Trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, từ năm 19391945 Đảng ta đã xúc tiến chuẩn bị mọi mặt để tiến tới một cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước. Đặc biệt, khi Nhật đảo chính Pháp (931945), công cuộc chuẩn bị càng được tiến hành khẩn trương. Chính vì vậy, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng đã dũng cảm phát động nhân dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945.
Trang 1TA TRONG THỜI KÌ 1939-1945
Trang 2
CHUYÊN ĐỀ QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ TIẾN LÊN KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA TRONG THỜI KÌ
1939-1945
Đối tượng học sinh bồi dưỡng: Lớp 12
Dự kiến số tiết: 6 tiết
Người viết chuyên đề:
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường
A Néi dung kiÕn thøc
Trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước,
từ năm 1939-1945 Đảng ta đã xúc tiến chuẩn bị mọi mặt để tiến tới một cuộckhởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước Đặc biệt, khi Nhật đảochính Pháp (9-3-1945), công cuộc chuẩn bị càng được tiến hành khẩntrương Chính vì vậy, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng đã dũng cảmphát động nhân dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, làmnên thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945
I.KHÁI QUÁT:
là thời kỳ chuẩn bị trực tiếp và toàn diện cho Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ và thắng lợi Sự chuẩn bị trực tiếp và toàn diện này được thể hiện:
1 là chủ chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng: bắt đầu đề ra
từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 11/1939 và được hoàn chỉnh trong
hội nghị BCH TW lần thứ VIII (5/1941)
Trang 32 là sự chuẩn bị về lực lượng cách mạng: Xây dựng lực lượng chính
trị (sự ra đời và phát triển của mặt trận Việt Minh) Xây dựng lực lượng vũtrang (ra đời và phát triển của các trung đội cứu quốc quân công với sự rađời và phát triển của Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân)
3 là, chuẩn bị về căn cứ địa cách mạng mà tiêu biểu là sự ra đời của
khu giải phóng Việt Bắc
4 là, chuẩn bị cho quần chúng tập dượt đấu tranh trong thời kỳ tiền
khởi nghĩa thông qua cao trào kháng Nhật cứu nước Với hai phong trào:phong trào phá kho thóc giải phóng nạn đói và khởi nghĩa từng phần ởnhững địa phương có điều kiện
5 là, chuẩn bị về bộ máy lãnh đạo tổng khởi nghĩa được thể hiện
thông qua Hội nghị Toàn quốc của Đảng (14 – 15/8/1945) và đặc biệt làthông qua sự kiện Quốc dân Đại hội tại Tân Trào – Tuyên Quang (16 – 17).Đây là sự chuẩn bị cuối cùng cho Tổng khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi
II CÔNG CUỘC CHUẨN BỊ CHO KỞI NGHĨA VŨ TRANG.
