10 Với mong muốn góp phần vào việc xây dựng mối quan hệ hợp tác giữa các địa phương Việt Nam và Lào nói chung, giữa tỉnh Sơn La và các tỉnh thuộc khu vực Bắc Lào nói riêng, Luận văn “Qua
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐINH THỊ THÀNH
QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM - LÀO GIAI ĐOẠN 2000-2015: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP QUAN HỆ GIỮA TỈNH SƠN LA VỚI CÁC TỈNH BẮC LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐINH THỊ THÀNH
QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM - LÀO GIAI ĐOẠN 2000-2015: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP QUAN HỆ GIỮA TỈNH SƠN LA VỚI CÁC TỈNH BẮC LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
Người hướng dẫn khoa học: TS Trương Duy Hòa
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Trương Duy Hòa
Các số liệu, dữ liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2017
Tác giả
Đinh Thị Thành
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, sự chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo tại ĐH KHXH&NV- ĐHQGHN, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của tập thể các thầy, cô giáo bộ phận Đào tạo sau Đại học - Khoa Quan hệ Quốc tế và các thầy, cô giáo của ĐH KHXH&NV- ĐHQGHN đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trương Duy Hòa đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo công ty TNHH Tư vấn và phát triển giáo dục Tuệ Minh và tập thể cán bộ, nhân viên Văn phòng nơi tôi công tác đã quan tâm, động viên và khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những người thân, bạn
bè cùng khóa đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện
Do thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo cũng như toàn thể bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn Đinh Thị Thành
Trang 51
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
3.1 Đối tượng nghiên cứu 11
3.2 Phạm vi nghiên cứu 11
4 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 11
4.1 Hướng tiếp cận 11
4.2 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Bố cục của luận văn 12
Chương 1 13
KHÁI QUÁT QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA TỈNH SƠN LA VỚI CÁC TỈNH BẮC LÀO TRƯỚC NĂM 2000 13
1.1 Đặc điểm về địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh Sơn La và các tỉnh Bắc Lào 13
1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội , văn hóa của tỉnh Sơn La và các tỉnh Bắc Lào trước năm 2000 17
1.3 Truyền thống đoàn kết, hữu nghị giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào trước năm 2000 23
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2 28
QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA TỈNH SƠN LA VỚI CÁC TỈNH BẮC LÀO GIAI ĐOẠN 2000-2015 28
2.1 Khái quát quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào giai đoạn 2000 -2015 28
Trang 62
2.1.1 Đường lối đối ngoại của Việt Nam 28
2.1.2 Những kết quả nổi bật trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào giai đoạn 2000 – 2015 30
2.2 Thực trạng quan hệ hợp tác giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào giai đoạn 2000-2015 34
2.2.1 Quan hệ chính trị- ngoại giao, quốc phòng và an ninh 34
2.2.2 Hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư 39
2.2.3 Quan hệ văn hóa, giáo dục - đào tạo 42
2.3 Một số nhận xét và đánh giá 48
2.3.1 Những thành tựu trong quan hệ hợp tác 48
2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 49
Chương 3 52
TRIỂN VỌNG QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA TỈNH SƠN LA VỚI CÁC TỈNH BẮC LÀO TRONG THỜI GIAN TỚI 52
3.1 Những vấn đề chung trong quan hệ giữa Việt Nam và Lào thời gian tới 52
3.1.1 Các cơ hội hợp tác 52
3.1.2 Các khó khăn thách thức 53
3.2 Quan điểm, định hướng về tận dụng tiềm năng, thế mạnh hợp tác giữa tỉnh Sơn La và các tỉnh Bắc Lào trong bối cảnh mới 61
3.3 Các giải pháp nhằm thúc đẩy hợp tác giữa Sơn La và các tỉnh Bắc Lào 64
3.3.1 Tăng cường quan hệ chính trị -ngoại giao 65
3.3.2 Thúc đẩy hợp tác kinh tế - thương mại, khoa học – kỹ thuật 66
3.3.3 Đẩy mạnh hợp tác quốc phòng – an ninh 70
3.3.4 Gia tăng hợp tác văn hóa, xã hội, giáo dục-đào tạo 71
Trang 73
3.3.5 Tăng cường giao lưu nhân dân 72
Tiểu kết chương 3 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 84
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ACMECS Ayeyawady-Chao Phraya-Mekong Economic Cooperation Strategy
- khuôn khổ hợp tác kinh tế gồm 5 nước Campuchia, Lào, Myanma, Thái Lan và Việt Nam
ASEAN Association of Southeast Asean Nation – Hiệp hội các nước Đông
Nam Á ASEM The Asia-Europe Meeting- Diễn đàn hợp tác Á- Âu
APEC Asia-Pacific Economic Cooperation- Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu
Á- Thái Bình Dương
CHDCND Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
CHXHCN Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
ĐH QGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
FDI Foreign Direct Investment – Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 9Bảng 1.3: Bảng 1.3: Những “bẫy” gây ra tình trạng kém phát triển
cho các tỉnh của Lào……… …… ………… 19
Trang 10sông Mê Kông mở rộng (GMS), hợp tác ACMECS (khuôn khổ hợp tác kinh
tế gồm 5 nước Campuchia, Lào, Myanma, Thái Lan và Việt Nam), v.v Những mối quan hệ hợp tác này đã góp phần vào đảm bảo hòa bình, an ninh
và phát triển của khu vực nói chung và quan hệ Việt Nam - Lào nói riêng Bên cạnh mối quan hệ hợp tác lâu đời được các thế hệ hai nước Việt Nam và Lào xây dựng và dày công vun đắp, quan hệ hợp tác giữa tỉnh Sơn La
và các tỉnh Bắc Lào ngày nay tiếp tục được hai Đảng, hai nhà nước quan tâm
Do có những điểm tương đồng về văn hóa, tập quán và lối sống, có nhiều điểm chung về yếu tố tộc người…, Sơn La và các tỉnh Bắc Lào tự thân đã có những điều kiện thuận lợi để thiết lập quan hệ hợp tác hữu nghị trong bối cảnh quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nhà nước
Đề tài “Quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào giai đoạn 2000- 2015:
Nghiên cứu trường hợp quan hệ giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào” được
thực hiện nhằm góp phần đánh giá rõ thực trạng quan hệ giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào, qua đó nhận diện những thành tựu và hạn chế trong quá trình hợp tác Bên cạnh đó, luận văn cũng dự báo những triển vọng trong quan
hệ giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào trong thời gian tới góp phần không ngừng vun đắp mối quan hệ truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào
mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững
Trang 117
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào là mối quan hệ quốc tế thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu có hạn của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ đề cập đến một số công trình và bài viết tiêu biểu có liên quan sau đây
