1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nhập môn KHOA học GIAO TIẾP Nhập môn KHOA học GIAO TIẾP

44 520 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã hội ngày càng hiện đại , khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển đồng nghĩa với nhu cầu con người ngày càng được thỏa mãn . Tưởng chừng là chỉ có lợi nhưng ít ai nghĩ đến bên cạnh đó là vô vàn tai hại bí ẩn mà không ít người mắc phải. Đó là bệnh lười vận động. Hễ đi gần hay đi xa,chúng ta thường tót lên xe gắn máy hoặc lái xe mà đi. Trong các thương xá, trong siêu thị, bên cạnh cầu thang thường đều có cầu thang tự động để giúp chúng ta di chuyển cho nhanh và cho khỏe.Trong nhà thì các cháu ngồi miết bên computer để chat và để chơi game suốt ngày, còn người lớn thì cuối tuần thường hay mướn một hơi 34 bộ phim chưởng, phim truyện hay băng ca nhạc về xem cho qua ngày qua tháng, còn không thì cũng hú bạn bè lại bày tiệc lai rai ba sợi, say sưa và tán dóc cho qua tháng qua ngày. Nếp sống ù lì, không linh hoạt, thiếu vận động và thể dục là đầu mối của nhiều vấn đề về sức khỏe như: béo phì, các bệnh về tim mạch, cholesterol cao, áp huyết cao và bệnh tiểu đường loại II, v.v…Tình trạng lười vận động đã đặt con người vào trạng thái nguy hiểm tới sức khỏe một cách trầm trọng và đang trở thành mối đe dọa lớn của nhân loại trong tương lai. Theo nghiên cứu khoa học gần đây được đăng tải trên tạp chí tại Anh, có khoảng 13 người trưởng thành trên khắp thế giới mắc “bệnh” lười vận động, dẫn đến hậu quả 5,3 triệu người chết mỗi năm và Việt Nam là một trong 10 nước lười vận động nhất thế giới.Tại Việt Nam, theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam và Viện Dinh Dưỡng tại 8 tỉnh, thành phố, hiện nay tỷ lệ người mắc bệnh tim mạch (từ 25 tuổi trở lên) là 25,1%, tỉ lệ người mắc chứng béo phì là 16,3%. Bên cạnh chế độ dinh dưỡng, lười vận động được chứng minh là một trong những nguy cơ chính dẫn đến hai căn bệnh này và vô số các nguy cơ bệnh khác. Chính vì vậy, ngay khi có thể hành động được ta hãy tự giúp chính bản thân mình bằng cách vận động mỗi ngày để cải thiện và nâng cao sức khỏe . Hiểu được vấn đề đó , một danh y người Pháp Tisso đã phát biểu :”Vận động có thể thay thế được mọi thứ thuốc nhưng mọi thứ thuốc đều không thể thay thế được vận động” . Đây thật là một lời nhắc nhở chân thành nhất đến mỗi con người chúng ta. Vậy,thế nào là vận động và nó giúp ích được gì cho ta? Có thể nói rằng vận động là không có ngồi lì một chỗ, mà phải đi đứng, nhúc nhích thường xuyên. Nếu có dịp đi bộ thì nên đi bộ. Trong các thương xá, trong siêu thị, thay vì đi thang máy chúng ta nên chọn cầu thang thường để đi lên hoặc đi xuống. Có như vậy mới giúp ta rèn luyện được thói quen cho bản thân và cũng tạo ra niềm vui khi đối mặt với nó. Nhắc đến vận động thì không thể nào không kể đến thể dục bởi lẽ nó luôn gắn liền với sức khỏe ở mọi lứa tuổi. Hiện nay, tập thể dục có nhiều phương pháp. Tùy theo tình trạng sức khỏe và tuổi tác của mỗi người mà mình áp dụng một môn thể dục thích nghi : Tài chi, khí công, yoga, aerobic, múa, khiêu vũ dưỡng sanh, bơi lội, đạp xe máy, quần vợt, bóng bàn, vũ cầu, đánh golf, chơi banh, chạy bộ , v.v… Tất cả đều có lợi cho sức khỏe của chúng ta. Thể dục quan trọng cho việc duy trì thể trạng cơ thể và góp phần tích cực vào duy trì trọng lượng vừa vặn, xây dựng duy trì mật độ xương, sức mạnh các cơ, khớp, tính cơ động, đẩy mạnh sự khỏe mạnh sinh lý, giảm nguy hiểm phẫu thuật, và làm tăng sức mạnh hệ miễn dich. Theo tổ chức y tế thế giới WHO việc thiếu luyện tập dẫn đến khoảng 17% của các bệnh về tim và tiểu đường, 12% sự suy sụp khi về già, và 10% ung thư vú, ruột kết. Có một vài bằng chứng cho rằng những bài tập hoạt động tốt hơn so với các bài tập điều hòa. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng những bài tập hoạt bát thực hiện bởi cá nhân có thể làm tăng endorphin, một loại thuốc giảm đau tự nhiên, làm tăng testosterone và hormone phát triển. Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng anandamide có thể đóng vai trò lớn hơn là nội sinh morphine. Cả bài tập ưa khí và yếm khí đều nâng cao hiệu quả cơ học của tim bằng các nâng cao thể tích tim (bài tập ưa khí công (aerobic)), hoặc độ dày thành tim (bài tập yêm khí (anaerobic). Sự trương của tâm thất thường mang lại lợi ích nếu đó là do các bài tập mang lại. Không phải tất cả mọi người đều có lợi ích như nhau từ các bài tập. Có một sự khác nhau lớn trong sự đáp ứng mỗi người với các bài tập. Hầu hết mọi người nhìn thấy bài tập điều hòa nâng cao sức dẻo dai từ các bài tập aerobic, một số sẽ nâng cao hai lần lượng oxy lấy vào, trong khi đó số khác có thể không bao giờ tăng thêm. Sự khác nhau về gen trong việc cải thiện từ tập luyên là một trong những chìa khóa sinh học của sự khác nhau giữa những vận động viên ưu tú và hầu hết dân số còn lại. Nhìn chung,vận động hay tập thể dục tác động tích cực lên toàn bộ cơ thể. Lợi ích vận động rất lớn nó ảnh hưởng lên toàn bộ cơ thể chúng ta. Đặc biệt là hệ thống tim mạch bởi lẽ vận động đúng mức và thường xuyên 5 đến 7 ngày mỗi tuần, có thể giúp áp suất tâm thu giảm trung bình 11.3 mm Hg, và áp suất tâm trương giảm trung bình 7.5 mm Hg giúp ngăn ngừa và chữa bệnh cao áp huyết. Khi con tim người quen vận động sẽ bơm máu tới nuôi các cơ quan hữu hiệu hơn và với một sức ít hơn. Con tim bình thường, vào mỗi nhịp co bóp, đẩy ra chỉ được 70 cc (phân khối) máu, song một con tim quen vận động, to hơn, khỏe hơn, vào mỗi nhịp co bóp, đẩy ra được đến 130 cc máu, tức hơn 60 cc máu. Hơn thế nữa, máu cũng đến các bắp thịt nhiều hơn, khiến các bắp thịt lâu mỏi. Nhờ thế, tập luyện đều đặn, sức vận động của ta ngày lại càng tăng lên, dẻo dai, lâu mệt. Ngoài ra,vận động còn ảnh hưởng rất nhiều đến hệ tiêu hóa .Thường xuyên hoạt động có thể làm năng lượng tiêu hao trong cơ thể. Nó hình thành tính phản xạ làm nâng cao khả năng tiêu hoá, hấp thụ của dạ dày và đường ruột. Khi luyện tập thể thao do độ hoạt động của cơ hoành phát triển làm tăng ma sát trong dạ dày và ruột từ đó có thể tăng khả năng tiêu hoá của dạ dày. Bên cạnh đó,vận động cũng giúp giảm căng thẳng, khó chịu, nóng nảy. Người quen vận động tinh thần sảng khoái, tự tin, khả năng tri thức tinh tiến. Vận động cũng là phương thuốc rất tốt, không gây phản ứng phụ, để ngừa và chữa những trường hợp buồn sầu nhẹ Khi đến tuổi thông thường mọi người đều bị lão hóa xương khiến cho đi lại khó khăn,.Nếu bạn không muốn xảy ra trường hợp như vậy , thay vào đó là có nhiều sức khỏe khi về già , hoặc có thêm nhiều điều kiện để tận hưởng thanh xuân của tuổi trẻ, niềm vui của tuổi già . Vậy thì hãy vận động ngay bây giờ. Thế nhưng phải vận động như thế nào mới hiệu quả bởi lẽ nếu không đúng phương pháp bạn dễ bị tổn hại đến xương gây đau nhức và ảnh hưởng tới khả năng tiêu hoá và hấp thụ của dạ dày, ruột. Ví dụ như sau kh0i ăn cơm tiến hành luyện tập lúc này máu được phân phối lại từ đầu, nên sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tiết dịch của tuyến tiêu hoá, từ đó ảnh hưởng tới khả năng tiêu hoá, hấp thụ của ruột, dạ dày. Khi vận động sức nặng quá lớn hoặc trong thời gian dài sẽ xuất hiện mệt mỏi quá độ có thể ảnh hưởng tới khả năng hoạt động của gan. Có những nghiên cứu phát hiện, khi cho chuột luyện tập trong khoảng thời gian dài, màng nội chất của tế bào gan sẽ giảm, xuất hiện hiện tượng phì đại không có quy tắc. Glucoza trong gan giảm rõ rệt,làm cho ti lạp thể bị sưng tấy, từ đó làm cho tế bào gan bị sưng, bị phá huỷ và hoại tử. Điều đó cho thấy thời gian nghỉ ngơi giữa quãng không đủ sẽ dẫn tới mệt mỏi tích tụ trở thành mệt mỏi quá độ. Vì vậy,không phải chỉ có vận động mà bạn cần phải lên một kế hoạch hợp lí để nâng cao hiệu quả tập luyện của bản thân. . Kết quả lại là phản tác dụng. Nên, phải có một cách học hợp lí để nâng cao hiệu quả. Đó là cần phải có sự chuyên