1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam

27 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 514,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài “Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam”, chúng tôi quan niệm truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn, đi sâu tìm hiểu hạt nhân cấu trúc thể loại.. Đối

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

O X V ỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THANH HẢI

BA MÔ HÌNH TRUYỆN LỊCH SỬ TRONG

VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 9 22 01 20

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

VIỆN HÀN LÂM

O X V ỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Vào hồi ….giờ … ngày … tháng … năm 201…

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Truyện lịch sử là thể loại phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu với những tác giả, tác phẩm xuất sắc, trở thành một khuynh hướng văn xuôi hiện đại tiêu biểu Từ những năm 1980 trở lại đây, truyện lịch sử có bước chuyển biến lớn với những cách tân, sáng tạo độc đáo, tạo nên sự khác biệt so với giai đoạn trước Nhiều hiện tượng truyện lịch sử nổi bật, gây tiếng vang lớn, thu hút được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu, phê bình, tạo ra những cuộc tranh luận sôi nổi, trở thành vấn

đề thời sự văn học Tuy nhiên, hệ thống lý thuyết thể loại truyện lịch sử làm điểm tựa, nền tảng cho nghiên cứu, phê bình, tiếp nhận vẫn còn khá khiêm tốn, tản mạn, chưa

có tính hệ thống Đây là vấn đề bức thiết, đòi hỏi cần có những nghiên cứu chuyên sâu, khái quát, xây dựng hệ thống lý thuyết thể loại khoa học, toàn diện

1.2 Trên thực tế, các nghiên cứu về truyện lịch sử ở Việt Nam chủ yếu dựa trên hai nền tảng lý thuyết: Lý thuyết phản ánh và góc nhìn thi học của ristote Vì thế, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận cổ điển này bộc lộ nhiều hạn chế, dẫn đến cái nhìn độc đoán, phiến diện, chỉ thấy hiện tượng, lớp vỏ ngôn từ bề ngoài mà chưa làm

rõ hạt nhân cấu trúc bề sâu của tác phẩm/ thể loại, gây ra những cuộc tranh luận không có hồi kết hính thực trạng này đòi hỏi cần có một cách tiếp cận khác, lối tư duy vấn đề toàn diện, mới mẻ, thấu đáo hơn

1.3 Trong nhà trường hiện nay, truyện lịch sử và các tác phẩm khai thác đề tài lịch sử được đưa vào giảng dạy ở nhiều mức độ, phạm vi khác nhau Việc khai thác, tiếp cận, lý giải các tác phẩm đó vẫn còn nhiều lúng túng, bất đồng, chưa thật thỏa đáng Thực trạng này bắt nguồn từ việc thiếu một công cụ lý thuyết, phương pháp tiếp nhận, cách tư duy vấn đề thể loại văn học với những đặc trưng riêng

1.4 Với đề tài “Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam”,

chúng tôi quan niệm truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn, đi sâu tìm hiểu hạt nhân cấu trúc thể loại ướng đi này sẽ góp phần lấp đầy những khoảng trống lý thuyết thể loại còn để ngỏ, lý giải những hiện tượng truyện lịch sử phức tạp, gây nhiều tranh cãi, giải quyết những bất đồng quan điểm trong nghiên cứu, giảng dạy và thực tiễn sáng tác

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nhận diện/ mô tả lịch sử thể loại truyện lịch sử dưới ánh sáng của lý thuyết mới – lý thuyết diễn ngôn Từ đó, luận án làm sáng tỏ một số khía cạnh lý thuyết và lịch sử văn học dưới góc nhìn cấu trúc thể loại

Trang 4

2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Điểm lại, tổng hợp, khái quát hóa lịch sử nghiên cứu truyện lịch

sử ở trong và ngoài nước qua các công trình tiêu biểu

Thứ hai: Xây dựng một nền tảng lý thuyết thể loại truyện lịch sử trên cơ sở

lý thuyết diễn ngôn và các mẫu gốc trần thuật, làm điểm tựa để đưa ra ba mô hình truyện lịch sử cụ thể; khảo sát, lý giải một số hiện tượng truyện lịch sử tiêu biểu trong văn học Việt Nam hiện đại