- Lê Đình Chỉnh, “Quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào trong
giai đoạn 1954-2000”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Nội dung của
tác phẩm đã đề cập đến mối quan hệ hợp tác hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 2000 trên tất
cả các lĩnh vực hợp tác, đặc biệt, tác giả đã chỉ ra các thành tựu nổi bật của mối quan hệ này
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á,
“Tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia: từ lí thuyết đến thực
tiễn”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010 Trong tác phẩm này, các tác giả
đã phân tích những cơ sở lí luận và thực tiễn của mối quan hệ giữa ba nước, cũng như những giải pháp nhằm phát triển hơn nữa cho mối quan hệ trong bối cảnh mới
- Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Đảng Cộng Sản Việt Nam, “Lịch sử
quan hệ đặc biệt Việt Nam –Lào, Lào – Việt Nam giai đoạn 1930 – 2007”,
Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2012 Với kết cấu gồm nhiều tập: Văn kiện Đảng và Nhà nước, Biên niên sự kiện, Hồi kí các chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào qua các thời kì, Các bài viết của lãnh đạo Đảng và nhà nước, Lịch sử mối quan hệ, Cuốn sách ảnh và Bộ phim tài liệu “Bản anh hùng ca quan hệ Việt - Lào”, nội dung bộ sách nói về mối quan
hệ giữa Việt Nam và Lào từ 1930 đến 2007, tức là mối quan hệ song phương xuyên suốt các thời kì cách mạng cứu nước cho đến giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay Đây là bộ sách khá tiêu biểu về mối quan hệ hợp tác toàn diện
Trang 128
giữa hai nước Việt Nam và Lào từ 1930 đến những năm gần đây, thể hiện khá đầy đủ quan điểm chính trị của hai Đảng, hai nhà nước về mối quan hệ đặc biệt này
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới,
“Vai trò của chính quyền địa phương trong hợp tác tiểu vùng sông Mê Công
mở rộng”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2011 Nội dung của tác phẩm đề
cập tới những lợi thế cũng như chức năng, nhiệm vụ của mỗi địa phương trong việc xây dựng tiểu vùng sông Mê Công mở rộng Tác phẩm đã nêu lên thực trạng và những đóng góp của từng địa phương nhằm phát triển hơn nữa Tiểu vùng trong khuôn khổ hợp tác đa phương
Ngoài ra, còn rất nhiều các bài viết về mối quan hệ chung giữa Việt
Nam và Lào Đó là tập kỷ yếu về “Hội thảo khoa học quốc tế về mối quan hệ
Việt Nam – Lào (1930 – 2007)” do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện
Khoa học Xã hội Quốc gia Lào tổ chức, được Nxb Khoa học Xã hội in ấn và phát hành năm 2007 Bên cạnh đó còn có một số bài viết tiêu biểu đăng trên các tạp chí của các tác giả đều có liên quan đến quan hệ Việt- Lào như:
- Trương Duy Hòa, Phối hợp ngoại giao giữa Việt Nam và Lào từ năm
1975 đến nay, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7/2007; Hà Nội, tr.18 –
23 “Kinh tế miền Bắc Lào và khả năng hợp tác với khu vực Tây Bắc Việt
Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á; số 8/2007; Hà Nội, tr 20 – 29
“Hành lang kinh tế Đông Tây và tác động của nó đến Lào và quan hệ Lào –
Viê ̣t Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á , số 11/2008 “Tam giác phát triển Campuchia – Lào – Viê ̣t Nam: Một số quan điểm và lợi thế của ba tỉnh Nam Lào”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á , số 10/2009 “Vị thế địa - chiến lược của Lào trong sự cạnh tranh tại Đông Nam Á giữa cá c cường quốc ”,
Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới , số 3/2010 “Một số vấn đề
kinh tế nổi bật của Lào hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số
Trang 139
9/2010; tr 7-12 “Nông – lâm nghiệp và công nghiệp trong lựa chọn chiến
lược phát triển bền vững ở Lào và khả năng hợp tác với Việt Nam”, Tạp chí
Nghiên cứu kinh tế, Viện Kinh tế Việt Nam; số 10/2012; tr 68-76 “Quan hệ
đầu tư và thương mại Việt Nam – Lào hiện nay: Thực trạng và kiến nghị”,
Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11/2013, tr 29-39; v.v
Vũ Dương Huân (2007), “Thành tựu hợp tác đặc biệt, toàn diện Việt -
Lào trong thời kì đổi mới”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 8/2007 Dương Minh
Huệ (2011), “Hợp tác đào tạo cán bộ - một biểu hiện nổi bật của mối quan hệ
đặc biệt Việt – Lào”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 9/2011, v.v
Nhìn chung, các tác phẩm và các bài viết trên đã phản ánh khá đầy đủ mối quan hệ Việt - Lào qua các thời kì lịch sử, cả về những thành tựu và khó khăn dưới nhiều lăng kính và góc độ tiếp cận khác nhau; đồng thời đã đề xuất được một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy mối quan hệ Việt - Lào tiếp tục phát triển
Về mối quan hệ hợp tác giữa một địa phương của Việt Nam với một địa
phương của Lào có đề tài: Phan Thị Hải Yến ( 2015), Hợp tác kinh tế và giáo
dục giữa thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Nam Lào từ năm 2009 – 2013, Khoa
Quốc tế - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội Đây là đề tài có tính mới khi đánh giá về mối quan hệ trong hai lĩnh vực là kinh tế và giáo dục giữa thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Nam Lào Đồng thời cũng đưa
ra một số giải pháp để thúc đẩy mối quan hệ giữa hai bên lên một tầm cao mới
Tuy nhiên, những công trình hay bài viết đề cập đến mối quan hệ hợp tác giữa các địa phương Việt Nam và Lào chưa có nhiều, nhất là không thấy các bài viết đề cập đến quan hệ hợp tác giữa các địa phương hai nước có chung đường biên giới Đây chính là khoảng trống nghiên cứu đang đặt ra cho luận văn
Trang 1410
Với mong muốn góp phần vào việc xây dựng mối quan hệ hợp tác giữa các địa phương Việt Nam và Lào nói chung, giữa tỉnh Sơn La và các tỉnh
thuộc khu vực Bắc Lào nói riêng, Luận văn “Quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào
giai đoạn 2000- 2015: Nghiên cứu trường hợp quan hệ giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào” được hoàn thành hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ trong
nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa các địa phương hai nước dưới góc nhìn khoa học, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa hai bên
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đã khái quát được mối quan hệ giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào trong giai đoạn từ năm 2000-2015 Kế thừa truyền thống tốt đẹp trong quan hệ giữa hai nước Việt – Lào, luận văn đóng góp thêm vào việc nghiên cứu hi nước nói chung, mà con mối quan hệ giữ hai địa phương của hai nước nói riêng
Đề tài “ Quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào giai đoạn 2000- 2015: Nghiên cứu trường hợp giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào” nhằm đưa ra các mục tiêu sau :
