lý thuyết và qui trình công nghệ sản xuất urê
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC HÌNH 6
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ URÊ 9
1.1 Tính chất của Urê 9
1.1.1 Tổng quát 9
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 9
1.2 Ti ́nh chất hoá lý của Urê 10
1.2.1 Tính chất vật lý 10
1.2.2 Ti ́nh chất hóa học của Urê 12
1.3 Ứng dụng 15
1.3.1 Trong nông nghiệp 15
1.3.2 Trong công nghiệp 16
1.3.3 Sử dụng trong phòng thí nghiệm 17
1.3.4 Sử dụng y học 17
1.4 Yêu cầu kỹ thuật đối với phân urê theo tiêu chuẩn Việt Nam 18
1.5 Tình hình sản xuất và thị trường urê trên thế giới và Việt Nam 18
1.5.1 Trên thế giới 18
1.5.2 Tình hình sản xuất và thị trường urê ở Việt Nam 22
CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT URÊ 30
2.1 Nguyên liệu để sản xuất Urê 30
2.1.1 Sản xuất Amoniac 30
2.1.2 Nguyên liệu CO 2 33
2.2 Cơ sở hóa lí của quá trình tổng hợp Urê 33
2.2.1 Các phản ứng chính 33
2.2.2 Cơ chế phản ứng 34
2.3 Ảnh hưởng các điều kiện công nghệ tới hiệu suất tạo urê 35
2.3.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ NH 3 /CO 2 35
2.3.2 Vai trò của tỉ lệ thành phần NH 3 /CO 2 38
2.3.3 Vai trò của tốc độ dòng liệu vào tháp 41
2.3.4 Cân bằng phản ứng tổng hợp Urê 41
2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến cân bằng phản ứng tổng hợp Urê 42
2.4 Phương thức sản xuất Urê 43
2.4.1 Chế tạo Urê từ NH 3 và CO 2 bằng cách tổng hợp trực tiếp 43
Trang 22.4.2 Chế biến dung dịch Urê thành sản phẩm 44
2.5 Quy trình sản xuất Urê trên thế giới 44
2.6 Quy trình công nghệ cơ bản của nhà máy sản xuất Urê 46
2.6.1 Công nghệ cải tiến tuần hoàn toàn bộ Misui-Toatsu 47
2.6.2 Công nghệ stripping CO2 Stamircacbon 48
2.6.3 Công nghệ Stripping NH3 Snamprogetti 50
2.6.4 Công nghệ TEC ACES và ACES 21 53
2.6.5 Công nghệ tạo hạt của TEC 56
CHƯƠNG 3: SO SÁNH CÔNG NGHỆ 61
3.1 So sánh nguồn nguyên liệu sử dụng tại các nhà máy tại Việt Nam 61
3.2 So sánh các công nghệ dựa trên khả năng thu hồi vật liệu thô 62
3.3 So sánh công nghệ sản xuất Urê thông thường, công nghệ ACES, công nghệ Stamicarbon và công nghệ Snamproghetti 63
3.3.1 So sánh giữa công nghệ thu hồi thông thường và công nghệ Stripping 64
3.3.2 So sánh giữa các công nghệ Stripping 67
3.4 Lựa chọn công nghệ sản xuất tại Việt Nam 72
3.4.1 Tính khả thi về kinh tế 72
3.4.2 Tính khả thi về công nghệ 73
3.4.3 Các vấn đề môi trường, xã hội 76
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Urê là một loại phân đạm vô cùng quan trọng và được sử dụng rộng rãi trong ngành nông nghiệp vì những ưu điểm vượt trội của nó Urê là loại phân có hàm lượng nito cao nhất chiếm khoảng 46% có khả năng thích nghi rộng và có khả năng phát huy tác dụng trên nhiều loại đất khác nhau do khi tan vào trong nước tạo môi trường trung tính Urê có thể bón cho cây trồng dưới dạng rắn, lỏng tưới gốc hoặc phun vào lá Urê không gây cháy nổ và quá trình sản xuất Urê cũng ít gây độc hại cho môi trường
Ngoài tác dụng làm phân bón trong nông nghiệp, Urê còn có ứng dụng trong chăn nuôi trộn vào thức ăn cho động vật, là nguyên liệu cho sản xuất chất dẻo Urea-formaldehyde, amino axit và cũng có ứng dụng trong y học, phòng thí nghiệm… Do
đó việc sản xuất Urê là vô cùng quan trọng đặc biệt là đối với các nước nông nghiệp như Việt Nam
Urê lần đầu được sản xuất vào năm 1870 bằng cách đốt nóng amoni carbamate trong một ống bịt kín Trong công nghiệp, việc sản xuất Urê cần được đi từ những nguyên liệu rẻ tiền, dây chuyền công nghệ đạt năng suất và chất lượng cao để hạ giá thành sản phẩm Sản xuất Urê được đi từ CO2 và N2 có sẵn trong tự nhiên; N2 kết hợp với H2 để tạo ra NH3 rồi tác dụng với CO2 dưới sự có mặt của hơi nước để làm ra Urê Quá trình rất đơn giản nhưng nhân loại đã phải công phu nghiên cứu thử nghiệm nhiều phản ứng hóa học và xúc tác suốt hơn 100 năm mới đạt được trình độ công nghệ như ngày nay Với công nghệ hiện đại ngày này, việc sản xuất Urê không còn gặp khó khăn như trước, năng suất và chất lượng sản phẩm rất cao, thân thiện với môi trường
Hiện tại, Việt Nam có 4 nhà máy sản xuất Urê chính là Đạm Phú Mỹ, Đạm Cà Mau, Đạm Hà Bắc và Đạm Ninh Bình Với tổng năng suất khoảng 2,4 triệu tấn/năm đáp ứng đủ nhu cầu phân bón trong nước Nguồn nguyên liệu để sản xuất phân đạm ở nước ta là than đá và khí thiên nhiên Nhà máy đạm Hà Bắc và nhà máy đạm Ninh Bình sử dụng than, nhà máy đạm Phú Mỹ và Cà Mau dùng khí thiên nhiên làm nguyên liệu Trong đó sự ra đời của nhà máy Đạm Phú Mỹ, Đạm Cà Mau với những công nghệ hiện đại nhất trên thế giới là bước đột phá trong chiến lược, nhằm đảm bảo sự ổn định và chủ động cung cấp phân đạm cho phát triển nông nghiệp, góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực và đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới
Trang 4Bài tiểu luận của nhóm sinh viên chúng em xin được tìm hiểu về lý thuyết và qui trình công nghệ sản xuất Urê đặc biệt là các công nghệ đã và đang được sử dụng tại Việt Nam
Bài tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về tính chất vật lí, hóa học và ứng dụng của Urê Nhu cầu và
tình hình sản xuất Urê ở Việt Nam và thế giới hiện nay
Chương 2: Cơ sở hóa học, phản ứng, xúc tác, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản
xuất Urê Một số công nghệ sản xuất nổi bật trên thế giới hiện nay
Chương 3: So sánh và đánh giá các phương pháp sản xuất, lựa chọn công nghệ phù
hợp để sản xuất Urê tại Việt Nam hiện nay
Trong quá trình tìm hiểu, chắc chắn không thể tránh khỏi sai sót Chúng em mong cô và các bạn góp ý để tiểu luận được hoàn thiện hơn
Nhóm sinh viên thực hiện
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TEC: Toyo Engineering Coporation
UAN: Urê Amoni Nitrat
ACES: Advanced Process for Cost and Energy Saving
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Công thức cấu tạo của Urê 9
Hình 1.2: Phản ứng tổng hợp urê của Frieldrich Woehler biểu diễn dưới dạng ion 9
Hình 1.3: Hình ảnh tinh thể urê 10
Hình 1.4: Phân Ure 16
Hình 1.5: Nhựa Urê-formaldehyde 16
Hình 1.6:Hạt Urê 18
Hình 1.7: Biểu đồ tiêu thụ phân bón chứa N của các nước năm 2013/14 19
Hình 1.8: Nhu cầu nhập khẩu phân urê ở Ấn Độ trong 12 tháng tính đến tháng 4/2017 20
Hình 1.9: Nhu cầu về phân chứa N trên toàn thế giới hiện tại và tương lai 21
Hình 1.10: Tình hình sản xuất và tiêu thụ trên thế giới năm 2013 22
Hình 1.11: Công suất các nhà máy Urê tại Việt Nam 23
