Xu hướng nghiên cứu về tác động của con người đến thảm thực vật, hệ sinh thái rừng .... Dân cư sinh sống tại đây chủ yếu là đồng bào dân tộc đời sốngcòn gặp nhiều khó khăn nhất là những
Trang 1Ở XÃ CÔN MINH HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN – 2015
I I
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://w w w.lrc - tnu.edu.vn/
Trang 2Ở XÃ CÔN MINH HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Ma Thị Ngọc Mai
THÁI NGUYÊN – 2015
I I
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://w w w.lrc - tnu.edu.vn/
Trang 3http://w w w.lrc - tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Hoàng Thị Hương
Trang 4Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Ma Thị Ngọc Mai
-Cô đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu để tôi
có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Sinh trườngĐại học Sư phạm, khoa Sau Đại học - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Đảng bộ, UBND, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiênnhiên Kim Hỷ, Hạt Kiểm Lâm, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòngDân tộc, Phòng Thống Kê huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn; UBND xã Côn Minh, các hộgia đình dân tộc
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Hoàng Thị Hương
Trang 5http://w w w.lrc - tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Giới hạn nghiên cứu 2
4 Đóng góp của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật 3
1.1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới 3
1.1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam 3
1.2 Lịch sử tác động của con người đến thảm thực vật và môi trường sinh thái 5
1.3 Nghiên cứu về diễn thế thảm thực vật 8
1.3.1 Trên thế giới 8
1.3.2 Ở Việt Nam 9
1.4 Xu hướng nghiên cứu về tác động của con người đến thảm thực vật, hệ sinh thái rừng 10
1.4.1 Trên thế giới 11
1.4.2 Ở Việt Nam 12
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Thời gian nghiên cứu 14
2.3 Phương pháp 14
2.3.1 Phương pháp luận 14
2.3.2 Phương pháp điều tra và thu mẫu 15
Trang 6http://w w w.lrc - tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI 17
3.1 Điều kiện tự nhiên 17
3.1.1 Vị trí địa lý 17
3.1.2 Địa hình, địa mạo 18
3.1.3 Khí hậu 18
3.1.4 Thuỷ văn 19
3.2 Dân số, dân tộc 19
3.3 Các nguồn tài nguyên 20
3.3.1 Tài nguyên đất 20
3.3.2 Tài nguyên nước 21
3.3.3 Tài nguyên rừng 21
3.3.4 Tài nguyên nhân văn 22
3.3.5 Thực trạng môi trường 22
3.4 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 23
3.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội 24
3.5.1 Giao thông 24
3.5.2 Thuỷ lợi 24
3.5.3 Cơ sở Giáo dục - đào tạo 24
3.5.4 Cơ sở hạ tầng khác 24
3.6 Đánh giá chung những điều kiện thuận lợi và khó khăn 25
3.6.1 Thuận lợi 25
3.6.2 Khó khăn 25
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Hiện trạng tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu 27
4.1.1 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp 27
4.1.2 Đặc điểm thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu 28
4.1.3 Tài nguyên động vật 36
4.2 Vai trò của các thảm thực vật 38
4.2.1 Bảo tồn tính đa dạng sinh học 38
4.2.2 Bảo vệ môi trường đất và nguồn nước 38
Trang 7http://w w w.lrc - tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
4.2.3 Đảm bảo phát triển kinh tế xã hội 39
4.3 Tác động của con người đến thảm thực vật và hệ sinh thái rừng 40
4.3.1 Ảnh hưởng của sự gia tăng dân số đến diện tích rừng tự nhiên 40
4.3.2 Những hoạt động tiêu cực của con người có ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng 42
4.3.2 Những hoạt động tích cực 53
4.4 Ảnh hưởng của các tác động đến tính bền vững của Thảm thực vật 57
57
4.4.2.Phá huỷ cấu trúc hệ sinh thái rừng và các thảm thực vật 59
62
4.4.5 Nâng cao độ che phủ của hệ sinh thái rừng 63
4.5 Đề xuất giải pháp phát triển bền vững 65
4.5.1 Quan điểm, mục tiêu khai thác và sử dụng thảm thực vật rừng 65
4.5.2 Các nhóm giải pháp cần được ưu tiên thực hiện 66
4.5.3 Các nhóm giải pháp tổng hợp 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://w w w.lrc - tnu.edu.vn/
Trang 9http://w w w.lrc - tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Số hộ, hộ nghèo, số khẩu và các dân tộc trên địa bàn xã Côn Minh 19
Bảng 4.1 Hiện trạng đất lâm nghiệp theo 3 loại rừng của xã Côn Minh 27
Bảng 4.2 Diện tích các kiểu thảm thực vật chính ở xã Côn Minh 32
Bảng 4.3 Thành phần loài thực vật rừng xã Côn Minh 33
Bảng 4.4 Mười họ thực vật có số loài lớn nhất 33
Bảng 4.5 Mười chi thực vật có số loài lớn nhất 34
Bảng 4.6 Tổng hợp các loài thực vật quý hiếm trong khu bảo tồn 35
Bảng 4.7 Tổng hợp tài nguyên động vật xã Côn Minh 37
Bảng 4.8 Độ dày và khối lượng thảm mục dưới tán rừng 39
Bảng 4.9 Kết quả sản xuất lâm nghiệp của các hộ nông dân 40
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của sự gia tăng dân số đến diện tích diện tích rừng tự nhiên 40 Bảng 4.11 Số hộ có hoạt động canh tác nương rãy chia theo thời gian 42
Bảng 4.12 Nguồn gốc của đất trồng Dong giềng trong 100 hộ điều tra 44
Bảng 4.13 Thống kê loại gia súc theo các phương thức chăn thả 45
Bảng 4.14 Số người khai thác gỗ chia theo thời gian 47
Bảng 4.15 Tình hình khai thác lâm sản ngoài gỗ trong các hộ điều tra 48
Bảng 4.16 Khối lượng (KL) măng được khai thác trong năm của các hộ điều tra 49
Bảng 4.17 Nguồn củi sử dụng của các hộ dân 50
Bảng 4.18.Thống kê số hộ có hoạt động săn bắt thú rừng chia theo thời gian 51
54
55
Bảng 4.21 Thống kê số vụ vi phạm liên quan đến tài nguyên rừng tại xã Côn Minh
56 Bảng 4.22 Đặc điểm cây tái sinh tại các điểm chăn thả gia súc 57
58
Bản 63
Bảng 4.25 So sánh hiệu quả các hình thức sử dụng củ Dong sau khi thu hoạch 66
Bảng 4.26 Một số mô hình sản xuất có thể áp dụng tại KVNC 74
Trang 10Hiện nay, nhu cầu sử dụng tài nguyên của con người ngày càng gia tăng, dẫnđến nhiều mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển Đểgiải quyết được mâu thuẫn này, song vẫn thoả mãn nhu cầu của con người một cáchbền vững cần phải sử dụng nguồn tài nguyên một cách có hiệu quả, đặc biệt là tàinguyên rừng.
Việt Nam có khoảng 12.873.850 ha đất rừng, bao gồm rừng tự nhiên là10.410.141 ha, rừng trồng là 2.463.709 ha Hệ thực vật, động vật rừng còn đa dạng
và phong phú về chủng loại Tuy nhiên, hiện nay rừng Việt Nam đã và đang bị thuhẹp nhanh chóng do quá trình khai thác quá mức tài nguyên rừng cùng với phong tụctập quán lạc hậu của đồng bào dân tộc như: du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy và
sự phát triển của ngành chăn nuôi đại gia súc đã làm cho diện tích rừng nước ta ngàycàng bị thu hẹp Theo số liệu thống kê năm 1943 độ che phủ rừng ở nước ta là 43%,đến năm 1993 chỉ còn 26% Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khíchcác cộng đồng dân cư nhận đất, nhận rừng trồng, bảo vệ, khoanh nuôi và ban hànhLuật bảo vệ và phát triển rừng, cùng nhiều văn bản nhằm hạn chế tình trạng mất rừng,đến năm 2001 độ che phủ của rừng tuy đã được nâng lên từ 33,2%, năm năm 2010 là39,5%, nhưng vẫn chưa đảm bảo mức an toàn sinh thái cho sự phát triển bền vữngcủa đất nước
Côn Minh là xã miền núi vùng cao, nằm ở phía tây nam là xã cửa ngõ củahuyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn và là một trong 3 xã nằm trong vùng lõi của khu bảo tồn
Trang 11thiên nhiên Kim Hỷ Dân cư sinh sống tại đây chủ yếu là đồng bào dân tộc đời sốngcòn gặp nhiều khó khăn nhất là những hộ dân sống trong vùng lõi của khu bảo tồn, tỷ
lệ hộ nghèo cao, nhận thức và điều kiện canh tác còn lạc hậu, diện tích canh tác ít,phụ thuộc nhiều vào việc khai thác tài nguyên rừng để đảm bảo cuộc sống thườngnhật, do vậy thảm thực vật tiếp tục bị ảnh hưởng
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài : “ Nghiên cứu những tác động của cộng đồng dân tộc đến thảm thực vật ở xã Côn Minh huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng thảm thực vật khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá những tác động của cộng đồng dân tộc đến thảm thực vật
- Đề xuất một số biện pháp phát triển bền vững thảm thực vật khu vực nghiên cứu
2.2 Đối tượng
- Thảm thực vật ở xã Côn Minh huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
- Những tác động của cộng đồng dân tộc đến thảm thực vật ở xã côn Minhhuyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
3 Giới hạn nghiên cứu
- Nghiên cứu những tác động tiêu cực của con người gây ảnh hưởng đến hệsinh thái rừng (canh tác nương rẫy, chăn thả gia súc, khai thác lâm sản, phá rừng trồngDong giềng, săn bắt động vật rừng, hoạt động trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệrừng…)
- Phân tích những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến cấu trúc thảm thực vậtrừng, suy giảm đa dạng sinh học, phẩm chất cây tái sinh, suy giảm nguồn nước, môitrường đất
- Phân tích những tác động tích cực của con người đến thảm thực vật rừng
4 Đóng góp của đề tài
- Đưa ra những dẫn liệu về tác động của con người đến tính bền vững củathảm thực vật rừng
Trang 12- Đưa ra những chứng cứ định lượng có hệ thống chứng minh mối quan hệgiữa hoạt động sinh kế của con người với tính bền vững của thảm thực vật rừng Đềxuất những giải pháp phát triển bền vững tài nguyên rừng tại KVNC.
