

vụ giao dịch

3 Tổng quan các nghiên cứu trước

3.1 Nghiên cứu nước ngoài

Các doanh nghiệp có khách hàng tập trung có 3 lý do chính để bảo vệ tiền mặt của

họ, đó là:

Một ví dụ điển hình cho vấn đề này đó là sự phá sản của General Motor (GM) năm

2009 trong cuộc khủng hoảng tài chính gần đây Hậu quả của việc này đó là hơn 40 nhà cung cấp chính của GM, những người coi GM là khách hàng chính của họ, nộp đơn xin phá sản và Bộ Tài chính Mỹ đã phải cung cấp 5 tỷ đô la Mỹ để cứu trợ các nhà cung cấp này

Kết quả là, những doanh nghiệp có khách hàng tập trung có thể giữ thêm tiền mặt

để phòng ngừa rủi ro về dòng tiền

Thứ hai, Wang (2012) và Itzkowitz (2013) đưa ra gợi ý rằng các nhà cung cấp có những khách hàng lớn cũng có thể giữ tiền mặt nhiều hơn như một lời cam kết với khách hàng của họ, rằng họ có khả năng tài chính để đầu tư vào các tài sản có liên quan cụ thể Theo Timan (1984), để hoạt động của doanh nghiệp được tối ưu thì đòi hỏi cả nhà cung cấp lẫn khách hàng lớn phải thực hiện những khoản đầu tư có liên quan cụ thể Bởi vì những khoản đầu tư này sẽ mất giá trị đáng kể nếu một bên có vấn đề về tài chính, nhà cung cấp sẽ có động cơ để sử dụng thêm tiền mặt như để báo hiệu rằng doanh nghiêp vẫn đang khỏe mạnh về mặt tài chính

Thứ ba, Ravenscraft (1983), Balakrishnan và các cộng sự (1996), Gosman và các cộng sự (2004) và Piercy and Lane (2006) cho rằng các khách hàng lớn có xu hướng sử dụng quyền ảnh hưởng của họ để thương lượng, bắt buộc các nhà cung cấp giảm giá bán, mở rộng thời hạn tín dụng, mua hàng với số lượng nhỏ để giảm số lượng hàng tồn kho cho các khách hàng lớn Những thỏa thuận này bóp méo lợi nhuận, thay đổi rủi ro thanh khoản dẫn đến làm giảm lợi nhuận cho các nhà cung cấp

Hơn nữa, theo Raman và Shahrur (2008) đề xuất thì đối với các doanh nghiệp có những khách hàng lớn có xu hướng thực hiện các khoản đầu tư có liên quan cụ thể,

Trang 16

chẳng hạn như thiết kế hoặc phát triển các thiết bị chuyên dụng hoặc giới thiệu một hệ thống kiểm kê hàng hóa mới cho một khách hàng cụ thể

Cũng đồng ý với các lập luận này, Dhaliwal và các cộng sự (2013) cho thấy rằng

sự lệ thuộc vào các khách hàng lớn có khả năng gây ra khủng hoảng tài chính trong tương lai cao hơn và kiểm toán viên có nhiều khả năng và kiểm toán viên có nhiều khả năng sẽ đưa ra ý kiến kiểm toán cho các nhà cung cấp với các khách hàng lớn Dhaliwal

và các cộng sự (2016), Campello và Gao (2014) cho thấy rằng các nhà cung cấp với các khách hàng lớn có chi phí sử dụng vốn cao hơn

Những luận cứ trên cho thấy các doanh nghiệp có khách hàng tập trung cao sẽ có rủi ro cao về dòng tiền mặt và do đó, muốn giữ tiền mặt nhiều hơn Vì thế việc đóng thuế ít hơn có thể tiết kiệm được một lượng lớn tiền mặt thông qua sự chênh lệch về thuế tạm thời và vĩnh viễn

Cụ thể, Wang (2012) nhận thấy rằng các khoản đầu tư có liên quan cụ thể bởi nhà cung cấp sẽ dẫn đến việc nắm giữ tiền mặt hạn chế, do đó cung cấp cho các nhà cung cấp một số ưu đãi để giảm lượng tiền chi trả cổ tức Itzkowitz (2013) nhận thấy rằng các nhà cung cấp có khách hàng tập trung phát hành cổ phiếu như là một cách để tích lũy tiền mặt, như trái với các phương tiện khác như phát hành nợ

Do đó Wang (2012) và Itzkowitz (2013), gợi ý rằng các nhà cung cấp có khách hàng tập trung có thể dựa vào những cách nêu trên, những cách khác ngoài việc tránh thuế để tăng tiền mặt

Tránh thuế là một phương pháp có chi phí thấp để cho các doanh nghiệp có khách hàng tập trung có thể tăng lượng tiền mặt Có những lý do sau đây:

Thứ nhất, mặc dù các doanh nghiệp có thể sử dụng các phương tiện như phát hành

cổ phiếu, cắt giảm cố tức hay cắt giảm chi phí để tích lúy tiền mặt (Wang, 2012 và Itzkowitz, 2013), những cách này có thể không phải lúc nào cũng có thể thực hiện hoặc

có thể sẽ có những hệ lụy bất lợi cho các doanh nghiệp có khách hàng tập trung

Cụ thể, điều kiện thị trường khó khăn có thể làm cho nó việc phát hành cổ phiếu

sẽ khó khăn, nghiêm ngặt và tốn kém (McLean, 2011) Các công ty có khách hàng tập trung lớn cũng có chi phí vốn cao hơn (Dhaliwal và các cộng sự, 2016), dẫn đến chi phí

