Dân tộc Việt Nam có bề dày truyền thống đoàn kết, thương yêu đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, kiên cường bất khuất trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và lao động xây dựng đất nước, đúng như Hồ Chủ tịch đã khẳng định:“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau. No đói giúp nhau”.Có thể nói, đất nước Việt Nam đẹp như một bức tranh khảm hay như một tấm thảm dệt màu sắc hài hòa của 54 dân tộc anh em. Quả đúng như vậy một tấm thảm không biết đan dệt bằng bao nhiêu đường chỉ ngang dọc, bao nhiêu sợi chỉ pha màu sắc khác nhau. Tấm thảm văn hóa Việt Nam được dệt bằng 54 sợi màu chủ đạo, bằng hàng ngàn, hàng vạn thành tố văn hóa của mỗi dân tộc. Chất liệu dệt nên tấm thảm đó là lịch sử, là ngôn ngữ, là hoạt động kinh tế, các phong tục tập quán liên quan đến vai trò thiết yếu của con người, 54 dân tộc anh em cùng sinh sống tạo nên một đất nước đa dạng về truyền thống văn hóa, mỗi dân tộc đều có truyền thống nét văn hóa đặc sắc riêng nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình sinh sống.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HÀ VĂN LỰC
THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1945
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HÀ VĂN LỰC
THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1945
Chuyên ngành: Lịch sử địa phương
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Văn Lực
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận này, em xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Phạm Văn Lực
Em cũng xin cảm ơn các thầy cô khoa Sử - Địa cùng các bạn lớp K52 ĐHSP Lịch sử, thư viện Trường Đại học Tây Bắc, thư viện tỉnh Hòa Bình, đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình triển khai thực hiện đề tài này
Đây là công trình đầu tiên của em cộng với những khó khăn về tài liệu khóa luận sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót rất mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy, cô và các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2015
Người thực hiện
Hà Văn Lực
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa và nhiệm vụ của đề tài 4
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
3.2 Mục đích, ý nghĩa và nhiệm vụ của đề tài 4
4 Cơ sở tài liệu và và phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Cơ sở tài liệu 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Cấu trúc của đề tài 5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC TỈNH HÒA BÌNH 6
1.1 Vị trí địa, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 6
1.1.1 Vị trí địa lí 6
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 6
1.1.2.1 Địa hình 6
1.1.2.2 Khí hậu 7
2.1.2.3 Sông ngòi 8
1.1.3.1 Tài nguyên đất đai 9
1.1.3.2 Tài nguyên khoáng sản 9
1.1.3.3 Tài nguyên rừng 10
1.2 Tình hình dân cư, kinh tế văn hóa, xã hội 10
1.2.1 Tình hình dân cư 10
1.2.1.1 Dân số 10
1.2.1.2 Dân tộc 11
1.2.2 Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Hòa Bình trước năm 1945 11
1.2.2.1 Kinh tế 11
Trang 51.2.2.2 Văn hóa, xã hội 12
1.2.2.3 Truyền thống lịch sử 12
Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HÒA BÌNH TRONG LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1858 15
2.1 Dân tộc Mường 15
2.1.1 Nguồn gốc lịch sử 15
2.1.2 Địa vực cư trú 16
2.1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 16
2.1.4 Đặc trưng văn hóa 20
2.2 Dân tộc Thái 21
2.2.1 Nguồn gốc lịch sử 21
2.2.2 Địa vực cư trú 23
2.2.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 23
2.2.4 Đặc trưng văn hóa 25
2.3 Dân tộc Tày 28
2.3.1 Nguồn gốc lịch sử 28
2.3.2 Địa vực cư trú 28
2.3.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 29
2.3.4 Đặc trưng văn hóa 30
2.4.1 Nguồn gốc lịch sử 31
2.4.2 Địa vực cư trú 32
2.4.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 32
2.4.4 Đặc trưng văn hóa 33
2.5 Dân tộc H’Mông 35
2.5.1 Nguồn gốc lịch sử 35
2.5.2 Địa vực cư trú 36
2.5.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 36
2.5.4 Đặc trưng văn hóa 38
Tiểu kết 39
Trang 6Chương 3: THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HÒA BÌNH TỪ
NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1945 40
3.1 Dân tộc Mường 40
3.1.1 Địa vực cư trú 40
3.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 40
3.1.3 Đặc trưng văn hóa 43
3.2 Dân tộc Thái 45
3.2.1 Địa vực cư trú 45
3.2.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 45
3.2.3 Đặc trưng văn hóa 50
3.3.1 Địa vực cư trú 52
3.3.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 52
3.3.3 Đặc trưng văn hóa 53
3.4.1 Địa vực cư trú 54
3.4.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 55
3.4.3 Đặc trưng văn hóa 55
3.5.1 Địa vực cư trú 56
3.5.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 56
3.5.3 Đặc trưng văn hóa 58
Tiểu kết 59
KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngay từ khi hình thành dân tộc ở thời đại Hùng Vương, Việt Nam đã làquốc gia có đa thành phần dân tộc Cho đến nay Việt Nam có 54 dân tộc anh emsinh sống trải rộng ở khắp mọi miền của đất nước từ Bắc đến Nam, từ miền xuôiđến miền ngược
Dân tộc Việt Nam có bề dày truyền thống đoàn kết, thương yêu đùm bọcgiúp đỡ lẫn nhau, kiên cường bất khuất trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và lao
động xây dựng đất nước, đúng như Hồ Chủ tịch đã khẳng định:“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau No đói giúp nhau”.
Có thể nói, đất nước Việt Nam đẹp như một bức tranh khảm hay như mộttấm thảm dệt màu sắc hài hòa của 54 dân tộc anh em Quả đúng như vậy mộttấm thảm không biết đan dệt bằng bao nhiêu đường chỉ ngang dọc, bao nhiêu sợichỉ pha màu sắc khác nhau Tấm thảm văn hóa Việt Nam được dệt bằng 54 sợimàu chủ đạo, bằng hàng ngàn, hàng vạn thành tố văn hóa của mỗi dân tộc Chấtliệu dệt nên tấm thảm đó là lịch sử, là ngôn ngữ, là hoạt động kinh tế, các phongtục tập quán liên quan đến vai trò thiết yếu của con người, 54 dân tộc anh emcùng sinh sống tạo nên một đất nước đa dạng về truyền thống văn hóa, mỗi dântộc đều có truyền thống nét văn hóa đặc sắc riêng nhưng có mối liên hệ chặt chẽvới nhau trong quá trình sinh sống
Đóng góp vào thành quả và tinh hoa văn hóa chung đó có các dân tộc tỉnh HòaBình đã cùng nhau đoàn kết, đồng lòng xây dựng và bảo vệ quê hương của mình.Mỗi dân tộc đều có nét truyền thống văn hóa riêng góp phần vào công cuộc gìn giữ
và xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
Thế nhưng cho đến nay những hiểu biết và nghiên cứu về các dân tộc thiểu
số tỉnh Hòa Bình đặc biệt là trước năm 1945 vẫn còn nhiều hạn chế Vì thế việc
lựa chọn “Thực trạng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình trong lịch sử đến năm 1945” làm đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Trang 8Về khoa học
+ Tái hiện một cách cụ thể, chi tiết hoàn chỉnh từ nguồn gốc ra đời đến đờisống kinh tế, văn hóa, địa vực cư trú của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình.+ Vai trò và vị trí của đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc thiểu số ởHòa Bình nó riêng và Việt Nam nói chung
+ Làm đa dạng và phong phú thêm bức tranh văn hóa của cộng đồng dântộc Việt Nam
+ Cuốn: “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” tác giả Nguyễn Văn
Huy là bức tranh toàn cảnh về tất cả các dân tộc Việt Nam, về đời sống văn hóatrong đó có các dân tộc thiểu số trong tỉnh Hòa Bình [6]
+ Cuốn: “Văn hóa truyền thống một số tộc người Hòa Bình” của PGS
