1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ HỆ CAO ĐẲNG MỚI (SOẠN THEO THÔNG TƯ 242018)

156 15,5K 136
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 269,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiểu biết và trình bày được nội dung cơ bản về đường lối cách mạng củaĐảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ, nhất là đường lối đổi mới của Đảng trêncác lĩnh vực từ năm 1986 đến nay.b/ K

Trang 1

GIÁO TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

(Hệ cao đẳng)

(Soạn theo Thông tư số 24/2018/TT-BLĐTBXH)

MỤC LỤC BÀI MỞ ĐẦU

4 Phương pháp dạy học và đánh giá môn học 21

Bài 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

2 Các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin 27

3 Vai trò nền tảng tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin 35

Bài 2: KHÁI QUÁT VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh 40

3 Vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam 43

4 Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minhtrong giai đoạn hiện nay

4.1 Sự cần thiết phải học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phongcách Hồ Chí Minh

2.1 Thắng lợi của đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc

Bài 4: ĐẶC TRƯNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

1 Đặc trưng của xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 67

Trang 2

1.1 Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

1.3 Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại

và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp

1.6 Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn

trọng và giúp nhau cùng phát triển

83

1.7 Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân

dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo

86

1.8 Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới 87

2 Phương hướng xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

2.1 Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát

triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường

2.5 Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu

nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

98

2.6 Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết

dân lộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất

99

2.7 Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân

100

2.8 Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh 101

Bài 5: PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA, CON

NGƯỜI Ở VIỆT NAM

1 Nội dung của chủ trương phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, con

người ở Việt Nam hiện nay

Bài 6: TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG AN NINH, MỞ RỘNG

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở NƯỚC TA

HIỆN NAY

Trang 3

2 Quan điểm và những nhiệm vụ chủ yếu của đường lối quốc phòng,

an ninh

119

2.1 Quan điểm của Đảng về đường lối quốc phòng, an ninh

2.2 Những nhiệm vụ chủ yếu của đường lối quốc phòng, an ninh 123

3 Quan điểm và những nhiệm vụ chủ yếu của đường lối đối ngoại

3.1 Quan điểm của Đảng về đường lối đối ngoại 1253.2 Những nhiệm vụ chủ yếu của đường lối đối ngoại 128

Bài 7: XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP

QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

1 Bản chất và đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Việt Nam

131

1.1 Bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.2 Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 133

2 Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa ViệtNam

2.1 Phương hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

137

2.2 Nhiệm vụ và giải pháp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

136

Bài 8: PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT

TOÀN DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG, BẢO VỆ TỔ QUỐC

1 Tầm quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc

139

1.1 Cơ sở lý luận của đường lối, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc

trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.2 Cơ sở thực tiễn của đường lối, chính sách đại đoàn kết toàn dân

tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

142

2 Quan điểm và phương hướng của Đảng về phát huy sức mạnh đại

đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

124

2.1 Quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

146

2.2 Phương hướng và giải pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn

dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bài 9: TU DƯỠNG, RÈN LUYỆN ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI

CÔNG DÂN TỐT, NGƯỜI LAO ĐỘNG TỐT

1 Quan niệm về người công dân tốt, người lao động tốt 1481.1 Người công dân tốt

1.2 Người lao động tốt

2 Nội dung tu dưỡng và rèn luyện để trở thành người công dân tốt,

người lao động tốt

150

Trang 4

2.1 Phát huy truyền thống yêu nước, trung thành với sự nghiệp cáchmạng của nhân dân Việt Nam

2.2 Phấn đấu học tập nâng cao năng lực và rèn luyện phẩm chất cánhân

Trang 5

BÀI MỞ ĐẦU

1 Vị trí, tính chất môn học

V.I.Lênin đã chỉ rõ: người ta có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí tuệ của mình bằng cách không ngừng học tập để thâu thái vào đầu óc của

mình toàn bộ kho tàng tri thức của nhân loại và hiểu biết đó phải dẫn tới cuộc sống

và hành động Hồ chí Minh từng xác định học để hiểu biết, để làm việc, học để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, học để làm người Muốn vậy phải có thói quen đem lý luận liên hệ với thực tiễn, đem những lý luận đã tiếp thu được cùng với những kinh nghiệm đã tích lũy được trong đời sống hàng ngày mà áp dụng vào các công việc thực tế.

Với tinh thần đó, Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến tính thực tế, bất cứ việc gìcũng phải xuất phát từ yêu cầu thực tế, phải thiết thực Muốn đạt được kết quả đó

thì việc học phải xuất phát từ yêu cầu của công việc và phải học cặn kẽ, thấu đáo Người mong muốn việc học - hành, tức là nhận thức - hành động phải đạt tới chỗ thấy cho hết, nhìn cho thấu Vì vậy, theo Người học tập ở trong nhà trường, trong

sách vở chưa đủ, phải học cả trong cuộc sống, học ở người khác… Nội dung họctập cũng phải toàn diện: chương trình học vấn phổ thông, đại học, chuyên mônnghiệp vụ, học tập lý luận Mác-Lênin, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách,

pháp luật của nhà nước…, trong đó, việc học tập lý luận Mác-Lênin, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là một nội dung rất quan trọng.

Ở nước ta, lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được xếp chung vào

hệ thống các môn khoa học xã hội – nhân văn, giữ vị trí chủ đạo về tư tưởng, lýluận và phương pháp luận cho khoa học xã hội – nhân văn đồng thời là cơ sở thếgiới quan và phương pháp luận chung cho mọi hoạt động nghiên cứu khoa học, là

hệ tư tưởng của xã hội thì việc học tập hệ thống lý luận này lại càng cần thiết vàcàng có ý nghĩa hơn

Đề cập đến các môn khoa học Mác – Lênin, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủnghĩa Mác - Lênin không phải là những giáo điều, không phải là kinh thánh mà làkim chỉ nam cho hành động Học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là thuộccâu, thuộc chữ mà nắm lấy tinh thần và toàn bộ phương pháp để ứng xử với conngười và thực hành trong công tác thực tế

Để thấy được rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc học tập lý luận chínhtrị, trước hết cần hiểu thế nào là giáo dục lý luận chính trị? Có thể nói, công tácgiáo dục lý luận chính trị là hoạt động có chủ đích của Đảng Cộng sản nhằm xáclập thế giới quan khoa học trên cơ sở hệ tư tưởng, lập trường của giai cấp côngnhân – đó là Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Giáo dục lý luậnchính trị thực sự tạo thành nền tảng tư tưởng trong đời sống xã hội Do đó, việc

Trang 6

học và nghiên cứu lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên hiện nay thực sự cóvai trò, ý nghĩa rất quan trọng:

Thứ nhất, giúp cho người học có sự hiểu biết sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, toàndiện hơn những tri thức lý luận chính trị - hành chính; từ đó trang bị cho mình vốntri thức khoa học lý luận

Thứ hai, việc học tập, nghiên cứu lý luận chính trị nhằm củng cố niềm tin vàbản lĩnh chính trị, ý thức giai cấp và tinh thần yêu nước cho cán bộ, đảng viên; từ

đó thúc đẩy cán bộ, đảng viên tự giác, tự nguyện, hăng hái hành động, thực hiệnthắng lợi nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra

Thứ ba, việc học tập và nghiên cứu lý luận chính trị nhằm cung cấp cho ngườihọc thế giới quan và phương pháp luận cách mạng và khoa học, từ đó vận dụngvào thực tiễn cuộc sống và công việc, để hoàn thành và hoàn thành xuất sắc côngviệc được giao Hơn hết là xây dựng mỗi quan hệ giữa người với người trên tinhthần tôn trọng, tương trợ và thương yêu lẫn nhau

Thứ tư, đối với quần chúng cách mạng, công tác học tập lý luận chính trị cũngđặc biệt quan trọng V.I.Lênin đã từng nhắc nhở, “Cách mạng xảy ra hay không,xảy ra khi nào và trong những hoàn cảnh nào, điều đó tùy thuộc vào ý chí của giaicấp này hay giai cấp khác; nhưng công tác cách mạng trong quần chúng thì chẳngkhi nào lại vô ích cả Chỉ có công tác ấy mới là hoạt động chuẩn bị cho quần chúngtiến tới thắng lợi của CNXH”1 Lênin cũng đã dạy rằng: Không tiến hành công tácgiáo dục lý luận chính trị thì hoạt động chính trị tất nhiên biến thành trò chơi.Muốn tạo ra sự thay đổi thực tế ấy thì phải làm sao cho quần chúng quan tâm vàtích cực tham gia vào các sự kiện Nhưng quần chúng rất khó có thể đạt được trình

độ tự giác như thế nếu không có sự tác động nào từ phía công tác giáo dục lý luậnchính trị…

Học tập và nghiên cứu lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhthực sự là một công việc khó khăn song rất quan trọng và có ý nghĩa Nó không chỉcung cấp cho chúng ta tri thức khoa học lý luận về xã hội, tự nhiên và con người

mà còn giúp chúng ta nhận thức đúng đắn thế giới quan, phương pháp luật khoahọc về mọi mặt đời sống, về con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đangphấn đấu thực hiện

2.2 Mục tiêu của môn học

a/ Kiến thức:

Trình bày được nội dung cơ bản nhất về thế giới quan và phương pháp luậncủa chủ nghĩa Mác - Lênin; nguồn gốc, nội dung cơ bản và ý nghĩa tư tưởng HồChí Minh;

Trang 7

Hiểu biết và trình bày được nội dung cơ bản về đường lối cách mạng củaĐảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ, nhất là đường lối đổi mới của Đảng trêncác lĩnh vực từ năm 1986 đến nay.

b/ Kỹ năng:

Bước đầu hình thành nhân sinh quan, thế giới quan và phương pháp luận củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng vào học tập, rèn luyện vàcông tác sau này;

Hình thành bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức, phấn đấu trở thành ngườihọc sinh tốt, người công dân tốt

c/ Thái độ:

Củng cố niềm tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn;

Bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu lao động, rèn luyện, đóng góp tích cực vàothắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;

Rèn luyện được tác phong công nghiệp, lề lối làm việc của người lao động tốt,người kỹ thuật viên tốt

2.3 Nội dung chính

Giáo dục chính trị tại là giáo dục cho các tầng lớp thanh thiếu niên và các tầng

lớp khác trong xã hội về chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Giáo dục chính trị được áp dụng ở tất cả các cấp học tại Việt Nam, dưới cáchình thức: môn học Giáo dục Công dân (từ các cấp tiểu học lên đến cấp trung họcphổ thông), môn chủ nghĩa Marx-Lenin, môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa

Xã hội khoa học, Lịch sử Đảng, Triết học, tại tất cả các trường Đại học

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng: sinh viên tất cảcác trường đại học phải học 4 môn học lý luận chính trị bắt buộc gồm:

+ Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh

+ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

+ Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thời lượng dạy - học các môn Lý luận chính trị là 10 tín chỉ (15 đơn vị họctrình)

""Giảng dạy, học tập tốt bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối cách mạng của Đảng trong hệ thống các trường Đại học, Cao

Trang 8

đẳng là hết sức cần thiết, quan trọng, để cung cấp cho học sinh sinh viên nhữngkiến thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối

cách mạng của Đảng, xây dựng cho sinh viên thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, niềm tin vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.""[1]

Giáo dục chính trị là một trong các công cụ, biện pháp của Đảng Cộng sảnViệt Nam để thay đổi tư duy các tầng lớp nhân dân [cần dẫn nguồn], định hướng vàthuyết phục họ đi theo con đường chủ nghĩa xã hội [cần dẫn nguồn], và bồi dưỡng nhữngkiến thức về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Marx Lenin, và Tư tưởng Hồ Chí Minh

2.4 Phương pháp dạy học và đánh giá môn học

+ Đối với giảng viên: Giảng viên là nhân tố quyết định thành công của đổimới, nhưng giảng viên phải có tâm huyết, luôn luôn tìm tòi, khám phá cách dạycho hiệu quả Giảng viên phải không ngừng học tập, tự nghiên cứu để nâng caotrình độ chuyên môn

+ Đối với sinh viên: Sinh viên phải xác định được động cơ, mục đích học tậpthật đúng đắn, tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm với kết quả học tập củamình và kết quả chung của lớp, biết tự học và tranh thủ học ở mọi lúc, mọi nơi + Các phương tiện, thiết bị dạy và học: hiện đại, sỉ số lớp học vừa phải (từ 80– 120 SV), không quá đông như hiện nay

+ Việc kiểm tra, đánh giá: phải đảm bảo tích cực, trung thực, phải chuyểnbiến mạnh mẽ theo hướng phát triển trí thức thông minh, sáng tạo cho sinh viên Tại Hội thảo này, các tác giả cũng nhắc đến vai trò quản lý, đào tạo nhằm đàotạo ra một con người có nhân cách, có tri thức, sức khỏe, đào tạo ra con người “vừahồng”, “vừa chuyên” Muốn vậy, việc đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, họctập các môn lý luận chính trị được xem là một trong những hoạt động cần thiết,giúp hệ thống giáo dục đào tạo đại học, cao đẳng tăng cường trách nhiệm xã hội,gắn nội dung đào tạo của mình với nhu cầu hỗ trợ phát triển của đất nước trongtừng giai đoạn

Hiện nay, trường Đại học Tôn Đức Thắng đã và đang triển khai thực hiệnchương trình rèn luyện đạo đức trong sinh viên với 3 nội dung:

1 Giáo dục thái độ chủ động học tập, coi học tập là nhiệm vụ hàng đầu

2 Rèn luyện ý thức, tính kỷ luật, tự giác chấp hành mọi qui định, nội quy củanhà trường

3 Giáo dục cho sinh viên tính tập thể, tính cộng đồng, đặt lợi ích tập thể trênlợi ích cá nhân

Trang 9

Để thực hiện được chương trình này đòi hỏi sự phấn đấu, nỗ lực, cố gắngđóng góp của tập thể cán bộCNV và sinh viên của Nhà trường, đặc biệt là đónggóp cho hoạt động giảng dạy và học tập các môn Lý luận chính trị trong nhàtrường Điều này nói lên rằng sự quan tâm rất lớn của lãnh đạo nhà trường đối vớiviệc dạy và học các môn Lý luận chính trị hiện nay

Tổng kết hội thảo, TS Thái Hữu Tuấn - Phó Hiệu Trưởng Trường ĐH TônĐức Thắng, Trưởng Khoa KHXH&NV với tư cách là Chủ tịch Hội đồng Hội thảo

đã đúc kết và đi đến kết luận: Hội thảo thật sự mang lại nhiều giá trị đích thực, đạtđược tính thực tiễn và có thể ứng dụng vào ngay trong thực tế giáo dục, đào tạocủa trường nhằm nâng cao được chất lượng dạy và học Hội thảo đã góp phầnkhẳng định xu hướng phát triển của xã hội, cũng như nâng cao chất lượng giảngdạy và học tập Không những vậy, hội thảo còn là dịp để đội ngũ cán bộ giảng dạy

và cán bộ quản lý có cơ hội gặp gỡ, trao đổi học thuật, đối thoại giải đáp các tâm

tư, đề xuất các giải pháp, nhằm rút ra tiếng nói chung, phương pháp chung trongquá trình hoạt động giảng dạy Đây là một tập hợp các ý kiến tham khảo hữu íchcho những nhà nghiên cứu, những nhà quản lý giáo dục và quý thầy cô đang giảng

Bài 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

1 Khái niệm chủ nghĩa Mác - Lênin

Chủ nghĩa Marx-Lenin là thuật ngữ chính trị để chỉ học thuyết do Karl

Marx và Friedrich Engels sáng lập và được Vladimir Ilyich Lenin phát triển, đượccoi là ý thức hệ chính thức của Liên Xô từ giữa thập niên 1920 Thuật ngữ chính

trị này được Iosif Vissarionovich Stalin định nghĩa là "học thuyết do Karl Marx và Friedrich Engels sáng lập và được Vladimir Ilyich Lenin phát triển trong mối quan hệ đấu tranh giai cấp giữa thời đại Chủ nghĩa đế quốc và các cuộc cách mạng của giai cấp vô sản".[1]

Theo quan điểm của các đảng cộng sản, Chủ nghĩa Marx-Lenin là thế giớiquan, hệ tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống

nhất Đức định nghĩa chủ nghĩa Marx-Lenin: "Được gây dựng nên bởi Marx và Engels và tiếp tục được phát triển bởi Lenin, đó không chỉ là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân, mà nó còn liên tục được làm phong phú bởi phong trào cộng sản quốc tế, trên cơ sở kinh nghiệm xây dựng và thực tiễn của các cuộc đấu tranh giải phóng cách mạng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa."[2]

Chủ nghĩa Marx-Lenin là cụm từ thường để chỉ cho lý thuyết chính trị kết hợp

có tính chọn lọc ghép các lý thuyết của Marx và lý thuyết của Lenin, chứ khôngphải nghiên cứu riêng rẽ hay sự tổng hợp kết hợp tất cả các lý thuyết của hai ông,

và thường hay được một số nhà nghiên cứu cho là do Stalin đặt ra Thuật ngữ chủnghĩa Marx - Lenin đã được sử dụng bởi các đảng cộng sản chịu ảnh hưởng củaĐảng Cộng sản Liên Xô

Trang 10

Chủ nghĩa Marx - Lenin là nhánh chính của chủ nghĩa cộng sản, ngoài ra còn

có các nhánh khác như Dân chủ xã hội, chủ nghĩa Mao, Chủ nghĩa cộng sản vôchính phủ, chủ nghĩa Trotsky, Tuy có khác nhau về biện pháp để đi lên chủ nghĩacộng sản (trừ những người dân chủ xã hội), nhưng mục tiêu chung thì không có gìkhác nhau

2 Các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin

Triết học Marx-Lenin hình thành dựa trên hệ thống quan điểm của Marx,Engels và được Lenin bổ sung sau này Trong đó Engels đã phát triển triết họcMarx, thông qua việc khái quát các thành tựu khoa học và phê phán các lý thuyếttriết học duy tâm, siêu hình và cả những quan niệm duy vật tầm thường ở nhữngngười muốn trở thành những người Mác-xít Với những tác phẩm chủ yếu của

mình như: Chống Duyring, Biện chứng của tự nhiên, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước, Lut vich Phoi bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Engels đã trình bày học thuyết Mác nói chung và triết học Mác nói riêng

dưới dạng một hệ thống lý luận Ngoài ra những ý kiến bổ sung, giải thích của

Engels sau khi Mác qua đời đối với một số luận điểm của ông trước đây cũng có ýnghĩa rất quan trọng trong việc phát triển học thuyết Mác.[1]

Triết học Marx-Lenin là một trong ba bộ phận cấu thành của Chủnghĩa Mác – Lenin; đầu tiên là Triết học Mác, do Mác và Enghen sáng lập ra, đượcLenin và các nhà mácxít khác phát triển thêm Triết học Mác ra đời vào những năm

40 thế kỉ 19 và được phát triển gắn chặt với những thành tựu khoa học và thực tiễntrong phong trào cách mạng công nhân Sự ra đời của Triết học Mác là một cuộccách mạng thực sự trong lịch sử tư tưởng loài người, trong lịch sử triết học Nhưngcuộc cách mạng ấy bao hàm tính kế thừa, tiếp thu tất cả những nhân tố tiên tiến vàtiến bộ mà lịch sử tư tưởng loài người đã để lại

Triết học Mác là triết học duy vật Nhưng các nhà sáng lập của triết học đókhông dừng lại ở chủ nghĩa duy vật của thế kỉ 18 mà những thiếu sót chủ yếu nhấtcủa nó là máy móc, siêu hình và duy tâm khi xem xét các hiện tượng xã hội Cácông đã khắc phục những thiếu sót ấy, đưa triết học tiến lên một bước phát triển mới

Trang 11

bằng cách tiếp thu một cách có phê phán những thành quả của triết học cổ điểnĐức, nhất là phép biện chứng trong hệ thống triết học của Hegel Tuy nhiên, phépbiện chứng của Hegel là phép biện chứng duy tâm, vì vậy, các nhà sáng lập Triếthọc Mác đã cải tạo nó, đặt nó trên lập trường duy vật Chính trong quá trình cải tạophép biện chứng duy tâm của Hegel và phát triển tiếp tục chủ nghĩa duy vật cũ,trên cơ sở khái quát hoá những thành tựu của khoa học tự nhiên và thực tiễn chođến giữa thế kỉ 19, Mác và Enghen đã tạo ra triết học của mình.

