Cùng với xu thế đổi mới của Ngành giáo dục, cùng với các môn học khác, thực trạng dạy - học môn Văn được đề cập nhiều trên các phương tiện thông tin, trong đó đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu về học – thi môn văn, tỉ lệ học sinh đạt yêu cầu trong các kỳ thi ở bộ môn này ngày càng cao, kéo theo kết quả không mấy khả quan qua các kỳ thi THPT Quốc gia.
Trang 1- Tên chuyên đề: “Biên soạn hệ thống đề (câu 2-phần II) hướng dẫn cho học sinh ôn thi THPT Quốc gia”
-Môn/Nhóm Môn: Văn
- Đối tượng học sinh bồi dưỡng: lớp 12
- Dự kiến số tiết bồi dưỡng: 20 tiết
PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với xu thế đổi mới của Ngành giáo dục, cùng với các môn học khác,thực trạng dạy - học môn Văn được đề cập nhiều trên các phương tiện thông tin,trong đó đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu về học – thi môn văn, tỉ lệ học sinh đạt yêucầu trong các kỳ thi ở bộ môn này ngày càng cao, kéo theo kết quả không mấykhả quan qua các kỳ thi THPT Quốc gia
Vì vậy, vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao kết quả học tập và ôn thiTHPT Quốc gia môn Ngữ Văn cho học sinh THPT thật sự là vấn đề thiết yếu vàđược quan tâm hàng đầu của học sinh và đội ngũ giáo viên hiện nay Có thểkhẳng định, từ khi tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới ra đề vàkiểm tra, đổi mới trong các kì thi THPTQG( từ năm 2013) đến nay, nhiều giáoviên đã rất nỗ lực trong việc dạy - học để mang lại cho học sinh những phươngpháp học Văn tích cực cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ thôngtin ngày càng hiện đại, giúp các tiết học Ngữ Văn đạt hiệu quả cao hơn, songviệc học sinh học yếu môn Văn hiện vẫn đang là một tồn tại mà bất cứ ai quantâm đến nền giáo dục của nước nhà cũng có thể thấy Khách quan mà nói, điều
đó một phần là do vẫn có giáo viên chưa quan tâm đúng mức, chưa giúp đỡ kịpthời đối với học sinh trong quá trình dạy - học nên để các em có những lỗ hổngkiến thức cơ bản Một phần không nhỏ là do chính bản thân các em không thíchhọc (kể cả không chịu học) các môn xã hội nói chung, môn Ngữ Văn nói riêng;
kể cả việc có em không biết cách học như thế nào cho có hiệu quả nên dẫn đếnkết quả học tập của các em ngày càng thấp so với yêu cầu và của mặt bằng xãhội nói chung
Từ thực tế trên, vấn đề được quan tâm hiện nay là làm thế nào để có thể
nâng cao chất lượng, kết quả học tập môn Ngữ Văn nói riêng, các môn xã hộinói chung qua các kỳ thi hàng năm? Đó là vấn đề trên đã trở thành mục tiêuhàng đầu trong mọi chương trình nghị sự khi bàn về giáo dục, nhất là trongnhững năm học tới(2015-2016) các em học sinh phải thi THPTQG bắt buộc bamôn thi: Toán, Văn và Anh thì vấn đề dạy ôn thi THPTQG môn văn(với rấtnhiều đổi mới) càng được xã hội quan tâm nhiều hơn
Bất kể nguyên nhân do đâu, việc giúp đỡ các em học sinh lớp 12 học và
ôn tập thi THPTQG môn Ngữ Văn đạt hiệu quả là việc làm hết sức cần thiết, cầnđược nhà trường và đặc biệt là người giáo viên Ngữ Văn quan tâm nhiều nhấttrong tình hình hiện nay
Trang 2Từ những lí do trên, tôi xin trao đổi kinh nghiệm của bản thân về việc biên soạn hệ thống đề (câu 2-phần II) hướng dẫn cho học sinh ôn thi THPTQG.Qua đây muốn được chia sẻ với các bạn đồng nghiệp để cùng nhau làm tốt hơn nhiệm vụ dạy học của mình, hướng dẫn học sinh ôn thi đại học đạt
kết quả tốt hơn
PHẦN HAI: NỘI DUNG.