-TS Nguyễn Thị Thanh Nga (NXB văn hóa dân tộc 2007) có những nghiên cứuđến đời sống văn hóa các dân tộc ở Hòa Bình Tuy nhiên chưa nói được đầy đủtất các dân tộc thiểu số trong tỉnh [11]
+ Cuốn: “Địa chí Hòa Bình” do Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban
nhân dân tỉnh Hòa Bình ( NXB Chính trị 2005) có nghiên cứu đến nguồn gốccũng như đời sống văn hóa của các dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình nhưng mộtcách khái quát và chưa thật sự đầy đủ [14]
Trang 9+ Cuốn: “Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam” của Ban dân tộc Khu Tây
Bắc, xuất bản 1975 Đây là công trình có liên quan nhiều nhất đến đề tài, cuốnsách bước đầu đã đề cập đến một số vấn đề về kinh tế - xã hội, địa bàn cư trú,truyền thống lịch sử văn hoá các dân tộc ở Tây Bắc trong đó có người Mường.Riêng đối với người Mường, ngoài việc vắn tắt về đặc điểm kinh tế xã hội, côngtrình cũng đã đề cập đến cả về lĩnh vực tôn giáo, chữ viết và mối quan hệ giữacác dân tộc ở Tây Bắc - Việt Nam… Tuy nhiên, sự đề cập đó còn rất sơ lược,chung chung; thậm chí một số thuật ngữ, nhận định, sự kiện vẫn cần phải đượctrao đổi thêm [16]
+ Cuốn: “Các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam (dẫn liệu nhân chủng học)” Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1976 Đây cũng là công
trình có liên quan nhiều nhất đến đề tài, cuốn sách bước đầu đã đề cập đến một
số vấn đề về kinh tế - xã hội, địa bàn cư trú, truyền thống lịch sử văn hoá cácdân tộc ở miền Bắc trong đó có người Mường Đối với cộng đồng dân tộcMường, ngoài việc vắn tắt về đặc điểm kinh tế xã hội, công trình cũng đã đề cậpđến cả về lĩnh vực tôn giáo, chữ viết và mối quan hệ giữa các dân tộc ở Tây Bắc
- Việt Nam… tuy nhiên, sự đề cập đó còn rất sơ lược, thậm chí một số thuậtngữ, nhận định, sự kiện vẫn cần phải được làm rõ thêm [4]
+ Cuốn: “Nhân dân các dân tộc Tây Bắc chống thực dân Pháp xâm lược 1858-1930”, Tập 1 (Sơ thảo) của Ban dân tộc Khu tự trị Tây Bắc xuất bản năm
1972 Công trình đã khái quát được những nét chung về phong trào yêu nướcchống Pháp của đồng bào các dân tộc Tây Bắc, trong đó có sự tham gia của cộngđồng dân tộc Mường, nhất là cuộc khởi nghĩa của Lương Bảo Định và một số cuộckhởi nghĩa do các thủ lĩnh dân tộc Thái khởi xướng và lãnh đạo từ 1858 đến năm1930… tuy nhiên, cuốn sách vẫn chưa làm rõ được cụ thể, chi tiết về quá trình tộcngười của cộng đồng người Mường, về vị trí vai trò của cộng đồng người Mườngtrong công cuộc lao động xây dựng đất nước và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc [2]
+ Cuốn: “Một số vấn đề lịch sử và văn hóa Tây Bắc” Nhà xuất bản Đại
học Sư phạm, Hà Nội năm 2011 cũng đã đề cập khái quát những vấn đề cơ bản
về địa bàn cư trú, đặc điểm kinh tế xã hội, bản sắc văn hóa của dân tộc Mường
Trang 10từ 1954 đến nay tuy nhiên sự đề cập đó còn rất vắn tắt và chung chung, nhiềuvân sđề khoa học về dân tộc Mường vẫn chưa được làm rõ [10]
Có thể nói cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu vế thực trạng cácdân tộc thiểu số ở Hòa Bình trong lịch sử đến năm 1945 môt cách hoàn chỉnh,toàn diện Tuy nhiên các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học cũng đã địnhhướng và cũng là nguồn tài liệu quý cho chúng tôi nghiên cứu đề tài này Làm rõnhững vấn đề khoa học mà các công trình khác chưa có điều kiện thực hiện
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa và nhiệm vụ của đề tài 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng của đề tài là thực trạng các dân tộc của tỉnh Hòa Bình tronglịch sử đến năm 1945
+ Làm rõ thực trạng của các dân tộc thiểu số Hòa Bình trong lịch sử đến
năm 1945
3.2 Mục đích, ý nghĩa và nhiệm vụ của đề tài
+ Tái hiện một cách cụ thể, chi tiết hoàn chỉnh từ nguồn gốc ra đời đến đờisống kinh tế, văn hóa, địa vực cư trú của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình.+ Vai trò và vị trí của đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc thiểu số ởHòa Bình nói riêng và Việt Nam nói chung
+ Làm đa dạng và phong phú thêm bức tranh văn hóa của cộng đồng dântộc Việt Nam
+ Bổ sung nguồn tài liệu của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình vào khotàng văn hóa Việt Nam
+ Làm tài liệu để biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương, trong cáctrường phổ thông, đại học, cao đẳng ở Tây Bắc
+ Góp phần giáo dục ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa tốt đẹp của các dântộc thiểu số
4 Cơ sở tài liệu và và phương pháp nghiên cứu.
4.1 Cơ sở tài liệu
Đề tài dựa vào các tài liệu lưu trữ ở Trung ương và địa phương, bằng tiếngViệt, tiếng nước ngoài và các loại tài liệu điền dã ở địa phương…
Trang 114.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ chí Minh, đề tàichủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra còn kết hợpcác phương pháp khác như: phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, đánh giá tưliệu, sưu tầm tư liệu…
5 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục, tài liệu tham khảo đề tài có kếtcấu 3 chương
Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa các dân tộc tỉnh Hòa Bình
Chương 2: Thực trạng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình trong lịch
sử đến năm 1958
Chương 3: Thực trạng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình từ năm
1958 đến năm 1945
Trang 12
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC TỈNH HÒA BÌNH
1.1.Vị trí địa, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí
Hòa Bình là tỉnh miền núi giáp với đồng bằng sông Hồng và vùng núi TâyBắc; phía bắc giáp Phú Thọ, phía tây giáp Sơn La, phía nam giáp Thanh Hóa vàNinh Bình, phía đông giáp Hà Nội và Hà Nam Tỉnh Hòa Bình trải dài từ 20018’đến 2108’ vĩ độ Bắc và từ 104050’ đến 105052’ kinh Đông Hòa Bình có diện tích
tự nhiên là 4.811km2 - đứng hàng thứ 30 và với số dân 757.637 người (năm1999) [13, tr.79]
Hòa Bình án ngữ cửa ngõ miền Tây Bắc của Tổ quốc, cách thủ đô Hà Nộikhoảng 80km về phía tây theo quốc lộ 6 Hòa Bình có vị trí địa lí quan trọng, làđầu mối giao thông nối liền miền xuôi với miền núi Tây Bắc trên trục kinh tế HàNội – Hà Đông – Hòa Bình – Mộc Châu – Sơn La – Lai Châu Theo đường 15,Hòa Bình là điểm xuất phát của tuyến đường Trường Sơn lịch sử, nay nối HòaBình với miền tây Thanh Hóa Hơn hết, Hòa Bình chiếm vị trí trung chuyểngiữa miền Tây Bắc núi non trùng điệp, giàu tiềm năng tài nguyên thiên nhiênnhưng thiếu lao động, với miền đồng bằng châu thổ sông Hồng phì nhiêu nằmtrong tam giác tăng trưởng kinh tế quan trọng, có nguồn lực lao động lớn nhất cảnước Với vị trí như vậy đã tạo những điều kiện nhất định để cho cư dân pháttriển kinh tế - xã hội
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
1.1.2.1 Địa hình
Nhìn chung, địa hình của tỉnh Hòa Bình nổi bật với những đặc điểm sau:Hòa Bình là một tỉnh miền núi điển hình Hầu như toàn bộ diện tích củatỉnh là núi và cao nguyên Giữa núi và cao nguyên là những thung lũng sôngsuối, không có một đồng bằng nào đáng kể và đúng nghĩa của nó Núi đều thuộckiểu núi trung bình, không đâu có độ cao tuyệt đố tới 1500m Độ cao đa số là
Trang 13dưới 1000m, tập trung chủ yếu các huyện phía tây của tỉnh như Đà Bắc, MaiChâu, Tân Lạc Rải rác có một số đỉnh núi cao xấp xỉ 1400m như Phu Canh(1420m), Pà Cò (1343m), Núi Biên (1198m)… chỉ có một diện tích rất nhỏ bécủa các bề mặt đồng bằng, thung lũng là có độ cao tuyệt đối từ 20 đến 40m, tậptrung ở Lạc Thủy và Yên Thủy.
