1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁI TÔI TRẦN THUẬT TRONG TÁC PHẨM VIỆC LÀNG CỦA NGÔ TẤT TỐNiên luận 2

52 495 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 80,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cái tôi trần thuật trong tác phẩm Việc làng của ngô tất tố Đào Thị Thùy Linh Contents Phần mở đầu. 2 1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu. 2 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 3. Lịch sử vấn đề. 3 4. Kết cấu của đề tài 3 Phần nội dung. 4 Chương I. Dẫn nhập. 4 1.1. Cái tôi trần thuật. 4 1.2. Thể loại phóng sự 5 1.3. Ngô Tất Tố và tập phóng sự “Việc làng”. 12 Chương II. Cái tôi trần thuật trong tập phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố. 16 2.1 Cái tôi trần thuật với cái nhìn khách quan. 16 2.2 Cái tôi trần thuật với cái nhìn chủ quan. 38 2.3 Một cái tôi trần thuật trên tinh thần nhập cuộc của tác giả. 44 2.4 Vai trò của cái tôi trần thuật trong phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố. 48 Phần kết luận. 51 Danh mục tài liệu tham khảo. 52 Phần mở đầu. 1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu. Là một thể loại giao thoa của hai lĩnh vực báo chí và văn học, phóng sự mang đầy đủ những phẩm chất để trở thành loại thể chiếm lĩnh đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước đầy biến động 19301945. Những vấn đề mà phóng sự đưa góc quay đến luôn là những đề tài nóng hổi, nhức nhối của hiện thực, chính vì tính chất thời sự của nó mà phóng sự từ khi xuất hiện đã hấp dẫn và trở nên “ăn khách”. Trong tình thế Việt Nam đầy những mâu thuẫn giai cấp, dân tộc và ngổn ngang những vấn đề xã hội, phóng sự 19301945 đã đem đến cho người đọc những bức tranh chân thực về đất nước , con người Việt Nam và xã hội phong kiến nửa thuộc điạ bấy giờ. Phóng sự 19301945 chiếm trọn trái tim bạn đọc bởi hai đề tài: bức tranh thành thị, bức tranh nông thôn Việt Nam, một trong tập phóng sự lột tả tất cả ngóc ngách hiện thực sau lũy tre làng là “Việc làng” của Ngô Tất Tố nhà văn, nhà báo tài năng của nền văn học. Cùng với một số tập phóng sự khác của các tác giả: Phi Vân, Nguyễn Đổng Chi,.. thì “Việc làng” đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc của một tập phóng sự. Cùng với nội dung hấp dẫn thì cái tôi trần thuật nhiều xúc cảm đã đem đến cho phóng sự sự tinh tế trong cách thể hiện. Chính vì tầm quan trọng của cái tôi trần thuật trong phóng sự nên tôi thử sức với việc tìm hiểu đề tài “Cái tôi trần thuật trong tập phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố”. Với mục đích đào sâu, khám phá những điều mới mẻ trong cái tôi trần thuật trong phóng sự để nâng cao hiểu biết và có cái nhìn khái quát cho thể loại hấp dẫn này. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiện cứu của đề tài là cái tôi trần thuật trong tập phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố. Có thể nói, cái tôi trần thuật trong phóng sự luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu khi nghiên cứu. Bởi đứng giữa hai lĩnh vực văn học và báo chí, cái tôi trần thuật trong phóng sự phải đáp những yêu cầu của cả hai, điều đó làm cái tôi trần thuật trở nên linh hoạt, sinh động. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khảo cứu trên tập phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố. 3. Lịch sử vấn đề. Với một tác giả tài năng như Ngô Tất Tố đã có nhiều các tác giả nghiên cứu về ông như Vũ Ngọc Phan, Phan Cự Đệ,…với những tập “Nhà văn hiện đại”, “Văn học Việt Nam thế kỷ XX”. Tuy nhiên, các tác giả chỉ khái quát chung nhất về ông và tác phẩm của ông chưa đưa ra cái nhìn cụ thể của từng tác phẩm. Về phóng sự, đã có nhiều khảo cứu về thể loại này như bài viết “Bộ mặt của đời sống thành thị qua các phóng sự giai đoạn 19301941” của tác giả Đỗ Chỉnh, “Phóng sự một thể loại đứng giữa văn học và báo chí” của Đức Dũng, …các chuyên luận trên đa phần mang tính lý luận tổng quan về thể loại, họ cũng đã đề cập đến cái tôi trần thuật nhưng chỉ viết một cách chung nhất. Trong đề tài này, tôi đưa ra một số vấn đề cụ thể nhất của cái tôi trần thuật và chỉ khảo cứu trên tác phẩm “Việc làng”. Đây là cái nhìn rạch ròi của tôi khi nghiên cứu về vấn đề cái tôi trần thuật trong phóng sự. 4. Kết cấu của đề tài Đề tài gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong phần nôi dung được chia thành hai chương chính: Chương 1. Dẫn nhập Đây là chương thuộc về lý thuyết, tôi đưa ra cách hiểu của một số thuật ngữ liên quan đến đề tài, mối dây liên hệ cũng như cách phân biệt của khái niệm đó với một số khái niệm tiệm cận, sự phát triển của thể loại phóng sự,… Chương 2. Cái tôi trần thuật trong tập phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố. Đây là chương tôi đi sâu vào việc tìm hiểu những khía cạnh của cái tôi trần thuật trong phóng sự để từ đó đưa ra những tri thức mới mẻ, cụ thể về phóng sự nói chung và tập “Việc làng” nói riêng. Phần nội dung. Chương I. Dẫn nhập. 1.1. Cái tôi trần thuật. Trần thuật là biện pháp nghệ thuật cơ bản nhất để tạo thành văn bản văn học. Xét về bản chất thì trần thuật chính là thủ pháp kể, tả nhằm cung cấp thông tin chủ yếu về sự kiện, nhân vật theo một trình tự nhất định: không gian, thời gian, tư tưởng của người viết. Vì thế, trần thuật gợi mở thông báo cho người đọc, người nghe về đối tượng, địa điểm, hành động,…Trên mỗi bộ môn nghệ thuật, trần thuật lại ẩn mình trong những phương t

Trang 1

Phần mở đầu.

1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Là một thể loại giao thoa của hai lĩnh vực báo chí và văn học, phóng sựmang đầy đủ những phẩm chất để trở thành loại thể chiếm lĩnh đặc biệt trong hoàncảnh đất nước đầy biến động 1930-1945 Những vấn đề mà phóng sự đưa góc quayđến luôn là những đề tài nóng hổi, nhức nhối của hiện thực, chính vì tính chất thời

sự của nó mà phóng sự từ khi xuất hiện đã hấp dẫn và trở nên “ăn khách” Trongtình thế Việt Nam với trăm vấn đề của xã hội, phóng sự 1930-1945 đã đem đến chongười đọc những bức tranh chân thực của đất nước Phóng sự 1930-1945 chiếmtrọn trái tim bạn đọc bởi hai đề tài: bức tranh thành thị, bức tranh nông thôn ViệtNam, một trong tập phóng sự lột tả tất cả ngóc ngách hiện thực sau lũy tre làng là

“Việc làng” của Ngô Tất Tố- nhà văn, nhà báo tài năng của nền văn học Cùng với

Trang 2

một số tập phóng sự khác của các tác giả: Phi Vân, Nguyễn Đổng Chi, thì “Việc

làng” đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc của một tập phóng sự Cùng với nội dung

hấp dẫn thì cái tôi trần thuật nhiều xúc cảm đã đem đến cho phóng sự sự tinh tếtrong cách thể hiện Chính vì tầm quan trọng của cái tôi trần thuật trong phóng sự

nên tôi thử sức với việc tìm hiểu đề tài “Cái tôi trần thuật trong tập phóng sự “Việc

làng” của Ngô Tất Tố” Với mục đích đào sâu, khám phá những điều mới mẻ trong

cái tôi trần thuật trong phóng sự để nâng cao hiểu biết và có cái nhìn khái quát chothể loại hấp dẫn này

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiện cứu của đề tài là cái tôi trần thuật trong tập phóng sự

“Việc làng” của Ngô Tất Tố Có thể nói, cái tôi trần thuật trong phóng sự luôn là

vấn đề được đặt lên hàng đầu khi nghiên cứu Bởi đứng giữa hai lĩnh vực văn học

và báo chí, cái tôi trần thuật trong phóng sự phải đáp những yêu cầu của cả hai,điều đó làm cái tôi trần thuật trở nên linh hoạt, sinh động Phạm vi nghiên cứu của

đề tài là khảo cứu trên tập phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố

3. Lịch sử vấn đề

Với một tác giả tài năng như Ngô Tất Tố đã có nhiều các tác giả nghiên cứu

về ông như Vũ Ngọc Phan, Phan Cự Đệ,…với những tập “Nhà văn hiện đại”, “Văn

học Việt Nam thế kỷ XX” Tuy nhiên, các tác giả chỉ khái quát chung nhất về ông

và tác phẩm của ông chưa đưa ra cái nhìn cụ thể của từng tác phẩm Về phóng sự,

đã có nhiều khảo cứu về thể loại này như bài viết “Bộ mặt của đời sống thành thịqua các phóng sự giai đoạn 1930-1941” của tác giả Đỗ Chỉnh, “Phóng sự một thểloại đứng giữa văn học và báo chí”1 của Đức Dũng, …các chuyên luận trên đaphần mang tính lý luận tổng quan về thể loại, họ cũng đã đề cập đến cái tôi trầnthuật nhưng chỉ viết một cách chung nhất Trong đề tài này, tôi đưa ra một số vấn

đề cụ thể nhất của cái tôi trần thuật và chỉ khảo cứu trên tác phẩm “Việc làng” Đây

1 Các thể ký báo chí- Đức Dũng.

Trang 3

là cái nhìn rạch ròi của tôi khi nghiên cứu về vấn đề cái tôi trần thuật trong phóng

sự

4. Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trongphần nôi dung được chia thành hai chương chính:

Chương 1 Dẫn nhậpĐây là chương thuộc về lý thuyết, tôi đưa ra cách hiểu của một số thuật ngữliên quan đến đề tài, mối dây liên hệ cũng như cách phân biệt của khái niệm đó vớimột số khái niệm tiệm cận, sự phát triển của thể loại phóng sự,…

Chương 2 Cái tôi trần thuật trong tập phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố.Đây là chương tôi đi sâu vào việc tìm hiểu những khía cạnh của cái tôi trầnthuật trong phóng sự để từ đó đưa ra những tri thức mới mẻ, cụ thể về phóng sự nói

chung và tập “Việc làng” nói riêng

Phần nội dung.

