1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ky nang giao tiep cua giao vien mam non

85 289 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Năng Giao Tiếp Của Giáo Viên Mầm Non
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục mầm non
Thể loại Luận văn
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 598,5 KB
File đính kèm Ky nang giao tiep cua giao vien mam non.rar (86 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sinh, kỹ năng làm gương cho học sinh, kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng giaotiếp sự tiếp xúc, kỹ năng nhận thức.- Paul Ekman, tác giả cuốn “Emotin Revealed” nêu lên vấn đề cảm xúc biểu

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sống trong xã hội, con người không chỉ có quan hệ với thế giới sự vật hiệntượng bằng hoạt động có đối tượng mà còn có quan hệ giữa con người với conngười, giữa con người và xã hội – đó là quan hệ giao tiếp

Giao tiếp là một trong những vấn đề căn bản trong đời sống con người.Không có giao tiếp, con người không thể tồn tại, không có giao tiếp xã hội nhưngừng trệ, không có sự phát triển và văn minh Qua giao tiếp chúng ta có thể xácđịnh được các mức độ nhu cầu, tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm…của đốitượng giao tiếp, nhờ đó mà chủ thể giao tiếp đáp ứng kịp thời, phù hợp với mục đích

và nhiệm vụ giao tiếp.Từ đó tạo thành các hình thức giao tiếp giữa cá nhân với cánhân, giữa cá nhân với nhóm, giữa nhóm với nhóm hoặc giữa nhóm với cộng đồng

Trẻ ở lứa tuổi mầm non, là lứa tuổi đang hình thành phát triển nhân cách củacon người, giao tiếp với trẻ mầm non, các giáo viên sẽ gặp hàng loạt những vấn đềkhó khăn, vì họ vừa là mẹ, vừa có cả những nét của nhà giáo dục, người nghệ sĩ,người thầy thuốc…và là người bạn của trẻ Đối tượng của giáo viên mầm non chính

là trẻ em, công cụ lao động sư phạm là nhân cách của trẻ mầm non theo mô hình mà

xã hội đòi hỏi Đặc điểm này cho thấy, nhân cách và năng lực giao tiếp sư phạm củangười giáo viên mầm non là những tiêu chuẩn quan trọng trong đánh giá chất lượnggiáo viên

Theo điều 22, Luật giáo dục(2005): “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúptrẻ em phát triển về thể chất, tinh thần, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành nhữngyếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một” Muốn đạt đượcđiều đó thì những giáo viên mầm non phải nỗ lực thực hiện nhiệm vụ của mình.Ngoài việc học tập để truyền đạt kiến thức cần thiết thì việc giao tiếp của mỗi giáoviên đến trẻ cũng hết sức quan trọng vì có thể những gì trẻ được nghe và nói hômnay sẽ là tương lai của trẻ ngày mai Mỗi trẻ khi lớn lên phải có nghề nghiệp, mànghề nghiệp do xã hội sinh ra và quy4 định Việc đào tạo, chuẩn bị tri thức cho nghềnghiệp phải tuân theo một quy định cụ thể, khoa học… không học tập tiếp xúc với

Trang 2

mọi người thì sẽ không có nghề nghiệp theo đúng nghĩa của nó, hơn nữa muốn hànhnghề phải có nghệ thuật giao tiếp với mọi người thì mới thành đạt trong cuộcsống.Trong quá trình lao động con người không thể tránh được các mối quan hệ vớinhau Đó là một phương tiện quan trọng để giao tiếp và một đặc trưng quan trọngcủa con người là tiếng nói và ngôn ngữ Giao tiếp giúp con người hiểu biết lẫn nhau,liên hệ với nhau và làm việc cùng nhau.

Giáo viên mầm non có kỹ năng giao tiếp tốt, sẽ thiết lập được những mốiquan hệ tốt với trẻ, phụ huynh, đồng nghiệp và với cộng đồng Giao tiếp tốt với trẻ

sẽ giúp giáo viên dễ dàng chăm sóc và giáo dục trẻ, để hoàn thành tốt mục tiêu giáodục đã đề ra, và giúp trẻ phát triển nhân cách một cách tốt nhất Tuy nhiên, hiện nayvẫn còn không ít giáo viên còn hạn chế kỹ năng giao tiếp, đặc biệt là kỹ năng giaotiếp sư phạm với trẻ, nên vẫn còn chưa tạo được mối quan hệ tốt với trẻ, ảnh hưởngđến hiệu quả và chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ, nhằm đáp ứng được yêu cầu

xã hội đã đề ra

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng kỹ năng giao tiếp sưphạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo 4 -5 tuổi ở một số trường mầm nontại Thành phố Hồ Chí Minh”

2 Mục đích nghiên cứu

Điều tra thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻmẫu giáo 4 – 5 tuổi ở một số trường mầm non tại TP Hồ Chí Minh, từ đó đề xuấtmột số biện pháp cải thiện thực trạng trên

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non

với trẻ mẫu giáo 4 -5 tuổi

Trang 3

Đề tài tập trung nghiên cứu một số kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viênmầm non với trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi như: kỹ năng định hướng giao tiếp, kỹ năng định

vị giao tiếp, kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp

Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫugiáo 4 -5 tuổi trong một số hoạt động giáo dục ở một số trường mầm non tại TP HồChí Minh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm

non với trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

5.2 Điều tra thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ

mẫu giáo 4 – 5 tuổi ở một số trường mầm non tại TP Hồ Chí Minh, từ đó tìm

ra nguyên nhân của thực trạng trên

5.3 Đề xuất một số biện pháp cải thiện thực trạng kỹ năng giao tiếp của giáo viên

mầm non với trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi, khảo sát tính khả thi của các biện pháp

đã đề xuất

6 Giả thuyết nghiên cứu

Thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của GVMN với trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi ởmột số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn hạn chế, có thể do một

số nguyên nhân sau:

- Bản thân GVMN chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của KNGTSP

- GVMN chưa hiểu rõ các KNGTSP với trẻ một cách cụ thể, chưa có ý thức tựrèn luyện và nâng cao KNGTSP

- Số lượng trẻ trong một lớp quá nhiều

- Việc trang bị KNGT chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế của ngành GDMNtheo hướng đổi mới

Nếu GVMN vận dụng một số biện pháp như:

- Nâng cao nhận thức, động cơ rèn luyện KNGTSP của GVMN với trẻ

- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các hội thi nghiệp vụ sư phạm

Thì có thể cải thiện được thực trạng KNGTSP của GVMN với trẻ

7 Phương pháp nghiên cứu

Trang 4

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích tổng hợp các tài liệu liên quan

đến cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

- Mục đích: khảo sát thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên vớitrẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

- Đối tượng: GVMN giáo dục và chăm sóc trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

- Cách thực hiện: quan sát GVMN trong các hoạt động giao tiếp với trẻ: tronggiờ học, tổ chức các hoạt động vui chơi cho trẻ, các tình huống sư phạm, cách giảiquyết của GVMN trong tình huống và quan sát các phản ứng của trẻ

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp chính của đề tài

Mục đích: Sử dụng bảng câu hỏi để tìm hiểu ý kiến của GVMN về:

- Nhận thức của GVMN về vai trò của kỹ năng giao tiếp

- Tự đánh giá về kỹ năng giao tiếp sư phạm của GVMN

- Những khó khăn trong quá trình giao tiếp của GVMN với trẻ mẫu giáo 4 – 5tuổi

- Những nguyên nhân ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của GVMN với trẻmẫu giáo 4 - 5 tuổi

Đối tượng: GVMN chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

Cách thực hiện: phát phiếu hỏi 2 lần

- Lần 1: Phát phiếu hỏi với các câu hỏi mở

- Lần 2: phát phiếu hỏi với các câu hỏi đóng

7.2.3 Phương pháp trò chuyện

Mục đích: nhằm tìm hiểu thêm về thực trạng KNGTSP của GVMN với trẻmẫu giáo 4 – 5 tuổi

Đối tượng: GVMN chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

Cách thực hiện: tiến hành trò chuyện với một số GVMN chăm sóc – giáo dụctrẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi, đang công tác ở một số trường mầm non tại TP Hồ ChíMinh

7.3 Phương pháp toán học

Trang 5

Xử lý số liệu thu thập được qua điều tra thực trạng: tính tỷ lệ phần trăm, điểmtrung bình.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài

Vấn đề giao tiếp đã được con người xem xét từ thời cổ đại, nhà triết họcSocrate (470 – 399 TCN) và Platon (428 – 347 TCN) đã coi đối thoại như là sự giaotiếp trí tuệ, phản ánh các mối quan hệ giữa con người với con người [2, tr 161]

Đến thế kỷ 18, nhà triết học Hà Lan M Phemtecloi đã viết một tiểu luận dưới

nhan đề “Một bức thư về con người và các quan hệ của nó với người khác”, trong

đó có đoạn: “…trái tim và lương tâm trong con người chỉ bộc lộ khi người ấy cùng

sống với người khác” [2]

Đến thế kỷ 19, nhà triết học Đức Phơbach (1804 – 1872) đã viết: “Bản chất người chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất của con người, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn” [2]

Những năm đầu thế kỷ XX, Tâm lý học đã bắt đầu quan tâm đến việc nghiêncứu vấn đề giao tiếp

Khi nghiên cứu các yếu tố giao tiếp, nhà tâm lý học Pháp Bateson đã phânbiệt thành hai hệ thống giao tiếp, giao tiếp đối xứng và giao tiếp bổ sung Theo ông,mọi giao tiếp đều biểu hiện ra ở một trong những phương thức ấy, nó thể hiện tínhthống nhất khi thiết lập được sự bình đẳng hay sự tương hỗ và tính bổ sung khi thểhiện sự khác nhau

Ngành tâm lý học Liên Xô (cũ) cũng nghiên cứu vấn đề giao tiếp nhưng theonhiều hướng tiếp cận khác nhau:

Trang 6

Hướng thứ nhất: Nghiên cứu lý luận chung về giao tiếp như bản chất, cấutrúc, cơ chế giao tiếp, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối quan hệ giữagiao tiếp và hoạt động… Hướng nghiên cứu này thể hiện trong nhiều công trìnhnghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) như “Về bản chất giao tiếp người”(1973) của Xacopnhin, “Tâm lý học về các mối quan hệ qua lại trong nhóm nhỏ”(1976) của I.L.Kolominxki, “Tâm lý học về giao tiếp” (1978) của A.A.Leonchiev,

“Giao tiếp trong tâm lý học” (1981) của K.Platonov, “Pham trù giao tiếp và hoạtđộng trong tâm lý học” của B.P.Lomov Hướng nghiên cứu này tồn tại hai luồngquan điểm khác nhau:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng giao tiếp có thể là một dạng hoạt động hoặc cóthể là một phương thức, điều kiện của hoạt động Đại diện cho quan điểm theo xuhướng này là A.A.Leonchiev

- Quan điểm thứ hai cho rằng hoạt động và giao tiếp là những phạm trù tươngđối độc lập trong quá trình thống nhất của đời sống con người Phạm trù “hoạtđộng” phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể - khách thể, phạm trù “giao tiếp” phảnánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể [7]

Hướng thứ hai: Nghiên cứu các dạng giao tiếp nghề nghiệp, trong đó giaotiếp sư phạm là một loại giao tiếp nghề nghiệp được nhiều nhà tâm lý học quan tâmnghiên cứu Có thể kể đến một vài tác giả có những nghiên cứu về giao tiếp sư phạmnhư A.A Leonchiev với “Giao tiếp sư phạm” (1979), A.V.Petropxki với “Tâm lý họclứa tuổi và tâm lý học sư phạm”…và một số tác giả khác tập trung nghiên cứu vềmối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong giao tiếp trường học

Tiếp theo, có thể đề cập đến học thuyết về nhu cầu của A Maslow đưa ra hệthống năm bậc về nhu cầu của con người: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu

xã hội, nhu cầu cái tôi, nhu cầu tự thể hiện Trong quá trình giao tiếp, cần có khảnăng nhận diện và khơi gợi ở người khác những nhu cầu vì thông qua giao tiếp, cácchủ thể mới có thể được thỏa mãn và làm thỏa mãn nhu cầu cá nhân

Ngoài ra, nhiều nhà tâm lý học Liên Xô (cũ), nhiều nhà tâm lý học cũng quantâm nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong các lĩnh vực nghề nghiệp:

- A.A.Leonchiev đã liệt kê các kỹ năng giao tiếp sư phạm như: kỹ năng điềukhiển hành vi bản thân, kỹ năng quan sát, kỹ năng nhạy cảm xã hội, kỹ năng biếtphán đoán nét mặt người khác, kỹ năng đọc – hiểu - biết mô hình hóa nhân cách học

Trang 7

sinh, kỹ năng làm gương cho học sinh, kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng giaotiếp sự tiếp xúc, kỹ năng nhận thức.