Địa hình Hòa Bình thấp dần từ Tây sang Đông Phía tây của tỉnh là các đỉnhnúi có độ cao trung bình trên 500m, một số đỉnh núi cao trên 100m như HangKia (1044m), dải núi đá vôi Pà Cò (1343m) Phu Canh (1420m) Khu vực trungtâm của tỉnh có độ cao giảm xuống 300m Khu vực phía đông giáp với Hà Nội,
độ cao trung bình chỉ còn dưới 100m [13, tr.84]
Hướng chủ yếu của địa hình là tây bắc – đông nam Hầu hết các dãy núihay thung lũng đều chạy theo hướng tây bắc – đông nam Các dãy núi phía tâythuộc hệ Trường Sơn, nằm ở tả ngạn sông Đà, kéo dài từ Mai Châu qua Tân Lạc
và kết thúc ở nam Yên Thủy
Do ảnh hưởng của đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, ở vùng núi quátrình xâm thực chia cắt địa hình diễn ra mạnh mẽ, mạng lưới thủy văn dày, độdốc lớn, mật độ chia cắt địa hình cao, quá trình xâm thực, lở đất đất trượt pháttriển mạnh Ở các khu vực đá vôi hình thành các dạng địa hình cacxtơ độc đáonhư động Thác Bờ, động Cô Tiên, hang Luồn (Yên Bồng – Chi Nê); nhiều lòngchảo cacxtơ rộng thuận lợi cho việc tập trung dân cư và phát triển nông nghiệp
1.1.2.2 Khí hậu
Hòa Bình mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với một mùa đôngngắn, lạnh, ít mưa và một mùa hạ dài, nóng, mưa nhiều Khí hậu Hòa Bình mangtính chất rõ nét do có chế độ bức xạ nội chí tuyến mang lại một nền nhiệt độ cao.Nhiệt độ trung bình hàng năm ở các nơi trong tỉnh thường trên dưới 230C
Tính chất gió mùa đã tạo nên sự khác biệt rất rõ rệt giữa hai mùa Về mùađông, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, đặc biệt trong 3 tháng (XII, I, II),nhiệt độ không khí giảm đi rõ rệt Trung bình tháng ở thành phố Hòa Bình dưới
200C Vào thời kì này, lượng mưa rất ít, ở thành phố Hòa Bình chỉ đạt 128,8mm
Trang 14Mùa hạ ở Hòa Bình thường kéo dài hơn các nơi khác trong vùng Từ thángIII đến tháng XI không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 200C Trong mùa
hạ, lượng mưa và số ngày mưa cao Mùa mưa thương bắt đầu từ tháng V đếntháng X, tập trung đông nhất vào tháng VII, VIII, IX với lượng mưa trung bìnhtháng khoảng 300 – 400mm Vì thế, lượng mưa bình quân năm ở Hòa Bình khácao, thường từ 1800 – 2200mm
Một đặc điểm khác của khí hậu Hòa Bình là hay có biến động chủ yếu dogió mùa kết hợp với địa hình gây nên Những số liệu quan trắc qua nhiều nămcho thấy các cực trị khác biệt rất xa so với khoảng cách trung bình Nhiệt độ caonhất đo được ở Mai Châu là 410C (ngày 12/5/1996), ở thành phố Hòa Bình tới41,20C (ngày 16/5/1940), trong đó nhiệt độ thấp nhất cũng hạ xuống tới 1,90C ởthành phố Hòa Bình và Mai Châu Lượng mưa ở Thành phố Hòa Bình chỉ trongngày 21/9/1975 đã đạt tới 340,6mm Các cơn giông cũng thường hay xảy ra vàomùa hạ, trung bình tới 70 ngày có giông trong một năm [13, tr 86, 87]
Nhìn chung, lượng nhiệt và độ ẩm dồi dào đã tạo điều kiện cho các nghànhsản xuất nông lâm nghiệp phát triển, khôi phục nhanh chóng thảm thực vật rừng.Tuy nhiên những biến động thời tiết cũng gây nhiều trở ngại bất thường cho sảnxuất và đời sống
2.1.2.3 Sông ngòi
Hòa Bình có mạng lưới thủy văn tương đối dày đặc Trong tỉnh có 11 consông chính, thuộc các hệ thống sông Đà, sông Bưởi… có sông Đà là sông lớnnhất nằm trong hệ thống sông Hồng chảy qua các huyện Mai Châu, Tân Lạc, ĐàBắc, thành phố Hòa Bình, Kì Sơn với tổng chiều dài lên đến 100km Sông Đà cóđặc điểm tương đối dốc và chảy siết vì vậy có tiềm năng thủy điện lớn, đồngthời còn có giá trị về giao thông Ngoài sông Đà trong tỉnh còn có nhiều sôngnhư sông Bôi (125km), sông Bưởi (130km), sông Bùi (32km) Ngoài ra trongtỉnh còn có hệ thống suối, hồ, ao, đầm… đa dạng tạo điều kiện cho việc cungcấp tưới tiêu đồng ruộng Hệ thống sông suối mang lại nguồn thủy sản và pháttriển du lịch
Trang 151.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
1.1.3.1 Tài nguyên đất đai
Nguồn gốc tạo nên các loại đất trên địa bàn tỉnh Hòa Bình là các loại đátrầm tích, mác ma và đá biến chất Trên mỗi loại đá phát triển một loại đất vớinhững tính chất khác nhau Khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng ẩm vàlạnh khô khác biệt khá rõ rệt là một trong những điều kiện hình thành đất feralit,lọai đất điển hình của tỉnh
Hòa Bình có 7 nhóm đất chính với 23 loại đất khác nhau Gồm nhóm đấtphù sa, nhóm đất dốc tụ, nhóm đất đen trên sản phẩm phong hóa đá vôi, nhómđất bạc màu, nhóm đất feralit có diện tích lớn nhất
Nhìn chung nhóm đất feralit là nhóm đất điển hình của tỉnh chiếm phần lớndiện tích và gấp khoảng 18 lần đất phù sa Đại bộ phận đât feralit có tầng trungbình và dày, phát triển trên địa hình dốc dưới 300, nhiều khả năng thâm canh lâmnghiệp và trồng cây công nghiệp lâu năm, một phần để trồng cây công nghiệpngắn ngày và cây lương thực
Loại đất phù sa ven các con sông tạo điều kiện trồng các loại cây ngắn ngàynhư: lạc, đậu, rau, củ, lúa… cây lâu năm như chè, vải nhãn và đặc biệt trồngrừng nguyên liệu
1.1.3.2 Tài nguyên khoáng sản
Do đặc điểm kiến tạo và cấu trúc địa chất phức tạp, đa dạng nên Hòa Bình
là tỉnh có nguồn khoáng sản phong phú, với tiềm năng ở mức độ khác nhau.Nhiều loại khoáng sản được thăm dò, khai thác sử dụng từ lâu Có loại đangđược nghiên cứu và khai thác bước đầu
Khoáng sản trong tỉnh có thể chia thành 4 nhóm chính: nhiên liệu (than),kim loại (vàng, sắt, đa kim, đồng, chì, kẽm, thủy ngân, atimoan và boxit), phikim loại (pirit, phốtphorit, cao lanh, sét) và nước khoáng
Với tiềm năng khoáng sản đa dạng và phong phú như trên, Hòa Bình đã vàđang tiến hành nghiên cứu, định hướng quy hoạch, khai thác và sử dụng mộtcách hợp lí
Trang 161.1.3.3 Tài nguyên rừng
Nằm ở vùng nhiệt đới ẩm nên giới sinh vật của Hòa Bình khá phong phú và
đa dạng Nông – lâm nghiệp là tiềm năng kinh tế hàng đầu của tỉnh, đặc biệt làtiềm năng lâm nghiệp với diện tích tương đối lớn tạo cho Hòa Bình có nguồn tàinguyên phong phú, với nhiều loại gỗ quý như: lim, lát, dò, de… dùng trong xâydựng và nhiều loại sử dụng trong dân dụng như: tre, nứa, song, mây… ngoài racòn có nhiều sản vật quý như: nấm hương, linh chi, măng, mộc nhĩ… rừng cònnhiều loại cây thuốc quý như: sa nhân, hoài sơn, hà thủ ô, ngũ gia bì, thổ phụclinh… trong rừng có nhiều loại động vật quý hiếm
1.2 Tình hình dân cư, kinh tế văn hóa, xã hội
1.2.1 Tình hình dân cư
1.2.1.1 Dân số
Đến năm 1999 dân số tỉnh Hòa Bình đạt 757.645 người So với năm 1975khi còn là một bộ phận của tỉnh Hà Sơn Bình dân số Hòa Bình khi đó mới có432.200 người đã tăng thêm 325.445 người, bình quân mỗi năm tăng 3,01%.Cùng với thời gian này (1975 – 1999), mức tăng dân số cả nước là 2,4% Tuyvậy hiện nay dân số Hòa Bình mới xếp thứ 46 và bằng 0,99% dân số cả nước.Hòa Bình là tỉnh có biến động dân số vào loại mạnh và kéo dài hàng ¼ thế
kỉ qua Sự biến động nảy sinh trong điều kiện kinh tế lịch sử đặc biệt Đó là việcxây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình đã bắt đầu giai đoạn nhập cư lao độngvới quy mô chưa từng có, đồng thời với việc phân bố dân cư khi quần cư vùnglòng hồ ngập chìm trong nước Mức tăng dân số cao liên tục suốt thập kỉ 80:
1980 – 1985 là 3,1%, 1986 – 1990 là 4,25% Bước sang thập kỉ 90, dân số tăngbình quân trung bình 1,39% Tuy vậy từ năm 1996 đến nay, mức tăng dân số đã
hạ thấp [13, tr 91]
Mật độ dân số trung bình của tỉnh năm 1999 là 152 người/km2 Như vậy sovới các tỉnh vùng núi và trung du phía Bắc thì Hòa Bình có mật độ vào hàngtrung bình, nhưng so với vùng Tây Bắc thì có mật độ dân số cao hơn hẳn (SơnLa: 61 người/km2, Lai Châu; 35 người/km2) [13, tr 96] Đến nay dân số của tỉnh
Trang 17ngày càng tăng cung cấp nguồn lao động tạo điều kiện thuận lợi để phát triển
kinh tế
1.2.1.2 Dân tộc
Hòa Bình là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, trong đó đồng bào Mườngchiếm số đông nhất (trên 60% dân số) Người Mường chiếm đại bộ phận dân sốcác huyện Lương Sơn, Kim Bôi, Tân Lạc, Kì Sơn, Lạc Sơn, Yên Thủy Ngoài racòn sống đan xen với các dân tộc khác ở các huyện, thị còn lại Người MườngHòa Bình chiếm 43,3% số người thuộc dân tộc Mường cả nước [13, tr 94]Dân tộc Kinh đứng thứ hai trong kết cấu dân tộc của tỉnh với trên 30% dân
số, có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội và có mặt ở hầuhết các huyện, thị trong tỉnh Đồng bào Thái chỉ tụ cư ở huyện Mai Châu, chiếmtới trên 61% dân số toàn huyện Ngoài ra trong tỉnh còn có các dân tộc khácnhư: Tày sống tập trung ở Đà Bắc, người Dao chủ yếu ở Đà Bắc và Kim Bôi,người H’Mông sinh sống ở xã Hang Kia và Pà Cò của Mai Châu Các dân tộc ítngười khác số lượng không đáng kể
Các dân tộc trong tỉnh đã đoàn kết trong quá trình sinh sống tạo thành mộtcộng đồng văn hóa đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc
1.2.2 Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Hòa Bình trước năm 1945
1.2.2.1 Kinh tế
Trước năm 1945 kinh tế Hòa Bình kinh tế Hòa Bình chủ yếu là nền kinh tếnông nghiệp lạc hậu nghèo nàn, sản xuất mang tính tự cung, tự cấp, đặc biệt là ởvùng núi cao kinh tế mang nặng tập quán du canh, du cư, đốt nương làm rẫy.Cuộc sống chủ yếu dựa vào lượng ruộng nước ít ỏi và nương rẫy, hái lượm rau
củ quả… có sẵn trong tự nhiên và nền kinh tế nông ngiệp cũng phụ thuộc nhiềuvào tự nhiên Ruộng đất phần lớn nằm trong tay các địa chủ điển hình ở đây làcác Lang Đạo Dưới ách thống trị của thực dân phong kiến kết hợp với chế độLang Đạo hà khắc nền kinh tế nông nghiệp hết sức lạc hậu, phương thức canhtác lạc hậu, năng suốt lao động thấp, thêm vào đó là sự bóc lột tàn bạo của bọn
Trang 18thực dân và chế độ nhà Lang với hàng loạt thuế khóa, phu phen, tạp dịch, đã làmcho đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.