Chương I Dẫn nhập

1.1. Cái tôi trần thuật

Trần thuật là biện pháp nghệ thuật cơ bản nhất để tạo thành văn bản văn học.Xét về bản chất thì trần thuật chính là thủ pháp kể, tả nhằm cung cấp thông tin chủyếu về sự kiện, nhân vật theo một trình tự nhất định: không gian, thời gian, tưtưởng của người viết,…Vì thế, trần thuật gợi mở thông báo cho người đọc, ngườinghe về đối tượng, địa điểm, hành động,…Trên mỗi bộ môn nghệ thuật, trần thuậtlại ẩn mình trong những phương tiện khác nhau: là ngôn ngữ trên sân khấu, là hìnhảnh trong phim ảnh, là màu sắc trong hội họa,…Đặc biệt trong văn học, trần thuật

là điểm tựa cho cả tác phẩm Tuy nhiên, trần thuật không đồng nhất với tự sự vàcũng không nên có cái nhìn phiến diện rằng chỉ trong truyện mới có trần thuật Tuynhiên trong tác phẩm tự sự thì trần thuật trở nên sáng giá nhất Ai khẳng định rằngtrong những câu thơ sau lại không có trần thuật:

“Anh đội viên thức dậy Thấy trời khuya lắm rồi

Mà sao Bác vẫn ngồi

Trang 4

Đêm nay Bác không ngủ.”

(Đêm nay Bác không ngủ- Minh Huệ).Xét về chủ thể trần thuật thì chủ thể trần thuật của thơ là nhân vật trữ tình,chủ thể trần thuật của truyện là người kể chuyện Người kể chuyện là cầu nối giữangôn ngữ kể và sự kiện, nhân vật

Yếu tố then chốt tạo nên cá tính của người trần thuật là điểm nhìn Điểmnhìn tràn thuật chính là vị trí của người kể “đứng” để từ đó họ đưa ống kính đếncác sự kiện, nhân vật Trong văn học có một số loại điểm nhìn cơ bản: điểm nhìnbên trong, điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn tư tưởng,…Điểm nhìn bên ngoài làngười kể nhìn sự kiện, nhân vật từ bên ngoài, kể những điều nhân vật không biết:

Vợ nhặt của Kim Lân, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài,…Điểm nhìn bên trong là kểxuyên qua cảm nhận của nhân vật: Lão Hạc của Nam Cao, Tôi đi học của ThanhTịnh,…Trong phóng sự thì người trần thuật đa số xuất hiện xưng “tôi” để nhìnnhận vấn đề Theo nhà nghiên cứu Đức Dũng: “Trong phóng sự, cái tôi- tác giả làngười dẫn chuyện, ngừơi trình bày, lý giải, người khâu nối những dữ kiện mà tácphẩm đề cập đến Công chúng tiếp nhận luôn luôn có cảm giác tác giả có mặt trongtừng chi tiết nhỏ nhất của tác phẩm.”2 Ông cũng cho rằng đây chính là điểm phânbiệt cái tôi trần thuật trong phóng sự với một số thể loại khác: trong ghi nhanh, tácgiả cũng là người trực tiếp khâu nối những mảng miếng của hiện thực nhưng sứchấp dẫn của thể loại này là ở cái phác cảnh tươi rói do chính hiện thực đem lại.Trong ký chân dung, tác giả cố gắng xuất hiện một cách khiêm tốn với tư cáchngười gợi mở để nhường chỗ cho nhân vật của mình Trong thể loại phóng sự, cáitôi trần thuật được đưa lên tôn vinh ngang hàng với nhân vật trong tiểu thuyết, cấu

tứ trong thơ ca,…Cái tôi trần thuật hay cái tôi- tác giả xuất hiện trong phóng sự với

ba tư cách: nhân chứng khách quan, thẩm định khách quan và khâu nối dữ liệu,tình tiết, chi tiết,… Vai trò của cái tôi ấy là ngừơi dẫn chuyện và chủ thể truyềnthông Cái tôi trần thuật được coi là đặc điểm nổi bật trong ký văn học và ký báo

2 Các thể ký báo chí-Đức Dũng.

Trang 5

chí Cái tôi ấy không đơn thuần là một thủ pháp nghệ thuật như trong truyện ngắnhay tiểu thuyết, cái tôi trần thuật trong phóng sự bao giờ cũng là tác giả Khi trìnhbày và thẩm định hiện thực, cái tôi trần thuật- tác giả mặc dù luôn tỏ ra khách quanvới công chúng tiếp nhận và khách quan với hiện thực phản ánh, nhưng để tạo sựđồng cảm của người đọc thì phóng sự còn mang hơi hướng của cái tôi tác giả, sựnhấn nhá, sự thẩm định chủ quan của người viết Vì lẽ đó, cái tôi trần thuật trongphóng sự là cái tôi đa dạng, nhiều chiều và linh hoạt khi viết về những vấn đề nónghổi

phóng sự là bức tranh của xã hội xác thực đến từng xentimet Trong “Từ điển văn

học tập II” Nguyễn Xuân Nam cho rằng: “Giá trị của một phóng sự trước hết là

vấn đề nó nêu ra là cấp thiết, có bằng chứng cụ thể, xác thực (số liệu, biểu đồ, bảnthống kê, tư liệu khoa học,…) và kết luận gợi lên là đúng đắn Phóng sự sẽ có thêmgiá trị văn học khi nó đi sâu khắc họa thế giới nội tâm, miêu tả tính cách nhân vật,

với lời văn giàu hình ảnh, cảm xúc” Trong quyển “Lý luận báo chí” đã đề cập đến

phẩm chất văn học của phóng sự: “Nếu ta hình dung đường ranh giới nối liền giữatiểu thuyết với các thể tài báo chí thì đường ranh giới đó có lẽ là phóng sự Phóng

sự thông thường phản ánh hiện thực bằng hình ảnh, ta có thể hình dung bức tranh

sự thực bằng hình ảnh Qua lối viết bằng hình ảnh ta có thể hình dung bức tranh

Trang 6

xác thực về một khía cạnh nào đó của cuộc sống … Tóm lại, dù có những điểmkhác biệt nhất định với văn học, phóng sự vẫn là một thể tài báo chí gần với vănhọc hơn cả” Theo giáo sư Hà Minh Đức: “Phóng sự được viết ra nhằm giải đápnhững vấn đề nào đó mà xã hội đang quan tâm…Phóng sự rất xác thực trong sựviệc và chi tiết nhưng có khuynh hướng rõ rệt đúng như một nhà văn có nói

“Phóng sự là một thể văn xung kích”3 Trên một số ý kiến đã nêu trên tác giả ĐứcDũng có đưa ra một khái niêm về thể loại phóng sự như sau: “ Phóng sự là một thểloại đứng giữa văn học và báo chí có khả năng trình bày, diễn tả những sự kiện,con người, tình huống điển hình trong một quá trình phát sinh phát triển dưới dạngmột bức tranh toàn cảnh vừa khái quát vừa chi tiết sống động với vai trò quantrọng của nhân vật trần thuật và bút pháp linh hoạt, ngôn ngữ giàu chất văn học”4

Sự phát triển mạnh mẽ của báo chí phương Tây thế kỷ XIX đã nảy sinh ra nhiềuthể loại văn học, báo chí trong đó có phóng sự Phóng sự từ khi sinh ra đã xác định

và mở rộng lãnh thổ trên lĩnh vực văn chương cũng như báo chí Vì tính chất thời

sự của nó, phóng sự tuy còn non trẻ nhưng đã bắt nhịp được với đời sống văn học,báo chí Dường như phóng sự sinh ra để chiếm lĩnh hiện thực, chúng ta không phủnhận cái hấp dẫn của các thể loại khác nhưng đối với phóng sự, sự hài hòa của hiệnthực khách quan và nhận thức chủ quan là hơn cả Chúng ta không thể viết bàiphóng sự mà chỉ cằn cỗi đi tìm hiện thực và phơi bày trước độc giả, nhiệm vụngười viết còn là thể hiện quan điểm vấn đề và nhiều khi còn tìm hướng giải quyết.Trong định nghĩa đã nêu trên ta có thể chỉ ra được những tính chất thể loại củaphóng sự, trước hết phóng sự là thể loại thuộc cả hai miền văn học và báo chí,phóng sự gồm hai mảng đề tài lớn là sự kiện và con người tuy nhiên không phảivấn đề gì của hai đề tài này cũng được đưa lên phóng sự, thông tin được đưa raphải mang tính xã hội, chính trị nóng hổi và cấp thiết thu hút sự quan tâm của bạn

3 Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn-Hà Minh Đức.

