1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Tài liệu ôn thi môn Nguyên lý cơ bản MLN phần thứ nhất

23 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 912,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. NGUYÊN LÍ VỀ MỐI QUAN HỆ PHỔ BIẾN a. Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biếnThế giới là một chỉnh thể thống nhất, các sự vật, hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau. Khái niệm mối liên hệ: Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật hiện tượng trong thế giới.Liên hệ là sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, quy định lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhau ... giữa các mặt bên trong sự vật hoặc giữa các sự vật khác nhau. Khái niệm mối liên hệ phổ biến: là khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới mà ở đó các sự vật, hiện tượng hoặc các mặt bên trong sự vật có mối liên hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, quy định lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhaub. Tính chất của các mối liên hệNhững người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người. Chẳng hạn, G.W.F. Hegel đứng trên lập trường duy tâm khách quan đã cho rằng, “ý niệm tuyệt đối là nền tảng của mối liên hệ còn George Berkeley người theo lập trường duy tâm chủ quan cho rằng, “cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng”.Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, tính chất của mối liên hệ phổ biến bao gồm: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng. Tính khách quan của mối liên hệMối liên hệ mang tính khách quan. Bởi, các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới đa dạng, phong phú, khác nhau. Song chúng đều là những dạng vật thể của thế giới vật chất. Và chính tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ. Nhờ có tính thống nhất đó, các sự vật, hiện tượng, không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau.Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, tác động qua lại lẫn nhau. Bản chất, tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động của chúng với các sự vật, hiện tượng khác. Tính phổ biến của các mối liên hệ:+ Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác. Không có sự vật hiện tượng nằm ngoài mối liên hệ. Mối liên hệ cũng có ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, tư duy.+ Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, tuỳ theo điều kiện nhất định. Nhưng dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất. Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệCó rất nhiều loại liên hệ khác nhau:+ Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài;+ Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp;+ Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu;+ Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản;+ Mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung, mối liên hệ phổ biến...Chính tính đa dạng trong quá trình vận động, tồn tại và phát triển của bản thân sự vật, hiện tượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ. Vì vậy, trong sự vật có nhiều mối liên hệ, chứ không phải có một cặp mối liên hệ.Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định, chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật. Mối liên hệ này giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật.Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, mối liên hệ này nhìn chung không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của sự vật. Và nếu có nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới thực hiện được.Ví dụ: Sự lĩnh hội tri thức của người học trước hết và chủ yếu được quyết định bởi chính người đó (nghệ thuật, truyền thụ tri thức...) dù có tốt, có đầy đủ mà người học không chịu học, không chịu tiếp nhận thì tri thức cũng không thể tự nó có được trong đầu óc người đó.Các cặp mối liên hệ khác nhau cũng có mối liên hệ biện chứng với nhau. Đương nhiên mỗi cặp liên hệ có đặc trưng riêng. Tuy nhiên, vai trò quyết định của các mối liên hệ trong từng cặp phụ thuộc vào quan hệ hiện thực xác định.Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối, vì mỗi loại liên hệ chỉ có một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ hổ biến. Mỗi loại liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính các sự vật.Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có các tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình.

Trang 1

1.MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

a Vai trò của vật chất đối với ý thức

* Vật chất quyết định ý thức

- Vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai Vật chất là nguồn gốc sinh ra ý thức

- Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người Ý thức phản ánh thế giới hiện thực khách quan, các quy luật khách quan, hoạt động thực tiễn chính là

cơ sở cho sự hình thành các quan điểm, quan niệm, ý chí, tình cảm xã hội

- Trong tồn tại xã hội, ý thức chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội, tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội sớm muộn cũng phải thay đổi theo Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội

- Ý thức xã hội không tồn tại tự nó, nó chỉ có thể hình thành và phát triển trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người

b Tính độc lập tương đối của ý thức

Vai trò của ý thức đối với vật chất chính là vai trò của con người trong quá trình cải tạo thế giới khách quan

- Ý thức có tính năng động, sáng tạo nên thông qua hoạt động thực tiễn của con người có thể thúc đẩy hoặc kìm hảm ở một mức độ nhất định các điều kiện vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan

+ Ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan nó sẽ góp phần thúc đẩy hiện thực khách quan phát triển

+ Ngược lại, ý thức khi không phản ánh đúng hiện thực khách quan thì nó sẽ trở thành lực cản đối với sự phát triển của hiện thực khách quan

- Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với thế giới hiện thực khách quan (vật chất) phải dựa trên sự phản ánh thế giới vật chất và các điều kiện khách quan nhất định

Như vậy, tri thức khoa học giúp con người hiểu biết được những mối liên hệ và quy luật

khách quan nhờ đó mà cải tạo được tự nhiên và xã hội Trình độ nhận thức quy luật càng cao thì khả năng cải tạo tự nhiên và xã hội càng lớn

2 NGUYÊN LÍ VỀ MỐI QUAN HỆ PHỔ BIẾN

a Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến

Thế giới là một chỉnh thể thống nhất, các sự vật, hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau

- Khái niệm mối liên hệ: Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự

tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật hiện tượng trong thế giới

Trang 2

Liên hệ là sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, quy định lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt bên trong sự vật hoặc giữa các sự vật khác nhau

- Khái niệm mối liên hệ phổ biến: là khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến của các mối

liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới mà ở đó các sự vật, hiện tượng hoặc các mặt bên trong sự vật có mối liên hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, quy định lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhau

b Tính chất của các mối liên hệ

Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng

là một lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người Chẳng hạn, G.W.F

Hegel đứng trên lập trường duy tâm khách quan đã cho rằng, “ý niệm tuyệt đối là nền tảng của mối liên hệ còn George Berkeley người theo lập trường duy tâm chủ quan cho rằng, “cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng”

Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, tính chất của mối liên hệ phổ biến bao gồm: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng

- Tính khách quan của mối liên hệ

Mối liên hệ mang tính khách quan Bởi, các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới đa dạng, phong phú, khác nhau Song chúng đều là những dạng vật thể của thế giới vật chất Và chính tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ Nhờ có tính thống nhất đó, các sự vật, hiện tượng, không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau

Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, tác động qua lại lẫn nhau Bản chất, tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động của chúng với các sự vật, hiện tượng khác

- Tính phổ biến của các mối liên hệ:

+ Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác

Không có sự vật hiện tượng nằm ngoài mối liên hệ Mối liên hệ cũng có ở mọi lĩnh vực:

tự nhiên, xã hội, tư duy

+ Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, tuỳ theo điều kiện nhất

định Nhưng dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất

- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ

Có rất nhiều loại liên hệ khác nhau:

+ Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài;

+ Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp;

Trang 3

+ Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu;

+ Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản;

+ Mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung, mối liên hệ phổ biến

Chính tính đa dạng trong quá trình vận động, tồn tại và phát triển của bản thân sự vật, hiện tượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ Vì vậy, trong sự vật có nhiều mối liên

hệ, chứ không phải có một cặp mối liên hệ

Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định, chuyển hóa lẫn nhau giữa các

yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật Mối liên hệ này giữ vai trò quyết định tới

sự tồn tại và phát triển của sự vật

Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, mối liên hệ

này nhìn chung không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của

sự vật Và nếu có nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới thực hiện được

Ví dụ: Sự lĩnh hội tri thức của người học trước hết và chủ yếu được quyết định bởi chính

người đó (nghệ thuật, truyền thụ tri thức ) dù có tốt, có đầy đủ mà người học không chịu học, không chịu tiếp nhận thì tri thức cũng không thể tự nó có được trong đầu óc người

đó

Các cặp mối liên hệ khác nhau cũng có mối liên hệ biện chứng với nhau Đương nhiên mỗi cặp liên hệ có đặc trưng riêng Tuy nhiên, vai trò quyết định của các mối liên hệ trong từng cặp phụ thuộc vào quan hệ hiện thực xác định

Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối, vì mỗi loại liên hệ chỉ có một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ hổ biến Mỗi loại liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính các sự vật

Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có các tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình

d Ý nghĩa phương pháp luận

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện

- Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả các mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định

- Quan điểm toàn diện bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể Quan điểm lịch sử cụ thể đòi

hỏi phải nhận thức đầy đủ các mối liên hệ của sự vật, nắm được bản chất bên trong, trực tiếp, đồng thời phải nhận thức được không gian, thời gian, điều kiện cụ thể của sự tồn tại

và xuất hiện các mối liên hệ, trên cơ sở đó mới nắm bắt được xu hướng biến đổi của các

sự vật, hiện tượng

Trang 4

- Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiếm diện Quan điểm phiếm diện là cách xem xét từng mặt, từng mối liên hệ tách rời nhau, không thấy được mối liên hệ nhiều vẻ,