1 Đảng ta đã hoàn chỉnh chuyển hướng đấu tranh - giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc
- Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dươngtháng 11-1939 đã đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng của Đảng - đặtnhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tiếp đó Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương tháng 11-1940 tiếp tục triển khai bước chuyển hướng đó Hộinghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương tháng 5-1941 với sự chủ trìcủa Nguyễn Ái Quốc, đã hoàn chỉnh quá trình chuyển hướng đấu tranh đó.Trên cơ sở phân tích tình hình trong và ngoài nước, các mâu thuẫn Hội nghịTrung ương VIII đã xác định:
- Mục tiêu trước mắt:
Trang 4+ Xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật, thựcdân Pháp và các thế lực phản cách mạng, tay sai của chúng Nhiệm vụ chủyếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc "Trong lúc này nếukhông giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự
do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịumãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũngkhông đòi lại được" Hội nghị chỉ rõ sau khi đánh đuối đế quốc Pháp, Nhật
sẽ thành lập chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa.Cách mạng Việt Nam chỉ làm một cuộc cách mạng giải phóng chứ khôngphải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền bao gồm dân tộc và điền địa nữa + Tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chiaruộng đất cho dân cày” thay bằng các khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn
đế quốc, Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô, giảm tức, chia lại ruộngcông, tiến tới thực hiện người cày có ruộng
- Về xây dựng lực lượng:
+ Thành lập mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là ViệtMinh) bao gồm các tổ chức quần chúng lấy tên là hội cứu quốc Mặt trậnViệt Minh đặt vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước Việt Nam- Lào –Campuchia để phát huy cao độ tinh thần cách mạng của mỗi dân tộc “Liênhiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, giàtrẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo xu hướng chính trị, đặng cùng nhaumưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”
- Về phương pháp: Xác định hình thái của cuộc khởi nghĩa vũ trang ởnước ta là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng nghĩa và nhấn mạnh:chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân tronggiai đoạn hiện tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 Ban Chấp hành Trungương Đảng Cộng sản Đông Dương có một tầm quan trọng đặc biệt đối với
Trang 5Cách mạng tháng Tám năm 1945 Những quyết định của Hội nghị đã hoànchỉnh chủ trương đấu tranh được đề ra từ Hội nghị Trung ương tháng 11-
1939 nhằm thực hiện nhiệm vụ số một của cách mạng là độc lập dân tộc; Cótác dụng quyết định trong việc vận động toàn Đảng, toàn dân ta tích cựcchuẩn bị tiến tới cách mạng tháng Tám; Góp phần quyết định vào thànhcông của cách mạng tháng Tám năm 1945
2 Xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng
- Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (5-1941) đã quyết định thành lậpMặt trận Việt Nam độc lập đồng minh với những đoàn thể quần chúng trongmặt trận là những “Hội cứu quốc” Đến năm 1942 khắp 9 châu của CaoBằng đã có Hội cứu quốc, trong đó có 3 châu hoàn toàn Các uỷ ban ViệtMinh tỉnh Cao Bằng, uỷ ban Việt Minh lâm thời liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng ,Tổng bộ Việt Minh được thành lập 1943 ủy ban Việt Minh liên tỉnh Cao –Bắc – Lạng lập ra 19 ban xung phong Nam tiến nhằm:
+ Liên lạc với căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai
+ Phát triển lực lượng cách mạng xuống các tỉnh miền xuôi
- Đảng cũng rất chú ý đến việc đoàn kết các tầng lớp tiểu tư sản, tưsản dân tộc trong mặt trận
+ 1943, ra bản đề cương văn hoá Việt Nam