- Paul Ekman, tác giả cuốn “Emotin Revealed” nêu lên vấn đề cảm xúc biểuhiện trong giao tiếp của cá nhân thể hiện qua nét mặt, từ dó đề cập đến kỹ năng nhậndiện nét mặt và các cảm xúc đi kèm trong quá trình giao tiếp, như một kỹ năng giaotiếp cơ bản

- IP Dakharov nghiên cứu và đưa ra trắc nghiệm tự đánh giá kỹ năng giao tiếpgồm các kỹ năng tiếp xúc, thiết lập quan hệ, kỹ năng biết cân bằng nhu cầu bản thân

và đối tượng trong quá trình giao tiếp, kỹ năng nghe đối tượng, kỹ năng tự kiềm chế,kiểm tra người khác, kỹ năng tự chủ cảm xúc hành vi, kỹ năng thuyết phục, kỹ năngchủ động điều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng nhạy cảm trong giao tiếp

Allan & Barbara Pease đã xuất bản cuốn “Body language” (1988) với bảntiếng Việt là “Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể” (Lê Huy Lâm dịch – 2008)

đã phân tích kỹ năng phát hiện các trạng thái tâm lý thông qua những động tác, cửchỉ, điệu bộ, tư thế… của con người trong giao tiếp, Derak Torrington viết cuốn

“Tiếp xúc đối mặt trong quản lý” (1994) đã đi sâu phân tích các hình thức giao tiếpthường gặp giữa người quản lý với người bị quản lý qua đó đòi hỏi người quản lýcần có những kỹ năng giao tiếp nhất định như: kỹ năng nghe, kỹ năng hỏi, kỹ nănggợi vấn đề, kỹ năng truyền đạt…[23],[50]

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.2.1 Những nghiên cứu về giao tiếp

Nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề giao tiếp với các khía cạnh khác nhau về bảnchất của giao tiếp, vai trò, vị trí, của giao tiếp trong sự hình thành nhân cách như

“Các Mác và phạm trù giao tiếp” (1963) của Đỗ Long, “Giao tiếp, tâm lý, nhâncách” (1981), “Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” (1981), “Bàn về phạmtrù giao tiếp” của Bùi Văn Huệ, “Nhập môn khoa học giao tiếp” (2006) của NguyễnSinh Huy, Trần Trọng Thủy [21], [50], “Tâm lý giao tiếp” (2011) của Lê Thị Hoa –Nguyễn Việt Long

Trong “Giáo trình tâm lý học xã hội – những vấn đề lý luận” của Mai ThanhThế, “Đặc điểm giao tiếp sư phạm” (1985) của tác giả Trần Trọng Thủy, “Giao tiếp

và ứng xử sư phạm” (1992) của tác giả Ngô Công Hoàn, “Giao tiếp sư phạm”

Trang 8

(1997) của tác giả Hoàng Anh, “Giáo trình giao tiếp sư phạm” (2002) của Lê ThanhHùng, “Khoa học giao tiếp” (2002) của Nguyễn Ngọc Lâm, “Ứng xử sư phạm”(2006) của Trịnh Trúc Lâm…đã đề cập đến khái niệm, chức năng, vai trò của giaotiếp, phong cách giao tiếp, hệ thống giao tiếp… cũng như nguyên tắc, quy trình ứng

xử và các tình huống ứng xử trong giao tiếp sư phạm, cung cấp cái nhìn hệ thống vềcác vấn đề lý luận và thực tiễn trong giao tiếp sư phạm Đây là cơ sở quan trọng gópphần giúp cho đề tài hình thành các vấn đề lý luận trong nghiên cứu kỹ năng giaotiếp sư phạm của giáo viên mầm non [1], [11], [24], [25]

Luận án Tiến sĩ “Những khó khăn tâm lý trong giao tiếp sư phạm” (1997) củaNguyễn Thanh Bình đã khẳng định “Giao tiếp sư phạm là một loại giao tiếp nghềnghiệp giữa giáo viên và học sinh cần có sự tiếp xúc tâm lý, xây dựng bầu khôngkhí thuận lợi nhằm tạo kết quả tối ưu trong hoạt động dạy và hoạt động học” Qua

đó cho thấy giao tiếp sư phạm có vị trí đặc biệt quan trọng trong cấu trúc năng lực

sư phạm Đây là vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu vấn đề giao tiếp và kỹ nănggiao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non [50]

Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học “Đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường Caođẳng sư phạm An Giang” (1999) của Đỗ Văn Thông, đã khái quát một số vấn đề cơbản về lý luận giao tiếp, kỹ năng giao tiếp, giao tiếp sư phạm Trong quá trìnhnghiên cứu tác giả sử dụng trắc nghiêm của IP Dakharov để đo khả năng giao tiếpcủa sinh viên sư phạm, qua đó tác giả khẳng định giao tiếp có vai trò quan trọng đốivới sự hình thành và phát triển nhân cách của người giáo viên

1.1.2.2 Những nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp

Tác giả Nguyễn Đình Chính, Phạm Ngọc Uyển trong “Tâm lý học quản lý”(1998) đề cập đến vấn đề giao tiếp, giao tiếp sư phạm và giao tiếp quản lý trong đónêu lên kỹ năng giao tiếp sư phạm với cấu trúc bao gồm các thành phần như biếtđịnh hướng, hiểu được các dấu hiệu bên ngoài của ngôn ngữ trong giao tiếp, biếtđiều khiển quá trình giao tiếp [50]

Bên cạnh đó, các luận văn nghiên cứu kỹ năng giao tiếp có thể kể đến như:

- Luận án Tiến sĩ tâm lý học “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên” (1992)của Hoàng Thị Anh đã khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về giao tiếp sư phạm

Trang 9

và nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm theo các nhóm như: nhóm kỹnăng định hướng gồm kỹ năng nhận thấy sự thay đổi trạng thái tâm lý qua nét mặt,ánh mắt, lời nói, kỹ năng phán đoán nhanh được ý định, thái độ của đối phương… ;nhóm kỹ năng điều khiển bản thân gồm kỹ năng biết chủ động đề xuất giao tiếp theomục đích của mình, kỹ năng tự kiềm chế… ; nhóm kỹ năng điều khiển đối phươnggồm các kỹ năng hướng đối tượng theo ý mình để đạt mục đích giao tiếp, kỹ năngkích thích hứng thú học tập của học sinh trên lớp …[3].

- Các luận văn Thạc sĩ nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viênnhư luận văn Thạc sĩ tâm lý học “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo sinh ngườidân tộc trong trường trung học sư phạm” (1995) của Lã Thị Thu Hà, “Tìm hiểu kỹnăng giao tiếp sư phạm của sinh viên cao đẳng sư phạm”(1996) của Trịnh Thị NgọcThìn, “Tìm hiểu kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm

Hà Nội có nhu cầu giao tiếp khác nhau” (1997) của Lê Minh Nguyệt, "Nghiên cứu

kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn"(1999) của Lô Thị Na, "Nghiên cứu khả năng giao tiếp của sinh viên trường Caođẳng sư phạm Sơn La" (2001) của Lò Mai Thoan, "Kỹ năng giao tiếp của sinh viên

sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ" (2010) của Châu Thúy Kiều

1.1.2.3 Những nghiên cứu về giao tiếp sư phạm ở ngành giáo dục mầm non

Ở trong nước, vấn đề giao tiếp sư phạm trong ngành mầm non mới chỉ đượcchú trọng những năm gần đây Các tác giả Ngô Công Hoàn “Giao tiếp và ứng xử sưphạm (dùng cho giáo viên mầm non)” (1997), Lê Xuân Hồng và Vũ Thị Ngân biêndịch “Những vấn đề về giao tiếp sư phạm mầm non” (1994), Lê Xuân Hồng “Những

kỹ năng sư phạm của giáo viên mầm non” (2000), “Một số vấn đề về giao tiếp vàgiao tiếp sư phạm trong hoạt động của giáo viên mầm non” (2004) đã đề cập đếnvấn đề giao tiếp, ứng xử , giao tiếp sư phạm, kỹ năng giao tiếp sư phạm, những đặcđiểm phát triển nhu cầu giao tiếp của trẻ mầm non, đặc điểm giao tiếp sư phạm củangười lớn với trẻ, những nguyên tắc và phương thức giao tiếp ứng xử giữa cô giáo

và trẻ… Đây là cơ sở quan trọng góp phần giúp cho đề tài hình thành các vấn đề lýluận trong nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non [10], [13],[19]

Trang 10

Nhìn chung vấn đề kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm đượcquan tâm nghiên cứu trên cơ sở khía cạnh khác nhau, với các khách thể và thời điểmnghiên cứu khác nhau đã cho thấy tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp trong cáclĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên trong các công trình nghiên cứu trên vẫnchưa có nhiều đề tài nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm nonvới trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.

1.2 Cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

1.2.1 Khái niệm công cụ

1.2.1.1 Kỹ năng

a Khái niệm kỹ năng

Theo Việt Nam Tự điển thì "kỹ" có nghĩa là "nghề" trong từ "kỹ nghệ", có nghĩa là "khéo, đến nơi đến chốn, mất nhiều công phu" trong từ "kỹ càng, kỹ lưỡng";

"năng" có nghĩa là "tài giỏi" trong từ "năng thần: bề ngoài tôi tài giỏi", có nghĩa là

"có thể làm được" trong từ "năng lực".

Theo từ điển Tiếng Việt, kỹ năng là "thói quen áp dụng vào thực tiễn những kiến thức đã học hoặc những kết quả của quá trình luyện tập".

Trong tiếng Anh, kỹ năng được dịch thành "skill" Từ điển Oxfort định nghĩa

"skill" là khả năng tìm ra giải pháp cho một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện.

Theo Từ điển Giáo dục học, kỹ năng là "khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ".

Theo Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng biên soạn, "kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kỹ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa được thuần thục, và còn phải tập trung chú ý căng thẳng Kỹ năng được hình thành qua luyện tập" [5]

Có thể thấy kỹ năng là khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa ởnhiều góc độ khác nhau Một số tác giả xem kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao táchay hành động – hoạt động như:

Trang 11

- Ph.N.Gonobolin (1973): “kỹ năng là những phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo – những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động” [2, tr 95]

- V.A.Krutretxki (1980): “kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt động – cái

mà con người lĩnh hội được".

- Trong “Tâm lý học lao động” (1978) tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có

kỹ thuật của hành động, có kỹ năng”[42, tr 103].

- Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Ttiệu Xuân Quỳnh, Bùi Ngọc Oanh cho

rằng: “Kỹ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri thức mà có, chúng đòi hỏi có sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn nhiều năng lượng của cơ thể”.[32, tr 90]

Một số tác giả khác xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực của con người,theo đó, kỹ năng vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, vàtính mục đích, chú ý đến kết quả hành động:

- N.D.Levito cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào

đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [2, tr 96]

- V.V Bôgxloxki (1973) cho rằng, kỹ năng có hai mức độ: kỹ năng sơ đẳng và

kỹ năng thành thạo X.L.Kixegof cũng có quan niệm như V.V.Bôgxloxki, theo ôngthì có hai loại kỹ năng: kỹ năng bậc thấp (kỹ năng nguyên sinh – được hình thànhlần đầu tiên qua các hành động đơn giản, nó là cơ sở để hình thành kỹ xảo) và kỹnăng bậc cao (kỹ năng thứ sinh – là kỹ năng nảy sinh lần thứ hai sau khi đã có cáctri thức và kỹ xảo)

- Các tác giả K.K.Platonov và G.G.Golubev cho rằng: “kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm – những cái đã được lĩnh hội từ trước Hay nói cách khác “kỹ năng được hình thành trên cơ sở của các tri thức và các kỹ xảo”.[2]

- Nhà tâm lý học người Nga A.V.Barabasicoov (1963) cho rằng: “Kỹ năng là khả năng sử dụng tri thức và các kỹ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo

Trang 12

trong quá trình của hoạt động thực tiễn Khả năng này là khả năng tự tạo của con người” [2].

- A.V.Petrovxki cho rằng: “Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể được thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm”

- Theo từ điển tiếng Nga: “Kỹ năng là khả năng làm một cái gì đó Khả năng này được hình thành bởi tri thức và kinh nghiệm, và khi có kỹ năng tất cả đều có thể làm được” [2], [42].

Từ những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy kỹ năng vừa là mặt kỹ thuậtcủa hành động hay còn gọi là cách thức thực hiện hành động hay công việc cụ thểnào đó , vừa là biểu hiện năng lực của con người Cơ sở của kỹ năng là tri thức, kinhnghiệm đã có từ trước, kỹ năng được hình thành do luyện tập Vì vậy trong khóaluận này, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm kỹ năng của tác giả Vũ Dũng trìnhbày trong Từ điển Tâm lý học vì khái niệm này có sự kết hợp của cả hai quan điểm

trên: "Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức

hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kỹ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa được thuần thục, và còn phải tập trung chú ý căng thẳng, kỹ năng được hình thành qua luyện tập" [5].

b Các giai đoạn phát triển kỹ năng

Kỹ năng được hình thành trong hoạt động và thông qua hoạt động Để có thểhoạt động hiệu quả, con người phải có kỹ năng và kỹ năng chỉ có thể phát triểnthông qua thực tiễn hoạt động Tác giả Robert J.Srernberg (2003) ở Đại học Yale

thừa nhận: "Thực chất của sự hình thành kỹ năng là tạo điều kiện để chủ thể nắm vững một hệ thống phức tạp các bước, các thao tác và làm sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong các tình huống, các nhiệm vụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể".

Theo tác giả Vũ Dũng thì sự hình thành kỹ năng trải qua ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Người học lần đầu làm quen với vận động và lần đầu lĩnh hội

nó Sự học vận động bắt đầu từ việc phát hiện các thành phần của vận động - tậphợp các thành tố vận động, trình tự thực hiện và mối liên kết của chúng Việc làm

Trang 13

quen này diễn ra trên cơ sở người học được xem và trình diễn lại, thuật lại, giảnggiải và quan sát một cách trực quan quá trình thực hiện vận động.