Đây là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật duy vật Nó nói lên nguồn gốc, động lực của sự phát triển Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng

a Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn

* Khái niệm mâu thuẫn và mặt đối lập

- Khái niệm mâu thuẫn:

Mâu thuẫn là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ, thống nhất, đấu tranh và chuyển hoá giữa các mặt của sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

Quan điểm siêu hình thì ngược lại

Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là các mặt đối lập

- Khái niệm mặt đối lập:

Mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính có khuynh hướng vận động trái ngược nhau, bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau nhưng tồn tại gắn bó với nhau trong một thể thống nhất hợp thành mâu thuẫn

Ví dụ: Hưng phấn - ức chế; chân lý – sai lầm; điện tích âm - điện tích dương;

* Tính chất chung của mâu thuẫn

- Tính khách quan, phổ biến

- Tính đa dạng và phong phú

Phép biện chứng duy vật khẳng định, mâu thuẫn tồn tại khách quan phổ biến và đa dang, phong phú trong tự nhiên, xã hội và tư duy và không chịu sự chi phối của ý thức con người

Ví dụ: Trong tự nhiên, đó là mâu thuẫn giữa điện tích dương và điện tích âm; giữa sức

hút và sức đẩy; đồng hóa và dị hóa ; di truyền và biến dị; giống đực và giống cái; sống và chết

Trong xã hội: mâu thuẫn giữa giai cấp bị bóc lột với giai cấp bóc lột; giữa thiện và

ác; giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa hòa bình và chiến tranh

Trang 5

Trong tư duy, đó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; giữa

biện chứng và siêu hình; vô thần và hữu thần; chân lý chân lý và sai lầm

b Quá trình vận động của mâu thuẫn

Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau

- Khái niệm mặt đối lập:

Mặt đối lập là những mặt có thuộc tính, khuynh hướng vận động trái ngược nhau, bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau, nhưng tồn tại gắn bó với nhau trong một thể thống nhất hợp thành một mâu thuẫn

+ Mặt đối lập có thể là bản thân những thuộc tính, khuynh hướng đối lập, cũng có thể là những yếu tố, bộ phận, sự vật trong đó chứa những thuộc tính, khuynh hướng đối lập + Một mâu thuẫn bao gồm hai mặt đối lập có mối liên hệ với nhau

- Khái niệm thống nhất giữa các mặt đối lập:

Thống nhất của các mặt đối lập là sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau, quy định lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau của các mặt đối lập

- Khái niệm đấu tranh giữa các mặt đối lập:

Đấu tranh của các mặt đối lập là sự bài trừ gạt bỏ, phủ định, chống đối nhau của các mặt đối lập

+ Thống nhất của các mặt đối lập là tương đối Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối

+ Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có quá trình phát triển từ thấp đến cao

º Sự giải quyết mâu thuẫn không chỉ phụ thuộc vào bản chất và trình độ chín muồi của mâu thuẫn, mà còn phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể nhất định của sự tồn tại của nó

- Khái niệm chuyển hoá giữa các mặt đối lập:

Chuyển hoá giữa các mặt đối lập không phải là sự thay đổi vị trí của các mặt đối lập một cách giản đơn Chuyển hoá giữa các mặt đối lập ở đây là sự chuyển hoá về chất

* Mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển

- Đấu tranh giữa các mặt đối lập dẫn đến mâu thuẫn được giải quyết, khi mâu thuẫn được giải quyết sẽ làm cho sự vật không ngừng được đổi mới Mâu thuẫn cơ bản của sự vật được giải quyết sẽ tạo ra bước nhảy của sự vật: sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời

- Thông qua đấu tranh của các mặt đối lập, những gì lạc hậu, lỗi thời sẽ bị loại bỏ, cái mới, cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu

Như vậy, mâu thuẫn và việc giải quyết mâu thuẫn chính là nguồn gốc và động lực của sự

vận động và phát triển

Trang 6

* Các loại mâu thuẫn

- Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài

- Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản

- Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu

- Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng

Nội dung của quy luật mâu thuẫn

Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành mâu thuẫn trong bản thân mình; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và sự

ra đời của cái mới

c Ý nghĩa phương pháp luận

- Khẳng định tính khách quan của mâu thuẫn, PBCDV yêu cầu chúng ta muốn tìm hiểu mâu thuẫn thì phải tìm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng đó và muốn tìm bản chất của sự vật, hiện tượng thì phải phân đôi cái thống nhất và nhận thức từng bộ phận của nó Muốn tìm bản chất của sự vật thì chúng ta phải xem xét các mặt đối lập bên trong bản thân mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng đó