Thứ ba: Đi sâu phân tích, lý giải, diễn giải ba mô hình truyện lịch sử: truyền

thuyết, dụ ngôn, giai thoại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thể loại truyện lịch sử từ góc nhìn lý thuyết diễn ngôn, thực hiện chiến lược giao tiếp đặc thù với ba mô hình cấu trúc gồm truyền thuyết, dụ ngôn và giai thoại,

qua việc khảo sát các hiện tượng tiêu biểu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: quan niệm và những đặc trưng cơ bản của thể loại truyện

lịch sử với tư cách là một loại hình diễn ngôn; mô tả, khảo sát, diễn giải cụ thể ba mô hình cấu trúc nền móng

Phạm vi tư liệu khảo sát: Những tác phẩm truyện lịch sử trong văn học hiện

đại Việt Nam (từ đầu thế kỷ XX đến nay) bao gồm tiểu thuyết và truyện ngắn viết về lịch sử

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận án sử dụng lý thuyết diễn ngôn, chủ yếu của V.I.Chiupa làm cơ sở Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng các lý thuyết khác như: tự sự học hiện đại, ký hiệu học văn hóa và thi pháp học

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

Phương pháp luận của lý thuyết diễn ngôn và ký hiệu học văn hóa, Phương pháp nghiên cứu loại hình, Phương pháp thống kê, phân loại, Phương pháp lịch sử và phương pháp xã hội học Ngoài ra, trong luận án, chúng tôi còn sử dụng một số thao

tác khác như là so sánh đồng đại và so sánh lịch đại, đối lập, tổng hợp, hệ thống hóa… để hỗ trợ cho các phương pháp nghiên cứu trên

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Trang 5

Thứ nhất: đưa ra một quan niệm về thể loại truyện lịch sử trên nền tảng lý

thuyết diễn ngôn và những cấu trúc nền móng của văn học nhân loại cổ xưa

Thứ hai: dựa vào nền tảng lý thuyết thể loại đã xây dựng, chúng tôi chia

truyện lịch sử thành ba mô hình: truyền thuyết, dụ ngôn và giai thoại, làm rõ hạt nhân cấu trúc, đặc trưng cơ bản của mỗi mô hình

Thứ ba; đem đến một góc nhìn, một cách tiếp cận mới mẻ về văn học sử từ

góc nhìn thể loại

Thứ tư: những kết quả nghiên cứu về truyện lịch sử của chúng tôi tiếp tục

đặt ra một vấn đề, thực ra không mới, song cần nhìn nhận nghiêm túc và có sự thay đổi, nhất là với các chương trình lý thuyết nền tảng: vấn đề quan niệm văn học, nhất

là đặc trưng, bản chất và chức năng của văn học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý thuyết: Một mặt, luận án đưa ra cách hiểu, diễn giải lý thuyết

diễn ngôn và một số lý thuyết về tự sự học hiện đại thông qua góc nhìn cấu trúc thể loại Mặt khác, từ những lý thuyết nền tảng và cấu trúc nền móng, chúng tôi đưa ra quan niệm lý thuyết riêng về truyện lịch sử; hạt nhân của ba mô hình cấu trúc truyền thuyết, dụ ngôn và giai thoại

Ý nghĩa thực tiễn: khảo sát, khái quát, tổng kết bước đầu các xu hướng

truyện lịch sử trong văn học Việt Nam hiện đại Từ đó, chúng tôi hướng tới một góc nhìn khác, không nặng về đánh giá theo kiểu khen, chê, cao, thấp mà đi sâu vào lý giải cơ chế, hạt nhân cấu trúc tạo ra tác phẩm với tư cách là diễn ngôn thể loại và diễn ngôn của cá nhân nhà văn húng tôi đi sâu lý giải một số hiện tượng truyện lịch sử phức tạp, gây nhiều tranh cãi bằng lý thuyết mới, trên nhiều phương diện, góc cạnh

khác nhau

7 Cơ cấu của luận án: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án triển khai qua

4 chương:

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương 2 Mô hình truyền thuyết lịch sử

Chương 3 Mô hình dụ ngôn lịch sử

Chương 4 Mô hình giai thoại lịch sử

Trang 6

4

NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu truyện lịch sử

1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài

ác nhà nghiên cứu ở phương Tây đã dành mối quan tâm cho tiểu thuyết lịch sử từ rất sớm qua thực tiễn sáng tác của các nhà văn thế kỷ X X, XX Vấn đề họ quan tâm cũng là vấn đề muôn thuở là chất liệu lịch sử được xử lý, diễn giải như thế nào, nhà văn sáng tạo, hư cấu ra sao ai góc cạnh sự thật và sáng tạo vẫn là mối quan tâm xuyên suốt như những sợi dọc ngang tạo nên tấm áo nhiều màu sắc nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Đó là các quan điểm của G.Lukacs, L.Tolstoi, M undera, đặc biệt là hệ thống quan điểm của hai tác giả Dorothy Brewster và Jonh Bureell trong cuốn “Tiểu thuyết hiện đại”

Một trong những luận điểm quan trọng, tạo tiền đề tư tưởng, nền tảng lý thuyết và phương pháp luận khi nghiên cứu lịch sử và tiểu thuyết lịch sử là của nhà

nghiên cứu người Mỹ ayden White với mệnh đề nổi tiếng: “lịch sử như là tự sự” (history as narrative) Những nghiên cứu và quan điểm ở ngoài nước này đều là

những căn cứ lý thuyết quan trọng, gợi mở cho chúng tôi cách thức và phương pháp tiếp cận với truyện lịch sử một cách khoa học, khách quan, thỏa đáng

1.1.2 Những nghiên cứu nổi bật ở Việt Nam

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các nghiên cứu về truyện lịch sử ở Việt

nam có thể gộp thành 3 xu hướng: Nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn và sử, Nghiên cứu truyện lịch sử như một khuynh hướng văn xuôi tự sự trong tiến trình vận động của lịch sử văn học dân tộc, Nghiên cứu thi pháp thể loại truyện lịch sử từ lý thuyết văn học hiện đại

Xu hướng nghiên cứu mối quan hệ giữa văn và sử thu hút nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và các nhà văn viết truyện lịch sử ác bài viết tập trung vào các hiện tượng truyện lịch sử nổi bật, gây tiếng vang lớn, nhiều ý kiến trái chiều, đôi khi dẫn đến những cuộc tranh luận căng thẳng, không có hồi kết trên báo chí như truyện ngắn lịch sử của Nguyễn uy Thiệp, tiểu thuyết Nguyễn Xuân hánh, oàng Quốc ải, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Quang Thân, Bùi Việt Sỹ… Cuộc tranh luận xoay quanh những tác phẩm của Nguyễn uy Thiệp được Phạm Xuân Nguyên tập hợp, in

trong cuốn sách “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp”; các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân

hánh được Viện Văn học và nhà xuất Bản Phụ nữ tổ chức cả một hội thảo riêng, quy mô…

Trang 7

ách tiếp cận truyện lịch sử như một khuynh hướng văn xuôi tự sự trong tiến trình vận động của lịch sử văn học dân tộc chủ yếu là những công trình lớn như

luận án, chuyên luận Nổi bật là luận án Tiến sĩ “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 (diện mạo và đặc điểm)” (1999) của Bùi Văn Lợi, chuyên luận“Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945” của Nguyễn Thị Tuyết Minh, “Văn xuôi Việt Nam sau 1975” của Nguyễn Thị Bình Các công trình này

chủ yếu tái hiện diện mạo tiểu thuyết lịch sử trong tiến trình vận động, phát triển của văn học dân tộc, làm nổi bật thành tựu, hạn chế ở hai bình diện nội dung, nghệ thuật, bước đầu đưa ra quan niệm, góc nhìn về thể loại

Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận truyện lịch sử từ các lý Tiêu biểu là các bài viết của Nguyễn Văn Hùng, Cao Kim Lan, Lã Nguyên, Trần Đình Sử… Dù viết về các hiện tượng hay lý thuyết thì các tác giả đã đưa ra nhiều luận điểm quan trọng về lý thuyết thể loại từ quan niệm đến những biểu hiện, cách tiếp cận thể loại, đặc biệt là coi tiểu thuyết lịch sử như một loại hình diễn ngôn, chiến lược trần thuật,

mô thức tự sự

1.2 Quan niệm về thể loại và cấu trúc thể loại

1.2.1 Thể loại và cấu trúc thể loại trong nghiên cứu văn học

Quan niệm truyền thống: Đó là quan niệm của các công trình nghiên cứu cổ

điển phương Đông và phương Tây, tiêu biểu là ristote, eghen, Bielinski, mỹ học Mác xít Dù có những lý giải, phân chia khác nhau song tựu chung lại, các nhà nghiên cứu thống nhất tinh thần chia thành ba loại hình: tự sự, trữ tình và kịch ách chia ba này xuất phát từ nền tảng lý thuyết phản ánh và coi văn học là sự mô phỏng

Quan niệm hiện đại: hủ yếu là những công trình nghiên cứu lý thuyết

phương Tây thế kỷ XX như chủ nghĩa hình thức Nga, chủ nghĩa cấu trúc, giải cấu trúc, ký hiệu học văn hóa, thi pháp học, phân tâm học, lý thuyết diễn ngôn… hủ nghĩa hình thức Nga đề cao thao tác “lạ hóa”; trường phái Pospelov chia văn học theo

ba thể tài: sử thi, thế sự và đời tư; Todorov nghiên cứu thể loại từ văn bản tác phẩm;

ntoine ompagnon đưa ra quan niệm: “Thể loại như là mô hình đọc”; M.Bakhtin

coi văn học là một thể loại lời nói, một loại hình diễn ngôn Những quan điểm này là nền tảng lý thuyết quan trọng cho đề tài của chúng tôi

1.2.2 Truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn văn học

Theo V hiupa, “Diễn ngôn (tiếng Pháp: discours – lời nói) - là

phát ngôn, hành động lời nói tạo sinh văn bản gồm người nghe bình đẳng với người nói và được xem là “sự kiện giao tiếp tương tác văn hoá xã hội” (Van Dijk) giữa chủ thể, khách thể và người tiếp nhận V hiupa đã phân tích cụ

Trang 8

sử: mã lịch sử, mã thể loại và mã tư tưởng hệ

+ Mã lịch sử: Đó là các yếu tố lịch sử như sự kiện, biến cố, nhân vật,

trạng thái nào đó của lịch sử trong tác phẩm Ở đây chúng tôi quan niệm: lịch

sử cũng là một loại hình diễn ngôn về cái đã xảy ra, thuộc về quá khứ, những quá trình đã hoàn tất của loài người, xã hội Nó giống tiểu thuyết lịch sử ở chỗ đều là những hình thức chuyện kể, những diễn ngôn trần thuật

+ Mã thể loại: là nhân tố chính chi phối diễn ngôn tiểu thuyết lịch sử

Đó là những đặc trưng thể loại truyện kể được thể hiện trên các bình diện: trần thuật, kết cấu, không gian, thời gian, ngôn ngữ, bút pháp Lịch sử được coi là một loại ngôn ngữ, một mã nghệ thuật đặc thù Điều then chốt là tư duy tiểu thuyết thể hiện qua tính đối thoại đa thanh, tư duy đa nguyên, dân chủ

+ Mã tư tưởng hệ: Mỗi chủ thể diễn ngôn phải gắn với một không gian,

bối cảnh thời đại, tư tưởng – ý thức hệ, tâm lý và xu hướng thẩm mĩ,vô thức tập thể và tư duy bầy đàn mặc định nh phải phát ngôn trong những vùng quy định của các thẩm quyền chính trị, văn hóa, đạo đức, tôn giáo, tri thức Vì vậy, tư tưởng hệ chi phối lớn đến việc xử lý đề tài, chọn điểm nhìn, tính chất diễn ngôn mà nhà tiểu thuyết lịch sử tạo nên cho mình