4 Các thể ký báo chí-Đức Dũng.

Trang 7

đọc, cai tôi trần thuật là yếu tố quan trọng hàng đầu khi nghiên cứu phóng sự, bútpháp của phóng sự là sự kết hợp linh hoạt của kể, tả, bình, ngôn ngữ giàu hình ảnh.

Về sự hình thành và phát triển của thể loại này, trong quyển “Các thể loại ký

báo chí” của tác giả Đức Dũng đã đưa ra một số ý kiến rằng “Theo những tài liệu

nước ngoài, khái niệm phóng sự lần đầu tiên được người Anh sử dụng với nghĩa đểchỉ sự mô tả những đám cháy, những trận lụt, những kỳ họp quốc hội hoặc nhữngcuộc chiến tranh”5 điều đó có nghĩa là phóng sự lần đầu tiên được ra mắt đặc trưngthời sự hiện thực của nó đã được thiết lập, hơn nữa nó được đưa ra nhằm thỏa mãn

sự hiếu kỳ của độc giả Trong thời kỳ ban đầu, thể loại phóng sự được khai thác từnhiều góc độ theo những quan niệm khác nhau Người Đức coi phóng sự là sự đưatin điều này khiến phóng sự gần với tin tức Người Mỹ chú trọng đến khả năngdiễn tả những cuộc cãi vã trong các kỳ họp quốc hội… Phóng sự tạo được tiếngvang của nó từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (theo ý kiến của nhà nghiên cứu

Ca-ren Xto-rơ-can) và tất nhiên có nhiều phóng sự đã đạt tới đỉnh cao như “Mười

ngày rung chuyển thế giới” của nhà văn Mỹ Giôn Rit viết về sự kiện cách mạng

thãng Mười Nga vĩ đại, “Vượt qua núi An pơ” của phóng viên Ha-li-bơc-tơn, hay

một số bài viết của La-rít-ta, Rai-xnơ, Gui-li-at, ”6Ở phương Tây người ta đề racông thức 6W cho thể loại này: What, Where, When, Who, Which, Why Chính vìbối cảnh lịch sử đầy biến động, phóng sự mới phát huy hết khả năng của mìnhtrong việc đưa tin xác thực và phong phú đến với bạn đọc Với bút pháp giàu chấtvăn học và cái tôi trần thuật vừa xúc cảm vừa trí tuệ, phóng sự đã chứng tỏ mộtcách sinh động rằng “việc thông tin về hiện thực có thể trình bày một cách độc lập

và có nghệ thuật (từ dùng trong E.E Kítsơ) Phóng sự bước chân đến Việt Nam

không phải từ thế kỷ XX mà ngay trong những tác phẩm “Việt điện u linh” của Lý

Tế Xuyên, “Lĩnh Nam chích quái” của Vũ Quỳnh và Kiều Phú là hiện thực đời

5 Các thể ký báo chí-Đức Dũng.

6 Tìm hiểu một số thể chính luận nghệ thuật [tr 8].

Trang 8

sống được ẩn giấu trong những ảo ảnh của huyền thoại Các tác phẩm ký như

“Thượng kinh ký sự”, “Vũ trung tùy bút”, “Hoàng Lê nhất thống chí” đã có nhiều

điểm giống với phóng sự Tuy nhiên phải đến khi báo in xuất hiện và dần ổn địnhthì phóng sự mới thực sự trở thành thể loại độc lập Trong sự rối ren của chiếntranh và xã hội thể kỷ XX, đã xuất hiện nhiều bài phóng sự với những khuynhhướng khác nhau: ca ngợi chế độ, tinh thần đấu tranh, xuyên tạc cách mạng,…tiêu

biểu là “Mười ngày ở Huế”, “Pháp du hành trình nhật ký”, “Hạn mạn du ký”,…

Đặc biệt là đến giai đoạn 1930-1945 cùng với sự phức tạp của đất nước, xuất hiệncủa nhiều loại người, phóng sự Việt Nam đạt đến những bước tiến vượt bậc với

những tập: “Việc làng” và “Tập án cái đình” của Ngô Tất Tố, “Ngõ hẻm” và

“Ngoại ô” của Nguyễn Đình Lạp, “Tôi kéo xe” của Tam Lang, “Cạm bẫy người”,

“Lục xì” và “Kỹ nghệ lấy Tây” của Vũ Trọng Phụng,…Sau giai đoạn 1930, từ khi

có Đảng lãnh đạo trên các báo cách mạng công khai đã xuất hiện một số tác phẩmmang tính chiến đấu, thúc đẩy và đáp ứng vai trò của thời đại: “Vấn đề dân cày”của Qua Ninh, Vân Đình đó là bản cáo trạng lên án chế độ nửa thực dân nửa phongkiến Các tờ báo Lao động, Nhành lúa, Tin tức,…đã có nhiều bài phóng sự có giátrị thông tin, tuyên truyền, đấu tranh Phóng sự sau năm 1975 có sự tự do trong mọimặt bởi yêu cầu “cởi trói” văn nghệ, phóng sự đã nhìn thẳng vào hiện thực, lột tảmọi vấn đề của công cuộc đổi mới đến đây phóng sự đã tạo được cú ghi bàn thứ

hai với những tác phẩm nổi tiếng như “Vua lốp” của Trần Huy Quang, “Cái đêm

hôm ấy đêm gì” của Phùng Gia Lộc, “Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt” của

Xuân Ba,…Đặc điểm mới mẻ của giai đoạn này là sự mở cửa của đề tài: chiếntranh, chính trị, kinh tế, xã hội, phóng sự không đi lại những bánh xe cũ kỹ củanhững giai đoạn trước mà thực sự lăn bánh trên những con đường mới

Đặc trưng thể loại, là đặc điểm cốt lõi ưu tiên của phóng sự là sự phán ánhhiện thực Một thiên phóng sự sẽ hoàn toàn mất đi giá trị khi nó xa rời thực tế Mụctiêu của phóng sự là cung cấp thông tin thời sự, việc thật người thật trong một quá

Trang 9

trình phát triển Để đưa đến những thông tin xác thực thì người viết không phải chỉhời hợt quan sát, đứng bên ngoài để nhìn vào vấn đề mà họ phải thực sự thâm nhậpvào xã hội vào đời sống con người để trải nghiệm cũng như tái hiện hiện thực cùng

những đánh giá, thẩm định của người viết Trong “Đường lên đỉnh Phanxipan” của

Bình Nguyên thì ông đã phải chinh phục đỉnh núi cao nhất Việt Nam để thực hiệnbài viết này Bất chấp nguy hiểm tính mạng để đưa đến cho người đọc những phútgiây thực sự khám phá những nguy hiểm của thiên nhiên Những thông tin được

đưa ra luôn được kiểm chứng nghiêm túc từ tác giả Phóng sự “Lại lăn dài nước

mắt mẹ” của Xuân Ba, tác giả đã kết hợp linh hoạt những biện pháp hỏi, nghe,

xem… để tạo được một bài viết lấy đi nước mắt của nhiều độc giả Hay đi về dĩvãng, một trong tập phóng sự “ăn khách” của Vũ Trọng Phụng -ông vua phóng sự,

“Cơm thầy cơm cô”, ông đã hóa thân thành bọn đi ở, phải chịu khổ cực ngủ cùng

họ trong những căn phòng tồi tàn của một quán cơm với hỗn độn các thứ mùi để cóđược tư liệu cho bài viết Thành công của phóng sự là sự bù đắp lại những vất vảcủa người làm ra nó: mồ hôi, khổ cực, thậm chí là máu và tính mạng Đặc điểm tạonên tính văn học của phóng sự là bút pháp linh hoạt, sinh động Nhà báo Thọ Cao

trong bài “Tôi làm phóng sự” đã viết “Dẫn dắt sự việc tôi thường dung bút pháp

văn học nhẹ nhàng, giàu hình ảnh, kể cả thơ, ca dao, nhằm phát huy và tăng sứchấp dẫn của các sự việc xuyên suốt cả trục đề tài Thiếu chất văn học, không raphóng sự” Thật vậy, sự mềm mại luồn lén qua cảm xúc chạm vào trái tim bạn đọcvẫn những gì quen thuộc, ấm áp Là hiện thực chân thật trực tiếp tấn công cảm giácnhưng thể hiện giàu hình ảnh sinh động mới khiến cảm giác đi gần với nhịp đậprung động hơn cả Và đặc điểm quan trọng thứ ba của phóng sự là sự hiện diện củacái tôi trần thuật Đó là một cái tôi vừa logic, vừa lý trí, giàu lý lẽ và trong mộtchừng mực nào đó còn sử dụng sức mạnh của cảm xúc thẩm mỹ Nếu không logic,không lý trí thì hiện thực sẽ không xác thực chi tiết, cũng không thể hiện được tínhchất hấp dẫn thời sự của phóng sự, nếu thiếu cảm xúc thẩm mỹ con người thì

Trang 10

phóng sự như sa mạc thiếu nước, khô khan và cạn kiệt Phóng sự chỉ lên đến đỉnhcao khi nó linh hoạt cứng mềm giữa trí tuệ và xúc cảm