+ 1944, thành lập Hội văn hoá cứu quốc Việt Nam
Trang 6+ 1944, thành lập Đảng dân chủ Việt Nam
- Chú ý vận động binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp, tranh thủ
cả những ngoại kiều ở Đông Dương có tinh thần chống Pháp - Nhật đứng vềphía cách mạng
- Ra sức phát triển báo chí của Đảng và Mặt trận: như tờ Giải phóng,
Cờ giải phóng, Cứu quốc, Việt Nam độc lập, chặt xiềng…góp phần quantrọng vào việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, đấu tranh chốngmọi thủ đoạn chính trị văn hoá của địch, thu hút đông đảo quần chúng vàohàng ngũ cách mạng
Tóm lại với phương châm xây dựng lực lượng từ miền núi xuốngmiền xuôi, từ thành phần cơ bản phát triển lên các tầng lớp khác mặt trậnViệt Minh đã phát triển lực lượng chính trị hùng hậu để trên cơ sở đó xâydựng và phát triển lực lượng vũ trang
Chính sách xây dựng lực lượng chính trị thể hiện chính sách đại đoànkết của Đảng ta, phù hợp với truyền thống dân tộc
Vai trò của lực lượng chính trị:
+ Nó làm cho kẻ thù bị cô lập, suy yếu nghiêm trọng
+ Lực lượng chính trị hùng hậu là cơ sở để xây dựng và phát triển lựclượng vũ trang
Thực chất của công cuộc chuẩn bị lực lượng chính trị thời kỳ nàychính là sự ra đời, phát triển và vai trò của mặt trận Việt Minh
* Sự ra đời của mặt trận Việt Minh
- Thực hiện chủ trương của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lầnthứ VIII, ngày 19/5/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đứng ra thành lập thíđiểm Mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng với tên gọi là các Hội Cứu quốc Đếncuối tháng 10/1941, Mặt trận đã công bố chương trình hoạt động với haimục đích hàng đầu là: Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, làm cho
Trang 7dân Việt Nam được sung sướng tự do Với mục đích đúng đắn này và dưới
sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trậnkhông ngừng lớn mạnh
* Sự phát triển
- Tại Cao Bằng: Cao Bằng là nơi được Nguyễn Ái Quốc chọn thí điểmxây dựng mặt trận Việt Minh dưới tên gọi các Hội Cứu quốc Đến 1942, tất
cả các châu của Cao Bằng đều có các Hội Cứu quốc Đặc biệt, có ba châu
“hoàn toàn” (tất cả người dân đều tham gia Việt Minh) Trên cơ sở đó, Ủyban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Ủy ban Việt Minh liên tỉnh Cao - Bắc -Lạng được thành lập
- Ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, các cơ sở của mặt trận Việt Minhcũng lần lượt được thành lập, các Hội phản đế của thời kì trước đây đượcthay thế bằng các Hội cứu quốc
- Lực lượng tham gia mặt trận Việt Minh: Không dừng lại ở hai giaicấp chủ yếu là công nhân và nông dân, Đảng chủ trương lôi kéo các lựclượng còn lại tham gia mặt trận nhằm cô lập cao độ kẻ thù.Trong đó phải kểđến trí thức tiểu tư sản và tư sản dân tộc.Cụ thể, năm 1943, Đảng, mặt trậnban hành “ Đề cương văn hóa Việt Nam” thu hút đông đảo trí thức tiểu tưsản tham gia Hội văn hóa cứu quốc; đến 1944 đảng dân chủ mà đông đảo là
tư sản dân tộc đứng trong hàng ngũ Việt Minh Ngoài ra, mặt trận còn thuhút được sự tham gia đông đảo của binh lính người Việt trong hàng ngũPháp
- Công cụ và phương tiện tuyên truyền: Đảng, Mặt trận Việt Minhsáng lập hàng loạt các báo chí cách mạng mà tiêu biểu là các tờ: Giải phóng,
Cờ giải phóng, Chặt xiềng Những báo chí cách mạng này trở thành công
cụ tuyên truyền hữu hiệu của Mặt trận
Trang 8- Đầu 1943 : Cuộc chiến tranh thế giới lần 2 ngày càng quyết liệt Ởmặt trận châu âu, hồng quân liên xô giành thắng lợi và chuyển sang thế phảncông.Trước tình hình đó cuối tháng 2 năm 1943 ban thường vụ trưng ươngđảng họp tại Đông Anh Hà nội Sau khi phân tích tình hình HN vạch ra kếhoạch cụ thể để chuẩn bị một cách toàn diện cho cuộc khởi nghĩa vũ tranggiành chính quyền.Vì vậy sau HN này mặt trận Việt Minh tiếp tục phát triểnlực lượng Cụ thể của việc phát triển này:Trong 1943 ủy ban Việt Minh liêntỉnh Cao-Bắc-Lạng thực hiện các ban xung phong nam tiến để phát triển lựclượng tại các tỉnh miền xuôi.