Pha tiếp theo của giai đoạn thứ nhất đòi hỏi nhiều nỗ lực Người học phải lậplại vận động nhiều lần để nắm được bức tranh bên trong của vận động Đồng thời

học bảng mã hóa những tín hiệu từ các mệnh lệnh Việc tích lũy "những từ điển chuyển mã" là một trong những sự kiện quan trọng nhất của giai đoạn này, cần phải lặp đi lặp lại nhiều lần để người học có thể tìm được "bảng mã" trong bất kì phương

án nào của vận động, kể cả khi có sự lệch chuẩn

Giai đoạn 2: Giai đoạn tự động hóa vận động Ở đây các thành phần chủ đạo

của vận động được giải phóng từng phần hoặc hoàn toàn khỏi sự liên quan tới nó,

thoát khỏi sự kiểm soát của ý thức và sự "thoát khỏi" này cần sự trợ giúp.

Giai đoạn 3: Diễn ra sự "mài bóng" kỹ năng nhờ quá trình ổn định hóa và

tiêu chuẩn hóa Trong quá trình ổn định hóa, kỹ năng đạt được tính bền vững vàkhông bị phá hủy trong bất kì tình huống nào Trong quá trình tiêu chuẩn hóa, kỹnăng dần được định khuôn nhờ lặp đi lặp lại vận động nhiều lần

- Nhà tâm lý học xã hội người Anh M.Argule lại mô tả giao tiếp như quá trìnhảnh hưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau Giao tiếp thông tin đượcbiểu hiện bằng lời hay phi ngôn ngữ từ nhiều người đến một người giống như việctiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt vật lý vàchuyển dịch không gian

- Nhà tâm lý học xã hội Mỹ T.Sibutanhi nghiên cứu khái niệm liên lạc như làhoạt động đảm bảo cho sự giúp đỡ lẫn nhau, phối hợp hành động và thích ứng hành

Trang 14

vi của các cá thể tham gia quá trình giao tiếp Ông cho rằng: “Liên lạc trước hết là phương pháp hoạt động làm giản đơn hóa sự thích ứng hành vi lẫn nhau của con người Những cử chỉ và âm điệu khác nhau trở thành liên lạc, khi con người sử dụng vào các tình thể tác động qua lại”.

Các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) cũng quan tâm nghiên cứu vấn đề giao tiếptrên nhiều khía cạnh:

- Đề cập giao tiếp ở góc độ nhận thức, L.X.Vưgotxki cho rằng giao tiếp là quá

trình chuyển giao tư duy và cảm xúc K.K.Platonov cho rằng: “Giao tiếp là những mối liên hệ có ý thức của con người trong cộng đồng loài người” [2], [5].

- Xem xét giao tiếp là sự thể hiện mối quan hệ giữa con người với con ngườihay giữa nhân cách này với nhân cách khác trong mối quan hệ liên nhân cách, B.Ph

Lomov cho rằng: “Giao tiếp và mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tư cách chủ thể” [7].

- Dưới góc độ nhân cách, V.N.Miaxixev cho rằng: “Giao tiếp là một quá trìnhquan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân cách cụ thể” Theo Ia.L.Kolôminxkithì “giao tiếp là sự tác động qua lại có đối tượng và thông tin giữa con người với conngười, trong đó những quan hệ nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành” [2]

- Ở góc độ tiếp cận về chức năng giao tiếp, theo B.Parưgin thì : “Giao tiếp làquá trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin quan hệ giữa conngười với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổixúc cảm lẫn nhau” [2]

- Ở góc độ xem xét giao tiếp là một dạng hoạt động, A.N.Leonchiev cho rằng:

“Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ, bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội của nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù,

mà trước hết là ngôn ngữ” Cùng với quan điểm trên L.P.Buevaxem: “Giao tiếp

không chỉ là một quá trình tinh thần, mà còn là quá trình vật chất, quá trình xã hội,trong đó diễn ra sự trao đổi hoạt động kinh nghiệm, sản phẩm của hoạt động” [11, tr6]

- Ở góc độ hệ thống, Georgen Thiner cho rằng: “Giao tiếp là sự truyền đạtthông tin, qua đó các trạng thái của hệ thống phát thông tin phát huy ảnh hưởng tớitrạng thái của hệ nhận thông tin” [42, tr 12]

Trang 15

- David K.Berlo định nghĩa: “Giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc

và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ Giao tiếp của con người diễn ra ở các mức độ: trong con người, giữa con người với con người và cộng đồng Giao tiếp của con người là một quá trình năng động, bất thuận nghịch, tác động qua lại và có tính chất ngữ cảnh” [42].

Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp được nghiên cứu từ những năm 1970 – 1980 vàcũng có nhiều khái niệm khác nhau về giao tiếp:

- Theo từ điểm tâm lý học: “Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động Giao tiếp gồm hàng loạt các yếu tố chưa trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác Giao tiếp có ba khía cạnh chính là: giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác” [5].

- Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau” [2, tr 166].

- Theo tác giả Ngô Công Hoàn: “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kỹ năng,

kỹ xảo nghề nghiệp” [32, tr 10].

- Tác giả Nguyễn Quang Uẩn quan niệm: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lạ với nhau Hay nói khác đi, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” [42].

- Tác giả Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “Giao tiếp là sự trao đổi giữa người và người thông qua ngôn ngữ nói, viết, cử chỉ Ngày nay, từ này hàm ngụ sự trao đổi

ấy thông qua một bộ giải mã, một bên truyền một ý nghĩa nhất định để bên kia hiểu được”.

- Tác giả Vũ Dũng cho rằng: “Giao tiếp là quá trình hình thành và phát triển

sự tiếp xúc giữa người với người được phát sinh từ nhu cầu trong hoạt động chung, bao gồm sự trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược tương tác thông nhất tri giác và tìm hiểu người khác”, hay “giao tiếp là sự tác động tương hỗ của các chủ thể phát sinh từ nhu cầu hoạt động chung được thực hiện bằng những công cụ quen thuộc và

Trang 16

hướng đến những thay đổi có ý nghĩa trong trạng thái, hành vi và cấu trúc ý thức cá nhân của đối tác” [5].

Qua các khái niệm trên có thể thấy rằng giao tiếp là quá trình tác động qualại, trao đổi thông tin, ảnh hưởng lẫn nhau, nhận biết lẫn nhau giữa hai chủ thể giaotiếp Giao tiếp thường tham gia vào hoạt động thực tiễn của con người, tham gia vàoquá trình thực hiện và kiểm tra hoạt động của con người Đó là một quá trình thiếtlập mối quan hệ đa chiều giữa một người với một người hoặc với nhiều người xungquanh, liên quan đến sự truyền đạt thông điệp và sự đáp ứng với sự truyền đạt ấy, làquá trình qua đó chúng ta phát và nhận thông tin, suy nghĩ, có ý kiến và thái độ để

có được sự thông cảm và hành động tiến tới việc chia sẻ mà qua đó, thông điệp đápứng được xuất hiện Giao tiếp là quá trình nói, nghe và trả lời để chúng ta có thểhiểu và phản ứng với nhau trải qua nhiều mức độ, từ thấp đến cao, từ sự e dè bềngoài đến việc bộc lộ những tình cảm sâu kín bên trong

Giao tiếp là một biểu hiện của quan hệ xã hội, mang tính xã hội Các quan hệ

xã hội được thực hiện trong giao tiếp giữa người với người với nội dung xã hội cụthể và thực hiện trong hoàn cảnh xã hội nhất định Từ đó, tính chất xã hội được thểhiện qua việc kết nối các thành viên trong xã hội với nhau trong mối quan hệ giaotiếp

b Chức năng của giao tiếp

Có rất nhiều quan điểm của các nhà khoa học, các tác giả nghiên cứu về giaotiếp: A.N.Leonchiev cho rằng hoạt động của trẻ bao giờ cũng nằm trong giao tiếp) ;Nhà ngôn ngữ học cấu trúc Jacobson (1961) cho rằng mô hình giao tiếp theo cấutrúc 6 yếu tố: người truyền tin, bảng thông điệp, bộ mã, sự tiếp xúc, bối cảnh giaotiếp; Nhà tâm lý học Xô Viết B.Ph Lomov cho rằng giao tiếp có ba chức năng:thông tin – điều chỉnh – cảm xúc; Theo A.A.Pruzin thì giao tiếp có các chức năng:chức năng công cụ, chức năng nghiệp đoàn, chức năng tự thể hiện

Ở Việt Nam, các nhà tâm lý học cũng nghiên cứu về các chức năng của giaotiếp, các tác giả nổi bật : Chu Văn Đức, Ngô Công Hoàn, Trần Trọng Thủy, NguyễnSinh Huy ( cuốn “Nhập môn khoa học giao tiếp”), Nguyễn Quang Uẩn ( trong cuốnsách “Tâm lý học đại cương”)…

Trang 17

Dựa trên các quan điểm của các nhà ngiên cứu, giao tiếp có vai trò, chứcnăng cụ thể như sau:

- Chức năng thỏa mãn nhu cầu của con người: đây là chức năng quan trọngnhất và cũng là chức năng mà con người sử dụng sớm nhất trong giao tiếp

- Chức năng thông tin hai chiều giữa các chủ thể tham gia giao tiếp: đây làchức năng có trai trò quan trọng thứ hai sau chức năng nhu cầu của giao tiếp, biểuihện ở khái cạnh truyền thông của giao tiếp thể hiện qua hai mặt truyền tin và nhậntin

- Chức năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hành động của một nhóm ngườitrong cùng một hoạt động cùng nhau: đây là chức năng dựa trên cơ sở xã hội

- Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi: chức năng này thể hiện sự tácđộng, ảnh hưởng lẫn nhau trong giao tiếp Đây là một chức năng quan trọng tronggiao tiếp vì trong quá trình giao tiếp, cá nhân có thể tác động , gây ảnh hưởng đếnngười khác đồng thời người khác cũng có thể tác động, gây ảnh hưởng đối với cánhân đó

- Chức năng xúc cảm: chức năng này giúp con người thỏa mãn những nhu cầuxúc cảm, tình cảm

- Chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau: trong quá trình giao tiếp, các chủthể luôn diễn ra quá trình nhận thức tri thức về tự nhiên xã hội, nhận thức bản thân

và nhận thức về người khác, nhằm hướng tới những mục đích khác nhau trong giaotiếp

- Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách: thông qua giao tiếp, con ngườitham gia vào các mối quan hệ xã hội mà từ đó hình thành, phát triển nhân cách củamình Do đó, giao tiếp là điều kiện tâm lý, nhân cách cá nhân phát triển bình thường

và thông qua giao tiếp nhiều phẩm chất của con người, đặc biệt là các phẩm chấtđạo đức được hình thành và phát triển

c Phân loại giao tiếp

Dựa trên những tiêu chí khác nhau thì cách phân loại giao tiếp cũng khácnhau:

Căn cứ vào phương tiện giao tiếp:

- Giao tiếp bằng ngôn ngữ: là hình thức giao tiếp đặc trưng của con người bằngcách sử dụng những tín hiệu chung là từ, ngữ Đây là hình thức giao tiếp phổ biếnnhất và đạt hiệu quả cao Ngôn ngữ là các tín hiệu được quy ước chung trong một

Trang 18

cộng đồng nhằm chỉ các sự vật hiện tượng gọi chung là nghĩa của từ Người ta dùng

từ ngữ để giao tiếp theo một ý nhất định Tiếng nói và chữ viết trong giao tiếp ngônngữ thể hiện cả ý và nghĩa khi giao tiếp tạo ra hiệu ứng tổng hợp

- Giao tiếp phi ngôn ngữ: là hình thức giao tiếp không lời khi sử dụng các cửchỉ, điệu bộ và những yếu tố phi ngôn ngữ khác Giao tiếp phi ngôn ngữ thực hiệnnhững hành động, cử chỉ, điệu bộ, những yếu tố thuộc về sắc thái, hành vi, nhữngphương tiện khác đòi hỏi người giao tiếp phải hiểu về nhau một cách tương đối

Căn cứ vào khoảng cách giao tiếp:

- Giao tiếp trực tiếp: là hình thức giao tiếp mặt đối mặt khi các chủ thể trựctiếp phát và nhận tín hiệu của nhau

- Giao tiếp gián tiếp: là hình thức giao tiếp qua thư từ, phương tiện kỹ thuậthoặc những yếu tố đặc biệt khác

Căn cứ vào quy cách giao tiếp:

- Giao tiếp chính thức: là hình thức giao tiếp diễn ra theo quy định, theo chứctrách Các chủ thể trong giao tiếp phải tuân thủ những yêu cầu, quy định nhất định

- Giao tiếp không chính thức: là hình thức giao tiếp không bị ràng buộc bởi cácnghi thức mà dựa vào tính tự nguyện, tự giác, phụ thuộc vào nhu cầu, hứng thú, cảmxúc của các chủ thể

1.2.1.3 Giao tiếp sư phạm

a Định nghĩa giao tiếp sư phạm

Theo A.P.Levitov: “Giao tiếp sư phạm là năng lực truyền đạt tri thức cho trẻbằng cách trình bày rõ ràng, hấp dẫn, ngắn gọn”

F.N.Gonobolin cho rằng: “Năng lực giao tiếp sư phạm là năng lực truyền đạtmột cách dễ hiểu để các em nắm được và ghi nhớ tài liệu đó, năng lực thu hút họcsinh, truyền nhiệt tình cho các em, cuốn hút và kích thích các em có những cảm xúcthích hợp, năng lực thuyết phục mọi người, có ảnh hưởng giáo dục đối với họ (bằnglời nói, việc làm, tấm gương của bản thân).”