Sau cách mạng tháng Tám, đặc biệt là sau ngày giải phóng đời sống củanhân dân ngày càng được ổn định Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cùngvới sự quyết tâm của nhân dân trong quá trình phát triển kinh tế Hòa Bình ngàymột đổi thay và có sự phát triển kinh tế đáng kể Nhân dân Hòa Bình đang cùngnhân dân cả nước góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh,văn minh
1.2.2.2 Văn hóa, xã hội
Hòa Bình là một tỉnh có bề dày lịch sử văn hóa, với nền văn hóa bản địaphong phú và đa dạng Là trung tâm của nền văn hóa Hòa Bình, với sự ra đờicủa nghề nông trồng lúa nước Các cư dân trong tỉnh đã đoàn kết trong quá trìnhsinh sống và lao động tạo nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.Sau khi thực dân Pháp xâm lược đã thực hiện chính sách ngu dân nô dịch,chúng khuyến khích các phong tục mê tín dị đoan trong nhân dân, du nhập vàbắt nhân dân tiếp nhận các tệ nạn xã hội… trường học không được mở, chỉ cómột vài trường chỉ dành cho con các nhà Lang Chính sách của thực dân Pháp đãlàm cho 90% dân số trong tỉnh bị mù chữ Thêm nữa đó là chính sách cai trị, bóclột hà khắc, của thực dân pháp cùng chế độ nhà Lang làm cho đời sống nhân dân
vô cùng cực khổ
Sau khi đất nước được giải phóng, với cách chính sách của Đảng và Nhànước về văn hóa, xã hội đời sống văn hóa tinh thần được cải thiện, số ngườiđược đi học và biết chữ tăng lên Hiện nay với sự đoàn kết của nhân dân trongtỉnh đã cũng nhau xây dựng quê hương Hòa Bình ngày càng giàu mạnh
1.2.2.3 Truyền thống lịch sử
Hòa Bình là tỉnh có truyền thống lịch sử lâu đời, nhân dân các dân tộc trongtỉnh có truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quêhương đất nước Ngay từ những năm đầu công nguyên, trước sự thống trị tànbạo của phong kiến phương Bắc nhân dân câc dân tộc tỉnh Hòa Bình đã cùng
Trang 19nhau hưởng ửng cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng đánh đuổi sự đô hộ của quânĐông Hán.
Thế kỉ XV, phong kiến nhà Minh xâm lược và thống trị nước ta Năm 1409,Trần Quý Khoáng dựng cờ khởi nghĩa chống quân Minh dựa vào sự ủng hộ củađồng bào Mường, lập căn cứ vào vùng núi Nghệ An Trên đường tiến quân raBắc được đông đảo đồng bào Mường Hòa Bình hưởng ứng Đồng bào đã anhdũng cầm cự với địch tại châu Quảng Oai (Kì Sơn xưa thuộc châu Quảng Oai).Mùa xuân năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn (Thanh Hóa),dải đất liền mạch với địa bàn cư trú của đồng bào Mường Thanh Hóa và HòaBình che chở giúp đỡ Trong cuộc tiến quân ra giải phóng Đông Quan (Hà Nội),kết thúc cuộc kháng chiến 10 năm gian khổ giành độc lập dân tộc, nghĩa quân đãđược nhân dân Hòa Bình hết lòng ủng hộ
Thế kỉ XVIII, tập đoàn phong kiến phương Bắc Mãn Thanh đem quân xâmlược nước ta Mùa xuân năm 1789, Nguyễn Huệ đem quân từ Phú Xuân ra đánhquân Thanh Trên đường qua Lạc Sơn – Kim Bôi, nghĩa quân được nhân dânHòa Bình tận tình giúp đỡ, lập nhiều chiến công dũng cảm vào cuộc kháng chiếnchống ngoại xâm của Nguyễn Huệ
Ngoài ra nhân dân các dân tộc trong tỉnh đoàn kết chống lại chế độ phongkiến hà khắc, với các cuộc khởi nghĩa nông dân do Trần Tuân, Phùng Chươnglãnh đạo (cuối thế kỉ XV), Nguyễn Duy Hưng (nửa đầu thế kỉ XVIII), đặc biệtcuộc khởi nghĩa của Lê Duy Lương lãnh đạo vào nửa cối thế kỉ XIX đã lấy vùngMường Bi (Tân Lạc) và Mường Âm (Yên Thủy) làm căn cứ
Tiếp nối truyền thống đánh giặc cứu nước của ông cha, khi thực dân Phápxâm lược, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc Hòa Bình đã nêucao truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất, đã anhdũng đứng lên cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước Dưới sự tậphợp, lãnh đạo của các tù trưởng, sĩ phu yêu nước Nhân dân trong tỉnh đã giànhđược nhiều thắng lợi ở: Chợ Bờ, Yên Lãng, Niên Kỉ… làm cho thực dân Pháp
và bè lũ tay sai bao phen khiếp sợ Đặc biệt với sự lãnh đạo của Đảng, truyềnthống yêu nước, đánh giặc cứu nước được phát huy cao độ, kết thành một làn
Trang 20sống mạnh mẽ nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước, làn song cách mạng
đó là cách mạng Tháng Tám năm 1945, là cuộc kháng chiến trường kì chốngthực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mĩ, làm nên chiến thắng Lê Lợi, chiếndịch Hòa Bình tạo tiền đề cho chiến dịch Tây Bắc, chiến dịch Điện Biên Phủlừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu
Trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước, nhân dân Hòa Bình ra sức thi đuasản xuất, chi viện sức người, sức cử cho nhân dân Miền Nam Đồng thời cùngvới nhân dân Miền bắc nhân dân Hòa Bình đã góp phần làm thất bại hai cuộcchiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, hoàn thành tốt nghĩa vụ hậu phương lớnvới tiền tuyến lớn, góp phần quan trọng vào chiến thắng trên chiến trường chínhMiền Nam, buộc Mĩ phải kí hiệp định Pari, rút hết quân về nước, đập tan ngụyquyền Sài Gòn, đưa lại nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc.Ngoài truyền thống đấu tranh yêu nước, nhân dân các dân tộc tỉnh HòaBình còn có truyền thống cần cù, sáng tạo, truyền thống đoàn kết, nhân ái giúp
đỡ tương trợ lẫn nhau… tạo nên một cộng đồng có nét văn hóa truyền thốngriêng, góp phần vào truyền thống văn hóa toàn thể dân tộc Việt Nam
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, đất đai, sông ngòi của Hòa Bình thuận lợicho con người sinh sống và hội tụ các cộng đồng cư dân trong vùng và từ nơikhác đến làm ăn sinh sống làm ăn trên mảnh đất này Sự hòa huyết giữa cáccộng đồng cư dân Hòa Bình hình thành nên một cộng đồng cư dân thống nhất,
họ cùng nhau lao động xây dựng quê hương đất nước và góp sức cùng cả dântộc Việt Nam đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
Trang 21
Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HÒA BÌNH TRONG
LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1858 2.1 Dân tộc Mường
2.1.1 Nguồn gốc lịch sử
Trước đây, tên tự gọi của người Mường là Mol, Mual, Mon, Moan, Mó…
có nghĩa là “người” Hiện nay, Mường là tên gọi chính thức Ngày xưa Mường
là một từ chỉ địa vực hành chính tương đương một châu, huyện hay một xã lớnnhư Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động Trải qua một thời
gian dài Mường đã trở thành tên gọi chính thức của một dân tộc Theo sử thi Đẻ đất đẻ nước thì người Mường được sinh ra từ rất sớm, khi mà trên thế gian này
chưa có cỏ cây muông thú Người Mường được sinh ra từ trứng con chim Nhần:
"Con Nhần Vãi xuống Mường Pưa Những trứng pầm lầm, pộc lộc
Ba góc 4 vuông Tuông nào thành tuông ấy Gươm xỉa không vào Dao chém không dứt…
Trứng nhần đã nở
Và trước nghe réo rắt tiếng Táo (Người Kinh) rồi đến Ngô, Lào, Rự (Thái), Xá (Dao),
Lá xá tiếng Mường ra sau” [1, tr 214, 217]
Dựa trên kết quả của nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, khảo cổhọc, dân tộc học, dân tộc Mường và dân tộc Việt trước đây mấy ngàn năm cóchung tổ tiên là người Lạc Việt, chủ nhân của nền văn hóa Sơn Đông rực rỡ ởViệt Nam Nghiên cứu cho rằng đặc điểm nhân chủng học người Việt và ngườiMường có nhiều điểm giống nhau Các nhà ngôn ngữ cũng phát hiện được tiếngMường và tiếng Việt cổ xưa kia chỉ là một Suốt thời kì bắc thuộc, sự phân lythành hai dân tộc diễn ra bởi chính sách áp bức bóc lột của bọn đô hộ phong
Trang 22kiến ngoại tộc Người Việt vùng đồng bằng phải sống chung với bọn phong kiếnnước ngoài nhưng họ lại có điều kiện tiếp xúc và học tập những tinh hoa của cácnền văn hóa lớn như Trung Hoa, Ấn Độ, Chiêm Thành, trải qua hàng ngàn năm
họ trở thành người Kinh hiện nay Người Mường chính là một bộ phận củangười Việt cổ sống ở vùng rừng núi lâu ngày cho nên trong đời sống sản xuấtcũng như trong đời sống sinh hoạt, đồng bào vẫn giữ nét văn hóa cổ
2.1.2 Địa vực cư trú
Sự phân bố cư trú của người Mường ở Hòa Bình gắn liền với nguồn gốclịch sử, môi trường tự nhiên của khu vực cũng như tập quán sản xuất của ngườiMường Là chủ nhân lâu đời nhất của mảnh đất Hòa Bình, người Mường cư trú
ở khắp các huyện, thị trên địa bàn tỉnh nhưng mức độ phân bố cư trú khôngđồng đều Tại Hòa Bình người Mường cư trú ở các khu vực địa hình thấp, độcao trung bình là 300m, nơi mà trước kia trung tâm trù phú nhất của ngườiMường là Mường Bi (Tân Lạc) trong đó còn có nhiều mường nhỏ như: Mường
Cá, Mường Dâm, Mường Lò, Mường Cần, Mường Sỉ, Mường Dọi, Mường Bận,Mường Nhung Mường Vang (Lạc Sơn), Mường Thàng (Kì Sơn), MườngĐộng (Kim Bôi)
2.1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội
Về kinh tế nông nghiệp: sự hình thành cách làm ruộng và trồng lúa, truyện
cổ tích người Mường vẫn còn lưu giữ câu chuyện về Lịch sử làm ra ruộng lúa.