Phóng sự là thể đứng giữa hai tuyến văn báo, tuy nhiên khi nào một thiênphóng sự được gọi là phóng sự báo chí, khi nào được đặt vào phóng sự văn học.Phóng sự báo chí được đề cao ba đặc điểm cơ bản: tính xác thực, tính thời sự vàphương thức phản ánh Là phóng sự báo chí xác thực khi chủ thể trực tiếp chúngkiến, thông tin là những điều mắt thấy tai nghe Bức tranh hiện thực của phóng sựbáo chí phải là bức tranh cụ thể, chi tiết, từng đường nét gắn chặt với hiện thựckhách quan Bởi vậy, đối với báo chí quy tác phóng sự 6W luôn được đề cao.Phóng sự báo chí luôn phải chạy kịp với tình hình xã hội có nghĩa là thông tin cungcấp luôn phải nóng hổi, cấp thiết, mới mẻ đáp ứng những con mắt đòi hỏi của độcgiả Phóng sự báo chí không chấp nhận mọi hình thức hư cấu có nghĩa là phóng sựbáo chí trung thành tuyệt đối với hiện thực, luôn để hiện thực là ánh hào quang cho

cả bài viết Ngôn ngữ báo chí cô đọng, chọn lọc, không rườm rà, tường minh đểđáp ứng thông tin nhanh nhất, dễ hiểu nhất đến người đọc Trong khi đó, phóng sựvăn học không đề cao tính xác thực lên hàng đầu, phóng sự văn học chú trọngnhiều đến sự kiện, nhân vật, cảm xúc thẩm mỹ Phóng sự văn học không chỉ pháthiện những vấn đề mang tính nóng, tính ngay mà nhiều khi phóng sự văn họckhám phá vấn đề tầm cỡ thời đại Hơn nữa, phóng sự văn học cho phép hư cấunhưng hư cấu có “ngưỡng”, hư cấu phải tăng tính xã hội không quá xa rời thực tại

Hư cấu phải có kỹ thuật: mọi sự sắp xếp, trật tự, xóa mờ…hiện thực đều phải logic.Cái tôi trần thuật mang phong thái thẩm mỹ, bộc lộ nhiều tính chất cá nhân hơnphóng sự báo chí Ngôn ngữ có thể dung hợp nhiều tầng nghĩa hơn, sâu sắc hơn.Thiết nghĩ, phóng sự văn học hay báo chí đều phục vụ nhu cầu của từng ngành.Báo chí đáp ứng nhu cầu thời sự của xã hội, văn học phục vụ tâm hồn con người

Trong cái nhìn tổng quan giữa các thể loại, phóng sự luôn bị đặt nhầm vàotiểu phẩm báo chí và ngược lại Hai thể loại này có giống có khác: đều là thể laoij

Trang 11

phục vụ xã hội nên tiểu phẩm và phóng sự đều mang trong mình những giá trịthông tin hiện thực Tuy nhiên, mục đích đưa ra thông tin lại hoàn toàn khác nhau,phóng sự đưa ra thông tin để cung cấp, đưa người đọc đến gần với những khámphá mới mẻ, còn tiểu phẩm nổi bật là tính trào phúng, hài hước và đả kích xã hội.Tiểu phẩm không “ngoan hiền” chỉ đơn giản là phơi bày hiện thực, dấu ấn cái tôitác giả nhiều hơn khiến cho tiểu phẩm có tính chủ quan, đưa sự kiện cùng vớiphương thức lột tả mỉa mai châm biếm Tiểu phẩm thường đi nhiều vào cái hợmhĩnh, xấu xa của cuộc sống hơn là cái tốt đẹp, sáng tươi Đặc điểm phân biệt rõràng nhất của phóng sự và các thể loại khác là cái tôi trần thuật Cái tôi trần thuậttrong phóng sự luôn là tác giả- là người khâu nối các sự kiện, tác giả hiển hiện dàyđặc trong từng tình huống, chi tiết, với thể ghi nhanh, cái hấp dẫn không phải ở chỗchủ thể mà tạo dấu ấn ở sự phác cảnh, tái hiện bức tranh hiện thực rõ nét Trong kýchân dung, tác giả dường như bị xóa mờ về vị trí thay vào đó là hình ảnh nổi bậtcủa con người hay tập thể được đề cập đến Trong nhật ký phóng viên, cái tôi tácgiả lại tham gia như nhân vật, thể hiện chất cá nhân đậm đặc Cái tôi trần thuật củatác phẩm phóng sự là cái tôi hài hòa giữa hai điểm nhìn khách quan và chủ quan:chúng hòa quyện, hỗ trợ và đưa tác phẩm không quá cứng nhắc cũng không quágiàu những tâm trạng, những thẩm định riêng tư

1.3. Ngô Tất Tố và tập phóng sự “Việc làng”

Nếu trong thơ ca Việt Nam, Tản Đà được coi là cầu nối của hai thế kỷ văn học XIX

và XX thì trong văn xuôi Ngô Tất Tố được xem là người đặt mối dây liên kết chohai giai đoạn Ngô Tất Tố (1892-1954) quê ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ TừSơn, tỉnh Bắc Ninh Ngô Tất Tố thuộc thế hệ những nhà nho cuối mùa như NguyễnTrọng Thuật, Mai Đăng Đệ, Nguyễn Khắc Hiếu,… những người chứng kiến cảnhhoang tàn của một nền Hán học hơn nghìn năm Bản thân Ngô Tất Tố là người cótài cũng hai lần đi thi nhưng chưa lần nào vào được tam trường Thực tế đó đã giúpông nhìn rõ sự thối nát của chế độ khoa cử thời phong kiến Từ xuất phát điểm là

Trang 12

một nhà nho nghèo yêu nước ông đã phấn đấu để trở thành một nhà văn bạn đườngcủa giai cấp công nhân và sau đó là một đảng viên Cộng sản

Với tư cách là một nhà nho, Ngô Tất Tố đã có những tư tưởng tiến bộ Ông tiếnhành công việc khảo cứu Nho học không phải với tinh thần phục cổ, ông còn tỏ ra

phê phán học thuyết này Trong cuốn “Đường thi” ông viết: “Bởi lúc này Hán học

đã tàn, tài liệu khảo cứu sắp mai một, nếu không bươi nó lên mà giữ nó lại, tấtnhiên nó sẽ tiêu diệt dần dần” Đối với ông, ông thực hiện công tác khảo cứu phiêndịch với trách nhiệm thế hệ sau này để có nguồn tư liệu phục vụ Ông nghiêm khắcphê bình cuốn Nho giáo của họ Trần như sau: “Nếu như những chỗ sai lầm củasách ấy không bị đính chính, thì với những người đẻ sau vài chục năm nữa, Nhogiáo sẽ là “Trần Trọng Kim giáo” chứ không phải đạo giáo của Khổng Tử và tiên

nho nữa” Trong tiểu thuyết “Lều chõng” chính là tấm bi hài kịch của lớp nhà nho.

Giữa cái không khí phục cổ đầy vẻ thành kính trang nghiêm một sô snhaf văn tô vẽcho chế độ khoa cử thời Nguyễn tuy nhiên Ngô Tất Tố đã phô bày bức tranh hiệnthực màu xám với bao trò hợm hĩnh trường thi thì như sân khấu rạp tuồng, giámkhảo múa may như quan phường chèo rồi các ông “tiến sĩ giấy” và đủ các hạngngười phức tạp Một nhà nho nghèo giàu lòng yêu nước ông tỏ ra phê phán giai cấpthống trị bóc lột nhân dân Sau này dưới ánh sáng của ngọn cờ Đảng, ông một lòng

đi theo và dùng ngòi bút của mình làm vũ khí chiến đấu

Ngô Tất Tố được xem là nhà văn sâu sắc khi viết về nông thôn với những tác phẩm

nổi tiếng như: “Tắt đèn”, “Việc làng”, “Tập án cái đình”,… Ông xuất thân từ một

vùng quê nghèo với truyền thống khoa bảng tuy nhien quê hương ông chịu nhiềunhững hủ tục nặng nề của phong kiến, với tư cách của một nhà nho cùng với kinhnghiệm sống trải nghiệm với cái khổ của nhân dân nông thôn đã hình thànhnhưungx thuận lựoi của ông khi ông đào sâu khai thác hiện thực của những ngườidân quê sống trong cái xã hội nháo nhoạn lúc bấy giờ Trong các tác phẩm viết vềnông thôn của ông, chúng ta thấy tiêu biểu là những hủ tục, những nạn xôi thịt, chè

Trang 13

chén, ăn vạ,…ông đã tái hiện cuộc đời của những người nông dân sau lũy tre làng:

họ quanh năm chân lội dưới bùn đã cùng cực với việc lo kế sinh nhai cho gia đình,tuy nhiên ông trời lại chằng vào vai họ những tục lệ phong kiến hết sức khắt khe

mà xoay quanh cũng chỉ có chữ tiền: bi kịch sưu thuế trong “Tắt đèn”, những lệ

làng “vào ngôi”, những lễ hội, mua quan bán chức, nạn xôi thịt được tái hiện rõ nét

trong “Việc làng”, “Tập án cái đình” Đúng là “phép vua còn thua lệ làng” lệ làng

đã cướp đi cuộc sống của không biết bao nhiêu người với “cái án chung thân”,người sống khổ với người chết, người chết cũng không được an nghỉ Đó khôngphải là hư cấu, đó chính là thực trạng xã hội Việt Nam những năm 1930-1945.Bằng ngòi bút hiện thực sắc xảo, không khí làng quê ngột ngạt đã hiện lên sinhđộng rõ nét