- 20 giờ ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi ĐôngDương.Thực dân pháp nhanh chóng đầu hàng.Trước tình hình trên, Thường
vụ Trung ương Đảng họp ra chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động củachúng ta” Chỉ thị đã chính thức phát động cao trào kháng Nhật cứu nướcrộng lớn trên cả nước với 2 phong trào: phong trào khởi nghĩa từng phần vàphong trào phá kho thóc giải quyết nạn đói Mặt trận Việt Minh đã tập hợplực lượng tham gia đông đảo và làm nên thành công của cao trào kháng Nhậtcứu nước Cũng qua cao trào kháng Nhật cứu nước, lực lượng chính trị thamgia Việt Minh ngày càng đông đảo, vì vậy, Mặt trận không ngừng mở rộng,phát triển
* Vai trò:
- Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phong kiến với 90% dân số
mù chữ, mặt trận Việt Minh đã có vai trò to lớn trong việc tập hợp đông đảolực lượng chính trị, đảm bảo cho Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ vàthắng lợi Đây là vai trò to lớn nhất của Việt Minh - vai trò tập hợp lực lượngchính trị
- Mặt trận Việt Minh còn là nơi che chở bao bọc cho lực lượng vũ trangphát triển
Trang 9- Tại khu giải phóng Việt Bắc, Việt Minh còn thực hiện chức năng chínhquyền.
- Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, Mặt trận Việt Minh đã tập hợpđông đảo lực lượng chính trị một mặt lôi kéo phần tử trung gian đứng vềphía cách mạng để cô lập cao độ kẻ thù, mặt khác tạo áp lực buộc kẻ thù đầuhàng Có thể khẳng định cách mạng tháng 8 năm 1945 thắng lợi nhanhchóng và ít đổ máu, ngoài nguyên nhân khách quan là diễn ra đúng thời cơchin muồi còn có nguyên nhân chủ quan là do vai trò to lớn của Mặt trận
VM dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng
b Sự chuẩn bị về lực lượng vũ trang:
- Quán triệt tư tưởng cách mạng bạo lực đã được xác định trong Luậncương chính trị năm 1930 và qua các Hội nghị Trung ương 6-7-8 Đảng nhấnmạnh xây dựng lực lượng vũ trang để tiến tới khởi nghĩa vũ trang giànhchính quyền
- Ngay khi khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại, Đảng có chủ trương duy trìđội du kích Bắc Sơn - Võ Nhai, sau phát triển thành cứu quốc quân
- Từ tháng 7/1941- 2/1941 Cứu quốc quân phát động chiến tranh dukích để chống lại sự vây quét của địch sau đó phân tán thành nhiều bộ phận
để chấn chỉnh lực lượng và tiến hành công tác vũ trang tuyên truyền, gâydựng cơ sở chính trị trong quần chúng
- Ở Cao Bằng, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hồ Chí Minh phong tràoViệt Minh phát triển mạnh, trên cơ sở đó hàng nghìn tự vệ và tự vệ chiến đấu
Trang 10- 11/1944 nổ ra cuộc khởi nghĩa ở Vũ Nhai, lực lượng cách mạng bịtổn thất, dưới sự lãnh đạo của Đảng cuộc khởi chuyển thành chiến tranh dukích để bảo toàn lực lượng.
- Ở Cao - Bắc - Lạng, Nguyễn ÁiQuốc đã kịp thời hoãn cuộc khởinghĩa vũ trang do nổ ra chưa đúng thời cơ
- 22/12/1944 Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thànhlập, ngay sau khi ra đời đã làm nên 2 chiến thắng Phay Khắt và Nà Ngần
- Đồng thời ở Thái Nguyên Cứu quốc quân đã phát động chiến tranh
du kích hạ đồn chợ Chu, tiến đánh Chiêm Hóa chính quyền nhân dân đượcthành lập suốt một vùng rộng lớn, phía Nam xuống đến tận Thái NguyênVĩnh Yên
- Khi Nhật đảo chính Pháp (3-1945), Đảng phát động cao trào khángNhật cứu nước Từ trong cao trào lực lượng vũ trang tiếp tục phát triển: Dukích Ba tơ, các chiến khu Đông Triều, Hoà – Ninh - Thanh, Vần - HiềnLương…
- 5/1945 Hai đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và cứu quốcquân gặp nhau tiến tới hợp nhất thành Việt Nam giải phóng quân
Vai trò của lực lượng vũ trang:
- Tuy số lượng còn ít và vũ khí thô sơ nhưng có vai trò quan trọng:+ Nó có tác dụng gây thanh thế cho cách mạng, góp phần phát triểnlực lượng chính trị ngày càng đông đảo
+ Nó giữ vai trò xung kích mở đường cho lực lượng chính trị tiến lên
+ Sự ra đời:
- 11/1940 hội nghị trung ương đảng họp quyết định duy trì đội du kíchbắc sơn vì vậy du kích Bắc Sơn là lực lượng vũ trang đầu tiên của đảngtrong thời kỳ này
Trang 11- Hội nghị Trung ương 8 tháng 5/1941 chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang lànhiệm vụ trung tâm của toàn đảng, toàn dân.Vì vậy kể từ đây lực lượng vũtrang được Đảng ta hết sức chú trọng duy trì và phát triển.