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và Việt Nam.
1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật
Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa họctrong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo J.Schmithusen (1959) thìthảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó.Thái Văn Trừng (1978) [54] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trênmặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình Lý (1998) [34] cho rằng thảm thực vật làtoàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trêntoàn bộ bề mặt trái đất Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng
cụ thể nào, nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảmthực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…
1.1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
H.G Champion (1936) khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đãphân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới
và núi cao
J Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và loạtquần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từngmùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từngmùa và loạt quần hệ ngập quanh năm [38]
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thựcvật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trunggian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [63]
1.1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam
Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam đến nay còn ít.Chevalier (1918) là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừngBắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Châu
Trang 14Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu [58].
Năm 1953 ở Miền nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừngMiền nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thểrừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil
Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng
ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960) Theo bảngphân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:
Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phảitrồng rừng
Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn
có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo.Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị pháhoại, cần khai thác hợp lý
Thomasius (1965) đưa ra bảng phân loại các kiểu lập quần vùng Quảng Ninhdựa trên các điều kiện địa hình, đất đai, đá mẹ, khí hậu và các loài cây ưu thế
Phan Nguyên Hồng (1970) [23], phân chia kiểu thảm thực vật ven bờ biển Miềnbắc Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gỗ ven biển và thực vật bãi cát trống
Trần Ngũ Phương (1978) [39] đưa ra bảng phân loại rừng ở Miền bắc Việt Nam,chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đớimưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Thái Văn Trừng (1978) [54] đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân gỗ kíntán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và nhữngkiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật Năm 1975, trên cơ sởcác điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tếlần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam theoquan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Namphù hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay [53]
Phan Kế Lộc (1985) [30] dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, cũng đãxây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới
Trang 15lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau Nguyễn Nghĩa Thìn (1994-1996)cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những nghiên cứu của ông.
Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [28] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hìnhthành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan hệgiữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậmnhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậmnhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa khô rụng lá; kiểu rừngthưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểurừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đớitrên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm ánhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệtđới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao
Thái Văn Trừng (2000) [55] khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới ViệtNam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoạimạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làmtiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ)với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lêngần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Lê Ngọc Công (2004) [13] cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO(1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ:rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ Ở đây, những trạng thái thứ sinh(được hình thành do tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừnglàm nương rẫy…) bao gồm: trảng cỏ; trảng cây bụi và rừng thưa
1.2 Lịch sử tác động của con người đến thảm thực vật và môi trường sinh thái
Con người là một sản phẩm cao nhất của quá trình tiến hóa hữu cơ và trởthành một thành viên đặc biệt trong hệ sinh thái, vì vừa có bản chất sinh vật, vừa cóbản chất xã hội Ở con người, bản chất sinh vật được kế thừa, được phát triển đến mộttrình độ hoàn hảo hơn mọi sinh vật khác Bản chất văn hóa chỉ có ở loài người mà cácsinh vật khác không có [47]
Con người (Homo) đã xuất hiện trên trái đất khoảng 3-4 triệu năm và đã tácđộng làm biến đổi thiên nhiên Mở đầu là thời kì hái lượm với những công cụ bằng
Trang 16đá, con người nguyên thủy có thể làm mọi việc, họ đi săn thú để lấy thịt và lấy da đểche thân, với số lượng ít và cuộc sống của người nguyên thủy chủ yếu là thích nghivới môi trường sống [47].
Ở nền văn minh thời kì đồ đá mới, tác động của con người đến sinh quyển đãnổi bật hơn Khi đó loài người đã biết dùng cung, tên, mài đồ đá, chế tạo đồ gốm, làmnông nghiệp, đã biết trồng những loại ngũ cốc chủ yếu, đỗ, lạc, vừng, các loại rau, củ,cây ăn quả, biết chăn nuôi một số loại gia súc [47]
Nền nông nghiệp phát triển cùng với kĩ thuật làm đồ gốm đã tạo ra khả năng
dự trữ những sản phẩm nông nghiệp mà từ trước đó con người chỉ biết chứa trongnhững hầm ủ tươi làm sản phẩm mau hỏng Sự ổn định của nền nông nghiệp, khảnăng dự trữ sản phẩm nông nghiệp tạo điều kiện cho sự định cư và từ đó xuất hiệnnhững điểm dân cư là tiền đề cho những đô thị sau này [47]
Nói tóm lại, hệ sinh thái trong các thời kì kể trên thể hiện nền văn minh nôngnghiệp với mức độ ổn định cao Dù rằng môi trường vẫn có sự biến đổi cùng với sựdiễn thế sinh thái học gắn với sự mở rộng của nền kinh tế nông nghiệp, song hoạtđộng của con người trong xã hội đã hòa nhập chung vào chu trình sinh, địa, hóa vàkhông làm thay đổi dòng năng lượng trong sinh quyển [47]
Đầu thế kỷ XVIII nền khoa học kĩ thuật đã có những chuyển biến cho phépnền công nghiệp phát triển mạnh mẽ Nền công nghiệp và nông nghiệp đòi hỏi nhữngnguồn năng lượng lớn đã thúc đẩy nền công nghiệp khai thác mỏ ảnh hưởng đến cácđịa tầng, rừng và các tài nguyên sinh học khác Sự phát triển của nền công nghiệpcùng với tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng đã làm thu hẹp nhanh chóng đất nôngnghiệp ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường [47]
Sự phát triển tiến hóa của loài người đã vượt qua xã hội hoang sơ để bước vàonền văn minh nông nghiệp – nền văn minh gốc tự nhiên rồi đến nền văn minh côngnghiệp và ngày nay đang bước vào nền văn minh kinh tế tri thức [41]
Con người đã tiến rất xa so với thời tiền sử Thế nhưng cùng với sự phát triển
và tiến hóa của mình, con người đã tác động vào thiên nhiên ngày càng mạnh mẽ vàsâu rộng, làm biến đổi thiên nhiên, làm cho nguồn tài nguyên bị suy kiệt, môi trườngsống bị hủy hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ Lịch sử trái đất sau thời kỳ Băng Hà
Trang 17đến nay chưa bao giờ gặp phải hiểm họa sinh thái to lớn như hiện nay [35] Vì hiểmhọa khôn lường về môi trường sinh thái mà Hội nghị Thượng đỉnh các Quốc gia năm
1992 tại Brasil đã kêu gọi loài người phải cứu lấy Trái đất Một trong hai hiểm họatoàn cầu hiện nay mà Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã kết luận tại cuộc họp cuốitháng 7 năm 2007 là sự nóng lên của Trái đất – nguy cơ phá hủy môi trường sống củaloài người Chính sự phát triển kinh tế của con người trong quá khứ là nguyên nhânchủ yếu của hiểm họa sinh thái hiện nay [20] Đó chính là do con người không tôntrọng quy luật tự nhiên – con người và tự nhiên là một thể thống nhất biện chứng cómối quan hệ chặt chẽ với nhau luôn luôn tác động qua lại, mà trong đó con ngườikhông thể tách rời khỏi thiên nhiên Cần phải tôn trọng quy luật cơ bản đó đã đượcnhiều nhà khoa học nhắc nhở từ thời xa xưa Epietite một triết gia thế kỷ thứ I (saucông nguyên) đã chỉ ra rằng: “Cái tốt nhất là cái phù hợp với tự nhiên, sống theo tựnhiên là sống theo lý trí…” theo con đường đó con người sẽ được sống sung sướng
và được tự do, toàn năng và hoàn thiện [29] Vào đầu thế kỷ XIX ĂngGhen cũng đã
cảnh báo rằng: “Không nên quá khoái trí về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên, bởi vì sự thật nhắc nhở rằng, chúng ta hoàn toàn không thể thống trị giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, mà trái lại chúng ta với cả xương, thịt, máu và bộ não là thuộc về giới tự nhiên và mỗi chúng ta nằm trong giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên bao hàm ở chỗ là chúng ta khác với tất cả các sinh vật khác, biết nhận thức được quy luật một cách đúng đắn" [5].