I- Khi giảng dạy và hướng dẫn học sinh ôn tập thi THPTQG, mỗi người
có một cách hướng dẫn học sinh ôn tập riêng Với cá nhân tôi, khi viết chuyên
đề này tôi dựa trên cơ sở thực tiễn sau:
1 Đúc rút kinh nghiệm từ bản thân trong quá trình giảng dạy môn ngữvăn ở trường THPT, đặc biệt là quá trình giảng dạy, hướng dẫn học sinh ôn thiTHPTQG
2 Học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp trong giảng dạy, ra đề, hướngdẫn học sinh ôn tập
3.Tham khảo một số đề đã ra trong những kỳ thi thử THPTQG
4.Căn cứ vào thực tế việc học ôn của học sinh đó là:
a Trong bộ môn Ngữ văn ở trường phổ thông trung học nhiều năm naycho thấy vẫn còn có hiện tượng học sinh học theo kiểu cũ: đọc thuộc, sao chép,nói lại ý sách vở thầy cô mà không hoặc ít có sự sáng tạo khi tiếp xúc tác phẩmvăn chương
b Hiện tượng ít tập trung suy nghĩ, ít tìm tòi ở học sinh
c Thị trường sách hiện nay: Sách in ấn nhiều, giảng giải cụ thể tác phẩm,học sinh mua về chép lại một cách máy móc mà không suy nghĩ, sáng tạo dẫnđến tình trạng học tủ, học vẹt
d Khi tiếp xúc với tác phẩm văn học, học sinh chỉ hiểu theo một chiều, ítchịu khó phát hiện, vốn từ ngữ nghèo, diễn đạt kém Vì vậy, không đạt hiệu quảcao khi cảm nhận tác phẩm văn chương
II- Từ thực tế trên tôi tự rút ra giải pháp giúp học sinh học và ôn thi đạihọc đạt hiệu quả như sau:
1 Cho học sinh nắm cấu trúc đề thi THPTQG
2 Từ cấu trúc đề trên, tôi xin giới thiệu cách ôn tập phần làm văn (câu 2)qua một số dạng đề cơ bản, mới nhất theo xu hướng đổi mới hiện nay
- Thứ nhất là dạng đề so sánh (đoạn thơ, đoạn văn xuôi, nhân vật, chi tiếttrong tác phẩm văn xuôi)
- Thứ hai, dạng đề bình luận ý kiến về văn học (ý kiến về tác phẩm thơ, ýkiến về nhân vật trong tác phẩm văn xuôi)
- Thứ ba, kiểu bài cảm nhận nhân vật qua một đoạn văn xuôi
Trang 3III- Hướng dẫn học sinh ôn thi qua các đề
Dạng đề 1: So sánh.
*Phương pháp làm đề so sánh:
1 Mở bài:
Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Lý giải sự khác biệt: dựa vào các bình diện: bối cảnh xã hội, văn hóa màtừng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì vănhọc… (vận nhiều thao tác lập luận, chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
3 Kết bài:
Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
Nêu những cảm nghĩ của bản thân
*Một số đề minh họa:
- So sánh đoạn thơ.
Đề số 1:
Cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ sau:
Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.
(Tố Hữu – Việt Bắc – Ngữ Văn 12)
Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mế thức một mùa dài.
Con với mế không phải hòn máu cắt Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi.
(Chế Lan Viên – Tiếng hát con tàu – Ngữ Văn 12)
Trang 4hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc truyền thống Việt Bắc là bài thơ xuất
sắc của ông, ra đời vào tháng 10/1954, thể hiện tình cảm cách mạng sâu nặngđối với chiến khu và những kỷ niệm kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca ViệtNam hiện đại Thơ Chế Lan Viên giàu chất triết lí, suy tưởng, hình ảnh thơ sinhđộng, sáng tạo Được gợi cảm hứng từ một sự kiện kinh tế-xã hội, xuất phát từlòng biết ơn, sự gắn bó với nhân dân và niềm vui tìm thấy ngọn nguồn nuôi
dưỡng, sáng tạo nghệ thuật, Chế Lan Viên viết bài thơ Tiếng hát con tàu.
Thân bài:
1 Cảm nhận về hai đoạn thơ
a Đoạn thơ trong bài Việt Bắc:
- Về nội dung: Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ đằm thắm, sâu nặng của ngườicán bộ kháng chiến dành cho con người Việt Bắc
+ Hai câu đầu: tuy cuộc sống gian khổ thiếu thốn nhưng người Việt Bắc
vẫn chan chứa nghĩa tình “chia ngọt sẻ bùi”
+ Hai câu sau: hình ảnh người mẹ Việt Bắc tần tảo chắt chiu, cần cù lao động
tình cảm, tình nghĩa sâu nặng giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng
Hình ảnh chọn lọc: “người mẹ nắng cháy lưng” tiêu biểu cho cái đẹp, cái
ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức của người
về xuôi
b Đoạn thơ trong bài Tiếng hát con tàu
− Về nội dung: đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ của tác giả về những kỉ niệm sâusắc với nhân dân Tây Bắc
+ Hai câu đầu: nhớ lại kỷ niệm với “mế” người mẹ Tây Bắc đã nuôi
dưỡng, đùm bọc cán bộ kháng chiến
+ Hai câu sau: lòng biết ơn, tình cảm yêu thương, ân nghĩa và sự cảmphục của tác giả đối với người mẹ Tây Bắc
− Về nghệ thuật:
Trang 5+ Câu cảm thán bộc lộ cảm xúc trực tiếp; lời thơ thấm thía, da diết.