+ Sự phát triển
- Sự ra đời của các đội cứu quốc quân
- Tại căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, lực lượng du kích tiếp tục pháttriển.14.2.1941 các lực lượng du kích đã hợp nhất trung đội cứu quốc quân
số 1
- Trước sự truy quét của kẻ thù cứu quốc quân đẩy mạnh chiến tranh dukích nhằm bảo toàn và phát triển lực lượng.Vì vậy đến giữa 9.1942 trung độicứu quốc quân thứ 2 được thành lập
- Đầu năm 1943 (Nêu như ở mặt trận Việt Minh) Thực hiện chủ trươngcủa hội nghị lực lượng vu trang tiếp tục phát triển.Đầu 1944 trung đội cứuquốc quân thứ 3 được thành lập
- Sự ra đời và phát triển của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
- Về hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thực hiện chỉ thị của lảnh
tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Ngày 22/ 12/ 1944 đội Việt Nam tuyêntruyền giải phóng quân được thành lập
+ Hoạt động : Ngay khi mới thành lập đội đã dành thắng lợi vẻ vang ở 2trận Phay Khắt và Nà Ngần
→ Đến đây chúng ta thấy lực lượng vũ trang từ chỗ là đội quân du kích
đã phát triển thành 3 trung đội cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giảiphóng quân
+) Vai trò:
- Lực lượng vũ trang phối hợp với lực lượng chính trị làm nên cuộc cáchmạng tháng 8 vĩ đại Trong đó lực lượng vu trang có vai trò và luôn đi đầutrong việc trừ khử những phần tử phản động cứng đầu
Trang 12- Sinh ra và lớn lên trong một nước thuộc địa nửa phong kiến nên lựclượng vũ trang không đơn thuần là thực hiện chức năng vũ trang mà còn cóvai trò lớn trong việc tuyên truyền và vận động quần chúng tham gia cáchmạng, góp phần xây dựng lực lượng chính trị.
- Ngoài ra lực lượng vũ trang có vai trò quan trọng trong việc thực hiệnchức năng bảo vệ cơ quan đầu não cách mạng, bảo vệ căn cứ địa cách mạng,bảo vệ chính quyền cách mạng
c Chuẩn bị về căn cứ địa cách mạng
- Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, đảng chủ trương thành lập căn cứ địa BắcSơn- Vũ Nhai
- Sau khi về nước Hồ Chí Minh phụ trách việc xây dựng căn cứ địaCao Bằng
- Hai căn cứ được mở rộng ra và đến năm 1943 thì liên lạc được vớinhau
Tháng 6 1945 khu giải phóng Việt Bắc ra đời bao gồm 6 tỉnh: Cao Bắc - Lạng – Hà – Tuyên - Thái Uỷ ban lâm thời khu giải phóng do Hồ ChíMinh đứng đầu, trong khu giải phóng Việt Bắc thi hành 10 chính sách củaViệt Minh Khu giải phóng Việt Bắc trở thành hình ảnh thu nhỏ của nướcViệt Nam mới…
-3 Tập dượt quần chúng đấu tranh
- Trong những năm 1940-1941 nổ ra những cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn,Nam Kỳ…
- Phong trào phá kho thóc giải quyết nạn đói trong cao trào khángNhật cứu nước
- Những cuộc khởi nghĩa trong thời kỳ tiền khởi nghĩa: khởi nghĩa củanhân dân Tiên Du (Bắc Ninh), Hiệp Hoà (Bắc Giang), Khởi nghĩa Bần YênNhân, Khởi nghĩa Ba Tơ
Trang 13Những cuộc khởi nghĩa và đấu tranh đó có tác dụng tập dượt quân chúngđấu tranh giành chính quyền để khi thời cơ đến tiến lên tổng khởi nghĩa
giành chính quyền
- Đảng, Chủ nghĩa Mac-Lênin luôn quan niệm căn cứ địa cách mạng là nhân
tố quan trọng quyết định cách mạng thành công, vì căn cứ địa là nơi che chở
và bảo vệ an toàn cho lực lượng cách mạng, đặc biệt là cơ quan đầu não của