Dưới góc độ sinh thái học, thì không có một sinh vật nào tồn tại phát triển màkhông có môi trường Nói cách khác, môi trường là điều kiện sống cho mọi sinh vật.Con người là một nhân tố của môi trường sinh thái, nhưng là sinh vật tiến hóa nhất,
có tổ chức cao nhất mà không sinh vật nào có được Mặc dầu con người hiện đại cóthể biến đổi thiên nhiên, cải tạo môi trường và can thiệp vào thiên chức của tạo hóa[47] Nhưng con người cũng không thể tách mình ra khỏi môi trường Sự tác độngcủa con người vào tự nhiên có thể diễn ra theo hai hướng: Nếu theo đúng quy luật thìlàm cho tự nhiên ngày càng phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sản xuất và đờisống con người Ngược lại tác động không đúng quy luật sẽ làm cho tự nhiên ngày
Trang 18càng nghèo nàn, kiệt quệ, cân bằng sinh thái bị phá và tự nhiên sẽ trả thù con người[5] Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên có thể tóm tắt trong đoạn viết sau đây
của nhà khoa học Pháp J.Dorste vào đầu thế kỷ XX là: “Con người đã mắc phải một sai lầm rất lớn khi lên mặt cho rằng có thể tách rời khỏi thiên nhiên và phớt lờ các quy luật của nó Giữa con người và môi trường tự nhiên bao quanh nó từ rất lâu đã
có sự gián đoạn “Bản hiệp ước cũ” gắn bó người nguyên thủy với nơi sinh sống của
nó đã bị một bên – con người hủy bỏ ngay khi nó cảm thấy đủ mạnh để từ đó về sau chỉ thừa nhận cái quy luật do chính nó đề ra Cần phải xét lại toàn bộ quan điểm đó
và kí kết một hiệp ước mới với thiên nhiên – hiệp ước mang lại cho con người khả năng sống hài hòa hoàn toàn với thiên nhiên” Sinh thái học hiện đại đang chuẩn bị văn bản cho hiệp ước đó [16] Trên cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa con người với
giới tự nhiên, trong những năm 70 của thế kỉ XX, đã hình thành một lĩnh vực nghiên
cứu mới là sinh thái nhân văn Theo A.S.Boughey (1975), đó là khoa học nghiên cứu
về phát triển xã hội và quần thể người trong mối tác động qua lại với nhau và với toàn bộ môi trường sống của chúng Nói cách khác, sinh thái nhân văn là những nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên mà con người đang sống
[59] Trong thời gian gần đây cũng xuất hiện một số khái niệm như: Kinh tế sinh thái,văn minh sinh thái đều nói lên mối quan hệ biện chứng nêu trên Tuy nhiên khái niệmvăn minh sinh thái để chỉ nấc thang cao hơn trong mối quan hệ hài hòa giữa conngười và giới tự nhiên ở xã hội văn minh cao “văn minh trí tuệ”
1.3 Nghiên cứu về diễn thế thảm thực vật
1.3.1 Trên thế giới
Khái niệm diễn thế (Succession) đã có từ thế kỷ thứ XIX Năm 1860, HenryDavid Thoreau đã công bố bài báo về “diễn thế cây rừng”, trong đó ông mô tả diễnthế của rừng Oak – Pine [60]
Năm 1899, H C Cowles., ở trường đại học Chicago (Mỹ) đã phát triển kháiniệm diễn thế bằng những nghiên cứu cơ bản về diễn thế thảm thực vật trên nhữngdiện tích đất đã bị rút nước ở hồ Michigan [60]
Khái niệm diễn thế tiếp tục được phát triển nhờ những nghiên cứu của FredricClements Năm 1916, Clements đã viết về diễn thế của những hồ và bãi lầy được bồi
Trang 19tụ ở Ai Len Theo ông, diễn thế là sự phát triển của thảm thực vật qua các giai đoạntiến lên quần xã đỉnh cực [59].
Năm 1952, P W Richards, đã nghiên cứu về rừng mưa nhiệt đới ở Châu Á,Châu Phi, Châu Mỹ Ông đã mô tả quá trình diễn thế nguyên sinh, diễn thế thứ sinh ởtrên cạn và ở dưới nước [64]
Năm 1968, F A Bazzaz., nghiên cứu quá trình diễn thế phục hồi thảm thựcvật trên đất sau trồng trọt bị bỏ hoang ở vùng núi Shawnee, Illions (Mỹ) [57]
Năm 1983, E D Hibbs, đã nghiên cứu và đưa ra số liệu về sự thay đổi thànhphần, cấu trúc, tính đa dạng của các quần xã thực vật trong chuỗi diễn thế phục hồirừng thông (Pinus strobus) bị phá hủy do cơn bão mạnh năm 1938 ở Harvard – New
England Theo tác giả, thì đa số các loài cây xuất hiện ở tuổi 40 (tính từ khi rừng bị bão phá hủy) đều là những loài cây xuất hiện trước tuổi 10 Phần lớn các loài cây này đều có số lượng tăng lên ở giai đoạn đầu và giảm xuống ở giai đoạn sau, về quá trình tỉa thưa tác giả cho rằng liên quan đến tuổi thọ của các loài cây [61].
Năm 1993, L Yucheng, M Shili, khi nghiên cứu diễn thế thứ sinh phục hồirừng lá rộng thường xanh ở vùng núi cao Jing un (Trung Quốc) đã phân chia các loàicây thành 3 nhóm: Loài diễn thế tiên phong, loài tiên phong đỉnh cực, loài cực đỉnh[67]
Năm 1993, T Jiunei và cộng sự nghiên cứu về quá trình phục hồi thảm thựcvật thứ sinh trên đất sau nương rẫy ở Mengla – XiSuang banna (Trung Quốc) đã chothấy, sau 10 năm rừng phục hồi có 3 tầng: Tầng cây gỗ ưu thế, tầng cây bụi, dướicùng là tầng cỏ, quyết [62]
Tóm lại, trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về diễn thế thảm thực vật,
đã hình thành những lý thuyết về diễn thế và xác định các giai đoạn cơ bản của diễnthế ở những vùng đất khác nhau trên trái đất
1.3.2 Ở Việt Nam
Dương Hữu Thời đã có nhiều công trình nghiên cứu về sinh thái học, năm
1960, ông đã nghiên cứu các hệ sinh thái rừng ở Cúc Phương; năm 1961, ông nghiêncứu những quần hợp thực vật trên bãi cát sông Hồng Khi nghiên cứu diễn thế đồng
cỏ trong hệ thống thực bì miền Bắc Việt Nam, ông đã chỉ ra quá trình diễn thế củachúng Theo ông, đồng cỏ miền Bắc Việt Nam là kết quả của sự tác động thườngxuyên không có kế hoạch của con người như chặt đốt rừng, chăn thả quá mức làmcho đất thoái hóa mà hình thành [47]
Trang 20Năm 1970, Trần Ngũ Phương nghiên cứu về rừng miền Bắc Việt Nam đã đưa
ra sơ đồ diễn thế suy thoái và tiến hóa của một số kiểu rừng ở miền Bắc Việt Nam.Theo tác giả, diễn thế là một quá trình lâu dài, gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn làmột mắt xích, tập hợp các mắt xích đó thành một chuỗi diễn thế Đất càng thoái hóathì mắt xích đó càng dài, đất ít thoái hóa thì các mắt xích đó sẽ ngắn hơn [39]
Phan Nguyên Hồng (1992) đã nghiên cứu về sinh thái rừng ngập mặn ViệtNam Ông mô tả các hệ sinh thái rừng ngập mặn và các loại diễn thế sinh thái rừngngập mặn ven biển nước ta Theo ông, mỗi giai đoạn của quá trình diễn thế đều gắnvới sự thay đổi về môi trường, về địa mạo, địa chất và thổ nhưỡng Ở các quần xãthực vật nội địa, trong điều kiện môi trường khác nhau, diễn thế xảy ra theo haihướng: Tiến hóa và thoái hóa Còn đối với quần xã thực vật ngập mặn thì nhiều khihai quá trình này xảy ra trên cùng một vị trí và nối tiếp nhau [23]
Năm 1994, Lê Trần Chấn, Huỳnh Nhung khi nghiên cứu về diễn thế thứ sinh ởvùng Lương Sơn (Hòa Bình) đã mô tả sự thay đổi của thành phần thực vật, và cấutrúc (phổ dạng sống) của các quần xã rừng thứ sinh [6]
Năm 2004, Lê Ngọc Công nghiên cứu về quá trình phục hồi rừng bằng khoanh
nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên, đã có nhận xét: Quá trình diễn thế phục hồi rừng diễn ra chậm chạp trên đất rừng bị thoái hoá nặng và nguồn giống ít
do phải trải qua giai đoạn trảng cỏ cao Trong giai đoạn đầu của diễn thế phục hồi rừng bằng khoanh nuôi, số lượng loài cây và mật độ cây tái sinh giảm từ chân đồi lên sườn đồi tới đỉnh đồi [13].