1.3 Quan niệm chung về mô hình truyện lịch sử

1.3.1 Khái niệm mô hình

Với quan niệm thể loại văn học như một chiến lược giao tiếp diễn ngôn, khái niệm mô hình cấu trúc thể loại trên đây chính là mô hình cấu trúc giao tiếp tự sự

Đó là phương tiện để chúng tôi tiến hành những nghiên cứu cụ thể về truyện lịch sử trên hai bình diện: bình diện truyền thống đặt trong hệ thống các mẫu gốc trần thuật

từ kho tàng thể loại văn học dân gian và bình diện khởi xướng với những cách tân, biến thể và sáng tạo của tác giả, tức là trong tiến trình và sự tiến hóa của thể loại ác thể loại khi thực hiện chiến lược giao tiếp diễn ngôn của mình sẽ hướng tới một trong

ba mục đích: truyền đạt tri thức, rút ra các bài học hay đưa tin tức mới

1.3.2 Khái niệm mô hình truyện lịch sử

Trang 9

Mô hình truyện lịch sử, theo đó bao gồm những hạt nhân cấu trúc cơ bản sau: 1/ hủ thể phát ngôn/ tác giả sáng tạo được thể hiện trong hình tượng người kể chuyện; 2/ Bức tranh thế giới được tạo dựng (hiện thực được phản ánh/ sáng tạo ra; 3/ Ngôn ngữ nghệ thuật tự sự đặc thù tạo nên nguyên tắc kết nối/ ngữ pháp truyện kể riêng; 4/ Đối tượng người nghe/ đọc câu chuyện được kể mà chủ thể diễn ngôn hướng tới

hi sử dụng khái niệm mô hình truyện lịch sử để khảo sát, phân loại tác phẩm, chúng tôi hướng đến nội hàm rộng nhất vừa mang ý nghĩa của loại hình, vừa là chiến lược tự sự/ trần thuật, vừa là các phương thức chiếm lĩnh, thể hiện bức tranh thế giới bằng thủ pháp nghệ thuật riêng Qua khảo sát bước đầu, chúng tôi nhận thấy truyện lịch sử có thể chia thành ba

mô hình cấu trúc truyền thuyết, dụ ngôn và giai thoại giống như ba mẫu gốc văn học trần thuật

Tiểu kết chương 1

Truyện lịch sử phát triển mạnh mẽ, trở thành đối tượng của rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, các cuộc hội thảo, sinh hoạt học thuật văn chương Bằng những trải nghiệm nghiên cứu và tư liệu của bản thân, chúng tôi nhận thấy có ba khuynh hướng tiếp cận truyện lịch sử chủ yếu: nghiên cứu mối quan hệ giữa văn và sử theo góc nhìn phản ánh luận; nghiên cứu truyện lịch sử như một khuynh hướng trong tiến trình vận động, phát triển của nền văn học dân tộc bằng con mắt quan sát của văn học sử; nghiên cứu văn bản tác phẩm dưới góc nhìn của các lý thuyết phê bình hiện đại

như tự sự học, ký hiệu học văn hóa, lý thuyết diễn ngôn

Từ góc nhìn lý thuyết diễn ngôn, chúng tôi quan niệm truyện lịch sử là một loại hình diễn ngôn độc đáo về lịch sử bằng văn học Diễn ngôn truyện lịch sử thực hiện một chiến lược giao tiếp giữa chủ thể, đối tượng tiếp và cái được tham chiếu Ba

mã lịch sử, thể loại và tư tưởng hệ sẽ chi phối, tạo nên các đặc tính riêng, hình thành những mô hình cấu trúc truyện lịch sử độc đáo, gồm kiểu truyền thuyết, kiểu dụ ngôn