Trang 17

phát hành cổ phiếu rất cao để huy động tiền mặt thông qua các thị trường bên ngoài Ngoài ra, công ty cần phải cho thấy tình hình tài chính tốt, kinh doanh thuận lợi để duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng chính (Titman, 1984) Việc cắt giảm cổ tức là một tín hiệu không thuận lợi, cho thấy việc kinh doanh của công ty đang có vấn đề và gây khó khăn cho các công ty để giữ khách hàng chính của họ Hơn nữa, việc cắt giảm chi phí sẽ dẫn đến những hậu quả bất lợi cho hoạt động và dòng tiền của doanh nghiệp của trong tương lai (Roychowdury, 2006, Cohen và các cộng sự, 2008)

Edwards và các cộng sự (2016) nhận thấy rằng các doanh nghiệp không muốn sử dụng các phương pháp (VD: Quản lý thu nhập thực) có thể ảnh hưởng không tốt hoạt động của doanh nghiệp khi tìm cách để tạo ra tiền mặt

Mills và Newberry (2001), Noga và Schnader (2013) khuyên rằng các doanh nghiệp có một xác suất cao về khủng hoảng tài chính có động cơ để tăng mức tiền mặt

và thu nhập của mình bằng việc gia tăng sự khác biệt về thuế suất Như vậy, các công

ty có mức độ khách hàng tập trung cao có thể sẽ sử dụng việc tránh thuế để tiết kiệm tiền nộp thuế, từ đó tăng khối lượng tiền mặt nắm giữ

Ngoài ra, Edwards và các cộng sự (2016) chỉ ra rằng các công ty tránh thuế để tiết kiệm tiền mặt, phòng khi họ gặp phải những vấn đề về tài chính do điều kiện kinh tế vĩ

mô gây ra Theo một số nghiên cứu, những khó khăn về tài chính là do mối quan hệ với những khách hàng lớn, chứ không phải do các điều kiện kinh tế vĩ mô Điều này chỉ ra rằng những lập luận trong Edwards và các cộng sự (2016) không thể áp dụng cho nghiên cứu của chúng tôi

Vì tất cả những lý do trên, chúng tôi muốn các nhà cung cấp có khách hàng tập trung sử dụng việc tránh thuế để tăng tiền mặt mặc dù có những biện pháp khác để tăng khối lượng tiền mặt

Nghiên cứu liên quan đến tránh thuế

Có ba hình thức nghiên cứu liên quan đến vấn đề liên quan đến bài nghiên cứu này Hình thức thứ nhất bao gồm các kiểm tra các trường hợp cụ thể của lập kế hoạch thuế và là chắn thuế/né thuế Các bài này bao gồm Graham và Tucker (2005); Engel, Erickson và Maydew (1999); Erickson, Goolsbee và Maydew (2003); Seida và Wempe

Trang 18

(2004); Desai và Hines (2002); và một số người khác Hình thức thứ hai là khảo sát sự biến đổi của thuế suất thực tế hằng năm Các bài biết bao gồm Rego (2003); Mills, Erickson và Maydew (1998); Collins và Shackelford (1995) Hình thức thứ ba nghiên cứu điều tra nguyên nhân và hậu quả của sự chênh lệch thuế theo giá trị sổ sách Các bài liên quan Hanlon (2005); Mills (1998); Guenther, Maydew và Nutter (1997); Manzon

và Plesko (2002); và những người khác

Các nghiên cứu kiểm tra các trường hợp cụ thể của lập kế hoạch thuế là hữu ích cho chúng ta vì hai lý do Thứ nhất các nghiên cứu này cung cấp thông tin về chiến lược lập kế hoạch thuế điển hình, rất hữu ích để suy nghĩ về cách lập kế hoạch thuế sẽ đo lường các tác động khác nhau của thuế suất thực tế hằng năm Thứ hai, họ cung cấp thông tin về đặc điểm của các doanh nghiệp có khả năng tham gia vào việc lập kế hoạch thuế Chúng tôi rút ra thông tin này sau đó, khi chúng tôi tiến hành các kiểm tra sơ bộ

để xác định các đặc tính của các công ty tránh thuế thành công lâu dài

Có một bộ nghiên cứu nhỏ kiểm tra biến đổi của thuế suất thực tế hằng năm Ví dụ: Rego (2003) kiểm tra các hoạt động tránh đánh thuế của các tập đoàn đa quốc gia của Hoa Kỳ bằng cách hồi quy các mức thuế suất thực tế (thuế thu nhập phải trả chia thu nhâp trước thuế) về các biến số độc lập như quy mô, thu nhập trước thuế, mức độ hoạt động của nước ngoài, cho dù công ty là một tập đoàn đa quốc gia, sự tương tác của