Hình 2.1: Sản xuất H2 từ khí tổng hợp 31
Hình 2.2: Sơ đồ khối quá trình tổng hợp ammoniac từ các nguồn nguyên liệu khác nhau 33
Hình 2.3: Mức độ chuyển hóa theo nhiệt độ 36
Hình 2.4: Tốc độ chuyển hóa Urê phụ thuộc nhiệt độ 37
Hình 2.5: Áp suất ngưng tụ pha lỏng trong tháp tổng hợp Urê phụ thuộc nhiệt độ 38
Hình 2.6: Phụ thuộc tỉ lệ tốc độ tổng hợp Urê khi L>2 và khi L=2 ở 175oC 39
Hình 2.7: Biến đổi thành phần pha nóng chảy khi tổng hợp Urê qua carbomate amon khi L=0 và L=4 40
Hình 2.8: Biến đổi tỉ lệ tốc độ tạo Urê từ carbamate amon khi w=0,443 theo τ ở các nhiệt độ khác nhau 41
Hình 2.9: Sơ đồ công nghệ không thu hồi 44
Hình 2.10: Sơ đồ công nghệ thu hồi một phần 45
Hình 2.11: Sơ đồ công nghệ sản xuất urê của nhà máy Đạm Phú Mỹ 46
Hình 2.12: Công nghệ thu hồi hoàn toàn của Mitsui-Toatsu 47
Hình 2.13: Sơ đồ quá trình Stripping CO2 của Stamicarbon 49
Hình 2.14: Công nghệ Stripping NH3 của Snamproghetti 52
Hình 2.15: Sơ đồ công nghệ ACES của TEC 55
Hình 2.16: Sơ đồ công nghệ ACES 21 56
Hình 2.17: Công nghệ phun tạo hạt tầng sôi của TEC 57
Hình 2.18: Sơ đồ quá trình tạo hạt 59
Hình 2.19: Kích thước khác nhau của các loại hạt ure 59
Hình 2.20: Sơ đồ máy lọc bụi 60
Hình 3.1: Thị phần của các công nghệ sản xuất Urê trên toàn thế giới năm 2010 64
Hình 3.2: So sánh ưu nhược điểm của 3 công nghệ Stamicarbon, Snamproghetti và ACES 66
Hình 3.3: Sơ đồ công nghệ thu hồi hoàn toàn thông thường 66
Hình 3.5: Sơ đồ pha NH3-CO2-Urea.1H2O 69
Trang 7Hình 3.6: Thiết kế đặc trưng của phân xưởng ngưng tụ bể của Stamicarbon và phân xưởng của Snamproghetti 70
Trang 8
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1: Thành phần đặc tính của urê 11
Bảng 1.2: Bảng độ tan trong nước của urê theo nhiệt độ 11
Bảng 1.3: Hàm ẩm không khí theo nhiệt độ 12
Bảng 3.1: Bảng so sánh các thông số phản ứng của các công nghệ 68
Trang 9CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ URÊ 1.1 Tính chất của Urê
1.1.1 Tổng quát
Urê là một hợp chất hữu cơ của cacbon, nitơ, ôxy và hiđrô, có công thức phân
tử CON2H4 hay (NH2)2CO và có tên quốc tế là Amino methanamide, hay còn được go ̣i với các tên như Carbamide, carbonyl diamide, carbonyldiamine, diaminomethanal…
Hình 1.1: Công thức cấu tạo của Urê
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Urê được Hilaire Rouelle phát hiện từ nước tiểu vào năm 1773 Nó là hợp chất hữu cơ được tổng hợp nhân tạo đầu tiên từ các chất vô cơ vào năm 1828 bởi Frieldrich Woehler, bằng cách cho xyanat kali KOCN phản ứng với sulfat ammonia (NH4)2SO4 Điều này đã giải quyết được một vấn đề quan trọng của một học thuyết sức sống, cụ thể nó đã bác bỏ thuyết cho rằng các chất hóa học trong cơ thể sinh vật về cơ bản là khác hẳn các hóa chất không có gốc sinh vật, và mở đầu cho ngành khoa học về hóa hữu cơ
Hình 1.2: Phản ứng tổng hợp urê của Frieldrich Woehler biểu diễn dưới dạng ion
Đến năm 1870, urê đã được sản xuất bởi Bassarow bằng cách đốt nóng cácbamat amôn (NH2COONH4) trong một ống bịt kín Đây là phản ứng tổng hợp urê đầu tiên sử dụng cách đề hiđro hoá Điều này là nền tảng cho công nghệ sản xuất urê công nghiệp sau này
NH2COONH4 ↔ NH2CONH2 + H2O ∆H= + 6.3 Kcal
Cho tới những năm đầu thế kỷ 20 thì urê mới được sản xuất trên quy mô công nghiệp nhưng ở mức sản lượng rất nhỏ Sau đại chiến thế giới thứ II, nhiều nước và hãng đã đi sâu cải tiến quy trình công nghệ để sản xuất urê Những hãng đứng đầu về cung cấp chuyển giao công nghệ sản xuất urê trên thế giới như: Stamicarbon (Hà Lan), Snamprogetti (Italia), TEC (Nhật Bản)…Các hãng này đưa ra công nghệ sản xuất urê
Trang 10tiên tiến, mức tiêu phí năng lượng cho một tấn sản phẩm urê rất thấp Ngày nay quá trình sản xuất urê về cơ bản bao gồm 2 quá trình, dựa vào phát minh của Bassarow: CO2 + 2NH3 → NH2COONH4 ∆H= -37.4 Kcal
NH2COONH4 ↔ NH2CONH2 + H2O ∆H= + 6.3 Kcal
1.2 Ti ́nh chất hoá lý của Urê
1.2.1 Tính chất vật lý
Urê ở da ̣ng tinh thể màu trắng, là chất hút ẩm và không ăn mòn Ở trạng thái tinh khiết nhất urê không mùi mặc dù hầu hết các mẫu urê có độ tinh khiết cao đều có mùi khai
Hình 1.3: Hình ảnh tinh thể urê
Trang 11Bảng 1.2: Bảng độ tan trong nước của urê theo nhiệt độ
Urê là chất dễ hút ẩm từ môi trường xung quanh khi áp suất riêng phần của hơi
Dạng tinh thể và dạng bề ngoài Dạng kim, lăng trụ, tứ giác
Năng lượng hình thành tự do ở 250C, J/mol -197,15
Nhiệt hòa tan trong nước, J/g 243
Nhiệt kết tinh, dịch Urê nước 70%, J/g 460
0C) 73% (300C) Nhiệt riêng, J/Kg.K
1439 1,661 1,887 2,10
Trang 12nước trong môi trường lớn hơn áp suất hơi nước trên bề mặt urê Urê sẽ hút ẩm khi độ
ẩm môi trường xung quanh lớn hơn 70%, nhiệt độ 10-400C
Nhiệt độ (0C)
Hàm ẩm không khí (g/Kg KKK)
Bảng 1.3: Hàm ẩm không khí theo nhiệt độ
Theo số liệu bảng trên thì urê thường bị hút ẩm do hàm ẩm trong không khí cao, đặc biệt vào ngày hè, ẩm thấp Urê hút ẩm nhiều sẽ gây nên hiện tượng kết tảng Do vậy,
để hạn chế việc hút ẩm, urê thường được đóng trong các bao PP, PE hoặc trong bao giấy nhiều lớp, hoặc phủ lên 1 lớp paraffin mỏng, hoặc dùng bột trợ dung
1.2.2 Tính chất hóa ho ̣c của Urê
Tác dụng với các axit: khi urê tác dụng với axit tạo thành các hợp chất muối axit Hợp chất muối nitrat CO(NH2).HNO3 ít tan trong nước Khi đốt nóng bị phân huỷ
và nổ Hợp chất muối phốt phát CO(NH2).H3PO4 tan tốt trong nước và phân ly hoàn toàn
Tác dụng với muối khác tạo thành phức:
CO(NH2)2 + Ca(H2PO4)2.H2O = CO(NH2)2 + H3PO4 + CaHPO4 + H2O
Khi để lâu thì có phản ứng liên kết nước:
CaHPO4 + H2O = CaHPO4.2H2O Hòa tan trong nước: urê chỉ bền trong dung dịch nước đến 80oC, còn nếu nhiệt
độ cao hơn thì nó thủy phân rất châ ̣m để ta ̣o thành cacbamat amôn (phản ứng trên), sau
đó cacbamat amôn lại phân huỷ thành ammonia và carbon dioxide Phản ứng này là cơ sở để sử du ̣ng urê làm phân bón vì vi sinh vâ ̣t trong lòng đất sẽ chuyển hóa ammonia thành muối nitrat, đây là hợp chất chứa nitơ mà cây trông có thể hấp thu ̣ được Phương trình thuỷ phân của urê được biểu diễn như sau:
CO(NH2)2 + H2O NH2COONH4
Trang 13NH2COONH4 + H2O (NH4)2CO3
(NH4)2CO3 NH4HCO3 + NH3
Biamôni cacbonat lại bị phân huỷ bằng nhiệt theo phản ứng:
NH4HCO3 CO2 + H2O + NH3
Mức độ thuỷ phân của amôni cacbamat giảm đáng kể khi có mặt NH3
Ngoài ra, trong điều kiện không khí ẩm sẽ xảy ra phản ứng:
HOCN + CO(NH2)2 NH2CO-NH-CONH2
Ngoài ra còn có các sản phẩm khác như triUrêt (NH2–CO–NH–CO–NH–CO–NH2), ammelide [C3N3(OH)2NH2] và cyanuric acid (HNCO)3