CM, căn cứ địa là nơi cung cấp sức người sức của cho cách mạng, là bàn đạpcủa cách mạng
- Biểu hiện:
+ Căn cứ địa chính và lớn nhất của cả nước chính là khu giải phóng ViệtBắc 24/ 6/ 1945 lớn và trở thành “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nammới”
+Ngoài ra cho tới trước khi tổng khởi nghĩa ngoài khu giải phóng ViệtBắc trên phạm vi cả nước còn có nhiều căn cứ địa cách mạng như:
Căn cứ Đông Triều (Quảng Ninh), Căn cứ Hòa-Ninh-Thanh, Căn cứ Ba
Tơ (Quảng Ngãi) và các vùng du kích chiến ở Nam Kì
- Vai trò: Các căn cứ địa thực sự là bàn đạp để tổng khởi nghĩa nhanhchóng lan rộng và thành công trong cả nước
4 Sự chuẩn bị cuối cùng trước ngày tổng khởi nghĩa
Một là sự chuẩn bị về lực lượng
Trước chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và tình hình trong nước,
từ 15 – 20/ 4/ 1945, Đảng tổ chức hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kì - Hộinghị đầu tiên bàn về lĩnh vực quân sự Sau khi phân tích tình hình, Hội nghịquyết định: Đẩy mạnh hơn nữa chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địacách mạng và đặc biệt phải hợp nhất các lực lượng vũ trang Thực hiện chủtrương này, ngày 15/5/1945 các Trung đội Cứu quốc quân và Việt Namtuyên truyền giải phóng quân hợp nhất tạo thành Việt Nam giải phóng quân
Trang 14Hai là, đẩy mạnh chuẩn bị căn cứ địa cách mạng: Bước vào đầu năm
1945, nhiều căn cứ địa cáh mạng ra đời và đẩy mạnh hoạt động
Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ HCM, ngày 04/6/1945, Khu Giải phóngViệt Bắc ra đời với phạm vi gồm phần lớn lãnh thổ của 6 tỉnh Việt Băc (CaoBằng, Bắc Kạn, lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang) và cáckhu vực vùng ven Vừa mới ra đời, Khu đã thi hành 10 chính sách lớn của
MT Việt Minh và trở thành “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam” mới.Đến đây, chúng ta thấy, công cuộc chuẩn bị gấp rút hòan thành Toàn dântộc sẵn sang chờ thời cơ vùng dậy tổng khởi nghĩa
5 Khi thời cơ cách mạng chín muồi Đảng Cộng sản Đông Dương đã dũng cảm phát động nhân dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
a Nhật đầu hàng Đồng minh, lệnh Tổng khởi nghĩa được ban bố
Năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai đi tới những ngày cuối
Ở châu Âu: phát xít Đức bị tiêu diệt Tháng 5-1945, chính phủ mới ởĐức đã kí văn kiện đầu hàng Đồng minh không điều kiên
Ở châu Á-Thái Bình Dương, đầu tháng 8-145, quân Đồng minh tiếncông mạnh mẽ vào các vị trí của quân đội Nhật Bản ở châu Á- Thái BìnhDương Ngày 6 và 9-8-1945 Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thànhphố của Nhật Bản Ngày 9-8-1945 quân đội Liên xô mở màn chiến dịch tổngcông kích đội quân Quan Đông của Nhật Bản ở Đông Bắc Trung Quốc.Ngày 15-8-1945 Nhật Bản chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng minh khôngđiều kiện Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, chính phủ thân Nhật Trần Trọngkim hoang mang Trong khi đó quân Đồng minh chưa kịp vào nước ta Điềukiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến
Lúc này lực lượng trung gian đã chán ngán chính sách phản động củabọn Nhật và tay sai ngả hẳn về phía cách mạng
Trang 15Điều kiện khách quan và chủ quan trên đây đã đưa thời cơ tổng khởinghĩa đi đến chín muồi
b Chủ trương của Đảng.