- Sự khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình sẽ có các mâu thuẫn khác nhau,

do vậ, cần phải có những phương pháp cụ thể, phù hợp để giải quyết từng loại mâu thuẫn

- Cần phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn đó là phương pháp đâu tranh

- Cần phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn xã hội là phải đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, phương pháp nhận thức là phương pháp duy vật biện chứng, chú ý đến mối quan hệ hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể

4 QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH

Đây cũng là một trong 3 quy luật của phép biện chứng duy vật Nó nói lên khuynh hướng của sự phát triển

Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng

* Khái niệm

- Phủ định nói chung là sự bài trừ, bác bỏ sự vật nhất định nào đó Nói cách khác, phủ định là một quá trình vận động trong đó sự vật, hiện tượng này được thay thế bởi sự vật, hiện tượng khác (đây là sự biến đổi nói chung)

- Nghiên cứu sâu vào quá trình phát triển của thế giới, phép biện chứng duy vật cho rằng,

sự chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập dẫn tới mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi và sự vật mới ra đời Mỗi sự vật được thay thế ấy chính là mắt khâu trong sợi dây truyền của sự phát triển

Trang 7

của hiện thực và tư duy Sự ra đời của cái mới là kết quả của sự phủ định cái cũ, cái lỗi thời Quá trình đó gọi là phủ định biện chứng

Vậy phủ định biện chứng là gì? Phủ định biện chứng là quá trình tự phủ định, tự phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, cái tiến bộ hơn so với cái tự phủ định

Có hai loại phủ định:

- Phủ định không biện chứng thực hiện do nguyên nhân bên ngoài, không có tính tất yếu đối với quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng, không có kế thừa

- Phủ định biện chứng là sự thay thế cái cũ bằng cái mới tiến bộ hơn

* Đặc trưng của phủ định biện chứng

Phủ định biện chứng gồm hai đặc trưng sau đây:

- Tính khách quan: Phủ định biện chứng là sự tự thân phủ định, là kết quà giải quyết

mâu thuẫn bên trong của sự vật tồn tại khách quan

- Tính kế thừa: Đây là đặc trưng cơ bản nhất của phủ định biện chứng Phủ định biện

chứng là quá trình cái mới ra đời phủ định cái cũ, nhưng cái mới chỉ phủ định mặt lạc hậu, lỗi thời của cái cũ, đồng thời kế thừa những giá trị của cái cũ Do đó, phủ định biện chứng là sự phủ định nhưng đồng thời cũng là sự khẳng định

- Từ hai đặc trưng nêu trên của phủ định biện chứng chúng ta thấy nó đối lập hẳn với quan điểm siêu hình Quan điểm siêu hình cho rằng:

+ Phủ định đó là biến sự vật thành cái khác, đối lập với nó

+ Đó là sự phủ định sạch trơn không kế thừa, không có trọn lọc

+ Nó là phủ định có thể là khách quan, có thể là chủ quan Khách quan là tự thân phủ định; còn cái bị các thế lực khác chi phối là phủ định chủ quan

b Phủ định của phủ định – hình thức “xoáy ốc” của sự phát triển

- Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng là sự thống nhất

giữa loại bỏ, giữ lại (kế thừa) và phát triển Mỗi lần phủ định biện chứng được thực hiện

sẽ mang lại những nhân tố mới Do đó, sự phát triển thông qua những lần phủ định biện chứng sẽ tạo ra xu hướng tiến lên không ngừng

Trang 8

- Phủ định biện chứng được hoàn thành trong một chu kỳ phát triển Sự vật ở điểm xuất

phát ban đầu qua lần phủ định thứ nhất trở thành cái đối lập với nó - bước trung gian của

sự phát triển; lần phủ định thứ hai, tái lập cái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn Lần phủ