và kiểu giai thoại

Trang 10

8

Chương 2: MÔ HÌNH TRUYỀN THUYẾT LỊCH SỬ

Nhìn từ quá trình thực hiện chiến lược giao tiếp diễn ngôn, truyền thuyết được xem là một trong ba mẫu gốc của diễn ngôn trần thuật hi chi phối và thực hiện một chiến lược trần thuật riêng, truyền thuyết tạo nên một mô hình cấu trúc nền móng cho văn học mà tiêu biểu là các thể loại: sử thi, truyền thuyết, cổ tích Trong luận án này, chúng tôi không tiếp cận truyền thuyết như một thể loại folklore mà xem xét khái niệm này từ góc độ mô hình cấu trúc nền móng, một cổ mẫu trong kho tàng ký ức thể loại văn học ó một xu hướng truyện lịch sử viết theo mô hình truyền thuyết với các tác giả tiêu biểu : Nguyễn Tử Siêu, Lan hai, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn uy

Tưởng, à Ân, oàng Quốc ải…

2.1 Chủ thể xác tín về chân lý gắn với những câu chuyện hồi sinh

Lịch sử trong diễn ngôn truyền thuyết lịch sử thống nhất với diễn ngôn biên niên chính sử, chủ yếu diễn giải, cụ thể hóa các nguồn tri thức đã được ghi lại, thừa nhận như sự thật duy nhất Tất cả nhằm mục đích làm tăng tính chất chân thực, khả năng, mức độ đáng tin cậy của người sở đắc tri thức mà những tri thức đó vốn khó có thể kiểm chứng Cho nên chủ thể của mô hình cấu trúc này luôn là người xác tín về tri thức không thể kiểm chứng Chủ thể ấy kiến tạo ba câu chuyện lịch sử nổi bật bằng ngôn ngữ văn học, cụ thể là:

2.1.1 Câu chuyện dựng nước và giữ nước

- Câu chuyện dựng nước và chống ngoại xâm giữ nước, cứu nước luôn là câu chuyện nổi bật, xuyên suốt qua nhiều giai đoạn phát triển của diễn ngôn truyền thuyết lịch sử, trở thành một đề tài lớn, để nối tiếp, phát huy truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc đã ghi trong sử sách và thể hiện qua hàng ngàn tác phẩm văn học cổ kim ác nhà văn luôn chọn những thời điểm lịch sử đầy biến động, tình thế đất nước lâm nguy trước hiểm họa ngoại xâm để câu chuyện được tô đậm, tác động mạnh mẽ đến cảm xúc, lòng tự tôn dân tộc của người đọc

- Bản chất của những câu chuyện này là chuyện của người chiến thắng, gắn với niềm tự hào dân tộc, tinh thần đấu tranh bất khuất, niềm tin mãnh liệt vào tương lai Do đó, lịch sử trong diễn ngôn tự sự trải dài theo lịch sử của dân tộc, với những sự kiện và con người cụ thể đã lưu danh thiên cổ Câu chuyện này được thể hiện rõ trong các truyện lịch sử của Nguyễn Tử Siêu, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn uy Tưởng, Hoàng Quốc Hải, Hà Ân, Nguyễn Mộng Giác…

Trang 11

2.1.2 Câu chuyện thời thế biến thiên dâu bể

Câu chuyện về biến chuyển thời thế, đổi thay chính trị, xã hội trong lịch sử cũng là câu chuyện lớn, xuyên suốt trong mô hình truyền thuyết lịch sử Lát cắt lịch

sử được khai thác phổ biến là những khúc cuối của một triều đại, thời thế suy vi, tàn, mạt hay sự chuyển giao của các giai đoạn Góc nhìn truyền thuyết giúp người đọc có thêm nhiều tri thức lịch sử, hiểu về thời cuộc, quy luật vận hành của xã hội qua những diễn giải riêng của chủ thể diễn ngôn Những tác phẩm khai thác câu chuyện này thường mang nhiều suy tư, chiêm nghiệm, triết lý Tiêu biểu là các tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai, Nguyễn uy Tưởng, Hoàng Quốc Hải…