T.V.Trakhov quan niệm: “Giao tiếp sư phạm là năng lực tiếp xúc với họcsinh Kỹ năng tìm được cách đối xử đúng đắn với trẻ, thiết lập mối quan hệ hợp lýtheo quan điểm sư phạm”

Trong tác phẩm giao tiếp sư phạm, A.N.Leonchiev đã khẳng định: “Giao tiếp

sư phạm là giao tiếp có tính nghề nghiệp của giáo viên với học sinh ở trên lớp vàngoài giờ lên lớp”

Trang 19

E.V.Sukhanova đã viết: “Giao tiếp là một phương thức chủ yếu tác động lêncác quan hệ của học sinh…Giao tiếp giữa thầy và trò là một khâu quan trọng trongquá trình hình thành nhân cách, phát triển tính tích cực nhận thức và tính xã hội củahọc sinh trong quá trình hình thành tập thể học sinh” [11].

Tác giả Ngô Công Hoàn: “Giao tiếp giữa con người với con người trong hoạtđộng sư phạm được gọi là giao tiếp sư phạm”, Ông cho rằng: “Giao tiếp sư phạm là

sự tiếp xúc giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri thứckhoa học, vốn sống kinh nghiệm, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp, xây dựng và pháttriển nhân cách toàn diện ở học sinh” [11, tr 14]

Tác giả Hồ Lam Hồng cho rằng: “Giao tiếp sư phạm là giao tiếp có tính nghềnghiệp giữa giáo viên với học sinh trong quá trình giảng dạy (giáo dưỡng) và giáodục, có chức năng sư phạm nhất định, tạo ra các tiếp xúc tâm lý, xây dựng bầukhông khí tâm lý thuận lợi cùng các quá trình tâm lý khác( chú ý, tư duy…) tạo rakết quả tối đa của quan hệ thầy trò trong nội bộ tập thể học sinh và trong hoạt độngdạy học” [14]

Tác giả Lê Xuân Hồng quan niệm: “Giao tiếp sư phạm diễn ra như điều kiệncủa hoạt động sư phạm Đó là sự tiếp xúc, trao đổi giữa người dạy và người học,bằng các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm thực hiện nhiệm vụgiảng dạy và giáo dục có hiệu quả” [13, tr 23]

Như vậy, giao tiếp sư phạm là giao tiếp mang tính nghề nghiệp giữa giáo viênvới học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục, trong đó giáo viên là chủ thể giaotiếp với tư cách là người tổ chức các quá trình giao tiếp, người đặt mục đích và xácđịnh nội dung giao tiếp còn học sinh là đối tượng giao tiếp

b Đặc điểm của giao tiếp sư phạm

Theo tác giả Ngô Công Hoàn, giao tiếp sư phạm có một số đặc trưng sau:[11, tr.21]

- Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên không chỉ tiếp xúc với học sinh qua nộidung bài giảng và tri thức khoa học mà còn là tấm gương mẫu mực về nhân cáchcho học sinh noi theo, đúng với yêu cầu của xã hội quy định Nghĩa là, ở thầy giáothì bao giờ cũng có sự thống nhất về lời nói, việc làm với hành vi ứng xử Vì thế

Trang 20

nhân cách của người giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triểnnhân cách của học sinh.

- Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên dùng những biện pháp giáo dục tình cảm

để thuyết phục vận động…đối với học sinh không được dùng những hành vi xâmphạm thân thể và danh dự của học sinh Giáo viên phải thực hiện đầy đủ trách nhiệmgiảng dạy, giáo dục và quản lý trường lớp, gương mẫu trong mọi hoạt động ở nhàtrường, trong đời sống xã hội Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên phải biết khéo léoứng xử sư phạm, phải luôn quan tâm gần gũi để hiểu biết tâm lý học sinh, dự đoántrước được những phản ứng có thể xảy ra ở học sinh để có biện pháp giáo dục thíchhợp

- Trong giao tiếp sư phạm, người giáo viên được nhà nước xã hội, nhân dântôn trọng

Theo tác giả Nguyễn Văn Lê, giao tiếp sư phạm có đặc trưng sau: [26]

- Giao tiếp sư phạm là thành phần cấu trúc cơ bản của các phương pháp giảngdạy, giáo dục Mọi yêu cầu về cải tiến phương pháp giảng dạy, giáo dục sẽ kéo theo

sự cải tiến các phương pháp giao tiếp sư phạm

- Trong giao tiếp sư phạm, cần phát huy tính tích cực của học sinh, để trò tựđào tạo và trở thành một chủ thể thực sự của giao tiếp sư phạm, thông qua đó màlĩnh hội tốt các tri thức, kỹ năng

- Giao tiếp sư phạm là thực hiện những nguyên tắc, biện pháp và kỹ xảo tácđộng lẫn nhau giữa giáo viên và tập thể học sinh mà nội dung là trao đổi thông tin,

là tác động về giáo dục và giảng dạy để xây dựng hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

để phát triển nhân cách học sinh

- Giao tiếp sư phạm (giữa giáo viên và học sinh) là một hệ thống phức tạp và làmột quá trình sáng tạo trong việc tổ chức các mối quan hệ thầy – trò, tạo ra sự hiểubiết lẫn nhau, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, nhằm giải quyếtcác nhiệm vụ giáo dục - đào tạo

- Giao tiếp sư phạm được thực hiện trên ba quy mô: quy mô một thầy và mộttrò, quy mô thầy và một nhóm học sinh, quy mô thầy với toàn lớp học

- Từ những đặc điểm trên, chúng ta thấy rằng, nếu không có giao tiếp sư phạmthì hoạt động sư phạm sẽ không còn ý nghĩa Bởi vì, hoat động sư phạm trong nhàtrường chủ yếu là sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, trong đó giáo viên là chủthể giao tiếp còn học sinh là người lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo do giáo viên

Trang 21

truyền đạt, đồng thời học sinh cũng là chủ thể của quá trình giao tiếp Và trong quátrình giao tiếp, nhân cách của học sinh được hình thành và phát triển.

c Các giai đoạn giao tiếp sư phạm

Giao tiếp sư phạm là một quá trình gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thựchiện những chức năng khác nhau Theo các nhà tâm lý học Liên Xô: A.Abôđalov,V.A.Cancalic, N.V.Cudơmina, A.N.Lêonchiev thì giao tiếp có thể chia thành một sốgiai đoạn sau: [1, tr.15]

- Giai đoạn định hướng trước khi thực hiện giao tiếp

- Giai đoạn mở đầu của quá trình giao tiếp

- Giai đoạn điều chỉnh, điều khiển của và phát triển quá trình quá trình giaotiếp

- Giai đoạn kết thúc quá trình giao tiếp

Các tác giả Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh xem quá trình giao tiếp sư phạm có

ba giai đoạn: [11, tr.41]

- Giai đoạn 1: Mở đầu quá trình giao tiếp sư phạm

- Giai đoạn 2: Diễn biến quá trình giao tiếp sư phạm

- Giai đoạn 3: Kết thúc quá trình giao tiếp sư phạm

Theo tác giả Lê Xuân Hồng, giao tiếp sư phạm được chia thành 4 giai đoạnsau: [14, tr.23]

- Giai đoạn 1: Giai đoạn định hướng trước khi giao tiếp

Ở giai đoạn này, người giáo viên phải xác định mục đích và nhiệm vụ giáo dục,phải nắm vững các đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, các đặc điểm nhân cách củachính bản thân mình Trên cơ sở đó, lựa chọn và chuẩn bị các phương pháp và cácphương tiện giao tiếp thích hợp để xử lý những tình huống sư phạm diễn ra thườngxuyên hay đột xuất nhằm tác động có hiệu quả đến công tác giảng dạy và giáo dục

- Giai đoạn 2: Giai đoạn mở đầu quá trình giao tiếp

Ở giai đoạn này giáo viên cần gây ấn tượng ban đầu tốt đẹp với học sinh Tổchức nhóm lớp tạo điều kiện thuận lợi cho giao tiếp sư phạm: trang trí lớp học đẹp,thoáng sáng, phù hợp với độ tuổi học sinh, thái độ của giáo viên gần gũi cởi mở,chân thành nhưng nghiêm túc

- Giai đoạn 3: Giai đoạn triển khai quá trình giao tiếp thông qua việc tổ chứccác hoạt động giảng dạy và giáo dục

Ở giai đoạn này lời nói của giáo viên phải rõ ràng, rành mạch, ngắn ngọn, dễhiểu Thái độ dứt khoát, luôn khẳng định những cái đúng của từng học sinh, củanhóm, lớp, nhận xét cụ thể và tế nhị về thiếu sót của học sinh nhằm giúp cho các em

Trang 22

điều chỉnh, tránh áp đặt chụp mũ Yêu cầu khen thưởng và trách phạt trên nền tảngtình yêu thương học sinh thật sự qua lời nói, cử chỉ và điệu bộ…sẽ tạo ra hiệu quảcao trong giảng dạy và giáo dục Tạo bầu không khí dân chủ trong khuôn khổ kỷluật của lớp học giúp học sinh mạnh dạn giao tiếp, trao đổi với giáo viên Tạo hứngthú học tập, từ đó giúp học sinh chủ động, sáng tạo trong lĩnh hội tri thức và rènluyện kỹ năng.

- Giai đoạn 4: Giai đoạn kết thúc quá trình giao tiếp

Giáo viên phân tích hệ thống giao tiếp đã được thực hiện để rút kinh nghiệm

và xây dựng mô hình giao tiếp cho hoạt động tiếp theo

Sự phân chia các giai đoạn giao tiếp sư phạm ở trên chỉ mang tính chất tươngđối, các giai đoạn của quá trình giao tiếp sư phạm không tồn tại độc lập mà chúng

có quan hệ mật thiết với nhau, giai đoạn trước sẽ là cơ sở cho giai đoạn sau Trongmỗi giai đoạn cần có một kỹ năng giao tiếp nhất định Vì vậy, muốn giao tiếp sưphạm đạt kết quả thì việc hiểu mục đích, nội dung, phương tiện giao tiếp vẫn chưa

đủ mà còn cần có kỹ năng và thủ thuật giao tiếp

d Phương tiện giao tiếp sư phạm

Phương tiện giao tiếp sư phạm có vai trò quan trọng trong việc thực hiện cácchức năng của quá trình giao tiếp sư phạm Trong các phương tiện giao tiếp sư phạmthì phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu trong quá trình dạyhọc và giáo dục

Ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu (âm thanh hoặc chữ viết) dưới dạng từ ngữchứa đựng ý nghĩa nhất định được con người quy ước và sử dụng trong quá trìnhgiao tiếp Sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ được thể hiện ở cách phát âm, sử dụngcấu trúc của câu, sự lụa chọn và sử dụng từ ngữ Là giáo viên thường sử dụng hailoại ngôn ngữ là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

- Ngôn ngữ nói: Là phương tiện được sử dụng nhiều nhất, hiệu quả nhất trongquá trình giao tiếp sư phạm, đặc biệt trên lớp học Ngôn ngữ nói là phương tiện để

mã hóa các thông tin trong đầu con người khi chuyển tải ra ngoài bằng lời Trongdạy học, những thông tin từ giáo viên sẽ giúp cho học sinh hiểu đúng ý tưởng củagiáo viên, nội dung khoa học, thực hiện chính xác yêu cầu của giáo viên, lưu trữ

Trang 23

thông tin từ giáo viên, giao tiếp giữa những người học với nhau Ngôn ngữ nói cóhai hình thức: ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ đối thoại.

 Ngôn ngữ độc thoại: là hình thức nói của một người, nhưng người khác chỉnghe, đó là hình thức giáo viên giảng bài cho học sinh nghe Để giao tiếp sư phạmtrên lớp có hiệu quả, ngôn ngữ nói độc thoại của giáo viên cần đạt được những yêucầu sau:

o Cách diễn đạt dễ hiểu, rõ ràng, chuẩn xác về tiếng Việt

o Giàu hình ảnh, diễn cảm, dễ nhớ, hấp dẫn

o Nội dung lời giảng súc tích, có nhiều thông tin hữu ích

o Đảm bảo tính khoa học, hợp lý, hệ thống và tính khoa học

cao

o Kiến thức mới, khái niệm mới cần được liên hệ gần gũi với hiện thựccuộc sống của học sinh

o Phải có kỹ năng lảm chủ lời nói của mình

 Ngôn ngữ đối thoại: là hình thức thầy cô hỏi, học sinh trả lời hoặc ngược lại

Để giao tiếp sư phạm có hiệu quả, ngôn ngữ nói độc thoại của giáo viên cần đạtđược những yêu cầu sau:

o Câu hỏi vả trả lời phải ngắn gọn, dễ hiểu, có nội dung rõ

ràng

o Nằm trong văn cảnh, hoàn cảnh cụ thể

o Rút gọn, khái quát cao

- Ngôn ngữ viết: đối với người giáo viên, kỹ năng này cũng hết sức cần thiết,chủ yếu thể hiện ở soạn giáo án và viết bảng Ngôn ngữ viết không những có yêucầu như ngôn ngữ nói để thể hiện trong các giáo án mà còn có yêu cầu về khả nănglựa chọn từ ngữ để viết tóm tắt những nội dung giảng bài lên bảng Chữ viết phải rõràng, dễ hiểu, đúng ngữ pháp tiếng Việt, lời văn phải trong sáng, mạch lạc chínhxác, rõ ý nghĩa

Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp không dùng ngôn ngữ Đó là các kíchthích bên ngoài nhưng không phải là lời nói và chữ viết mà bao gồm tất cả nhữngyếu tố thuộc về cử chỉ điệu bộ và những chuyển động biểu cảm khác Loại giao tiếpnày còn gọi là giao tiếp bằng tứ chi, là điệu bộ, cữ chỉ, hành vi, ánh mắt, nụ cười…

Trang 24

đóng vai trò chủ yếu không chỉ trong việc truyền đạt thông tin mà còn biểu hiện tâmtrạng, xúc cảm, tình cảm, thái độ…của chủ thể giao tiếp.