+ Nêu ra các thành tựu trong mối quan hệ giữa hai nước Việt- Lào, từ đó đưa ra được chính sách ngoại gio của hai nước sẽ tác động như thế nào đối với chính sách hợp tác của tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào
+ Đưa ra các thành tựu trong hợp tác giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào về: chính trị, an ninh quốc phòng, giáo dục,…từ năm 2000- 2015
+ Nêu ra được những khó khăn hạn chế trong mối quan hệ hợp tác, từ đó tìm ra phương hướng giải quyết các khó khăn để thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa Sơn La với các tỉnh Bắc Lào
Trang 1511
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Những nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đã thực hiện như sau:
+ Thu thập tài liệu, tái hiện tình hình hợp tác giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào giai đoạn 2000- 2015
+ Phân tích các lĩnh vực hợp tác giữa Sơn La với các tỉnh Bắc Lào
+Đưa ra nhận xét, đánh giá về giai đoạn phát triển, đặc biệt phân tích các nguyên nhân gây ra khó khăn cho mối quan hệ giữa hai bên
+ Chỉ ra những điểm mạnh, yếu trong chính sách hợp tác
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ hợp tác giữa Việt Nam
và Lào qua nghiên cứu trường hợp quan hệ giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh phía Bắc, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên không gian hợp tác giữa tỉnh
Sơn La (Việt Nam) và 8 tỉnh Bắc Lào bao gồm: Hủa Phăn, Luông Pha Bang,
Bò Kẹo, Phông Sa Lỳ, U Đôm Xay, Luông Nậm Thà, Xiêng Khoảng và Xay Nha Bu Ly
- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu mối quan hệ hợp tác giữa
tỉnh Sơn La (Việt Nam) và các tỉnh Bắc Lào trong khoảng thời gian từ năm
Trang 1612
Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các hướng tiếp cận đa ngành và liên ngành trong các bộ môn nghiên cứu khoa học xã hội phổ biến như: xã hội học, chính trị học, kinh tế học, văn hóa học, v.v
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành và đa ngành; trong đó đặc biệt vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, thống kê,
so sánh, đối chiếu các số liệu và tư liệu có liên quan, v.v
- Đây là đề tài liên quan đến quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam và Lào; vì vậy, luận văn có phân tích và đánh giá các văn bản, tài liệu hợp tác giữa hai bên; đồng thời có kế thừa và sử dụng những kết quả nghiên cứu của các cơ quan Trung ương và địa phương về những vấn đề có liên quan đến nội dung đề tài
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
có kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát quan hệ hợp tác giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào trước năm 2000
Chương 2: Quan hệ hợp tác giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào giai đoạn 2000- 2015
Chương 3: Triển vọng quan hệ hợp tác giữa Sơn La với các tỉnh Bắc Lào trong thời gian tới
Trang 1713
Chương 1 KHÁI QUÁT QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA TỈNH SƠN LA VỚI CÁC TỈNH BẮC LÀO TRƯỚC NĂM 2000
1.1 Đặc điểm về địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh Sơn La và các tỉnh Bắc Lào
►Đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên của Sơn La
Sơn La là một tỉnh miền núi, nằm ở trung tâm vùng Tây Bắc của Việt Nam với diện tích 14.174 km2 ( chiếm gần 4,2 % diện tích của cả nước) Với đặc điểm 73% diện tích chủ yếu là đồi núi nên giao thông đi lại rất khó khăn Phía Bắc giáp với các tỉnh: Yên Bái và Lai Châu ( 252 km) và giáp với 2 tỉnh Phú Thọ và Hòa Bình (135km) ở phía Đông, phía Nam giáp với tỉnh Thanh Hóa (42km)và tỉnh Hủa Phăn và Luông Pha Băng của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ( 250km) với hai cửa khẩu quốc gia là Lóng Sập và Chiềng Khương, phía Tây giáp với tỉnh Điện Biên (85km) Sơn La có 12 đơn vị hành chính:1 thành phố và 11 huyện
Bản đồ tỉnh Sơn La
Trang 1814
Địa hình của tỉnh Sơn La chia thành những vùng đất có đặc trưng sinh thái khác nhau Sơn La có hai cao nguyên lớn là cao nguyên Mộc Châu và cao nguyên Nà Sản Cao nguyên Mộc Châu có độ cao trung bình 1.050 m so với mực nước biển, mang đặc trưng của khí hậu cận ôn đới, đất đai màu mỡ phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển cây chè, cây ăn quả và chăn nuôi bò sữa Cao nguyên Nà Sản có độ cao trung bình 800 m, chạy dài theo trục quốc lộ 6, đất đai phì nhiêu thuận lợi cho phát triển cây mía, cà phê, dâu tằm, xoài, nhãn, dứa… Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh khô, mùa
hè nóng ẩm, mưa nhiều Địa hình bị chia cắt sâu và mạnh, hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu cho phép phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp phong phú Cao nguyên Mộc Châu rất phù hợp với cây trồng và vật nuôi vùng
ôn đới Vùng dọc sông Đà phù hợp với cây rừng nhiệt đới quanh năm
Khí hậu Sơn La chia làm hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa Nhiệt
độ trung bình năm là 21,40C (trung bình tháng cao nhất 27 0 C, tháng thấp nhất 16 0 C) Lượng mưa trung bình hàng năm 1.200 - 1.600 mm, độ ẩm không
khí bình quân là 81%
Như vậy Sơn La không có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế nhưng
là một tỉnh có vị trí hết sức quan trọng cho việc đảm bảo an ninh quốc phòng của Việt Nam với nước bạn Lào Trải qua lịch sử quan hệ lâu đời cho đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ và nay là thời kỳ xây dựng đất nước trong thời bình, nhân dân Sơn La luôn gắn bó với các tỉnh Bắc Lào cả trong chiến đấu và xây dựng phát triển nhằm duy trì quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước
►Đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên của các tỉnh Bắc Lào
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là một nước ở trung tâm bán đảo Đông Dương, không có đường thông ra biển với diện tích 236.800 Km2, Phía Bắc giáp Trung Quốc 416 km đường biên; Tây Bắc giáp Myanmar ( 235) km; Tây
Trang 1915
Nam giáp Thái Lan (1.730 km); Nam giáp Campuchia (492 km) và phía Đông giáp Việt Nam ( 2.067 km) Để phát triển kinh tế đất nước trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, Lào rất nỗ lực kết nối với các nước bạn
Vùng Bắc Lào gồm 8 tỉnh: Hủa Phăn, Luông Pha Bang, U Đôm Xay,
Bò Kẹo, Luông Nậm Thà, Phông Sa Lỳ, Xiêng Khoảng và Xay Nha Bu Ly Các tỉnh này nằm cách thủ đô Viêng Chăn từ 400-800 km, trong đó 2 tỉnh tiếp giáp với Sơn La là Luông Pha Bang và Hủa Phăn Đặc điểm khu vực này chủ yếu là vùng rừng núi chiếm tới 70%, trong khi vùng đồng bằng chiếm tỉ lệ rất nhỏ chỉ có 30%
Bản đồ các tỉnh Bắc Lào
Miền Bắc Lào là khu vực địa lý có diện tích tự nhiên khá rộng và có nhiều tiềm năng lớn để phát triển kinh tế, trong đó có tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử Tuy nhiên, do những hạn chế về