Như vậy, chủ thể của diễn ngôn truyền thuyết lịch sử luôn là người sở đắc chân lý, những tri thức không thể kiểm chứng, có sự thỏa thuận mang tính quy ước giữa chủ thể với người tiếp nhận khi họ ở cùng trong một trường kiến thức, hướng tới chân lý tuyệt đối và niềm tin sắt đá về lịch sử là sự thật như vốn có, khách quan Tư duy nghệ thuật còn mang đậm chất sử thi, thể hiện tiếng nói đại đồng, một giọng của

cả dân tộc với ý thức hệ và giá trị riêng, hướng tới lý tưởng chung

2.2 Bức tranh thế giới phân lập của các vai – chức năng

2.2.1 Ta – địch, chính nghĩa – phi nghĩa

Sự phân vai này xuất phát từ ý thức hệ, tư tưởng của quốc gia, dân tộc, cộng đồng Đây là phương diện nổi trội trong mối quan hệ của con người với Tổ quốc, đất nước on người thường được nhìn ở phần nghĩa vụ, trách nhiệm, đại diện cho cộng đồng, mang tinh thần, lập trường của dân tộc Nhóm các tác phẩm khai thác câu chuyện dựng nước, chống ngoại xâm, cứu nước và giữ nước rất tiêu biểu cho bức tranh thế giới với các vai trò, chức năng cụ thể nêu trên

Theo các tiêu chí này, chúng tôi nhận thấy có một số vai – chức năng cơ bản

sau trong bức tranh thế giới truyền thuyết lịch sử: Vai vua cha hiền đức, Tướng quân tài ba, anh hùng, Nhân dân đồng lòng, Quân thù, kẻ xâm lăng hung hãn Khi phân

lập bức tranh thế giới thành hai phe ta – địch, người giữ nước – kẻ thù xâm lược, chính nghĩa – phi nghĩa thì sự xung đột, đối lập lên đỉnh điểm như nước với lửa, sáng với tối, tồn tại và phi tồn tại, con người và thú vật

2.2.2 Tốt – xấu, thiện – ác

Trang 12

10

Sự phân vai theo các phạm trù này bắt nguồn từ cái nhìn, cách đánh giá các nhân vật lịch sử chủ yếu gắn với quan niệm đạo đức, lý tưởng và lẽ sống tốt đẹp ở đời ác vai – chức năng này liên quan mật thiết tới hành vi, cách ứng xử của nhân vật lịch sử trong các sự kiện lớn của đất nước, những biến cố trọng đại của thời cuộc

và trong cuộc sống thường nhật Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy các truyện lịch sử viết về câu chuyện thời thế, biến thiên dâu bể mang bức tranh thế giới phân lập này

Sự phân vai này rạch ròi, triệt để song khá phức tạp, mang tính tương đối bởi ranh giới giữa các mặt dưới góc nhìn đạo đức, luân lý khá mờ và mong manh

Theo tiêu chí này, các nhân vật trong truyền thuyết lịch sử được chia thành

các vai: Vai người tốt, lương thiện và Vai người xấu, độc ác Việc phân vai thành tốt

– xấu, thiện – ác, đúng – sai khiến các diễn ngôn truyền thuyết lịch sử mở rộng trường nhìn, đưa ra các khía cạnh diễn giải khác, quan tâm đến cả các vấn đề thế sự, nhân tình ác nhân vật mang nhiều chiêm nghiệm, suy tư hơn các nhân vật trong truyền thuyết dân gian chỉ giữ các chức năng, vai trò đơn thuần

2.2.3 Cái nhỏ - cái lớn, nhân dân – đất nước

Đây là các vai, chức năng bắt nguồn từ ý thức, trách nhiệm của mỗi con người

cá nhân trong quan hệ với cái chung, cái lớn lao , với cộng đồng Về bản chất đây là mối quan hệ giữa cái nhỏ và lớn, riêng và chung, cá nhân và tập thể Tất cả đều bắt nguồn từ lập trường, quan điểm trong kiểu diễn ngôn truyền thuyết: lịch sử là tiếng nói của cộng đồng, dân tộc, là lời đồng ca và độc thoại