- Giao tiếp qua nét mặt, ánh mắt, nụ cười

 Nét mặt biểu lộ cảm xúc của con người Nét mặt góp phần quan trọng tạo nênhình ảnh cá nhân trong mắt người khác Thực tế cho thấy: giáo viên có nét mặtdịu hiền, cởi mở, vui tươi thường đem lại bầu không khí tâm lý tốt, cảm giác antoàn cho học sinh và ngược lại

 Ánh mắt là phương tiện chuyển tải tâm trạng, trạng thái xúc cảm, tình cảmcủa con người Nhà tâm lý học Nga X.R.Tankelevich đã tìm thấy trong tác phẩmcủa đại văn hào L.Tonxtoi có tới 85 ánh mắt phản ánh các nội dung tâm lý khácnhau Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn Tần số nhìn vào mắt học sinh của giáo viên

ít hoặc nhiều cũng thể hiện sự quan tâm của giáo viên đối với học sinh Tronggiao tiếp sư phạm, ánh mắt dịu hiền trìu mến của giáo viên thường đem lại nhiềuthành công trong công việc

 Nụ cười là phương tiện thể hiện xúc cảm, tình cảm của con người, con người

có bao nhiêu kiểu cười thì có bấy nhiêu cá tính, để diễn giải đúng ý nghĩa của nụcười cần kết hợp quan sát cả đôi mắt và khóe miệng của người đang cười Nụcười cũng đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn đến thành công trong giao tiếp

- Điệu bộ, cử chỉ, tư thế, dáng đi, đứng

 Điệu bộ, cử chỉ là sự phối hợp vận động của các cơ ở đầu, cổ, mặt, tay, chân,thân mình, được con người dùng để biểu lộ cảm xúc và thái độ Điệu bộ, cử chỉthường được dùng để minh họa, nhấn mạnh, bổ sung cho những gì đang nóithậm chí có thể thay thế cho lời nói thông qua các dấu hiệu của điệu bô, cử chỉ.Mỗi điệu bộ, cử chỉ là một trạng thái xúc cảm, một tính hiệu giao tiếp sư phạmcủa giáo viên đối với học sinh Điệu bộ, cử chỉ của giáo viên dù vận động nhưthế nào cũng cần giữ được một thái độ thiện cảm với học sinh, với thiện ý tốt,luôn đứng về vị trí của học sinh mà đồng cảm với trình độ nhận thức của các em

 Tư thế là sự vận động của toàn thân hướng theo một chủ đích nào đó Tư thế

là yếu tố quan trọng trong giao tiếp, tư thế của con người tác động vào nhận thứccảm tính, vì thế trong quan hệ thầy – trò (quan hệ trên - dưới), giáo viên cần thểhiện tư thế mẫu mực của mình để học sinh noi theo

Trang 25

- Hành vi là sự phối hợp vận động của toàn bộ các bộ phận, giác quan, tư thế…của cơ thể, hướng vào một đối tượng nhất định Hành vi giao tiếp sư phạm thể hiện

ở thái độ, nhận thức của giáo viên đối với học sinh và ngược lại Hành vi giao tiếp

sư phạm của giáo viên hướng vào mục tiêu giáo dục của bậc học, xây dựng đạo đức,phát triển trí tuệ, thể lực và năng lực thẩm mỹ của học sinh Sự tinh tế trong giaotiếp sư phạm thể hiện ở hành vi tiếp xúc giũa giáo viên với học sinh

- Trang phục bổ sung cho diện mạo con người gồm sự phối hợp kiểu quần áo,màu sắc vải, vật trang điểm Trang phục trong giao tiếp sư phạm là một phần củađịnh hướng giao tiếp, góp phần cho giao tiếp sư phạm thành công Do đó, trangphục của giáo viên cần đúng kiểu cách, màu sắc trang nhã, hài hòa, tạo thiện cảmcho học sinh

Ngoài ra, các đồ dùng, vật dụng được giáo viên sử dụng trong giao tiếp sưphạm như sơ đồ, tranh ảnh…cũng có ý nghĩa giao tiếp về mặt tâm lý Cần sử dụngcác phương tiện này đúng lúc, đúng chỗ, nhằm minh họa chứng minh cho bài giảnglúc cần thiết

e Các nguyên tắc giao tiếp sư phạm

Nguyên tắc sư phạm được hiểu là hệ thống những quan điểm nhận thức cótính chất chỉ đạo, định hướng hệ thống thái độ, hành vi ứng xử của giáo viên đối vớihọc sinh và ngược lại Giao tiếp sư phạm gồm những nguyên tắc cơ bản sau:

- Nhân cách mẫu mực trong giao tiếp sư phạm

Dạy học là một nghề đặc biệt, người giáo viên trực tiếp dùng nhân cách củamình để tác động đến học sinh Đối với xã hội, nhà trường là trung tâm văn hóa, mỗigiáo viên là đại diện, là điểm sáng của nền văn hóa Nhân cách mẫu mực còn là yếu

tố tạo nên uy tín của người giáo viên, đảm bảo sự thành công trong giao tiếp sưphạm Với những đặc trưng nghề nghiệp của mình đòi hỏi giáo viên phải thườngxuyên tự rèn luyên mình nhân cách của người giáo viên phải luôn mẫu mực, có sựthống nhất giữa lời nói và hành động Thể hiện:

 Ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ, điệu bộ, trang phục của người giáo viên thể hiện

sự chuẩn mực, làm gương sáng cho học sinh noi theo mọi lúc mọi nơi

 Lời nói và hành đông thống nhất với nhau

 Ý thức rõ được vị trí, trách nhiệm của mình trong nghề nghiệp, tích cực phấnđấu toàn diện về chuyên môn và lối sống, luôn làm chủ được bản thân mình

Trang 26

- Tôn trọng nhân cách học sinh trong giao tiếp sư phạm

Trong giao tiếp sư phạm cần tôn trọng nhân cách học sinh, phải xem học sinh

là một cá nhân, một con người đầy đủ các quyền được vui chơi, học tập, nhậnthức…với những tâm lý riêng, bình đẳng với mọi người trong các quan hệ xã hội.Giáo viên không nên áp đặt, ép buộc thái quá các em phải tuân theo ý kiến thầy cômột cách máy móc, duy ý chí, mà phải gây được ấn tượng ban đầu tốt đẹp với họcsinh Phải biết đặt nình vào vị trí của học sinh để tạo ra sự thông cảm, hiểu biết vàtôn trọng lẫn nhau Người giáo viên biết tôn trọng học sinh thường có biểu hiện:

 Biết lắng nghe học sinh nói chuyện, trình bày và diễn đạt ý muốn, nhu cầunguyện vọng của mình…và cố gắng đáp ứng nhu cầu chính đáng của học sinh

 Biết thể hiện các phản ứng biểu cảm của mình một cách chân thành, trungthực khi tiếp xúc với các em

 Tôn trọng nhân cách các em, thể hiện rõ nhất qua hành vi, ngôn ngữ, khôngdùng những câu, từ xúc phạm đến nhân cách các em

 Hành vi, cử chỉ, điệu bộ là phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ cần giữ ởtrạng thái cân bằng, cần tránh những biểu hiện hành vi bột phát khi tiếp xúc vớicác em

 Trang phục gọn gàng, sạch sẽ, đúng kiểu cách của giáo viên Sự tôn trọngnhân cách của học sinh cũng chính là sự tôn trọng nhân cách và nghề nghiệp củamình

- Có thiện chí trong giao tiếp sư phạm

 Thiện chí của giáo viên được thể hiện ở thái độ, trách nhiệm đối với côngviệc

 Thiện chí của giáo viên thể hiện qua việc thầy cô luôn đặt quyền lợi của họcsinh lên trên, luôn dốc lòng đem tài năng, trí lực phục vụ cho việc giảng dạy

 Thiện ý của giáo viên được thể hiện rõ nhất trong sự đánh giá, nhận xét họcsinh một cách công bằng, khách quan, khích lệ các em học tốt hơn

 Thiện ý của giáo viên thể hiện ở cách xử xự, phân xử của thầy cô trướcnhững tình huống mà thầy cô cần tham gia giải quyết

- Đồng cảm trong giao tiếp

Đồng cảm với học sinh trong giao tiếp có nghĩa là giáo viên phải đặt mìnhvào vị trí của học sinh, để hiểu được những suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của các

Trang 27

em để có sự thông cảm, hiểu biết lẫn nhau, từ đó có những hành vi ứng xử phù hợp,với nhu cầu nguyện vọng, mong muốn của học sinh.

Để tạo ra sự dồng cảm trong giao tiếp sư phạm thì giáo viên cần phải có sựquan tâm gần gũi thân mật để tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, từ đó tạo

ra cảm giác an toàn cho học sinh Đồng cảm là cơ sở hình thành mọi hành vi ứng xửnhân hậu, độ lượng, khoan dung

Các nguyên tắc giao tiếp sư phạm bao giờ cũng thống nhất, tác động qua lạibiện chứng nhau Vì vậy, muốn hoạt động sư phạm đạt được mục đích thì ngườigiáo viên cần thực hiện tốt các nguyên tắc sư phạm trên

f Các loại phong cách giao tiếp sư phạm

Phong cách giao tiếp sư phạm là toàn bộ hệ thống những phương pháp, thủthuật tiếp nhận, phản ứng, hành động tương đối bền vững, ổn định của giáo viên vàhọc sinh trong quá trình tiếp xúc nhằm truyền đạt, lĩnh hội được tri thức khoa học,vốn sống, kinh nghiệm, kỹ xảo nghề nghiệp, góp phần xây dựng và phát triển nhâncách toàn diện ở học sinh [11, tr.81]

Phong cách dân chủ tạo ra ở các em tính độc lập, sáng tạo, sự ham mê hiểubiết, kích thích hoạt động nhận thức của các em để các em thấy rõ vị trí, vai trò cánhân của mình trong học tập, trong các nhóm bạn bè, ý thức được trách nhiệm vàbổn phận của mình để từng bước phát triển và hoàn thiện nhân cách theo yêu cầucủa xã hội

Tuy nhiên, phong cách dân chủ trong tiếp xúc với học sinh không có nghĩa lànuông chiều thả mặc, cũng không có nghĩa là quá đề cao cá nhân hoặc theo đuổinhững đòi hỏi không xuất phát từ lợi ích chung của học sinh, của lớp, của trường.Dân chủ không phải là xóa đi ranh giới giữa thầy và trò, phá bỏ truyền thống “tôn sưtrọng đạo” Đối với giáo viên phong cách dân chủ thể hiện tấm gương sáng sốngđộng một mẫu hình nhân cách – theo đó mà học sinh noi theo Như vậy, phong cách

Trang 28

dân chủ là loại phong cách đặc trưng và được giáo viên sử dụng nhiều nhất tronggiảng dạy và giáo dục học sinh Nhưng quá lạm dụng phong cách này thì đôi khi sẽkhông đảm bảo được yêu cầu giáo dục đặt ra, bởi có những tình huống bất ngờ,phức tạp, cần giải quyết trong thời gian ngắn đòi hỏi người giáo viên phải cứng rắn,

có tính quyết đoán cao để đảm bảo thời gian

Nội dung của phong cách này xuất phát từ nội dung công việc học tập hoặchoạt động xã hội Giáo viên thường xem nhẹ những đặc điểm riêng về nhận thức, cátính, nhu cầu, động cơ, hứng thú của các em, do đặt mục đích giao tiếp sư phạmthường xuyên xuất phát từ công việc và giới hạn thời gian thực hiện một cách “cứngnhắc” Chính vì vậy, khi tiếp xúc với học sinh, giáo viên hay yêu cầu, áp đặt cho các

em những ý kiến, hành động theo ý chủ quan của mình

Một khía cạnh khác của phong cách này thường thể hiện cách đánh giá vàhành vi ứng xử đơn phương, một chiều, xuất phát từ ý kiến chủ quan của giáo viên.Tuy nhiên phong cách độc đoán cũng có những tác dụng nhất định, đối với nhữngcông việc đòi hỏi trong thời gian ngắn phải có cách giải quyết dứt khoát, kiên quyết,cứng rắn… phong cách này tương đối phù hợp Tuy nhiên không nên lạm dụngphong cách này bởi phong cách này làm mất đi sự tự do, kiềm chế sáng tạo, tự chủcủa học sinh, đôi khi khiến học sinh có cảm giác không an toàn, sợ hãi trước giáoviên Tính thuyết phục, giáo dục bằng tình cảm trở nên mờ nhạt ở phong cách này

Bản chất của phong cách này là thái độ hành vi cử chỉ, điệu bộ ứng xử củagiáo viên đối với học sinh dễ dàng thay đổi trong những tình huống, hoàn cảnh giaotiếp khác nhau Đặc trưng của nó là dễ thay đổi mục đích, nội dung thậm chí là cảđối tượng giao tiếp