Trang 2016
địa hình và chế độ thủy văn, mạng lưới giao thông chưa phát triển, xa các trung tâm kinh tế lớn, lại giáp với các vùng nghèo hơn của các nước láng giềng như Tây Bắc (Việt Nam), Đông Bắc (Thái Lan), Vân Nam ( Trung Quốc), việc giao lưu kinh tế với bên ngoài còn hạn chế, nên vùng Bắc Lào vẫn là vùng chậm phát triển hơn của CHDCND Lào 1
Miền Bắc Lào có diện tích đất khoảng 12.291.000 ha, trong đó nông nghiệp đang sử dụng khoảng 184.989 ha, chiếm tỉ trọng rất nhỏ (1,5%) so với đất tự nhiên Đất lâm nghiệp được sử dụng khoảng 4.666.471 h.a chiếm 38% Diện tích chưa được sử dụng vào các mục đích kinh tế chiếm khoảng 7.439.540 ha, chiếm 60,5% ; trong đó khoảng 20 % có khả năng sản xuất nông nghiệp, 60% có khả năng sản suất lâm nghiệp, 20% còn lại là diện tích
có thể sử dụng cho mục đích xây dựng, công nghiệp và các mục đích khác Đất có khả năng sản xuất nông nghiệp của miền Bắc Lào rất thích hợp để trông các loại cây như ngô, đậu tương, cao lương, rau quả phục vụ tiêu dùng trong nước và chế biến xuất khẩu
Miền Bắc Lào được thiên nhiên ưu ái về các loại tài nguyên nhất là tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản… đã góp phần không nhỏ vào sự phát tiển kinh tế của cả vùng Tuy nhiên cho đến nay các loại tài nguyên quý hiếm này đã bị suy giảm do các hoạt động khai thác của con người Tài nguyên du lịch sinh thái, văn hóa và lịch sử: gồm các danh lam thắng cảnh (hang động, thác nước đẹp…), cố đô Luông Pha Băng, Cánh Đồng Chum, các khu rừng nguyên sinh, khu bảo tồn thiên nhiên, các điểm du lịch văn hóa, các lễ hội truyền thống của các bộ tộc Lào, là những nguồn lực quan trọng góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế của toàn vùng Bắc Lào Với tiềm năng to lớn về du lịch cảnh quan sinh thái và lịch sử văn hóa, cùng
1
Trương Duy Hòa, Kinh tế Bắc Lào và khả năng kết hợp Kinh tế miền Bắc Lào và khả năng hợp tác
với khu vực Tây Bắc Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 8,tr 20
Trang 2117
với hệ thống giao thông đường bộ, đường hàng không ngày càng phát triển, miền Bắc Lào có khả năng hội nhập và kết nối du lịch các quốc gia khác trong tiểu vùng Mê Kông như Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia.2
Mặc dù có điều kiện khá thuận lợi về vị trí địa lý vì tiếp giáp với 4 nước láng giềng, các hoạt động kinh tế đối ngoại của vùng Bắc Lào vẫn chỉ giới hạn ở các hoạt động thương mại, du lịch quy mô nhỏ của tư nhân trong nước
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chiếm vị trí quan trọng trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội Tuy nhiên, nguồn vốn này phụ thuộc vào chính sách điều tiết ODA của chính phủ
1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội , văn hóa của tỉnh Sơn La
và các tỉnh Bắc Lào trước năm 2000
* Sơn La:
Trước năm 1986, mặc dù kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La, nhân dân các dân tộc Sơn La đã hăng hái thi đua lao động sản xuất, vượt qua những khó khăn, thử thách, vừa chuyển hướng sản xuất, khắc phục hậu quả chiến tranh và thiên tai, vừa nhanh chóng ổn định lại tổ chức và hoạt động sản xuất Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, V và các Nghị quyết Đại hội Đại hội lần thứ IV, V, VI, VII của Đảng bộ tỉnh, nhân dân Sơn La đã triển khai và thực hiện các phong trào cách mạng ở địa phương, hòa nhịp với phong trào của cả nước, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng kinh tế - xã hội của Đảng bộ đã đề ra, ổn định đời sống, hoàn thành kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ ba (1981-1985), giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm
an toàn trật tự xã hội Công tác quản lý kinh tế, tổ chức lao động, chăm lo đời
2 Trương Duy Hòa, Kinh tế Bắc Lào và khả năng kết hợp Kinh tế miền Bắc Lào và khả
năng hợp tác với khu vực Tây Bắc Việt Nam,tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 8, tr 21.
Trang 22mạnh: “Nền kinh tế tự cấp tự túc vẫn là cơ bản, chưa được tổ chức sản xuất
theo hướng kinh tế nông - lâm - công nghiệp hợp lý, sản xuất nông nghiệp chưa thực sự chú trọng thâm canh tăng vụ, công nghiệp nói chung còn nhỏ
bé, 80% lao động dồn vào sản xuất nông nghiệp, lưu thông phân phối rối ren, hàng hóa khan hiếm, giá cả thị trường biến động Mặt khác, việc định canh, định cư cho đồng bào, di chuyển dân khỏi vùng lòng hồ Sông Đà chưa ổn định, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn.”
Kiên trì, bền bỉ vượt khó trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ Sơn La vận dụng sáng tạo những đường lối chủ trương đổi mới của Đảng cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể ở địa phương, nền kinh tế Sơn La bước đầu có sự khởi sắc, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa, bước đầu phát huy các lợi thế kinh tế miền núi như mặt trận kinh tế nông nghiệp có bước chuyển biến rõ rệt Tỷ lệ cây công nghiệp, cây thực phẩm tăng từ 9% (1985) lên 14% (1990) so với tổng diện tích gieo trồng Hầu hết các đơn vị kinh tế đều chuyển từ sản xuất hàng hóa đơn điệu sang chuyên môn hóa, đa dạng hóa sản phẩm cung cấp phong phú cho thị trường Một trong những thành công lớn nhất của chính sách đổi mới
ở tỉnh Sơn La là: đã bước đầu hình thành kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động sản xuất kinh doanh sôi động ,kinh tế hộ gia đình phát triển mạnh dưới nhiều hình thức 3
3 Phạm Xuân Thu (2012), Chính trị - Luật: nguồn nhân lực cần thiết cho việc xây dựng, củng cố khối đại
đoàn kết dân tộc ở vùng Tây Bắc, Hội thảo khoa học Quốc gia, Đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Sơn La và vùng Tây Bắc trong tiến trình hội nhập, NXB Thống kê, tr.535
Trang 2319
*Bắc Lào:
Nhìn chung giai đoạn trước 1975, đời sống nhân dân Lào chịu nhiều khó khăn vất vả, kinh tế trì trệ kém phát triển khi sản xuất chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp lạc hậu là chính với lực lượng lao động chiếm tới 85% dân số Hơn thế nữa việc trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ làm cho nước Lào ngày càng k iệt quệ
Mặc dù là nước nông nghiệp nhưng giai đoạn này tình trạng thiếu đói thường xuyên xảy ra buộc Lào phải nhập khẩu mới đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân Phân phối hàng hóa cũng bị hạn hẹp chủ yếu là ở thủ đô Viêng Chăn hoặc một số thành thị lớn
Cơ sở hạ tầng lúc bấy giờ rất hạn chế và kém phát triển, đặc biệt ở các vùng sâu vùng xa, cả nước chỉ có hơn 5000km đường đất, về mạng lưới y tế thì hầu như chưa có
Về giáo dục, dân số cả nước hầu như không được đi học, với con số của các cơ sở đào tạo là : 1 trường trung học và 6 trường tiểu học, tập trung chủ yếu ở thủ đô Viêngchăn, đối tượng phục vụ chủ yếu là con cái các quan lại phong kiến Tỉ lệ mù chữ thời kì này đạt hơn 90% số trẻ đi học