Từ ngày 13-8-1945, khi nhận được những thông tin về việc Nhật Bảnsắp đầu hàng, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Uỷ bankhởi nghĩa toàn quốc… ra bản quân lệnh số 1, chính thức phát lệnh Tổngkhởi nghĩa trong cả nước Từ ngày 14 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị toànquốc của Đảng họp ở Tân Trào, thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tổngkhởi nghĩa và quyết định những vấn đề quan trọng về chính sách đối nội, đốingoại sau khi giành được chính quyền Từ ngày 16 đến ngày 17-8-1945, Đạihội quốc dân được triệu tập ở Tân Trào Đại hội tán thành chủ trương tổngkhởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, cử ra Uỷ bandân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm chủ tịch Chủ tịch Hồ ChíMinh, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân giànhchính quyền thắng lợi trong toàn quốc từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945 Ngày2-9-1945, thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập tuyên bốtrước quốc dân và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà
B HỆ THỐNG ĐỀ THI
Câu 1: Chủ trương giải phóng dân tộc được đề ra như thế nào tại HN BCHTW Đảng 11/1939?
Hướng dẫn: (Trình bày hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa lịch sử của HN
BCHTW Đảng 11/39 Hội nghị đánh dấu bước chuyển hướng đấu tranh củaĐảng trong thời kì 1939-1945
Câu 2: Việc hoàn chỉnh hướng chỉ đạo chiến lược CM được thể hiện như thế nào qua HN BCH TW lần thứ VIII (tháng 5/1941)?
TL: Trình bày cụ thể hoàn cảnh LS, nội dung và nhận xét, ý nghĩa của HN
BCH TW lần thứ VIII (5/1941)
Trang 16Câu 3: Các hình thức tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng Cộng Sản Đông Dương đề ra và vận động thực hiện trong những năm từ 1930 -
1945 ở nước ta.
ĐVĐ: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhận thức được vait rò và sức mạnh của quần chúng, trong mỗi thời kì lịch sử Đảng đều thành lập tổ chức mặt trận nhằm tập hợp đông đảo quần chúng tham gia.
- Nêu yêu cầu thành lập mặt trận ở Việt Nam trong giai đoạn cách mạng 1930
- 1945, và tên các mặt trận 1930 - 1931: Hội phản đế Đồng minh ĐôngDương (chưa thực hiện được) 7/1936: Mặt trận nhân dân phản đế ĐôngDương 3/ 1938: Mặt trận dân chủ Đông Dương 11/ 1939: Mặt trận dân tộcthống nhất phản đế Đông Dương 5/ 1941: Mặt trận Việt Minh
- Trình bày các hình thức mặt trận trong từng giai đoạn cách mạng, bối cảnh,yêu cầu lịch sử ở từng giai đoạn
- Mục tiêu đấu tranh: đánh đuổi đế quốc để giành độc lập dân tộc và lật đổphong kiến để giành ruộng đất cho dân cày
- Mặt trận hình thành: Tại hội nghị trung ương lần thứ 1 ( tháng 10/1930) đảng
đã quyết định thành lập hội phản đế đồng minh Đông dương vào ngày18/11/1930 với mục đích; tập hợp lực lượng quần chúng, đưa quần chúng vàotrận tuyến đấu tranh, đến khi tình thế cách mạng chín muồi sẽ làm cuộc tổngkhởi nghĩa giành chính quyền Mặt trận này lấy liên minh công nông làm nòngcốt, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông dương, nhưng mặt trậnkhông thực hiện được do thực dân Pháp đàn áp dã man