Cần chú ý, biuret là sản phẩm phụ bất đắc dĩ chủ yếu có trong urê Nếu trong sản phẩm đạm Urê cấp phân bón mà hàm lượng biuret vượt quá 2% trọng lượng sẽ gây độc hại đối với cây trồng, lá bị mất chất diệp lục trở nên trắng
- Nếu nhiệt độ của phản ứng cao, từ Isocyanic acid sẽ ta ̣o ra guanidine [ CNH(NH2)2 ], ammelide [C3N3(OH)2NH2], ammeline [C3N3OH(NH2)2] và melaminee [C3N3OH(NH2)3]
- Ngoài ra melaminee cũng có thể được ta ̣o ra từ urê bằng phản ứng có xúc tác hóa ho ̣c trong pha khí Khi đó, cho urê phân hủy thành ammonia và isocyanic acid ở áp suất thấp, sau đó chuyển hóa xúc tác ta ̣o thành melaminee
Trang 14Urê có thể phản ứng với NOx ở pha khí (800-1150oC) hay pha lỏng (ở nhiê ̣t đô ̣ thấp hơn) để ta ̣o ra N2, CO2 và H2O Phản ứng này được dùng trong công nghiê ̣p để loa ̣i bỏ khí NOx trong các nhà máy nhiê ̣t điê ̣n
Urê có khả năng phản ứng với formaldehyde, phản ứng này được sử du ̣ng để tổng hợp nhựa Urea-formaldehyde:
Peroxide hydro và urê là loại sản phẩm dạng bột tinh thể màu trắng Peroxide urê CO(NH)2.H2O2 được người ta biết đến với tên gọi thương phẩm là Hypersol Đây
là chất tác nhân oxi hóa
Ngoài ra, urê và acid malonic phản ứng cho ra đời chất acid barbituric, một hợp chất chủ yếu trong ngành hóa dược:
Trang 151.3 Ứng dụng
1.3.1 Trong nông nghiệp
Ứng dụng phổ biến và rộng rãi nhất của urê là được dùng làm phân bón, kích thích sinh trưởng, giúp cây phát triển mạnh, thích hợp với ruộng nước, cây , rau xanh, lúa… Vì chứa hàm lượng nitơ cao (46,6% khối lượng, nhiều nhất trong các loại phân bón có chứa N2) nên urê được ưu chuô ̣ng để làm phân bón cung cấp đa ̣m cho cây trông cho cây trồng … Urê cứng (chiếm 56% sản lượng urê) có chứa 0,8 đến 2,0% trọng lượng biuret ban đầu được bón trực tiếp cho đất dưới dạng nitơ Các loại dịch urê loãng (chiếm 31% sản lượng urê) hàm lượng biuret thấp (tối đa khoảng 0,3% biuret) được dùng bón cho cây trồng dưới dạng phân bón lá
Trộn lẫn với các chất phụ gia khác urê sẽ được dùng trong nhiều loại phân bón rắn có các dạng công thức khác nhau như photphat urê amôn (UAP); sunphat amôn urê (UAS) và urê phophat (urê + acid photyphoric), các dung dịch urê nồng độ thuộc nitrat amôn urê (UAN) (80-85%) có hàm lượng nitơ cao nhưng điểm kết tinh lại thấp phù hợp cho việc vận chuyển lưu thông phân phối bằng hệ thống ống dẫn hay phun bón trực tiếp Trong chăn nuôi, urê là chất bổ sung vào thức ăn cho động vật, nó cung cấp một nguồn đạm cố định tương đối rẻ tiền để giúp cho sự tăng trưởng
Urê được dùng để sản xuất lisin, một acid amino được dùng thông dụng trong ngành chăn nuôi gia cầm
Trang 16Hình 1.4: Phân Ure
Trong số các sản phẩm hoá học được sử dụng phổ biến làm nguồn cung cấp phân đạm cho cây trồng như: Sulphur Ammonium (SA), Nitrat Ammonium (NH4NO3), urê… thì urê được sử dụng nhiều hơn cả vì những đặc tính vượt trội của nó
về mọi phương diện Bằng chứng là sản lượng tiêu thụ urê (trên toàn thế giới):
Tiêu thụ
Urê chiếm 57% trên tổng sản lượng phân bón cung cấp N cho cây trồng năm13/14
Như đã đề cập ở trên, cách sử dụng phân urê rất đa dạng, nó có thể được dùng bón cho cây trồng dưới dạng rắn, dạng lỏng tưới gốc hoặc sử dụng như phân phun qua
lá đối với một số loại cây trồng
Khi sử dụng urê không gây hiện tượng cháy nổ nguy hiểm cho người sử dụng
và môi trường xung quanh (Nitrat Ammonium rất dễ gây cháy nổ)
Với hàm lượng đạm cao, 46%, sử dụng urê giảm bớt được chi phí vận chuyển, công lao động và kho bãi tồn trữ so với các sản phẩm cung cấp đạm khác
Việc sản xuất urê thải ra ít chất độc hại cho môi trường
Khi được sử dụng đúng cách, urê làm gia tăng năng suất nông sản tương đương với các loại sản phẩm cung cấp đạm khác
1.3.2 Trong công nghiệp
Nguyên liệu cho sản xuất chất dẻo, đặc biệt là nhựa Urea-formaldehyde Nhựa này được dùng phổ biến làm keo dán gỗ Urê (cùng với Ammonia) phân hủy ở nhiệt
độ để sản xuất các loại nhựa melamine như đã nói ở mục 2.2.2 Nhựa formaldehyde dùng để sản xuất bát đĩa chén hoặc các bề mặt được cường lực
melamine-Hình 1.5: Nhựa Urê-formaldehyde
Trang 17Urê được dùng để ta ̣o ra Urea nitrate, là mô ̣t chất nổ được dùng trong công nghiê ̣p Các loại nhựa urê được polyme hóa từng phần để dùng cho ngành công nghiệp dệt có tác dụng làm phân bố đều các thành phần ép của các chất sợi Urê cũng là chất thay thế cho muối (NaCl) trong việc loại bỏ băng hay sương muối của lòng đường hay đường băng sân bay Nó không gây ra hiện tượng ăn mòn kim loại như muối Ngoài ra Urê được sử dụng như một thành phần bổ sung trong thuốc lá, nó được thêm vào để tăng hương vị hay đôi khi được sử dụng như là chất tạo màu nâu vàng trong các xí nghiệp sản xuất bánh quy Nó còn được dùng trong một số ngành sản xuất thuốc trừ sâu thậm chí cũng là một thành phần của một số dầu dưỡng tóc, sữa rửa mặt, dầu tắm
và nước thơm Bên cạnh đó, Urê cũng là thành phần hoạt hóa để xử lý khói thải từ động cơ diesel, giảm sự bốc mùi của khí Oxit nitric
1.3.3 Sử dụng trong phòng thí nghiệm
Urê là một chất biến tính prôtêin mạnh Thuộc tính này có thể khai thác để làm tăng độ hòa tan của một số prôtêin Vì tính chất này, nó được sử dụng trong các dung dịch đặc tới 10M
Nguyên nhân phổ biến của bệnh urêmia là các vấn đề về hệ tiết niệu Nó được lấy thông số cùng với creatinin để chỉ ra các vần đề trực tiếp liên quan tới thận (ví dụ:
hư thận mãn tính) hay các vấn đề thứ cấp như chứng giảm hoạt động tuyến giáp
Nồng độ urê cũng có thể tăng trong một số rối loạn máu ác tính (ví dụ bệnh bạch cầu và bệnh Kahler)
Nồng độ cao của urê (Urêmia) có thể sinh ra các rối loạn thần kinh (bệnh não) Thời gian dài bị Urêmia có thể làm đổi màu da sang màu xám
1.3.4.3 Sử dụng trong chẩn đoán khác
Trang 18Các loại urê chứa cacbon 14 - đồng vị phóng xạ, hay cacbon 13 - đồng vị ổn định được sử dụng trong xét nghiệm thở urê, được sử dụng để phát hiện sự tồn tại của Helicobacter pylori (H pylori, một loại vi khuẩn) trong dạ dày và tá tràng người Xét nghiệm này phát hiện enzym Urease đặc trưng, được H pylori sản xuất ra theo phản ứng để tạo ra amôniắc từ urê để làm giảm độ pH của môi trường trong dạ dày xung quanh vi khuẩn
Các loài vi khuẩn tương tự như H pylori cũng có thể được xác định bằng cùng một phương pháp xét nghiệm đối với động vật (khỉ, chó, mèo - bao gồm cả các loại
"mèo lớn" như hổ, báo, sư tử v.v)
1.4 Yêu cầu kỹ thuật đối với phân urê theo tiêu chuẩn Việt Nam