đa quốc gia và quy mô và thu nhập, vị trí của công ty và các chỉ số ngành Rego (2003) nhận thấy rằng các công ty lớn hơn có mức thuế suất thực tế cao hơn và các công ty với thu nhập trước thuế cao hơn có mức thuế suất thực tế thấp hơn, khi các yếu tố khác không thay đổi Rego (2003) cũng cho thấy rằng các tập đoàn đa quốc gia có khả năng tránh được nhiều khoản thuế hơn các công ty trong nước Mills, Erickson và Maydew (1998) khảo sát những khoản đầu tư của các công ty trong lên kế hoạch thuế và như là một phần của phân tích của họ, họ điều tra lợi nhuận đầu tư của doanh nghiệp Họ bỏ lại ETR của công ty (tổng số thuế hiện hành 3 năm tổng thu nhập trước thuế 3 năm) về các biến số độc lập bao gồm 1) Đầu tư vào lập kế hoạch thuế (tức là tổng thu nhập của bộ phận thuế và phí thuế bên ngoài 2) Quy mô công ty 3) một biến chỉ thị được thiết lập bằng một nếu công ty có tài sản nước ngoài 4) biến số đòn bẩy (khoản nợ dài hạn của công ty chia cho tổng tài sản) 5) mức tài sản cố định và 6) cường độ hàng tồn kho của công ty Họ thấy rằng sự đầu tư lớn vào lập kế hoạch thuế và đòn bẩy càng cao thì tỷ lệ

Trang 19

thuế suất thực tế càng thấp Họ cũng thấy rằng tài sản nước ngoài có liên quan đến mức thuế suất thực tế cao hơn

Cuối cùng, bài viết của chúng tôi liên quan đến các tài liệu rộng rãi về sự chênh lệch thuế theo giá trị sổ sách Các công ty thành công trong việc tránh đánh thuế lâu dài

có thể xảy ra, mặc dù không cần thiết, cũng là công ty có khẳ năng duy trì sự khác biệt lớn giữa thu nhập GAAP và thu nhập chịu thuế Tuy nhiên, chúng tôi mong đợi sự liên quan giữa sự tránh thuế và sự chênh lệch thế theo giá trị sổ sách

Chúng tôi lưu ý rằng cũng giống như chúng tôi biết không có nghiên cứu trước về

sự tránh thuế dài hạn, chúng tôi không có ý kiến về các khoản chênh lệch về sự chênh lệch thuế theo giá trị sổ sách dài hạn Đã có một số nghiên cứu điều tra nguyên nhân và hậu quả của sự chênh lệch thuế theo giá trị sổ sách VD: Manzon và Plesko (2002) kiểm tra mối quan hệ giữa lợi nhuận kế toán thu nhập chịu thuế các biện pháp theo giời gian Khái niệm, các mục giải thích này là 1) nhu cầu đầu tư và tài chính(financing) ưu đãi thuế (sử dụng khẳ năng sinh lợi, sự xuất hiện của NOLs, và sự thay đổi của bán hàng như người đại diện) (2) các nguồn trực tiếp của sự khác biệt về thời gian đầu tư ( sử dụng tài sản, nhà máy và thiết bị; và các tài sản xóa sổ có hệ thống và các khoản trợ cấp hưu trí như người đại diện), 3) sự khác nhau cố định ( sử dụng ưu đãi trước năm 1993 như là một người đại diện), và 4) hệ số nhiễu (sử dụng sự thay đổi NOLs, mức độ hoạt động của nước ngoài, quy mô và sự lan rộng chậm như các người đại diện) Họ tìm thấy trong một hồi quy hiệu ứng cố định các biến này giải thích 28% sự lây lan (và 69% của điều chỉnh lây lan, được tính bằng cách điều chỉnh sự chênh lệch giữa thu nhập sổ sách

và thu nhập chịu thuế theo khoản mục được khấu trừ cho mục đích thuế và thu nhập không phải chịu thuế) Tuy nhiên, Manzon và Plesko (2002) sử dụng dữ liệu hàng năm

và không xem xét khả năng tránh đánh thuế dài hạn của công ty

Các nghiên cứu khác sử dụng phần không giải thích được của sự chênh lệch thuế theo giá trị sổ sách như cách đo lường của tiềm năng né thuế Desai và Dharmapala (2005) điều tra xem liệu các doanh nghiệp có ưu đãi lớn về vốn chủ sở hữu có tham gia nhiều hơn vào hoạt động tránh thuế Họ đo lường sự tránh thuế như là phần từ sự hồi quy của sự chênh lệch thuế theo giá trị sổ sách (ước tính bằng cách tính tổng chi phí thuế liên bang hiện tại để có được một ước tính thu nhập chịu thuế và sau đó trừ đi khoản thu nhập từ báo cáo tài chính của công ty trong nước) trên tổng số tích lũy/dự phòng của

Trang 20

công ty A (đại diện cho các hoạt động quản lý thu nhập) Tuy nhiên, thay vì bao gồm nhiều biến số có thể giải thích các hoạt động tránh đánh thuế, Desai và Dharmapala (2005) chỉ bao gồm các biện pháp của lương bổng đãi ngộ kích thích LĐXS và quản trị công ty và ước tính các mô hình hiệu ứng cố định của công ty để cố gắng kiểm soát các yếu tố khác trong phân tích của họ