Ma Thị Ngọc Mai (2007), khi nghiên cứu về diễn thế đi lên của thảm thực vật
ở trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc đã kết luận: Quá trình diễn thế đi lên của thảm thực vật ở vùng nghiên cứu diễn ra qua 4 giai đoạn: Thảm cỏ - thảm cây bụi
- rừng thứ sinh - rừng thành thục Quá trình diễn thế tự nhiên ở khu vực nghiên cứu diễn ra chậm, nguyên nhân chủ yếu do đất rừng đã bị thoái hoá và thiếu nguồn gieo giống Đây chính là hậu quả của các hoạt động khai thác gỗ củi quá mức diễn ra trước đây [37].
1.4 Xu hướng nghiên cứu về tác động của con người đến thảm thực vật, hệ sinh thái rừng
Như các phần trên đã trình bày thì nguyên nhân chủ yếu dẫn đến môi trườngsinh thái đã và đang bị hủy hoại nghiêm trọng là do yếu tố con người Tuy nhiên, hiện
Trang 21nay, các công trình nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái rừng chủ yếu tập trungnghiên cứu cấu trúc, tái sinh, diễn thế và phục hồi rừng làm cơ sở cho công tác bảotồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng Sự tác động của con người lên hệ sinhthái rừng luôn được xem là những vấn đề hiển nhiên, mang tính tất yếu Chính vì vậychưa có nhiều nghiên cứu đề cập một cách sâu sắc về vấn đề này.
Trong một xã hội hiện đại, thiết lập lại mối quan hệ hài hòa giữa con người vàthiên nhiên là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp Thực tế đã cho thấy khôngthể áp dụng những biện pháp cứng nhắc để ngăn cản tác động con người lên tàinguyên rừng
1.4.1 Trên thế giới
Năm 1872, Vườn quốc gia (VQG) đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Mỹ,
đó là vườn quốc gia Yellowstone VQG này nằm trên vùng đất do người Crow vàngười Shoshone sinh sống Trên cơ sở sử dụng bạo lực, chính quyền đã ép buộc haicộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ Nhiều Khu bảo tồn thiên nhiên(KBTTN) và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới và cũng
sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địaphương thâm nhập và tiếp cận tài nguyên trong KBTTN và VQG Điều đó dẫn đếnnhững hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa Cộng đồng địa phương(CĐĐP) với KBT và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được [40]
Trên thế giới, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thayđổi chiến lược bảo tồn từ đầu thập kỷ 1980 Một chiến lược bảo tồn mới dần đượchình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với cáchoạt động sinh kế của các CĐĐP, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộngđồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT
và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắnbảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của CĐĐP Ở VQG Kakadu(Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG một cáchhợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và được tham giaquản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý Tại VQG Wasur(Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền
Trang 22Ở Thái lan, vào khoảng những năm 1945, độ che phủ của rừng đạt tới 60%,nhưng đến năm 1995 giảm xuống còn 26% Hơn 170.000 km2 rừng bị tàn phá Năm
1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng Gia Thái Lan thành lập khu bảo tồn để bảo vệ diệntích rừng còn lại Điều này dẫn tới xung đột giữa các CĐĐP sống trong vùng đệm.Một thử nghiệm của Dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiệntại Phu Kheio Wildlife Sanctuary, tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông-Bắc Thái Lan Kếtquả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự thamgia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển CĐĐP bằng cáchoạt động làm tăng thu nhập của họ [56]
Các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ có những phân tích định tính về sự phụthuộc của các cộng động dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sựtham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn tài nguyên rừng (TNR) Tuy nhiênchưa có các nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR
và nguyên nhân cụ thể dẫn tới tác động đó
1.4.2 Ở Việt Nam
Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng caohiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn – phát triển Đó là làm saodung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xãhội các CĐĐP Có thể nêu ra một số nghiên cứu dưới đây:
Trần Ngọc Lân (1999) đã tiến hành một nghiên cứu tại vùng đệm KBTTN PùMát Nghiên cứu đã đánh giá áp lực của vùng đệm lên khu bảo tồn và hệ thống nông
hộ tại vùng đệm Pù Mát Tác giả kết luận rằng các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát
có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tácnương rẫy chiếm vị trí quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ Hiện tại, cácnông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ rất ít ở các hộ có sự hiểu biết
và có vốn đầu tư [27]
Năm 2001, Đỗ Anh Tuấn thực hiện một nghiên cứu điểm cũng tại KBTTN Pù
Mát cho rằng: Hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp pháp Tại thời điểm nghiên cứu, trung bình, 34% tổng thu nhập hàng năm của một hộ gia đình trong vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một hộ gia đình trong vùng bảo
vệ nghiêm ngặt là từ rừng Việc thành lập KBTTN (năm 1997) đã làm giảm 30% 71,4% diện tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương Mặc dù đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại KBTTN, nhưng chúng chưa bù lại được những mất mát do thành lập KBTTN [66].
Trang 23-Năm 2001, tại VQG Ba Vì, Hà Thị Minh Thu đã đánh giá hiện trạng sử dụng
và quản lý tài nguyên thiên nhiên Tác giả cho rằng, các chương trình thực hiện tại vùng đệm VQG Ba Vì chưa hoạt động hiệu quả, đã không cải thiện được cuộc sống của người dân và không hạn chế được sự tác động của người dân vào TNR Lý do chính là các chương trình đó đã không làm thoả mãn nhu cầu của người Dao [65].
Các nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu được phân tích, đánh giá tác động củaKBTTN và VQG đối với CĐĐP Nhưng vấn đề ngược lại, nhìn nhận từ góc độCĐĐP đối với các KBTTN và VQG ít được nghiên cứu
Năm 2014, Nguyễn Anh Hùng nghiên cứu những tác động của con người đếntính bền vững của hệ sinh thái rừng ở vùng an toàn khu Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả đã xác định được những ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái rừng do tác động của con người: suy giảm đa dạng sinh học, phẩm chất cây tái sinh, phá hủy cấu trúc hệ sinh thái rừng, suy giảm môi trường đất và nước Và từ đó đưa ra giải pháp đẩy lùi các hoạt động tiêu cực, thúc đẩy các hoạt động tích cực kết hợp với công tác
tổ chức quản lý, và giải pháp về kinh tế xã hội và khoa học công nghệ để phát triển bền vững hệ sinh thái rừng khu vực nghiên cứu [24 ]
Năm 2012, công trình nghiên cứu của Nông Thanh Hiếu về vấn đề Nghiên cứukhả năng phục hồi rừng trên đất sau canh tác nương rẫy tại huyện Na Rì tỉnh BắcKạn
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thảm thực vật ở xã Côn Minh huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
- Những tác động của cộng đồng dân tộc đến thảm thực vật ở xã côn Minhhuyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng thảm thực vật khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá những tác động của cộng đồng dân tộc đến thảm thực vật
- Đưa ra một số biện pháp phát triển bền vững thảm thực vật khu vực nghiên cứu
2.3 Thời gian nghiên cứu
Điều tra thực địa được tiến hành từ tháng 10/2014 đến tháng 3/2015, cụ thể:
- Tiến hành 03 đợt điều tra phỏng vấn : đợt 1: tháng 10/2014; đợt 2: tháng12/2014; đợt 3: tháng 3/2015
2.4 Phương pháp
2.4.1 Phương pháp
- Tiếp cận các phương pháp sinh thái nhân văn đối với việc nghiên cứu mốiquan hệ giữa hệ tự nhiên và hệ xã hội trong việc khai thác và sử dụng bền vững thảmthực vật rừng