+ Hình ảnh thật đến từng chi tiết nhỏ mà giàu sức gợi tả, nghệ thuật đối
lập (lửa hồng – tóc bạc), thành ngữ được vận dụng sáng tạo (hòn máu cắt).
+ Cách xưng hô tự nhiên “con”,“mế” chỉ mối quan hệ gia đình thân tình
ruột thịt ; sử dụng cụm từ khắc họa bối cảnh thời gian, gợi rõ sự thử thách, hi
sinh trọn vẹn, vĩnh cửu, cao cả “một mùa dài”, “trọn đời”.
2 Nét tương đồng và khác biệt:
a Tương đồng
− Hai đoạn thơ đều thể hiện hình ảnh nhân dân trong cuộc kháng chiếnchống Pháp, tập trung ở hình ảnh người mẹ Đó là những con người nghèo khónhưng giàu tình nghĩa, lặng lẽ âm thầm cống hiến, hy sinh cho cách mạng …
− Cả hai đoạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ da diết, sâu nặng, ngợi ca, biết ơnnhân dân
b Khác biệt
− Đoạn thơ trong bài “Việt Bắc” viết về nhân dân Việt Bắc bằng thể thơ
lục bát truyền thống, giọng tâm tình ngọt ngào tha thiết…
− Đoạn thơ trong bài “ Tiếng hát con tàu” viết về nhân dân Tây Bắc bằng
thể thơ thất ngôn, đậm chất suy tưởng, triết lí…
3 Lí giải sự khác biệt.
-Hoàn cảnh sáng tác khác nhau
-Phong cách nghệ thuật của hai nhà thơ khác nhau
Đề số 2.
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp riêng của hai đoạn thơ sau:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành (Tây Tiến - Quang Dũng, Ngữ Văn 12, tập 1, NXBGDVN, 2012)
Có biết bao người con gái con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước (Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ Văn 12, tập 1, NXBGDVN, 2012)
Trang 6Hướng dẫn
Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
Thân bài
1 Cảm nhận về 2 đoạn thơ:
* Đoạn thơ trong bài Tây Tiến:
Thí sinh có thể có những cách trình bày khác nhau, nhưng cần làm nổi bậtđược tinh thần yêu nước, anh dũng và sự hi sinh bi tráng của người lính TâyTiến Những nấm mồ rải rác thầm lặng, lẻ loi nơi xa xôi, hoang vắng Tinh thầndũng cảm, sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ cho đất nước Cái chết đơn sơ nhẹ nhàng,thanh thản Lời ai điếu dữ dội của thiên nhiên tiễn đưa linh hồn tử sĩ Ngòi bútvừa hiện thực vừa lãng mạn, giọng điệu vừa bi thương vừa hùng tráng, nói giảmnói tránh, thể thơ thất ngôn với ngôn ngữ trang trọng, cổ kính qua hệ thống từHán Việt
* Đoạn thơ trong bài Đất nước:
Thí sinh có thể có những cách trình bày khác nhau, nhưng cần làm nổi bậtđược sự khám phá về đất nước dưới góc nhìn lịch sử Trong đó nhà thơ bộc lộlòng trân trọng ngợi ca, biết ơn với nhân dân - những người anh hùng vô danh
đã cống hiến, hi sinh một cách tự nguyện, thầm lặng để làm nên đất nước Thểthơ tự do với những câu dài ngắn linh hoạt, ngôn ngữ bình dị Giọng điệu tâmtình nhẹ nhàng, sâu lắng
b Chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt để thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi đoạn:
- Sự tương đồng:
Hai đoạn thơ cùng ngợi ca tinh thần yêu nước của những người đã ngãxuống trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước Họ hi sinh một cách tựnguyện, thanh thản, nhẹ nhàng mà thầm lặng
- Sự khác biệt :
+ Đoạn thơ trong bài "Tây Tiến", ra đời vào thời kì đầu của cuộc khángchiến chống Pháp, khắc họa vẻ đẹp rất hào hùng, bi tráng của người lính TâyTiến, họ là những con người cụ thể - những chàng trai xuất thân từ Hà Nội, lầnđầu lên miền Tây hoang vu, xa xôi để chiến đấu với lí tưởng cao đẹp Giọngđiệu vừa bi thương vừa hùng tráng, biện pháp nói giảm nói tránh, thể thơ thấtngôn với ngôn ngữ trang trọng, cổ kính, thể hiện rõ hồn thơ Quang Dũng tinh tế,hào hoa, đậm chất lãng mạn
+ Đọan thơ trong đoạn trích "Đất nước" ra đời trong kháng chiến chống
Mĩ, khắc họa hình ảnh tập thể (nhân dân) dưới góc nhìn lịch sử, trân trọngnhững người bình dị, vô danh nhưng đã làm ra đất nước Thể thơ tự do, bộc lộ rõ
Trang 7phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm: giàu chất suy tư, cảm xúc lắng đọng, thểhiện tâm tư của người trí thức đứng về nhân dân.