Frank và các cộng sự (2005) sử dụng một ước tính của sự khác nhau cố định của một công ty như một biện pháp của năng nổ báo cáo thuế trong cuộc nghiên cứu của họ

về việc liệu các công ty có đang năng nổ cho báo cáo thuế và báo cáo tài chính Một số biến số mà họ đưa vào là các biến số độc lập là 1) một thước đo vô hình, 2) một năm trễ chênh lệch vĩnh viễn, 3) một năm trì trệ hệ số giá ghi sổ trên giá trị thị trường cho các công ty, 4) nợ dài hạn của công ty Phần còn lại từ biến hồi quy của chênh lệch vĩnh viễn trong các biến số này (và các biến số khác) là thước đo của họ về “chênh lệnh vĩnh viễn tùy ý” Bằng cách ước tính số dư theo phương pháp này, Frank và các cộng sự (2005) tập trung vào việc đánh giá phần năng nổ về thuế mà không thể giải thích được bằng các đặc điểm công ty quan sát được, trong khi đó chúng tôi cố gắng nghiên cứu những đặc điểm của công ty liên quan đến tránh thuế - theo tinh thần của Manzon và Plesko ở trên Cuối cùng, chúng tôi lưu ý rằng nhiều báo cáo gần đây cung cấp bằng chứng phù hợp với sự chênh lệch thuế theo giá trị sổ sách cũng bao gồm các thông tin về chất lượng lợi nhuận kế toán tài chính (VD: quản lý thu nhập) không chỉ là sự năng nổ thuế (Mills

và Newberry, 2001, Phillips, Pincus và Rego 2003, Hanlon 2005)

3.2 Nghiên cứu trong nước

Trốn thuế và tránh thuế là một vấn đề được khá nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và tìm hiểu, tuy nhiên nghiên cứu về mối quan hệ giữa việc tránh thuế và chi phí sử dụng vốn thì vẫn còn khá ít

Ở Việt Nam, theo tìm hiểu của chúng tôi thì số lượng đề tài nghiên cứu về vấn đề này chỉ đếm được trên đầu ngón tay, có thể kể ra như luận văn “Các giải pháp hạn chế việc trốn thuế và tránh thuế của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Lan, hay các luận văn tốt nghiệp của các tác giả Hoàng Phương Nam, Trần Thanh Trúc, La Thị Hải Yến ở trường Đại học Quốc tế, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,…

Trang 21

Bài nghiên cứu “Các giải pháp hạn chế việc trốn thuế và tránh thuế của các công

ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam” năm 2009 của tác giả Nguyễn Thị Lan

đã khái quát đươc những đặc điểm cơ bản nhất, khái quát nhất của các công ty đa quốc gia và ảnh hưởng của nó đến chính sách thuế; phân tích và rút ra được bản chất của hiện tượng trốn thuế và tránh thuế, cũng như là nguyên nhân và hậu quả của nó đối với nền kinh tế Tác giả đã xác định được một vấn đề khá là quan trọng, đó là các công ty đa quốc gia thường sử dụng “giá chuyển giao” để trốn thuế, tránh thuế

Đi cùng với việc phân tích kinh nghiệm của một số nước về việc xử lý vấn đề trốn thuế tránh thuế của các công ty đa quốc gia, mà trọng tâm là các biện pháp quản lý “giá chuyển giao” và rút ra được một số bài học cho Việt Nam trong việc ngăn chặn các hành

vi trốn thuế và tránh thuế Qua đó tác giả đã đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để hạn chế các hoạt động tránh thuế của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam

Các khóa luận của tác giả Hoàng Phương Nam, Trần Thanh Trúc và La Thị Hải Yến thì tập trung nghiên cứu các công ty niêm yết trên sàn chứng khoản HOSE, hai nghiên cứu này tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa tỷ suất nợ trên vốn và thuế suất thực tế và đi đến kết luận rằng có một mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc vốn và mức hưởng lợi của các công ty này từ các lá chắn thuế trong doanh nghiệp Tuy nhiên các bài nghiên cứu này có một số hạn chế nhất định như số lượng công ty chọn chưa đủ tiêu chuẩn vì không có đủ số liệu trên báo cáo tài chính, dữ liệu được thu thập bằng tay nên dễ xảy ra sai sót Hay như bài nghiên cứu của tác giả Hoàng Phương Nam, mô hình đúng gồm 6 biến, tuy nhiên có 2 biến giả bị loại trừ là Blist và quy mô của công ty, hơn nữa bài nghiên cứu chỉ tập trung vào cái doanh nghiệp sản xuất nên chưa phản ánh được tổng thể lá chắn thuế của các doanh nghiệp ở Việt nam

Cũng đã có nhiều bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa việc trốn thuế, tránh thuế và chi phí sử dụng vốn trên thế giới, có thể kể đến một vài bài nghiên cứu như của tác giả Utkir Kholbadalov (2012) nghiên cứu các công ty ở Malaysia, nghiên cứu của Youngdeok Lim (2010); Henry He Huang, Gerald J.Lobo, Chong Wand and Hong Xie (2016),… Tuy nhiên các tác giả này nghiên cứu các công ty ở quốc gia mà họ đang sống như Malaysia, Trung Quốc, Hàn Quốc,…