- Phát triển sự tham gia của cộng đồng dân tộc theo phương thức xã hội hoátrong công tác quản lý, khai thác và sử dụng thảm thực vật nhằm cải thiện và nângcao đời sống của đồng bào dân tộc Tuy nhiên vẫn đảm bảo tính đa dạng và bền vữngcủa thảm thực vật
- Phối hợp chặt chẽ với các ban ngành tại xã Côn Minh, Ban Quản lý Khu bảotồn thiên nhiên Kim Hỷ, Hạt Kiểm Lâm, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,phòng Dân tộc, Phòng Thống Kê huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn; các hộ gia đình dân tộcđược giao quản lý bảo vệ rừng trong công tác thu thập thông tin, số liệu
- Kế thừa các số liệu thống kê đã có, bổ sung và cập nhật những thông tin cầnthiết Sử dụng phương pháp điều tra có sự tham gia của người dân thông qua phỏngvấn người dân, học sinh, cán bộ lãnh đạo các cấp, các cán bộ lâm nghiệp tại địaphương … để tìm hiểu và thu thập số liệu đánh giá tác động của con người đến thảm
Trang 25thực vật, nhu cầu của cộng đồng dân tộc, các chủ trương chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước đối với việc phát triển vốn rừng tại địa phương …
- Thực hiện các đợt điều tra để thu thập số liệu ngoài thực địa, phân tích xử lý
số liệu
2.4.2 Phương pháp điều tra và thu
mẫu
a) Phương pháp tuyến điều tra (TĐT) và ô tiêu chuẩn (OTC)
Tuyến điều tra và OTC xác định theo phương pháp của Hoàng Chung (2008).Căn cứ vào bản đồ khu vực, xác định các TĐT có hướng vuông góc với đường đồngmức chính, chiều rộng quan sát là 2m về mỗi phía đối với thảm cây bụi hay rừng và1m về mỗi phía đối với thảm cỏ Khoảng cách các tuyến dao động từ 50-100m tùythuộc vào địa hình của từng quần xã Dọc theo TĐT, quan sát và ghi chép vào phiếutất cả các thông tin về các loài đã gặp như: tên latinh (hoặc tên địa phương), dạngsống, những loài chưa biết tên lấy mẫu về để định loại Ngoài ra còn bố trí các OTC
và ô dạng bản (ODB) để thu thập số liệu Ô tiêu chuẩn: Diện tích các OTC là 400m2(20m x 20m) đối với trạng thái rừng, 16m2 (4m x 4m) đối với trạng thái cây bụi và1m2 đối với trạng thái cây cỏ ODB được bố trí ở các góc và dọc theo 2 đường chéocủa OTC, sao cho tổng diện tích các ODB phải đạt ít nhất 1/3 diện tích OTC TrongOTC và ODB tiến hành thu thập mẫu, cách thu mẫu cũng giống như tuyến điều tra,ngoài ra còn tiến hành đo chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính ngang ngực (D1,3),
số lượng cây gỗ theo loài, cây tái sinh và đánh giá phẩm chất cây tái sinh…
b) Phương pháp thu thập số liệu
- Đo đường kính ngang ngực (Cách mặt đất 1,3m - D1,3, cm) bằng thướkính với độ chính xác đến mm, đo theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tínhtrị số bình quân
- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn, m), đối với cây có chiều cao dưới 4m đo bằngsào có chia vạch, độ chính xác đến dm Đối với cây cao trên 4m, đo bằng thướcBlumeleiss theo nguyên tắc lượng giác Hvn của cây rừng được xác định từ gốc câyđến đỉnh sinh trưởng của cây
- Điều tra cây tái sinh: Trong OTC, lập 5 ODB có diện tích 25m2 phân bố đều
chiều cao cây tái sinh bằng thước sào, đánh giá chất lượng cây tái sinh:
Trang 26- Nhóm cây có triển vọng: Là những cây có chiều cao trên 1,5m, có sức sốngtốt, có khả năng cạnh tranh được với tầng cây bụi và thảm tươi, thân thẳng tán đều;
- Cây đang bị gia súc xâm hại: Là những cây bị gia súc ăn hoặc dẫm đạp, biểuhiện là những cây bị dập nát, gẫy cành, mất các ngọn non
- Xác định độ tàn che bằng gương cầu
c) Phương pháp điều tra phỏng vấn
Sử dụng phiếu điều tra đối với các hộ gia đình ở 5 thôn, phiếu điều tra đối vớihọc sinh trường Dân tộc nội trú của Huyện Na Rì và phương pháp phỏng vấn trongcộng đồng dân cư, mỗi thôn tiến hành làm việc với một nhóm 10 người dân đại diệncho các hộ dân người dân tộc có hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp Tiếnhành thảo luận, phân tích khó khăn thuận lợi, đề xuất giải pháp quản lý phát triển bềnvững thảm thực vật rừng
d) Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Xác định tên khoa học các loài thực vật theo Danh lục các loài thực vật ViệtNam (2003, 2005) [52]
- Xác định dạng sống, giá trị sử dụng của các loài thực vật dựa theo tài liệu
“Tên cây rừng Việt Nam” và “1900 loài cây có ích ở Việt Nam”
- Đếm số loài, độ tuổi, sự phân tầng
Phân loại thảm thực vật: Dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) đểphân loại các thảm thực vật
- Xác định tổ thành tầng cây cao theo công thức:
% Ni + % Gi
% IVi =
2Trong đó: % IVi là tỷ lệ tổ thành của loài i
% Ni là % theo tổng số cây của loài i
% Gi là % theo tổng tiết diện ngang của loài i
- Xác định độ tàn che (ĐTC): Dùng gương cầu tiến hành đo ở 5 vị trí khác nhau trong OTC, sau đó cộng vào và chia trung bình ta biết được độ tàn che của rừngtheo công thức tính độ tàn che:
N x 1,4ĐTC =
100Trong đó: N là số ô vuông được che lấp trong gương cầu
Trang 27Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Xã Côn Minh là xã miền núi nằm ở phía Nam, là xã cửa ngõ của huyện Na Rì,tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thị trấn Yến Lạc gần 32km Xã có tổng diện tích tựnhiên là 6.356.11 ha, mật dân số khoảng 120 người/km2
Xã có ranh giới tiếp giáp với các xã như sau:
+ Phía Đông giáp xã Quang Phong
+ Phía Tây giáp xã Cao Sơn (huyện Bạch Thông)
+ Phía Nam giáp xã Tân Sơn (huyện Chợ Mới)
+ Phía Bắc giáp xã Kim Hỷ
Xã Côn Minh có điều kiện giao thông chưa hoàn toàn thuận tiện Tuy nhiên xã
có nhiều tiềm năng trong phát triển kinh tế nông lâm nghiệp kết hợp nếu được đầu tư,xây dựng, khai thác và phát triển tốt thì trong tương lai xã Côn Minh sẽ trở thànhtrung tâm giao lưu kinh tế, văn hoá của khu vực
Ảnh: Hiện trạng đất lâm nghiệp xã Côn Minh
Trang 283.1.2 Địa hình, địa mạo
Xã Côn Minh có địa hình mang những nét đặc trưng của một xã miền núi phíaBắc Địa hình, địa mạo tương đối phức tạp đa dạng, đồi núi chiếm trên 90% tổng diệntích tự nhiên với độ cao thấp khác nhau Địa hình nghiêng dần từ phía Tây - Bắc sangphía Đông - Nam Trên địa bàn xã xen kẽ giữa dãy đồi núi cao là các dãy thung lũngtạo thành những khu cánh đồng nhỏ hẹp Nhìn chung đất đai của xã Côn Minh tươngđối màu mỡ, hàm lượng mùn trung bình, đất ruộng có tầng canh tác dầy, đất rừng cótầng đất mặt trung bình và dầy, tuy nhiên nhiều nơi đất có độ dốc lớn nên cần phải cóbiện pháp sử dụng đất dốc theo hướng nông lâm kết hợp Đặc điểm đất đai của xã phù
hợp với việc phát triển cây lâm nghiệp làm nguyên liệu giấy như: Mỡ (Magnolia conifera), Keo (Acacia auriculiformis), … và cây đặc sản: Hồi (Illicium verum), Quế (Cinnamomum verum), …
+ Lượng mưa bình quân năm là 1.600mm
+ Lượng nước bốc hơi từ 700 - 800 mm
Khí hậu được chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, trong
đó mưa lớn tập trung ở các tháng 6,7,8 kèm theo nắng nóng và lũ quét gây những khókhăn nhất định cho sản xuất nông nghiệp Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau,trong thời gian này nhiệt độ thấp, lượng mưa nhỏ thường gây khô hạn đồng thời cócác đợt rét đậm kèm theo gió mùa Đông Bắc cùng với xuất hiện sương muối ở thunglũng, đây là điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho các hoạt động sản xuất
Mùa mưa tập trung vào các tháng mùa hè, chiếm 75 - 78%, kết hợp với điềukiện địa hình đất dốc làm cho đất thấp dễ bị ngập úng, đất dốc bị xói mòn mạnh Yếu
tố khí hậu và điều kiện địa hình đã gây nên khó khăn nhất định đối với sản xuất nông
Trang 29nghiệp Nhìn chung xã Côn Minh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cólượng mưa trung bình không lớn, có nền nhiệt độ trung bình khá cao, giàu ánh sáng.Đây là những điều kiện thuận lợi cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi phát triển Tuynhiên thời tiết lạnh, độ ẩm cao vào mùa Đông đã hạn chế sự sinh trưởng, phát triểncủa cây trồng, là môi trường dễ phát sinh dịch bệnh cho người và gia súc gia cầm nêncần có lịch thời vụ gieo cấy thích hợp và có biện pháp phòng chống dịch bệnh, giảmthiểu thiệt hại do thời tiết gây ra.