Phong cách tự do có ưu thế là phát huy được tính tích cực hoạt động nhậnthức ở học sinh, kích thích tư duy độc lập, sáng tạo ở các em - vì nó được xây dựngnên nền tảng tôn trọng nhân cách học sinh Trong phong cách này, giáo viên đôi khikhông làm chủ được cảm xúc của mình trong tâm trí họ, những quy định nghiêmngặt về quan hệ thầy - trò thường bị coi nhẹ Thường người có phong cách này cóphạm vi giao tiếp rộng rãi, nhưng mức độ lại nông cạn, hời hợt, không sâu sắc,thường để lại ấn tượng coi thường nhân cách của thầy cô trong học sinh

Trang 29

Ba loại phong cách giao tiếp sư phạm trên đều có những ưu điểm và hạn chếnhất định Do đó, trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh, giáo viên nênphối hợp một cách linh hoạt cả ba loại phong cách sao cho phù hợp với từng hoàncảnh, mục đích giao tiếp cụ thể nhằm đem lại hiệu quả cao trong quá trình giao tiếp

sư phạm

1.2.1.4 Kỹ năng giao tiếp sư phạm

Khái niệm kỹ năng giao tiếp sư phạm

Theo tác giả Ngô Công Hoàn: “kỹ năng giao tiếp sư phạm là hệ thống những thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi (kể cả hành vi ngôn ngữ) phối hợp hài hòa, hợp lý của giáo viên, nhằm đảm bảo cho sự tiếp xúc với học sinh đạt kết quả cao trong dạy học và giáo dục, với sự tiêu hao năng lượng tinh thần và cơ bắp ít nhất trong những diều kiện thay đổi” [11, tr.88]

Tác giả Nguyễn Đình Chỉnh cho rằng: “Kỹ năng giao tiếp sư phạm thể hiện việc chủ thể (nhà sư phạm) biết cách tiến hành hoạt động tư duy đúng đắn để giải quyết hợp lý các nhiệm vụ trong toàn bộ hành động giao tiếp sư phạm khi thực thi các động tác giáo dục – đào tạo của nhà trường” [42, tr.112]

Các tác giả Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh cho rằng: “Kỹ năng giao tiếp sư phạm là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bản thân, đồng thời sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều khiển điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm mục đích giáo dục” [1, tr.30]

Kỹ năng giao tiếp sư phạm thực chất là sự phối hợp phức tạp giữa nhữngchuẩn mực hành vi xã hội cá nhân với sự vận động của cơ mặt, ánh mắt, nụ cười, tưthế đồng thời với ngôn ngữ nói, viết của người giáo viên Kỹ năng giao tiếp sư phạmđược hình thảnh qua các con đường: [11]

- Những thói quen ứng xử được xây dựng trong gia đình

- Do vốn sống, kinh nghiệm cá nhân qua tiếp xúc với mọi người, trong cácquan hệ xã hội

- Rèn luyện trong môi trường sư phạm qua các lần thực hành, tiếp xúc với họcsinh (thâm niên nghề càng cao thì kỹ năng giao tiếp sư phạm càng hợp lý)

Qua các khái niệm về KNGTSP, chúng tôi thống nhất với quan điểm của tác

giả Hoàng Anh: “Kỹ năng giao tiếp sư phạm là khả năng nhận thức nhanh

Trang 30

chóng những biễu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bản thân, đồng thời sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều khiển điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm mục đích giáo dục”

Các nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm

Trong quá trình nghiên cứu giao tiếp sư phạm, các nhà tâm lý, giáo dục trong

và ngoài nước phân chia các loại kỹ năng giao tiếp sư phạm theo các tiêu chuẩn sau:

- V.P.Dakharov dựa vào trật tự các bước tiến hành của một pha giao tiếp chorằng để có năng lực giao tiếp cần có các kỹ năng sau: kỹ năng thiết lập các mối quan

hệ trong giao tiếp; kỹ năng cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp ; kỹnăng nghe và biết lắng nghe; kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi; kỹ năng tự kiềmchế và kiểm tra đối tượng giao tiếp; kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, gọn, mạch lạc; kỹnăng linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp; kỹ năng thuyết phục trong giao tiếp; kỹnăng điều khiển trong quá trình giao tiếp [11]

- Theo A.T.Kyrbanova và Ph.M.Rakhmatylina, một quá trình giao tiếp sưphạm bao gồm 3 thành phần lớn: Nhóm các kỹ năng định hướng trước khi giao tiếp

sư phạm; nhóm các kỹ năng tiếp xúc xảy ra trong quá trình giao tiếp sư phạm; nhómcác kỹ năng độc đáo hướng quá trình giao tiếp sư phạm đến các định hướng giá trịkhác nhau mà giáo viên cần hướng đến Theo hai tác giả này thì các kỹ năng trongcác thành phần trên bao gồm: nhìn thấy, nghe được các trạng thái của học sinh, kỹnăng tiếp xúc, hiểu biết lẫn nhau, tổ chức, điều khiển quá trình giao tiếp [1]

- A.A.Leonchiev đã liệt kê các kỹ năng giao tiếp sư phạm như: kỹ năng điềukhiển hành vi bản thân, kỹ năng quan sát, kỹ năng nhạy cảm xã hội, biết phán đoánnét mặt người khác, kỹ năng đọc, hiểu, biết mô hình hoá nhân cách học sinh, kỹnăng làm gương cho học sinh, kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng kiến tạo sự tiếpxúc, kỹ năng nhận thức [11, tr90]

- Tác giả Lê Xuân Hồng cho rằng quá trình giao tiếp sư phạm có các nhóm kỹnăng sau: Kỹ năng định hướng giao tiếp, kỹ năng định vị giao tiếp, kỹ năng điềukhiển quá trình giao tiếp [13, tr.24]

Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đồng quan điểm phân loại các nhómKNGTSP của tác giả Hoàng Anh [1]:

- Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp:

Trang 31

 Kỹ năng đọc trên nét mặt, hành vi, lời nói.

 Kỹ năng chuyển từ sự tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trongcủa nhân cách

- Nhóm kỹ năng định vị giao tiếp:

 Kỹ năng xác định vị trí của bản thân trong quá trình giao tiếp

 Kỹ năng xác định thời gian, không gian, khoảng cách trong giao tiếp

- Nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp:

 Kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp

 Kỹ năng điều khiển bản thân chủ thể giao tiếp

 Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp

1.2.2 Đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

1.2.2.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

Trẻ 4 tuổi: Ý thức cái tôi của trẻ rõ nét hơn 4 tuổi, trẻ đã biết phân biệt rõ

mình và người khác, mình và thế giới xung quanh Trẻ đã có thể biết đến tên củamình, tuổi, cha mẹ, con trai hay con gái, có thể so sánh một cách đơn giản mình vàbạn khác Trẻ rất quan tâm, chú ý đến những nhận xét của mọi người đến bản thânmình Ý thức mình là một thành viên trong một tập thể, chúng dành phần lớn thờigian để tạo dựng và giữ vững vị trí với các trẻ đồng trang lứa Chúng cũng dễ dàng

sử dụng vốn từ vựng của mình để khen, chê và “chỉnh” những đứa trẻ khác nhằmhướng sự chú ý vào khả năng của chúng và thuyết phục các bạn cùng chơi chấpnhận ý tưởng mà chúng đưa ra

Trẻ 4 tuổi thích chơi với trẻ khác, có thể dọa dẫm hoặc hứa hẹn để giành lấymột đứa bạn hoặc để được “kết nạp” vào một nhóm bạn Vậy nên ở trường mẫugiáo, bạn có thể rất hay nghe thấy những câu như “Mình làm bạn của nhau nhé” và

“Mình không chơi với bạn đâu.”

Lên 4 tuổi, bé thích khám phá những điều mới lạ như đu xích đu, nhớ tên cácloại khủng long, đếm từ 1 tới 20, và chơi game trên máy tính Chúng tin vào những

gì chúng nhìn thấy, nghe thấy và chạm tay vào Nếu một đứa trẻ 4 tuổi nghĩ rằng lynước trái cây của nó ít hơn của bạn thì có nghĩa là ly của bạn thật sự nhiều hơn, dù

cả 2 ly đều được rót từ 2 hộp như nhau Nếu một đứa trẻ 4 tuổi nghe thấy tiếng mộtcon quái vật đang gầm gừ dưới giường thì có nghĩa là thật sự có một con quái vật ở

Trang 32

dưới giường, mặc cho bố mẹ có giải thích đến đâu chăng nữa.Ở tuổi này, bé cũng rất

tò mò và rất thích hỏi “Tại sao?”

Trẻ 5 tuổi: Trẻ 5 tuổi thích dùng và diễn giải các ký hiệu, biểu tượng Hầu hết

trẻ ở độ tuổi này rất nghiêm túc muốn học hỏi, và một số có thể học các cơ chế đọcviết nhanh hơn những đứa khác Chúng thích tự mình đọc menu và gọi món, diễngiải các biển báo giao thông, tự viết danh sách các món đồ cần mua, và tự viết tênlên nhãn tập hoặc các bức tranh do chúng vẽ Chúng có thể hình dung ra trong đầunhững vấn đề đơn giản và có thể nắm bắt khái niệm cộng trừ, dù có thể chúng phảixòe tay ra đếm trước khi trả lời

Đây là lứa tuổi phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ có thể nóinhững câu đầy đủ, đôi khi phức tạp cũng như hiểu được những câu nói dài củangười khác Điều này là cơ sở cho trẻ tiếp nhận những kiến thức của lớp Một và cáccấp học tiếp theo Mặc dù vậy, khi giao tiếp với trẻ, chúng ta vẫn không nên sử dụnglối nói với những ý nghĩa ẩn dụ, nước đôi theo kiểu, nói vậy mà không phải vậy! Vì

có thể gây ra những hiểu lầm, hay khiến cho trẻ có những nhận thức tiêu cực về bảnthân và sự hiểu biết sai lệch về người khác

Trong lứa tuổi này, trẻ có thể dễ dàng tiếp nhận một ngoại ngữ và cả những

từ ngữ thô tục “không có trong từ điển” Vì thế đây là một “đối tác” quan trọng chocác cơ sở dạy ngoại ngữ, và họ đã vận dụng nhiều kỹ xảo chiêu sinh khác nhaukhiến cho nhiều bậc cha mẹ bị thu hút nên đã tìm cách thúc đẩy con đi học ngoạingữ mà không quan tâm đến cá tính, sở thích hay năng lực thực sự của trẻ, có phùhợp với những kiến thức đó hay không Điều này vô tình đã đặt một áp lực lên trênđứa trẻ, khiến cho một số trẻ chưa đến trường mà đã trở nên “ngán” chuyện đi học

1.2.2.2 Hình thức giao tiếp của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

Trẻ 4 – 5 tuổi giao tiếp theo dạng “Giao tiếp nhận thức ngoài tình huống”: làdạng giao tiếp gián tiếp, nhưng nó được quyện vào, lồng vào hoạt động nhận thứccùng với người lớn

Trang 33

Giao tiếp nhận thức ngoài tình huống là hình thức giao tiếp nhằm mục đíchnhận thức thế giới xung quanh và lồng vào các hoạt động nhận thức cùng người lớn.Tính chất ngoài tình huống thể hiện ở chỗ, nhận thức của trẻ không bị bó hẹp vớitình huống cụ thể nhất định nào, mà nó diễn ra liên tục với các loại tình huống khácnhau, thể hiện ở mọi lúc mọi nơi.

Nội dung của giao tiếp nhận thức ngoài tình huống: trẻ rất tò mò, ham hiểubiết, thích khám phá thế giới xung quanh, thường đặt câu hỏi “Tại sao? Như thếnào?…”

Lixina gọi đó là sự cộng tác “lý thuyết” sự phát triển của tính ham học, hamhiểu biết đã được đứa trẻ tự đặt ra cho mình những câu hỏi ngày càng phức tạp: vềnguồn gốc và cấu tạo của thế giới, về các mối liên quan của các hiện tượng trong tựnhiên…bộ mặt của đứa trẻ hòa toàn thay đổi Bây giờ nó luôn đặt ra các câu hỏi, vàsuy nghĩ ra điều gì đó mà không có trong thực tế, khi người lớn nói là điều đó không

có thì đáp lại trẻ hờn dỗi, khóc, trẻ rất tự mãn thể hiện cái mà nó làm được và bựcbội, buồn đến khóc khi người lớn không chia sẻ niềm vui của nó

Ranh giới của dạng giao tiếp nhận thức ngoài tình huống rất khó nhận biết,

có thể gặp ở những người lớn và ở những đứa trẻ 3 tuổi Ở không ít trẻ em trướctuổi đi học phổ thông dạng giao tiếp này chiến vị trí điển hình (chủ đạo) trong tất cảcác dạng quan hệ xã hội khác nhau, cho đến khi 6 – 7 tuổi, nghĩa là cho đến thờiđiểm vào học phổ thông Vì vậy, ranh giới 3 – 5 tuổi chỉ mang tính quy ước, chúngchỉ xác định những trường hợp hay gặp nhất của khởi điểm và kết thúc ưu thế củadạng giao tiếp này ở những trẻ có cha mẹ, được đi học ở các lớp mẫu giáo ban ngày

và sống ở thành phố Xuất phát điểm của dạng giao tiếp này được tính từ lúc xuấthiện ở trẻ em tính ham hiểu biết, ham học hỏi, tò mò không biết chán và kéo trongkhoảng 3 – 4 năm Sự thông thái và thông minh của người lớn là động lực cơ bảnbắt trẻ hướng về họ, những câu hỏi đầu tiên của trẻ dường như không phải là để chờđợi câu trả lời mà đơn giản trẻ chỉ nói lên những thắc mắc, những suy nghĩ củamình Sau đó sự giao tiếp theo những chủ đề mang tính nhận thức, mang đặc điểmcủa sự tìm tòi thực sự, lâu dài và bền bỉ, đòi hỏi sự hiểu biết một cách đầy đủ vànghiêm túc của người lớn Nếu như người lớn trong lúc nói chuyện với trẻ mà cònlàm một việc gì khác thì trẻ sẽ yêu cầu người lớn trả lời nó một cách nghiêm túc

Trang 34

Đồng thời những kiến thức của bản thân trẻ và sự hiểu biết bản chất của cái đangdiễn ra tạo thành những lý do để trẻ em hướng về người lớn, bởi vì chỉ có người lớnmới có khả năng đánh giá một cách chính xác Ở mức độ giao tiếp nhận thức trẻ cómột nhu cầu rất to lớn về sự tôn trọng của người lớn Tính nhạy cảm của trẻ đối vớigiao tiếp nhận thức ngoài tình huống không phải ngẫu nhiên mà nó phản ánh nhữngđặc tính quan trọng nào đó của trẻ, nhưng có mối liên quan nào đấy giữa sự tôntrọng và nhận thức.