Theo TCVN 2619:2014 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia
TCVN/TC134 phân bón biên soạn trên cơ sở dự thảo đề nghị của tập đoàn hóa chất Việt Nam, Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng thẩm định, Bộ khoa học và công nghệ công bố tiêu chuẩn dành cho phân urê như sau:
- Hình dạng: hạt trong hoặc đục, màu trắng hoặc hơi ngà vàng, không có tạp chất bẩn nhìn thấy được
- Tính tan: hòa tan nhanh và hoàn toàn trong nước và quan sát được bằng mắt thường
- Hàm lượng biuret: nhỏ hơn 1,2 % khối lượng
- Độ ẩm: nhỏ hơn 1% khối lượng
Trang 191.5.1.1 Nhu cầu
Dân số nhân loại tăng, nông nghiệp phát triển, đồng nghĩa với việc nhu cầu sử dụng phân bón, cụ thể trong số đó là phân urê, ngày càng tăng theo thời gian, và được
dự đoán sẽ còn tiếp tục tăng ít nhất cho đến năm 2030 Tuy nhiên, những năm gần đây,
số liệu thống kê cho thấy tốc độ tăng nhu cầu dành cho phân bón nói chung là thấp hơn
so với trước Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: có thể do nguồn cung quá nhiều so với cầu dẫn đến thừa thãi sản phẩm, hoặc do việc sử dụng phân bón, đặc biệt
là urê, trở nên hiệu quả hơn nhờ các công nghệ tiên tiến… Vì vậy, dự đoán trong 5 năm tới, nhu cầu mua phân bón sẽ chỉ tăng chậm và đạt khoảng 199 triệu tấn năm 2021/2022
Hình 1.7: Biểu đồ tiêu thụ phân bón chứa N của các nước năm 2013/14
Trung Quốc, Mĩ, Ấn Độ hiện nay đang là 3 nước tiêu thụ phân bón nhiều nhất trong tất
cả các nước (chiếm tới 57% tổng lượng tiêu thụ N toàn thế giới) Trong đó, Ấn Độ là thị trường nhập khẩu phân bón lớn nhất thế giới trong nhiều năm Tuy nhiên, Ấn Độ đang trở thành thị trường xuất khẩu phân bón kém hấp dẫn hơn do lượng tiêu thụ giảm mạnh Cụ thể, trong báo cáo ngày 6/6/2017 trên trang integer-research.com, trong 18 tháng qua, lượng nhập khẩu urê giảm từ 10 triệu tấn năm 2015 còn dưới 7 triệu tấn năm 2016, đến năm 2017 con số còn tiếp tục giảm xuống còn 5 triệu tấn Điều này là
do vụ mùa năm 2015 tại nước này không được tốt, dẫn đến việc tồn trữ số lượng lớn phân bón nói chung và urê nói riêng không được dùng và việc buôn bán trở nên ế ẩm
Trang 20Việc tồn đọng này làm giảm cầu và vẫn còn ảnh hưởng đến tận bây giờ 1 vài thị trường đáng chú ý khác là Brazil, Pakistan, Indonesia, Canada và Pháp chiếm tới 13% tổng tiêu thụ phân bón N năm 2013/2014
Hình 1.8: Nhu cầu nhập khẩu phân urê ở Ấn Độ trong 12 tháng tính đến tháng 4/2017
Bên cạnh đó, người ta cũng chứng kiến sự thay đổi mạnh ở Trung Quốc – thị trường tiêu thụ cũng như xuất khẩu phân bón thuộc top đầu thế giới trong vài năm gần đây Do chính phủ Trung Quốc đang trong các kế hoạch bảo vệ, làm sạch môi trường nên nhiều nhà máy ở nước này, bao gồm rất nhiều nhà máy sản xuất phân đạm, urê, đã phải cắt giảm sản lượng, thậm chí 1 số còn bị đóng cửa Vì vậy, nhu cầu phân đạm ở Trung Quốc có thể tăng lên nhưng thị trường Trung Quốc đã có xu hướng đóng lại, sản xuất và tiêu thụ trong nước tăng mạnh, sản lượng xuất khẩu bị giảm
Về phía thị trường Mĩ, tuy tâm trạng thị trường đã đi xuống vào thời điểm một
số công ty Mỹ như CF Industries và Agrium công bố kế hoạch bổ sung công suất, nhưng các chuyên gia phân tích thị trường dự báo, trong năm nay sẽ không có nhiều nhà máy phân đạm mới được đưa vào vận hành trên toàn cầu và nhu cầu sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao
Trang 21Hình 1.9: Nhu cầu về phân chứa N trên toàn thế giới hiện tại và tương lai
Bên cạnh đó, từ biểu đồ trên, người ta nhận thấy rằng châu Phi, Đông Âu và Trung Á có tiềm năng lớn phát triển nông nghiệp trong vòng 1 thập kỷ tới và dự đoán nhu cầu thu mua phân bón ở 3 khu vực này sẽ tăng mạnh Dù vậy, các khu vực Mĩ La-tinh, Nam Á, Đông Á được cho rằng vẫn sẽ là nguồn cầu chủ yếu và sẽ chiếm ¾ sự tăng nhu cầu cho phân bón trong 5 năm tới
1.5.1.2 Nguồn cung
Công nghiệp sản xuất phân bón được đầu tư mạnh ở các nước có nguồn khí tự nhiên dồi dào (Qatar, Nga, Nigeria, Algeria, Mĩ…) hoặc các nước có thị trường phân bón lớn (Trung Quốc, Ấn Độ, Mĩ…) Dù sao Ấn Độ vẫn là thị trường lớn nhất để xuất khẩu phân bón đến Đông Âu, Tây Á và Trung Á là 3 khu vực xuất khẩu phân bón nhiều nhất Cụ thể, đối với nguồn cung Urê, theo số liệu năm 2013 của Fetercon, Trung Quốc chiếm đến 29% tổng nguồn cung Urê toàn cầu, sau đó là Nga với 6% và
Ấn độ với 8%
Sản lượng urê thế giới tăng 46% từ năm 2003 đến năm 2013 tương đương 78
Tg N, chủ yếu là ở Đông Á và Tây Á Cũng trong khoảng thời gian này, lượng urê được giao dịch tăng lên 55% tương đương 21 Tg N vào năm 2013 Đông Á và Tây Á
có tốc độ xuất khẩu urê qua các năm nhanh nhất trong giai đoạn này, còn về sản lượng nhập khẩu thì Nam Á là khu vực cao nhất Dự đoán đến năm 2020, sản lượng xuất khẩu urê trên thế giới sẽ đạt 109 Tg N, tức là tăng 10% so với năm 2015
Trang 22Hình 1.10: Tình hình sản xuất và tiêu thụ trên thế giới năm 2013
Năm 2015, giá phân bón thế giới đã sụt giảm mạnh sau khi Trung Quốc bãi bỏ thuế xuất khẩu theo mùa khiến cho sản phẩm phân bón của quốc gia này tràn ngập thị trường quốc tế
Theo Tập đoàn Acron - nhà sản xuất phân bón quy mô lớn của Nga, cùng với sự suy giảm của 2 thị trường lớn bậc nhất Trung Quốc và Ấn Độ, năm 2016 là năm khó khăn nhất đối với thị trường phân bón trên toàn thế giới trong một thập niên qua, giá nhiều loại phân đạm đã rơi xuống mức thấp nhất kể từ năm 2005 Giá FOB urê hạt đục Trung Đông 11 tháng năm 2016 là 206 USD/tấn giảm hơn 28,1% so với cùng kỳ năm
2015 (287 USD/tấn urê).x
Xuất khẩu phân lân và phân đạm của Trung Quốc đã giảm 30% kể từ năm 2015
do một số doanh nghiệp phân bón của nước này không chịu nổi mức giá quá thấp Tại thị trường Mỹ đã đi ngược lại lo ngại của thị trường về những kế hoạch tăng công suất của các nhà sản xuất Mỹ nhằm tận dụng lợi thế của khí đá phiến giá rẻ - nguồn nguyên liệu chính cho các nhà sản xuất phân bón trong khu vực Vì vậy, nhìn chung các công
ty trong ngành sản xuất phân đạm thế giới nhìn nhận lạc quan về triển vọng của năm
2017
1.5.2 Tình hình sản xuất và thị trường urê ở Việt Nam
Việt Nam là nước nông nghiệp nên nhu cầu tiêu thụ phân bón, đặc biệt là phân urê là khá lớn Tiêu thụ nội địa khoảng 2.4 triệu tấn/năm.Tốc độ tăng trưởng ổn định
Trang 231.5 - 2% mỗi năm Lúa, ngô và cao su là ba loại cây trồng có nhu cầu phân bón lớn nhất khi chiếm tỷ lệ lần lượt là 65%, 9% và 8% nhu cầu tiêu thụ phân bón Việt Nam