3.1.4 Thuỷ văn
Mạng lưới thủy văn của xã gồm nhiều sông suối chảy qua, toàn xã Côn Minh
có 52,40 ha sông suối, cùng với hệ thống ao hồ, đập là nguồn nước quý phục vụ chosinh hoạt và sản xuất Địa hình dốc bị chia cắt nên việc tưới tiêu gặp nhiều khó khăn.Nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp cũng còn nhiều khó khăn nhất làtrong mùa khô Muốn sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp cần đầu tư xây dựngnhiều phai, đập để dẫn nước tưới cho lúa và hoa màu
Tổng số khẩu
Các tộc người (theo khẩu) Kinh Tày Nùng Dao khác
Trang 30Kết quả tại bảng 3.1 cho thấy:
- Dân số cuối năm 2014, toàn xã có 653 hộ, trong đó có 165 hộ nghèo (25,3%),như vậy, hộ nghèo chiếm tỷ lệ tương đối cao Tổng số dân là 2579 người, thành phầngiới tính nữ 1304 người chiếm 50,56% dân số Dân số phân bố không đều giữa cácvùng, đông nhất ở trung tâm xã dọc Quốc lộ 3B, ở các xã vùng sâu, vùng xa mật độdân cư thấp
- Toàn xã có số lao động là: 1487 người, hầu hết dân số sống ở nông thôn(khoảng 90%), chủ yếu là sản xuất nông - lâm nghiệp Số lao động có văn hoá bậctiểu học chiếm 73,42%, trình độ bậc Trung học cơ sở và Trung học phổ thông chiếm25% Số còn lại có trình độ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học rất ít Số hộ gia đình được giao lưu với bên ngoài không nhiều
- Dân tộc: toàn xã có 4 dân tộc anh em chung sống là: người Kinh chiếm 10,7%dân số; người Tày 54,1%; người Nùng 21,2%; người Dao 13,5%; ngoài ra còn một sốdân tộc khác chiếm tỷ lệ thấp 0,5%
Côn Minh là một xã miền núi cao của Tỉnh Bắc Cạn, trình độ dân trí thấp bậctiểu học chiếm tỷ lệ cao 73,42%, đời sống của người dân dựa vào sản xuất nông - lâmnghiệp là chính; trong sản xuất nông – lâm nghiệp 100% là lao động thủ công
3.3 Các nguồn tài nguyên
3.3.1 Tài nguyên đất
Trên địa bàn xã về thổ nhưỡng có các loại đất chính như sau:
- Đất phù sa suối (P) phân bố tập trung ở ven các con suối chính chảy trên địabàn xã, đây là loại đất có diện tích nhỏ, thích hợp cho trồng lúa và cây nông nghiệpngắn ngày
- Đất dốc tụ trồng lúa nước (Ld) phân bố xen kẽ các khu đồi đất thấp Đây làloại đất được hình thành do sự tích tụ các sản phẩm phong hoá trên cao đưa xuống, có
độ phì khá, đất chua, thích hợp cho trồng lúa
- Đất feralit biến đổi do trồng lúa (Lf) được hình thành do quá trình cải tạotrồng lúa nước, loại đất này thích hợp cho việc trồng lúa và các cây nông nghiệp, diệntích không nhiều
- Đất nâu vàng phát triển trên nền phù sa cổ (Fp) loại đất phân bố ở các khuvực canh tác, thích hợp cho việc trồng màu và các cây công nghiệp ngắn ngày
Trang 31- Đất vàng nhạt phát triển trên phiến sa gừng (Fq) tập trung ở các khu vực đồinúi, đây là loại đất có diện tích lớn, nghèo dinh dưỡng, dễ bị xói mòn rửa trôi Loạiđất này phù hợp cho việc phát triển cây lâm nghiệp.
Xã có điều kiện về thổ nhưỡng phù hợp thuận lợi cho phát triển cây nôngnghiệp cũng như cây lâm nghiệp và các loại công nghiệp lâu năm, đặc biệt là mộttrong những xã có khả năng phát triển mở rộng diện tích cây chè Trong thời gian quyhoạch cần đầu tư phát triển tận dụng tốt nguồn tài nguyên đất đai, sử dụng và bảo vệđất bền vững Do tình trạng chặt phá rừng những năm trước đây và hình thức canh tácbóc lột độ phì của đất trong thời gian qua đã ảnh hưởng xấu tới môi trường đất Đất bịthoái hoá do canh tác nhiều năm và bị xói mòn, rửa trôi Do vậy, trong thời gian tớicần hướng dẫn cho người dân áp dụng các biện pháp canh tác chống xói mòn rửa trôitrên đất dốc, tăng cường bón phân hữu cơ để từng bước khắc phục tình trạng suythoái môi trường đất đang diễn ra
3.3.2 Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Có hệ thống sông suối khá dày, có nước quanh năm vàđược phân bố rộng khắp trên địa bàn, nên nguồn nước mặt khá dồi dào Xã Côn Minh
có diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 10.75 ha, bao gồm nhiều hệ thống khesuối thượng lưu bắt nguồn từ trên núi, chất lượng nước tương đối trong sạch Đây lànhững nguồn nước mặt rất phong phú, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất nôngnghiệp và cân bằng môi trường sinh thái Nguồn nước mặt có khả năng đáp ứng đủnhu cầu sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân trong vùng, tuy nhiên để sử dụng tốtnguồn nước này cần có đầu tư thêm về hệ thống nước sinh hoạt công trình tập trungcho các điểm dân cư và các công trình thủy lợi phục vụ tưới tiêu
3.3.3 Tài nguyên rừng
Nhờ chính sách giao đất, giao rừng thực hiện tốt nên các khu vực đất đồi núitrống đã được phủ xanh, diện tích rừng không ngừng nâng lên Mỗi năm bình quântrồng được 52 ha, tỷ lệ tăng bình quân đạt 20% Các hoạt động khai thác lâm sảnngoài gỗ chủ yếu là củi đun và các loại rau rừng, cây cỏ chăn nuôi gia súc Việc khaithác gỗ chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ (làm nhà, sửa chữa nhà và các công trìnhphụ trợ) đều thực hiện đúng quy định hiện hành Nhìn chung tài nguyên rừng xã Côn
Trang 32Minh hiện nay đang được phát triển tốt, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữnước đầu nguồn, chống xói mòn và rửa trôi, bảo vệ đất và cảnh quan môi trường Dodiện tích rừng ngày càng được khôi phục đã tạo điều kiện cho các thảm thực vật trướcđây có nguy cơ mất trắng giờ phát triển trở lại làm đa dạng cho sự phát triển của tựnhiên Đặc biệt là hiện nay rừng và đất rừng của Côn Minh đã góp phần quan trọngtrong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng nông - lâm kết hợp, tạo thêmcông ăn việc làm cho lao động địa phương.