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng và nước CHDCND Lào ra đời ngày 2/12/1975, nhân dân Lào cùng Đảng NDCM Lào đã lãnh đạo nhân dân Lào, khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân, dần đưa Lào thoát khỏi cảnh trì trệ kém phát triển Cũng giống như Việt Nam, Lào áp dụng
mô hình kinh tế tập trung, bao cấp
Sau Nghị quyết Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ IV (1986), công cuộc đổi mới tại Lào đã tạo ra sự thay đổi toàn diện trên mọi mặt đời sống xã hội Đổi mới kinh tế được triển khai với hai nội dung cơ bản: Điều chỉnh cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Bản thân nước Lào vẫn là nước thuần nông nghiệp nên Lào xác định nông - lâm nghiệp là ưu tiên hàng đầu
Trang 24nước ngoài làm động lực để phát triển kinh tế Trong giai đoạn1991 - 1995,
Lào phấn đấu đạt tăng trưởng GDP bình quân 6,4%/năm, thu nhập quốc dân đạt 344 USD/người vào năm 1995; xuất nhập khẩu đạt con số tương ứng 274,3 triệu USD và 485,5 triệu USD vào năm 1995 Kể từ năm 1988, Lào bắt đầu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với số dự án và số vốn ngày càng gia tăng Tính đến cuối kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1991- 1995) Chính phủ Lào đã cấp giấy phép cho 589 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 5,6 tỷ USD 4
Bước sang kế hoạch 5 năm lần thứ tư (1996 - 2000), do chịu tác động
nặng nề của khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á (1997 - 1998) khởi phát tại Thái Lan khiến đồng tiền Kíp của Lào mất giá, bị lạm phát ở mức kỷ lục 142,01% vào năm 1998, sau giảm xuống còn 86,46% năm 1999, rồi ổn định dần với mức trên dưới 10% kể từ năm 2000 đến 2011 Mặc dù vậy, trong giai đoạn này kinh tế Lào vẫn đạt mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 5,8%/năm ( xem bảng 1.1), xuất khẩu đạt 324 triệu USD và nhập khẩu đạt
540 triệu USD vào năm 20005
4 Nguồn : Uỷ ban Kế hoạch Đầu tư Lào năm 2005
5 Website:www tcnn.vn, 2012, Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế của Lào, giai đoạn 1991- 2011, TP
HCM
Trang 2521
Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Lào (1995-2000)
Nguồn: Uỷ ban Kế hoạch và Đầu tư năm 2005
Cùng với bối cảnh cả đất nước Lào có những thay đổi theo hướng tích cực, đời sống nhân dân các tỉnh Bắc Lào sau cải cách cũng được cải thiện hơn Tuy nhiên Lào vẫn là một nước nghèo Tỷ lệ đói nghèo được thể hiện
qua bảng sau đây
Bảng 1.2 Chỉ số đói nghèo chia theo vùng miền và các tỉnh của Lào
Nguồn : Uỷ ban Kế hoạch Đầu tư Lào và Ngân hàng thế giới, “ xu hướng nghèo đói
của Lào từ năm 1992/93 – 2002/03” ( 2004) tr 34, bảng 3
Trang 2622
Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy sự phân chia đói nghèo trên cả nước
không có sự chênh lệch nhiều Trong 2002/03, tỷ lệ đói nghèo ở miền Bắc (37,9%),miền Trung (35,4%), miền Nam là 32,6 trong khi tỷ lệ đói nghèo của
cả nước là 33,5 % Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể giữa các tỉnh trong mỗi vùng Thủ đô Vientiane có tỷ lệ người nghèo thấp nhất trong cả nước
Giai đoạn 1992/1993 ở Miền Bắc nghèo nhất là các tỉnh Hủa Phăn ( 71,3
%) và Phong Sa lỳ ( 72,0%) nhưng đến giai đoạn 1997/1998 chỉ có tỉnh Phong Sa Lỳ có tỷ lệ nghèo đói giảm còn 57,9% , còn tỉnh Hủa Phăn không giảm mà còn giữ nguyên chỉ số đói nghèo vào năm 1997/1998
Giai đoạn từ năm 1992/93 đến năm 2002/2003 Tại Xaynhabuny , tỷ lệ đói nghèo tăng lên từ 22,4% năm 1992/93 lên 25,0% vào năm 2002/2003 sau khi giảm xuống 17,7% vào năm 1997/98 Trong cùng thời kỳ, Bò Kẹo và Luông Nậm Thà đã trải qua một công cuộc giảm nghèo đáng kể: tỷ lệ đói nghèo giảm từ hơn 40% xuống còn 21-22%
Ngoài việc đánh giá kinh tế xã hội qua các chỉ số đói nghèo vừa phân tích nêu trên, các tiêu chí để đánh giá toàn diện đời sống kinh tế xã hội của Bắc Lào được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.3: Những “bẫy” gây ra tình trạng kém phát triển cho các tỉnh của Lào 6
Tỉnh
GDP trên đầu người
Tỉ lệ mù chữ từ 15 tuổi trở lên
Tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh
6 Yves Bourdet, Cheltenham, Edward Elgar (2000), The Economics of Transition in Laos: From
Socialism to ASEAN Integration, ISEAS, Singapore
Trang 27tỉnh Bắc Lào trước năm 2000
Lào và Việt Nam là hai nước láng giềng có những đặc điểm tương đồng
về địa lý, lịch sử và văn hóa Những đặc điểm đó đã tạo ra những thuận lợi cho mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước, được đặt nền móng bởi các nhà lãnh đạo tiền bối của hai nước : Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cay Xỏn Phôm Vi Hẳn và Chủ tịch Xuphanavông
Trang 2824
Ngày 5/9/1962 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký biên bản thiết lập quan hệ ngoại giao với Chính phủ Liên hiệp Vương quốc Lào, đánh dấu một mốc son quan trọng trong mối quan hệ giữa hai nước Chính nhiệm vụ cách mạng của hai nước đã nâng tầm mối quan hệ giữa hai bên lên một tầm cao,
đó chính là mối quan hệ thủy chung, bền chặt và hiếm có trên thế giới
Kế tiếp truyền thống tốt đẹp giữa hai nước, hai chính phủ, chính quyền
và nhân dân Sơn La và các tỉnh Bắc Lào đã cụ thể hóa, kế thừa, phát triển thành mối quan hệ đặc biệt giữa hai địa phương của hai nước Với những đặc điểm thuận lợi về địa lý là chiều dài 250 km đường biên giới với tỉnh Hủa Phăn và Luông Pha Băng của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Sơn La
và các tỉnh Bắc Lào đã thúc đẩy mối quan hệ giữa hai bên dựa trên tổng đường lối ngoại giao mà hai Đảng, hai Nhà nước đã đề ra
Những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Sơn
La là địa bàn trọng yếu, hậu phương vững chắc cho căn cứ địa cách mạng Viêng Xay của Lào ở tỉnh Hủa Phăn Nhân dân một số bản giáp ranh biên giới Sơn La đã tận tình giúp đỡ, nuôi giấu những cán bộ cách mạng trong lúc cách mạng Lào còn trong giai đoạn khó khăn Một số cán bộ chủ chốt của cách mạng Lào, trong đó có vị lạnh tụ Cay Xỏn Phôm Vi Hẳn được nhân dân các dân tộc Sơn La tại bản Lao Khô, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn
La giúp đỡ, che chở trong những năm 1950 - 1960 của thế kỷ XX 7
Giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1969
Trước những yêu cầu cách mạng của dân tộc, để thực hiện nhiệm vụ của Trung ương giao, từ năm 1967 tỉnh Sơn La đã thành lập bộ phận theo dõi công
tác C (trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh) Đến năm 1969, Ban Miền Tây tỉnh
7 Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La – Sở Ngoại vụ (2010), “Kết quả thực hiện nhiệm vụ hợp tác với các tỉnh Bắc
Lào qua các thời kì”, tỉnh Sơn La
Trang 2925
Sơn La được thành lập (sau này đổi tên thành Ban công tác C - Kiêm ngoại vụ)
với chức năng thực hiện quan hệ quốc tế với nước bạn Lào