Trang 22

Mỗi một quốc gia có một hệ thống pháp luật khác nhau, vì thế nên các hình thức trốn thuế, tránh thuế ít nhiều khác biệt Trên cơ sở muốn nghiên cứu bức tranh toàn thể

về thuế ở Việt Nam, nhóm đã chọn đề tài về mối quan hệ giữa hoạt động tránh thuế và chi phí sử dụng vốn dựa trên nền tảng của các bài nghiên cứu trước đó và tiếp tục mở

rộng, đào sâu vấn đề áp dụng vào các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE

4 Khoảng trống nghiên cứu

Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu có thể thấy rằng hành vi tránh thuế, chi phí sử dụng vốn và cách đo lường các biến này được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm Phương pháp đo lường thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau, có thể tiếp cận trực tiếp hoặc thông qua trung gian

Tại Việt Nam hiện chưa có đề tài nào đo lường tác động của hành vi tránh thuế bằng mô hình hồi quy của Desai và Dharmapala (2006) và tác động của hành vi tránh thuế đến chi phí sử dụng vốn của các doanh nghiệp niêm yết Do đó, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng rất cần thiết để lựa chọn mô hình đo lường hành vi tránh thuế của Desai

và Dharmapala (2006) và thực hiện đề tài nghiên cứu

Tuy nhiên, Bài nghiên cứu chỉ thực hiện dựa trên mẫu các công ty niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX nên chưa thể có một cái nhìn cụ thể về tác động của hành vi tránh thuế lên chi phí sử dụng vốn

Trang 23

5 Kết luận chương 1

Trong chương 1, nhóm chúng tôi dựa vào các khuôn mẫu của chuẩn mực quốc tế, các định nghĩa trong các công trình nghiên cứu trước để giải thích rõ các khái niệm: hành vi tránh thuế, chi phí sử dụng vốn Hai lý thuyết nền tảng tiêu biểu được đưa ra: lý thuyết đại diện và lý thuyết tín hiệu Để minh chứng cho ý nghĩa quan trọng của đề tài nhóm đưa ra tổng quan các nghiên cứu trước cả trong ngoài và ngoài nước liên quan đến việc đo lường ảnh hưởng của hành vi tránh thuế, đo lường chi phí sử dụng vốn theo cả hai phương pháp đo lường trực tiếp lẫn gián tiếp Cuối cùng nhóm chúng tôi đưa ra kẽ

hở của nghiên cứu, những mặt tích cực mà những công trình nghiên cứu trước đã đạt được, những hạn chế cần khắc phục để từ đó đưa ra định hướng nghiên cứu cho đề tài của nhóm để đi đến kết quả tốt nhất và với cơ sở lý thuyết này sẽ làm tiền đề cho các bước nghiên cứu mô hình thực nghiệm ở chương sau

Trang 24

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu là các công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán là HOSE và HNX trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2016, cụ thể là 125 công ty, được thu thập từ nguồn dữ liệu Datastream của Thomson Reuters tại Trung Tâm Nghiên cứu Kinh tế Tài chính của Trường Đại học Kinh tế - Luật và báo cáo tài chính đã kiểm toán được công bố công khai của các công ty niêm yết Các công ty được chọn làm mẫu phải thỏa mãn những điều kiện sau: Các công ty chỉ được chọn khi có đủ tất cả các chỉ số cần thiết để phục vụ cho việc tính toán và không phải là những công ty đầu tư tài chính và ngân hàng (thường bị chi phối bởi yếu tố ngành) Đồng thời phải có đầy đủ báo cáo tài chính thường niên đã được kiểm toán trong giai đoạn nghiên cứu Nên mẫu dữ liệu có tính cân bằng mạnh (balanced panel)

2 Quy trình nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu liên quan đến tác động của hành vi tránh thuế lên chi phí sử dụng vốn

Từ đó, thiết lập được mô hình phù hợp đo lường sự tác động của chất lượng báo cáo tài chính đến khả năng vay nợ của doanh nghiệp thông qua các biến số

Tiếp theo đó, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu liên quan đến các biến cần thiết, tiến hành chạy mô hình dữ liệu bảng trên phần mềm Stata và đưa ra kết quả Cuối cùng, nhóm nghiên cứu dựa vào các kết quả để đưa ra kết luận, đề xuất và kiến nghị cho các bên liên quan

Sơ đồ quy trình nghiên cứu

Nguồn: Quy trình nghiên cứu của nhóm nghiên cứu

1 Cơ sở lý thuyết và

Tổng quan các bài nghiên

cứu trước

2 Lựa chọn đề tài và thiết lập mô hình đo

Trang 25

3 Giả thuyết nghiên cứu và cách thức đo lường

3.1 Giả thuyết nghiên cứu

DeAngelo và Masulis (1980) đưa ra giả thuyết rằng một doanh nghiệp lựa chọn mức độ nợ tỷ lệ nghịch với lợi ích thuế phi nợ vay (các khoản khấu hao, tín dụng ưu đãi thuế) để làm giảm thuế thu nhập mà công ty phải nộp Một vài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khấu hao và tín dụng ưu đãi thuế có thể thay thế nợ (MacKie-Masion, 1990; Trezevant, 1992) Graham (2000) đã cung cấp phương pháp đo lường cho doanh nghiệp hạn chế sử dụng nợ, và ông cũng tranh luận rằng khối lượng sử dụng nợ trung bình là tương đối nhỏ so với lợi ích về thuế mà khoản nợ đó mang lại bởi vì tỉ số khấu trừ lãi nhỏ so với lợi nhuận kì vọng của đa số các doanh nghiệp Graham và các cộng sự (2004) phân tích các quyền mua cổ phiếu của các doanh nghiệp và khẳng định rằng các quyền mua cổ phiếu này giải thích cho hiện tượng doanh nghiệp có quá ít nợ - quyền mua cổ phiếu chiếm khoảng 20% giá trị trung bình của the kink (Graham, 2000)