Truyện kể khi loài người chỉ biết săn bắt và làm cách sinh nhai, ông Tá Bố Lèmtrong một hôm vào rừng lấy cỏ gianh, nửa đêm gặp trời mưa lụt lội, ông đã nhìnthấy ngay dưới chân mình có bãi hình con ốc, khe có cá, có nước, có thể ra chỗnày vỡ ruộng đắp bai, khai nương lấy nước Ông đã cắm đất rồi về kể với dânlàng, rồi dân làng kéo vào rừng chặt cây săng pét, săng po (là những thứ câyrừng) để khai mương đắp ruộng Những con trai, con gái khỏe mạnh thì đemnhững đàn trâu đen ra cày ngang, đem đàn bò vàng ra cày lại, cày đi cày lạinhiều lần và vỡ thành ruộng, đắp thành bai
Truyện còn kể về kinh nghiệm gieo trồng lúa của người Mường: Mạ tháng
5 phải ngâm nước 1 đêm 2 ngày; mạ tháng 10 phải ngâm nước 2 đêm 3 ngày
Trang 23Tháng 7 lúa lên xanh, tháng 8, 9 lúa ra đòng và tháng 10 bông lúa đã chín vàng.
Và cũng từ đấy người Mường thoát khỏi cuộc sống săn bắt có gạo để ăn Trongtruyện còn có một chi tiết về việc dân làng đi lấy giống lúa giống ở MườngBúng, Mường Bống
Đẻ đất đẻ nước còn cho thấy một quy trình từ chọn giống lúa, đến gieo mạ,
cấy lúa và gặt hái của người Mường như sau: các loại giống lúa ở Mường gồm
có lúa vàng, lúa dé, nếp nghè, nếp trứng khe, chăm ốc, nếp củ ong (nếp hoavàng), nếp củ đen (nếp hạt cau); cách làm ruộng, đắp mương: “đi chặt cọc đắpbai, chặt cây đắp mương, đốn cây gỗ to làm chống, gióng cây mương làm mángdài dài”; cách làm cày để cấy: “Chặt cây nang nách làm ách, dây rạch làm ướng,dây sen tướng làm chão, cây bông bái, bông báo làm bừa, cây chò chỉ làm cày”;quy trình gieo mạ và gặt hái: tháng tư, vãi mạ xuống nắc (ruộng để gieo mạ), gieo
mạ xuống nà (ruộng), tháng bảy lúa non lên, tháng 8 lúa chửa đòng đòng, tháng 9đòng cong trổ lúa, tháng 10 lúa chín đỏ; gặt lúa đem phơi và gác trên gác bếp; rồixay làm gạo Từ đó mọi người trong làng không bị đói nữa [14, tr 176]
Sống ở khu vực miền núi người Mường đã biết khai thác đất tự nhiên để cóđất canh tác Họ biết tận dụng những khu đất có mặt bằng tương đối bằng phẳngtrong thung lũng và khắp mọi nơi để làm ruộng, cho nên mặc dù không cónhững cánh đồng rộng lớn như người Việt ở đồng bằng sông Hồng, nhưngngười mường ở Hòa Bình cũng không thiếu đất canh tác Với kinh nghiệm làmthủy lợi được tích lũy từ thế hệ này qua thế hệ khác, dựa vào nước ven sông vànhững con suối chảy, họ biết cách thiết lập hệ thống mương, bai, xe nước, ốngnước dẫn nước tự tạo chạy ngang dọc trên các cánh đồng, nhằm đưa nước lênchân ruộng cao và đi khắp mọi nơi một cách đều đặn phục vụ cho việc trồng lúanước Ruộng thường được trồng lúa nếp dùng làm cây lương thực chính, làmnguyên liệu để nấu rượu cần và cơm lam khá ngon Tập quán trồng lúa nước đãthâm nhập vào tín ngưỡng cuẩ người Mường Trong các dịp lễ hội rửa lá lúa, lễhội cầu mưa gạo nếp được dùng đồ xôi cúng lễ
Các sản phẩm hoa màu như ngô, sắn và các loại rau đậu thường được ngườiMường trồng trên nương Những nương có vị trí thuận lợi, màu mỡ cũng được
Trang 24người Mường trồng lúa gọi là lúa cạn Người Mường rất thành thạo từ khâu lựachọn đất để làm nương cho đến phương thức canh tác rên các sườn dốc Nhữngsản phẩm thu được từ nương là nguồn rau quả quan trọng trong đời sống hàngngày Trong sản xuất gia đình chăn nuôi cũng là nguồn thu nhập đáng kể nhưtrâu, bò, gà lợn… phát triển nhằm phục vụ đời sống; hái lượm và đánh cá vớicác sản phẩm thu được gồm các loại lâm thổ sản, rau, măng, hoa quả, cá, ốc… lànguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho bữa ăn hàng ngày, cùng với hái lượm làsăn bắn các loại thú.
Nghề thủ công: trồng bông, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, dệt cạp váy lànhững công việc quen thuộc, từ lâu đã trở thành tập quán của người Mường.Việc ra đời nghề tằm quang gắn liền với cảnh quan, môi trường, với tập quán và
sự phân công lao động xã hội Mường xưa và trước hết là đáp ứng nhu cầu củacuộc sống Lần theo dấu vết của những tác phẩm văn học dân gian Mường HòaBình, có thể thấy nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải của người Mường ra đời từrất sớm, từ lúc đẻ đất, đẻ nước đã có rồi, tuy nhiên nghề thủ công này vẫn chỉđóng khung trong phạm vi gia đình, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngàytrong gia đình và chỉ một phần nhỏ để trao đổi buôn bán Trong quá trình sản
xuất chưa có trao đổi, phân công lao động xã hội Ngoài ra dựa vào Đẻ đất đẻ nước chúng ta còn biết đến các nghề thủ công khác như: Nghề làm rượu cần có
thủy tổ là bà Dạ Dịt, Dạ Rậm, Dạ Tủ và cô gái Mường xinh đẹp Lò Ò Liệng.Thủy tổ của nghề dâu tằm là các cụ bà Dạ Dịt là người chăn tằm, Dạ Mằn làngười ươm tơ để kén, các bà truyền nghề cho nàng Dạ Kịt biết chăn tằm, ươm tơkéo sợi để dệt thành vải Còn mụ Dạ Dần cũng được người Mường coi là tổ sưlàm ra những chiếc trống đồng kim khí chính vì vậy trống của những thầy moMường thường mang theo to bằng đầu ngón tay có tên là trống Dạ Dần
Về xã hội tổ chức xã hội người Mường từng tồn tại nhiều tên gọi khác nhaunhư: tù trưởng, thổ tù, quan lang, thổ lang, thứ lang hay thổ đạo, nhà lang Trênthực tế còn nhiều tên gọi khác nhau để chỉ tổ chức xã hội nguyên thủy ngườiMường Tuy nhiên các tên gọi trên đều phản ánh quan hệ xã hội Mường Một sốcách gọi ban đầu, về ý nghĩa chưa thật sự phản ánh xã hội Mường Cách gọi sau
Trang 25này: lang đạo - nhà lang mang ý nghĩa tổng quát, phản ánh tương đối kháchquan xã hội Mường truyền thống
Một mường nhỏ có thể có vài làng đến chục làng, thường ở trung tâmmường được người Mường gọi là chiềng Trong tổ chức xã hội Mường cổ – nhàlang trước kia tự phân thành hai tầng lớp khép kín, không chuyển hóa lẫn nhau
về mặt con người Tất nhiên đẳng cấp người Mường không như đẳng cấp ở Ấn
Độ “Đẳng cấp” thống trị nhà lang tập hợp thành những tông tộc phụ hệ Mỗi tôngtộc như vậy chiếm giữ một Mường Mường đó bao gồm một thung lũng hẹp giữachân núi hay gồm nhiều thung lũng chạy dài nối liền nhau như Mường Bi Địagiới cũng để phân định mường này với mường kia, tộc này với tộc khác Ngoài ramỗi tông nhà lang còn có sự phân biệt ở tộc dang riêng – ví dụ họ Đinh Thế, ĐinhCông, họ Quách, Quách Đình, Bạch Công, Hoàng… theo tập quán người MườngHòa Bình, “đẳng cấp” thống trị cha truyền con nối làm lang Dĩ nhiên, không loạitrừ những trường hợp đặc biệt, ngoại lệ Khi nhà lang chống lại triều đình trungương, bị tiêu diệt hay thất bại trong cuộc chiến tranh giành quyền lợi tông tộc, hay
ức hiếp nhân dân trong mường quá mức sẽ bị nhân dân hạ bệ, thay thế “Đẳngcấp” bị trị là Mol hay Mol Mường (người Mường), họ không tập hợp nhau thànhtông tộc mà ở phân tán trong nhiều mường thành các gia đình nhỏ, hoặc các giađình cùng tông tộc nhưng lại cư trú ở các mường khác nhau
Tổ chức thống trị nhà lang được thiết lập trong từng mường, từng làngthuộc chiềng hay mường cũng phỏng theo tổ chức tông tộc nhà lang trên danhnghĩa được quản toàn mường, gọi là lang cun, trên thực tế lang cun chỉ quản một
số làng ở trung tâm mường mà người Mường gọi là chiềng Còn các con trưởngcủa các chi nhánh thứ thì quản từng làng hay một cụm làng ở ngoài gọi là langtao (lang tạo – lang đạo) Lang tạo phụ thuộc vào lang cun Dưới giúp việc langcun và lang tạo là ậu, ậu vị trí thấp hơn là ậu ún
Về mặt kinh tế nhà lang dựa vào quyền chiếm hữu và khai thác ruộng lang,thông qua chế độ ruộng nhà lang, nhà lang thể hiện tương đối đầy đủ quyền lựcthống trị của mình ở từng mường Các hình thức khai thác ruộng lang cho thấynghĩa vụ lao động nặng nề của những người dân ở trong mường – những kẻ bị
Trang 26trị của chế độ nhà lang Lang cun là chúa đất ở Mường Bi Toàn bộ rừng núi,đặc biệt là ruộng đất trong phạm vi mường đều thuộc về chúa đất.