Nhu cầu cao độ là được người khác tôn trọng ở trẻ có thể trở thành cơ sở chonhững rối loạn hành vi nghiêm trọng trong hành vi và hoạt động của trẻ: trẻ bắt đầubướng bỉnh, hay khóc nhè, tránh tiếp xúc, xuất hiện trạng thái xung đột

Những trẻ đạt trình độ giao tiếp nhận thức ngoài tình huống, có nhu cầu đượctôn trọng từ phía người lớn, trong khi làm những việc được giao, trẻ cố gắng làm vàsau mỗi hành động chúng hướng về phía người lớn tìm kiếm sự khen ngợi, cổ vũ.Tính kiên trì được tạo nên bới tính nghiêm khắc với bản thân và lòng mong muốnđược người lớn tôn trọng thể hiện thường xuyên

Khoảng cách giữa cô giáo và trẻ không cho phép trẻ thể hiện sự phản đối củamình một cách thẳng thắn, và do đó sự bùng nộ những tình cảm tiêu cực càng đượcthể hiện một các mạnh mẽ, những tình cảm, trạng thái này trẻ đổ dồn lên nhữngngười thân của mình Sự khác biệt trong hành vi của trẻ ở trường và ở nhà đã gây rakhông ít sự khó hiểu

Sự hình thành giao tiếp nhận thức ngoài tình huống có ý nghĩa vô cùng quantrọng đối với sự phát triển tâm lý của trẻ Ở đây, lần đầu tiên trẻ tham gia vào sự hợptác mang tính trí tuệ với người lớn, cuộc sống tinh thần của trẻ đã có được một sự bổsung đặc biệt Nó đã không còn gắn chặt với hoạt động nhận thức mang tính tươngđối với thế giới xung quanh như trước nữa Ý nghĩ của trẻ hướng vào chiều sâu của

sự vật, về trí tưởng tượng đưa trẻ về quá khứ và hướng tới tương lại Bằng các tưởngtượng của mình trẻ gắng sức tìm hiểu những điều không thể hoặc khó có thể có

1.2.2.3 Đối tượng và phương tiện giao tiếp

a Đối tượng giao tiếp

- Người lớn (người thân trong gia đình, GVMN, những người xung quanh…):thái độ của người lớn trong việc ứng xử khi trẻ khám phá là rất quan trọng, nếu

Trang 35

người lớn động viên khuyến khích, nhiệt tình trả lời câu hỏi cho trẻ và hướng dẫn trẻtrả lời, thì sẽ giúp trẻ ngày càng phát triển nhu cầu khám phá thế giới xung quanh vàngược lại.

- Giao tiếp với bạn cùng lứa tuổi: đây là loại giao tiếp đặc trưng, trẻ cùng độtuổi trở thành người đồng hành với nhau, vai trò của bạn đồng hành được thể hiện

một cách rõ ràng trong các hoạt động tích cực của trẻ (ví dụ như trong trò chơi sắm vai) Trẻ tham gia vào các công việc mang tính tập thể, mặc dù cá nhân trẻ thực hiện

một phần công việc chung, nhưng tất cả cố gắng phối hợp hành động để đạt mụcđích chung Trẻ rất nhạy cảm nắm bắt thái độ của bạn bè đối với bản thân mình qua

cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt… Sau 4 tuổi, trẻ thường xuyên hỏi các thành tích của bạn

bè và yêu cầu che dấu lồi lầm, sự không thành đạt của mình cho các bạn khác Kiểugiao tiếp của trẻ như vậy đôi khi còn được gọi là sự thi đua, mong muốn được khẳngđịnh mình…Nhưng nguồn gốc sâu xa của kiểu quan hệ này chính là tự nguyện vàmong muốn hiểu biết về bản thân, tự khẳng định mình qua những đức tính tốt, đó lànhu cầu tôn trọng và hiểu biết của bạn bè cùng độ tuổi

Đối tượng giao tiếp của trẻ ở độ tuổi này ngày càng được mở rộng hơn ra môitrường xã hội

b Phương tiện giao tiếp

Phương tiện giao tiếp chủ yếu là ngôn ngữ: trẻ ở độ tuổi này trẻ luôn tự đặt racâu hỏi cho mình và cho người lớn, để tìm hiểu về bản thân và nguồn gốc thế giớixung quanh thông qua hệ thống câu hỏi “tại sao, như thế nào” để nêu lên thắc mắc

và những suy nghĩ của bản thân mình

Ngoài ra, phi ngôn ngữ, đồ dùng đồ chơi…cũng là những phương tiện bổ trợhữu ích cho trẻ trong độ tuổi này: thông qua đồ dùng đồ chơi, trẻ sẽ cùng những bạnkhác trong lớp tham gia vào các hoạt động mang tính hợp tác vì mục đích chung củatập thể

1.2.3 Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

1.2.3.1 Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ

Tác giả Lê Xuân Hồng cho rằng: “Giao tiếp sư phạm trong hoạt động củagiáo viên mầm non là hệ thống sự tác động qua lại giữa giáo viên mầm non và trẻ

Trang 36

nhằm mục đích hiểu biết về trẻ, tổ chức các mối quan hệ qua lại có tính mục đíchgiáo dục rõ ràng, hình thành bầu không khí thuận lợi cho sự phát triển của trẻ” [13,tr.33]

Theo tác giả Hồ Lam Hồng: “Giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non đượchiểu là sự tiếp xúc giữa giáo viên với trẻ lứa tuổi mầm non, là sự tiếp xúc giữa giáoviên với người khác (cha mẹ hay người thân của trẻ, giữa giáo viên với nhau, giữagiáo viên với các thành viên khác trong cộng đồng…) trong mối quan hệ cùng hợptác chăm sóc và giáo dục trẻ Giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non chủ yếudiễn ra trong mối quan hệ giữa giáo viên với trẻ dưới 6 tuổi, thông qua các hoạtđộng chăm sóc giáo dục trẻ” [14, tr.48]

Giao tiếp sư phạm của người giáo viên mầm non có sự khác biệt so với giaotiếp của giáo viên của các cấp học khác do đối tượng người học là trẻ dưới 6 tuổi, làgiai đoạn bắt đầu đặt nền móng phát triển nhân cách Phương thức học chủ yếu củatrẻ qua quan sát và bắt chước, qua chơi và thực hành trải nghiệm, qua chia sẻ, tròchuyện với nhau Mặt khác, trong quá trình tiếp xúc trẻ rất cần tình cảm và sự yêuthương, sự gần gũi thân thiện từ người lớn nhằm giúp trẻ dễ hòa nhập vào các mốiquan hệ Do đó, giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non có một số đặc điểm riêng:

- Nặng yếu tố xúc cảm, tình cảm: giáo viên mầm non cần thể hiện sự yêuthương, quan tâm săn sóc, trìu mến với trẻ như người mẹ chăm sóc con, nói chuyệnvới trẻ cần nhẹ nhàng, vui tươi và chậm rãi để trẻ cảm thấy gần gũi

- Cần nghiêm khắc với trẻ trong quá trình giáo dục Nếu giáo viên khôngnghiêm khắc với trẻ, trẻ sẽ sinh ra nhờn Vì vậy, có lúc cần nhẹ nhàng nhưng cũngcần nghiêm khắc và dứt khoát với trẻ

- Giáo viên cần kiên trì và nhẫn nại với trẻ Do khả năng ngôn ngữ và tư duycủa trẻ còn hạn chế, nên giáo viên biết điềm tĩnh và lắng nghe trẻ nói, trả lời khi trẻhỏi…

1.2.3.2 Kỹ năng giao tiếp sư phạm của GVMN với trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi theo quy định chuẩn GVMN

GVMN phải có kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ một cách gần gũi, tình cảm;

có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo; có ý thức

Trang 37

phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp Không có biểu hiện tiêu cực trong cuộc sống,trong chăm sóc, giáo dục trẻ.

Nhân cách của người giáo viên mầm non được thống nhất với mô hình nhâncách của người giáo viên nói chung Do vị trí và đặc thù lao động của giáo viênmầm non làm việc với trẻ nhỏ, nên các yêu cầu cụ thể trong thành phần cấu trúcnhân cách của giáo viên mầm non có những nét riêng biệt [31, tr.20]

Với đặc thù nghề giáo viên mầm non đòi hỏi các giáo viên mầm non một tìnhyêu của người mẹ đối với trẻ Cô giáo thay mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ và trẻchờ đợi ở cô sự quan tâm trìu mến, ngọt ngào, sự giúp đỡ, bảo vệ trẻ Tuy nhiên tìnhyêu trẻ của cô phải là tình yêu sáng suốt, tình yêu có sự phối hợp của sự nồng ấmngọt ngào và sự yêu cầu cao đối với trẻ Trong cấu trúc nhân cách của giáo viên

mầm non có thể kể đến những thành phần sau đây: tinh thần trách nhiệm, thái độ

nhân đạo, công bằng, lòng vị tha, tôn trọng trẻ, tính ngay thẳng, giản dị và khiêmtốn, tính tự kiềm chế, tính mục đích, tính nguyên tắc, tính kiên nhẫn, tinh thần mỉnh

vì mọi người, tinh thần đoàn kết, tinh thần khắc phục khó khăn, chủ động, sáng tạotrong công việc, ham học hỏi, lòng yêu trẻ, yêu nghề vả gắn bó với nghề…

Có kiến thức cơ bản về giáo dục mầm non: hiểu biết cơ bản về đặc điểm tâm

lý, sinh lý trẻ lứa tuổi mầm non; hiểu biết mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục mầm non; có kiến thức về đánh giá sự phát triển của trẻ; hiểu biết về an toàn, phòngtránh và xử lý ban đầu các tai nạn thường gặp ở trẻ; có kiến thức về vệ sinh cá nhân,

vệ sinh môi trường và giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ

Có kiến thức về phương pháp giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non: kiến thức vềphương pháp phát triển tình cảm – xã hội và thẩm mỹ cho trẻ; có kiến thức vềphương pháp phát triển nhận thức và ngôn ngữ của trẻ; có kiến thức về phương pháp

tổ chức hoạt động chơi cho trẻ

Có các năng lực sư phạm như: năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học

và giáo dục, có tri thức và tầm hiểu biết, nắm vững kỹ thuật dạy học, có năng lựcvạch dự án phát triển nhân cách trẻ em, năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực “cảmhóa” trẻ em, năng lực thiết kế, chế biến tải liệu học tập, sáng tạo, tự học và các nănglực chuyên biệt (hát, múa, vẽ, đọc thơ,…)

Các nhóm KNGTSP của GVMN với trẻ:

Trang 38

a Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp

Kỹ năng này được biểu hiện ở khả năng dựa vào sự biểu lộ bên ngoài như sắcthái biểu cảm ngữ điệu, thanh điệu của nội dung, cử chỉ, điệu bộ, động tác…màphán đoán chính xác những trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể giao tiếp (giáoviên) và đối tượng giao tiếp (trẻ)

Kỹ năng định hướng giao tiếp có vai trò quan trọng, quyết định thái độ, hành

vi của chủ thể giao tiếp khi tiếp xúc với đối tượng giao tiếp Mô hình nhân cách củađối tượng giao tiếp là những định hướng cho chủ thể trong suốt quá trình giao tiếp

và sẽ đem lại hiệu quả cho quá trình giao tiếp Nhóm kỹ năng này gồm các kỹ năng:

kỹ năng đọc trên nét mặt, cử chỉ, hành động, lời nói và kỹ năng chuyển từ tri giáccái bên ngoài đến cái bên trong của nhân cách

- Kỹ năng đọc trên nét mặt, hành vi, lời nói

Kỹ năng này thể hiện ở việc tri giác tinh tế và nhạy bén các trạng thái tâm lýqua nét mặt, cử chỉ, ngữ điệu của lời nói mà chủ thể GT có thể phát hiện chính xác

và đầy đủ thái độ của đối tượng Những động tác biểu cảm không chỉ thể hiện ở các

cơ mặt mà còn ở các bộ phận khác trên cơ thể…Do đó, việc tri giác những biểu hiệnxúc cảm bên ngoài là cần thiết song điều quan trọng hơn là biết dựa vào đó để nhậnxét, đánh giá và phán đoán đúng nội tâm của đối tượng GT nghĩa là chuyển từ trigiác bên ngoài để biết bản chất bên trong của nhân cách

- Kỹ năng chuyển từ sự tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của nhân cách