Theo FAO (2012), mật độ sử dụng phân bón của Việt Nam là ở mức cao lên đến 297 kg/ha so với mức 156 kg/ha của các quốc gia lân cận điều này làm năng suất lúa Việt Nam cao hơn so với các quốc gia lân cận (55 tạ/ha so với 38 tạ/ha, 2011) nhưng do tình trạng ô nhiễm môi trường vì lạm dụng loại phân bón hóa học nên mật độ
sử dụng phân bón đang giảm dần trong những năm gần đây
Thị trường cũng như công nghiệp sản xuất urê ở Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi thị trường chung của thế giới Cũng như thế giới, hiện nay Việt Nam đang phải hứng chịu tình trạng cung nhiều hơn cầu Và đương nhiên, năm 2016 cũng là 1 năm ảm đạm đối với thị trường phân bón trong nước Tuy nhiên, đầu năm 2017, giá urê đột ngột tăng mạnh do sự khan hiếm nguồn cung mà nguyên nhân chủ yếu là do Trung Quốc (đã đề cập ở trên)
Hiện nay, tại Việt Nam có 4 nhà máy sản xuất Urê bao gồm Đạm Hà Bắc, Đạm Ninh Bình, Đạm Phú Mỹ và Đạm Cà Mau Cả Đạm Phú Mỹ (DPM) và Đạm Cà Mau (DCM) đều là những doanh nghiệp trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) và là nguồn cung cấp phân đạm nội địa chính Nguồn nguyên liệu để sản xuất phân đạm ở nước ta là than đá và khí thiên nhiên Nhà máy đạm Hà Bắc và nhà máy đạm Ninh Bình sử dụng than, nhà máy đạm Phú Mỹ và Cà Mau dùng khí thiên nhiên làm nguyên liệu
Hình 1.11: Công suất các nhà máy Urê tại Việt Nam
Trang 2420 năm trước VN phải nhập khẩu đến 90% lượng phân đạm - một trong ba loại phân bón chính cho cây trồng - khiến nước ta phụ thuộc quá nặng vào nguồn cung ngoại nhập, chịu ảnh hưởng của mọi biến động bất lợi trên thị trường phân bón quốc
tế, và tiêu tốn một lượng ngoại tệ không nhỏ
Lúc đó, bài toán được đặt ra cho ngành nông nghiệp: làm sao để đảm bảo an ninh nông nghiệp, an ninh lương thực, tận dụng lợi thế sẵn có của nước nông nghiệp
để trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản… trong khi nguồn cung phân bón lại phụ thuộc, thị trường thiếu ổn định
Dù trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn nhưng một quyết sách dũng cảm được Đảng và Chính phủ đưa ra là giao cho ngành dầu khí xây dựng nhà máy sản xuất phân đạm đầu tiên từ khí để đảm bảo chủ động nguồn cung urê trong nước Đó chính là nhà máy đạm Phú Mỹ
1.5.2.1 Tình trạng nhà máy đạm Phú Mỹ
Nhà máy đạm Phú Mỹ được xây dựng tại Khu công nghiệp Phú Mỹ 1, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Nó là thành phần trong cụm Khí – Điện – Đạm của Việt Nam, là nhà máy phân bón lớn và hiện đại đầu tiên của PetroVietnam
Nhà máy sản xuất phân đạm Phú Mỹ được xây dựng trên cơ sở Quyết định phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi của Thủ Tướng Chính phủ số 166/QĐ-TTg ngày 20/02/2001 Tổng công ty Dầu Khí Việt Nam (nay là Tập đoàn Dầu Khí quốc gia Việt Nam ) tự đầu tư bằng nguồn vốn trong nước, thuê Tổng thầu là hãng Technip Italy và Samsung Engineering thực hiện dự án, thuê hãng SNC Lavalin làm tư vấn quốc tế
Nhà máy Ðạm Phú Mỹ, với tổng mức đầu tư 380 triệu USD ra đời Nhà máy gồm Phân xưởng A-mô-ni-ắc sử dụng công nghệ của Haldor Topsoe (Ðan Mạch) công suất 1.350 tấn/ngày và Phân xưởng u-rê sử dụng công nghệ của Snamprogetti (I-ta-li-a) công suất 2.200 tấn/ngày, tương đương 740 nghìn tấn u-rê/năm; đây là các công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới Khi Công ty Phân đạm và Hóa chất Dầu khí, tiền thân của PVFCCo ra đời và tiếp quản Nhà máy Ðạm Phú Mỹ, sản phẩm của Nhà máy đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường
Với sản lượng 740 nghìn tấn u-rê/năm, và từ cuối năm 2010 tăng lên 800 nghìn tấn/năm, PVFCCo đã chiếm 40% thị phần phân đạm trong nước Hiện nay, thị trường phân đạm trong nước có nhu cầu ổn định khoảng hai triệu tấn, trong khi đó tổng năng lực cung ứng của các nhà sản xuất trong nước đạt hơn 2,6 triệu tấn Mặc dù đã xuất
Trang 25hiện mức độ cạnh tranh cao, nhưng nhờ uy tín của sản phẩm Ðạm Phú Mỹ mà Tổng công ty vẫn duy trì được khả năng tiêu thụ hết sản lượng sản xuất với mức giá tốt nhất thị trường
Nhà máy cũng đang thực hiện dự án đầu tư trọng điểm là Tổ hợp Xưởng NH3
mở rộng - Nhà máy sản xuất NPK Phú Mỹ với tổng mức đầu tư gần 5.000 tỷ đồng Tổ hợp dự án này sẽ nâng công suất xưởng sản xuất NH3 hiện tại của Nhà máy Ðạm Phú
Mỹ thêm 90 nghìn tấn/năm (tăng khoảng 20% công suất hiện có) và xây dựng nhà máy sản xuất 250 nghìn tấn NPK/năm bằng công nghệ hóa học của hãng Incro SA (Tây Ban Nha) - công nghệ hiện đại nhất hiện nay Dự án được triển khai trong điều kiện nhu cầu thị trường NPK trong nước mỗi năm cần hơn bốn triệu tấn nhưng sản phẩm chất lượng cao, sử dụng công nghệ hiện đại mới chỉ đáp ứng khoảng 5 - 10%
1.5.2.2 Tình trạng nhà máy Đạm Cà Mau:
Nhà máy Đạm là nhà máy sản xuất Urê hạt đục Cà Mau công suất 800.000 tấn urê/năm được xây dựng trên diện tích 52 ha tại địa bàn xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, với tổng mức đầu tư 900,2 triệu USD Công nghệ được áp dụng cho nhà máy đều là các công nghệ tiên tiến và hiện đại nhất hiện nay, bao gồm: Công nghệ sản xuất Ammonia của Haldor Topsoe SA (Đan Mạch); công nghệ sản xuất urê của SNAMPROGHETTI (Italy); công nghệ vê viên tạo hạt của Toyo Engineering Corp (Nhật Bản) Hầu hết các thiết bị chính, quan trọng đều có xuất xứ từ EU/G7 Các tiêu chuẩn áp dụng cho nhà máy là các tiêu chuẩn quốc tế (ASME, API, JIS…) và các tiêu chuẩn bắt buộc về môi trường và an toàn, phòng chống cháy nổ của Việt Nam, tương
tự Nhà máy Đạm Phú Mỹ
Với công nghệ tổng hợp Amoniac, nhà máy chọn công nghệ của Haldor Topsoe A/S do đã được khẳng định qua tính ưu việt của các cụm thiết bị công nghệ Cụm tách CO2 sử dụng công nghệ của BASF với hiệu suất phân tách cao, tiêu hao năng lượng thấp và ít gây tác hại đến môi trường
Quá trình tạo hạt, nhà máy sử dụng công nghệ của Toyo Engineering Corp (TEC - Nhật Bản), cho ra nhiều sản phẩm hạt có kích thước khác tương ứng với mỗi mục đích sử dụng Hệ thống tạo hạt có thể hoạt động liên tục không phải vệ sinh với thời gian khoảng 4 hay 6 tuần TEC đã đẩy mạnh cải tiến phần thiết kế thiết bị lọc bụi nhằm mục đích thu hồi bụi tốt hơn và giảm giá thành lắp đặt Bụi đạm có trong khí thải hầu như không có
Trang 26Năm 2016, thị trường phân đạm thế giới giảm mạnh cũng ảnh hưởng tới đạm
Cà Mau Theo thống kê, giá bán urê Đạm Cà Mau thấp hơn cùng kỳ năm 2015 khoảng 18,4% Mặc dù vậy, đạm Cà Mau đã đảm bảo vận hành an toàn, hiệu quả nhà máy với công suất trung bình 103% và nâng công suất thành công trong những tháng cuối năm