Với tư cách nhà báo, Ngô Tất Tố là cây bút giàu tính chiến đấu Ông được xếp vàoloại “ngũ hổ”7- một trong năm nhà báo tiêu biểu nhất thời kỳ này trên các tờ: AnNam tạp chí, Thần Chung, Phụ nữ tân văn, Hải Phòng tuần báo,… với các bút danhThục Điểu, Phó Chi, Thuyết Hải, Xuân Trào,… Ngô Tất Tố đã viết tiểu phẩm “Nóichơi”, “Nói mà chơi”, “Gặp đâu nói đấy”,…những bài báo tiểu phẩm của ông đã

đề cập những vấn đề thời sự nóng hổi bức xúc trong đời sống nhân dân lúc bấy giờ

và nói như GS Phan Cự Đệ rằng bài văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố giống như bộ

sử biên niên của xã hội Việt Nam những năm 1930 đến đại chiến thế giới thứ hai.Như “một nhân chứng trung thành của thời đại” qua những bài tiểu phẩm, Ngô Tất

Tố đã ghi lại những sự kiện chính trị trong nước thời kỳ đó: phong trào ĐôngDương đại hội với những câu biểu tình rầm rộ đó là những “bao công đại sứ Gôđa,phong trào mặt trận dân chủ với những cuộc đấu tranh của báo giới đòi tự do ngônluận rồi nhưungx cuộc đình công của thợ thuyền,…các bài tiểu phẩm của ông đãlàm thành bức tranh rộng lớn và chân thật về xã hội thực dân phong kiến Việt Namnhững năm trước cách mạng tháng tám đặc biệt là những bài báo của ông giống

7 Văn học Việt Nam 1900-1945- Phan Cự Đệ.

Trang 14

như phòng triển lãm chân dung khác nhau của giai cấp thống trị với những kiểungười điển hình trong xã hội cũ: thống sứ Bắc Kỳ Tô lăng xơ, Võ Hiển, HoàngTrọng Phu, thượng thư Phạm Quỳnh, nghị trưởng Phạm Huy Lục, Trong các bàibáo của ông, ngòi bút châm biếm sâu sắc đã phơi trần ra trước ánh sáng mặt tráiđen tối của phong trào bịp bợm do thực dân Pháp và bè lũ bù nhìn phong kiến Cácbài báo của Ngô Tất Tố thường là những bài bình luận thời sự, bình luận xx hội do

đó nó phải có sức thuyết phục, lập luận chặt chẽ nhưng đây còn là một tác phẩmvăn học do đó nó phải xây dựng được hình tượng có sức truyền cảm sâu sắc vớingười đọc Một biện pháp để làm điều đó là mượn truyện sử sách để làm nổi bậtnhân vật hay vấn đề

Trong bối cảnh xã hội 1930-1945 Đảng cộng sản Đông Dương ra đời và những caotrào đấu tranh, các phong trào yêu nước của dân ta, các chính sách cải lương, muachuộc, phát triển các tôn giáo, các trò mê tin dị đoan, phong trào ăn chơi trụy lạclôi kéo thanh niên, ráo riết tuyên truyền chống cộng của thực dân Pháp Chính hiệnthực xã hội phức tạp rối ren đã làm động lực cho thể loại phóng sự phát triển

Trong giai đoạn này chúng ta không thể không nhắc tới thiên phóng sự “Việc

làng” của Ngô Tất Tố Việc làng được đăng báo đầu tiên trên Hà Nội tân văn năm

1940 tuy nhiên bản in này có những chỗ bị kiểm duyệt và bỏ đi, sau 1941 bản inthành sách do Nhà Mai Lĩnh xuất bản là nguyên bản gốc do Ngô Tất Tố trực tiếp

bổ sung đầy đủ “Việc làng” thực sự tái hiện bức tranh cuộc đời và con người củalàng quê Bắc Bộ Mở đầu là lời tâm sự khi hấp hối của một cụ già phải gánh váviệc làng cho đến khi trút hơi thở cuối cùng và kết thúc bằng hai sự việc: con trẻ

ngóng chờ “miếng thịt phần làng” và người lớn phải lo món nợ chung thân “Việc

làng” thể hiện đầy đủ tâm lý con người nông thôn sau lũy tre làng với tục lệ cỗ bàn

hội hè chè chén là những hủ tục tàn dư thời phong kiến, miếng ăn giữa làng chính

là mục tiêu theo đuổi của biết bao nông dân và cũng là cơ hội kiếm lợi của bọncường hào, lý trưởng, với tâm lý “sống với làng, chết với làng” biết bao cảnh đau

Trang 15

thương, cùng cực xảy ra thậm chí đến cái chết cũng không buông bỏ Bằng ngòibút hiện thực, “Việc làng” phê phán chỉ đích danh hệ thống “tổ chức tế tự” baogồm ngôi thứ và những chức sắc máu mặt ra sức đè ép dân lành Danh nghĩa “việclàng” đã bị bọn chúng lợi dụng để kiếm chác, ăn uống phạt vạ người dân Bi kịchsống chết với hủ tục đã khiến cuộc sống người nông dân nhuộm vào đen tối

Chương II Cái tôi trần thuật trong tập phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố

2.1 Cái tôi trần thuật với cái nhìn khách quan

Phóng sự là thể loại đưa tin nhanh mang tính thời sự cao Việc cung cấp thông tinđầy đủ, chính xác và kịp thời là nhiệm vụ đặt ra cho thể loại này Nói đến cái tôi lànói đến trách nhiệm của nhà văn khi cầm bút xây dựng tác phẩm của mình và tráchnhiệm ấy trong thể loại phóng sự đó chính là việc khách quan đưa ra thông tin đếnvới bạn đọc Là một thể loại đưa tin sự kiện để thuyết phục bạn đọc, nhà văn cầnđưa ống kính chân thực soi tỏ sự kiện chính vì lẽ đó phóng sự- thể loại chiếm lĩnhthị trường nhanh chóng cần được viết với cái nhìn khách quan của cái tôi trầnthuật

Trong tập “Việc làng” của Ngô Tất Tố, ông dường như chỉ bước chân đến gần với

sự kiện, dùng con mắt tinh tường quan sát, cảm nhận từng rung động nhỏ trongdiễn biến của sự kiện vì thế trong tác phẩm chúng ta chỉ thấy nhân vật “tôi” hầunhư chỉ đơn thuần kể, tả sự việc Mở đầu cho tập phóng sự là tác phẩm mang tínhkhơi nguồn, giới thiệu và gợi mở sâu sắc khi mọi câu chuyện việc làng ấy đượcđưa cho một ông cụ gần đất xa trời, khi cụ chỉ còn một khắc để hưởng thụ cuộcsống thì đó là thời gian cụ lại trăn trở với mối vương vấn cả đời với cái gánh nặngdai dẳng bám theo chưa một ngày nào yên, tất cả hiện trạng của cái xã hội “việclàng” ấy hiện lên thật ai oán thật xúc động Khung cảnh của một làng quê, một gia

đình vỏn vẹn qua “Lớp người bị bỏ sót” Ngay ở nhan đề của tác phẩm đã gây ra sự

tò mò trong đầu người đọc hẳn hiện ra hàng loạt những câu hỏi: Lớp người bị bỏsót là như thế nào? Tại sao lớp người đó lại bị bỏ sót? Bỏ sót trong vấn đề gì?, và

Trang 16

trong bốn trang của tác phẩm sẽ giải thích cho độc giả hiểu Trước hết, mở đầu tácphẩm là một bức tranh quê vô cùng ảm đạm hiu hắt với thời gian và không gianchìm nghỉm trong lạnh lẽo úa tàn “Hôm ấy, một hôm về cuối mùa đông, cách đây

độ hơn mười năm, trời xế chiều, tôi mới đến nhà cụ Thượng Lão Việt”8 Tác giảđưa người đọc đến với câu chuyện với lối kể khách quan và vô cùng tự nhiên Cách

kể chậm rãi, ngôn ngữ bình dân dễ hiểu Ngay câu sau toàn bộ khung cảnh hiện lênvới bao niềm thương cảm về cái “nhà” của cụ Thượng “Cái nhà mới lạ làm sao!

Nó là một túp lều tranh lụp xụp, đầy cảnh thê thảm nhưng lại có vẻ vui vẻ”9 Trí tò

mò lại một lần nữa được tác giả khơi gợi thành công làm sao một cái “nhà” đầykhiêm tốn chỉ bằng một túp lều lại “lụp xụp” mà lại có sự vui vẻ? Phải chăng nhàđang có chuyện hoan hỉ Thì ra gian bên này đang đón khách khứa tấp nập vớitiếng cừoi nói sốt sắng đến chỗ này người đọc vẫn còn cảm nhận được không khívui vẻ của túp lều nhưng đến nhịp chững cau thì cảm xúc hoàn toàn chùng xuốngngười ta cười cười nói nói để “đợi hơi thở cuối cùng của ông cụ” Chỉ cần đến câuchữ này, người đọc đã thấy sự mâu thuẫn khi nhà sắp có người chết mà cái khôngkhí lại dày đặc niềm vui Cái chết của ông cụ là niềm mong đợi của biết bao nhiêungười Đau thương hơn nữa là khung cảnh trước khi chết của cụ “Cụ Thượng nằm

tò vo trên chiếc giường tre trong gian bên kia Mặt cụ ngoảnh vào bức vách Lưng

cụ uốn gù con tôm Bức chăn dạ đỏ phủ trên mình đã hóa màu gạch non vừa vặnđậy kín từ vai đến gối Cái đầu trắng xóa và đôi bít tất thủng gót đeo ở cổ chân đều

bị để lộ ra ngoài” Cái “thế” nằm của cụ cùng toàn bộ tất cả những thứ đậy đắp lênngười cụ thật sự khiến lòng người vô cùng thương tâm Nhìn cụ có khác nào người

ăn mày sắp chết, mà đau đớn hơn cả ngừoi ăn mày là cụ chết trong tiếng cười vuicủa họ hàng làng quê Cái chết được mong đợi của cụ Thượng khiến ta nhớ đến cái

chết của cụ cố trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng Một bên là cái chết được chầu

8 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 8]

9 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 8].