Sự biểu hiện các trạng thái tâm lý của con người qua ngôn ngữ và điệu bộ làrất phức tạp vì cùng chung một trạng thái xúc cảm lại có thể được bộc lộ ra bênngoài bằng ngôn ngữ và điệu bộ khác nhau Ngược lại sự biểu hiện ra bên ngoài nhưnhau lại là vẻ ngoài của các tâm trạng khác nhau Vì vậy, kỹ năng này có thể giúp tathông qua những dấu hiệu biểu hiện chung nhất về xúc cảm qua các biểu hiện bênngoài mà có thể phán đoán đúng các trạng thái, đặc điểm tâm lý của đối tượng giaotiếp

Nhóm kỹ năng định hướng có thể chia nhỏ hơn định hướng trước khi giaotiếp, định hướng trong quá trình tiếp xúc với trẻ hoặc phụ huynh của trẻ

Định hướng trước khi tiếp xúc là khả năng phác thảo chân dung tâm lý củađối tượng cần tiếp xúc để thực hiện mục đích giao tiếp Việc phác thảo chân dung

Trang 39

tâm lý của đối tượng giao tiếp càng đúng, càng chính xác thì việc giao tiếp càng đạtđược hiệu quả cao Phác thảo chân dung tâm lý là xây dựng mô hình tâm lý vềnhững phẩm chất đặc thù của đối tượng Trên cơ sở đó, giáo viên có các phương ánứng xử khác nhau, dự đoán, lường trước những phản ứng có thể có của đối tượnggiao tiếp nhằm đem lại hiệu quả cao trong giao tiếp Định hướng trước khi tiếp xúc

là cơ sở để chủ thể giao tiếp khi bắt đầu giao tiếp có một thái độ thiện cảm, tự tin,tạo cảm giác thoải mái cho trẻ để các em bộc lộ trung thực những đặc điểm tâm lýcác nhân của mình

Định hướng trong quá trình giao tiếp sư phạm là sự thành lập các thao tác trítuệ, tư duy và liên tưởng với vốn sống kinh nghiệm cá nhân một cách cơ động, linhhoạt, mềm dẻo…ở chủ thể giao tiếp, đồng thời biểu hiện ra bên ngoài bằng phảnứng, hành vi, điệu bộ, cách nói năng sao cho phù hợp với những thay đổi liên tục vềthái độ, hành vi, cử chỉ, nội dung ngôn ngữ mà trẻ phản ứng trong quá trình giaotiếp

Như vậy, kỹ năng định hướng giao tiếp sư phạm có ý nghĩa rất quan trọng, nóquyết định thái độ và hành vi của giáo viên khi tiếp xúc với trẻ

b Nhóm kỹ năng định vị giao tiếp

Kỹ năng định vị là khả năng xây dựng mô hình tâm lý, phác thảo chân dungnhân cách trẻ đạt mức độ chính xác và tương đối ổn định dựa trên hoạt động nhậnthức tích cực Kỹ năng định vị giao tiếp biểu hiện ở khả năng biết xác định vị trítrong giao tiếp, biết đặt vị trí của mình vào vị trí của đối tượng để có thể vui, buồnvới niềm vui, nỗi buồn của họ và biết tạo ra điều kiện để đối tượng chủ động giaotiếp với mình, từ đó tạo ra sự đồng cảm hiểu biết lẫn nhau giữa chủ thể và đối tượnggiao tiếp Kỹ năng định vị giao tiếp của giáo viên còn thể hiện ở chỗ biết xác địnhđúng không gian và thời gian giao tiếp Công trình nghiên cứu của một số nhà tâm

lý học Mỹ đã chỉ rõ: Khoảng cách giữa mọi người trong quá trình giao tiếp khôngphải ngẫu nhiên mà được xác định bởi mục đích, nội dung và nói lên mức độ tinhthần của chủ thể và đối tượng giao tiếp Biết chọn thời điểm mở đầu, ngừng, tiếp tục

và kết thúc quá trình giao tiếp cũng có ý nghĩa quan trọng trong giao tiếp

Kỹ năng định vị giao tiếp là kỹ năng xây dựng những nội dung chủ yếu thuộc

về nhóm dấu hiệu nhân cách và vị trí của trẻ trong các quan hệ xã hội Tính khái

Trang 40

quát và tính cá biệt cần được lưu ý khi xây dựng, phác thảo chân dung nhân cáchcủa trẻ Do đó, muốn có được kỹ năng này, người giáo viên phải rèn luyện nhiềutrong hoạt động nghề nghiệp, phải tiếp xúc nhiều với đối tượng giao tiếp, phải vậndụng tri thức, vốn sống kinh nghiệm của mình mới đạt được sự hoàn thiện kỹ năngđịnh vị.

c Nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp

Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp thể hiện ở chỗ biết thu hút đối tượng,tìm ra chủ đề giao tiếp, duy trì nó và xác định được nguyện vọng, hứng thú của đốitượng, biết làm chủ trạng thái xúc cảm của bản thân vì biết sử dụng hợp lý cácphương tiện giao tiếp Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp gồm:

- Kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp

Kỹ năng này biểu hiện ở chỗ biết thu hút đối tượng giao tiếp, tìm ra đề tàigiao tiếp Tuỳ đối tượng giao tiếp và tình huống giao tiếp cụ thể cần biết nói gì vàlàm gì lúc bắt đầu giao tiếp Biết thúc đẩy hoặc kìm hãm tốc độ giao tiếp khi cầnthiết thậm chí cắt giảm hoặc thay thế thành phần trong nội dung giao tiếp cho phùhợp Biết tạo ra những xúc cảm tích cực cho đối tượng giao tiếp Tìm hiểu nhu cầu,hứng thú của đối tượng và hướng nội dung giao tiếp vào những nhu cầu, hứng thú

đó Như vậy, muốn điều khiển người khác phải hiểu được những đặc điểm tâm sinh

lý, hoàn cảnh sống, nhu cầu, ước muốn của đối tượng giao tiếp tại thời điểm giaotiếp Do đó, để có được kỹ năng này giáo viên phải hiểu trẻ, biết tuỳ thời cơ, giớitính, lứa tuổi, trình độ nhận thức và hoàn cảnh từng em để có cách giao tiếp thíchhợp

- Kỹ năng điều khiển bản thân chủ thể giao tiếp

Kỹ năng làm chủ trạng thái xúc cảm của bản thân biểu hiện ở chỗ biết tựkiềm chế che dấu được tâm trạng khi cần thiết Biết tạo ra hứng thú, xúc cảm tíchcực cho bản thân mình Biết điều khiển, điều chỉnh các diễn biến tâm lý của mình vàcác phương pháp tiến hành giao tiếp sao cho phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng màvẫn đạt được mục đích giao tiếp Nghĩa là chủ thể giao tiếp cần có cử chỉ, điệu bộ,ánh mắt, nụ cười, hành vi…của mình phản ứng phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh,mục đích, nội dung nhiệm vụ giao tiếp; cần nhận thức được giới hạn của hành vi,

Ngày đăng: 16/01/2019, 16:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh (1997), Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp sư phạm
Tác giả: Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1997
2. Hoàng Anh (Chủ biên), Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc (2007), Hoạt động -Giao tiếp - Nhân cách, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động -Giaotiếp - Nhân cách
Tác giả: Hoàng Anh (Chủ biên), Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
3. Hoàng Thị Anh (1992), Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên, Luận án Tiến sĩ Tâm lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên
Tác giả: Hoàng Thị Anh
Năm: 1992
4. Vũ Cao Đàm, (2011), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB giáo dụcViệt Nam
Năm: 2011
5. Vũ Dũng (2000), Từ điển tâm lý học, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
6. Adele Faber, Elaine Mazlish, Nhân Văn dịch (2006), Nghệ thuật giao tiếp với trẻ thơ, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật giao tiếp với trẻthơ
Tác giả: Adele Faber, Elaine Mazlish, Nhân Văn dịch
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2006
7. Carol Kinsey Goman (2012), Đặng Thanh Thảo, Minh Tươi dịch, Sức mạnh của ngôn ngữ không lời, NXB tổng hợp Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh củangôn ngữ không lời
Tác giả: Carol Kinsey Goman
Nhà XB: NXB tổng hợp Tp.HCM
Năm: 2012
8. Phạm Minh Hạc (2002), Hoạt động giao tiếp và chất lượng giáo dục, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giao tiếp và chất lượng giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXBĐHQG Hà Nội
Năm: 2002
9. Nguyễn Thi Bích Hạnh (2009), Cẩm nang nghiệp vụ quản lý Giáo dục mầm non, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cẩm nang nghiệp vụ quản lý Giáo dục mầm non
Tác giả: Nguyễn Thi Bích Hạnh
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
10. Ngô Công Hoàn (1997), Giao tiếp và ứng xử sư phạm (dùng cho giáo viên mầm non), NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp và ứng xử sư phạm (dùng cho giáo viên mầmnon)
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1997
11. Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh (2002), Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giao tiếp sư phạm
Tác giả: Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2002
12. Hội khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam (2009) Văn hóa học đường - Lý luận và thực tiễn, Kỉ yếu Hội Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luậnvà thực tiễn
13. Le Xuân Hồng (2004), Một số vấn đề về giao tiếp và giao tiếp sư phạm trong hoạt động của giáo viên mầm non, NXB GIáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giao tiếp và giao tiếp sư phạm tronghoạt động của giáo viên mầm non
Tác giả: Le Xuân Hồng
Nhà XB: NXB GIáo Dục
Năm: 2004
14. Hồ Lam Hồng(2008), Nghề giáo viên mầm non, Giáo trình, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề giáo viên mầm non
Tác giả: Hồ Lam Hồng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
15. Lê Xuân Hồng (Chủ biên) (2000), Cẩm nang dành cho giáo viên trường mầm non, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang dành cho giáo viên trường mầmnon
Tác giả: Lê Xuân Hồng (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2000
16. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2008), Tâm lý học lức tuối và tâm lý học sư phạm , NXB Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lức tuối vàtâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2008
17. Lê Xuân Hồng (1995), Giao tiếp - Con đường giúp trẻ hình thành nhân cách, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp - Con đường giúp trẻ hình thành nhân cách
Tác giả: Lê Xuân Hồng
Năm: 1995
18. Lê Xuân Hồng (1996), Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi, Luận án Tiến sĩ tâm lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong nhómchơi không cùng độ tuổi
Tác giả: Lê Xuân Hồng
Năm: 1996
19. Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai (2000), Những kỹ năng sư phạm mầm non, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Những kỹ năngsư phạm mầm non
Tác giả: Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
20. Bùi Văn Huệ (Chủ biên) (2004), Nghệ thuật ứng xử sư phạm, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật ứng xử sư phạm
Tác giả: Bùi Văn Huệ (Chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tiêu chí và thang đánh giá KNGTSP của GVMN với trẻ - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.1 Tiêu chí và thang đánh giá KNGTSP của GVMN với trẻ (Trang 49)
Bảng 2.2: Mức độ tự đánh giá của GVMN về vai trò của KNGTSP - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.2 Mức độ tự đánh giá của GVMN về vai trò của KNGTSP (Trang 50)
Bảng 2.3: Mức độ quan tâm rèn luyện KNGTSP của GVMN - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.3 Mức độ quan tâm rèn luyện KNGTSP của GVMN (Trang 51)
Bảng 2.4: Tự đánh giá kỹ năng định hướng giao tiếp của GVMN - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.4 Tự đánh giá kỹ năng định hướng giao tiếp của GVMN (Trang 52)
Bảng 2.5: Tự đánh giá tần suất biểu hiện về kỹ năng ĐHGT của GVMN - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.5 Tự đánh giá tần suất biểu hiện về kỹ năng ĐHGT của GVMN (Trang 53)
Bảng 2.5 cho thấy, về tần suất biểu hiện “thường xuyên” của 2 kỹ năng - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.5 cho thấy, về tần suất biểu hiện “thường xuyên” của 2 kỹ năng (Trang 54)
Bảng 2.8: Tự đánh giá tần suất biểu hiện kỹ năng định vị giao tiếp của GVMN - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.8 Tự đánh giá tần suất biểu hiện kỹ năng định vị giao tiếp của GVMN (Trang 57)
Bảng 2.10: Tự đánh giá kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp của GVMN - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.10 Tự đánh giá kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp của GVMN (Trang 60)
Bảng 2.11: Tự đánh giá tần suất biểu hiện kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp của - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.11 Tự đánh giá tần suất biểu hiện kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp của (Trang 61)
Bảng 2.12: Biểu hiện kỹ năng điều khiển quá trình GT của GVMN (trong giải quyết tình - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.12 Biểu hiện kỹ năng điều khiển quá trình GT của GVMN (trong giải quyết tình (Trang 64)
Bảng 2.13: Đánh giá chung nhận thức của GVMN về KNGTSP - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.13 Đánh giá chung nhận thức của GVMN về KNGTSP (Trang 67)
Bảng 2.14  :Nguyên nhân của thực trạng KNGTSP của GVMN - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.14 :Nguyên nhân của thực trạng KNGTSP của GVMN (Trang 68)
Bảng 2.14 cho ta thấy, vấn đề số lượng trẻ trong lớp quá nhiều cũng là nguyên nhân quan trọng mà 100% GVMN được khảo sát đều gặp phải trong quá trình giao tiếp với trẻ, GVMN đưa ra nguyên nhân là do công việc lao động quá vất - Ky nang giao tiep cua giao vien mam non
Bảng 2.14 cho ta thấy, vấn đề số lượng trẻ trong lớp quá nhiều cũng là nguyên nhân quan trọng mà 100% GVMN được khảo sát đều gặp phải trong quá trình giao tiếp với trẻ, GVMN đưa ra nguyên nhân là do công việc lao động quá vất (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w