ở mức 110%, hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất và tiêu thụ, thể hiện nỗ lực to lớn của công ty trong điều kiện dư cung như hiện nay Trong bối cảnh giá urê thế giới thấp nhưng giá bán của Đạm Cà Mau vẫn duy trì cao hơn so với giá urê nhập khẩu trên thị trường nhằm đảm bảo hiệu quả kinh doanh, đồng thời tiếp tục khẳng định vị thế và thương hiệu hàng đầu ở thị trường urê nội địa Năm 2016, sản lượng sản xuất urê quy đổi của Đạm Cà Mau đạt 804 nghìn tấn, đạt 102% kế hoạch năm; Sản lượng tiêu thụ urê quy đổi đạt 813,76 nghìn tấn đạt 104% kế hoạch năm
1.5.2.3 Tình trạng nhà máy Đạm Ninh Bình:
Nhà máy đạm Ninh Bình là một công trình trọng điểm của ngành hóa chất Việt Nam Đây là Nhà máy sản xuất phân đạm từ than cám có công suất 1760 tấn urê/ngày (560.000 tấn urê/năm) được xây dựng để cung cấp phân đạm urê cho sản suất nông nghiệp các tỉnh đồng bằng sông Hồng và các tỉnh phía Bắc, thay thế phân đạm nhập khẩu, tạo sự ổn định về giá cả và nguồn cung cấp dài hạn cho ngành nông nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên
có sẵn của Việt Nam Ngoài ra, nhà máy sẽ có các sản phẩm khác như: 320.000 tấn amoniac/năm, sản xuất 36MW điện với sản lượng điện hàng năm lên đến 71,47 triệu Kwh Nhà máy Đạm Ninh Bình được xây dựng tại Khu công nghiệp Khánh Phú, Ninh Bình, có tổng mức đầu tư trên 11.000 tỷ đồng (tương đương 667 triệu USD), hoàn thành vào giữa năm 2011 Dự án này được Tập đoàn hóa chất Việt Nam làm chủ đầu
tư Tổng thầu EPC thực hiện dự án là Tổng công ty Tư vấn và thầu khoán Hoàn Cầu (Trung Quốc) Diện tích nhà máy chính 34 ha, bãi thải xỉ 2,15 ha, cảng nhập than và xuất sản phẩm 2-3 ha Dự án xây dựng nhà máy được khởi công vào ngày 10/5/2008, đến ngày 15/10/2012, Công ty TNHH một thành viên Đạm Ninh Bình tiếp nhận, quản
lý và vận hành nhà máy
Tuy nhiên, trong giai đoạn 2012-2015, nhà máy liên tục rơi vào tình trạng thua
lỗ Theo báo cáo nghiên cứu khả thi, lỗ kế hoạch được đặt ra trong 3 năm đầu là hơn 47,9 triệu USD (1.025 tỷ đồng - quy đổi theo tỷ giá ngày 31/12/2014), từ năm thứ 4 trở
đi nhà máy sẽ có lãi Trên thực tế, tổng lỗ lũy kế từ khi nhà máy đi vào sản xuất năm
Trang 272012 đến ngày 31/12/2014 là 1.719 tỷ đồng, vượt so với kế hoạch là 694 tỷ đồng Cụ thể, năm 2012, Nhà máy lỗ 75 tỷ đồng, năm 2013 lỗ trên 759 tỷ đồng, năm 2014 lỗ trên 500 tỷ đồng, năm 2015 lỗ trên 370 tỷ đồng Lỗ lũy kế tới nay lên tới hơn 1.600 tỷ đồng Do gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm và gặp sự cố, từ cuối tháng 3/2016, Nhà máy đã phải tạm dừng sản xuất Từ quy mô 1.000 công nhân, hiện đã có gần nửa số công nhân phải nghỉ việc Tuy nhiên, đến tháng 2/2017, nhà máy đã tái hoạt động trở lại
Hình 1-13: Tổng lỗ lũy kế từ khi Nhà máy Đạm Ninh Bình đi vào sản xuất (năm 2012) đến năm 2015 (Đơn vị: Tỷ đồng)
Trang 28Điều mấu chốt, quyết định lớn đến tương lai Nhà máy là trong khi nhiều nhà máy sản xuất lớn như đạm Cà Mau, đạm Phú Mỹ đều có khả năng giảm giá khi giá nguyên liệu đầu vào xuống thấp, thì với Đạm Ninh Bình, vì sản xuất từ than nên chi phí đầu vào luôn cao, không có giá bán cạnh tranh Điều này cũng được các chuyên gia kinh tế khẳng định, vấn đề chính của của Đạm Ninh Bình là sử dụng công nghệ quá
cũ (khí hóa than), công nghệ Trung Quốc lạc hậu khiến giá thành cao, chất lượng sản phẩm thấp
Thực tế 3 năm qua, chưa năm nào Nhà máy Đạm Ninh Bình hoạt động quá 20% công suất Trong khi đó, sản phẩm làm ra lại khó thiêu thụ vì giá bán cao hơn 15% so với sản phẩm cùng loại Theo các chuyên gia, nguyên nhân là do nhà máy công suất lớn tới 500.000 tấn/năm nhưng lại sử dụng công nghệ khí hóa than - thứ công nghệ lạc hậu hiện chỉ còn được sử dụng ở Trung Quốc và Việt Nam khiến chi phí sản xuất bị đẩy lên cao
1.5.2.4 Tình trạng nhà máy Đạm Hà Bắc:
Nhà máy phân đạm Hà Bắc ra đời vào những năm 60 của thế kỷ 20 Lịch sử của nhà máy có thể được tính đến từ ngày 18 tháng 2 năm 1959, khi Chính phủ Việt Nam ký với Chính phủ Trung Quốc hiệp định về việc Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng nhà máy phân đạm Đầu năm 1960 nhà máy Phân đạm đầu tiên của Việt Nam được khởi công xây dựng trên mảnh đất 40ha thuộc xã Thọ Xương cách thị xã Bắc Giang về phía bắc 1 km (nay thuộc phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang)
Sau 5 năm xây dựng, nhà máy đã hình thành với tổng số 130 công trình Ngày 03 tháng 02 năm 1965 khánh thành Phân xưởng Nhiệt điện; ngày 19 tháng 05 năm 1965 Phân xưởng Tạo khí đã khí hóa than thành công và đã sản xuất được khí than để làm nguyên liệu sản xuất Amôniắc Ngày 01 tháng 06 năm 1965 Xưởng Cơ khí đi vào hoạt động
Đầu năm 1973, Nhà máy được khôi phục, xây dựng và mở rộng Ngày 01 tháng
05 năm 1975 Chính phủ Việt Nam đã tiến hành hợp nhất Nhà máy Điện Hà Bắc, Nhà máy Cơ khí Hóa chất Hà Bắc và các phân xưởng Hóa để thành lập Nhà máy Phân đạm
Liên danh nhà thầu gồm Công ty hữu hạn cổ phần Khoa học kỹ thuật Ngũ Hoàn, Tổng Công ty Xuất nhập khẩu máy Trung Quốc và Công ty cổ phần Thiết kế
Trang 29công nghiệp hóa chất Việt Nam Mục tiêu đầu tư là cải tạo nhà máy hiện có, chuyển đổi nguồn nguyên liệu từ khí hóa than cục sang khí hóa than cám, kết hợp mở rộng thêm một dây chuyền mới nâng công suất nhà máy lên 500 nghìn tấn Urê/năm Dự án
sẽ sử dụng các công nghệ chính gồm: khí hóa than cám Shell (Hà Lan), tinh chế khí Linder (Đức), tổng hợp NH3 Topsoe (Đan Mạch), Urê Snamprogetti (Italia)… Đây là những công nghệ tiên tiến hiện đại nhất ở thời điểm hiện nay, vừa đảm bảo tính tiên tiến của dự án, vừa bảo vệ môi trường một cách tốt nhất Dự án cải tạo, mở rộng Nhà máy Phân đạm Hà Bắc do Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc (thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam) làm chủ đầu tư với mục tiêu cải tạo, mở rộng nhà máy hiện có nhằm nâng công suất từ 18 vạn tấn urê/năm lên 50 vạn tấn urê/năm
Dự án cho phép chuyển đổi việc sử dụng nguyên liệu than cục (có giá thành cao) sang
sử dụng than cám 4a, 4b và cám 5 của Quảng Ninh (có giá thành rẻ bằng ½ than đá)
Dự án thực hiện từ tháng 11/2010 và hoàn thành chạy thử tháng 4/2015
Được thành lập từ năm 1960 và là cánh chim đầu đàn của ngành phân bón Việt Nam, Đạm Hà Bắc từ năm 2015 cổ phần hoá với vốn Nhà nước nắm giữ hơn 97,6% Sau 13 năm liên tục từ 2002 - 2014, sản xuất nhà máy có lãi tích luỹ hơn 4.000 tỷ đồng Tuy nhiên, từ năm 2015, trùng với thời điểm Dự án cải tạo, mở rộng nhà máy đi vào hoạt động, DN này đã lỗ