2.1.4 Đặc trưng văn hóa
Trong đời sống văn hóa người Mường ở Hòa Bình mang đậm chất tự nhiên
và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Ngôi nhà truyền thống của người MườngHòa Bình là nhà sàn Nhà sàn được làm bằng tre, gỗ, nứa, lá Cách bố trí mặtbằng cũng phản ánh được đời sống văn hóa xã hội của người Mường NgườiMường theo chế độ phụ hệ nên trong ngôi nhà có hai cầu thang Cầu thang chínhdành cho nam và khách, được đặt ở đầu hồi phải Cầu thang phụ dành cho phụ
nữ và sân phơi được đặt ở đầu hồi trái Nhà chia làm hai phần theo chiều ngang,bên ngoài là phần thờ tổ tiên và tiếp khách nam giới, phía trong là bếp và nơisinh hoạt của phụ nữ theo chiều dọc nhà được chia thành các phần bên trên vàdưới, thông thường người cao tuổi thường ngồi ở trên còn người địa vị thấp hơnngồi dưới Bếp được đặt ngay trong nhà, còn trâu bò nhốt ở dưới gầm sàn
Người Mường thường dựa vào trồng trọt, chăn nuôi và hái lượm săn bắtlàm nguồn thức ăn chính Trong bữa ăn hàng ngày của người Mường cơm nếpđược sử dụng thường xuyên không chỉ no bụng mà nó còn có giá trị dinh dưỡngvốn có của nó lại dễ ăn trong điều kiện khó khăn và khan hiếm các nguồn thựcphẩm hàng ngày như thịt, cá, mỡ, dầu Do vậy lúa nếp được trồng nhiều hơn lúa
tẻ Bên cạnh việc trồng cây lương thực chính là lúa, ngô người Mường còn chănnuôi gia súc để tạo ra nguồn thực phẩm cung cấp chất dinh dưỡng cho các bữa
ăn Rau ăn hàng ngày được hái từ trong rừng và vườn nhà Bằng kinh nghiệmtích lũy lâu đời, người Mường biết được loại ra ngon nhất là rau khắng Các loạimăng rừng như măng nứa, tre, vầu, bương cũng cung cấp cho người Mường rau
ăn quanh năm Sông, suối là nguồn cung cấp thủy sản cho buôn làng, tôm, cua,
cá, ốc là nguồn thực phẩm hàng ngày của dân bản Ngoài ra người Mường cònsăn bắt, hái lượm bổ sung vào nguồn thức ăn Món ăn, thức uống của ngườiMường cũng rất phong phú như: rượu cần, nước chấm ớt, đĩa quéch (tai, đuôi,mũi, lưỡi lợn), nghách lưỡi, ốc cá, canh lóng, cá ướp chua…
Trang 27Trang phục của phụ nữ Mường thường là mặc áo ngắn và váy có dải thắtlưng và khăn đội đầu, trang phục của nam giới là áo cánh và áo dài và quần mayống rộng cả áo và quần thường có màu nâu Người Mường Hòa Bình tin vàothuyết vạn vật hữu linh và luôn trân trọng thờ cúng các linh hồn đó Các nghi lễthờ cúng này đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống người Mường NgườiMường tin rằng, con người khi chết đi sẽ thành ma và về thế giới bên kia Bênkia thế giới chết đi ma sẽ về quẫy nhiễu con cháu, làm cho con cháu bị đau ốm,
do đó người ta phải cúng ma để ma không về nhà nữa Hầu hết các xóm mườngđều có thờ thành Hoàng, ngoài thành Hoàng họ còn thờ thành Tản Viên, ChúaThượng Ngàn, Thổ công, thần đá, thần cây Ngoài ra người Mường cũng thờcúng tổ tiên, họ tin rằng người đã chết vẫn tồn tại ở thế giới khác, có điều đặcbiệt là người Mường không chỉ thờ họ nội mà thờ cả họ ngoại, đây là điểm khácbiệt với nhiều dân tộc khác ở nước ta Trong văn hóa tinh thần người Mườngcòn có rất nhiều lễ hội như: xuống đồng (khuổng mùa), sắc bùa (xéc bùa), cầumùa, cầu mưa, lễ cơm mới, lễ đu treo…
2.2 Dân tộc Thái
2.2.1 Nguồn gốc lịch sử
Người Thái là tộc người đã sinh sống lâu đời ở miền Tây Bắc nước ta Căn
cứ vào địa giới hành chính cũ của nước ta thì họ sống ở châu cực Bắc Vì vậytrong những cuộc thiên di lớn của họ xuống phía Nam đều có thể coi là nhữngcuộc di chuyển trong nội bộ miền Tây Bắc thời ấy
Sử nước ta ghi, thời nhà Lý có các tù trưởng Ngưu Hống (ý chỉ người Thái– TG) đã về kinh đô dâng cống vật cho triều đình Tư liệu lịch sử này đã chứng
tỏ vào đời Lý (thế kỷ thứ XI) và có thể trước nữa, quý tộc Thái đã làm chủ nhiềuvùng ở miền Tây Bắc
Một số tác giả nước Pháp đã viết về người Thái Tây Bắc (H Roux,Sylvestre…) đều có ý cho rằng người Thái chỉ có mặt Tây Bắc sau những cuộcthiên di lớn của họ từ phương Bắc xuống Có ý kiến cho rằng nhận xét này thiếu
cơ sở Cho đến nay, căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu hiện có người Thái đã cómặt ở Tây Bắc từ trước những cuộc thiên di lớn của họ từ phương Bắc xuống,
Trang 28thậm chí tổ tiên của họ có thể là một thành phần trong những nhóm cư dân bảnđịa của các nghành người Việt cổ.
Sách kể chuyện bản mường của người Thái, cũng như những truyền thuyếtdân gian đã nói về quê hương xa xưa của người Thái là vùng có ba dải đất lớn,được tưới nước bởi chín con sông là sông Hồng và sông Đà Ta có thể vùngrộng lớn này như hình rẻ quạt bao gồm các miền khu vực sông Hồng, sông Đà,sông Mã, sông Nậm U, sông Nậm Na… kéo dài đến vùng Bạch Hạc Có truyềnthuyết còn nói tổ tiên của người Thái ra đời từ đất Mường Thanh (Điện Biên) màxưa kia gọi là Mường Then, Mường Bỏ Té, ở đây còn di tích “quả bầu thần”trong đó có các giống người trong đó có người Thái đã chui ra… truyền thuyết ẢiLậc Cậc rất phổ biến trong người Thái kể về một vị thần đã có công tạo ra nhữngcánh đồng Mường Thanh, Mường Lò, Mường Tấc, Mường Than… cũng nó lên
sự gắn bó rất lâu đời của tổ tiên người Thái với mảnh đất này Người Mường HòaBình cũng có truyền thuyết nói về Mường Thanh là đất của người Rự Rự là âmđọc lệch của Lự - một trong những nghành người Thái cổ ở Tây Bắc
Qua tư liệu về người Thái nhất là dựa vào những điều sách chữ Thái cổ(Quam tô mương, Piết mương, Phanh mương, Táy pú xớc…) đã ghi lại, bướcđầu chúng ta có thể có một số nhận xét: Từ lâu đời quê hương của người Tháicũng như một số anh em khác nằm trong một vùng rộng lớn với những trungtâm nổi tiến như khu vực Xíp - xong - păn - na (Vân Nam), khu Mường Om,Mường Ai (thuộc các châu Tung Lăng, Hoàng Nham), khu Mường Bỏ Té (naythuộc Tây nam Vân Nam, thượng Lào giáp Điên Biên) và Mường Thanh (ĐiệnBiên) Trong những trung tâm ấy có những nơi thuộc miền đất cũ của Việt Nam
Từ đó sự có mặt của những nhóm lẻ tẻ người Thái xen lẫn các nhóm tộc anh emkhác ở Tây Bắc, một vùng không xa những nơi liền kề là chắc chắn Nhưng rõràng là sự có mặt đông đúc của người Thái ở Tây Bắc hiện nay là phải qua cácđợt thiên di lớn của họ sau này
Đợt thiên di sớm nhất của người Thái trắng từ phía bắc vào các thung lũngMường Lay, Mường Tùng, Phong Thổ, Bình Lư… có thể đã được tiến hành
Trang 29trong thế kỉ thứ VII, cùng với nhóm người Tạng – Miến, vào thời kì thịnh hưngcủa nước Nam Chiêu.