cần và phải tập luyện thường xuyên và đều đặn. Mỗi ngày tập 1 giờ là lý tưởng nhất, còn không thì hãy cố gắng tập 3 ngày trong 1 tuần lễ và mỗi ngày tối thiểu là 30 phút. Ngoài ra còn phải chọn hình thức luyện tập hợp lý nghĩa là hạng mục tập luyện phải phù hợp với sở thích, tuổi tác, nghề nghiệp, điều kiện sức khỏe. Ví như, với người có tuổi, do sức lực cơ bắp suy giảm, phản ứng thần kinh chậm chạp, khả năng phối hợp kém linh hoạt thì nên chọn những phương thức tập luyện nhẹ nhàng, mềm mại như đi bộ, thái cực quyền, dưỡng sinh, yoga... Với thanh niên trai tráng thì nên chọn những hình thức tập luyện vận động đòi hỏi sức lực nhiều như chạy xa, chơi bóng rổ, bóng đá... Với những nhân viên bán hàng, đầu bếp... vốn phải đứng lâu, tĩnh mạch chi dưới dễ bị dãn thì khi vận động không nên chạy nhảy nhiều mà nên chọn các bài tập ở tư thế nằm ngửa, giơ cao chân...Hơn thế nữa chúng ta cần phải luyện tập vừa sức , tập theo phong thái tự nhiên và tập vào thời gian hợp lí, Tất cả phương pháp trên có thể giúp bạn tự gìn giữ sức khỏe thật tốt về thể xác cũng như sức khỏe tinh thần. Ngoài ra, vận động còn giúp ta tránh được các căn bệnh lớn như: Bệnh tiểu đường, bệnh thoái khớp biến, bệnh cao máu trong mỡ, cải thiện đực thị lực, tập trung tư tưởng, tránh mất ngủ , giảm đau... Phải chăng rằng thuốc có thể chữa khỏi hẳn sau khi bạn đã bị mắc phải ? Từ đây ta có thể thấy vận động có thể thay thế cho mọi thứ thuốc nếu chúng ta có ý thức đến sức khỏe của mình . Trong phát biểu của danh y Tisso còn khẳng định rằng : “ Mọi thứ thuốc đều không thể thay thế cho vận động” . Điều này đúng hay sai ? Dường như một lần nữa Tisso lại nhấn mạnh cho khẳng định của mình .Chúng ta có thể thấy được sự chắc chắn trong từng câu chữ của ông. Chắc đây hẳn là sự nghiên cứu dày đặc của ông về tác dụng của vận động. Và đối với em phát biểu trên không sai . Bởi lẽ ngày nay với nhịp sống hiện đại và kèm theo đó là sự phát triển của y học , nhiều người trở nên tất bật và không để ý chăm sóc sức khỏe bản thân, đôi khi còn có lối sống buông thả và vô tâm.Đó chính là sự lười biếng vận động và lười biếng cả trong suy nghĩ .Chúng ta nên biết rằng dù y học có phát triển đến mấy mà khi dùng đến những phẫu thuật y khoa, hoặc dùng thuốc cũng sẽ để lại những hậu quả về sau. Ngày nay, với sự phát triển của ngành dược học, rất nhiều loại thuốc phòng, điều trị bệnh được ra đời. Tuy nhiên, ngoài những tác dụng, thuốc còn có thể gây ra những phản ứng bất lợi không như mong muốn và người ta vẫn ví thuốc là con dao hai lưỡi Điều đáng lo ngại là việc quản lý thuốc chưa chặt chẽ và sử dụng thuốc bừa bãi ngày càng đến mức báo động. Đã không ít người phải trả giá bằng cả sinh mạng của mình cho sự sử dụng thuốc tùy tiện. Một khi sức khỏe bị yếu đi, xương cốt không thể hoạt động mạnh nữa , liệu rằng bạn có thể tự tin thuốc sẽ chữa trị hết cho bạn không. Có thể chấp nhận rằng ban đầu bệnh sẽ khỏi nhưng lạm dụng thuốc quá nhiều sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến gan, nếu gan hoạt động lọc thải quá tải sẽ dẫn đến hoạt động yếu đi và có thể gây ra các bệnh lớn về gan. Và có thể xảy ra nhiều bệnh khác nữa như tai biến ...Hơn thế nữa khi dùng thuốc quá nhiều sẽ làm chúng ta bị nhờn thuốc đồng nghĩa là nó sẽ không có tác dụng nữa nếu chúng ta dùng sau này. Chính vì vậy bên cạnh những liều thuốc ấy hãy tự trang bị cho mình một bộ áo giáp để sẵn sáng bảo vệ bạn cho những căn bệnh sau nàyĐó chính là vận động. Vì vậy, thay vì cứ ngồi đấy và chờ đợi bác sĩ thì hãy đứng lên để bảo vệ cho sức khỏe cho chính mình. Từ đây chắc bạn cũng đã có sự lựa chọn cho riêng mình. Vận động và thuốc đều tốt cho sức khỏe nếu biết dung hòa cả hai và biết sử dụng cái nào cho hợp lí trong từng khoảng thời gian . Danh y Tisso dường như đã tạo một hồi chuông làm thức tỉnh mỗi con người chúng ta hãy vận động ngay khi còn có thể để có thể tận hưởng một cuộc sống tràn đầy niềm vui và ý nghĩa.