Trong dự toán kinh tế Dự án, 2 năm đầu hoạt động (2015 - 2016), Nhà máy được phép khoản lỗ năm đầu tiên khảng 596 tỷ đồng, năm thứ 2 là 127 tỷ đồng Tuy nhiên, kết quả thực tế, năm 2015 số lỗ của công ty này là 669 tỷ đồng (vượt kế hoạch hơn 70 tỷ đồng), 9 tháng đầu năm 2016, số lỗ ước đạt 700 tỷ đồng, cả năm 2016 dự kiến lỗ khoảng 1.000 tỷ đồng
Như vậy, số lỗ thực tế đã vượt dự toán so với kế hoạch lỗ cho phép trong 2 năm đầu tiên của Nhà máy là khoảng hơn 347 tỷ đồng Điều đáng lo, số lỗ thực trong 9 tháng năm 2016 là hơn 570 tỷ đồng và dự kiến cả năm 2016 hơn 870 tỷ đồng Con số tăng cao bất thường so với dự toán ban đầu, dấy lên lo ngại về hiệu quả hoạt động
Trang 30CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT URÊ
2.1 Nguyên liệu để sản xuất Urê
Nguyên liệu cho quá trình sản xuất Urê là NH3 và CO2
2.1.1 Sản xuất Amoniac
Để tổng hợp NH3 người ta đi từ 2 nguồn nguyên liệu là N2 và H2 Các nhà máy
ở Việt Nam đều sử dụng Công nghệ sản xuất Ammoniac của Haldor Topsoe có thể tóm lược qua mấy bước sau đây:
Bước 1: Làm sạch khí nguyên liệu Tại đây, khí thiên nhiên có chứa tạp chất được khử lưu huỳnh tới 0,05ppm (phần triệu) thể tích trong lò phản ứng với xúc tác và qua tháp hấp thụ H2S
Bước 2: Quá trình Reforming sơ cấp: Khí thiên nhiên sạch cùng hơi nước được đun nóng lên 533oC, áp suất 35 bar, rồi đưa vào lò phản ứng có xúc tác để chuyển hóa thành hỗn hợp CO, CO2 và H2
Bước 3: Quá trình Reforming thứ cấp: nhằm chuyển hóa hoàn toàn lượng Mêtan còn dư sau phản ứng Reforming sơ cấp, trong điều kiện: Xúc tác: Niken, Nhiệt
độ khoảng 700 -900 0C, Áp suất: 33 Bar, thành khí CO, CO2 và hơi nước
Bước 4: Chuyển hóa khí CO với xúc tác: Fe3O4 + Cr2O3/Fe3O4 + CuO, Nhiệt độ: Cao/Thấp = 360/1900C, Áp suất: 35 Bar, với hơi nước tạo thành CO2 và H2
Bước 5: Khí phản ứng được tách CO2 bằng công nghệ rửa với dung dịch Metyl Dietanol Amin (MDEA – công nghệ của BASF)
Bước 6: Chuyển hóa Metan: lượng CO và CO2 còn sót lại được chuyển hóa thành Metan
Bước 7: Tổng hợp Amôniắc (NH3):
- Khí Nitơ (N2) từ không khí qua thiết bị tách N2 có độ tinh khiết đến 99,99%
- Khí Nitơ tác dụng với Hydro trong điều kiện xúc tác: Fe, Nhiệt độ: 2540C,
Áp suất 140 bar tạo thành khí Amoniăc (NH3)
Bước 8: Làm lạnh và thu hồi Ammoniac
2.1.1.1 Nguyên liệu H2
H2 (ts = -249,4oC, d=0,0697) có thể được sản xuất từ nhiều nguồn khác nhau: là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất cốc, cracking hơi nước, reforming xúc tác, từ quá trình oxy hóa không hoàn toàn, reforming hơi nước, từ quá trình điện phân nước…
Trang 31Hình 2.1: Sản xuất H2 từ khí tổng hợp
Từ bảng trên cho thấy, sản phẩm của quá trình oxy hóa không hoàn toàn và quá trình steam reforming có chứa nhiều CO, vì vậy để sản xuất H2 cho phản ứng tổng hợp NH3
cần các công đoạn chuyển hóa CO, tách CO2 và các tạp chất
Khí sản phẩm sau khi được chuyển hóa CO ở nhiệt độ thấp cần qua các giai đoạn tách tạp chất sau
a) Tách ẩm: bằng phương pháp làm lạnh ngưng tụ hoặc hấp phụ zeolite
b) Tách khí axit: đặc biệt là CO2 và H2S sinh ra trong quá trình oxy hóa không hoàn toàn các nguyên liệu không được khử lưu huỳnh
Các phương pháp tách:
a) Tách bằng hấp phụ hóa học thuận nghịch, giải hấp phụ bằng cách tăng nhiệt
độ và giảm áp suất.Các dung môi sử dụng: Alkanolamin, muối kiềm
b) Tách bằng hấp phụ vật lí: các dung môi sử dụng là: dimethyl êt, methanol, metylpyrolidon…
N-c) Kết hợp giữa hấp phụ vật lí và hấp phụ hóa học: sử dụng hỗn hợp dung môi
có khả năng hấp phụ vật lí và hóa học như methanol và etanolamin
Trang 32d) Hấp phụ: sử dụng oxyt sắt, kẽm, than hoạt tính
e)Màng thẩm thấu: màng Pd hoặc các màng vật liệu polymer
f) Làm lạnh sâu: dùng metan lỏng hoặc Nito lỏng
2.1.1.3 Sản xuất NH3
Quá trình được tiến hành theo phương trình chính:
3H2+ N2 = 2NH3 ∆H(500oC) = -109 kJ/mol N2
Phản ứng giảm thể tích và tỏa nhiệt mạnh, về mặt nhiệt động học thuận lợi tại
áp suất cao và nhiệt độ thấp Do vậy yêu cầu xúc tác có hoạt tính cao để có thể tiến hành ở nhiệt độ thấp Xúc tác Fe3O4 có bổ sung thêm một số chất trợ xúc tác như
Al2O3 để tăng diện tích bề mặt, K2O, SiO2, MgO, CaO để tăng độ bền, tăng hoạt tính
và khả năng chống độc xúc tác Thế hệ xúc tác mới có thể chứa Rut hay thế cho Fe hoặc kết hợp với Fe, được bổ trợ chất trợ xúc tác như Rb, Ti và Ce
Nhiệt độ phản ứng khoảng 450 đến 500oC, áp suất 20 đến 25MPa Các khí nguyên liệu phải không có các tạp chất là các hợp chất chứa lưu huỳnh, asen, phosphor
và clo để tránh ngộ độc xúc tác Hàm lượng các hợp chất chứa oxy cũng phải hạn chế đến mức tối thiểu (ví dụ O2, CO2 <1ppm)
Các sơ đồ khối tổng hợp ammoniac từ hai nguồn nguyên liệu khá nhau là than đá/FO hoặc khí tự nhiên/naphta
Trang 33Hình 2.2: Sơ đồ khối quá trình tổng hợp ammoniac từ các nguồn nguyên liệu khác
nhau
2.1.2 Nguyên liệu CO2
Khí CO2 ở điều kiện thường là khí không màu, ở 0oC và áp suất 35,54 at chuyển thành thể lỏng không màu Trong công nghiệp, CO2 được sản xuất trong quá trình tách khí axit của phân đoạn sản xuất H2 như đã đề cập ở trên
2.2 Cơ sở hóa lí của quá trình tổng hợp Urê
Ngoài ra còn có phản ứng phụ không mong muốn kèm theo quá trình là phản ứng tạo biuret:
2NH2CONH2 ↔ NH2CONHCONH2 + NH3 (3)
Vì biuret có hại tới sự đâm chồi của hạt, và làm héo cây dứa và cam, quýt khi đạm được phun lên lá, hàm lượng biuret trong phân đạm trên thị trường thế giới được yêu cầu dưới 1.5% Biuret tạo thành gần như trong tất cả các giai đoạn của quá trình
Trang 34sản xuất urê và chủ yếu được tạo thành ở hệ thống phân hủy thấp áp và nhiệt độ cao Nhìn chung, sự tạo thành biuret tăng lên nhanh chóng khi nhiệt độ vượt quá 110oC do
đó cần phải giữ nhiệt độ/áp suất và thời gian lưu của mức urê lỏng ở giá trị bình thường trong các bình chứa ở mỗi giai đoạn phân hủy đặc biệt là trong bình chứa của thiết bị tách chân không
Phản ứng (1) là phản ứng tỏa nhiệt, phản ứng (2) thu nhiệt nhẹ Ở điều kiện phản ứng là (T=188-190oC, P= 152-157 bar) thì phản ứng (1) xảy ra nhanh chóng và gần như hoàn toàn, phản ứng (2) là phản ứng thuận nghịch, xảy ra chậm nên quyết định đến tốc độ phản ứng Sau phản ứng, CO2 và NH3 chưa phản ứng cùng với carbamate amon được phân hủy lại thành CO2 và NH3 để quay lại tái sử dụng