Một vài công trình đã nghiên cứu hành vi tránh thuế như là sự mở rộng của hành

vi ưu đãi thuế Graham và Tucker (2006) theo kinh nghiệm của mình đã nghiên cứu liệu rằng các hành vi tránh thuế có thể thay thế bằng việc sử dụng nợ hay không Họ đã xây dựng một mẫu các doanh nghiệp bao gồm 44 tập đoàn sử dụng cách tránh thuế trong giai đoạn 1975-2000 Bằng việc so sánh những doanh nghiệp này với một mẫu tương ứng những doanh nghiệp khác không sử dụng hành vi tránh thuế, họ tìm ra rằng những đặc tính, như là kích thước và mức độ lợi nhuận, tỉ lệ thuận với việc sử dụng các cách tránh thuế Họ cũng chỉ rõ hành vi tránh thuế là một biện pháp thay thế khấu trừ lãi trong việc xác định cấu trúc vốn

Lim (2010) nghiên cứu việc tham gia vào các hoạt động tránh thuế liệu rằng có liên quan đến cấu trúc vốn trong bối cảnh nền kinh tế Hàn Quốc và đồng thời ông cũng nghiên cứu tác động của cạn kiệt thuế trong mối quan hệ này Bằng cách sử dụng phương pháp đo sự tránh thuế được chỉnh sửa từ tác giả Desai và Dharmapala (2006), Lim (2010) tìm ra sự hiện diện của một tác động thay thế của hành vi tránh thuế cho việc sử dụng

nợ trong một số lượng lớn các mẫu doanh nghiệp Hàn Quốc; Lim (2010) cũng tìm ra tác động thay thế tăng cùng với tác động của cạn kiệt thuế, từ đó tổng quát hóa chứng cứ của Graham và Tucker (2006)

Chi phí sử dụng vốn bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm của chính doanh nghiệp đó và những yếu tố liên quan tới phát hành trái phiếu mà ảnh hưởng tới rủi ro vỡ nợ, chi phí

Trang 26

đại diện và vấn đề thông tin bất cân xứng (Bhojraj và Sangupta, 2003) Nếu việc tránh thuế thay thế cho việc sử dụng nợ (Graham và Tucker, 2006; Lim, 2010), sẽ có sự tăng tích trữ thặng dư tài chính, giảm chi phí phá sản dự tính, tăng cường chất lượng tín dụng, giảm rủi ro vỡ nợ và do đó giảm chi phí sử dụng nợ Graham và Tucker (2006) báo cáo rằng xếp hạng tín nhiệm của những doanh nghiệp ẩn thuế tăng 1 nấc khi so sánh với những doanh nghiệp tương ứng trong những năm tới thời điểm bắt đầu của việc ẩn thuế phần lớn bởi vì sự tụt giảm của tỷ lệ nợ Sử dụng phương pháp các biến công cụ, Molina (2005) xác định sự nghịch biến của đòn bẩy tài chính lên mức độ tín nhiệm mạnh hơn 3 lần dưới sự nội sinh của đòn bẩy Dựa trên những bàn luận vừa nêu, chúng tôi đưa ra giả thuyết đánh đổi như sau:

H1: Hành vi tránh thuế có ảnh hưởng ngược chiều/nghịch biến với chi phí sử dụng

nợ

3.2 Các biến kiểm soát

CFO (Cashflow from operations) là được tính bằng cách lấy dòng tiền thuần từ

hoạt động sản xuất kinh doanh chia cho tổng tài sản

Tỷ suất dòng tiền thu được trên tài sản, khi so sánh tỷ số này giữa 2 công ty với nhau, thì công ty nào có tỷ suất CFO cao hơn chứng tỏ công ty đó hoạt động có hiệu quả hơn Khi hoạt động hiệu quả hơn, trừ những trường hợp có những hoạt động đầu tư lớn thì nhu cầu về các khoản vay là không nhiều so với những công ty có tỷ số này thấp hơn Hiển nhiên nếu một công ty thu được nhiều tiền hơn từ hoạt động sản xuất kinh doanh thì công ty đó ít có nhu cầu phải vay vốn hơn và từ đó giảm được chi phí sử dụng vốn

Ở đây, nhóm chúng tôi cho rằng kỳ vọng dấu có CFO là a2 <0

Size là số logarit của tổng tài sản

Giá trị của tổng tài sản luôn là một chỉ số được các nhà đầu tư quan tâm khi quyết định cho doanh nghiệp vay vốn Bởi vì một điều dễ hiểu, tổng tài sản lớn thì trong trường hợp không thu hồi được phần vốn cho vay thì có thể lấy tài sản như một vật thế chấp, các nhà đầu tư cũng yên tâm hơn khi cho vay