3.3.4 Tài nguyên nhân văn
Trong vùng có 4 dân tộc cư trú từ lâu đời là dân tộc Tày, Kinh, Nùng, Dao.Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán riêng và được lưu giữ qua nhiều thế hệ, đãtạo nên đời sống văn hóa, lễ hội phong phú trong vùng Các dân tộc luôn đoàn kết,cần cù và sáng tạo trong lao động, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, cùng giúpnhau phát triển kinh tế, bài trừ và xóa bỏ dần các hủ tục, tệ nạn xã hội để nâng caođời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Người Tày, Nùng chiếm số đông và luôn
là hạt nhân đi tiên phong trong lĩnh vực phát triển kinh tế hộ, có khả năng ứng dụngnhanh các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất Trong giai đoạn tới cần định hướng, tíchcực chỉ đạo đồng bào các dân tộc tham gia đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồngvật nuôi, tăng hiệu quả sản xuất, thực hiện xây dựng bản làng theo nếp sống văn hóamới, ngày càng văn minh, tiến bộ
3.3.5 Thực trạng môi trường
Xã có diện tích lớn rừng tự nhiên bao phủ trên các triền núi kết hợp với cáccon suối tự nhiên chảy qua các cánh đồng dọc theo thung lũng tạo lên một môi trường
tự nhiên tương đối trong sạch Môi trường sinh thái trong vùng đang được cải thiện
do diện tích đất rừng ngày càng tăng, giữ được các nguồn sinh thủy, giảm dần hiệntượng rửa trôi, xói mòn đất và trên địa bàn xã không bị ảnh hưởng từ các nguồn ônhiễm của ngành công nghiệp Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và dân
số, vấn đề về môi trường luôn cần phải được quan tâm chú trọng hơn nữa Trong một
số khu dân cư, môi trường vẫn bị ô nhiễm do tập quán nuôi thả dông gia súc, gia cầm,các chất thải không được thu gom, xử lý đã gây mất vệ sinh và cảnh quan trong cáckhu dân cư và dễ gây ra dịch bệnh truyền nhiễm cho người và gia súc Ngoài ra với
Trang 33số lượng đàn trâu, bò lớn lại chưa có quy hoạch tốt các khu chăn thả tập trung, phânthải không được xử lý đã gây mất vệ sinh nguồn nước suối và không khí ở một sốkhu vực Trong vùng vẫn tồn tại phương thức canh tác lạc hậu đã gây lên tình trạngxói mòn, rửa trôi đất canh tác Đặc biệt đối với diện tích đất trống đồi núi trọc, nhanhchóng phủ xanh tránh tình trạng xói mòn rửa trôi, và việc sử dụng các loại thuốc bảo
vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp phải theo đúng quy định nhằm bảo vệ môitrường đất đai Những vấn đề môi trường chủ yếu trong xã Côn Minh như sau:
+ Thiếu nước sản xuất, nước sạch cho sinh hoạt vào mùa khô
+ Nhiều khu vực đất dốc có biểu hiện thoái hóa đất do xói mòn rửa trôi
+ Vệ sinh môi trường trong một số khu dân cư không đảm bảo do còn chănnuôi gia súc trong nhà ở, chưa có chuồng trại hợp vệ sinh, thiếu các công trình vệsinh dẫn đến ô nhiễm môi trường nhất là nguồn nước
+ Suy giảm chất lượng rừng cạn kiệt tài nguyên Khả năng phòng hộ của thảmthực vật có nguy cơ bị suy giảm Xã nằm trong khu vực vùng đệm và có 03 thôn nằmtrong vùng lõi Khu bảo tồn quốc gia Kim Hỷ, việc bảo tồn nguồn tài nguyên thiênnhiên cần được hết sức quan tâm, đặc biệt nâng cao ý thức của người dân trong việcbảo vệ nguồn tài nguyên rừng
3.4 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội
- Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã tăngtrưởng kinh tế bình quân 6% năm Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ,UBND xã, nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực Bộ mặt nông thôn đã cónhiều thay đổi đáng kể, với phương châm trong thời gian tới là tiếp tục phát triển đadạng hoá các ngành nghề, chú trọng đến thương mại dịch vụ đáp ứng các mặt hàngthiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng của nhân dân trong xã Thu nhập bình quânđầu người tăng nhanh qua các giai đoạn cụ thể: năm 1980 là 469.000đ/người/năm;
1990 là 1.030.000đ/người/năm; Năm 2000 là 3.890.000đ/người/năm; 2010là
5.400.000đ/người/năm; và hiện nay bình quân đầu người đạt 17.388.000đ/ người/
năm Nguồn thu nhập chính là do sản xuất nông - lâm nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo
và chiếm đến trên 85% tổng thu nhập của xã
- Khu vực phát triển công nghiệp Côn Minh là một xã vùng cao, khó khăn chonên khu vực kinh tế ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn phát triển chậm hầunhư chưa có, chỉ có một vài cơ sở chế biến miến dong thủ công với quy mô nhỏ
Trang 34- Khu vực phát triển dịch vụ hoạt động thương mại còn ở mức độ chưa caohiện nay chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu của nhân dân địa phương trong phạm vi khuchợ trung tâm của xã Ngoài ra còn có một số các cửa hàng phục vụ nhu cầu hàng tiêudùng cho nhân dân địa phương.
Côn Minh là một xã có lịch sử truyền thống cùng với khung cảnh tự nhiên hữutình trong tương lai có rất nhiều tiềm năng trong phát triển du lịch, vì vậy cần giữ gìncảnh quan môi trường và phát triển các ngành dịch vụ
3.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
3.5.1 Giao thông
Diện tích đất giao thông theo thống kê của xã là 44,28 ha Các trục giao thôngchính của xã tương đối thuận lợi bao gồm tuyến đường quốc lộ 3B đi qua địa phận
xã, đây là tuyến đường liên tỉnh từ Thác Giềng đi thị trấn Yến Lạc tuyến đi Lạng Sơn
và tuyến đường nối liền từ quốc lộ 3B đi Đổng Xá chạy sát khu trung tâm UBND xã
đã được trải nhựa Tuy nhiên, các tuyến đường liên thôn bản mặc dù đã được cải tạo,nhưng nhìn chung vẫn chủ yếu là các con đường đất nhỏ hẹp đi lại khó khăn, nhất làvào mùa mưa
3.5.2 Thuỷ lợi
Diện tích đất dành cho thuỷ lợi là 1,03 ha Hệ thống thuỷ lợi kênh mương nộiđồng của xã còn rất hạn chế, phần nhiều chưa được kiên cố hoá do địa hình phức tạp,các cánh đồng không bằng phẳng bị chia cắt Hiện nay còn một số các khu vực sảnxuất nông nghiệp còn thiếu nước tưới tiêu, do vậy chỉ sản xuất được một vụ/năm
3.5.3 Cơ sở Giáo dục - đào tạo
Xã Côn Minh đã xây dựng được trường mẫu giáo tương đối khang trang Các
cơ sở giáo dục đã đáp ứng tương đối điều kiện học tập cho con em trong xã Số họcsinh các cấp học luôn được duy trì được sỹ số trong 5 năm qua Xã đã được côngnhận là xã phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở Trường THPT của Huyện
Na Rì đóng trên địa bàn xã Côn Minh, do vậy tạo điều kiện học tập nâng cao dân trícho con em của xã
3.5.4 Cơ sở hạ tầng khác
Các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng đang được đầu tư xây dựng hoàn thiệnthem như: Bưu điện xã được đầu tư xây dựng, đáp ứng phần nào nhu cầu thông tin
Trang 35liên lạc của người dân địa phương Hệ thống lưới điện, Xã có hệ thống điện lưới quốcgia 35KV, có 80% số hộ trong xã được hưởng nguồn điện lưới quốc gia Một số thônvùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn nên hệ thống đường điện còn chưa được đáp ứng.Công trình nước sạch, khu vực dân cư gần trung tâm xã đã được cung ứng nước sạch
từ công trình nước sạch vừa được hoàn thành vào năm 2011
3.6 Đánh giá chung những điều kiện thuận lợi và khó khăn
3.6.1 Thuận lợi
- Nhìn chung xã Côn Minh có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội,
có thể khai thác được thế mạnh cho phát triển lâm nghiệp, đồi rừng bằng cách xâydựng các mô hình nông lâm kết hợp, các mô hình kinh tế đồi rừng như trồng cây lâmnghiệp, cây đặc sản, cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm Diện tích rừng sản xuấtlớn, đất tương đối tốt là điều kiện thuận lợi cho phát triển thành các vùng nguyên liệuphục vụ cho ngành công nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu lâm sản Tiềm năng khaithác đất trống đồi núi trọc vào sản xuất nông, lâm nghiệp còn lớn, thống kê diện tíchđất trồng đồi núi trọc 447,66ha chiếm tới 9,84% diện tích tự nhiên Các diện tích rừngnghèo và rừng phục hồi sau nương rẫy có thể cải tạo làm giàu rừng, khoanh nuôi đểnâng cao giá trị nhằm cải thiện thu nhập và tạo việc làm cho người dân
- Điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước khá thuận lợi để phát triển các tậpđoàn cây trồng nhiệt đới như Mận, Nhãn, Vải, Hồi và chăn nuôi đàn trâu, bò thịt Sự
đa dạng về tiểu vùng khí hậu cho phép đa dạng các sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới
và á nhiệt đới
- Nhân dân trong xã đoàn kết, tích cực, năng động và giàu truyền thống cáchmạng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vàotrong sản xuất
- Nguồn nhân lực dồi dào, cần cù lao động
3.6.2 Khó khăn