Trang 17

trực ăn uống của người dân làng, một bên là cái chết mong chờ được khoe khoangcủa bọn con cháu thành thị Hai cái chết phủ khắp xã hội Việt Nam 1930-1945 vớiviệc Pháp vào khai hóa văn minh mà khai trừ tính ngừoi của con người Một cái xãhội với một bên văn minh hợm hĩnh mất đi phần làm người cùng với những thú vuikệch cỡm chưa từng có, một bên phong kiến dẫn chìm phần nhân tính còn xót lạitrong con người khi người ta chỉ thuộc giống bản năng như loài vật với thú ăn uốngđược đặt lên trên Một ông cụ bôn ba làm ăn, biết chữ nghĩa, có chí khí lại xảy racái cơ sự này Trong bức thư tâm huyết cả đời của cụ gửi cho nhân vật “tôi” đểmong gửi gắm người bạn tâm giao cái nỗi canh cánh trong lòng suốt bao nhiêunăm sống Cụ Thượng còn chưa mất đi nhưng ngoài kia đã buộc trâu, đã sắp xếpchu đáo cho bữa cỗ đám ma cụ Thật không còn cái khung cảnh nào hiện thực đángxem như khung cảnh này Người ta chỉ chờ ông cụ chết để mổ trâu làm cỗ chè chén

lo say, ở đây thì tình nghĩa ở đâu Cái xã hội với truyền thống “duy tình” hỏi xemcòn xót lại bao nhiêu cái gốc người Trong cơn nguy kịch bên cạnh cụ chỉ còn đống

“rẻ rách” cùng với tiếng cười nói, con cháu thân thích không xuất hiện một ai.Trong lòng ông cụ chỉ còn là nỗi niềm muốn được giã bày với người bạn về tất cảnhững gông cùm đè ép lên con người Bao nhiêu năm buôn bán chạy ngược chạyxuôi của cụ lẽ nào chỉ được có túp lều, con “đỉa” hút máu cụ chính là trăm thứ hủtục của làng Lão Việt “Bất kỳ thứ hủ tục nào, làng tôi đều có đủ cả Vì thế mà tôisuốt đời còm cọm, chỉ để đóng góp là vừa Bây giờ tôi sắp nằm xuống, lại để lạicho thằng con tôi một cái gánh nặng Những sự linh đình ông thấy ngoài sân kia sẽ

là món nợ mà một đời nó chưa chắc trả hết…”10 Ông cụ cho rằng: “Hủ tục khôngphải thứ thiên kinh, địa nghĩa, nó vẫn có thể thay đổi nếu phái trí thức để ý đến sựkhai hóa cho dân quê Nhưng vì chúng tôi là một lớp người bị bỏ sót trong lũy trexanh, con mắt của phái trí thức ít khi ngó tới Bởi vậy, những cái tục lệ quái gở,

10 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 19].

Trang 18

mọi rợ mới được tự do kế tiếp nhau, chồng chất lên vai chúng tôi”11 Chính vì cái lẽnhân vật “tôi” là người tri thức lên ông cụ có chết cũng phải bày tỏ mong muốncuối cùng cho người bạn này, có lẽ đây chính là cơ hội cuối cùng để cứu vớt lấycuộc đời các thế hệ sau của cụ cũng như của những người nông dân sau lũy trelàng Bởi “Nhiều lúc tôi muốn hắt cái gánh nặng ấy đi nhưng sức một mình khôngthể làm nổi, đành phải è cổ mà chịu” Tục làng, lệ làng là quy định của cả một hệthống người duy trì bao đời này- đây còn là nét văn hóa ghi dấu bản sắc của dântộc lại được các vị tai to mặt lớn bảo vệ như một thứ bảo vật, dưới còn có lớpngười vẫn thờ ơ hoặc đã bị bất lực trước thực tại cay đắng mà cam chịu…Chính vì

sự bao bọc áu dày nên cái hủ tục này vẫn còn đeo bồng con người thôn quê Chiếckìm này đay nghiến vào hai vai của người nông dân bắt họ kéo và khiến họ khôngthể nào ngóc đầu lên được Và ước nguyện cả đời đến khi sang thế giới bên kia củaông cụ chính là nhờ người tri thức làm “tội ác của nó mà phơi ra bóng mặt trời”.Ông cụ ra đi để lại bao nỗi trăn trở ở người tri thức “Một nước giống như một cái

xe bò, lớp tri thức là người làm bò, lớp dân quê là người đẩy xe Nếu kẻ đẩy còn bịnhững dây tệ tục buộc chặt hai chân thì kẻ là bò tài giỏi bậc nào cũng không thểkéo được cái xe bò lên dốc…Vì vậy…tôi chỉ mong mỏi các ông đưa mắt đến chỗbẩn thỉu, tối tăm…trong đám tre xanh”12 Đây là nguyện vọng cũng như lời cảnhtỉnh cho lớp trí thức đang mù mịt trong cái văn minh nhố nhăng mà chưa nhìn nhậnđược vấn đề cần viết Việc thổi hồn tất cả mọi tư tưởng của tác phẩm vào lời nóicủa ông cụ gần đất xa trời- con người từng trải đầy kinh nghiệm và lặn lội trongđám bùn đặc quánh bị bao nhiêu vòi đỉa hút cạn sinh lực, lại là con người biết chữnghĩa với đôi mắt nhuộm màu thời gian là một nét tinh tế của Ngô Tất Tố Ôngkhông đưa ra một lý lẽ nào để thuyết phục người đọc ông chỉ kể và để người đọc bịtin tưởng vào những gì ông kể Không hề tham gia một câu chữ nào trong phát biểu

11 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 19].

12 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 20].

Trang 19

tư tưởng, Ngô Tất Tố đã khách quan bằng một cách nào đó để người đọc bị thuyếtphục Việc tác giả đưa tên làng Lão Việt cũng là một cách ẩn dụ cho nước ViệtNam xưa cũ, một nước Việt phong kiến đổ nát, một nước Việt bị ăn mòn bởi bọn lýtrưởng và chánh tổng của làng quê, một đất nước với đặc tính nông nghiệp màngười nông dân còn bị bóc lột bị đè ép bởi chính đồng bào của mình thì nói gì đếnchống giặc ngoại xâm Nội xâm còn đang hoành hành trên khắp lãnh thổ thì ViệtNam sao có thể ngóc đầu lên được? Người nông dân chỉ còn bám vào sợi dâymỏng manh duy nhất là những người học cao hơn mình mong sao họ có thể ngóvào nơi bẩn thỉu này- nơi bẩn thỉu mà chỗ nào trên cái đất nước hình chữ S nàycũng có Sau khi ông cụ trút hơi thở cuối cùng thì tiếng hò reo để vật con trâu cũngcất lên đã khiến “tôi” đầy ám ảnh và “Tôi” đã viết thiên phóng sự để minh oan chocái chết oan của ông cụ cũng như thực hiện nguyện vọng của ông cụ Sau đó hàngloạt bức tranh làng quê Việt Nam trên nhiều ngôi làng ở cùng đồng bằng Bắc Bộvới những cái tên được giấu đi khéo léo nhưng có lẽ người đọc lúc đó thưởng thứckhông giật mình mà ngỡ rằng chắc làng này hay cái lệ này mình cũng đã chữngkiến rồi

Trong “Một đám vào ngôi” tác giả đưa độc giả đến với bản sắc dân tộc với tục vào

ngôi Vào ngôi là tục lệ khai suất đinh chỉ thực hiện với con trai sau khi ra đời hayhiểu một cách đơn giản là lễ cho con trai sau khi ra đời được vào danh sách đinhtrong làng để đến khi làng có cỗ bàn gì thì được suất ăn Chúng ta cùng tìm hiểucái lễ linh đình này như thế nào? Tất nhiên các thành viên tham gia là tất cả bà controng làng cùng các chức sắc trong làng Không khí uy nghiêm ngay từ bàn tổ tômkhi các cụ đang đánh, rồi nỗi lo của gia chủ khi sợ làm phật lòng bất kì cụ nàotrong làng, gia chủ hồ hởi sung sướng kể rằng cái lễ này đã ngốn trăm rưỡi bạc bởi

vì ông Hai Thìn – gia chủ là người ngụ cư phải ba đời mới được vào đinh, đối vớiông không được vào ngôi là một sự nhục nhã, không được ngang hàng với ngườikhác không được hưởng những quyền lợi như người khác Việc nhờ vào ông cụ