Tháng 11/1969, tại Viêng Xay (tỉnh Hủa Phăn) đoàn đại biểu cấp cao hai tỉnh Sơn La - Hủa Phăn đã tổ chức hội đàm và ký kết Biên bản ghi nhớ - đây là văn bản hợp tác đầu tiên mà tỉnh Sơn La tổ chức ký kết với 1 trong 8 tỉnh Bắc Lào Đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Sơn La do đồng chí Cầm Liên - Phó bí thư tỉnh
ủy, Chủ tịch UBND tỉnh (kiêm Trưởng ban Miền tây tỉnh Sơn La) làm trưởng đoàn8
Giai đoạn từ năm 1969 đến 1984
Năm 1984, tỉnh Sơn La được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ kết nghĩa, hợp tác với tỉnh Hủa Phăn Về công tác biên giới, tỉnh Sơn La hợp tác với 2 tỉnh: Hủa Phăn và Luông Pha Bang Nhiệm vụ đối ngoại của tỉnh Sơn La giai đoạn này chủ yếu là tăng cường quan hệ hữu nghị và thực hiện công tác viện trợ cho Lào cũng như đào tạo cán bộ, giúp bạn xây dựng và củng cố chính quyền cơ sở; hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng an ninh Nguồn kinh phí cho mọi hoạt động
của cơ quan đối ngoại (kể cả các khoản viện trợ) đều do Trung ương cấp cho địa
phương để thực hiện theo từng năm
Ngoài công tác viện trợ, các hoạt động hữu nghị giữa tỉnh Sơn La và tỉnh Hủa Phăn thông qua các hoạt động như: trao đổi các đoàn đại biểu cấp cao; các đoàn công tác của các cấp, các ngành và các đoàn thể ; công tác tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của hai Đảng, hai Nhà nước về truyền thống đoàn kết và hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào
Hợp tác về kinh tế trong giai đoạn này chủ yếu mới chỉ là trao đổi mậu dịch địa phương Tỉnh Sơn La cung cấp cho Bạn một số hàng hóa thiết yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt Phía Bạn cung cấp cho tỉnh Sơn La một số mặt hàng là sản phẩm nông lâm sản.9
8 Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La – Sở Ngoại vụ (2010), tài liệu đã dẫn, tỉnh Sơn La
9 Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La – Sở Ngoại vụ (2010), tài liệu đã dẫn, tỉnh Sơn La
Trang 3026
Giai đoạn 1984 – 1989
Tỉnh Sơn La được TW giao nhiệm vụ kết nghĩa và hợp tác với tỉnh Bò Kẹo Tháng 8/1984, đoàn công tác đầu tiên của tỉnh Sơn La sang khảo sát tại tỉnh Bò Kẹo để chuẩn bị cho việc ký kết hợp tác giữa hai tỉnh Đoàn do đồng chí Nguyễn Như Hải, Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch tỉnh Sơn La làm trưởng đoàn Tháng 8/1985, đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Sơn La do đồng chí
Lù Que, Ủy viên Ban thường vụ tỉnh ủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng đoàn sang thăm làm việc tại Bò Kẹo, tại Huổi Sài, hai đoàn đại biểu cấp cao hai tỉnh Sơn La và Bò Kẹo đã ký kết biên bản ghi nhớ đầu tiên giữa hai tỉnh
Nhiệm vụ của tỉnh Sơn La giai đoạn này chủ yếu là giúp tỉnh Bò Kẹo xây dựng chính quyền cơ sở và đào tạo cán bộ Ngoài ra còn giúp bạn xây dựng một
số công trình kết cấu hạ tầng
Từ năm 1990 - 2000
Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, mối quan hệ hợp tác hữu nghị và giúp đỡ lẫn nhau giữa tỉnh Sơn La và các tỉnh Bắc Lào không ngừng được tăng cường và phát huy hiệu quả Từ chỗ chỉ quan hệ hợp tác với các tỉnh giáp biên giới, đến nay tỉnh Sơn La đã có mối quan hệ hợp tác toàn diện
với 8 tỉnh phía Bắc của nước CHDCND Lào (gồm: Hủa Phăn, Luông Pha Bang,
Bò Kẹo, Phông Sa Lỳ, U Đôm Xay, Luông Nậm Thà, Xiêng Khoảng, Xay Nha Bu Ly).10
10 Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La – Sở Ngoại vụ (2010), tài liệu đã dẫn, tỉnh Sơn La
Trang 3127
Tiểu kết chương 1 Mặc dù Sơn La là một tỉnh nghèo của cả nước nhưng lại là tỉnh có vị trí
chiến lược trong quan hệ giữa hai nước Việt – Lào Với đường biên giới có chiều dài 250km, Sơn La là địa bàn xung yếu, là đầu mối triển khai hợp tác trực tiếp với các tỉnh Bắc Lào Lịch sử đã chứng minh rằng cách mạng hai dân tộc phải gắn bó, dựa vào nhau mới thành công Bước sang thời kỳ đổi mới hiện nay, thời kỳ của hợp tác khu vực và quốc tế về kinh tế thương mại
và quan hệ quốc tế, đã làm cho các nước càng gắn chặt lợi ích hơn với nhau, quan hệ Việt – Lào cũng không đứng ngoài xu thế đó, đó là sự đan xen giữa lợi ích quốc gia với lợi ích của các địa phương giữa hai bên với nhau Trong bối cảnh đó, quan hệ Sơn La với các tỉnh Bắc Lào được triển khai ngày càng sâu rộng, không ngừng nâng cao cả chất và lượng trong giai đoạn đầu của thế
kỷ XXI
Trang 3228
Chương 2 QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA TỈNH SƠN LA VỚI CÁC TỈNH BẮC LÀO GIAI ĐOẠN 2000-2015
2.1 Khái quát quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào giai đoạn 2000 -2015 2.1.1 Đường lối đối ngoại của Việt Nam
Mối quan hệ Việt Nam – Lào là mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, thủy chung, mang tinh thần quốc tế trong sáng, là mối quan hệ hiếm có trên thế giới giữa hai quốc gia Mối quan hệ đó đã được được thử thách qua những thăng trầm của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của hai nước
Sau chiến tranh, nhiệm vụ của hai quốc gia là phục hồi kinh tế, ổn định chính trị xã hội, quan hệ giữa hai nước được hiện thực hóa qua những chủ trương chính sách của hai bên
Đại hội VII (1991) của Đảng đã đưa ra vấn đề phát triển đường lối ngoại giao, đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”, với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Tại Đại hội VII đã đổi mới chính sách đối ngoại với các đối tác cụ thể Với Lào và Campuchia, thực hiện đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả trên tinh thần bình đẳng Với Trung Quốc, Đảng chủ trương thúc đẩy bình thường hoá quan hệ, từng bước mở rộng hợp tác Việt – Trung Trong quan hệ với khu vực, chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị với các nước Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, phấn đấu cho một Đông Nam Á hoà bình, hữu nghị và hợp tác Đối với Hoa Kỳ, Đại hội nhấn mạnh nhu cầu thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam –Hoa Kỳ
Trang 3329
Tại Hội nghị Trung ương III khóa VII (6/1992) đã nhấn mạnh yêu cầu
đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế để thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý từ nước ngoài vào nhưng vẫn dựa trên cơ sở độc lập tự chủ, đảm bảo an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên môi trường, hạn chế thấp nhất những tiêu cực trong quá trình mở cửa
Đến Đại hội Đảng lần thứ VIII cũng đã khẳng định tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị của khu vực và quốc tế Đồng thời chủ trương xây dựng nền kinh tế mở và đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Một đặc điểm mới của Đại hội lần này là: mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và đảng khác
Kế thừa từ các Đại hội trước, Đại hội IX (4/2001) đã phát triển từ phương châm: “Việt Nam muốn là bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triền” thành “ Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