Ở phía Bắc những người Thái trắng sau khi làm chủ được thung lũngMương Lay đã chạy dọc sông Đà xuống Mường Chiên (Quỳnh Nhai) MườngChiến (xã Mường Chiến – Mường La) và nhập vào cánh đông Phù Yên hòa vớingười Mường Một chi khác sau khi làm chủ được thung lũng Mường So (PhongThổ) đã tách một nhóm thiên di sang cùng mường Hước – Pước Kha hay Pa Kha(Bắc Hà – Lào Cai) theo dọc sông Hồng rẽ sang sông Đà, rồi tới lập nghiệp ởvùng Mộc Châu, vùng Mường Khòng, Thanh Hóa và vùng Mai Châu (HòaBình) tính đến nay được khoảng trên dưới 600 năm tức khoảng đầu thế kỉ XIV.Thời gian này phù hợp với thời gian các bộ phận thái ở vùng biên giới Việt Hoabiến động và tìm cách tràn xuống Tây Bắc, miền Hòa Bình, vùng núi Thanh Hóa
và tràn sang cả Trung Lào, Hạ Lào
2.2.2 Địa vực cư trú
Một trong những đặc trưng nổi bật của sự phân bố dân cư người Thái ở HòaBình là sự cư trú tập trung của người Thái ở Mai Châu Cư trú ở hầu hết các xãtrong đó có các xã có 100% là người Thái như Nà Mèo, Nà Phòn, Chiềng Châu,các xã có người Thái chiếm trên 50% như Tòng Đậu, Mai Hịch, Mai Hạ, XămKhòe, Bao La, Piềng Vế, Vạn Mai
2.2.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội
Người Thái ở Hòa Bình chủ yếu là cư dân nông nghiệp, làm ruộng nước ởmiền thung lũng, nằm giữa những dãy núi cao Bằng cách khai thác các thunglũng, tận dụng phù sa của các con sông, suối trong vùng, đồng bào Thái ở đây đãtạo nên những cánh đồng màu mỡ như Mường Pa, Mai Thượng, Mai Hạ (MaiChâu) Cũng như người Thái ở Việt Nam họ rất giỏi thiết lập các hệ thống thủylợi nhỏ để ruộng có nước, với sự kết hợp bốn biện pháp mương (đào mương),phai (đắp phai), lai (nắn dòng và lập hệ thống con), lin (đặt máng) Người Thái
có các kỹ thuật canh tác cổ truyền với các biện pháp vừa cày bừa, vừa sử dụngsức kéo của trâu bò, trong việc làm đất
Trang 30Ngoài ra sống ở những thung lũng và nơi rừng núi hiểm trở, nương rẫy làmột bộ phận không thể thiếu trong đời sống và sản xuất của người Thái Trênnương rẫy người Thái cố thể sản xuất rau, quả, cây lương thực và các loại sảnphẩm như bông, chàm để nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm, phục vụ cho may mặccủa họ Với tập quán sản xuất của cư dân làm ruộng nước, làm nương, chăn nuôigia súc làm nghề thủ công, xã hội người Thái đã hình thành một nền kinh tế tựcấp, tự túc mang đậm tính tự nhiên và còn phổ biến cho đến nay Trong dân caMai Châu xưa có nhắc đến các chàng trai sang Lào buôn trâu, bò mang vải vóc
đi đổi hàng, tiền bạc Mai Châu nằm trên trục đường buôn bán sang Lào và đãtrở thành ngã ba ngã ba giao lưu văn hóa giữa người Lào, Thái và Mường
Người Thái cũng là tộc người biết chăn nuôi gia súc, gia cầm và đây cũng
là một hình thức kinh tế quan trọng của người Thái ở Hòa Bình Ngoài chănnuôi các loại gia súc như trâu bò, lợn, gà hình thức nuôi cá trong ao cũng phổbiến là nguồn cung cấp thức ăn
Bên cạnh trồng trọt người thái còn săn bắt, hái lượm, đánh bắt cá với cácmức tương đối quan trọng, nên người Thái có câu tục ngữ:
“Con yêu con lớn bởi nhiều rau xanh
Bởi những cây măng trong rừng” [11, tr 163]
Công việc hái lượm do phụ nữ và trẻ em thực hiện Sản phẩm hái lượm rấtphong phú như rễ cây, lá cây, các loại củ, hoa quả, nấm ở trong rừng, những loạirau mọc ngoài ruộng… các loại lá, củ, rêu, tảo, cá, cua, ốc ở dưới suối Họ háilượm quanh năm, khi đi rừng kiếm củi, làm nương… không ngày nào họ khôngkiếm ra rau củ Người Thái sống gắn bó chặt chẽ với sông, suối nên đánh cá nơisông, suối được coi như một nguồn sống và đóng vai trò quan trọng trong cácloại hình kinh tế Hàng năm người Thái có hình thức đánh cá tập thể gọi là tụcphai Săn bắn cũng là một hình thức phổ biến đi săn, bắn là niềm vui của namgiới với hình thức săn tập thể phổ biến ở bản làng Thái
Trong các nghành nghề thủ công, người Thái Mai Châu trồng dâu, nuôitằm, dệt vải từ xa xưa Truyền thống này được truyền từ thế hệ này sang thế hệkhác Đây là ngành thủ công cổ truyền có tính tiêu biểu và đặc thù trong sinh
Trang 31hoạt văn hóa của người Thái Nghề dệt thổ cẩm cổ truyền ngoài có vai trò phục
vụ đời sống còn phản ánh tiêu biểu những đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóaThái Từ những chất liệu vải lụa dệt ra họ tự cắt may, thêu thùa cho mình những
bộ trang phục đặc sắc phù hợp với lứa tuổi, tầng lớp và hoạt động xã hội
Nền kinh tế chưa có sự phân công lao động lớn như chăn nuôi vẫn chưatách khỏi trồng trọt, thủ công nghiệp chưa tách khỏi nông nghiệp nên chưa xuấthiện thị trường tập trung Phần lớn nền kinh tế là tự cung, tự cấp lương thực thựcphẩm cho đến công cụ lao động như: cuốc, xẻng, các đồ dùng sinh hoạt, vậtdụng gia đình bằng nghề thủ công truyền thống
Về xã hội người Thái sống định cư, cư trú thành bản ở những thung lũngmàu mỡ, ven các sông, suối các cánh đồng giữa núi Họ cư trú trong các nhà sànthành từng cụm, nhiều cụm thành một bản có khoảng 40 – 50 nóc nhà, nhiều là
100 nóc Mỗi bản của người Thái có nhiều gia đình, dòng họ khác nhau, có đấtthổ canh, thổ cư, bãi cỏ chăn nuôi, khu mộ, nguồn nước riêng Bản của ngườiThái thường lui vào chân núi, nơi có độ dốc thoải, các bản nằm thành vành đai ởchân núi nhiều bản thành một mường
Bản làng là đơn vị dân cư nhỏ nhất trong hệ thống tổ chức hành chính củangười Thái Trong bản những ngôi nhà sàn san sát nhau không có hàng rào ngăncách với một đặc điểm là các nóc nhà không nằm trên cùng một đường thẳng.Người Thái quan niệm: mỗi nhà có một “hồn chủ”, “hồn chủ” đi đâu đều quanóc nhà nên để tránh cho “hồn chủ” khỏi bị nhầm, người ta làm mái nhà lệchnhau để “hồn chủ” không bị nhầm nóc nhà khác, gây cho gia chủ ốm đau vànhững điều phiền toái Hướng nhìn vừa xa, thoáng mát và nhìn ra cánh đồng
2.2.4 Đặc trưng văn hóa
Người Thái có tập quán sống trong các nhà sàn làm bằng các vật liệu như
gỗ, tre, nứa, vầu và lợp bằng cỏ tranh Chỗ đặt nhà thích hợp là những vị trí vừaphải, không cao quá, không thấp quá, có độ dốc thoải để dễ thoát nước mưa, cónguồn nước ngầm ở phía dưới để làm giếng nước ăn Nền nhà phải được đắp lêncao hơn so với xung quanh Hướng nhà thường quay lưng vào núi và hướng mặt
ra cánh đồng Dân tộc Thái có câu tục ngữ “ở nhà gác, sàn có cột” [14, tr 129].
Trang 32Trong khuôn viên thường có các mảnh vườn nhỏ trồng rau, gia vị Ngôi nhà củangười Thái thường có hệ thống dây buộc, chằng khá công phu Cửa được làmtheo quy cách nghiêm ngặt, do vậy bất cứ nơi đâu nhà của người Thái cũng làmtheo một hình thức Về mặt hình thức nhà sàn của người Thái có mái hình chữnhật với lan can quanh nhà Những nếp sinh hoạt của người Thái cũng phản ánhtâm lí, tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp sống ở vùng núi Quần thể khônggian cư trú của người Thái bao gồm các phần: nhà ở, nhà phụ, chuồng gia súc vàvườn tược xung quanh Cột nhà sàn làm bằng gỗ tốt không bị mối mọt, đượcchôn cất đưới đất hoặc kê trên những hòn đá tảng: xung quanh cột trụ chính làhàng chục cột trụ con đỡ phần sàn Gầm sàn đủ cao, thoáng, cầu thang thườngđược bố trí ở hai đầu hồi nhà Bố cục trong nhà phản ánh trật tự xã hội mangtính phụ quyền: phía trên bàn thờ và là chỗ ngồi của các bậc già cả, phía dưới đểvật dụng gia đình, phía ngoài tiếp khách, phía trong là nơi sinh hoạt gia đình vàphụ nữ đi lại Gian giữa ngôi nhà là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, nơi kiêng cữ, linhthiêng nên khi ngủ người Thái không bao giờ quay chân về phía bàn thờ Chủnhà bao giờ cũng nằm cạnh bàn thờ rồi mới đến con cháu.