Trang 1

KHOA HỌC GIAO TIẾP

Trang 2

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

TRONG GIAO TIẾP

Trang 3

1 Khái niệm và đặc điểm giao tiếp: 1.1 Khái niệm giao tiếp:

1.1.1 Quan điểm của Phạm Minh

Hạc:

GT là quá trình thiết lập và vận

hành quan hệ giữa người với

người nhằm hiện thực hoá quan

hệ xã hội.

Trang 4

1.1.2 Quan điểm của K Berlo:

- GT là quá trình có chủ định hoặc không

có chủ định mà trong đó các tư tưởng,ý định, cảm xúc… của con người được

biểu đạt qua ngôn ngữ hoặc phi ngôn

ngữ

- GT của con người diễn ra ở các mức độ:

trong con người, giữa con người với con người và công cộng

- GT là quá trình năng động, liên tục, bất

thuận nghịch, tác động qua lại và mang tính chất ngữ cảnh

Trang 5

1.2 Đặc điểm giao tiếp:

1.2.1 Lứa tuổi

1.2.2 Giới tính

1.2.3 Nghề nghiệp

Trang 6

2 Chức năng và vai trò của giao tiếp:

2.1 Chức năng của giao tiếp:

- Tổ chức hoạt động phối hợp.

- Nhận thức.

- Hình thành và phát triển các mối quan

hệ liên nhân cách.

Trang 7

2.2 Vai trò của giao tiếp:

- Giao tiếp là điều kiện của tồn tại con

người.

- Qua GT con người tiếp thu kinh nghiệm

xã hội lịch sử biến nó thành vốn tâm lí, nhân cách của mình, đồng thời con

người đóng góp tài lực của mình cho

sự phát triển xã hội.

- Qua GT con người nhận thức được

người khác và bản thân trên cơ sở đó

mà điều chỉnh mình cho phù hợp với

chuẩn mực xã hội.