Từ năm 2000, hai nước duy trì đều đặn các cuộc gặp cấp cao thường
niên giữa hai Bộ Chính trị, lấy đó là phương châm chỉ đạo chung cho quan hệ hợp tác mọi mặt ở các cấp, coi việc thực hiện những thỏa thuận cấp cao là khâu quyết định Trong chuyến thăm chính thức Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (7/2001), hai bên ra Tuyên bố chung khẳng định quan hệ chính trị vững chắc, tiếp tục vun đắp tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào Tại cuộc thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Chủ tịch nước Khăm-tày Xi-phăn-đon (5/2002), hai bên nhấn mạnh quyết tâm tăng cường hơn nữa quan hệ Việt Nam - Lào trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, luật pháp của nhau, bình đẳng cùng có lợi, nâng cao hiệu quả hợp tác, củng cố hòa bình, ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt, các chuyến thăm chính thức gần đây của lãnh đạo cấp cao hai nước sau Đại
Trang 3430
hội VIII (3-2006) Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2006), Đại hội XI (1/2011), Đại hội XII (1/2016) của Đảng Cộng sản Việt nam đã tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác hữu nghị không ngừng phát triển giữa Việt Nam và Lào
Bên cạnh đó hằng năm, hai bên trao đổi đoàn chính thức ở nhiều cấp, trong đó có các đoàn cấp bộ trưởng, đại biểu của các bộ, ngành, các tổ chức hữu nghị, đoàn thể nhân dân cũng như các tỉnh, thành phố Ngoài ra, Việt Nam và Lào còn phối hợp chặt chẽ trong các hoạt động ngoại giao, nhất là trên các diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, Tổ chức Pháp ngữ, Phong trào không liên kết, ASEM và các khuôn khổ hợp tác khu vực như ASEAN, Dự án xây dựng tuyến đường sắt xuyên Á, hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), Chương trình tam giác phát triển Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam (CLVDT) Việt Nam hoàn toàn ủng hộ Lào tham gia tổ chức APEC và WTO Sự đóng góp tích cực, hiệu quả của Việt Nam và Lào đối với hợp tác
đa phương được dư luận đánh giá cao, khẳng định uy tín và vị thế quan trọng của hai nước trong khu vực và trên thế giới
Như vậy từ năm 2000- 2015; chính sách hợp tác giữa Việt Nam và Lào là duy trì, phát triển quan hệ tốt đẹp vốn có của hai nước, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, hai bên càng phải tăng cường hợp tác hơn nữa để duy trì quan
hệ giữa hai bên “ mãi mãi xanh tươi đời đời bền vững”
2.1.2 Những kết quả nổi bật trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào giai đoạn 2000 – 2015
Cùng với quan hệ chính trị tốt đẹp sẵn có, quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Lào trong những năm gần đây ngày càng khởi sắc, góp phần tạo nền tảng vật chất để liên kết và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước Nhờ các chính sách ưu tiên, ưu đãi hợp lý của cả hai bên nên thương mại Việt Nam – Lào tăng trưởng đều trong những năm gần đây Tổng kim ngạch xuất, nhập
Trang 3531
khẩu giữa hai nước từ năm 2001 đến 2005 ước đạt 687,8 triệu USD, bình quân 137,56 triệu USD/năm Năm 2006, tổng kim ngạch hai chiều đạt 260 triệu USD năm 2011 Cùng với tăng trưởng thương mại là sự tiến bộ vượt bậc của hợp tác đầu tư Cho đến hết 2015, Việt Nam đã có 270 dự án đầu tư trực tiếp tại Lào với số vốn gần 5,12 tỷ USD và trở thành nước thứ hai trong số các nước đầu tư vào Lào, sau Trung Quốc Các dự án đầu tư của ta vào Lào tập trung có hiệu quả trong các lĩnh vực thủy điện, khai khoáng, giao thông vận tải, trồng cây công nghiệp…11
Không chỉ giới hạn trong hợp tác kinh tế, hợp tác trên các lĩnh vực khác cũng được quan tâm thúc đẩy Hợp tác giáo dục, đào tạo đã và đang là lĩnh vực được hai bên ưu tiên và được nâng lên cả về số lượng và chất lượng Hai bên cũng hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn Hợp tác giữa các địa phương giáp biên được chú trọng thúc đẩy, với việc hình thành các khu kinh tế và giao lưu buôn bán qua các cửa khẩu quốc tế và quốc gia Hợp tác an ninh – quốc phòng tiếp tục duy trì tốt với mức
độ tin cậy cao
Cùng với sự hợp tác trong khuôn khổ song phương, tình đoàn kết anh
em giữa Việt Nam và Lào còn được thể hiện rõ nét tại các diễn đàn khu vực
và quốc tế như LHQ, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức hợp tác kinh tế chiến lược ba dòng sông (ACMECS), Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), hợp tác bốn nước Campuchia – Lào – Myanmar – Việt Nam (CLMV), Tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia đã góp phần nâng cao uy tín và vị thế của mỗi nước trong khu vực và trên thế giới
Trong thời gian tới, trước những biến động phức tạp và khó lường của tình hình thế giới và yêu cầu phát triển của mỗi nước, hai nước đặt ưu tiên cao nhất cùng phấn đấu nâng quan hệ hữu nghị truyền thống tình đoàn kết đặc
11 Nguồn, Bộ kế hoạch và đầu tư Việt Nam
Trang 3632
biệt và sự hợp tác toàn diện Việt – Lào lên tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội nhập ngày càng sâu rộng và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế Để đạt được mục tiêu này, Lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí quyết tâm và thỏa thuận chỉ đạo các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, hai nước phấn đấu phối hợp làm tốt những trọng tâm sau:
Một là; không ngừng củng cố, giáo dục, phát triển và làm sâu sắc hơn
nữa mối quan hệ chính trị đặc biệt hiếm có không chỉ ở lãnh đạo cấp cao mà thấm sâu xuống các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ
Hai là; nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế song phương tương xứng với
quan hệ chính trị tốt đẹp sẵn có Phát triển hợp tác giữa các vùng, miền hai nước và hoàn thiện hơn nữa các chính sách ưu tiên, ưu đãi đã dành cho nhau Chủ động thúc đẩy hợp tác ở cả ba cấp: Chính phủ với Chính phủ, địa phương với địa phương và doanh nghiệp với doanh nghiệp nhằm tạo sự gắn kết và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nền kinh tế Trong từng thời kỳ, xác định một số trọng tâm hợp tác kinh tế cụ thể, phù hợp với khả năng, nhu cầu của mỗi nước và mang lại lợi ích cho cả hai phía; tập trung tổ chức thực hiện triệt để, đồng thời thường xuyên theo dõi giám sát để tháo gỡ kịp thời các vướng mắc phát sinh
Ba là; tiếp tục tăng cường sự hợp tác trong các lĩnh vực an ninh, quốc
phòng và cùng phối hợp nhằm chống lại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của mỗi nước, chia rẽ quan hệ hai nước
Bốn là; tích cực trao đổi thông tin về tình hình quốc tế và sự phối hợp
chặt chẽ tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhất là trong khuôn khổ các tổ chức mà hai bên cùng là thành viên
Dưới đây là những mốc quan trọng trong hợp tác giữa hai bên:
- Bản thoả thuận Chiến lược Hợp tác Kinh tế, Văn hoá, Khoa học Kỹ thuật giữa hai Chính phủ Việt Nam - Lào giai đoạn 2001-2010 (6/2/2001);
Trang 3733
- Hiệp định Hợp tác Kinh tế, Văn hoá, Khoa học Kỹ thuật giữa hai Chính phủ Việt Nam-Lào giai đoạn 2001-2005 (6/2/2001);
- Hiệp định tín dụng xây dựng đường 18B (7/2001);
- Thoả thuận giữa Việt Nam và Lào về Quy chế sử dụng cảng Vũng Áng (7/2001);
- Nghị định thư sửa đổi, bổ sung Hiệp định vận tải đường bộ ký ngày
24/02/1996 (7/2001);
- Nghị định Thư 2001 thực hiện Hiệp định đường bộ sửa đổi (7/2001);
- Nghị định Thư về Hợp tác Đào tạo cán bộ giữa 2 nước (01/2002);
- Thoả thuận về cơ chế tài chính và quản lý dự án sử dụng viện trợ của Chính phủ Việt Nam dành cho Chính phủ Lào (01/2002);
- Thoả thuận Viêng Chăn (8/2002);
- Hiệp định miễn thị thực cho công dân mang hộ chiếu phổ thông (ký ngày 05/4/2004 có hiệu lực từ ngày 01/7/2004);
- Hiệp định bổ sung Hiệp định tín dụng giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHDCND Lào (16/7/2004);
- Hiệp định về Hợp tác Kinh tế, Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ CHDCND Lào giai đoạn 2006-2010 (04/ 01/2006);
- Hiệp định Tạo điều kiện thuận lợi cho phương tiện cơ giới đường bộ qua lại biên giới giữa Việt Nam và Lào (23/4/2009);
- Thỏa thuận về Chiến lược hợp tác giữa Việt Nam và Lào tại hai tỉnh Hủa Phăn và Xiêng Khoảng đến năm 2020 (12/2012);
- Nghị định thư sửa đổi Hiệp định giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ CHDCND Lào về khuyến khích và Bảo hộ đầu tư (12/2012);
- Thỏa thuận giữa hai Chính phủ về giải quyết vấn đề di cư tự do và kết hôn không giá thú tại khu vực biên giới hai nước Việt Nam-Lào (08/7/2013);
Trang 3834
- Hiệp định hợp tác lao động giữa Chính phủ Việt Nam và Lào, Thỏa thuận hợp tác về lao động và phúc lợi giữa Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội Việt Nam với Bộ Lao động và Phúc lợi Xã hội Lào (7/2013)
- Thỏa thuận hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (12/2014)
- Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam – Lào (3/2015)
- Hiệp Định thương mại Biên giới Việt – Lào (6/ 2015)
Như vậy, trong vòng 15 năm từ năm 2000- 2015, cả hai Đảng, hai Nhà nước đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, được đánh dấu bằng một loạt các thỏa thuận và Hiệp Định đã được ký kết giữa hai bên, là kết quả thực thi những chính sách quan hệ đối ngoại của cả hai nước
2.2 Thực trạng quan hệ hợp tác giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào giai đoạn 2000-2015
2.2.1 Quan hệ chính trị- ngoại giao, quốc phòng và an ninh
* Về chính trị- ngoại giao
Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tỉnh Sơn La luôn duy trì và tăng cường mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với các tỉnh Bắc Lào Đến nay, tỉnh đã có quan hệ hữu nghị và ký kết văn bản hợp tác toàn diện với 8 tỉnh Bắc Lào gồm: Hủa Phăn, Luông Pha Bang, U Đôm Xay, Bò Kẹo, Luông Nậm Thà, Phông Sa Lỳ, Xiêng Khoảng, Xay Nha
Bu Nhi.Trên cơ sở nội dung các văn bản hợp tác đã ký giữa tỉnh Sơn La và các tỉnh Bắc Lào, Sở Ngoại vụ tỉnh đã phối hợp tham mưu cho tỉnh tổ chức các hoạt động tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, chiến sỹ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh về truyền thống đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, giữa Sơn La và các tỉnh Bắc Lào; các chủ trương, chính sách của hai Đảng, pháp luật của mỗi nước; cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng hai nước của các thế lực thù địch; chủ động giúp đỡ nhau trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ và xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị
Trang 3935
Giai đoạn 2010 – 2012, Sở đã phối hợp thẩm định và tham mưu trình tỉnh cho phép tổ chức đón tiếp và làm việc với 148 đoàn của các tỉnh Bắc Lào sang thăm và
làm việc tại tỉnh với 2.157 lượt người (trong đó có 14 đoàn cấp cao = 201 lượt
người); cử và cho phép 155 đoàn công tác với 1.432 lượt người của tỉnh sang thăm
và làm việc tại các tỉnh Bắc Lào (trong đó có 11 đoàn cấp cao = 213 lượt người).12
Nhân dân khu vực biên giới giữa Sơn La và các tỉnh Hủa Phăn, Luông Pha Bang của Bạn đã chủ động giúp đỡ lẫn nhau trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống Cùng xây dựng tuyến biên giới hữu nghị, đoàn kết Nhân dịp tết cổ truyền Bun Pi May hàng năm, Sở đã tham mưu cho tỉnh gửi thư chúc mừng tới các tỉnh Bắc Lào, cử đoàn đại biểu tham dự các hoạt động nhân dịp Tết tại Hà Nội theo lời mời của Đại sứ quán Lào tại Việt Nam; gửi thư chúc mừng Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ IX tới các tỉnh Bắc Lào; tổ chức các hoạt động thiết thực cho các em lưu học sinh Lào đang theo học tại các cơ sở đào tạo của tỉnh nhằm tuyên truyền về mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào nói chung, Sơn La và các tỉnh Bắc Lào nói riêng Năm 2010, Sở tham mưu cho tỉnh tổ chức Lễ mít tinh và nhiều hoạt động thiết thực chào mừng Kỷ niệm 35 năm Quốc khánh Lào (02/12/1975 - 02/12/2010); đón nhận Huy chương phát triển của Chính phủ Lào tặng tỉnh Sơn La, Huân chương tự do cho Bản Lao Khô, huyện Yên Châu và Huân chương tự do, Huy chương hữu nghị qua nhiều thời kỳ cho một số cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, chiến sỹ lực lượng vũ trang của tỉnh
Sở Ngoại vụ đã phối hợp với các cơ quan liên quan trong tỉnh và 2 tỉnh Hủa
Phăn và Luông Pha Bang tham gia nghiên cứu, biên soạn cuốn sách: "Lịch sử 65
năm quan hệ hợp tác đặc biệt Sơn La - Hủa Phăn - Luông Pha Bang" nhằm nâng
cao nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ
12 Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La – Sở Ngoại vụ ( 2012), “Báo cáo đánh giá tình hình quan hệ hợp tác giữa
tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào năm 2012; Phương hướng hợp tác năm 2013”, tỉnh Sơn La
Trang 40Có thể thấy rằng, mặc dù Sơn La là một trong những tỉnh nghèo nhất của
cả nước nhưng cùng với sự cố gắng và quyết tâm của nhân dân và các cấp lãnh đạo của tỉnh, Sơn La đã đóng góp tích cực trong mối quan hệ hợp tác tương trợ lẫn nhau giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh nước bạn Lào Kết quả của những hoạt động đóng góp từ hai phía Sơn La và các tỉnh Bắc Lào là kết quả minh chứng cho những nỗ lực của hai bên
*Quốc phòng, an ninh, biên giới
Trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước và Hiệp định đã được Chính phủ hai nước ký kết, tỉnh Sơn La
và các tỉnh Bắc Lào luôn coi trọng hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh
13
Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La – Sở Ngoại vụ (2013), “ Báo cáo tình hình thực hiện nội dung Biên bản
ghi nhớ đã ký kết giữa tỉnh Sơn La với các tỉnh Bắc Lào giai đoạn 2010 - 2012; phương hướng hợp tác giai đoạn 2013 – 2015”, tỉnh Sơn La