Các doanh nghiệp có tổng tài sản lớn dễ dàng hơn khi huy động các khoản vay, tuy nhiên giá trị của các khoản vay này thường tỷ lệ thuận với giá trị của tổng tài sản

Trang 27

Kỳ vọng dấu: a3 > 0

PPE được là giá trị tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp

Trong cơ cấu tài sản của một doanh nghiệp thì tài sản cố định hữu hình là phần quan trọng nhất đối các quyết định tài chính Các công ty vừa và nhỏ có thể sử dụng tài sản hữu hình làm tài sản thế chấp như một sự đảm bảo trong trường hợp công ty không trả được nợ hay tệ hơn là phá sản Vì giá trị tài sản ít nên các ngân hàng khi cho vay cũng ở một giới hạn nhất định, có thể không vượt quá giá trị thu hồi của các tài sản cố định này

Và tại sao là tài sản cố định hữu hình mà không phải là một tài sản nào khác? Vì tài sản hữu hình dễ dàng xác định, tách ra hoặc sử dụng hơn là một tài sản khó nắm bắt khác như tài sản vô hình

Trong khi đối với các công ty lớn, giá trị của các tài sản cố định hữu hình là khá lớn, phần lớn là máy móc, đất đai, các nhà đầu tư có thể khó khăn khi thanh lý các tài sản này.Mặt khác, đối với các công ty lớn, nếu thực sự họ có nhu cầu về vốn thì khoản này sẽ khá lớn nếu so sánh với các công ty nhỏ hơn

Tóm lại nếu môt công ty có giá trị tài sản hữu hình trên tổng tài sản cao thì chi phí

sử dụng vốn cũng sẽ cao, và ngược lại, a4 > 0

Leverage là tổng nợ ngắn và dài hạn chia cho giá trị thị trường của doanh nghiệp

Điều này khá là hiển nhiên, khi tổng nợ ngắn hạn và dài hạn của một doanh nghiệp cao thì chi phí sử dụng vốn, chi phí lãi vay phải trả hàng năm cũng phải cao

Đối với một doanh nghiệp có giá trị thị trường thấp thì khi doanh nghiệp huy động vốn từ nhà đầu tư, ngân hàng hay là một nguồn nào khác, các người cho vay cũng sẽ khá cẩn thận khi cho vay vì nếu doanh nghiệp không trả được tiền vay thì phần mà nhà đầu tư thu hồi được lại khá là ít; nếu cho vay thì khả năng doanh nghiệp sẽ phải vay với một mức lãi suất cao hơn lãi suất mà các doanh nghiệp lớn phải trả

Do đó, kỳ vọng dấu a5 > 0 cho biến Leverage, khi Leverage lớn thì chi phí sử dụng vốn (Cost of debt) của doanh nghiệp cũng cao

Trang 28

Big4 là 1 nếu kiểm toán viên là một nhân viên thuộc 4 doanh nghiệp kiểm toán

Deloitte, EY, PwC hay KPMG, là 0 nếu thuộc công ty khác ngoài 4 công ty trên Nếu các kiểm toán viên đến từ các doanh nghiệp kiểm toán lớn như Big 4 thì họ

sẽ dễ dàng kiểm tra được những bất thường trong hoạt động tránh thuế, trốn thuế với khả năng và kinh nghiệm của họ

Vì vậy việc chuyển các dòng tiền từ các hoạt động tránh thuế sang các hoạt động khác, từ đó giảm khoản phải vay cũng như lãi suất trung bình của công ty sẽ ít xảy ra Hoặc giả sử công ty đó được kiểm toán bởi Big 4 thì họ cũng sẽ dè dặt và cẩn thận hơn trong việc thực hiên các hành vi tránh thuế và ngược lại

Kỳ vọng tương quan dấu a6 < 0

3.3 Cách thức đo lường

Theo Hanlon và Heitzman (2010), chúng tôi cho rằng tránh thuế là các hoạt động nhằm giảm nghĩa vụ thuế phải nộp của công ty Chúng tôi áp dụng ba biện pháp tránh thuế đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu trước đó Hai phương pháp đầu tiên

là hai biện pháp dựa trên thuế suất hiệu quả (ETR) và bao gồm Thuế suất hiện hành ( Current ETR) và Thuế suất tiền mặt thực tế ( Cash ETR)

Theo Cheng và các cộng sự (2012) thì Thuế suất hiện hành được tính như sau:

𝑇ℎ𝑢ế 𝑠𝑢ấ𝑡 ℎ𝑖ệ𝑛 ℎà𝑛ℎ = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑡ℎ𝑢ế 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ỳ − 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑡ℎ𝑢ế ℎ𝑜ã𝑛 𝑙ạ𝑖

𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡𝑟ướ𝑐 𝑡ℎ𝑢ế − 𝐶á𝑐 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝑚ụ𝑐 đặ𝑐 𝑏𝑖ệ𝑡Thuế suất hiện hành không bao gồm chi phí thuế hoãn lại và do đó tiết kiệm được thuế do sự chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn Một mức thuế suất thấp hơn thuế suất hiện hành cho thấy công ty đang có hoạt động tránh thuế và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp ít hơn những doanh nghiệp có thuế suất hiện hành cao hơn Kết hợp với các tài liệu trước đó, chúng tôi dự đoán Thuế suất hiện hành sẽ rơi vào khoảng [0,1] Theo các nghiên cứu trước (Dyreng và các cộng sự, 2008, 2010; Cheng và các cộng sự, 2012; McGuire và các cộng sự, 2014), phương pháp tính các khoản tránh thuế thứ hai cung chúng rôi, Thuế suất tiền mặt thực tế được tính như sau:

Trang 29

𝑇ℎ𝑢ế 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑡𝑖ề𝑛 𝑚ặ𝑡 𝑡ℎự𝑐 𝑡ế = 𝑆ố 𝑡ℎ𝑢ế 𝑝ℎả𝑖 𝑡𝑟ả 𝑏ằ𝑛𝑔 𝑡𝑖ề𝑛 𝑚ặ𝑡

𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡𝑟ướ𝑐 𝑡ℎ𝑢ế − 𝐶á𝑐 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝑚ụ𝑐 đặ𝑐 𝑏𝑖ệ𝑡Thuế suất tiền mặt thức tế bao gồm tất cả các chiến lược về thuế nhằm tiết kiệm các khoản thuế thu nhập doanh nghiệp phải trả bằng tiền mặt trong một năm Một thuế suất tiền mặt thực tế thấp hơn cho thấy doanh nghiệp nộp thuế ít hơn Tương tự với thuế suất hiện hành, chúng tôi cũng dự đoán Thuế suất tiền mặt thực tế rơi vào khoảng [0,1]

3.4 Chi phí sử dụng nợ

Chi phí sử dụng nợ là lãi suất nợ của công ty, được tính bằng cách lấy chi phí lãi vay trong năm chia cho nợ ngắn hạn và dài hạn trung bình trong năm (Pittman và Fortin 2004)

4 Mô hình nghiên cứu

Mô hình và các biến được thể hiện như sau:

TA – Biến độc lập, thể hiện các khoản tránh thuế của công ty

Big 4 – Biến kiểm soát, thể hiện nếu kiểm toán viên thuộc một trong 4 doanh nghiệp kiểm toán là Deloitte, EY, PwC và KPMG

CFO – Biến kiểm soát, thể hiện dòng tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh chia cho tổng tài sản

Size – Biến kiểm soát, thể hiện số logarit của tổng tài sản

PPE – Biến kiểm soát, thể hiện giá trị của tài sản cố định hữu hình

Ngày đăng: 16/01/2019, 16:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Lan (2009), Các giải pháp hạn chế việc trốn thuế và tránh thuế của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp hạn chế việc trốn thuế và tránh thuế của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lan
Năm: 2009
2. Thời báo kinh tế Sài Gòn, Thương hiệu và lý thuyết bất đối xứng thông tin, http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/quantri/31349/,ngày24/03/2010, truy cập ngày 26/4/2017Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương hiệu và lý thuyết bất đối xứng thông tin
10. Fuest, C., and N. Riedel. 2009. Tax evasion, tax avoidance and tax expenditures in developing countries: A review of the literature. Report, Oxford University Central of Business Taxation, Oxford Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report
11. Graham, J.R., 2000. How big are the tax benefits of debt? Journal of Finance 55, 1901–1941 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Finance 55
12. Graham, J.R., Tucker, A., 2006. Tax shelters and corporate debt policy. Journal of Financial Economics 81, 563–594 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Financial Economics
13. Hartzell, J.C., Starks, L.T., 2003. Institutional investors and executive compensation. Journal of Finance 58, 2351–2374 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Finance 58
14. Huang, Henry He and Lobo, Gerald J. and Wang, Chong and Xie, Hong, 2016. Customer Concentration and Corporate Tax Avoidance. Journal of Banking and Finance, Vol. 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking and Finance
15. Lim, Y.D., 2010. Tax Avoidance and Underleverage: Korean Evidence. Working Paper, University of New South Wales Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working Paper
16. Lim, YD, 2011. Tax avoidance, cost of debt and shareholder activism: Evidence fromKorea. Journal of Banking &amp; Finance 35, 456–470 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking & Finance 35
17. Mackie-Mason, J.K., 1990. Do taxes affect corporate financing decisions? Journal of Finance 45, 1471–1493 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Finance 45
18. Molina, C.A., 2005. Are firms underleveraged? An examination of the effect of leverage on default probabilities. Journal of Finance 60, 1427–1459 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Finance 60
19. Shackelford, D., Shevlin, T., 2001. Empirical tax research in accounting. Journal of Accounting and Economics 31, 321–387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting and Economics 31
20. Shleifer, A., Vishny, R., 1986. Large shareholders and corporate control. Journal of Political Economy 94, 461–488 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Political Economy 94
21. Wilson, R.J., 2009. An examination of corporate tax shelter participations. The Accounting Review 84, 969–999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Accounting Review 84
22. Tran Thanh Truc Phan, Ngoc Anh (2016), Corporate tax avoidance &amp; the cost of debts: A study of listed companies on Ho Chi Minh stock exchange, International University, Ho Chi Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate tax avoidance & the cost of debts: A study of listed companies on Ho Chi Minh stock exchange
Tác giả: Tran Thanh Truc Phan, Ngoc Anh
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w