2.Giai đoạn 1936 - 1939:
Trang 17- Bối cảnh: Tình hình trong nước và thế giới có sự thay đổi:
+ Chủ nghĩa phát xít xuất hiện và nguy cơ chiến tranh đe doạ loài người
+ Trong nước, đời sống của nhân dân hết sức cực khổ
+ Thuận lợi mới: Quốc tế cộng sản ra chỉ thị cho các nước thành lập Mặt trậnnhân dân chống phát xít và nguy cơ chiến tranh Mặt trận nhân dân Pháp cóĐảng Cộng Sản làm nòng cốt đã thắng thế trong cuộc tuyển cử, thi hành chínhsách tiến bộ với thuộc địa, trong đó có Việt Nam Trải qua thời kỳ khủng bốtrắng, lực lượng cách mạng đã được hồi phục và chúng ta có thêm hơn 3.000chiến sĩ cộng sản, Đảng viên ra tù bổ xung cho lực lượng cán bộ cách mạng
- Mặt trận ra đời: Yêu cầu đặt ra lúc này là Đảng phải tập hợp lực lượng để lãnhđạo quần chúng đấu tranh chống phát xít, chống nguy cơ chiến tranh, bảo vệhoà bình và đòi những quyền tự do, dân sinh, dân chủ
+ Tháng 7/1936, Đảng họp hội nghị và đề ra chủ trương thành lập Mặt trậnnhân dân phản đế Đông Dương Đến tháng 3/ 1938 đổi thành Mặt trận dân chủĐông Dương Mặt trận được thành lập trong giai đoạn này vẫn lấy liên minhcông nông làm nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ĐôngDương Bên cạnh đó, mặt trận còn tập hợp những cá nhân, những tổ chức yêunước khác ngoài công nông, đấu tranh vì mục đích hoà bình và dân chủ
+ Tác dụng : trong suốt giai đoạn tồn tại từ 1936 - 1939, Mặt trận đã lãnh đạoquần chúng đấu tranh đòi những quyền tự do, dân sinh, dân chủ và tuyên truyềnChủ nghĩa Mác - Lê Nin, đường lối của Đảng Tập dượt cho quần chúng đấutranh bằng phương pháp mới là công khai, hợp pháp, đấu tranh chính trị
3.Giai đoạn 1939 - 1945:
- Bối cảnh: Điều kiện thế giới và Việt Nam đã thay đổi Tháng 9/1939, chiếntranh thế giới thứ II bùng nổ, chỉ trong một thời gian ngắn nước Pháp bị chiếmđóng, bọn Pháp ở Đông Dương đã phát xít hoá bộ máy chính quyền, tăng cườngbóc lột, đàn áp nhân dân Đông Dương Những điều kiện đấu tranh công khaikhông còn nữa Đảng nhanh chóng rút vào hoạt động bí mật
- Mặt trận ra đời: Tháng 11/1939 Đảng họp hội nghị Trung ương lần thứ 6 đề rachủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương nhằmchĩa mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu là bọn đế quốc, phát xít, giương cao ngọn cờgiải phóng dân tộc Ở thời kỳ này, mặt trận được tập hợp với quy mô rộng lớnhơn và phương pháp đấu tranh cũng đã thay đổi - chuyển sang đấu tranh bí mật,bất hợp pháp và khởi nghĩa vũ trang.Tháng 5/1941, khi tình hình thế giới vàtrong nước có nhiều biến chuyển, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời trực tiếp chỉ đạocách mạng Việt Nam Người đã cùng ban chấp hành Trung ương triệu tập hộinghị Trung ương lần 8 và nêu chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, Mặttrận bao gồm các tổ chức quần chúng yêu nước, các cá nhân để cùng chung mục
đích là giải phóng dân tộc “Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, làm cho