Trang 20

Bá- người nghiêm trong làng mất mà ông mới tranh thủ vào ngôi Hơn trăm bạc làbao gồm các khoản biếu các cụ từ cụ chưởng lễ ba chục, ông chánh hội hai chục,

cụ lý trưởng mừoi lăm đồng, ông phó lý và ông phó hội mỗi ngừoi mười hai đồng,

…cùng với ăn uống từ chiều hôm qua Ở làng quê, “ăn uống là sự đầu tiên” từ thịtlợn cũng phải không quá lạt không quá mỡ, cụ chức sắc thích ăn thịt gì cũng phảichiều các cụ rồi cúng lễ ngoài đình Các thủ tục ăn uống cũng phải mất năm sáuchục đồng còn chưa kể đến tiền biếu các cụ đánh tổ tôm Cuối cùng, cái lễ vào ngôimất gần hai trăm một trăm nhà còn, một trăm đi vay nhưng cũng thỏa mãn với cái

nợ ấy vì từ nay nhà ông đã bằng vai phải lứa với mọi người và được “miếng thịtphần” việc làng Ta thử tính người nông dân cày cấy quanh năm mới được mấyđồng cho cả một năm, ăn không đủ lo, mặc không đủ ấm nhưng chỉ vì một lễ vàongôi đã ngốn hết nửa đời làm lụng của con người, rồi còn đi vay, lãi mẹ đẻ lãi con,nửa đời còn lại quanh quẩn trong món nợ Chỉ vì cái lệ làng phải thế cùng với hammuốn “miếng thịt” chùa của làng mà cả cuộc đời con người chìm sâu trong vất vảtrong bùn lầy Đây là nhà còn có của ăn của để chứ những ngừoi bần nông thì kiếmđâu ra bằng ấy thứ mà lo Cái mác ngụ cư rồi những quy định ngặt nghèo đã làm sốphận không biết bao nhiêu người khốn khổ: chúng ta không quên nhân vật ông Hai

yêu nước trong “Làng” của Kim Lân rồi “xóm ngụ cư” trong “Vợ nhặt”,…số phận

của người ngụ cư còn long đong và vất vả hơn nữa lại phải chịu cái nhìn khinh rẻcủa những người khác Bởi thế có lẽ mong muốn của ông Hai Thìn là có lý nhưngviệc màu mè cùng với lối tổ chức linh đình che dấu cho sự bóc lột vô lương tâmcủa bọn đầu sỏ của làng là hết sức vô lý Chỉ là cái lễ vào ngôi mà cả cuộc đời củanhiều con ngừi chìm trong bể khổ, ấy thế mà vì cái danh mù quáng họ vẫn tươicười dâng tiền cho lũ ăn cướp ban ngày Chính vì cái lệ ấy giúp cho bọn hương sắcbòn rút trắng trợn của ngừoi nông dân mà tục làng được chúng hết sức bảo vệ.Người dân thì chân thật đáng thương ôm ảo tưởng những sự tốt đẹp như tranh vẽcủa các cụ Đúng là một đàn sói đói cùng một lũ thỏ ngây ngô Cũng vì cái lệ làng

Trang 21

mà giết đi sinh mạng của nhiều con người trong “Cái án ông cụ”- câu chuyện bắt

đầu bằng kết quả của một vụ ẩu đả với máu me lợm người ở làng K.X của hai ôngHai Thu và quản Thi, chỉ vì một quân bài ông cụ trong tổ tôm mà ra cơ sự này Vẫn

là cái án ngụ cư khi người trong làng và người ngụ cư vẫn không thể hòa hợp Ông

cụ của nhà thì kính còn ông cụ ngụ cư thì không kính Từ câu nói đầy hàm ý cùngvới nỗi tức giận của ông Thư đã khiến cho mọi chuyện không thể giải quyết Thế

hệ trước dồn thù vào thế hệ sau, thế hệ sau gánh cực đem lòng thù ghét rồi mọichuyện đâu chỉ dừng lại ở đó mà còn tiếp diễn sau nữa Khi chỉ vì cái danh vọng

do mấy ông già trong làng phong cho mà khiến hai gia đình tan cửa nát nhà, ngườithì chết, người thì tù chung thân “vậy là một quân bài ông cụ giết hai mạngngười”13

Tiếp sau “Cái án ông cụ” ở làng Lăng Vân- bạn của nhân vật “tôi” là “Nghệ thuật

băm thịt gà” câu chuyện tài hoa của một con người được tôn lên hàng nghệ sỹ và

chúng ta lại được tìm hiểu thêm một tục lệ mới của làng quê Việt Nam –tục chứahàng xóm Mở đầu câu chuyện là khung cảnh mờ sáng “trời vẫn tối như mực vàmưa sụt sùi” ấy thế mà trong gian nhà của Lăng Vân đã tấp nập người là nhữnghàng xóm toàn đàn ông hết cả Đúng là người dân quê, họ dậy từ rất sớm để đi ănphần dù là trời có mưa Mâm cỗ chỉ vỏn vẹn có một con gà, một mâm xôi và chairượu Nhân vật tôi cứ tưởng là còn thêm gì để thiết đãi hàng xóm nhưng tất cả 92suất chỉ ăn bằng ấy đồ Mỗi suất chỉ gồm có dúm xôi và bốn xâu thịt từ con gà Chỉbằng không vừa hai miếng ăn nhưng cỗ làng là phỉa đông đủ Các bậc đàn nah đànông phải đầy đủ phao, cổ gà Một con gà mà chia được gần trăm suất ăn, miếngnào miếng ấy đồng đều “Không giập, không nát, không bong da, nó giống như tậpcánh con bươm bướm”14 thì hẳn ông Mới đáng làm nghệ nhân lắm thay Việc của

13 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 36].

14 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 42].

Trang 22

ông Mới là việc của làng, làm nhiều thành quen, tay chặt gà còn có cỡ, đưa lên đưaxuống nhịp nhàng Công việc của ông thuần thục đến độ khiến ngừoi khác nhìnkhông chớp mắt tác giả đã miêu tả rằng: “Con gà bị tách làm hai mảnh Mối mảnhđều có một nửa xương sống Một tay giữ thỏi thịt gà, một tay cầm một con daophay, hắn băm lia lịa như không chú ý gì hết Nhưng hình nhưu tay hắn có cỡ sẵn,cho nên con dao của hắn giơ lên, không nhát nào cao, không nhát nào thấp Mườinhát như một, có khi chỉ lên khỏi mặt thớt độ khoảng một gang và cách hai ngóntay hắn độ vài ba phân …”câu chuyện là để tôn vinh cái nghệ thuật băm thịt gànhưng câu chuyện còn hiện lên hiện thực nông thôn Bắc Bộ con người nông dânchỉ chăm chú vào miếng ăn giữa đình dù chỉ một chút nhưng đây là lộc trời bannhất định không thể thiếu

Đôi khi là một ngày hội “đẫy chà” vui vẻ của làng cũng trở thành nỗi khốn khổ chonhiều người Đẫy chà là ngày hội lớn của làng Đ.S thường có tục rước cờ, rướcquạt, rước thần và tất nhiên cái vinh dự được khăn, áo, mũ nón trong đám rước làm

ai cũng ngưỡng mộ, đó là một niềm tự hào của những người dân quê Nhưng để đạtđến cái vinh thì đi song cùng cái nhục: ông Hai Thuyết được làm thủ hiệu trongđám rước, để xứng đáng với chức vị đó ngoài những quần lành, áo mới, thì ôngnhất định phải có đôi giày mới chứ không được xỏ dép “Thủ hiệu đi đất ấy là đểhàng tổng, hàng xứ chê cười làng mình, người ta vẫn tin như thế”15 Vậy đi giày thì

có gì khiến ông khổ cực đến vậy Mọi sự đều bắt nguồn từ cái thân hình ông

“Người đâu mà lạ làm vậy! Cổ tay lớn bằng bắp chuối ngón tay như hai chiếc dùiđục, những lúc anh vấn vành khố một nhai, bao nhiêu bắp thịt chần chẫn trong lớp

da đồng tụ ra hết thì trông chẳng khác cái tượng lực sĩ Điền Đô”16 Với cái thânhình khỏe khoắn lạ thường thì chân anh đúng là phù hợp với hình dáng ấy “đôibàn chân của ảnh đều là “xuát chúng” nó phàn phạt như chiếc bàn cuốc và lớn

15 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 45].

16 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 44].

Trang 23

bằng rưỡi bàn chân người thường, hẳn phải tìm khắp các cửa hàng giày để chọncho ảnh thứ giày quá đại Vậy mà chân ảnh xâu vào, vẫn còn thừa một ngón út vànửa cái gót” Tiền đã mất gấp ba để người thợ giày đo hai chân ảnh Cái thân hình

“gần năm mươi tuổi nhưng còn gánh nổi hàng tạ và vẫn đủ sức cất cái búa bổ củimột cách nhẹ nhàng” Một sức khỏe “được việc” như vậy mà khốn khổ với cái lễhội này Mà đặt được giày cũng chưa xong khi ông Hai quanh năm đi đất làm lụnglại phải đi giày mà đôi giày lại không phù hợp với cỡ chân của ông thành ra ôngphải tập đi giày Một người ngũ tuần mà “khi lồng vào chiếc giày coi bộ cực kỳngượng nghịu, chẳng khác đứa trẻ tập đi” Bởi vậy mà ông phải nghỉ việc để học đigiày “Thảm hại! Đôi giày chẳng khác gì lũ tướng cướp bị bắt, mỗi chiếc có mộtsợi chuỗi buộc ở phía gót, đầu chuỗi còn dài lê thê.” Đó là chiếc chuỗi để chằnggiày vào chân “chằng đi chằn lại hai ba vòng dây, giống như người ta trói lợnvậy”17 Sau khi đi đứng dõng dạc như một bà nạ dòng tiếc cái xuân xanh sắp hết thìđôi giày đã không chịu nổi kích cỡ mà bắn xa độ hai ba thước Một con người đãsống quá nửa cuộc đời mà bây giờ phải khốn khổ với một đôi giày Mọi cơ sự cũngbắt nguồn từ thủ tục phong kiến với lễ hội và những chế định phải tuân theo vàđiều đó đã làm người nông dân phải chịu đựng những tình huống khốn khổ “dởkhóc dở cười” Vì phải gánh chịu cái danh nặng trĩu của làng mà người nông dânphải nai lưng để thực hiện mọi chế định mà lối nghĩ của những người úp mặtxuống bùn thì biết đâu mà phản kháng Không chỉ thế, chính vì cái lợi lộc của quanchức trong làng mà nhiều người muốn bon chen để vào hàng ngũ cướp bóc ấy và

tất nhiên kẻ mua thì có kẻ bán Vì một chỗ “Góc chiếu sân đình” mà gia đình ông

L phải cạn kiệt gia sản, vợ thì đi làm vú cho ông già Chả là nhà ông ấy cũng cómáu mặt trong làng bởi gia đình cũng có của ăn của để “nhà có gần mẫu ruộng”,

“lại luôn luôn được mùa, vận ông lại càng tấn tới, trong chuồng lúc nào cũng có

17 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 48].