Kết bài: Khẳng định lại vấn đề
- So sánh văn xuôi.
+ So sánh nhân vật trong tác phẩm văn xuôi.
Đề số 1
Đề: Cảm nhận của anh/ chị về nhân vật nhân vật Tnú (Rừng xà
nu-Nguyễn Trung Thành) và nhận vật Việt (Những đứa con trong gia đình củaNguyễn Thi)
Hướng dẫn
1.Vài nét về tác giả, tác phẩm
- Tác giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi là hai nhà văn tiêu biểu
cho nền Văn học cách mạng Việt Nam hiện đại Tác phẩm “Rừng Xà nu”,
“Những đứa con trong gia đình” đều là những tác phẩm xuất sắc phản ánh cuộc
sống chiến đấu của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ
- Truyện ngắn “Rừng Xà nu” (1965), kể về cuộc đời Tnú và cuộc nổi dậy
của dân làng Xôman
- Truyện “Những đứa con trong gia đình” (1966), được kể theo dòng hồi
tưởng của Việt về truyền thống yêu nước của một gia đình nông dân Nam Bộ
- Qua hai nhân vật: Tnú và Việt, tác giả Nguyễn Trung Thành và NguyễnThi đã ca ngợi vẻ đẹp của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chốngMỹ
2 Cảm nhận về các nhân vật
a Nhân vật Tnú
- Là một chú bé gan góc, táo bạo, trung thực, trung thành với Cách mạng
(giặc khủng bố dã man vẫn cùng Mai hăng hái vào rừng nuôi cán bộ, quyết tâmhọc tập để làm cán bộ, gan dạ dũng cảm khi làm giao liên, bị giặc bắt, bị tra tấn,
quyết không khai, chỉ tay vào bụng Cộng sản ở đây…) Khi lớn lên, Tnú trở
thành người lãnh đạo dân làng Xô man bình tĩnh vững vàng chống Mỹ Diệm
- Yêu thương vợ con, dân làng và quê hương (Chứng kiến cảnh vợ con bị
kẻ thù hành hạ, biết là thất bại, anh vẫn xông ra cứu Xa làng Tnú nhớ làng, nhớ
âm thanh và nhịp điệu sinh hoạt của làng ; khi về, anh nhớ tất cả mọi người…)
- Biết vượt lên mọi đau đớn và bi kịch cá nhân để dũng cảm chiến đấu, trả
thù cho quê hương và gia đình (Khi xông ra cứu vợ con, anh bị bắt, bị đốt mườiđầu ngón tay, Tnú quyết không kêu van, tiếng thét của anh trở thành hiệu lệnhcho dân làng giết giặc Dù mất vợ con, dù hai bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt,Tnú vẫn nén đau thương, tham gia lực lượng vũ trang để góp phần giải phóngquê hương…)
Trang 8- Có tinh thần kỷ luật cao : Ba năm đi bộ đội, dù nhớ làng nhưng được
phép cấp trên mới dám về thăm làng Khi được về thăm làng, dù rất lưu luyếnsong anh chấp hành đúng qui định, ở lại một đêm rồi ra đi…
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật Tnú:
+ Thủ pháp ứng chiếu với hình tượng cây xà nu
+ Hiện lên qua lời kể của tác giả, lời kể của nhân vật (cụ Mết) Giọng kểmang đậm tính sử thi
+ Đặt nhân vật vào những tình huống mang tính quyết liệt, đột ngột tạo độcăng sử thi
+ Ngôn ngữ mang đặc trưng của người Tây nguyên
b Nhân vật Việt
- Là một cậu con trai mới lớn, tính tình còn trẻ con, ngây thơ, hiếu động:
+ Chiến hay nhường nhịn bao nhiêu thì Việt tranh giành phần hơn với chịbấy nhiêu: đi bắt ếch, giết giặc, đi bộ đội …
+ Thích đi câu cá, bắn chim, đến khi đi bộ đội vẫn cũng đem theo ná thuntrong túi
- Vừa là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường:
+ Còn nhỏ: dám xông thẳng vào đá thằng giặc đã giết hại cha mình
+ Lớn lên: nhất quyết đòi đi tòng quân để trả thù cho ba má
+ Khi xông trận: chiến đấu rất dũng cảm, dùng pháo tiêu diệt được một xebọc thép của giặc
+ Khi bị trọng thương: một mình giữa chiến trường, mắt không nhìn thấy
gì, toàn thân rã rời, rỏ máu nhưng vẫn trong tư thế quyết chiến tiêu diệt giặc
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt:
+ Nghệ thuật trần thuật tác giả để cho nhân vật tự kể về cuộc đời của mình
và các nhân vật khác theo dòng hồi tưởng, giọng điệu trữ trình - tự sự Nhân vậtđược đặt vào tình huống bị thương nặng và lạc nơi chiến trường
+ Nhân vật vừa có tính khái quát (đậm màu sắc sử thi) vừa mang nétriêng, ấn tượng
+ Đi sâu khai thác diễn biến tâm lí nhân vật
Trang 93.Tương đồng:
- Số phận đau thương: cả hai nhân vật đều phải chịu những mất mát đauthương do chiến tranh gây ra Những mất mát ấy đã hằn sâu trong trái tim họmột mối thù chung và mối thù đó cũng chính là mối thù lớn của cả dân tộc
- Họ đều mang những phẩm chất đẹp của người anh hùng Việt Nam, củanhững đạo lí truyền thống dân tộc: giàu tình yêu quê thương, đoàn kết, tinh thầncăm thù giặc, trung thành với cách mạng, gan góc, dũng cảm, kiên cường, bấtkhuất…
- Đều được xây dựng bằng bút pháp sử thi
- Cụ tin tưởng mãnh liệt vào dân tộc mình, quê hương mình Theo cụ, “không cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”, và thứ gạo mà dân tộc Strá làm ra là thứ gạo ngon nhất rừng núi này.