Phần carbamate amon chuyển hóa thành Urê được xác định bằng tỉ lệ các chất phản ứng khác nhau, nhiệt độ phản ứng và thời gian lưu trong thiết bị tổng hợp Phần carbamate amon không chuyển hóa được phân hủy trở lại thành CO2 và NH3 bằng cách giảm áp hoặc tăng nhiệt Phản ứng ngược chiều với phản ứng 1 và xảy ra mãnh liệt với điều kiện trên:
NH2-COO-NH4 2 NH3 + CO2
2.2.2 Cơ chế phản ứng
Có nhiều quan điểm khác nhau về cơ chế phản ứng tạo Urê từ CO2 và NH3
-cơ chế xyanat: Theo cơ chế này thì CO2 và NH3 tác dụng với nhau tạo carbamat amon rồi từ đó phân hủy thành Urê theo phản ứng nối tiếp nhau:
Từ đây tạo ra dạng cấu trúc quen thuộc của Urê là (NH2)2CO
Về sau một số tác giả nghiên cứu về cơ chế tạo Urê từ NH3 và CO2 theo cơ chế tự xúc tác để tạo ra carbamat amon:
Trang 35Như vậy,nhóm amin có độ kiểm lớn, giai đoạn I đến III tiến hành chậm và có sự cạnh tranh của nhóm II:
Để hạn chế phản ứng từ II sang VII phải bố sung chất có ảnh hưởng mạnh đến tác dụng kiềm của nhóm amin Các chất đó có thể là muối amon của axit mạnh
2.3 Ảnh hưởng các điều kiện công nghệ tới hiệu suất tạo urê
2.3.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ NH3/CO2
Vai trò của nhiệt độ và áp suất được trình bày qua hình 1 cho thấy: với các tỉ lệ
NH3/CO2 khác nhau và áp suất khác nhau hiệu suất tạo thành urê ở tháp tổng hợp dòng chảy thay đổi về đến các giá trị cực đại, sau đó tăng nhiệt độ thì hiệu suất giảm đối với
Trang 36mọi áp suất tương ứng 190 – 400 at Vì vậy ứng với mỗi tỉ lệ mol/l sẽ có một áp suất p xác đinh tại nhiệt đô phù hợp sẽ cho hiệu suất chuyển hóa tốt nhất
Hình 2.3: Mức độ chuyển hóa theo nhiệt độ
Khi cố định tỉ lệ mol NH3/CO2 thì quan hệ giữa t0 và p có dạng hình 2-3 Trên hình 2-3 cho thấy khi cố định tỉ lệ mol NH3/CO2 thấy đường tốc độ phản ứng tổng hợp urê phụ thuộc áp suất p và nhiệt độ t0 có giá trị cực đại cộng vs t ≤180oC
Trang 37Hình 2.4: Tốc độ chuyển hóa Urê phụ thuộc nhiệt độ
Khi tốc độ nạp liệu ban đầu cố định và nhiệt độ tăng thì tốc độ tổng hợp tăng sau đó đến khoảng 170oC đạt cực đại, nếu tiếp tục tăng nhiệt độ thì tốc độ tổng hợp Urê lại giảm do tại nhiệt độ > 170oC có áp suất phân ly cao hơn áp suất ban đầu của hỗn hợp khí , cacsbamat amoni không thể tạo thành từ 2 mol NH3 và 1 mol CO2 và tổng hợp Urê bỏ qua quá trình tạo cacbamat, ngược lại khi nhiệt độ < 170oC sẽ tồn tai cacbamat và phản ứng tổng hợp phải qua sản phẩm trung gian là cacbamat Như vậy
có điểm cực đại tại đường cong tốc độ 1,2 được giải thích do cơ chế phản ứng biến đổi biết rằng nhiệt độ ngưng đọng pha lỏng ở 165oC ứng với áp suất 130 at Do vậy nhiệt
độ cao hơn 170oC quá trình tổng hợp sẽ xảy ra ở pha khí
Trong điều kiện công nghiệp tổng hợp Urê ở áp suất 200at và nhiệt độ 200oC khi tỉ lệ NH3/CO2 = 4 thì ban đầu ở trong tháp có thể không tạo cacbamat vì áp suất phân ly của nó ở điểu kiện đó là 510 at; như vậy tổng hợp Urê xảy ra chủ yếu ở pha khí ngay cả khi ban đầu có phản ứng tạo cacbamat và giải phỏng H2O để tạo pha lỏng, áp suất ngưng trong pha lỏng cũng phụ thuộc nhiệt độ và tỉ lệ NH3/CO2 thể hiện trên hình 2-4
Trang 38Hình 2.5: Áp suất ngưng tụ pha lỏng trong tháp tổng hợp Urê phụ thuộc nhiệt độ
Theo hình 2-5 khi t = 200 oC áp suất ngưng tụ pha lỏng khi tổng hợp Urê điều kiện 160at do đó khi tiến hành tổng hợp Urê ở 200at sản phẩm phản ứng tạo thành ở trong pha lỏng Khi có pha lỏng tạo thành thì NH3 và CO2 hòa tan sau đó tương tác với nhau
để tạo cacbamat amoni bới vì áp suất phân ly của cacbamat trong pha lỏng thấp hơn áp suất phân ly của các chất nguyên chất tham gia phản ứng Như vây, phản ứng tổng hợp thực hiện ở pha lỏng nhưng vẫn có khả năng tạo pha lỏng đầu tiên ở pha khí rồi ngưng
tụ thành lỏng
2.3.2 Vai trò của tỉ lệ thành phần NH3/CO2
Khi có dư NH3 tốc độ chuyển hóa ammoniac thành cacbamat trong tháp tổng hợp Urê tồn tại NH3 và CO2
Trang 39Hình 2.6: Phụ thuộc tỉ lệ tốc độ tổng hợp Urê khi L>2 và khi L=2 ở 175oC
Trên hình 2-6 cho thấy thời gian đầu của phản ứng đạt 0,25 giờ thì khi tăng tỉ lệ
mol NH3/CO2 tức tăng L thì lượng dư NH3 châm phản ứng tạo cacbamat amoni trong
tháp, do đó làm cho tỷ lệ tốc độ khi L>2 trên tốc độ khi L=2 có xu thế giảm Điều này
có thể thấy khi dư NH3 trong tháp làm tăng thể tích pha lỏng làm cho tốc độ phản ứng
ở giai đoạn đầu giảm
Khi thời gian kéo dài đến 0,5 giờ và 1 giờ thì tỷ lệ tốc độ phản ứng khi L > 2
trên tốc độ phản ứng khi L = 2 (lý thuyết) tăng dần với mức độ khác nhau, thời gian
càng dài tỷ lệ tốc độ đó tăng càng nhanh đặc biệt khi thời gian phản ứng đạt 1 giờ Vì
vây khi phối liệu có dư NH3 đòi hỏi phải có thời gian để phản ứng trong pha lỏng, theo
thời gian phản ứng thành phần pha lỏng luôn thay đổi làm cho hiệu suất chuyển hóa
thành Urê cũng thay đổi như được thể hiện trên hình 2-7
Trang 40Hình 2.7: Biến đổi thành phần pha nóng chảy khi tổng hợp Urê qua carbomate amon
khi L=0 và L=4
1’,2’: Đường carbomate amon thay đổi theo t khi L=0 và 230oC
1”: Đường carbomate amon thay đổi theo t khi L=4 ở 230oC
2: Biến đổi Urê theo t ở 230oC
3: Biến đổi Urê theo t ở 145oC
Qua hình 2-7 cho thấy khi không dư NH3 thì biến đổi thành phần pha lỏng theo thời gian phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ của cacbamat và Urê, còn khi có dư NH3 thì thành phần pha lỏng biến đổi theo t không phụ thuộc vào nhiệt độ phản ứng nhiều Do vậy từ 145 oC đến 230 oC đường biến đổi thành phần cacbamat không phụ thuôc nhiều vào nhiệt độ (đường 1) Ngoài thành phần cacbamat và Urê thay đổi còn có thành phần của H2O trong pha lỏng cũng thay đổi và ảnh hướng đến hiệu suất chuyển hóa và tốc
độ phản ứng tạo thành Urê từ cacbamat
Theo hình 2-7, khi có mặt của H2O trong thành phần phối lưu ban đầu (nước dư) ảnh hưởng đến động học phản ứng tổng hợp Urê từ cacbamat theo đường 1 – 3 ở nhiệt độ 160 oC và 170 oC Khi có dư nước w = 0,433, tỷ lệ tốc độ phản ứng tạo Urê khi có dư nước trên tốc độ phản ứng không có dư nước tăng dần theo τ, do đó hiệu suất chuyển hóa x cũng tăng theo τ phản ứng ở 170 oC Khi có dư nước phản ứng bị chậm ở giai đoạn đầu và tăng dần về cuối quá trình Như vậy cần lưu ý không phải dư nước càng nhiều càng có lợi bời ví do quá trình phản ứng tạo Urê sẽ sinh ra H2O luôn tăng lượng H2O trong pha lỏng, nếu dư nhiều làm cho cân bằng tạo Urê sẽ bị hạn chế Nếu dùng dư NH3 100% thì có thể cả 2 thành phần NH3 và H2O đều ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng tổng hợp Urê ở các thời gian khác nhau đặc biệt sau 30 phút phản ứng thì ảnh hưởng càng rõ khi có dư H2O và NH3 sau 60 phút thì ảnh hưởng này không rõ nét