Trang 24

lợn lớn, thóc lúa đủ ăn từ vụ nọ đến vụ kia”18 Phú quý thì sinh lễ nghĩa, người cótiền ắt hẳn đều mong có quyền mà nhà ông L chính là thiếu cái đó, thiếu cai đình.Phàm vì cái làng mỗi lần có dịp gì lại chia chiếu trên chiếu dưới “trên nhất là chiếuphẩm hàm rồi đến các chếu chức dịch, trai đinh phải ngồi lớp cuối cùng” Ông L đãtuổi ngoài năm chục lại có của mà lại phải ngồi với bọn trai đinh thì quả là bất mãnlắm Con người ta có bao giờ dừng lại được những ham muốn, nhất là các ông các

cụ lúc nào chả trọng chữ danh hơn nữa việc có tý địa vị mang lại nhiều lợi Đúng là

“thiên thời, địa lợi, nhân hòa” đúng chỗ mái đình bị dột làng không đủ tiền sửachữa, chức lý trưởng, phó lý đang bị khuyết, ông L lại đang mong mỏi được cáichức sắc trong gia phả bởi vậy hợp tình hợp lý ông mua chức “lý cựu” hết mộttrăm bạc Đúng là mấy tay hương sắc đã moi tiền có nghệ thuật các ông ấy nói rằngnếu đúng thì cái chức ấy phải tốn gần một nghìn lại ông phó “cũng phải đầu chày,đít thớt bao nhiêu năm trời chưa chắc đã toàn mệnh” thì kẻ mua hợp tai lắm, đượcngồi ăn chiếu trên lại có của biếu xén đang gặp cơ hội có một không hai dại gì màkhông làm Nhưng mua xong đâu phải là yên ổn, còn phải làm bữa khao làng, trìnhthần cũng như thông báo ông L là ông cựu của làng để cả họ nở mày nở mặt Bữa

cỗ năm chục mâm, con lợn bảy yến giết ba con tốn đến hai trăm bạc Bằng ấy tiền

mà mua được chức, tiền đâu sẵn có phải đi vay hơn nữa nhà nông có của cũng đâusẵn tiền như vậy Một góc chiếu sân đình tiêu hủy bao năm dành dụm của ông, lạigánh thêm món nợ không biết bao giừo mới trả được liệu có đáng không? Việctrọng danh nhà quê, các ông ấy đâu có biết chữ nghĩa chỉ nhăm nhe vào góc chiếu

và của đút của dân, lợi trước mắt mà không nhìn thấy gánh nặng trên vai Nhân vậttôi lại lần nữa soi ống kính qua lát cắt của làng quê Việt Nam bên ngoài thì yênbình nhưng đằng sau là bao mọt rũa đang ăn mòn cuộc sống của con người nơiđây: nạn mua quan, thuốc phiện, rồi những hủ tục ăn cướp ban ngày,… lại còn nựccười thay người sống trên đất còn khổ cực đàng này người sống còn lo chuyện ma

18 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 51].

Trang 25

chay cho mình Thương cảm thay thân phận con ngừoi rẻ rúm cô đơn sống tronglàng quê mà như ở ngoài nghĩa địa như số phận lão Hạc, chị Dậu, anh Pha,…

không có gì cơ cực và nhục nhã hơn sống mà phải lo “Nén hương sau khi chết” Ấy

là bà Tư Tỵ số bà chìm ngập trong sự bất hạnh hết đau khổ cuộc đời trên trần thếlại bần hàn trong việc hậu sự sau này Ông trời không cho bà mụn con nào: “bàkhông có con trai, lúc trước có một đứa con gái nhưng sau nó chết mất” ăn uốngthì tằn tiện mà bà buôn thúng bán mẹt cũng phải nghèo khó gì “ Suốt đời ăn cơmvới muối, bữa nào hoang lắm mới dám mua một mớ rau Tháng năm tháng mườicũng như tháng ba tháng tám, nếu không độn khoai thì độn ngô chẳng bao giờ nấucơm toàn gạo.”19 Lại có đứa cháu mất nết “ăn thừa của bà, khoét bà như mọt” lại

cờ bạc làm bà mất hơn mẫu ruộng, lại còn thông với các ông hào lý kiếm cớ xoay

bà Cuộc đời bà còn phận nào tủi hơn cái số bà có một đứa cháu như thế Biếtchẳng nhờ được ai, bà tự “đặt hậu” cho mình do thằng cháu xui Nó còn tán tậnlương tâm lạ lừa bà mất thêm mảnh ruộng Bà lậy khậy đi cầu xin ông chủ nhà củanhân vật tôi để đỡ tiền làm ma sau này Bà một thân một mình sợ lúc chết không aikhiêng ra đồng Nhờ vào tình cảnh đáng thương của bà, các ông lý hào lại có dịphạch sách “Ông Điển lễ nhất định đòi đủ năm chục”20, quanh năm bà ăn uống tiếtkiệm “vắt cổ chày ra nước”, lạ có thằng cháu “có hiếu” lấy hết tài sản của bà thì bàlấy đâu ra nhiều tiền thế Bà chỉ còn mảnh ruộng cắm rùi mà chưa bán được, thì raông Điển ấy đang nhăm nhe vào miếng thịt béo ngậy ấy chỉ mong kìm kẹp để bàđiểm chỉ vào sổ chuyển giao mảnh đất cho ông Thế là cả cuộc đời cơ cực làm lụngvât vả của bà chỉ dồn hết vào cái “đặt hậu” Người sống làm vất vả để lo cho cái

chết, còn có khi người chết “sống dậy” để kìm lại người sống như trong “Tắt đèn”

Không chỉ có người trần mắt thịt ức hiếp dân lành mà còn cả các vị thần cũngkhông để cho người dân được yên Chính vì nông nghiệp là thủy khởi và là ngành

19 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 59].

20 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 61].

Trang 26

thiết yếu nhân dân ta trong sản xuất vì vậy ông Thần Nông- người lập ra và dạynghề cho người nông dân rất được người quê tôn vinh và kính trọng “Muốn đềncái ơn dạy dân cấy gặt và muốn cầu cho suốt năm mưa thuận, gió hòa, hàng nămđến mùa lúa chín, người ta phải tế ông ấy bằng ba mâm xôi bằng gạo nếp mới, ýnghĩa của lễ xôi mới là vậy.”21 Đó là tục lệ tín ngưỡng vô vùng đẹp đẽ của ngườiViệt, thế nhưng một tục lệ truyền thống đầy ý nghĩa vào tay những làng hủ tục lạitrở thành gánh nặng của những người tôn sùng nó Chả là năm ấy mẫu ruộngthiêng dành cho việc thu hoạch thóc làm xôi cúng được giao cho gia đình ôngQuyết Việc thờ tự các thần là việc vô cùng thiêng liêng vì thế việc cấy gặt trênmảnh ruộng ấy phải thật kì công tỉ mỉ Vì thần là của chung nên việc làm xôi cúngcũng được bà con ủng hộ và để ý hết mực “Bắt đầu từ hôm lúa chín, bên nội, bênngoại đã có hơn hai chục người gồng quang xách liềm ra ruộng, cắt lúa cho ông.

Ấy là chưa kể những người ở nhà làm đồ uống rượu …”22 Thế là việc ủng hộ giúp

đỡ không chỉ còn đơn giản như thế mà thành nỗi lo của gia đình ông Ăn uống baonhiêu cái miệng thì cũng phải bỏ tiền mua gà, mua rau… thế là chỉ mấy bữa đã mấtbao nhiêu tiền Thần linh kia cũng đâu phù hộ cho ông khi lúa nếp lại bị chuột phá

dù đã ngày đêm trông nom mà “mười phần mất đến chín phần”, “tám nồi thóc lấymột nồi gạo cũng không còn thừa mấy mỗi” Thế là chỉ một nồi xôi mà khiến nhàngười ta long đong lận đận, ông Quyết phải bán cả một cái chum nước lấy tiền muarượu Người nông dân một cổ ba tròng: tròng thần, tròng bọn cường hào, tròng củangười chết,…thì làm sao con người thở nổi Hết người lớn phải hứng chịu nhữngtục lệ rồi đến cả những đứa trẻ cũng không thể thoát khỏi vòng vây của hủ tục: khimột đứa trẻ năm tuổi phải đi “mua cỗ” “mua cỗ chẳng qua nói theo tiếng của các

cụ ngày xưa Kỳ thực nào có cỗ bàn gì đâu! Số là hàng năm cứ đến thượng tuầntháng giêng làng cháu vào đám, trai đinh phải cắt lượt nhau làm cỗ bưng ra đình,

21 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 63].

22 Phóng sự Việc làng- Cao Đắc Điểm [tr 64].

Ngày đăng: 15/01/2019, 20:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w