- Cụ Mết chính là linh hồn của dân làng Xô Man Cụ là người lưu giữ truyền thống của cộng đồng, dìu dắt các thế hệ nối tiếp nhau sống xứng đáng với truyền thống.
-> Cụ Mết chính là nhân vật tượng trưng cho lịch sử, cho truyền thống hiên ngang, bất khuất, cho sức sống bền bỉ của dân làng Xô Man Cụ Mết có những nét gần
Trang 10gũi với các nhân vật tù trưởng hung mạnh thể hiện khát vọng, hoài bão của cả cộng đồng trong một số sử thi Tây Nguyên Viết về cụ Mết, tác giả đã phát huy cao độ sức mạnh bút pháp sử thi với cảm hứng lãng mạn lí tưởng hóa; mặc dù đây là một già làng
có thật, người đã lập nhiều thành tích xuất sắc trong kháng chiến chống Pháp (có thể sánh ngang với anh hung Núp) ở làng Xóp Dùi, tỉnh Kon Tum.
b Nhân vật chú Năm
- Chú Năm thể hiện đầy đủ bản tính tự nhiên của người nông dân Nam bộ hiền lành chất phát, giàu cảm xức mơ mộng, nội tâm Một người từng trải qua đắng cay của cuộc đời làm mướn trước cách mạng, tính ít nói Đau thương hằn sâu từ cuộc đời gian khổ và tư cách chứng nhân của tội ác của thắng Tây, thằng Mĩ và bọn tay sai phải chăng đã làm nên nét đa cảm trong gương mặt với đôi mắt lúc nào cũng mở to, mọng nước Chất Nam Bộ trong con người chú thể hiện qua việc chú hay kể sự tích cho con cháu, và kết thúc câu chuyện cũng hò lên mấy câu.
- Nét đặc biệt độc đáo ở chú Năm là có sổ ghi chép chuyện gia đình Cuốn sổ ghi đầ đủ những chuyện thỏn mỏn của nhiều thế hệ , như minh chứng cho tấm lòng thuần hậu của ông Đó còn là những trang ghi chép tội ác của kẻ thù gây ra, những chiến công của từng thành viên, như một biên niên sử Bản thân ông cũng chính là một trang sử sống, khi gửi gắm Nhắn nhủ cho hai chị em Chiếnvà Việt: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó…” Nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp của tấm lòng sắt son, ý thức trách nhiệm của thế
hệ đi trước.
- Chú Năm kết tinh vẻ đẹp của một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc, thủy chung sắc son với quê hương, cách mạng Câu nói của chú Năm: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chi cho mỗi đứa một khúc mà ghi vào đó” đã khái quát một trong những phương diện cơ bản nhất chủ
đề của truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”.
3 Nét tương đồng và khác biệt giữa hai nhân vật
- Là già làng – linh hồn của cuộc kháng chiến
- Vẻ đẹp của cụ Mết gắn liền với cán rừng xà nu, nghiêng về tính sử thi huyền thoại
* Chú Năm
- Là khúc thượng nguồn của dòng sông gia đình, kết tinh vẻ đẹp truyền thống của gia đình.
- Vẻ đẹp của chú Năm gắn liền với miệt vườn sông nước Nam Bộ
- Chú Năm được khắc họa với bút pháp nghiêng về tả thực
4 Đánh giá chung
Trang 11- Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi, qua hai nhân vật cụ Mết và chú Năm,
đã khái quát, phân tích và lí giải sức mạnh, chiến công của con người miền Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước không chỉ ở tinh thần của thời dại mà còn là nguồn gốc sâu xa của truyền thống gia đình, quê hương Chính sự hài hòa giữa tình cảm gia đình, quê hương với tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình, quê hương với truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn của con người Việt nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
+ So sánh nhân vật qua chi tiết trong tác phẩm văn xuôi.
Đề số 1.
Trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), Mị đã chủ động cắt dây trói cho A Phủ và tự giải thoát mình, còn ở tác phẩm “Vợ nhặt” (Kim Lân), trong bữa cơm ngày đói, người vợ nhặt đã nói: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa… Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói…”.
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp hai nhân vật Mị và người vợ nhặt qua haichi tiết trên
Hướng dẫn.
1 Cảm nhận vẻ đẹp của hai nhân vật qua hai chi tiết nghệ thuật
* Vẻ đẹp của Mị qua hành động cắt dây trói cho A Phủ và tự giải thoát mình
- Phân tích ý nghĩa của chi tiết:
+ Là hành động tự phát vì bản thân Mị chưa được giác ngộ cách mạngnhưng có ý nghĩa bởi trong hoàn cảnh bị đày đọa bởi cường quyền và thầnquyền, khổ cực đến vô cảm (hàng đêm vẫn dậy sưởi lửa hơ tay, dửng dưng khithấy A Phủ bị trói), ở trong Mị vẫn còn ngọn lửa của tình người- thương mình,thương người (cảm thông, xót thương cho những người bất hạnh),từ đó thức tỉnh
và cắt dây trói cho A Phủ
+ Là hành động táo bạo, dũng cảm bởi từ một con người cam chịu, nhẫnnhục, vươn lên có sự phản kháng mạnh mẽ, không chịu khuất phục hoàn cảnh,đấu tranh làm chủ cuộc sống, số phận, khẳng định sức sống mãnh liệt, niềmkhao khát tự do, hạnh phúc (vượt lên sự vùi dập, tê liệt cùng kiếp nô lệ, là hànhđộng giải thoát cho người đồng cảnh ngộ và bản thân)
Trang 12* Vẻ đẹp của người vợ nhặt qua lời nói, suy nghĩ trong buổi sáng đầu tiênlàm dâu nhà Tràng
- Khái quát: Thị đến với Tràng để tránh cái đói, sự cô đơn và từ khi theoTràng về làm vợ, thị đã thay đổi, “là người đàn bà hiền hậu, đúng mực” Trongbữa cơm ngày đói thị cùng chia sẻ với bà cụ Tứ những dự định tương lai, ý tứ khiđưa những những miếng cháo cám đắng chát vào miệng và khi nghe tiếng trốngthúc thuế thị đã kể lại những người dân không đóng thuế, phá kho thóc Nhật
- Phân tích ý nghĩa của chi tiết:
+ Là nạn nhân của hoàn cảnh sống – nạn đói thảm khốc, chịu nỗi khổcực về thể xác (ngoại hình thảm hại), tinh thần (đánh mất nữ tính), trong thị vẫntiềm tàng một sức sống và vẻ đẹp: chia sẻ, yêu thương và lo lắng cho mái ấmnhỏ để mong cuộc sống tốt đẹp hơn; chấp nhận cuộc sống khó khăn, sẵn sàngđối diện với nạn đói trước mặt (cùng ăn bữa cơm đạm bạc, cùng vun vén chonhững dự định nhỏ bé của gia đình…), phản kháng tội ác của thực dân Pháp vàphát xít Nhật
+ Vượt lên hoàn cảnh, người vợ nhặt hi vọng, tin tưởng, lạc quan vàongày mai tươi sáng sẽ được đổi đời: lời nói về sự thay đổi của xã hội, nhennhóm niềm tin trong lòng những người thân yêu
2 So sánh
- Giống nhau:
+ Cả hai chi tiết đều tái hiện vẻ đẹp của tình yêu thương, sức sống tiềm
ẩn, lòng khao khát hạnh phúc, tin tưởng, hy vọng vào tương lai tốt đẹp của haingười phụ nữ khi phải đối diện với hoàn cảnh khó khăn
+ Đều là những chi tiết nghệ thuật độc đáo nằm ở cuối đoạn trích, làm tỏasáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật chính
- Khác nhau:
+ Mị cắt dây trói cho A Phủ là hành động mạnh mẽ để thay đổi số phận
Là hành động bất ngờ nhưng logic phù hợp với tâm trạng và đặc điểm tính cáchnhân vật- hành động đổi đời
+ Người vợ nhặt hình dung sự thay đổi cuộc sống trong sự thay đổi củathời đại lịch sử Thị có niềm tin dù mơ hồ vào tương lai, những sự thay đổi nằm
ở nhận thức, lời nói chứ chưa phải là những hành động mạnh mẽ- lời nói mở rahướng đổi đời
Trang 13Cảm nhận của anh chị về hành động Mị chạy theo A Phủ trong “Vợ
chồng A Phủ” của Tô Hoài và hành động thị theo không Tràng về làm vợ trong
- Lí giải hành động Mỵ chạy theo A phủ
+ Nhà văn đã phát hiện ra rằng bên trong tâm hồn người con gái ấy vẫncòn ẩn chứa một sức sống tiềm tàng, chỉ chờ có dịp là bùng nổ mạnh mẽ Ngaysau khi bị rơi vào cảnh làm con dâu gạt nợ cô định tự tử vì ý thức được cuộcsống tủi nhục của mình và không chấp nhận cuộc sống ấy Nhưng sự uất ức đếnnỗi muốn chết ấy lại là một biểu hiện của lòng ham sống và khát vọng tự do, vìkhông muốn tiếp tục một cuộc sống đầy đoạ nên cô đã tìm đến cái chết như mộtphương tiện giải thoát
+ Tuy nhiên với tấm lòng nhân hậu đầy cảm thông, nhà văn vẫn nhận rarằng khát vọng hạnh phúc trong Mị có thể bị vùi lấp, lãng quên đâu đó nhưngkhông thể bị tiêu tan Vào một đêm tình mùa xuân trong ngày Tết, những yếu tốngoại cảnh đánh thức kí ức và gợi lại kỉ niệm yêu đương bị lùi vấp bấy lâutrong tâm hồn lầm lũi thường ngày, trở thành tiếng gọi của sự sống mỗi lúc một
rõ , một tha thiết Thế là từ ngoại cảnh đã tác động đến cảm xúc , tâm trạng vàcuối cùng là hành động
+ Trong cái trạng thái nửa say, nửa tỉnh, lại thêm sự thôi thúc của tiếngsáo réo rắt đã dẫn Mị đến một hành động chưa từng thấy kể từ khi cô bước chânvào nhà thống lý Pá tra “cô quấn lạ tóc và với tay lấy váy mới , chuẩn bị đichơi”.Nhưng khi bị trói Mị bỗng ý thức được cảnh ngộ hiện tại của mình vàtrong lòng lại trào lên một nỗi đau xót, tủi nhục Mị lại thổn thức , miên mannghĩ về thân phận không bằng con trâu , con ngựa của mình rồi dần thiếp đi
+ Khi Mị chứng kiến cảnh A Phủ bị bắt trói, ban đầu Mị thật thản nhiên
Mị dường như đã trở nên vô cảm trước tất cả Nhưng khi Mị lé mắt trông sangthấy mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm
má đã xám đen lại…”thì Mị lại chợt bừng tỉnh “trông người lại nghĩ đến ta”.Hình ảnh ấy khiến Mị bỗng nhớ đến câu chuyện rùng rợn về những người đàn
bà bị trói đứng cho đến chết trong nhà thống lí cũng trên cái cọc này và hồi ứcđưa cô về với những lần chính mình bị đánh, bị trói trước đây…Ý nghĩ A Phủrất có thể sẽ bị chết trong đêm nay đã hoàn toàn đánh thức tình thương và lòngcăm hận trong long Mị Từ thương người đến thương thân và tình thương ấy cứlớn dần, lớn dần để rồi dẫn Mị đến với ý thức ngày càng rõ rệt hơn về một sựthật thật tàn bạo và vô lí, bất công
Trang 14Ý thức đó đã thôi thúc Mị đứng dậy cắt dây trói cho A Phủ và bất giácchạy theo anh, cùng trốn khỏi Hồng Ngài
Hành động bột phát nhưng thật quyết liệt đó của Mị một phần là do sựthúc bách của tình thế khiến cô không thể làm khác, bởi cô hiểu rõ “ở đây thìchết mất” Nhưng mặt khác, đó cũng là quá trình tất yếu của một quá trình dồnnén, bức xúc cả về thể chất lẫn tinh thần đối với Mị Đồng thời đó cũng vừa làbiểu hiện, vừa là kết quả của một sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ đã được trỗi dậytrong con người Mị, kết thúc cả quãng đời đày ải, tối tăm của cô trong nhà thống
lí để bắt đầu một cuộc đời mới
- Phân tích, lí giải hành động theo Tràng về làm vợ
+ Bề ngoài Thị là người đanh đá, táo bạo tới mức trơ trẽn Nghe anh chàngphu xe hò một câu cho đỡ nhọc thị đã cong cớn bám lấy rồi vùng đứng dậy, tonton chạy lại đẩy xe cho Tràng Gặp lần thứ hai, khi Tràng vừa trả hàng xong, thịđâu xầm xầm chạy đến Thị đứng trước mặt mà sưng sỉa ,cong cớn Thấy cómiếng ăn, hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên rồi thị ngồi sà xuống, ănthật Thị cắm đầu ăn một chạp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì
Người phụ nữ ấy hành động hoàn toàn theo bản năng của mình Thị làmtất cả chỉ để được… ăn!
+ Đó là ý thức bám lấy sự sống là vì để được sống chứ không phải là loạingười lẳng lơ Cận kề bên cái chết, người đàn bà không hề buông xuôi sự sống.Trái lại, thị vẫn vượt lên trên cái thảm đạm để dựng xây mái ấm gia đình Niềmlạc quan yêu sống của thị chính là một phẩm chất rất đáng quý
3 Nêu sự tương đồng và khác biệt
a Tương đồng :
- Họ là những số phận đáng thương, những cuộc đời nghiệt ngã và đầy bấthạnh Nhưng không dừng lại ở việc khai thác những nỗi đau khổ, những bấtcông của xã hội, của cuộc sống đã đẩy cuộc đời họ vào những bế tắc cùng cực
Mà ở đấy, các nhà văn đã tô đậm vẻ đẹp phẩm chất và tâm hồn người phụ nữ
- Bằng tình yêu cuộc sống, khát vọng được sống mãnh liệt và với nhữngphẩm chất tốt đẹp vốn có của người phụ nữ, họ đã vượt qua những rào cản,những bất công xã hội, vượt qua số phận bất hạnh để tìm đến hạnh phúc
- Những nhà văn này đã góp lên tiếng nói chung- tiếng nói nhân đạo đốivới họ Không những thể hiện sự quan tâm, thông cảm , đồng cảm với những số
Trang 15phận bất hạnh này mà những nhà văn còn trân trọng, ngợi ca những phẩm chấtcao quý của người phụ nữ-luôn hướng về ánh sáng, hướng về cái đẹp
b Sự khác biệt :
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật miêu tả nội tâm rất tinh tế…trong Vợ chồng A phủ- Tô Hoài (Phân tích ngắn gọn)
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật, miêu tả nội tâm, xây dựng tình huống éo
le, cảm động trong Vợ Nhặt -Kim Lân (phân tích ngắn gọn)
- Sáng tạo về nội dung: Mỗi nhà văn đều tìm cho mình một hướng điriêng, khắc họa phẩm chất , số phận của những người phụ nữ trong từng cảnhngộ khác nhau: Kim Lân tập trung miêu tả số phận người phụ nữ trong nạn đói
1945, Tô Hoài tập trung khắc họa số phận , vẻ đẹp của người phụ nữ miền núidưới ách áp bức thống trị của chúa đất phong kiến…
“Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt” (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu)
Trình bày cảm nhận của anh/chị về chi tiết “dòng nước mắt” trong nhữngcâu văn trên
1 Cảm nhận chi tiết “dòng nước mắt” trong Vợ nhặt
* Giới thiệu diễn biến dẫn đến chi tiết
– Nêu hoàn cảnh xuất hiện dòng nước mắt của bà cụ Tứ – mẹ Tràng: tìnhhuống truyện anh Tràng nhặt vợ, diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ
Trang 16* Cảm nhận, phân tích chi tiết “dòng nước mắt”:
– Là biểu hiện của nỗi đau khổ, tủi phận: con lấy vợ vào giữa ngày đóikhiến bàlão vừa mừng lại vừa tủi, vừa lo lắng…
+ Giọt nước mắt chỉ “rỉ” ra hiếm hoi bởi cả đời đã cạn khô nước mắttrong những tháng ngày khốn khổ dằng dặc…
+ “Kẽ mắt kèm nhèm” là sự hiện hình của một bức chân dung đầy khổhạnh của người phụ nữ nông dân lớn tuổi
– Là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng: thương con thắt lòng
2 Cảm nhận chi tiết “dòng nước mắt” trong Chiếc thuyền ngoài xa
* Giới thiệu diễn biến dẫn đến chi tiết
– nêu hoàn cảnh xuất hiện dòng nước mắt của NĐBHC: câu chuyện giađình hàng chài, diễn biến tâm trạng người đàn bà hàng chài
* Cảm nhận, phân tích chi tiết “dòng nước mắt”:
– Là biểu hiện của nỗi đau đớn: gia cảnh nghèo khó bế tắc -> tình trạngbạo lực trong gia đình không có lối thoát -> câu chuyện thằng con phạm vào tội
ác trái luân thường đạo lí không thể giải quyết, nỗi lo lắng về sự phát triển nhâncách lệch lạc của con đã không tìm được giải pháp…
– Là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng: thương con thắt lòng, khichồng đánh không hề có bất kì phản ứng nào, nhưng hành động của thằng conkhiến chị như sực tỉnh, như bị một viên đạn xuyên qua tâm hồn để thức dậy nỗiđau tận cùng