định thứ hai được gọi là phủ định của phủ định

Ví dụ: Hạt thóc Ò Cây lúa Ò Bông lúa

Số nguyên dương Ò Số nguyên Ò Số hữu tỉ Ò Số thực Ò Số phức

- Phủ định của phủ định làm xuất hiện cái mới là kết quả tổng hợp tất cả những yếu tố tích cực ban đầu đã được phát triển từ trong cái khẳng định ban đầu và cả trong những cái phủ định tiếp theo Do vậy, cái mới với tư cách là kết quả phủ định của phủ định nó sẽ có nội dung toàn diện và phong phú hơn cái khẳng định ban đầu và cái kết quả của lần phủ định thứ nhất

- Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển, ở đó sự phát triển dường như quay lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn, đây là đắc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện chứng - điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển đồng thời là điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp theo

- Phủ định của phủ định được hoàn thành trong chu kỳ phát triển, thông thường mỗi chu

kỳ trải qua hai lần phủ định Tuy nhiên, thế giới tồn tại rất đa rạng, do đó, số lần phủ định một chu kỳ có thể nhiều hơn Nhưng trong số rất nhiều lần phủ định của một chu kỳ chúng ta vẫn có thể khái quát lại hai lần: Phủ định lần thứ nhất chuyển cái xuất phát thành cái đối lập mình; phủ định lần thứ hai chuyển cái trung gian thành cái đối lập với

nó, sự vật dường như lặp lại cái xuất phát nhưng trên cơ sở mới cao hơn

- Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất tiến lên của sự phát triển Sự phát triển không phải diễn ra theo đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”

- Diễn tả quy luật phủ định của phủ định bằng đường xoáy ốc chính là hình thức biểu đạt

rõ ràng nhất các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa, tính lặp lại nhưng không quay trở lại mà tiến lên của sự phát triển Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện một trình độ cao hơn của sự phát triển, đồng thời dường như quay trở lại cái đã qua, dường như lặp lại vòng trước Sự nối tiếp nhau của các vòng thể hiện tính vô tận của

sự phát triển, tính vô tận của sự tiến lên từ thấp đến cao

Nội dung quy luật

Quy luật này nói lên mối liên hệ, sự kế thừa giữa cái bị phủ định và cái phủ định; do sự

kế thừa đó, phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn, bác bỏ tất cả sự phát triển trước đó, mà là điều kiện cho sự phát triển, nó duy trì và gìn giữ nội dung tích cực của các giai đoạn trước, lặp lại một số đặc điểm cơ bản của cái xuất phát, nhưng trên cơ sở mới cao hơn; do vậy, sự phát triển có thính chất tiến lên không phải theo đường thẳng, mà theo đường xoáy ốc

c Ý nghĩa phương pháp luận

Trang 9

- Giúp ta hiểu được khuynh hướng của sự phát triển: tiến lên theo đường trôn ốc, cái mới

ra đời trên cơ sở cái cũ, kế thừa tất cả những yếu tố tích cực của cái cũ Chống lại thái độ phủ định sạch trơn cái cũ

- Khắc phục cách nhìn đơn giản về sự phát triển: phát triển theo đường thẳng, đường tròn khép kín

- Trong công tác chúng ta phải biết quý trọng và phát hiện cái mới, phải tin vào tương lai phát triển của cái mới, mặc dù lúc đầu nó có thể là cái cá biệt, nhưng dần dần cái cá biệt khi được bồi dưỡng, phát huy nó sẽ trở thành cái phổ biến, hoàn thiện

5 QUY LUẬT QHSX PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX

a Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

* Lực lượng sản xuất và các yếu tố cơ bản cấu thành lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất (Là khái niệm để chỉ những phương thức kết hợp giữa người lao

động với TLSX trong sản xuất vật chất)

Với ý nghĩa như vậy, lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Nói cách khác, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nó thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, bao gồm:

+ Người lao động với những kỹ năng, kỹ xảo, thói quen, tri thức, kinh nghịêm nhất định

có khả năng sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất + Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động

+ Đối tượng lao động là những vật mà người lao động tác động vào để tạo ra của cải vật chất

+ Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và những phương tiện lao động khác, là những vật hay phức hợp những vật mà người lao động sử dụng để tác động vào đối tượng lao động

- Các yếu tố của lực lượng sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó người lao động đóng vai trò quyết định, “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là công nhân, là người lao động”