Người Thái ăn uống không cầu kì, các món ăn khá đa dạng từ nguồn thựcphẩm có sẵn mà họ nuôi trồng và thu lượm được, thường cơm nếp, thịt gà, cá,măng, canh rau rừng… việc tìm kiếm thức ăn trong thiên nhiên là công việchàng ngày của đàn bà và trẻ con Bằng những kinh nghiệm của mình họ đã kiếmđược từ rừng mùa nào thức ấy, từ lá rừng đến quả rừng, củ rừng, nấm rừng,măng rừng Đánh bắt cá trên sông, suối gắn bó chặt chẽ với người Thái, việcđánh cá có tầm quan trọng không kém so với hoạt động sản xuất lương thực,
điều này thể hiện rõ trong câu tục ngữ: “Pay kin pa, mà kin kháu” (Đi ăn cá, về
nhà ăn cơm) [14, tr 637] Săn bắn tập thể cũng phổ biến trong bản làng ngườiThái, họ săn bắn các loại thú từ nhỏ như: gà rừng, cáo, nhím, chồn đến loại thú
to dữ như: hổ, gấu, lợn lòi… một số món ngon của người Thái như: cơm lam,lạp pò, nặm pịa, da trâu nấu canh bon, đuôi trâu hoặc đuôi bò, thịt trâu khô,măng đắng, tôm, ếch, cá nướng, thịt chuột rừng Trong văn hóa giao tiếp ngườiThái rất chân tình, cởi mở, nếu có dịp đến bản người Thái và ăn bữa cơm thanh
Trang 33đạm, khách sẽ được no say bởi không khí chân tình của chủ nhà, thể hiện quacách tiếp khách, vị trí chỗ ngồi của khách trong mâm cơm, các món truyềnthống thể hiện lòng tự hào dân tộc, thái độ cởi mở khi tiếp chuyện… xét ở khíacạnh sinh thái nhân văn, văn hóa của người Thái phản ánh mối quan hệ bềnvững giữa con người và môi trường tự nhiên từ tập quán tạo dựng bản làng đếnngôi nhà, người Thái đều gắn bó, hòa mình với thiên nhiên trong khu vực vàmang đậm bản sắc văn hóa đời sống tinh thần của người Thái Về trang phụctrang phục cả nam và nữ đều giản dị, gần gũi với môi trường, cảnh quan và lốisống, không đòi hỏi sặc sỡ và cầu kỳ Con gái mặc áo cóm và váy, trên người cóđeo một số trang sức như xà tích, vòng đeo cổ, trên đầu thì đội khăn.
Tín ngưỡng dân gian của người Thái gắn với quan niệm vạn vật hữu linh,mỗi ngôi nhà, bờ suối, gốc cây, hòn đá, cánh rừng, các đồ vật xung quanh… đều
có ngụ hồn và chịu sự cai quản của then luông, người Thái cho rằng mọi vậttrong cuộc sống đều được quy định bởi các phi (ma), bên cạnh phi còn có míkhoăn (hồn) Tín ngưỡng Thái còn có lực lượng siêu nhiên thuộc dòng nữ đểbảo vệ linh hồn con người, quan niệm người Thái còn cho rằng có hai thế giớisong song tồn tại là mường người và mường trời, trong đó có Then Luông làđứng đầu mường trời Như vậy người Thái cho rằng hạnh phúc, may mắn, bấthạnh đều do phi và Then chi phối, chính vì vậy từ xưa người Thái đã có tục thờcúng để bày tỏ nguyện vọng, quan niệm của con người trong thế giới thực tại vàtrong thế giới hư vô Ngoài ra người Thái còn thờ cúng tổ tiên, những ngườisống chung trong một gia đình khi chết đi sẽ thành phi hườn (ma nhà) Bàn thờ
là một ngôi nhà nhỏ (tượng trưng) thờ tổ tiên ba đời của chủ nhà Người Tháiquan niệm ma nhà luôn ở bên con cháu, chăm sóc mọi mặt của đời sống giađình, còn những ma ở mường trời hay mường rừng thì chỉ các ngày lễ mới đượcgọi về Trong đời sống văn hóa của người Thái Hòa Bình có nhiều lễ hội như:xên bản xên mường, lễ cúng ruộng (xên nà), cúng nương (xên háy), lễ cơm mới(khau mớ)…
Trang 342.3 Dân tộc Tày
2.3.1 Nguồn gốc lịch sử
Cũng như người Thái, tổ tiên người Tày là một tộc người trong khối nhữngngười Việt cổ xây dựng đất nước Văn Lang và về sau là Âu Lạc Người Tày ởTây Bắc tập trung ở vùng ngoài huyện Văn Chấn liền với khu vực người Tàythuộc các tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang Nhiều người vẫn nhớ tổ tiên của họ từLục Yên (Yên Bái) và từ Tuyên Quang truyền về Nhưng cũng có những nhómngười gốc là người Kinh từ Phú Thọ chuyển lên và dần dần “Tày hóa”
Người Tày vùng ngoài Văn Chấn tự nhận mình là Tày khao (Tày trắng), vì
ở sát người Thái đen và người Kinh, người Mường, người Tày đã tiếp thu nhữngyếu tố văn hóa của các nghành Thái và Việt – Mường nên người Tày ở đây cũng
có nét khác vùng Việt Bắc
Trong cuốn: "Góp phần tìm hiểu văn hóa cổ truyền của người Thái Mai Châu" tác giả cũng cho rằng Đà Bắc (Hòa Bình) có người tự nhận là Tày Đón
được gọi là Thổ Tác giả cho rằng đây là nhóm Thái Trắng Người Thổ Đà Bắc
tự nhận là “Phúa Tày” (người Thái) hay “Cồn Tày Đón” (người Thái Trắng).Sau phân tích nguồn gốc, đặc điểm xã hội, lịch sử, xã hội, tâm lý của nhóm ngườitrên, hai tác giả đi đến kết luận nhóm dân cư Thổ ở Đà Bắc giống với nhóm ngườiThái nhiều tiêu chuẩn Dẫu vậy người Thổ vẫn được gọi là người Tày Cũng có ýkiến cho rằng người Tày đến Hòa Bình gồm hai bộ phận Bộ phận đông nhất làngười Tày – Thái (như trên) Một bộ phận khác là người Tày từ các tỉnh của khuViệt Bắc tới Bộ phận này giống người Tày của vùng Việt Bắc Người Tày đếnHòa Bình cuối thế kỷ XIX và cư trú tập trung ở huyện Đà Bắc
2.3.2 Địa vực cư trú
Người Tày ở Hòa Bình chủ yếu tập trung ở huyện Đà Bắc Tại Đà Bắcngười Tày cư trú tập trung ở một số xã như: Tân Minh, Trung Thành, Đoàn Kết,Đồng Ruộng, Rân Pheo, Đồng Chum, Mường Chiềng, Giáp Đắt Họ còn sốngxen kẽ với người Mường ở Mường Tuổng, Suối Nánh, Đồng Nghê Khu vực
cư trú nói trên của người Tày nằm ở khu vực vùng núi cao
Trang 352.3.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội
Nghề chính của người Tày ở Hòa Bình là nông nghiệp trồng lúa nước Dựavào điều kiện tự nhiên của khu vực, họ đã có một nền kinh tế sản xuất nôngnghiệp khá phát triển với các mô hình: làm ruộng nước ở thung lũng, làm rẫybằng và dốc, trồng vườn cây đặc sản và chăn nuôi gia súc, đánh bắt cá, săn bắn.Người Tày cũng có kinh nghiệm lúa nước, ngô, khoai, sắn như người Thái vàngười Kinh Người Tày không có tập quán ăn độn như nhiều cư dân thuộc nhómMôn - Khơme bởi những vụ lúa màu mỡ với kĩ thuật đào mương, bắc máng, đắpphai lấy nước tưới tiêu cho đồng ruông Chăn nuôi gia súc cùng với nguồn thựcphẩm đánh bắt được từ suối, trong rừng cung cấp dinh dưỡng và làm phong phúthêm bữa ăn trong gia đình người Tày
Người Tày còn nổi tiếng với nghề thủ công tạo ra những sản phẩm có giátrị, tiêu biểu là nghề trồng bông dệt vải, tạo ra những tấm vải chăn phục vụ nhucầu thiết yếu cho người dân
Người Tày có kĩ thuật rèn đúc phát triển, sản xuất công cụ sản xuất: cuốcchim, cuốc bướm, cuốc bạt, dao phát, dao chặt củi, dao nhọn, lưỡi cày… rấtnhiều sản phẩm đa dạng phản ánh trình độ cao và khả năng sang tạo đáp ứng vớinhu cầu sản xuất của vùng cao
Về xã hội: làng người Tày được bao bọc xung quanh các quả đồi, ngọn núi,những ngôi nhà sàn thấp hẳn ở phía dưới tựa lưng núi, mặt trước ôm ấp lấy đồngruộng và những con suối uốn lượn Không gian sinh tồn nằm gọn trong nhữnglòng chảo, thung lũng hẹp, cảnh đẹp hữu tình giao hòa với thiên nhiên và conngười Mỗi làng bản đều có rừng cấm để bảo vệ nguồn nước và giữ gìn nhữnggiá trị tâm linh về các vị thần rừng, thần nước trong hệ thống đa thần của ngườiTày Nhiều ngôi nhà sàn chen chúc nhau tạo thành bản làng đông đúc, không rảirác như bản Mông hay một số dân tộc khác Mỗi bản thường có 5 đến 30 nócnhà của từ 2 đến 10 dòng họ Có những bản cư trú thành cụm, người Tày không
là đơn vị sản xuất mà là cộng đồng về mặt xã hội Mọi sinh hoạt của đời sốngvăn hóa sản xuất… chỉ tồn tại trong ranh giới bản Đơn vị nhỏ nhất tạo thànhbản là các gia đình phụ hệ mà người chồng có quyền làm chủ mọi việc Ý thức