Việc tạo lập bức tranh thế giới phân lập theo các vai – chức năng đã thực hiện thành công chiến lược giao tiếp diễn ngôn của mô hình truyền thuyết lịch sử giữa người sở đắc chân lý với đối tượng hướng tới, cùng cộng hưởng, hô ứng một lòng, đồng ca hát khúc khải hoàn bằng niềm tự hào dân tộc Lịch sử được coi là mục đích cuối cùng, được thể hiện như một sự thật vĩnh hằng, như chân lý Xét về bản chất thể loại lời nói, diễn ngôn truyền thuyết lịch sử vẫn là lời độc thoại trên tư duy nhị nguyên và lý thuyết phản ánh

2.3 Ba hình thức ngôn ngữ thế giới quan

2.3.1 Ngôn ngữ trận mạc

Là một trong những ngôn ngữ thế giới quan đặc trưng của truyền thuyết lịch

sử Đây cũng là một trong những ngôn ngữ đầu tiên được con người sử dụng như

Trang 13

một ngôn ngữ thế giới quan để tri nhận thế giới bằng văn học Nó gắn với mô hình truyền thuyết từ trong bối cảnh, lịch sử hình thành, thực hiện chiến lược giao tiếp diễn ngôn thể loại

hông gian trong mô hình truyền thuyết lịch sử hầu hết là các không gian của nhà binh Đó là những không gian chiến trường, biên ải, chiến khu, doanh trại, con đường kinh lý, hành quân… trong các câu chuyện chống ngoại xâm giữ nước, cứu nước Gắn với không gian chiến trận là thời gian được tính theo cách riêng: mấy năm, mấy mùa tính từ cuộc kháng chiến trước, những phong trào, chiến dịch, mất mát, hy sinh, chiến thắng, chiến công… Một lớp từ ngữ trận mạc cũng được sử dụng với tần số cao, mật độ dày đặc: chiến trường, biên cương, phong trào, cách mạng, trận đánh, chiến thắng, phòng tuyến, thế trận… hính điều đó khiến cho diễn ngôn truyền thuyết lịch sử tìm đến các mô thức tu từ quen thuộc, thể hiện các vấn đề, tiếng nói của quốc gia, dân tộc: hịch, cáo, thệ

2.3.2 Ngôn ngữ họ hàng, dòng tộc

Ngôn ngữ dòng tộc là một trong những ngôn ngữ thế giới quan của truyền thuyết lịch sử gắn với bối cảnh lịch sử, thời đại, mang cảm hứng về lịch sử, văn hóa, tâm hồn người Việt

Qua lăng kính của ngôn ngữ dòng tộc, nền tảng để kiến tạo hình tượng không gian là chữ “nhà” Ý thức về nhà trong truyện lịch sử rất rõ ràng qua các triều

đại phong kiến, để đoàn kết, tạo sức mạnh, nối tiếp, phát huy truyền thống Nhưng cũng chính vì chữ nhà - dòng tộc mà dẫn đến nhiều bi kịch, tranh chấp, giành đoạt, tội

ác, sự tàn độc, tha hóa của con người, đặc biệt là các cuộc chiến tranh quyền lực

2.3.3 Ngôn ngữ hội hè, đám đông

Ngôn ngữ hội hè là ngôn ngữ thể hiện tâm trạng vui mừng, hân hoan, hừng hực khí thế Đánh giặc, đi làm cách mạng cũng là một ngày hội Ngày hội ở đây là ngày hội của non sông, gấm vóc, ngày hội toàn dân Ngôn ngữ thế giới quan này luôn gắn với chiến thắng, bình định, tiệc tùng hay thời đại thái bình Đó là niềm vui lớn của cả dân tộc, đất nước khi toàn thắng, mở ra thời đại lịch sử mới

Loại hình ngôn ngữ thế giới quan hội hè được thể hiện bằng một hệ thống

từ ngữ đặc trưng Trước hết là nhóm từ mô tả không gian lễ hội Lễ hội bao giờ cũng

Ngày đăng: 14/01/2019, 18:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w