Triết học ấy sau này đã được Lenin phát triển thêm và trở thành Triết họcMác - Lenin Triết học Mác - Lenin là triết học duy vật biện chứng triệt để Lenin

hy vọng khắc phục được những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật trước Mác TrongTriết học Mác - Lenin, các quan điểm duy vật về tự nhiên và về xã hội, các nguyên

lý của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng gắn bó hết sức chặt chẽ với nhauthành một hệ thống lý luận thống nhất

Nội dung cơ bản của lý luận đó gồm:

- Thứ nhất, đó là các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật đã được giải thích một

cách biện chứng Theo các nguyên lý này, "Trong thế giới không có gì khác ngoài vật chất đang vận động, và vật chất đang vận động không thể vận động như thế nào khác ngoài vận động trong không gian và thời gian" Còn ý thức chỉ là sản

phẩm của bộ óc con người và là sự phản ánh tự giác, tích cực các sự vật, hiệntượng và quá trình hiện thực của thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan của thếgiới khách quan

Như vậy trong quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất là cái thứ nhất, cáiquyết định và tồn tại độc lập với ý thức, còn ý thức là cái thứ hai, cái có sau Tuynhiên khác với chủ nghĩa duy vật trước Mác, Triết học Mác - Lenin, một mặtkhẳng định sự phụ thuộc vào vật chất, coi ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất,mặt khác lại thừa nhận tác dụng tích cực trở lại của ý thức đối với vật chất Thôngqua hoạt động của con người, ý thức có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triểncủa thế giới vật chất ấy

- Thứ hai, các nguyên lý của phép biện chứng trong hệ thống triết học Hegel

đã được cải tạo và xây dựng lại trên lập trường duy vật Theo các nguyên lý đó:+ Theo định nghĩa của Lenin, vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉthực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giáccủa con người chép lại, chụp lại, phản ánh và nó tồn tại không lệ thuộc vào cảmgiác Mỗi kết cấu vật chất có muôn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật, hiệntượng, quá trình khác của hiện thực.[2][3]

+ Tất cả các sự vật cũng như sự phản ánh của chúng trong óc con người đều ởtrong trạng thái biến đổi phát triển không ngừng Nguồn gốc của sự phát triển đó là

Trang 12

sự đấu tranh giữa các mặt đối lập ở ngay trong lòng sự vật Phương thức của sựphát triển đó là sự chuyển hoá những biến đổi về lượng thành những biến đổi vềchất và ngược lại Còn chiều hướng của sự phát triển này là sự vận động tiến lêntheo đường xoáy trôn ốc chứ không phải theo đường thẳng.

Nội dung của hai nguyên lý trên đây được thể hiện trong 3 quy luật cơ bản

của phép biện chứng duy vật (quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; quy luật về sự chuyển hoá những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất và ngược lại; quy luật phủ định cái phủ định) và trong hàng loạt quy luật về mối quan hệ qua lại biện chứng giữa cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực, v.v

+ Triết học Mác - Lenin còn bao gồm lý luận nhận thức và chủ nghĩa duy vậtlịch sử Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người, nhưng đó khôngphải là sự phản ánh đơn giản, trực tiếp, hoàn toàn, mà là một quá trình nhờ đó tưduy mãi mãi và không ngừng tiến đến gần khách thể Sự tiến đến gần đó diễn ra

theo con đường mà Lenin đã tổng kết: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan" Cơ sở, động lực và mục

đích của toàn bộ quá trình này là thực tiễn Thực tiễn cũng đồng thời là tiêu chuẩncủa chân lý

Triết học Mác - Lenin không chỉ dừng lại ở những quan điểm duy vật biệnchứng về tự nhiên mà còn mở rộng những quan điểm đó vào việc nhận thức xã hội

và nhờ đó thế giới quan duy vật biện chứng trở thành toàn diện và triệt để Ápdụng và mở rộng quan điểm duy vật biện chứng vào nghiên cứu xã hội, Mác đãđưa ra được quan niệm duy vật về lịch sử, chỉ ra con đường nghiên cứu những quyluật của sự phát triển xã hội, sự phát triển đó, cũng như sự phát triển của tự nhiên,không phải do ý muốn chủ quan mà do những quy luật khách quan quyết định Sự

ra đời của Triết học Mác - Lenin đã đặt cơ sở cho việc nghiên cứu lịch sử và đờisống xã hội thực sự có tính chất khoa học

+ Theo Mác: "Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ.".[4] Tồn tại xã hội của con người trước hết là phương thức sảnxuất của cải vật chất xã hội Đó là nhân tố, xét đến cùng, quyết định toàn bộ đờisống của xã hội, quyết định sự phát triển của xã hội Ý thức xã hội không có gìkhác hơn là sự phản ánh tồn tại xã hội Trong khi khẳng định nguyên lý tồn tại xãhội quyết định ý thức xã hội, Triết học Mác - Lenin cũng thừa nhận tính độc lập

Trang 13

tương đối trong sự phát triển của ý thức xã hội và vai trò tích cực của tư tưởng, lýluận tiên tiến trong sự phát triển của xã hội.

Với những quan điểm triết học nêu trên, khi nghiên cứu Kinh tế Chính trị họcMarx nhận thấy trong quá trình sản xuất xã hội, con người có những quan hệ nhấtđịnh, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ - tức là những quan hệ sản xuất,những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượngsản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấukinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó xây dựng lên một cấu trúcthượng tầng pháp lý và chính trị, và tương ứng với cơ sở thực tại đó là những hìnhthái ý thức xã hội nhất định

Tới một giai đoạn phát triển nhất định, các lực lượng sản xuất vật chất của xãhội sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, mà trong đó từ trước đến nay các lựclượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lựclượng sản xuất, những quan hệ ấy đã trở thành những xiềng xích của lực lượng sảnxuất Mâu thuẫn này được giải quyết khi có một quan hệ sản xuất mới, tiến bộ, phùhợp với lực lượng sản xuất đã lớn mạnh Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả cái cấutrúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng

Mác - Lenin cũng chỉ rõ vai trò của quần chúng nhân dân trong sự phát triểncủa lịch sử Quan niệm đó đã dẫn đến chỗ khẳng định vai trò lịch sử thế giới củagiai cấp công nhân hiện đại trong cuộc đấu tranh giải phóng loài người, trong việcxây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa Mác - Lenin cũng đã chứng minhviệc xây dựng xã hội cộng sản là tất yếu Mác - Lenin nghiên cứu xã hội với tínhcách là một thể thống nhất, hoàn chỉnh và vạch ra những quy luật chung và nhữngđộng lực của sự phát triển xã hội Nó chỉ ra vị trí và vai trò của mỗi mặt đời sống

xã hội trong hệ thống xã hội nói chung, vạch ra những nét cơ bản của các giai đoạnphát triển xã hội loài người

Các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật đã được giải thích một cách biện chứng.Theo các nguyên lý này, đã giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Theo Ph.Ăng-ghen thì: Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại

Theo đó "trong thế giới không có gì khác ngoài vật chất đang vận động, vàvật chất đang vận động không thể vận động như thế nào khác ngoài vận động trongkhông gian và thời gian" Còn ý thức chỉ là sản phẩm của bộ óc con người và là sựphản ánh tự giác, tích cực các sự vật, hiện tượng và quá trình hiện thực của thế giớivật chất, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Như vậy trong quan hệgiữa vật chất và ý thức, vật chất là cái thứ nhất, cái quyết định và tồn tại độc lậpvới ý thức, còn ý thức là cái thứ hai, cái có sau Tuy vậy, ý thức có thể đẩy nhanhhoặc kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất ấy

Trang 14

Các nguyên lý của phép biện chứng trong hệ thống triết học Hegel đã đượccải tạo và xây dựng lại trên lập trường duy vật Theo các nguyên lý đó:

Mỗi kết cấu vật chất có muôn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật, hiệntượng, quá trình khác của hiện thực Trong hàng loạt quy luật về mối quan hệ qualại biện chứng giữa cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên vàngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực.Tất cả các sự vật cũng như sự phản ánh của chúng trong óc con người đều ởtrong trạng thái biến đổi phát triển không ngừng nguồn gốc của sự phát triển đó là

sự đấu tranh giữa các mặt đối lập ở ngay trong lòng sự vật Phương thức của sựphát triển đó là sự chuyển hoá những biến đổi về lượng thành những biến đổi vềchất và ngược lại Còn chiều hướng của sự phát triển này là sự vận động tiến lêntheo đường xoáy trôn ốc chứ không phải theo đường thẳng Nội dung của hainguyên lý trên đây được thể hiện trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duyvật (quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật về sự chuyểnhoá những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất và ngược lại, quy luậtphủ định cái phủ định)

Lý luận nhận thức và chủ nghĩa

duy vật lịch sử Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người, nhưng

đó không phải là sự phản ánh đơn giản, trực tiếp, hoàn toàn, mà là một quá trìnhnhờ đó tư duy mãi mãi và không ngừng tiến đến gần khách thể

Triết học Mác-Lenin ra đời và hoàn chỉnh đã góp phần quan trọng trong nhậnthức và đấu tranh của giai cấp công nhân, các tầng lớp vô sản Các Mác đã phát

biểu rằng: Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình[6]

Tinh thần cách mạng của triết học Mác-Lenin được Các Mác phát biểu

rằng: Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, vấn

đề là cải tạo thế giới[7]

2.2 Kinh tế chính trị Mác – Lênin

Kinh tế chính trị Marx-Lenin hay kinh tế chính trị học Marx-Lenin là

một lý thuyết kinh tế và là môn khoa học về kinh tế chính trị do Marx, Engels vàsau này là Lenin phát triển trong giai đoạn mới, có đối tượng nghiên cứu là phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những quan hệ sản xuất và trao đổi thích ứng vớiphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Qua đó vạch rõ bản chất, hiện tượng củacác quá trình kinh tế để có cơ sở giải quyết các mối quan hệ liên quan đến họcthuyết của chủ nghĩa Mác - Lenin Cốt lõi của kinh tế chính trị Mác - Lenin là họcthuyết giá trị thặng dư của Các Mác

Trang 15

Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lenin là quan hệ sảnxuất trong sự tác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượngtầng nhằm tìm ra bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế, phát hiện ra cácphạm trù, quy luật kinh tế ở các giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loàingười.

Về chức năng của kinh tế chính trị Mác-Lê nin, mục đích của Marx và ghen khi nghiên cứu, sáng tạo ra kinh tế chính trị này nhằm các mục đích sau (đâycũng là chức năng của kinh tế chính trị học Marx - Lenin)

ĂngChức năng nhận thức: ĂngChức năng này thể hiện ở chỗ kinh tế chính trị Mác

-Lenin cần phải phát hiện bản chất của các hiện tượng, quá trình kinh tế của đờisống xã hội, tìm ra các quy luật chi phối sự vận động của chúng, giúp con ngườivận dụng các quy luật kinh tế một cách có ý thức vào hoạt động kinh tế nhằm đạthiệu quả kinh tế, xã hội cao

Chức năng thực tiễn: Là chức năng nhận thức để phục vụ cho hoạt động

thực tiễn có hiệu quả Chức năng thực tiễn có quan hệ với chức năng nhận thức, ởchỗ từ việc nghiên cứu các hiện tượng và các quá trình kinh tế của đời sống xã hội,phát hiện ra bản chất, các quy luật chi phối và cơ chế hoạt động của các quy luật từ

đó kinh tế chính trị cung cấp những luận cứ khoa học để hoạch định đường lối,chính sách và biện pháp kinh tế Đường lối, chính sách và các biện pháp kinh tếdựa trên những luận cứ khoa học đúng đắn đã nhận thức được sẽ đi vào cuộc sốnglàm cho hoạt động kinh tế có hiệu quả cao hơn nhiều

Chức năng phương pháp luận: Kinh tế chính trị là nền tảng lý luận cho một

tổ hợp các khoa học kinh tế Những kết luận của kinh tế chính trị biểu hiện ở cácphạm trù và quy luật kinh tế có tính chất chung là cơ sở lý luận của các môn kinh

tế chuyên ngành và các môn kinh tế chức năng, nó là cơ sở lý luận cho một sốmôn khoa họckhác

Chức năng tư tưởng: Kinh tế chính trị Mác - Lenin là cơ sở khoa học cho sự

hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và tuyên truyền cho đấu tranh giai cấpcủa tầng lấp công nhân và nhân dân lao động để xây dựng chủ nghĩa cộng sản

Để xây dựng nên một lý thuyết kinh tế chính trị đặc trưng cho chủ nghĩa Mác,Các Mác và Ăng ghen đã nghiên cứu, kế thừa nhiều lý thuyết về kinh tế học trước

đó như các trường phái chủ nghĩa trọng nông (đề cao nông nghiệp), chủ nghĩatrọng thương (đề cao vấn đề thương mại, mua bán, trao đổi ) và chịu ảnh hưởngcủa kinh tế học cổ điển Anh với các đại biểu như Adam Smith, DavidRicardo hay William Petty

Trên cơ sở đó, Mác và Engels đã làm cuộc cách mạng sâu sắc trong kinh tếchính trị trên tất cả các phương diện về đối tượng và phương pháp nghiên cứu, nội

Trang 16

dung, tính chất giai cấp của kinh tế chính trị Kinh tế chính trị Mác Lenin là sựthống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng, dựa vào phép biện chứng duy vật

và đứng trên lập trường của giai cấp công nhân để xem xét các hiện tượng và quátrình kinh tế của xã hội tư bản Họ đã thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại trong kinh

tế chính trị học Kinh tế chính trị Mác - Lenin là lý luận sắc bén của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tưbản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản

Kinh tế chính trị của Mác và Ăng-ghen xây dựng có khác so với các lý thuyếttrước đó ở chỗ các học thuyết, lý thuyết trước Mác và Ăng-ghen chủ yếu tập trungnghiên cứu sâu về vấn đề kinh tế, các quan hệ kinh tế đơn thuần và tập trung chomục đích kinh tế và hoạt động kinh tế, hay hiệu quả kinh tế, các phương pháp kinhdoanh trong khi đó lý thuyết của Mác và Ăng-ghen thì gắn chặt kinh tế với chínhtrị dùng kinh tế để giải thích chính trị, vạch ra các bản chất của chính trị-xã hội(theo tư duy của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử)

Tư bản cuốn sách chứa đựng nội dung của kinh tế chính trị Mác - Lê nin

Kinh tế chính trị Mác-Lê nin tập trung nghiên cứu, mổ xẻ các quan hệ kinh tếtrong lòng xã hội tư bản và nghiên cứu sâu về các quy luật của nền sản xuất này, cụthể là

Đề cập về hàng hóa, sản xuất hàng hóa và các quy luật kinh tế của sản xuấthàng hóa (trong chủ nghĩa Tư bản)

Tập trung mổ xẻ quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản mà cốt lõi làviệc sản xuất giá trị thặng dư

Phân tích sự vận động của tư bản cá biệt và tái sản xuất tư bản xã hội

Xem xét các hình thái tư bản và các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dưNghiên cứu về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhànước (phần này do Lenin có công đóng góp rất lớn)

Từ những nội dung cơ bản mà Mác và Ăng-ghen đã xây dựng nên một hệthống những phạm trù có liên quan một cách đồ sộ như: tái sản xuất xãhội, phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất, tư bản lưu động, tư bản cố định, tưbản bất biến, tư bản khả biến, giá trị, giá trị sử dụng, hàng hóa sức lao động, sứclao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động, tư liệu sản xuất

Một số phát hiện quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Các Marx và Ăng ghen đã đầu tư công sức tập trung nghiên cứu các quy luậtkinh tế của chủ nghĩa Tư bản và có những phát hiện quan trọng làm nền tảng cho

lý luận khoa học của hai ông

Trang 17

Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hóa

Mâu thuẫn giữa thuộc tính giá trị và giá trị sử dung của hàng hóa là hàng hóakhông đồng nhất về chất nhưng lại đồng nhất về chất Giá trị và giá trị sử dụngcùng tồn tại trong bản thân hàng khóa nhưng lại tách rời về mặt không gian và thờigian Cụ thể là

Nếu xét ở góc độ là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồng nhất về chất.Nhưng ngược lại, với tư cách là giá trị thì các hàng hóa lại đồng nhất về chất, đều

là sự kết tinh của lao động tức đều là sự kết tinh của lao động, hay là lao động đãđược vật hoá

Tuy giá trị sử dụng và giá trị cùng tồn tại trong một hàng hóa, nhưng quá trình

thực hiện chúng lại tách rời nhau về cả mặt không gian và thời gian: giá trị được thực hiện trước trong lĩnh vực lưu thông, còn giá trị sử dụng được thực hiện sau trong lĩnh vực tiêu dùng.

Và từ phát hiện này, Các Mác tiếp tục có phát hiện quan trọng thứ hai có liênquan

Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa

Lao động của người sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt một mặt nó vừamang tính chất cụ thể (lao động cụ thể) mặt khác nó lại vừa mang tính chất trừutượng (lao động trừu tượng) Và chính cái mà người công nhân, người lao động bịbóc lột là cái lao động trừu tượng của họ chứ không phải là lao động cụ thể, nhữngviệc làm cụ thể, thời gian cụ thể và chính vì tính trừu tượng như vậy nên khó nhận

ra sự bóc lột, đặc biệt là sự bóc lột tinh vi

Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa phản ảnh tính chất tư nhân

và tính chất xã hội của lao động của người sản xuất hàng hóa

Công thức chung của tư bản[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Các Mác thì tiền trong lưu thông hàng hóa giản đơn vận động theo công

thức: H - T - H (Hàng - Tiền - Hàng) còn tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thì theo công thức: T - H - T’ (Tiền - Hàng - Tiền').

Ông đã so sánh hai công thức này và phá hiện điểm khác cơ bản là lưu thông

hàng hóa giản đơn bắt đầu bằng hành vi bán (H - T tức là Hàng - Tiền) và kết thúc bằng hành vi mua (T - H tức là Tiền - Hàng), ngoài ra điểm xuất phát và điểm kết

thúc đều là hàng hóa, tiền chỉ đóng vai trò trung gian, mục đích là giá trị sử dụng

Trong khi đó, lưu thông của tư bản bắt đầu bằng hành vi mua (T - H tức Tiền

- Hàng) và kết thúc bằng hành vi bán (H - T’ tức Hàng - Tiền'), ở sơ đồ này, tiền

vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc, còn hàng hóa chỉ đóng vai trò trunggian Mục đích của lưu thông tư bản là giá trị, và giá trị lớn hơn

Trang 18

Như vậy thì tư bản phải vận động theo công thức T-H-T’ để có giá trị mới T' (tức là Tiền sau một vòng lưu thông sẽ được tính bằng công thức: T’ = T + ΔTT,

trong đó: ‘T là số tiền trội hơn (giá trị lớn hơn) được gọi là giá trị thặng dư (Các

Mác ký hiệu nó bằng m) Còn số tiền ứng ra ban đầu (Tiền ban đầu dùng để mua

hàng ở đầu chu trình lưu thông này) với mục đích thu được giá trị thặng dư trởthành tư bản và tiền chỉ biến thành tư bản khi được dùng để mang lại giá trị thặng

dư cho nhà tư bản

Tóm lại, công thức chung của chủ nghĩa tư bản là:

T – H – T’ với T’ = T + m

Mâu thuẫn trong công thức chung[sửa | sửa mã nguồn]

Các Mác cũng đã phát hiện được mâu thuẫn trong công thức chung này đó làgiá trị thặng dư vừa không được sinh ra trong quá trình lưu thông nhưng lại đượcsinh ra trong quá trình lưu thông

Cụ thể, trong công thức chung của chủ nghĩa tư bản chỉ có 2 nhân tố là Hàng(H) và Tiền (T) và quá trình lưu thông thì cũng là sự sắp xếp theo trật tự khác nhaucủa 2 nhân tố này và không có một sự tác động nào bên ngoài hay có một tham sốkhác trong công thức này nhưng vẫn phát sinh ra nhân tố mới là T' tức là số tiềntrội hơn (‘T) hay giá trị thặng dư (m)

Nếu xét đơn thuần bề ngoài thì giá trị thặng dư có vẻ được sinh ra trong lưuthông vì phát sinh không ngoài công thức này (với hai đại lượng cơ bản là Hàng vàTiền) Tuy nhiên, nếu mua - bán ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giátrị từ tiền thành hàng hoặc từ hàng thành tiền Còn tổng số giá trị trong tay mỗingười tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi

Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, hàng hóa có thể bán cao hơnhoặc thấp hơn giá trị thực của nói nhưng cũng chưa thể kết luận là có giá trị mới vìtrong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất đều vừa là người bán, vừa là ngườimua (tính chung tổng thể) Cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ bù lại cái thiệt khimua hoặc ngược lại Trong trường hợp có những kẻ chuyên mua rẻ, mua may, bánđắt hay lừa lọc, ép giá, nói thách, nói xạo để được lợi thì chính bản thân người thựchiện hành vi đó được lợi nhưng tổng giá trị toàn xã hội cũng không hề tăng lên, bởi

vì số giá trị mà những người này thu được chẳng qua chỉ là sự ăn chặn, đánh cắp sốgiá trị của người khác Điều này cũng tương tự như việc lưu thông tiền tệ trongsòng bài, chiếu bạc có người thắng, người thua nhưng quan trọng là người thắngthì lấy tiền từ kẻ thua (tiền chuyển từ tay người này qua tay người kia) chứ khôngsinh lợi thêm như nhiều người vẫn vọng tưởng

Như vậy lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông không hề tạo ra giá trịhay giá trị mới Nhưng mặt khác, nếu người có tiền không tiếp xúc gì với lưu

Trang 19

thông, tức là đứng ngoài lưu thông (ví dụ như đem chôn, cất, dấu, tích trữ, tàng trữ,không đầu tư gì cả ) thì cũng không thể làm cho tiền của mình tăng thêm lênđược (sẽ không có hiện tượng lãi mẹ đẻ lãi con).

Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Chính Các Mác là ngườiđầu tiên phân tích và giải quyết mâu thuẫn đó bằng một phát hiện tiếp theo đó

là hàng hóa sức lao động.

Hàng hóa sức lao động

Để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản thì hướng giải quyết

là cần tìm trên thị trường một loại hàng hóa mà việc sử dụng nó có thể tạo ra được giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó, loại hàng hóa đặc biệt này chính là hàng

hóa sức lao động Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra một lượng giá trịmới lớn hơn giá trị của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động làgiá trị thặng dư Đây được coi là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng của hànghóa sức lao động và đặc điểm này là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong côngthức chung của tư bản

Sức lao động theo kinh tế chính trị Mác Lê nin là toàn bộ những năng lực (thểlực và trí lực) tồn tại trong một con người và được người đó sử dụng vào sản xuất,

nó là cái có trước, còn lao động là cái có sau và chính là quá trình sử dụng sức laođộng

Theo chủ nghĩa Mác Lê nin thì rong mọi xã hội, sức lao động là yếu tố củasản xuất, nhưng sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện:

Người lao động phải được tự do về thân thể, có quyền sở hữu sức lao độngcủa mình và chỉ bán sức lao động ấy trong một thời gian nhất định

Người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình đứng ra tổ chứcsản xuất nên muốn sống chỉ còn cách bán sức lao động cho người khác sử dụng.Thông qua hàng hóa sức lao động này mà tạo ra sự chuyển hóa trong lưuthông, tạo ra giá trị mới, theo đó công thức T - H - T' có thể được hiểu là: T là tưbản, là số tiền đầu tư ban đầu, trong đó một phần sẽ đầu tư vào để mua máy móc,nhà xưởng, một phần mua nguyên liệu và một phần thuê nhân công, H chính làhàng hóa sức lao động, thông qua sức lao động của con người sẽ tác động vào máymóc, vật liệu để tạo nên những H (hàng hóa) có giá trị cao hơn so với giá trị banđầu và nhà tư bản chỉ việc chiếm đoạt H này và bản để thu về T' (giá trị mới caohơn và đã bao hàm trong đó là giá trị thặng dư) Và cụ thể việc sử dụng hàng hóasức lao động này như thế nào để phát sinh giá trị thặng dư thì Các Mác tiếp tục cóphát hiện tiếp theo là bóc trần quy trình sản xuất giá trị thặng dư

Trang 20

Sản xuất giá trị thặng dư

Nhà tư bản sẽ ứng trước ra một số tiền mua tư liệu sản xuất và sức lao động là

để tạo ra giá trị thặng dư Quá trình tạo ra giá trị thặng dư được Các Mác phân tíchrất kỹ lưỡng qua bài toán kéo sợi giả dụ của ông ta

Để chế tạo ra 01 kg sợi, nhà tư bản phải ứng ra số tiền gồm:

20.000 đơn vị tiền tệ để mua 1 kg bông

3.000 đơn vị tiền tệ cho hao phí máy móc

5.000 đơn vị tiền tệ để mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móctrong 01 ngày (10 giờ)

Tổng cộng: 28.000 đơn vị tiền tệ

Giả định việc mua này đúng giá trị và mỗi giờ lao động của công nhân tạo ragiá trị mới kết tinh vào sản phẩm là 1.000 đơn vị

Trong quá trình sản xuất, bằng lao động cụ thể, công nhân sử dụng máy móc

để chuyển 1 kg bông thành 1 kg sợi, theo đó giá trị của bông và hao mòn máy móccũng được chuyển vào sợi Tỷ dụ chỉ trong 5 giờ công nhân đã kéo xong 1 kg bôngthành 1 kg sợi, thì giá trị 1 kg sợi được tính theo các khoản chi phí như sau:

Giá trị 1 kg bông chuyển vào = 20.000 đơn vị

Hao mòn máy móc = 3.000 đơn vị

Giá trị mới tạo ra: 5 giờ X 1.000 đơn vị = 5.000 đơn vị

Tổng cộng = 28.000 đơn vị tiền tệ

Nếu quá trình lao động ngừng ở đây thì nhà tư bản chưa có được giá trị thặng

dư vì nếu bán hàng hóa đi thì chi phí này bằng với chi phí ban đầu đã bỏ ra và chỉhuề vốn

Thời gian lao động (5 giờ) mà người công nhân tạo ra một lượng giá trị ngang

với giá trị sức lao động của mình gọi là thời gian lao động tất yếu tương tự, lao động trong khoảng thời gian ấy gọi là lao động tất yếu.

Tuy nhiên, nhà tư bản đã mua sức lao động trong 1 ngày với 10 giờ, chứ

không phải 5 giờ Như vậy, trong 5 giờ lao động tiếp theo, nhà tư bản chỉ phải chi thêm 20.000 đơn vị để mua 1 kg bông và 3.000 đơn vị hao mòn máy móc mà

không phải chi thêm tiền công mướn lao động nữa Và với 5 giờ lao động sau,người công nhân vẫn tạo ra 5.000 đơn vị giá trị mới (mà không được chi thêmđồng nào theo đợt thứ 2 này) và nhà tư bản lại có thêm 1 kg sợi bán đi với giá trị28.000 đơn vị

Trang 21

Và bảng giá tính tiền vẫn giống như ban đầu gồm chi phí nguyên liệu: 20.000đơn vị, hao mòn máy móc: 3.000 đơn vị, giá trị mới: 5.000 đơn vị, tổng số: 28.000đơn vị Nhưng khác với bảng giá lần 1, chi phí đầu vào lần 2 này không có khoản5.000 đơn vị để mua sức lao động.

Tổng cộng số tiền nhà tư bản chi ra để có được 2 kg sợi sẽ là:

Tiền mua bông: 20.000 x 2 lần sản xuất = 40.000 đơn vị

Hao mòn máy móc (máy chạy 10 tiếng): 3.000 x 2 lần sản xuất = 6.000 đơn vịTiền lương công nhân sản xuất cả ngày (trong 10 giờ, tính theo đúng giá trịsức lao động) = 5.000 đơn vị

Tổng cộng = 51.000 đơn vị

Tổng giá trị của thu được của 2 kg sợi là: 2 kg x 28.000/kg = 56.000 đơn vị

Như vậy, lượng giá trị thặng dư (dôi ra) thu được là: 56.000 (bán được) 51.000 (chi phí) = 5.000 đơn vị (5.000 dư này là do chiếm đoạt lao động khôngcông của công nhân mà có)

-Thời gian lao động (5 giờ) để tạo ra giá trị thặng dư gọi là thời gian lao độngthặng dư, và lao động trong thời gian ấy gọi là lao động thặng dư và Giá trị thặng

dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhânlàm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không Nhà tư bản chi phối được số laođộng không công ấy vì nhà tư bản là người sở hữu tư liệu sản xuất

Bản chất của tiền công

Từ ví dụ trên và qua phân tích giá trị thặng dư, Các Mác đã phát hiện tiềncông chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, là giá cả củahàng hóa sức lao động và không nên nhầm tiền công là giá cả của lao động cho dùnhà tư bản trả tiền công cho công nhân sau khi công nhân đã lao động để sản xuất

ra hàng hóa hay tiền công được trả theo thời gian lao động (giờ, ngày, tuần, tháng),hoặc theo số lượng hàng hóa đã sản xuất được Ở đây, cái mà nhà tư bản mua của

công nhân không phải là lao động, mà là sức lao động (bỏ tiền để mướn sức của

công nhân) cho nên tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động (laođộng đến đâu trả tiền đến đó), mà chỉ là giá trị hay giá cả của hàng hóa sức laođộng (tức nhà tư bản đã mua loại hàng hóa này để tùy nghi sử dụng sao cho có lợinhất)

2.3 Chủ nghĩa xã hội khoa học

hủ nghĩa xã hội khoa học là thuật ngữ được Friedrich Engels nêu ra[1] để mô

tả các lý thuyết về kinh tế-chính trị-xã hội do Karl Marx và ông sáng tạo Thuậtngữ này đối lập với chủ nghĩa xã hội không tưởng vì nó trình bày một cách có hệ

Trang 22

thống và nêu bật lên được những điều kiện và tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa

xã hội khoa học đó là nó chỉ rõ con đường hiện thực dựa vào khoa học để thủ tiêutình trạng người bóc lột người và đưa ra một tổ chức xã hội mới không biết đếnnhững mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản mà những người theo chủ nghĩa xã hộikhông tưởng đã mơ ước nhưng không thực hiện được.[2]

Theo các nhà nghiên cứu chủ nghĩa Marx-Lenin thì chủ nghĩa xã hội khoa học

về mặt lý luận nằm trong khái niệm "chủ nghĩa xã hội", là một trong ba bộ phậnhợp thành của chủ nghĩa Marx-Lenin, nghiên cứu sự vận động xã hội nhằm thủtiêu chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, tiến tới xây dựng xã hộicộng sản chủ nghĩa Theo nghĩa hẹp thì chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba

bộ phận của chủ nghĩa Marx-Lenin Chủ nghĩa xã hội khoa học đã dựa trên phươngpháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời cũng dựa trênnhững cơ sở lý luận khoa học về các quy luật kinh tế, quan hệ kinh tế để luận giảimột cách khoa học về quá trình nảy sinh cách mạng xã hội chủ nghĩa, hình thành

và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, gắn liền với sứ mệnhlịch sử có tính toàn thế giới của giai cấpcông nhân hiện đại, nhằm giải phóng conngười, giải phóng xã hội.[3]

Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học tức là chủ nghĩa Marx-Lenin (baogồm cả ba bộ phận) Nghĩa rộng của chủ nghĩa xã hội khoa học, V.I.Lenin khẳngđịnh: "chủ nghĩa xã hội khoa học tức là chủ nghĩa Mác".[3] Vì triết học Marx lẫnkinh tế chính trị Marx đều dẫn đến cái tất yếu lịch sử là làm cách mạng xã hội chủnghĩa và xây dựng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Theo họ, nhữngngười lãnh đạo, tổ chức cùng nhân dân thực hiện sự nghiệp cách mạng lâu dài vàtriệt để đó chỉ có thể là giai cấp công nhân hiện đại, thông qua đảng của nó V.I.Lenin nhận định: "bộ "Tư bản" - tác phẩm chủ yếu và cơ bản ấy trình bày chủnghĩa xã hội khoa học những yếu tố từ đó nảy sinh ra chế độ tương lai".[4]

Nội dung quan trọng của lý thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học là sứ mệnh lịch

sử của giai cấp công nhân Đây là phạm trù cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội khoahọc Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một thành tích chủnghĩa Marx - Lenin

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân theo Marx và Engels lànhững người công nhân sẽ xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ ngườibóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhânloại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủnghĩa văn minh

Luận thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã được K Marx và F.Engels trình bày trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Trong tác phẩm này các

Trang 23

ông đã chỉ rõ các điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp côngnhân.

Do địa vị kinh tế - xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn vớilực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản Và, với tính cách như vậy,

nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Sau khigiành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là ngườiduy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới caohơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Giai cấp công nhân, con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, được rènluyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành một lựclượng xã hội hùng mạnh Bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột nặng nề, họ là giai cấptrực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét về bản chất họ là giai cấp cách mạngtriệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa

Địa vị kinh tế - xã hội khách quan tạo cho họ khả năng làm việc đó, tức là khảnăng đoàn kết thống nhất giai cấp và khả năng đi đầu trong cuộc đấu tranh

4 Vai trò nền tảng tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin gồm ba bộ phận: Triết học, Kinh tế chính trị học vàChủ nghĩa xã hội khoa học Mỗi bộ phận đóng vai trò khác nhau trong nhận thức

và thực tiễn đời sống xã hội con người

Triết học Mác - Lênin là cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, là chủnghĩa duy vật biện chứng trong việc xem xét giới tự nhiên, đời sống xã hội và tưduy con người Chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật thốngnhất chặt chẽ với nhau làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biệnchứng trở thành lý luận khoa học Nhờ đó, triết học Mác - Lênin có khả năng nhậnthức đúng đắn giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người

Triết học Mác - Lênin không chỉ là lý luận về phương pháp giải thích thế giới

mà còn là lý luận về phương pháp biến đổi và cải tạo thế giới Triết học Mác Lênin là thế giới quan và phương pháp luận, là vũ khí lý luận sắc bén giúp giai cấpcông nhân và nhân dân lao động đấu tranh xoá bỏ chế độ áp bức bóc lột, xây dựngthành công xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

-Kinh tế chính trị Mác - Lênin đóng vai trò là chìa khoá để nhận thức ,lịch sửphát triển của sản xuất vật chất nói chung, giải thích các hiện tượng, các quá trìnhkinh tế đang diễn ra trong thực tiễn, phân tích nguyên nhân dự báo triển vọng,chiều hướng phát triển kinh tế xã hội, là cơ sở khoa học để nhận thức, đề ra và thựchiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng

Trang 24

Chủ nghĩa xã hội khoa học đóng vai trò phát hiện và luận giải về quá trình tấtyếu dẫn đến sự hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủnghĩa, về vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về cách mạng xã hộichủ nghĩa, để thực hiện mục tiêu giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân laođộng khỏi ách áp bức bóc lột, giải phóng xã hội, tiến tới giải phóng con người.

Theo Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học theo nghĩa rộng là chủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 25

Bài 2: KHÁI QUÁT VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm và tư tưởng của Hồ Chí

Minh trong sự nghiệp cách mạng của ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tổng kết,

hệ thống hóa Hệ thống tư tưởng này bao gồm những quan điểm về những vấn đề

cơ bản của cách mạng Việt Nam,[1] từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đếncách mạng xã hội chủ nghĩa; vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điềukiện cụ thể của Việt Nam.[2]

Các nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển gắnvới các thời kì hoạt động của Hồ Chí Minh trong phong trào cách mạng ViệtNam và quốc tế[3] vào đầu và giữa thế kỷ 20 Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minhnhận định Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh của văn hóa dân tộc Việt Nam, tưtưởng cách mạng Pháp, tư tưởng tự do của Hoa Kỳ, lý tưởng cộng sản Mác-Lênin,

tư tưởng văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây và phẩm chất cá nhân của HồChí Minh.[4]

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được xác định là một hệ tư tưởng chính thống củaĐảng Cộng sản Việt Nam bên cạnh chủ nghĩa Mác-Lênin, được chính thức đưa ra

từ Đại hội VII của Đảng Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam cùng các quan điểmchính thống ở Việt Nam hiện nay đều thống nhất đánh giá Tư tưởng Hồ Chí Minhchính là cách vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thểcủa Việt Nam và coi tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quýbáu của Đảng Cộng sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam.[5] Đảng Cộng sản Việt

Nam xác định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động và thắng lợi của cách mạng Việt Nam.[6][7] Đảng Cộng sản ViệtNam luôn tăng cường tuyên truyền thúc đẩy việc học tập và làm theo Tư tưởng HồChí Minh ở tất cả các tầng lớp trong xã hội

Phần lớn các giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh không phân tích các quan điểmcủa ông theo các thời kỳ lịch sử, không phân tích cụ thể các tác phẩm của ông theochiều thời gian Điển hình như năm 1930 khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam,ông cho rằng đấu tranh giải phóng dân tộc đi kèm đấu tranh giải phóng giai cấp.Khi thành lập Việt Minh thì gác lại chủ trương đấu tranh giai cấp mà thực hiện đấutranh đòi các quyền tự do dân chủ và đoàn kết toàn dân chống phát xít theo đườnglối Quốc tế Cộng sản (chủ trương này khá trùng lặp với đường lối của Nguyễn Văn

Cừ khi làm Tổng bí thư) Đến giai đoạn năm 1945, khi cần tranh thủ sự ủng hộ của

Đồng Minh cho nền độc lập của Việt Nam, ông tuyên bố "giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương" và tán dương nền dân chủ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ chính thức đưa vào Cương lĩnh của Đảng Cộngsản Việt Nam năm 1991, sau khi công cuộc Đổi mới phát động, chấp thuận phân

Trang 26

hóa giai cấp, nhiều lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin không có tính khả thi trong cơchế thị trường phải gác lại như đạo đức xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người xãhội chủ nghĩa, làm theo năng lực hưởng theo lao động trên toàn xã hội.v.v (chủnghĩa cộng sản đặt ra mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ giai cấp, bóc lột, xóa bỏ giàu -nghèo, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, công hữu trên nền tảng dân chủ, xóa

bỏ giáo điều tôn giáo được xem là mị dân, xóa bỏ nhà nước đi đến dân chủ trựctiếp và bình đẳng, xóa bỏ các đường biên giới quốc gia, đưa các dân tộc đến cùngmột lợi ích, xóa bỏ bất bình đẳng giữa các dân tộc trên phạm vi thế giới ) Cácgiáo trình của Việt Nam thường khai thác tư tưởng Hồ Chí Minh theo chiều hướngnày

2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh

Về vấn đề dân tộc

Dân tộc là một vấn đề rộng lớn Karl Marx, Friedrich Engels không đi sâu giảiquyết vấn đề dân tộc, vì thời đó ở Tây Âu vấn đề dân tộc đã được giải quyết trongcách mạng tư sản; hơn nữa, các ông chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về vấn đềdân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh.[31]

Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa (cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20), cách mạnggiải phóng dân tộc trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới,[32] nhờ đóV.I Lênin có cơ sở thực tiễn để phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa thành một hệthống lý luận Tuy cả C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin đã nêu lên những quanđiểm cơ bản về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, tạo

cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc xác định chiến lược, sách lược của cácĐảng Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa, nhưng từ thực tiễn cách mạng vôsản ở châu Âu, các ông vẫn tập trung nhiều hơn vào vấn đề giai cấp Điều kiệnnhững năm đầu thế kỷ XX trở đi đặt ra yêu cầu cần vận dụng và phát triển sáng tạo

lý luận Mác - Lênin cho phù hợp với thực tiễn ở các nước thuộc địa trong đó cóViệt Nam; chính Hồ Chí Minh là người đã đáp ứng yêu cầu đó.[31]

Ngày 19 tháng 6 năm 1919, thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, HồChí Minh đã mang tới Hội nghị Hòa bình Versailles bản Yêu sách của nhân dân

An Nam gồm 8 điểm để kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lýtưởng của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa củaPháp ở Đông Nam Á, trao tận tay tổng thống Pháp và các đoàn đại biểu đến dự hộinghị.[33] Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc chịu ảnh hưởng của lý luậnMác-Lênin, đặc biệt là lý luận của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa

Báo L’Humanité số ra hai ngày 16 và 17-7-1920 đăng toàn văn bản "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của

V.I.Lênin dưới đầu đề chạy suốt trang một Luận cương lập tức thu hút sự chú ý

Trang 27

đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc Nguyễn Ái Quốc đã đọc đi đọc lại nhiều lần và "qua lăng kính chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người tìm thấy ở đó con đường đi đúng đắn giải phóng đất nước khỏi ách thực dân".[13] Sau này Nguyễn Ái Quốc nhớ

lại: "Trong Luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!".[34] Từ đó Nguyễn Ái Quốc (HồChí Minh) hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba.[13]

Hồ Chí Minh đã tiếp thu những lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đềdân tộc, đồng thời Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với thực tiễn ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam Tưtưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc thể hiện ở các điểm chính sau:

- Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của các dân tộc HồChí Minh viết trong Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa: "Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".[35] Mục đích củaviệc dành độc lập dân tộc là đem lại hạnh phúc, tự do cho nhân dân Chủ tịch Hồ

Chí Minh cho rằng "Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì".[36]

- Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực to lớn của đất

nước Hồ Chí Minh đã từng nhận xét: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó

là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"[37]

- Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế: "Các dân tộc ở đó (ở phương Đông) không bao giờ có thể ngẩng đầu lên được nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới Ngày mà hàng trăm triệu người châu Á bị nô dịch và áp bức sẽ thức tỉnh

để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một nhóm bọn thực dân tham tàn và chính họ sẽ hình thành được một lực lượng đồ sộ vừa có thể thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, vừa giúp đỡ những người anh em phương tây trong sự nghiệp giải phóng"[38]

Trang 28

Về cách mạng giải phóng dân tộc

Thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam cuốithế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chứng tỏ rằng, những con đường giải phóng dân tộcdưới ngọn cờ tư tưởng phong kiến hoặc tư tưởng tư sản đã không đáp ứng đượcyêu cầu khách quan là giành độc lập, tự do của dân tộc do lịch sử đặt ra Hồ ChíMinh rất khâm phục tinh thần cứu nước của những nhà cách mạng tiền bối, nhưngông không tán thành các con đường cứu nước ấy, mà quyết tâm ra đi tìm một conđường cứu nước mới.[39]

Sau khi tiếp cận lý luận của Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứunước, đó là con đường cách mạng vô sản Như vậy là, Hồ Chí Minh đã đến với họcthuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vôsản Từ đó, Hồ Chí Minh quyết tâm đưa dân tộc Việt Nam đi theo con đường đó.[39]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc thể hiện ở các điểmchính sau:

- Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cáchmạng vô sản Con đường cách mạng vô sản, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, baohàm những nội dung chủ yếu sau:

- Tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc và dần dần từng bước "đi tới xã hộicộng sản"

- Lực lượng lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân mà đội tiền phong của

Trang 29

- Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc Hồ ChíMinh đánh giá rất cao vai trò của nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang Ông coi sứcmạnh vĩ đại và năng lực sáng tạo vô tận của quần chúng là then chốt bảo đảmthắng lợi.

- Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và cókhả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc Các nhà nghiêncứu trong nước đánh giá, đây là một luận điểm sáng tạo, có giá trị lý luận và thựctiễn to lớn; một cống hiến rất quan trọng của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luậncủa chủ nghĩa Mác - Lênin, đã được thắng lợi của phong trào cách mạng giảiphóng dân tộc trên toàn thế giới trong gần một thế kỷ qua chứng minh là hoàn toànđúng đắn.[41]

- Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cáchmạng bạo lực Trong đó có hai vấn đề:

- Bạo lực cách mạng trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam Tưtưởng bạo lực cách mạng và tư tưởng nhân đạo hòa bình thống nhất biện chứng vớinhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh Ông chủ trương, yêu nước, thương dân, yêuthương con người, yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý, tranh thủ mọi khả nănghòa bình để giải quyết xung đột, nhưng một khi không thể tránh khỏi chiến tranhthì phải kiên quyết tiến hành chiến tranh, kiên quyết dùng bạo lực cách mạng, dùngkhởi nghĩa và chiến tranh cách mạng để giành, giữ và bảo vệ hòa bình, vì độc lập

tự do.[42]

- Phương châm chiến lược đánh lâu dài trong cách mạng giải phóng dân tộc.Trước những kẻ thù lớn mạnh, Hồ Chí Minh chủ trương sử dụng phương châmchiến lược đánh lâu dài Hồ Chí Minh nói, muốn thắng lợi phải trường kỳ gian khổ,muốn trường kỳ phải tự lực cánh sinh Mặc dù rất coi trọng sự giúp đỡ quốc tếnhưng Hồ Chí Minh luôn đề cao sức mạnh bên trong, phát huy đến mức cao nhấtmọi nỗ lực của dân tộc, đề cao tinh thần độc lập tự chủ Độc lập tự chủ, tự lực tựcường kết hợp với tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế là một quan điểm nhất quán trong

tư tưởng Hồ Chí Minh Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông

đã động viên sức mạnh của toàn dân tộc, đồng thời ra sức vận động, tranh thủ sựgiúp đỡ quốc tế to lớn và có hiệu quả, cả về vật chất và tinh thần, kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại để kháng chiến thắng lợi.[42]

Trang 30

Về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Về bản chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Tuyên truyền cho cuộc vận động "Học theo tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh"

Hầu hết các cách tiếp cận, định nghĩa của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hộiđược diễn đạt, trình bày một cách dung dị, mộc mạc, dễ hiểu và mang tính phổthông, đại chúng Hồ Chí Minh quan niệm nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncủa người dân chính là chủ nghĩa xã hội chứ ông không lý luận nhiều về việc nhànước phải kiểm soát tư liệu sản xuất

Theo Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, một số định nghĩa cơ bản mà Hồ ChíMinh đã đề cập về chủ nghĩa xã hội:[44]

- Định nghĩa tổng quát, xem xét chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản như là một chế độ xã hội hoàn chỉnh, bao gồm nhiều mặt khác nhau của đời sống, là con

đường giải phóng nhân loại cần lao, áp bức

- Định nghĩa chủ nghĩa xã hội bằng cách chỉ ra một mặt nào đó của nó (kinh

+ Từ những định nghĩa của Hồ Chí Minh đã phản ánh đầy đủ những đặc trưngcốt lõi của chủ nghĩa xã hôi Khái quát những đặc trưng này, chúng ta thấy nộidung của nó bao hàm hết thảy mọi mặt đời sống xã hội, làm hiện diện ra một chế

độ xã hội ưu việt Đó là:[44]

+ Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội có lực lượng sản xuất phát triển cao,gắn liền với sự phát triển tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và văn hóa, dân giàu,nước mạnh

+ Thực hiện chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất và thực hiện nguyên tắcphân phối theo lao động

Trang 31

+ Chủ nghĩa xã hội có chế độ chính trị dân chủ, nhân dân lao động là chủ vànhân dân lao động làm chủ, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân, dựa trên khốiđại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công - nông - lao động trí óc, doĐảng Cộng sản lãnh đạo.

+ Chủ nghĩa xã hội có hệ thống quan hệ xã hội lành mạnh, công bằng, bìnhđẳng, không còn áp bức, bóc lột, bất công, không còn sự đối lập giữa lao độngchân tay và lao động trí óc, giữa thành thị và nông thôn, con người được giảiphóng, có điều kiện phát triển toàn diện, có sự hài hòa trong phát triển của xã hội

+ Chủ nghĩa xã hội là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, ở đây, Hồ ChíMinh hiểu chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với chủ nghĩa Mác-Lênin

+ Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sảnchủ nghĩa

+ Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là một chế độ xã hội đối lập với chế

độ tư bản mà hình thức xấu xa, tàn bạo nhất của nó là chủ nghĩa thực dân, cả chủnghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới

Về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin đều khẳng định tính tất yếu khách quan củathời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chỉ rõ vị trí lịch sử, nhiệm vụ đặc thù của nótrong quá trình vận động, phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủnghĩa Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, thì có haicon đường quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Con đường thứ nhất là con đường quá

độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội từ những nước tư bản phát triển ở trình độ cao.[45] Marx cho rằng chủ nghĩa cộng sản là một bước tiến hóa của xã hội loài ngườidựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội do chủ nghĩa tư bản tạo ra chứ khôngphải là kết quả của việc áp đặt một mô hình kinh tế - chính trị lên xã hội Theo ông

"Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ

Trang 32

nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay Những điều kiện của phong trào ấy là kết quả của những tiền đề hiện đang tồn tại[46]" Conđường thứ hai là quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội ở những nước chủ nghĩa tưbản phát triển còn thấp hoặc các nước tiền tư bản với sự giúp đỡ của các nước xãhội chủ nghĩa.[45] Đây là quan điểm của Lenin và Stalin.

Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hình

thực tế của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.[45] Ta có thể rút gọn lại nội dung về con đườngquá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Hồ Chí Minh được thể hiện qua cácđiểm chính sau:

+ Phải thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc trước, sau đó mới từng bướcxây dựng chủ nghĩa xã hội.[45]

+ Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải đi lên bằng conđường gián tiếp.[45]

Theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ViệtNam có đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa

xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đặc điểm này chiphối các đặc điểm khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội vàlàm cơ sở nảy sinh nhiều mâu thuẫn Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đếnmâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển caocủa đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế - xã hội quá thấp kém củaViệt Nam.[45] Chính vì thế thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấutranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài.[47][48] Trong cuộc đấu tranh này, toàn

xã hội phải nỗ lực dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời phảihọc tập kinh nghiệm xây dựng Chủ nghĩa xã hội và tận dụng mọi sự giúp đỡ củanhững nước xã hội chủ nghĩa tiên tiến như Liên Xô và các nước Đông Âu.[49]

Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Theo Hồ Chí Minh, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước

ta là quá trình cải biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất hiện đại Do nhữngđặc điểm và tính chất quy định, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quátrình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bao gồm hai nội dung lớn:[45][50]

+ Một là, xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xâydựng các tiền đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội.[45][50]

Trang 33

+ Hai là, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo và xây dựng,trong đó lấy xây dựng làm trọng tâm, làm nội dung cốt yếu nhất, chủ chốt, lâu dài.[45][50]

Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính chất tuần tự, dần dần của thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội Tính chất phức tạp và khó khăn của nó được Hồ Chí Minh lý giảitrên các điểm sau:[45]

+ Thứ nhất, đây thực sự là một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi mặt đời sống xã hội, cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Nó đặt ra và đòi hỏi đồng thời giải quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau.

+ Thứ hai, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chưa có kinh nghiệm, nhất là trên lĩnh vực kinh tế Đây là công việc hết sức mới mẻ đối với Đảng ta, nên phải vừa làm, vừa học và có thể có vấp váp

và thiếu sót Xây dựng xã hội mới bao giờ cũng khó khăn, phức tạp hơn đánh đổ

xã hội cũ đã lỗi thời.

+ Thứ ba, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta luôn luôn bị các thế lực phản động trong và ngoài nước tìm cách chống phá.[45]

Quan điểm Hồ Chí Minh về nội dung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ.

+ Chính trị: giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Củng cố và mởrộng Mặt trận dân tộc thống nhất, nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và tríthức, do Đảng cộng sản lãnh đạo; củng cố và tăng cường sức mạnh toàn bộ hệthống chính trị cũng như từng thành tố của nó.[51]

+ Kinh tế: nhấn mạnh việc tăng năng suất lao động trên cơ sở tiến hành côngnghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệthống thương nghiệp làm cầu nối giữa các ngành sản xuất xã hội Phát triển thànhphần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy

việc cải tạo xã hội chủ nghĩa Năm 1953, trong tác phẩm Thường thức chính trị,

Hồ Chí Minh chỉ ra 6 thành phần kinh tế ở nước ta (vùng tự do), để xây dựng vàphát triển nền kinh tế có nhiều thành phần như trên, Hồ Chí Minh đưa ra chínhsách kinh tế của Đảng và Chính phủ gồm bốn điểm mấu chốt: Một là, công tư đềulợi; Hai là, chủ thợ đều lợi; Ba là, công nông giúp nhau; Bốn là Lưu thông trongngoài Kinh tế quốc doanh là công Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dânchủ mới Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó.Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế thì phải

Trang 34

trừng trị Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủcông nghệ, nên Chính phủ cần giúp họ phát triển Nhưng họ phải phục tùng sự lãnhđạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân,[52] đến năm

1959 ông chủ trương vẫn cho phép những nhà tư sản công thương sở hữu tư liệusản xuất, tiến dần đến việc xóa bỏ các hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩabằng cách khuyến khích những người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ tổchức hợp tác xã theo nguyên tắc tự nguyện, khuyến khích và giúp đỡ những nhà tưsản công thương cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh

và những hình thức cải tạo khác.[53]Có quan điểm cho rằng Hồ Chí Minh là ngườiđầu tiên chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam.[54][55][56]

về tư liệu sản xuất như sau: Trong nước ta hiện nay, có những hình thức sở hữu chính

- Sở hữu của Nhà nước, tức là sở hữu của toàn dân.

- Sở hữu của hợp tác xã, tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động.

- Sở hữu của người lao động riêng lẻ.

- Một số ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của các nhà tư

— Hồ Chí Minh, Báo cáo về dự thảo sửa đổi Hiến pháp của ông tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa 1 ngày 18 tháng 12 năm 1959 tại Hà Nội.[53]

Mục đích của chế độ ta là xoá bỏ các hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở

— Hồ Chí Minh Tài liệu đã dẫn[53]

Chúng ta phải phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo

Trang 35

nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa.

— Hồ Chí Minh Tài liệu đã dẫn[53]

Đối với những người lao động cá thể và các nhà tư bản, cũng tại báo cáo nóitrên, Hồ Chí Minh viết:

- Đối với những người làm nghề thủ công và lao động riêng

lẻ khác, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ,

ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến

khích họ tổ chức hợp tác xã theo nguyên tắc tự nguyện.

- Đối với những nhà tư sản công thương, Nhà nước không

xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ mà

ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân

sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước Đồng thời Nhà

nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội

bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo

— Hồ Chí Minh Báo cáo sửa đổi Hiến pháp 1959.Hồ Chí Minh.

Tài liệu đã dẫn[57]

+ Văn hóa - xã hội: nhấn mạnh vấn đề xây dựng con người mới.[51]

Về đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Bài chi tiết: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Về đại đoàn kết dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành từ những cơ

sở quan trọng sau đây:

Trang 36

+ Thứ nhất là truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng củadân tộc Việt Nam Đây là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ ChíMinh về đại đoàn kết dân tộc.

+ Thứ hai là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin coi cách mạng là sựnghiệp của quần chúng Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệpcủa quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; giai cấp vô sản muốn thựchiện được vai trò lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc; liên minh côngnông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng Đó là những quan điểm

lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giáchính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống,trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và cácnhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạiđoàn kết dân tộc

+ Thứ ba là tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phongtrào cách mạng Việt Nam và thế giới

Trước Cách mạng tháng 8, khác với những lãnh tụ Đảng Cộng sản khác ởViệt Nam luôn coi liên minh công nông là lực lượng nòng cốt, chủ chốt của cáchmạng vô sản, coi nhẹ tiềm năng cách mạng của các giai cấp tầng lớp khác trong xãhội Việt Nam Hồ Chí Minh là người rất quan tâm đến việc tập hợp sự ủng hộ củanhững giai cấp tầng lớp xã hội không phải là lực lượng chủ chốt của cách mạng vôsản như tư sản, địa chủ, tiểu thương, trí thức Thời kỳ này chính những đồng chícủa Hồ Chí Minh đã phê phán đường lối cải lương "liên minh với tư sản và địa chủvừa và nhỏ" của Hồ Chí Minh, không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của ĐệTam Quốc tế.[58][59]

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố thành lập, giai đoạn

1945 - 1946, tình thế đất nước ở vào hoàn cảnh vô cùng hiểm nghèo, được ví

như ngàn cân treo sợi tóc Chính trong hoàn cảnh này, Hồ Chí Minh đã thể hiện tư

tưởng về đại đoàn kết dân tộc của ông, giúp đất nước vượt qua cơn hiểm nghèo,giữ vững được nền độc lập non trẻ Hồ Chí Minh đã gạt bỏ các bất đồng chính trịgiữa các phe phái sang một bên, tập hợp các đảng phái chính trị để thành lập Chínhphủ với mục tiêu phụng sự quốc gia, dân tộc Trong đó mục tiêu độc lập dân tộcđược đặt lên hàng đầu

Quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc bao gồm:

+ Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thành côngcủa cách mạng

Trang 37

+ Đại đoàn kết là mục tiêu, là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng.

+ Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân

+ Đại đoàn kết phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có

tổ chức thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất dưới sựlãnh đạo của Đảng

Trong tác phẩm "Nên Học Sử Ta", Hồ Chí Minh đã viết: "Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập tự do Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi…"[60]

Về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Hồ Chí Minh là một trong những người Việt Nam đầu tiên tham gia phongtrào cộng sản quốc tế tại thời điểm Việt Nam chưa có bất cứ tổ chức chính trị nàotheo Chủ nghĩa Cộng sản Ông là thành viên của tổ chức Quốc tế Cộng sản III, làngười đã thống nhất các tổ chức đảng cộng sản riêng rẽ ở Việt Nam thành mộtchính đảng duy nhất theo chỉ thị của Quốc tế III Chính Hồ Chí Minh là người kếtnối phong trào cách mạng vô sản Việt Nam và phong trào cách mạng vô sản quốc

tế Thông qua Hồ Chí Minh, phong trào cách mạng vô sản ở Việt Nam đã nhậnđược sự hỗ trợ to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc vàcác nước xã hội chủ nghĩa khác Rất nhiều lãnh đạo phong trào cách mạng ViệtNam quan trọng đã được Hồ Chí Minh tổ chức sang Liên Xô hoặc Trung Quốc đàotạo về chính trị và quân sự

Qua khảo sát thực tế, từ kinh nghiệm bản thân, Hồ Chí Minh đã nhận thức

được rằng: chủ nghĩa đế quốc là một lực lượng phản động quốc tế, là kẻ thù chung của nhân dân lao động ở cả chính quốc và thuộc địa Muốn đánh thắng chúng, phải thực hiện khối liên minh chiến đấu giữa lao động ở các thuộc địa với nhau và giữa lao động ở thuộc địa với vô sản ở chính quốc; nếu tách riêng mỗi lực lượng thì không thể nào thắng lợi được Điểm vượt lên của Hồ Chí Minh so với các lãnh

tụ yêu nước và chí sĩ cách mạng đầu thế kỷ XX chính là ở đó, nó nâng cao nhậnthức của Hồ Chí Minh về sức mạnh của phong trào cộng sản trên thế giới và nhucầu liên kết với phong trào đó để giành độc lập dân tộc.[61]

Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự liên kết giữa phong trào cách mạng ViệtNam và phong trào cách mạng tại các nước khác cũng là phương châm cơ bản của

phong trào cộng sản quốc tế thể hiện qua khẩu hiệu "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại" Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một cách diễn đạt sự

liên kết đó Nội dung của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại baogồm:

Trang 38

+ Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới.

+ Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tếtrong sáng

+ Giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡcủa các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời khôngquên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình

+ Mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng là bạn với tất cả mọinước dân chủ

Theo Hồ Chí Minh, "phải làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản"[62]

Về Đảng Cộng sản Việt Nam; về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Về Đảng cộng sản Việt Nam

+ Đảng cộng sản là nhân tố quyết định hàng đầu đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi Sức mạnh to lớn của nhân dân chỉ phát huy khi được tập hợp,

đoàn kết và được lãnh đạo bởi một tổ chức chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam

Hồ Chí Minh khẳng định: "Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn, là vô cùng vô tận Nhưng lực lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi",[63] giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làmcách mạng được.[64]

+ Trong cuốn sách Đường Kách mệnh xuất bản năm 1927, Hồ Chí Minh viết: "Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức

và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy".[65] Hồ Chí Minh cho rằng: "Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng Cách mạng là cuộc đấu tranh rất gian khổ Lực lượng kẻ địch rất mạnh Muốn thắng lợi thì quần chúng phải tổ chức rất chặt chẽ; chí khí phải kiên quyết Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh, để đánh đổ kẻ địch, tranh lấy chính quyền Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo"[66]

Trang 39

+ Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước

-+ Đảng Cộng sản Việt Nam phải biết thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó.

Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" viết năm 1947 Hồ Chí Minh cho rằng:

Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu

mà có rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó Như thế là một

— Hồ Chí Minh - Sửa đổi lối làm việc

Về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân

Bài chi tiết: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Tư tưởng về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân của Hồ Chí Minh thểhiện qua những quan điểm sau:

+ Hồ Chí Minh cho rằng Nhà nước là đày tớ chung của dân, cán bộ làm việckhông phải là để thăng quan, phát tài Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyềnđuổi Chính phủ

Chủ tịch toàn quốc đến làng Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì ? Là đày tớ chung của dân, từ

Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài Nếu Chính phủ

làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ Nhưng khi dân dùng đày tớ

làm việc cho mình thì phải giúp đỡ Chính phủ Nếu Chính phủ sai thì

phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi.[68]

— Hồ Chí Minh, Bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ trí

thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa, ngày 20/2/1947

Trang 40

Nhà nước phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết; phải gần gũi dân,

hiểu biết dân, học hỏi dân; phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình; phải

làm kiểu mẫu: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.

Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.

Phải làm kiểu mẫu: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.[69]

— Hồ Chí Minh

Về nông dân

Bài chi tiết: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân

Xem giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất của phong trào dân tộc, là

cơ sở cho các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, có gắn bó mật thiết với giai cấp

công nhân, chịu áp bức bởi thực dân Pháp và tay sai (phong kiến và địa chủ), sẵn

sàng đứng lên cùng công nhân trong cuộc cách mạng vô sản đang phát triển Trong

Sách lược cách mạng của Đảng, Người viết: " Đảng phải thu phục cho được đại bộ

phận dân cày và phải dựa vào dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh trúc bọn

đại địa chủ và phong kiến Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày

(công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc

gia Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông"

Tổng kết quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Trải

qua các thời kỳ, Đảng ta đã nắm vững và giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân,

củng cố được liên minh công nông Đảng ta đấu tranh chống những xu hướng "hữu

khuynh" và "tả khuynh" đánh giá thấp vai trò của nông dân là quân chủ lực của cách

mạng, là bạn đồng minh chủ yếu và tin cậy nhất của giai cấp công nhân, là lực

lượng cơ bản cùng với giai cấp công nhân xây dựng chủ nghĩa xã hội".

Về công nhân

Bài chi tiết: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nhân

Tất cả những người không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động mà sống,

bất kỳ họ lao động trong công nghệp hay là trong nông nghiệp, bất kỳ họ làm nghề

gì, cũng đều thuộc giai cấp công nhân Chủ chốt của giai cấp ấy, là những công

nhân tại các xí nghiệp như nhà máy, hầm mỏ, xe lửa v.v Những công nhân thủ

công nghệ, những người làm thuê ở các cửa hàng, những cố nông v.v cũng thuộc

Ngày đăng: 16/01/2019, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w