- Là xã miền núi nằm ở cửa ngõ của huyện, có nhiều diện tích rừng nằm trongvùng lõi khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ Có địa hình phức tạp, mạng lưới giaothông chưa phát triển, cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế
Trang 36- Phần lớn là đồng bào dân tộc trình độ dân trí chưa cao, trình độ lao động cònhạn chế nên chưa theo kịp sự phát triển, khó tiếp cận với các chương trình phát triển,
dự án mới
- Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa được quan tâm
- Khai thác rừng vẫn còn tiếp diễn, quản lý còn nhiều bất cập
- Còn nhiều tập tục lạc hậu gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển
Trang 37Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU4.1 Hiện trạng tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu
4.1.1 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp
Xã Côn Minh có diện tích đất lâm nghiệp là 5857 ha, chiếm khoảng 92 % tổngdiện tích đất tự nhiên Trong đó, đất có rừng là 5085,6ha chiếm 86,8% tổng diện tíchđất lâm nghiệp và chiếm 80% tổng diện tích đất tự nhiên; diện tích đất chưa có rừngchiếm tỷ lệ thấp hơn là 13,2% tổng diện tích đất lâm nghiệp, bao gồm các trạng tháirừng IA, IB, đất trống cây rải rác… Trên đây là những diện tích lớn, là một tiềmnăng, thế mạnh để phát triển kinh tế, xã hội của vùng, bảng 4.1
Bảng 4.1 Hiện trạng đất lâm nghiệp theo 3 loại rừng của xã Côn Minh
Loại đất, loại rừng Rừng đặc dụng
(ha)
Rừng phòng hộ (ha)
Rừng sản xuất (ha)
Tổng (ha)
Hộ gia đình UBND Ban QLRĐD
Đất có rừng Đất chưa có rừng
Hình 4.1 Tỷ lệ diện tích các loại rừng, đất trống chia theo chủ quản lý
Trên địa bàn xã, toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp đã được giao đến các hộ giađình, tập thể hoặc các tổ chức xã hội để quản lý và bảo vệ Trong đó, diện tích do Banquản lý rừng đặc dụng (BQLRĐD) phụ trách chiếm tỷ lệ lớn nhất 73,2 % còn diện
Trang 38tích giao cho các hộ gia đình quản lý có tỷ lệ thấp nhất chiếm 12,7% đối với đất córừng và chiếm 33% đối với đất không có rừng Thực chất đây là rừng được truyền lại
từ đời này qua đời khác, một phần được giao theo chính sách giao đất giao rừng trongnhững năm qua Các diện tích do UBND quản lý chiếm tỷ lệ trung bình và chưa cóchủ cụ thể Chính từ diện tích do BQLRĐD chiếm tỷ lệ cao, do vậy người dân thiếuđất canh tác nhất là những hộ đồng bào dân tộc ít người di cư từ nơi khác về, nằmtrong vùng lõi khu Bảo tồn Vì vậy việc tác động của đồng bào dân tộc đến thảm thựcvật rừng ở đây vẫn diễn ra theo hướng tiêu cực
Trong thực tế, cuộc sống của người dân địa phương phải phụ thuộc nhiều vàotài nguyên rừng, thường xuyên vào rừng để khai thác tài nguyên như cây gỗ lớn đểlàm nhà, cây thuốc để chữa bệnh, cây rau rừng và thú rừng cung cấp lương thực, thựcphẩm… Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế còn khó khăn nên việc sử dụng tài nguyênkhông những chỉ đáp ứng nhu cầu trực tiếp trong gia đình mà còn để bán lấy tiềntrang trải các chi phí sinh hoạt khác Vì những lý do đó nên sự tác động của conngười lên thảm thực vật rừng rất mạnh mẽ, các tài nguyên rừng đã và đang bị suygiảm, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể hơn ở những phần sau
4.1.2 Đặc điểm thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu
4.1.2.1 Các kiểu thảm thực vật
Với đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu và thổ nhưỡng cho thấy xã CônMinh là 1 trong 7 xã nằm trong khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, vì vậy, thảm thựcvật rừng cũng có các kiểu chính tương tự như thảm thực vật trong khu Bảo tồn Căn
cứ kết quả điều tra hiện trạng, dựa theo tiêu chuẩn phân loại thảm thực vật của TháiVăn Trừng (1978), thảm thực vật rừng khu nghiên cứu có các kiểu chính sau:
cao dưới 700m, có diện tích lớn nhất, phân bố thành vùng rộng.
Kiểu thảm thực vật này có 2 nhóm kiểu phụ:
Nhóm 1: Rừng trên núi đất và núi đất lẫn đá vôi, có 1 kiểu phụ:
(1) Kiểu phụ rừng kín thường xanh trên núi đất, núi đất lẫn đá vôi
Nhóm 2: Rừng trên đất đá vôi có 4 kiểu phụ:
(2) Kiểu phụ: Rừng kín thường xanh trong các thung (lân), áng ở chân núi đá vôi;
Trang 39(3) Kiểu phụ: Rừng kín thường xanh ở chân-sườn núi đá vôi;
(4) Kiểu phụ: Rừng thưa thường xanh trên đỉnh núi đá vôi;
(5) Núi đá có cây
+ Kiểu phụ rừng kín thường xanh trên núi đất và núi đất lẫn đá vôi
Vùng núi đất hình thành trên nền đá mẹ không phải là đá vôi nhỏ và thườngđược người dân khai phá làm nông nghiệp và trồng cây công nghiệp Một số đồi núiđất hay núi đất lẫn đá vôi hiện có rừng đều là những vùng không có nước cho sảnxuất nông nghiệp nên người dân bỏ lại
Kiểu phụ này rất nhỏ về diện tích thường ở sát khu dân cư các thôn như BảnCuôn, Bản Cào… xung quanh khu bảo tồn, được hình thành sau nương rẫy, lửa rừng
và sau khai thác lạm dụng và chặt phá của dân cư sống trong khu vực
- Phân bố: thành mảng rừng, từng đám trên các nương rẫy Trên một số ngọn
núi thấp quanh đồng ruộng còn có một số diện tích rừng IIIA1 đã được giao cho dânbảo vệ nhằm giữ nguồn nước nay đang phục hồi thành rừng khá tốt
* Các kiểu phụ thổ nhưỡng của rừng trên đất đá vôi
Nhờ địa hình trong vùng núi đá vôi phức tạp, đi lại khó khăn, nên thực vật ởđây còn được tồn tại phát triển khá tốt và phong phú về loài Trong thành phần loài có
mặt phổ biến đại diện các loài trong họ Đậu (Fabaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae),
họ Họ Trinh nữ (Mimosaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Trám (Burseraceae), họ Na (Annonaceae), họ
Măng cụt (Guttiferae) và nhiều họ khác
Rừng căn bản đã qua khai thác chọn, kết cấu tầng tán của rừng nhiều nơi đã bịphá vỡ từng mảng, cấu trúc mật độ biến đổi nhưng những diện tích rừng còn lại vẫngiữ được những nét cơ bản của cấu trúc rừng tự nhiên, rất thuận lợi cho rừng tự phụchồi khi được bảo vệ tốt
Dựa vào cấu trúc tầng cây chính và vị trí phân bố của nó có thể phân chia kiểuphụ này thành các thứ phụ:
+ Kiểu phụ: Rừng kín thường xanh trong các thung (lân), áng ở chân núi đá vôi+ Kiểu phụ: Rừng kín thường xanh ở chân - sườn núi đá vôi
Trang 40Kiểu phụ rừng này có phân bố rộng rãi và chiếm diện tích lớn nhất trong khubảo tồn, tập trung chủ yếu ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Rừng ở chân, sườn núi đáphong phú về loài cây nhưng kích thước nhỏ hơn rừng trong các thung áng Độ képtán đạt trung bình 0,5-0,8 Chiều cao cây phổ biến 10-15m Đường kính cây có sựphân hóa cao, D1,3 trung bình 20-25cm, nhiều cây cá biệt 70-80cm.
+ Kiểu phụ: Rừng thưa thường xanh trên đỉnh núi đá vôi
Kiểu rừng này có diện tích nhỏ và phân bố trên cao ở các đỉnh núi hoặc đỉnhdông núi thấp dưới 700m, địa hình hiểm trở, đá tai mèo; cây rừng thưa thớt, nhỏ, thấp
mà nguyên nhân là do sinh trưởng kém hoặc do bị chặt phá Tại đỉnh các dông núitầng đất rất mỏng hoặc chỉ có đất trong các hốc đá, nên không đủ dinh dưỡng nuôicây to lớn Độ khép tán của rừng thưa thường xanh trên đỉnh núi đá vôi: S = 0,3 - 0,4;chiều cao của rừng H = 8 - 10m, tuy nhiên lác đác có những cây lớn và cao hơn 10m
Trạng thái rừng chủ yếu, phổ biến là:
Rừng thưa tự nhiên nghèo
Rừng thứ sinh phục hồi sau lửa rừng, chưa có trữ lượng
Thành phần cây gồm những loài như: Nhọ nồi (Eclipta prostrata), Thị rừng (Diospyros sp), Hồi đá vôi (Illicium difengpi ), Cáp mộc (Capparis sepiaria ), Mắc mật (Clausena indica), Hồng bì (Clausena anisata), Đa (Ficus altissima ), Si Sanh (Ficus benjamina ), Trâm (Syzygium cinerium ), Nhãn rừng (Dimocarpus fumatus ), Cọc rào (Cleidiocarpontonkinensis) và lác đác có các loài Trai (Tradescantia spatheacea ), Nghiến (Exentrodendron tonkinense), Đinh (Markhamia stipulata ), những cây này có chiều cao rất thấp, Du sam đá vôi (Keteleeria davidiana ) có nhưng rất hiếm gặp Tầng cây thấp dưới tầng rừng chính chủ yếu có: Mắc mật giả (Clausena indica), Lá han tía (Dendrocnide stimulans), Cốt toái bổ (Drynaria fortunei), Thu hải đường (Begonia balansaeana ), Chân chim (Macropanax ereophilum) Ưu hợp chủ yếu là: Đa (Ficus altissima), Si Sanh (Ficus benjamina ), Trâm (Syzygium cinerium ), Nhãn rừng (Dimocarpus fumatus ), Cọc rào (Cleidiocarpontonkinensis).
+Kiểu phụ: Núi đá có cây
Trong khu vực núi đá vôi, núi đá chỉ có cây nhỏ, cây bụi chiếm diện tích nhỏ,được xem như là núi đá trọc thuộc trạng thái Đất trống chưa có rừng (IB, IA) Diện