- Trong tư liệu sản xuất, công cụ lao động là yếu tố cơ bản đóng vai trò quyết định Công

cụ lao động do con người sáng tạo ra, là “sức mạnh của tri thức đã được vật thể hoá”, nó

có tác dụng “nối dài bàn tay và nhân lên sức mạnh trí tuệ” của con người trong quá trình lao động sản xuất

Trang 10

- Ngày nay, khoa học – công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Những thành tựu của khoa học – công nghệ được ứng dụng nhanh chóng và rộng rãi vào sản xuất sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Sự xâm nhập ngày càng sâu của khoa học – công nghệ vào quá trình sản xuất đã làm cho lực lượng sản xuất có bước phát triển nhảy vọt

* Quan hệ sản xuất và ba mặt của quan hệ sản xuất

Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ có mối quan hệ cới tự nhiên mà con có mối quan hệ với nhau Khái quát mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, triết học Mác-Lênin gọi đó là quan hệ sản xuất

Vậy, quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất

Đây không phải là quan hệ tình cảm, quan hệ tinh thần, mà đây là những quan hệ được hình thành một cách khách quan (quan hệ vật chất) Đây là quan hệ cơ bản nhất, nó quy định các quan hệ xã hội khác

- Quan hệ sản xuất bao gồm:

+ Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất

Có hai hình thức chiếm hữu cơ bản:Chiếm hữu xã hội (công hữu), Chiếm hữu tư nhân (tư hữu)

+ Quan hệ giữa người với người trong việc quản lý và phân công lao động

+ Quan hệ giữa người với người trong phân phối sản phẩm Trong lịch sử đã có những hình thức phân phối như: phân phối bình quân, phân phối theo tư liệu sản xuất, phân phối theo lao động, v.v

- Các mặt hợp thành quan hệ sản xuất gắn bó hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định Bởi lẽ, ai nắm được tư liệu sản xuất trong tay người đó sẽ quyết định việc tổ chức, quản lý sản xuất cũng như phân phối sản phẩm lao động

b Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

* Tính thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại khồn tách rời nhau mà tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất

Phù hợp là gì? Phù hợp là sự thích ứng tương dối tạm thời, thoảng qua của QHSX với

LLSX, và đây là mối quan hệ luôn vận động và biến đối không ngừng, cái không phù hợp

bị cái phù hợp phủ định…đây là sự phát triển theo con đường xoáy ốc

* Trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất

Trang 11

- Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng lao động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng của khoa hhọc vào quá trình sản xuất Như vậy, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất như thế nào nó sẽ phản ánh tính chất của lực lượng sảm xuất như thế ấy

- Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và sức lao động Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất ngày càng có tính chất xã hội hoá

* Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất

- Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất

là hình thức xã hội của nó Do đó, trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ

sản xuất, lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định

- Trong phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất

Bởi vì, trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc, và đạt được năng xuất, hiệu quả cao hơn, con người luôn tìm cách không ngừng nâng cao trình độ của mình, cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động và chế tạo ra những công cụ lao động mới ngày càng tinh xảo hơn, vì thế, làm cho lực lượng sản xuất không ngừng biến đổi và phát triển

- Cùng với sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất mới hình thành, biến đổi và phát triển theo:

+ Khi quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi và theo kịp, phù hợp với trình độ phát triển

và tính chất của lực lượng sản xuất thì nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển

+ Khi quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi nhưng nó không theo kịp, không phù hợp với trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất thì nó sẽ trở thành “xiềng xích” của lực lượng sản xuất, kìm hảm lực lượng sản xuất phát triển Khi mâu thuẫn này đạt đến độ chín muồi thì quan hệ sản xuất cũ sẽ bị xoá bỏ và thay thế vào đó là một quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn, phù hợp với trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và thay thế vào đó là một quan hệ sản xuất tiến bộ hơn, cũng

có nghĩa là sự diệt vong của cả một phương thức sản xuất cũ, lỗi thời và thay thế vào đó

là một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn

Như vậy, lực lượng sản xuất là nguyên nhân, là nội dung sinh động đòi hỏi quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi và phát triển cho phù hợp với trình độ phát triển và tính chất của lượng sản xuất

* Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất

Mặc dù quan hệ sản xuất do lực lượng sản xuất quy định, nhưng nó cũng có vai trò nhất định trong sự tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất

Ngày đăng: 14/01/2019, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w