Trang 8

NGƯỜI GỬI MHTĐ

NGƯỜI NHẬN GMTĐ

TiẾNG ỒN TiẾNG

ỒN

Trang 9

3.1.2 Mô hình tác động qua lại về GT.MTGTTU

KÊNH

NGUỒN MHTĐ

NGƯỜI NHẬN MHTĐ

TiẾNG ỒN

TiẾNG ỒN TiẾNG

ỒN

Trang 10

3.1.3 Mô hình giao dịch về GT.MTGT

NGƯỜI MÃ HOÁ NGƯỜI GT B NGƯỜI GIÃI MÃ

NGƯỜI MÃ HOÁ

THÔNG NGƯỜI GT A ĐIỆP

NGƯỜI GIÃI MÃ

TiẾNG ỒN

TiẾNG ỒN

Trang 11

3.2 Cấu trúc của hành vi giao tiếp:

- Các nhân vật giao tiếp

- Mục đích giao tiếp

- Nội dung giao tiếp

- Công cụ giao tiếp

- Kênh giao tiếp

- Hoàn cảnh giao tiếp

Trang 12

3.3 Quan hệ và vai xã hội trong HVGT:

- Quan hệ: là vị thế, địa vị của một

nhân cách này đối với một nhân cách khác hoặc đối với cộng đồng và cả

với bản thân mình.

- Vai xã hội: là chức năng, hình mẫu

hành vi chuẩn mực được xã hội tán đồng và đang chờ đợi ở mỗi người

trong địa vị hiện có của họ.

Trang 13

Chương 2 HÌNH THỨC & PHƯƠNG TIỆN

GIAO TIẾP

Trang 14

1 Hình thức giao tiếp ( GT ):

1.1 Căn cứ vào qui cách GT:

- GT chính thức

- GT không chính thức.

1.2 Căn cứ vào số lượng người GT:

- GT cá nhân với cá nhân.

- GT cá nhân với nhóm.

- GT nhóm này với nhóm khác.

Trang 15

1.3 Căn cứ vào vị trí của cá nhân trong GT:

- Vai người nói lớn hơn vai người nghe

- Vai người nói và vai người nghe bằng

nhau

- Vai người nói thấp hơn vai người nghe

1.4 Căn cứ vào nghiên cứu của tâm lí học

xã hội:

- GT định hướng xã hội

- GT định hướng nhóm

- GTđịnh hướng cá nhân

Trang 16

2 Phương tiện giao tiếp:

Trang 17

2.2 Giao tiếp phi ngôn ngữ:

- Không gian, thời gian.

- Âm nhạc, màu sắc

Trang 18

Chương 3 BẢN CHẤT XÃ HỘI CỦA GT

& GT TRONG TỔ CHỨC

Trang 19

1 Bản chất xã hội của giao tiếp:

1.1 Giao tiếp là quá trình trao đổi thông

tin

1.1.1 Đối thoại:

- Là sự GT trực tiếp, là sự trao đổi những

đối đáp.

- Là loại ngôn ngữ được duy trì.

- Tiến hành trong sự tiếp xúc đầy biểu

cảm.

- Mang tính chất tình huống.

- Sự đối thoại được hưởng ứng theo chủ

đề gọi là đàm thoại.

Trang 20

1.1.2 Mạng giao tiếp.

- Là tập hợp các kênh trong một nhóm

có tổ chức theo đó mà thông điệp

được truyền đi.

- Được sắp xếp một cách có kế hoạch

hoặc tự phát.

- Vị trí tương đối của cá nhân hay bộ

phận này đối với các cá nhân hay bộ phận khác cấu thành những hình nhất định được gọi là hình mạng GT.

Trang 21

E D

Trang 23

1.2 Sự tác động qua lại trong GT:

1.2.1 Tri giác xã hội:

- Là sự tri giác của chủ thể không chỉ

với các đối tượng của thế giới vật chất

mà còn với cả những khách thể xã

hội, các tình huống xã hội.

- Đặc trưng của tri giác khách thể xã

hội:

+ Khách thể xã hội không thụ động,

dững dưng, thờ ơ đối với chủ thể tri

giác.

Trang 24

+ Sự chú ý của chủ thể tri giác xã hội trước hết là vào việc giải thích ý nghĩa và giá trị của khách thể tri giác chứ không phải là

những yếu tố làm nảy sinh hình ảnh

+ Tri giác khách thể xã hội được đặc trưng bởi tính kết dính cao của nhận thức và xúc cảm

Trang 25

- Căn cứ vào mối tương quan giữa chủ thể và khách thể tri giác có:

+ Tri giác liên nhân cách.

+ Tự tri giác

+ Tri giác liên nhóm.

Trang 26

1.2.2 Quan hệ liên nhân cách:

- Là những mối liên hệ qua lại giữa con

người với con người được thể nghiệm

một cách chủ quan và được biểu hiện một cách khách quan trong tính chất và

phương thức ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa con người với con người trong quá trình hoạt động cùng nhau và trong giao tiếp

Trang 27

- Trong nhóm, tập thể, cá nhân tham gia

vào những quan hệ có tính chất 2 mặt: + Quan hệ công tác ( QH chính thức)

+ Quan hệ cá nhân ( QH không chính

Trang 28

- Phương pháp nghiên cứu QHLNC :

+ Quan sát, thực nghiệm, đàm thoại.

+ Trắc đạc xã hội (sociometrie) do John Moreno đề xướng.

* Xác định được vị trí thực của các cá

nhân trong các quan hệ.

* Vạch ra được sự tồn tại của các nhóm

cơ sở cũng như nguyên nhân hình

thành và tan vỡ nhóm.

Trang 29

* Các loại vị trí của cá nhân trong nhóm:

Trang 30

- Các quan hệ liên nhân cách còn được biểu hiện ở sự tương đồng hay bất

tương đồng tâm lí giữa các thành viên.

- Nguyên nhân là do:

+ Sự thống nhất hay khác biệt về quan điểm, niềm tin.

+ Đặc điểm tính cách của mỗi người.

+Những mâu thuẫn về công tác và cá

nhân.

+ Sự cách biệt lâu của nhóm nhỏ dẫn

đến mất thông tin với các nhóm khác.

Trang 31

1.2.3 Qui luật của sự tác động qua lại:

- Lây lan.

- Bắt chước.

- Ám thị.

- Thuyết phục.

Trang 32

1.3 Sự hiểu biết lẫn nhau giữa

người với người trong giao tiếp:

- Hiểu là gì?

- Đặc điểm của sự hiểu biết lẫn nhau.

- Điều kiện để hiểu biết lẫn nhau.

- Các cấp độ nhận định và đánh giá con người trong giao tiếp.

Trang 33

2 Giao tiếp trong tổ chức.

Trang 34

2.2 Giao tiếp trong tổ chức:

2.2.1 Theo chiều dọc.

2.2.2 Theo chiều ngang.

2.2.3 Theo đường chéo.

Trang 35

Chương 4

KỸ NĂNG & HIỆU QUẢ

GIAO TIẾP

Trang 36

1 Kỹ năng giao tiếp:

1.1 Khái niệm kỹ năng và kỹ năng

giao tiếp:

1.1.1 Kỹ năng :

- Là sự thực hiện có kết quả một hành

động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép

Kỹ năng không chỉ đơn thuần là kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện của năng lực con người

Trang 37

- Các giai đoạn hình thành kỹ năng:

+ Nhận thức đầy đủ mục đích, yêu cầu, điều kiện hành động

+ Quan sát mẫu và làm đúng theo mẫu

+ Tự rèn luyện trong thực tiễn

Trang 38

1.1.2 Kỹ năng giao tiếp:

Trang 39

1.2 Các nhóm kỹ năng giao tiếp:

1.2.1 Nhóm kỹ năng định hướng 1.2.2 Nhóm kỹ năng định vị.

1.2.3 Nhóm kỹ năng điều khiển.

Trang 40

1.3 Những phẩm chất tâm lí cần thiết:

• Năng lực quan sát.

• Khả năng thể hiện ý nghĩ, tình cảm của bản thân với người GT

• Tôn trọng nhân cách người GT.

• Năng lực tự chủ trong các tình huống.

Trang 41

2 Hiệu quả giao tiếp:

2.1 Quan điểm của Lasswell:

Trang 42

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp:

- Phản hồi

- Lắng nghe

- Tự khẳng định

- Trạng thái bản ngã

Trang 43

- Mỗi nhóm xây dựng một tình huống GT theo

chủ đề trên để báo cáo ( thuyết trình, kịch bản- diễn).

Trang 44

ÔN TẬP

1 Khái niệm và đặc điểm giao tiếp ( Quan

điểm của K Benlo và Phạm Minh Hạc )

2 Phương tiện giao tiếp.

3 Bản chất xã hội của giao tiếp: Tri giác xã

hội và quan hệ liên nhân cách.

4 Kĩ năng giao tiếp và các nhóm kĩ năng.

5 Hiệu quả giao tiếp: Quan điểm của

Lasswell và các yếu tố ảnh hưởng.

Ngày đăng: 15/01/2019, 01:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm