1. T×nh h×nh c¸ch m¹ng ViÖt Nam cuèi thÕ kû XIX, ®Çu thÕ kû XXViÖt Nam lµ mét trong nh÷ng c¸i n«i sinh ra loµi ngêi, lµ n¬i giao nhau cña nhiÒu ®êng th«ng th¬ng thñy bé, ®Çu mèi gÆp gì cña nhiÒu nÒn v¨n minh. D©n téc ViÖt Nam cã søc sèng bÒn dai, m•nh liÖt; cã tinh thÇn bÊt khuÊt, kiªn cêng, giµu lßng tù hµo vµ ý chÝ ®éc lËp d©n téc. Trong lÞch sö d©n téc, con ngêi ViÖt Nam ®• sím h×nh thµnh tinh thÇn ®oµn kÕt chèng thiªn nhiªn, chèng giÆc ngo¹i x©m víi biÕt bao trang sö hµo hïng, khèc liÖt ®Ó sinh tån vµ ph¸t triÓn. Trong ®êi sèng x• héi, d©n téc ViÖt Nam träng ®¹o lý vµ nh©n nghÜa, cã truyÒn thèng t¬ng th©n, t¬ng ¸i, khi gÆp ho¹n n¹n th× c¶ níc mét lßng. Tr¶i mÊy ngh×n n¨m gi÷ níc vµ dùng níc, d©n téc ViÖt Nam tá râ lµ mét d©n téc giµu tµi n¨ng, dòng c¶m, th«ng minh vµ s¸ng t¹o.
Trang 1TUYỂN TẬP TRUYỀN THỐNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM –
NHỮNG MỐC SON LỊCH SỬ CHểI LỌI
Phần thứ nhất
đảng cộng sản việt nam ra đời, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền cách mạng
(1930-1945)
I Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử
1 Tình hình cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Việt Nam là một trong những cái nôi sinh ra loài ngời, là nơi giao nhau của nhiều đờng thông
th-ơng thủy bộ, đầu mối gặp gỡ của nhiều nền văn minh Dân tộc Việt Nam có sức sống bền dai, mãnhliệt; có tinh thần bất khuất, kiên cờng, giàu lòng tự hào và ý chí độc lập dân tộc Trong lịch sử dântộc, con ngời Việt Nam đã sớm hình thành tinh thần đoàn kết chống thiên nhiên, chống giặc ngoạixâm với biết bao trang sử hào hùng, khốc liệt để sinh tồn và phát triển Trong đời sống xã hội, dân tộcViệt Nam trọng đạo lý và nhân nghĩa, có truyền thống tơng thân, tơng ái, khi gặp hoạn nạn thì cả nớcmột lòng Trải mấy nghìn năm giữ nớc và dựng nớc, dân tộc Việt Nam tỏ rõ là một dân tộc giàu tàinăng, dũng cảm, thông minh và sáng tạo
Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nớc đi đôi với giữ nớc, là lịch sử liên tục đấu tranh để giữ gìn
độc lập dân tộc, xây dựng đất nớc, xây dựng cuộc sống Hơn một ngàn năm trớc, Ngô Quyền với trậnquyết chiến trên sông Bạch Đằng đã giành độc lập cho dân tộc sau hơn mời thế kỷ đấu tranh chốngBắc thuộc Các triều đại phong kiến kế tiếp dù thăng trầm có khác nhau vẫn tiếp tục khẳng định quyếttâm bảo vệ độc lập tự do Đó là truyền thống cực kỳ quý báu, là sức mạnh to lớn để dân tộc ta luôn
đứng vững, vợt qua mọi hiểm nguy, chiến thắng mọi kẻ thù
Từ đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa t bản phơng Tây, trong đó có đế quốc Pháp, đã nhòm ngó, xâmlợc nớc ta, mở đầu bằng việc khai thông buôn bán và truyền giáo Năm 1858, đế quốc Pháp vũtrang xâm lợc nớc ta Vua quan triều đình nhà Nguyễn từng bớc đầu hàng chúng Ngày 6 tháng 6năm 1884, triều đình nhà Nguyễn đã ký Hiệp ớc Patơnốt, hoàn toàn dâng nớc ta cho đế quốcPháp Từ đó, Việt Nam trở thành thuộc địa của đế quốc Pháp Dới chế độ thống trị của đế quốcPháp và tay sai của chúng, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi
Về chính trị: Thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên Mọi quyền hành đều nằm trong tay
ngời Pháp, vua quan nhà Nguyễn chỉ đóng vai trò bù nhìn Chúng thi hành chính sách chia để trị.Chúng chia rẽ giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dơng, rồi lập ra xứ Đông Dơng thuộc Phápnhằm xoá tên các nớc Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới Chính vì thế mà nớc AnNam, một nớc có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch
sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia năm sẻ bảy Lợi dụng một cách xảotrá sự chia cắt ấy, ngời ta hy vọng làm nguội đợc tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng ngời
An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau Sau khi đẩy họ chống lại
1
Trang 2nhau, ngời ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lập nên một "Liên bang" gọi làLiên bang Đông Dơng"
Về kinh tế: T bản Pháp không phát triển công nghiệp ở nớc ta, mà chỉ mở mang một số ngành
trực tiếp phục vụ cho bộ máy thống trị và khai thác tài nguyên để cung cấp nguyên liệu cho nềncông nghiệp của nớc Pháp Chính sách độc quyền kinh tế Pháp đã biến Việt Nam thành thị trờngcủa chính quốc, nơi vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân công rẻ mạt Bên cạnh sự bóc lột nhân công
và cớp đoạt tài nguyên, đất đai, bọn thực dân Pháp còn duy trì chế độ phong kiến để giúp chúngbóc lột địa tô, lợi tức và các hình thức thuế khoá rất nặng nề
Các mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc Mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nôngdân, với giai cấp phong kiến địa chủ cha đợc giải quyết, thì mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đếquốc Pháp thống trị và phong kiến tay sai của chúng lại phát sinh, càng đẩy nhanh quá trình cáchmạng của nhân dân ta
Từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng đế quốc Pháp thì bản thân giai cấp địa chủ phong kiếncũng bị phân hóa Một bộ phận can tâm làm tay sai cho đế quốc Pháp để duy trì quyền lợi củabản thân Một bộ phận không ít tiếp tục truyền thống dân tộc, đề xớng và lãnh đạo các phong tràoVăn thân, Cần vơng chống đế quốc Pháp xâm lợc, khôi phục triều đình phong kiến Một số trởthành những lãnh tụ của phong trào quần chúng nông dân, vừa đấu tranh chống đế quốc Pháp,vừa chống lại triều đình bán nớc Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối t bản chủnghĩa
Giai cấp t sản Việt Nam xuất hiện từ trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1918), vừa ra đời đã bị sự chèn ép của t bản Pháp và phân hoá thành hai bộ phận Một số ít ômchân đế quốc, tham gia vào các cơ quan chính trị và kinh tế của đế quốc Pháp, trở thành lớp t sảnmại bản Một bộ phận khác tuy có mâu thuẫn nhất định với t bản Pháp và triều đình phong kiến,nhng thế lực kinh tế yếu ớt, què quặt, phụ thuộc, khuynh hớng chính trị cải lơng Do vậy, giai cấp
(1914-t sản dân (1914-tộc Việ(1914-t Nam (1914-tuy có (1914-tinh (1914-thần yêu nớc, chống phong kiến và đế quốc, nhng họ không cókhả năng lãnh đạo cách mạng Họ chỉ có thể tham gia cuộc đấu tranh ấy trong điều kiện nhất
định
Tầng lớp trí thức và tiểu t sản là những ngời vốn đợc chế độ phong kiến và thực dân đào tạo.Nhng do truyền thống yêu nớc chi phối, họ khao khát độc lập, tự do, dân chủ, nên cũng bị phânhoá Một số ít cam tâm làm tay sai Số đông vẫn giữ đợc khí tiết dù ở hoàn cảnh nào cũng khôngnguôi lòng cứu nớc Khi có điều kiện, những trí thức yêu nớc thờng đóng vai trò truyền bá những
t tởng mới và là ngòi pháo của các cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến
Giai cấp nông dân khao khát độc lập và ruộng đất, hăng hái chống đế quốc và phong kiến.Sau phong trào Văn thân, Cần vơng, nhất là sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên thế (1913),phong trào nông dân bị phân tán Nông dân là một lực lợng đông đảo, yêu nớc, nhng không thể tựvạch ra đờng lối đúng đắn để tự giải phóng và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa củathực dân Pháp Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâydựng một số cơ sở công nghiệp, đồn trại và thành phố phục vụ cho cuộc xâm lợc và bình định nớc
ta Trớc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), giai cấp công nhân còn ít, chỉ 10 vạn ngời
và trình độ còn thấp Qua thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai (1924-1929), số lợng công nhânchuyên nghiệp đã có 22 vạn ngời, chiếm 1,2% số dân Nếu tính số ngời làm thuê trong các hãngkinh doanh t nhân vừa, nhỏ và số ngời vô sản, nửa vô sản sống ở thành thị và nông thôn, thì độiquân vô sản ở Việt Nam trớc năm 1930 có đến hàng triệu ngời
2
Trang 3Sinh trởng trong một nớc thuộc địa, nửa phong kiến, cũng nh nông dân và các tầng lớp lao
động khác, giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tsản, phần lớn xuất thân từ nông dân Đó là cơ sở khách quan thuận lợi cho hai giai cấp cơ bản này
có sự liên minh tự nhiên từ khi ra đời và phát triển trong quá trình đấu tranh cách mạng
Ra đời trớc giai cấp t sản dân tộc, không có cơ sở xã hội cho chủ nghĩa công đoàn và chủnghĩa cải lơng thâm nhập, lũng đoạn từ bên trong, do vậy, giai cấp công nhân Việt Nam tuy còntrẻ, số lợng ít, trình độ văn hoá, kỹ thuật còn thấp, nhng ở nớc ta đó là giai cấp đại biểu cho lực l-ợng sản xuất tiến bộ nhất, sống tập trung, có ý thức kỷ luật, có năng lực cách mạng triệt để và cótinh thần quốc tế vô sản
Theo luận thuyết của C Mác và Ph Ăng ghen, điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân, đó là: giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lợng sản xuất tiên tiếnnhất dới chủ nghĩa t bản Và, với tính cách nh vậy, nó là lực lợng quyết định phá vỡ quan hệ sảnxuất t bản chủ nghĩa Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ củalịch sử, là giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phơng thức sản xuất mớicao hơn phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa Giai cấp công nhân, con đẻ của nền sản xuất côngnghiệp hiện đại, đợc rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lạithành một lực lợng xã hội hùng mạnh Bị giai cấp t sản áp bức, bóc lột nặng nề, họ là giai cấptrực tiếp đối kháng với giai cấp t sản, và xét về bản chất họ là giai cấp cách mạng triệt để nhấtchống lại chế độ áp bức, bóc lột t bản chủ nghĩa Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy địnhrằng, họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ t bản chủ nghĩa Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích
Trong mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản với giai cấp công nhân, đảng chính trị là tổ chức caonhất, đại biểu tập trung cho trí tuệ và lợi ích của toàn thể giai cấp Đảng Cộng sản, chẳng những
đại biểu cho trí tuệ và lợi ích của giai cấp công nhân mà còn đại biểu cho toàn thể nhân dân lao
động và dân tộc Cho nên phải có một đảng chính trị vững vàng, kiên định và sáng suốt, có đờnglối chiến lợc và sách lợc đúng đắn thể hiện lợi ích của toàn giai cấp và toàn bộ phong trào để giaicấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội - giai cấp của đảng, là nguồn bổsung lực lợng của đảng; đảng là đội tiên phong chiến đấu, là bộ tham mucủa giai cấp, là biểu hiện tập trung lợi ích, nguyện vọng, phẩm chất, trí tuệcủa giai cấp công nhân và của dân tộc Giữa đảng với giai cấp công nhân cómối liên hệ hữu cơ, không thể tách rời Những đảng viên của đảng cộng sản
có thể không phải là công nhân nhng phải là ngời giác ngộ về sứ mệnhlịch sử của giai cấp công nhân và đứng trên lập trờng của giai cấp này.Với một đảng cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của đảng chính là
sự lãnh đạo của giai cấp Đảng với giai cấp là thống nhất, nhng đảng cótrình độ lý luận và tổ chức cao nhất để lãnh đạo cả giai cấp và dân tộc; vì thế không thể lẫn lộn đảng với giai cấp Đảng đem lại giác ngộ cho toàn bộgiai cấp, sức mạnh đoàn kết, nghị lực cách mạng, trí tuệ và hành động cách mạng của toàn bộ giai cấp, trên cơ sở đó lôi cuốn tất cả các tầng lớp nhândân lao động khác và cả dân tộc đứng lên hành động theo đờng lối của
đảng nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình Để giai cấp công nhânhoàn thành sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân cũng nh mỗi ngờicông nhân cần thờng xuyên phấn đấu vơn lên, trởng thành về các mặt:
t tởng, chính trị, lập trờng giai cấp, văn hoá, khoa học kỹ thuật, tay
3
Trang 4nghề Các tổ chức nghiệp đoàn, công đoàn, thờng xuyên phát triển vữngmạnh cùng với quá trình phát triển không ngừng của nền sản xuất côngnghiệp hiện đại.
ở Việt Nam, với chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp, giai cấp côngnhân Việt Nam là giai cấp trực tiếp đối kháng với t bản thực dân Pháp Sinh ra và lớn lên ở một n-
ớc thuộc địa nửa phong kiến, dới sự thống trị của đế quốc Pháp, một thứ chủ nghĩa t bản thực lợikhông quan tâm mấy đến phát triển công nghiệp ở nớc thuộc địa, nên giai cấp công nhân ViệtNam phát triển chậm Mặc dù số lợng ít, trình độ nghề nghiệp thấp, còn mang nhiều tàn d củatâm lý và tập quán nông dân, song giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng vơn lên đảm đ-
ơng vai trò lãnh đạo cách mạng ở nớc ta do những điều kiện sau đây:
- Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bấtkhuất chống ngoại xâm ở giai cấp công nhân, nỗi nhục mất nớc cộng với nỗi khổ vì ách áp bứcbóc lột của giai cấp t sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một,khiến động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân
đợc nhân lên gấp bội
- Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và từng bớc trởng thành trong không khí sôi sục củamột loạt phong trào yêu nớc và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp liên tục nổ ra từ khithực dân Pháp đặt chân lên đất nớc ta: phong trào Cần Vơng và cuộc khởi nghĩa của Phan ĐìnhPhùng, của Hoàng Hoa Thám, các cuộc vận động yêu nớc của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,Nguyễn Thái Học, v.v đã có tác dụng to lớn đối với việc cổ vũ tinh thần yêu nớc, ý chí bấtkhuất và quyết tâm đập tan xiềng xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta Nhng tất cả các phong trào
ấy đều thất bại và sự nghiệp giải phóng dân tộc đều lâm vào tình trạng bế tắc về đờng lối
- Phong trào cộng sản và công nhân thế giới đang phát triển, Cuộc cách mạng tháng Mời Ngabùng nổ, thắng lợi và ảnh hởng đến phong trào dân tộc dân chủ ở các nớc khác, nhất là ở TrungQuốc, trong đó có phong trào cách mạng ở nớc ta Trong thời điểm này, nhà yêu nớc Nguyễn áiQuốc trên hành trình tìm đờng cứu nớc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đấy bíquyết thần kỳ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ta Từ đó, Ngời đã đề ra con đờng duy nhất đúng
đắn cho cách mạng Việt Nam - con đờng cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và chuyển cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tấm gơng cách mạng Nga và phong trào cách mạng ở nhiều nớc khác đã cổ vũ giai cấp côngnhân non trẻ Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nớc ta và đồng thời cũng
là chất xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa chọn, tiếp nhận con đờng cách mạng của chủ nghĩa Lênin và đi theo con đờng cách mạng của giai cấp công nhân Từ đó giai cấp công nhân ViệtNam là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Mác Giai cấp công nhân Việt Nam, mà tuyệt đại bộ phận là xuất thân từ nông dân lao động vànhững tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với đông đảo nhân dân lao động bịmất nớc, sống nô lệ Đây cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khốiliên minh công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi bảo đảm cho sự lãnh đạo củagiai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nớc ta
Lịch sử nớc ta từ khi đế quốc Pháp xâm lợc đến những năm hai mơi của thế kỷ XX đã chứngkiến hơn 300 cuộc đấu tranh hết sức anh dũng của dân tộc ta chống đế quốc Pháp xâm l ợc Nhngcuối cùng đều không giành đợc thắng lợi vì không có một đờng lối cứu nớc đúng đắn
Trớc tình hình đó, nhiều ngời yêu nớc Việt Nam đã từng bớc ly khai con đờng giải phóng dântộc theo hệ t tởng phong kiến, hớng ra nớc ngoài nhằm tìm đến những con đờng mới để mu sự
4
Trang 5nghiệp giải phóng dân tộc nh: con đờng Duy Tân của Nhật Bản (1860), con đờng Cách mạng tsản Pháp (1789), con đờng Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc (1911)
Vào đầu thế kỷ XX, nớc Nhật từ sau cuộc vận động Duy Tân đã trở thành nớc đế quốc chủnghĩa, đã đánh bại Nga Hoàng trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1905) Cách mạng 1905 ở Nga
nổ ra nhng không thắng lợi Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) đã đánh đổ triều đình MãnThanh, lập ra nớc Trung Hoa dân quốc Những sự kiện trên đây đã ảnh hởng đến phong trào yêunớc Việt Nam ý thức hệ t sản phơng Tây đã thâm nhập vào Việt Nam Một số sĩ phu tiến bộ tiếpthu trào lu t tởng này, mong muốn nớc mạnh, dân giàu theo con đờng t bản chủ nghĩa Họ muốnnoi theo con đờng phát triển của Nhật Bản, dựa vào Nhật để đánh Pháp Tiêu biểu cho khuynh h-ớng này là hội Duy Tân do cụ Phan Bội Châu sáng lập, với mục đích cổ động phong trào, tổ chứclực lợng chống Pháp theo tôn chỉ "mở mang dân trí, chấn hng dân khí, vun trồng nhân tài" Sốkhác nh các cụ: Lơng Văn Can, Nguyễn Quyền mở trờng Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nộinhằm cổ động tinh thần yêu nớc, bài xích chính sách cai trị của thực dân Pháp, khuyến khích cảicách, chế diễu lũ phong kiến, cờng hào, v.v Là một nhà yêu nớc nhiệt thành, nhng chủ trơngcủa cụ Phan Chu Trinh khác hẳn với cụ Phan Bội Châu Cụ Phan Chu Trinh tiêu biểu cho xu hớngcải cách dân chủ t sản (1789), phản đối việc vũ trang bạo động chống Pháp Cụ nói: "Bất bạo
động, bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, ngoại vọng tất vong" Đó là lời tuyên bố của cụ Phan ChuTrinh sau khi đi Nhật về (15-8-1906) Sau này trong th "thất trảm" gửi vua Khải Định khi y sangPháp (1922), cụ Phan Chu Trinh viết: "Mau mau quay đầu lại mà thoái vị đi, đem chính quyền trảlại cho quốc dân để quốc dân đợc trực tiếp với chính phủ Pháp mà làm việc đặng mu lợi ích saunày" Phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, chống đi phu, nộp thuế ở Trung Kỳ là kếtquả của khuynh hớng t tởng t sản
Tính chất phong trào dân tộc ở thời kỳ này có chuyển biến khác trớc Một số tổ chức yêu nớc
ra đời nh hội Duy Tân (1904), trờng Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), hội Đông á đồng minh(1908), Việt Nam quang phục Hội (1912-1924), v.v Song, vì đờng lối chính trị của các tổ chứcnày không rõ ràng, nhất là không dựa vào quần chúng lao động, mà dựa vào uy tín cá nhân, nênkhông tạo ra đợc sự thống nhất trong những ngời đề xớng phong trào Vì vậy, khi những ngời thủlĩnh bị đế quốc Pháp bắt thì phong trào cũng tan rã theo Cách mạng tháng Mời Nga thành công(1917) đánh dấu bớc phát triển mới trong lịch sử nhân loại Quốc tế cộng sản, bộ tham mu củagiai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới đợc thành lập ở Trung Quốc, sau phongtrào Ngũ Tứ, Đảng cộng sản Trung Quốc ra đời (1921) ở Pháp, Đảng cộng sản Pháp đợc thànhlập (1920), sự kiện lịch sử này không chỉ là thắng lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động Pháp, mà còn là thắng lợi của các dân tộc thuộc địa Pháp
Các phong trào yêu nớc Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đang lâm vào cuộc khủnghoảng trầm trọng: bế tắc về hớng đi, lúng túng về huy động lực lợng và không có đội ngũ tiên tiếnlãnh đạo Lịch sử phát triển của dân tộc đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết để đánh đổ áchthống trị của thực dân phong kiến, giành lại độc lập cho dân tộc, đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc chonhân dân
2 Nguyễn ái Quốc - ngời truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, chuẩn bị về các mặt t tởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam
Giữa lúc dân tộc ta đứng trớc cuộc khủng hoảng về đờng lối cứu nớc, nhiều nhà yêu nớc đơngthời tiếp tục con đờng cứu nớc theo lối cũ, thì đồng chí Nguyễn ái Quốc đã ra đi tìm đờng cứu n-
ớc theo phơng hớng mới Gần mời năm bôn ba khắp các châu lục (1911-1920), Ngời đến nhữngnớc thuộc địa và những nớc đế quốc nh Anh, Mỹ, Pháp quan sát, nghiên cứu, suy nghĩ, đã phát
5
Trang 6hiện một chân lý: chủ nghĩa t bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ của giai cấp công nhân với nhân dân lao động ở chính quốc cũng nh ở các nớc thuộc địa Dới
ánh sáng Cách mạng tháng Mời, Đề cơng về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin và ảnh hởng của cuộc đấu tranh thành lập Đảng cộng sản Pháp , chủ nghĩa Mác - Lênin, chân lý cách mạng
của thời đại đã sớm đợc khẳng định trong nhận thức t tởng của Nguyễn ái Quốc
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua, đồng chíNguyễn ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và chủ trơng thành lập Đảngcộng sản Pháp Giải thích việc làm đầy ý nghĩa đó, đồng chí Nguyễn ái Quốc viết: "Đệ tam Quốc
tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ Còn Đệ nhị Quốc tếkhông hề nhắc đến vận mạng các thuộc địa Vì vậy, tôi đã bỏ phiếu tán thành Đệ tam Quốc tế Tự
do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đây là tất cả những điều tôi muốn." Sự kiện này
đánh dấu bớc chuyển biến quyết định trong t tởng và lập trờng chính trị của đồng chí Nguyễn áiQuốc
Từ đó Ngời xác định con đờng giải phóng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam là: giải phóng giai cấpvô sản mới thực sự giải phóng đợc dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp củachủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới
Từ khi trở thành ngời cộng sản, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã xúc tiến mạnh mẽ việc truyềnbá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào giải phóng dân tộc và phong trào vô sản ở các n ớcthuộc địa, trong đó có Việt Nam Cuối năm 1921, tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng cộng sảnPháp, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã trình bày dự thảo nghị quyết về vấn đề "chủ nghĩa cộng sản
và thuộc địa", và kiến nghị thành lập Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Năm 1922, Ban nghiêncứu thuộc địa của Đảng cộng sản Pháp đợc thành lập Đồng chí Nguyễn ái Quốc đợc cử làm tr-ởng tiểu ban nghiên cứu về Đông Dơng Với cơng vị này, đồng chí đã tích cực tuyên truyền, giáodục và giới thiệu cho Đảng cộng sản Pháp nhiều chiến sĩ cách mạng của các nớc thuộc địa ở châu
á châu Phi
Cũng năm 1921, nhờ sự giúp đỡ của Đảng cộng sản Pháp, Ngời đã cùng với một số chiến sĩcách mạng ở các nớc Angiêri, Mađagátxca, Xênêgan, Tuynidi, Marốc, Đahômây, v.v… sáng lập
ra Hội liên hiệp thuộc địa, ở Pa-ri, trong đó Hội ngời Việt Nam yêu nớc ở Pháp làm nòng cốt
Thông qua tổ chức này và báo Ngời cùng khổ, diễn đàn của các dân tộc bị áp bức, chủ nghĩa Mác
- Lênin đã đến với các dân tộc thuộc địa, đồng thời tình hình các nớc thuộc địa đã đến với nhân
dân Pháp Cùng với báo Ngời cùng khổ mà đồng chí Nguyễn ái Quốc làm chủ nhiệm, kiêm chủ
bút và quản lý, Ngời còn viết nhiều bài đăng trên các báo Nhân đạo, cơ quan Trung ơng của
Đảng cộng sản Pháp, Đời sống thợ thuyền, tiếng nói của giai cấp công nhân, Tạp chí Cộng sản,
cơ quan lý luận của Đảng cộng sản Pháp, v.v… Hầu hết bài viết của Ngời đều tập trung lên ánchủ nghĩa thực dân
Năm 1925, đợc sự giúp đỡ của những ngời cộng sản Pháp, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp của đồng chí Nguyễn ái Quốc viết bằng tiếng Pháp đợc xuất bản lần đầu tiên ở Pa-ri T t-
ởng, quan điểm cơ bản của Ngời về chiến lợc và sách lợc cách mạng thuộc địa đã bớc đầu thểhiện trong tác phẩm
Bản án chế độ thực dân Pháp tố cáo trớc nhân dân Pháp và thế giới những tội ác của bọn thực
dân không chỉ ở Việt Nam, Angiêri mà ở khắp các thuộc địa Bằng biểu tợng "con đỉa hai vòi",Nguyễn ái Quốc đã làm cho ngời đọc thấy rằng: chủ nghĩa t bản, chủ nghĩa thực dân là kẻ thùchung của giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức, bị bóc lột ở các chính quốc và các dân
tộc thuộc địa Bản án chế độ thực dân Pháp đã góp phần vào việc thiết lập sự liên minh giữa cách
mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa, phải thực hiện sựliên minh chặt chẽ với nhau để chống kẻ thù chung, vì "chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho
6
Trang 7giai cấp công nhân quốc tế giành đợc thắng lợi cuối cùng" Nhân dân các dân tộc thuộc địa cókhả năng cách mạng to lớn Phải làm cho các dân tộc thuộc địa từ trớc đến nay vẫn cách biệtnhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phơng Đông tơng lai,khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản"
Bản án chế độ thực dân Pháp đã phê phán thái độ "cầu cạnh xin xỏ thay đổi quốc tịch" của
một số ngời mang t tởng cải lơng t sản, đồng thời đề cao tinh thần tự lực, tự cờng, tự mình giảiphóng cho mình: "công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện đợc bằng sự nỗ lực của bảnthân anh em" và hớng cách mạng thuộc địa phát triển theo con đờng cách mạng của Quốc tế cộng
sản Bản án chế độ thực dân Pháp là tác phẩm lý luận đầu tiên của cách mạng nớc ta, góp phần
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam Nhờ tác phẩm đó và các bài viết của đồng chíNguyễn ái Quốc, nhân dân ta, trớc hết là những ngời trí thức tiểu t sản yêu nớc, tiến bộ đã hớng
về và tiếp thụ chủ nghĩa Mác - Lênin
Tháng 6 năm 1923, đồng chí Nguyễn ái Quốc rời nớc Pháp đến Mátxcơva để tham dự Hộinghị nông dân quốc tế lần thứ nhất (10-1923); đồng thời trực tiếp học tập, nghiên cứu kinhnghiệm Cách mạng tháng Mời Nga và chủ nghĩa Lênin Ngày 17 tháng 6 năm 1924, đồng chí đ-
ợc Trung ơng Đảng cộng sản Pháp ủy nhiệm tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản Sau
đó, đồng chí còn tham gia các đại hội Quốc tế công hội đỏ, Quốc tế phụ nữ, Quốc tế thanh niên,Quốc tế cứu tế đỏ Tại các Đại hội quốc tế nói trên, đồng chí Nguyễn ái Quốc tiếp tục làm rõnhững quan điểm của mình về vai trò lịch sử của giai cấp vô sản thuộc địa, về mối quan hệ giữaphong trào cách mạng ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc và nêu rõ sự cần thiết phảithủ tiêu hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc trớc khi xoá bỏ chế độ thối nát này trên toànthế giới
Giữa tháng 12 năm 1924, với t cách là ủy viên Bộ phơng Đông của Quốc tế cộng sản, trực tiếpphụ trách Cục phơng Nam, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã từ Liên Xô đến Quảng Châu (TrungQuốc) để hoạt động, xây dựng phong trào và đào tạo cán bộ cách mạng cho một số nớc ở ĐôngNam á Tại đây, đồng chí đã cùng với các nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc, Triều Tiên, ấn
Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, v.v… sáng lập ra Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á
-Đông
Tháng năm 1925, đồng chí Nguyễn ái Quốc thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồngchí Hội, trong đó có tổ chức trung kiên là Cộng sản đoàn làm nòng cốt để trực tiếp truyền bá chủnghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị điều kiện cho việc thành lập chính đảng của giai cấpvô sản Việt Nam Ngời đã trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện, đào tạo đợc hơn 200 cán bộ cáchmạng Trong số này, nhiều ngời đợc chọn đi học trờng Đại học phơng Đông ở Liên Xô (TrầnPhú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, v.v ); một số đợc cử đi học quân sự ở trờng Hoàng Phố(Trung Quốc) nh Trơng Vân Lệnh, Phùng Chí Kiên; còn phần lớn đa về nớc hoạt động Ngời cho
ra tờ báo Thanh niên làm cơ quan tuyên truyền của Hội
Đầu năm 1927, cuốn Đờng cách mệnh gồm những bài giảng của Ngời trong các lớp đào tạo
cán bộ ở Quảng Châu đợc Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á - Đôngxuất bản Trong tác phẩm quan trọng này, đồng chí Nguyễn ái Quốc nêu ra những t tởng cơ bản
về chiến lợc và sách lợc của cách mang Việt Nam Đờng cách mệnh đề cập đầu tiên đến vấn đề t
cách ngời cách mạng, nhắc nhở cán bộ phải vị công vong t, nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa chovững, ít lòng ham muốn về vật chất, hy sinh, giữ bí mật, phục tùng đoàn thể, v.v
Tác phẩm nêu ra ba loại t tởng về cách mạng và chia ra hai thứ cách mạng là "dân tộc cáchmạng" và "thế giới cách mạng", rồi khẳng định: tuy có khác nhau "nhng hai thứ cách mệnh ấyvẫn có quan hệ với nhau" "Tất cả dân cày, ngời thợ trong thế giới bất kỳ nớc nào, nòi nào đều
7
Trang 8liên hợp nhau lại nh anh em một nhà, để đạp đổ tất cả t bản trong thế giới, làm cho nớc nào, dân nào cũng đợc hạnh phúc, làm cho thiên hạ đại đồng - ấy là thế giới cách mệnh" Tácphẩm phân tích những hạn chế của cách mạng t sản ở Mỹ (1776), ở Pháp (1789) và khẳng địnhchỉ có Cách mạng tháng Mời Nga là cuộc cách mạng triệt để
Đờng cách mệnh chỉ rõ đối tợng đấu tranh của cách mạng Việt Nam là t bản đế quốc chủ
nghĩa, phong kiến địa chủ; đồng thời, chỉ rõ động lực và lực lợng cách mạng: "công nông là gốccách mệnh, còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông".Trong khi kêu gọi sự đồng tâm, nhất trí làm cách mạng, giải phóng dân tộc, tác phẩm đã phêphán hành động ám sát cá nhân và những khuynh hớng cơ hội chủ nghĩa khác chỉ xúi dân bạo
động mà không bày cách tổ chức; hoặc làm cho dân quen tính ỷ lại mà quên tính tự cờng Quầnchúng một khi đã đợc giác ngộ, có tổ chức và lãnh đạo sẽ là lực lợng cách mạng vô địch: "dân khímạnh thì quân lính nào súng ống nào cũng không chống lại"
Đờng cách mệnh chỉ rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới Tác
phẩm còn nhấn mạnh ý thức tự lực tự cờng, muốn ngời ta giúp cho thì mình phải tự giúp mình
tr-ớc Đồng chí Nguyễn ái Quốc đã thấy khả năng cách mạng thuộc địa có thể giành thắng lợi trớc,không thụ động chờ đợi cách mạng vô sản chính quốc thắng lợi để đợc giải phóng Ngời viết:
"An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì t bản Pháp yếu, t bản Pháp yếu thì công nông Pháplàm giai cấp cách mệnh cũng dễ"
Tác phẩm khẳng định: muốn đa cách mạng đến thắng lợi, trớc hết phải có đảng cách mạng
Đảng ấy phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam: "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩanhiều, nhng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin" Tácphẩm đã giới thiệu các tổ chức chính trị quốc tế, các hình thức làm ăn hợp tác và hớng nhân dân
ta tham gia các tổ chức đó Đờng cách mệnh chỉ rõ: "Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là
đồng chí của dân An Nam" Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội và tác phẩm Đờng cách mệnh đã trực tiếp chuẩn bị về t tởng, lý luận chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng vô
sản kiểu mới ở Việt Nam
Từ năm 1928 đến năm 1929, khi Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội thực hiện chủtrơng "vô sản hoá" thì phong trào công nhân đã có những bớc phát triển rõ rệt Những cuộc đìnhcông hay chống đi phu, đi lính vẫn nhằm vào bọn t bản thực dân và tay sai của chúng, nhng đã có
tổ chức, có kỷ luật hơn Phản ánh bớc phát triển này, đồng chí Tôn Đức Thắng, một chiến sĩ cáchmạng vô sản đã từng kéo cờ phản chiến trên hạm đội của Pháp ở Hắc Hải để bảo vệ Cách mạng
tháng Mời Nga, đã viết: Từ chỗ phong trào rời rạc, nhờ ảnh hởng của cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp, báo Ngời cùng khổ, và mấy tờ Việt Nam hồn, mà bớc đầu lan rộng, bớc đầu có tổ
chức, để đầu năm 1927 công nhân đi vào phong trào Thanh niên cách mạng đồng chí Hội mộtcách sâu rộng
Từ hình thức các hội hữu ái, tơng tế, giai cấp công nhân đã tự tổ chức ra công hội Từ cônghội nhà máy Ba Son (1925) đã ra đời các công hội nhà máy xe lửa Trờng Thi (Vinh - Nghệ An),công hội nhà máy xi măng Hải Phòng, công hội nhà máy dệt Nam Định, công hội các mỏ thanMạo Khê, Hồng Gai Ngày 28 tháng 4 năm 1929, Tổng công hội Bắc Kỳ đợc thành lập Tiếp đó,tháng 10 năm 1929, Tổng công hội Nam Kỳ cũng ra đời Việt Nam thanh niên cách mạng đồngchí Hội cũng hoạt động và phát huy ảnh hởng mạnh mẽ trong phong trào nông dân và có vai tròquyết định trong việc làm cho phong trào nông dân ngày càng xích lại gần phong trào công nhân.Thực tế lịch sử Việt Nam chứng minh rằng, trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo cáchmạng giữa giai cấp công nhân và giai cấp t sản, phần quyết định là giai cấp nào nắm đợc nôngdân Cơng lĩnh của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã đề ra: "Tịch ký và đem về
8
Trang 9công tất cả ruộng đất của tụi đồn điền, nhà chung và quý tộc, vua chúa Tịch ký và đem về côngtất cả ruộng đất của địa chủ trên 100 mẫu Đất ruộng tịch ký về phân phối cho dân cày cày cấychung" Khẩu hiệu đấu tranh của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội có nói: "Miễnthuế ruộng năm mất mùa", "Đất bồi, đất hoang về dân cày Phản đối sự cỡng chiếm những đấtấy", "Thực hành 1/4 lúa ruộng cho địa chủ, đồn điền", "miễn góp lúa ruộng năm mất mùa",
"Đóng góp tạp dịch bình đẳng, phản đối sự miễn su, miễn dịch cho quý tộc và nhà giàu" Trái lại,tất cả các đảng và tổ chức yêu nớc khác, kể cả Việt Nam quốc dân Đảng, ngoài chủ trơng giảiphóng dân tộc đều không có chủ trơng đấu tranh cho quyền lợi của công nhân và nông dân
Đánh giá sự trởng thành của phong trào công nông trong những năm 1928-1929, Dự thảoLuận cơng chính trị (10-1930) của Đảng viết: "Vô sản giai cấp Đông Dơng tuy cha đông đúc, nh-
ng số thợ thuyền càng ngày càng thêm, nhứt là thợ đồn điền Sự đấu tranh của thợ thuyền càngngày càng hăng hái Dân cày cũng đã tỉnh dậy chống đế quốc và địa chủ rất kịch liệt Nhữngcuộc bãi công trong hai năm 1928-1929, những cuộc đấu tranh rất dữ dội của thợ thuyền và dâncày trong năm nay (1930) đã chứng tỏ rằng, sự đấu tranh của giai cấp ở Đông Dơng ngày cànglớn mạnh Điều đặc biệt và quan trọng nhất trong phong trào cách mạng ở Đông Dơng là sự đấutranh của quần chúng công nông có tính chất độc lập rõ rệt, chớ không phải là chịu ảnh h ởngquốc gia chủ nghĩa nh trớc nữa" Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội là tổ chức đạidiện cho giai cấp vô sản lúc bấy giờ đã tranh thủ đợc tầng lớp trí thức tiểu t sản Việt Nam Vàocuối năm 1929, đầu năm 1930, những điều kiện cho sự ra đời một đảng vô sản ở Việt Nam đãchín muồi
Trớc sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, Việt Nam thanh niên cách mạng đồngchí Hội không còn đủ sức lãnh đạo Trong lúc đó, số lợng cộng sản đoàn trong Thanh niên cáchmạng đồng chí Hội ngày thêm nhiều Cần phải thành lập một Đảng cộng sản để lãnh đạo phongtrào, đó là một yêu cầu khách quan và đã có những tiền đề nhất định
Tháng 3 năm 1929, những cộng sản đoàn trong Kỳ bộ Thanh niên cách mạng đồng chí HộiBắc Kỳ gồm các đồng chí: Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự, ĐỗNgọc Du, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Văn Tuân, Dơng Hạc Đính đã họp tại số nhà 5Đ, HàmLong, Hà Nội, quyết định thành lập chi bộ cộng sản và chủ trơng tiến tới thành lập Đảng cộngsản thay thế Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội để lãnh đạo cách mạng
Ngày 1 tháng 5 năm 1929, tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Việt Nam thanh niên cáchmạng đồng chí Hội, kiến nghị của đoàn đại biểu Kỳ bộ Bắc Kỳ về việc giải tán Hội để thành lập
Đảng cộng sản không đợc chấp nhận Đoàn đại biểu Bắc Kỳ rút khỏi Đại hội về nớc, ra lời kêugọi công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân ủng hộ chủ trơng thành lập Đảng cộng sản.Ngày 17 tháng 6 năm 1929, những đảng viên trong chi bộ 5Đ, Hàm Long đã họp tại số nhà 316phố Khâm Thiên, Hà Nội, tuyên bố thành lập Đông Dơng cộng sản Đảng, cử ra Ban chấp hànhtrung ơng lâm thời gồm các đồng chí: Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự, TrầnVăn Cung, Nguyễn Phong Sắc, Trần T Chính, Nguyễn Văn Tuân; thông qua Tuyên ngôn và quyết
định xuất bản báo Búa Liềm, xúc tiến việc xây dựng tổ chức đảng và các đoàn thể quần chúng
Sau khi Đại hội toàn quốc của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội bế mạc, sáu ủyviên mới đợc bầu vào Tổng bộ là Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm, Nguyễn SĩSách, Lê Hồng Sơn, Phạm Văn Đồng đã họp bàn việc thành lập Đảng cộng sản, cử ra ban trù bịgồm các đồng chí lãnh đạo Tổng bộ nói trên Thực hiện chủ trơng này, những cộng sản đoàn cònlại trong Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã hình thành các chi bộ cộng sản Ngoài
9
Trang 10hai chi bộ cộng sản ở Trung Kỳ và Nam Kỳ còn có chi bộ cộng sản ngời Việt Nam ở Thái Lan vàmột chi bộ ở Hồng Kông (Trung Quốc)
Thợng tuần tháng 8 năm 1929, An Nam cộng sản Đảng đợc thành lập tại căn phòng số 1, lầu
2 "Phong cảnh khách lâu", ở đờng Bônác Philippin Sài Gòn (nay là góc đờng Lê Lợi - NguyễnTrung Trực thành phố Hồ Chí Minh) Hội nghị này đã cử ra Ban lâm thời chỉ đạo của Đảng, gồmcác đồng chí: Châu Văn Liêm (tức Việt), Nguyễn Thiệu, Trần Mão, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,Nguyễn Sĩ Sách do đồng chí Châu Văn Liêm làm bí th
Sau Đông Dơng cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng, các đảng viên Tân Việt cáchmạng Đảng chịu ảnh hởng của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã tiến hành Đạihội thành lập Đông Dơng cộng sản liên đoàn vào ngày 1 tháng 1 năm 1930, gồm các đồng chíTrần Hữu Chơng, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều, Nguyễn Xuân Thanh, Trần Đại Quả, Ngô
Đức Đề, Ngô Đình Mãn, Lê Tiềm, Lê Tốn Đại hội cha kết thúc thì các đại biểu đã bị chínhquyền Pháp bắt Do vậy, Đông Dơng cộng sản liên đoàn ra đời nhng cha có Ban chấp hành trung
ơng Đông Dơng cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng sau khi ra đời đã có sự tranh giành
ảnh hởng, tranh giành quần chúng và công kích lẫn nhau Đây là những mâu thuẫn trong quátrình phát triển đi lên của phong trào cộng sản Việt Nam
Tình hình ấy phản ánh sự ấu trĩ và khuynh hớng biệt phái, tiểu t sản trong phong trào côngnhân và phong trào yêu nớc Hai đảng đã nhiều lần trao đổi th từ để giải quyết những bất đồngnhng vẫn không thống nhất đợc Những ngời cộng sản và những ngời yêu nớc chân chính đềunhận thấy cần phải sớm khắc phục hiện tợng trên, thành lập một đảng cộng sản thống nhất đểlãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến lên
3 Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Cơng lĩnh đầu tiên của Đảng
Trớc tình hình xuất hiện ba tổ chức cộng sản trong một nớc, Quốc tế cộng sản đã gửi th chonhững ngời cộng sản ở Đông Dơng nêu rõ: "nhiệm vụ quan trọng hơn hết và tuyệt đối cần kíp củatất cả những ngời cộng sản Đông Dơng là sớm lập một đảng cách mạng của giai cấp vô sản,nghĩa là một đảng cộng sản quần chúng Đảng ấy phải là một đảng duy nhất và ở Đông D ơng chỉ
có đảng ấy là tổ chức cộng sản mà thôi" Quốc tế cộng sản đã chỉ thị cho đồng chí Nguyễn ái Quốcchịu trách nhiệm "hợp nhất các phần tử cộng sản chân chính lại, để thành lập một đảng duy nhất".Nhận chỉ thị này, mùa thu năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc từ Thái Lan trở lại Hơng Cảngchuẩn bị kế hoạch thực hiện nhiệm vụ lịch sử trọng đại nói trên
Hội nghị hợp nhất diễn ra từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, tại nhà một công nhân ở xómthợ thuộc bán đảo Cửu Long (Hơng Cảng), dới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn ái Quốc Thamgia hội nghị có các đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh đại biểu Đông D ơng cộngsản Đảng; Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm đại biểu của An Nam cộng sản Đảng Tổng số
đảng viên của Đông Dơng cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng cho tới tháng 2 năm
1930 là 565 đồng chí
Hội nghị đã nhất trí bỏ thành kiến cũ, thành thật hợp tác và quyết định những vấn đề trọng đạisau:
1 Thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất lấy tên là
Đảng Cộng sản Việt Nam theo đề xuất của đồng chí Nguyễn ái Quốc.
2 Thông qua Chánh cơng vắn tắt, Sách lợc vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam
do Nguyễn ái Quốc khởi thảo Hội nghị còn thông qua Lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn ái Quốc
10
Trang 11thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến công nhân, nông dân, đồng bào và
đồng chí trong cả nớc nhân dịp thành lập Đảng Những văn kiện quan trọng nêu trên là Cơng lĩnh
đầu tiên của Đảng.
Chính cơng vắn tắt của Đảng nhận định rằng, Việt Nam là một xứ thuộc địa, nửa phong kiến,
công nghiệp không phát triển "vì t bản Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản, làm cho ngành côngnghiệp bản xứ không thể mở mang đợc" Kinh tế nông nghiệp chiếm u thế, "nông nghiệp ngàymột tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều" Tình hình đó đa đếnmâu thuẫn ngày càng kịch liệt giữa một bên là dân tộc ta, trong đó có công nhân, nông dân vàtoàn thể dân tộc với một bên là đế quốc Pháp và tay sai của chúng Đánh giá hai giai cấp t sản và
địa chủ là những đối tợng cần xoá bỏ, Đảng ta đã có sự phân biệt: "T bản bản xứ không có thế lựcgì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc đợc, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn
về phe đế quốc chủ nghĩa" Muốn giải quyết mâu thuẫn đó, nhân dân Việt Nam phải làm "t sảndân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản" Đây là một loại hình cáchmạng vô sản ở các nớc thuộc địa mà sinh thời Mác, Lênin và ngay cả Quốc tế cộng sản cũng chanói đến Sau này, Đảng ta hoàn chỉnh tên gọi của loại hình cách mạng này là cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội
Mục tiêu chủ yếu lúc này là đánh đổ ách thống trị của đế quốc xâm lợc và tay sai của chúng,giành độc lập dân tộc và dân chủ cho nhân dân Mục đích cuối cùng là xây dựng thành công chủnghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam
Theo t tởng của đồng chí Nguyễn ái Quốc thì cuộc cách mạng t sản dân quyền và thổ địa cáchmạng để đi tới xã hội cộng sản bao gồm hai cuộc vận động là cuộc vận động giải phóng dân tộc
và cuộc vận động xây dựng đất nớc độc lập tự do hạnh phúc, phần lớn coi giai đoạn cách mạng làgiải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội Hai cuộc vận động này liên quanmật thiết với nhau, ảnh hởng và thúc đẩy lẫn nhau, cuộc vận động trớc thành công tạo điều kiệncho cuộc vận động sau giành thắng lợi Vì vậy, giữa hai giai đoạn cách mạng này: giải phóng dântộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội không có bức tờng ngăn cách, không phải tiến hành một cuộccách mạng chính trị lần thứ hai để giải quyết vấn đề chính quyền nh cách mạng Nga và cách mạngTrung Quốc Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã nắm vững nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm cách mạng thế giới, thấu suốt con đ ờngphát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam, nhận rõ mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng dântộc dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa Cơng lĩnh đầu tiên của Đảng là cơng lĩnh giơng caongọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Nhiệm vụ cách mạng mà Cơng lĩnh vạch ra là "đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phongkiến, làm cho nớc Nam đợc hoàn toàn độc lập, tổ chức ra quân đội công nông" thâu hết sảnnghiệp lớn của t bản đế quốc,… thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chiacho dân cày nghèo, bỏ su thuế cho dân nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thi hànhluật ngày làm 8 giờ" Các nhiệm vụ đó bao hàm cả nội dung dân tộc dân chủ và nội dung xã hộichủ nghĩa Song, nổi bật là nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai (đại địa chủ, đại t sản phản cáchmạng và vua quan phong kiến) giành lại độc lập, tự do, dân chủ cho toàn dân tộc
Về lực lợng cách mạng, Cơng lĩnh của Đảng chủ trơng đoàn kết tất cả các giai cấp cáchmạng, các lực lợng tiến bộ và cá nhân yêu nớc, tập trung lực lợng đánh đổ kẻ thù chủ yếu của dântộc là chủ nghĩa đế quốc Pháp và tay sai, mở đờng cho cách mạng phát triển đến thắng lợi hoàntoàn
Để bảo đảm vai trò lãnh đạo đảng tiên phong của giai cấp công nhân, Đảng chủ trơng giảiquyết hài hoà từng bớc quyền lợi của các giai cấp cách mạng dù còn có những mâu thuẫn nhất
11
Trang 12định về quyền lợi Về vấn đề ruộng đất, "xơng sống của cách mạng thuộc địa", Đảng chủ trơngtiến hành từng bớc với những nội dung thích hợp với từng thời kỳ cách mạng ở giai đoạn giảiphóng dân tộc thì quốc hữu hoá toàn bộ đồn điền và đất đai của đế quốc và địa chủ phản cáchmạng Việt Nam để chia cho nông dân nghèo, "phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cáchmạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến" Đối với chủ nghĩa t bản thì "thâu hết sản nghiệplớn (nh công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v ) của t bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao chochính phủ công nông binh" Còn đối với các tầng lớp "phú nông, trung, tiểu địa chủ và t bản AnNam mà cha rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ trung lập" Sau khicách mạng giải phóng dân tộc giành đợc thắng lợi, chính quyền đã về tay công nông, Đảng sẽlãnh đạo tiến hành những cải cách nhằm sửa đổi lại những bất công và phân phối lợi nhuận giữanhững nhà t sản và những ngời vô sản một cách công bằng hơn
Trong khi khẳng định "công nông là gốc cách mạng", Sách lợc vắn tắt của Đảng vạch rõ
"phải hết sức liên lạc với tiểu t sản, trí thức, trung nông Thanh niên, Tân Việt, v.v để kéo họ đi
vào phe vô sản giai cấp" Về nguyên tắc liên minh, Sách lợc vắn tắt đã viết: "Trong khi liên lạc
với các giai cấp phải rất cẩn thận, không khi nào nhợng một chút lợi ích gì của công nông mà đivào đờng thoả hiệp"
Cơng lĩnh khẳng định, cách mạng Việt Nam phải tiến hành bằng bạo lực cách mạng của quầnchúng, để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, rồi dựng ra chính phủ công nôngbinh chứ không phải bằng con đờng cải lơng Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cáchmạng vô sản thế giới, đứng trong mặt trận cách mạng của các dân tộc bị áp bức và giai cấp côngnhân thế giới mà đội quân tiên phong của mặt trận này là Liên Xô Sách lợc vắn tắt ghi rõ:
"Trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nớc An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hànhliên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp"
Cơng lĩnh đầu tiên khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết
định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Đảng "thu phục cho đợc đại bộ phận giai cấp mình,phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo đợc dân chúng phải thu phục cho đợc đại bộ phận dân cày
và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phongkiến", đồng thời phải liên minh với các giai cấp cách mạng và tầng lớp yêu nớc khác, đoàn kết
họ, tổ chức họ đấu tranh cho giải phóng dân tộc và để đi tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộngsản
Đảng cộng sản Việt Nam kết nạp đảng viên không những trong công nhân tiên tiến, mà cònkết nạp những ngời tiên tiến trong nông dân lao động, trí thức cách mạng và trong các tầng lớpkhác Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác - Lêninlàm nền tảng t tởng Đảng là một khối thống nhất ý chí và hành động Đảng viên phải "tin theochủ nghĩa cộng sản, chơng trình Đảng và Quốc tế cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh,phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng" Trong tônchỉ của mình, Đảng chỉ rõ phải "lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tbản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản"
Do sớm nhận thức đợc sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóngxã hội trong cách mạng vô sản ở nớc thuộc địa, coi trọng độc lập tự chủ, tự lực tự cờng của từngquốc gia, Hội nghị hợp nhất chủ trơng thành lập Đảng cộng sản Việt Nam; đồng thời có kế hoạchgiúp những ngời cách mạng ở Lào và ở Campuchia sáng lập ra đảng tiên phong của dân tộc mình.Sau ngày Đảng cộng sản Việt Nam thành lập, tháng 4 năm 1930, một số chi bộ cộng sản đầu tiêncủa giai cấp vô sản và nhân dân lao động Lào đã ra đời ở Viên Chăn, Thà Khẹt, Bò Neng Đầu
12
Trang 13năm 1930, một số nhóm cộng sản ở Campuchia đợc thành lập ở Phnômpênh và ởCôngpôngchàm Chi bộ cộng sản đầu tiên ở Campuchia đợc thành lập ở trờng trung học Xixôvát(Phnômpênh)
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ở một nớc thuộc địa, giai cấp công nhân chỉ chiếm 1,2% dân
số, đã có Cơng lĩnh cách mạng đúng đắn ngay từ đầu Điều đó chứng minh rằng, Đảng đã nắm
vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, giải quyết đúng đắn mối quan
hệ giữa yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp, sớm kết hợp yếu tố giai cấp với yếu tố dân tộc một cáchsáng tạo, gắn chủ nghĩa yêu nớc chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, phát huy đợc truyềnthống yêu nớc, đánh giá đúng vị trí của từng giai cấp cách mạng, đoàn kết đợc các lực lợng yêunớc, nhờ đó mà Đảng đã nắm đợc quyền lãnh đạo cách mạng Cơng lĩnh đầu tiên là kết quả của
sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, đờng lối của Quốc tế cộng sản vàkinh nghiệm cách mạng thế giới vào hoàn cảnh cụ thể nớc ta, là sự thể hiện tập trung t tởng cơbản của đồng chí Nguyễn ái Quốc về cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa
ở nớc thuộc địa nửa phong kiến
Đờng lối chiến lợc đợc thể hiện trong Cơng lĩnh là mục tiêu, lý tởng của Đảng và phù hợp vớinguyện vọng của quần chúng nhân dân Cơng lĩnh trở thành ngọn cờ đoàn kết, tập hợp toàn dân tatrong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc để đi tới chủ nghĩa xã hội Sau này, Hồ Chí Minh đánhgiá: "Cơng lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta … Vì vậy, Đảng
đã đoàn kết đợc những lực lợng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình Còn các đảng phái củacác giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng củagiai cấp công nhân - không ngừng củng cố và tăng cờng"1
Hội nghị đã nhất trí về việc hợp nhất và tổ chức các đoàn thể quần chúng; thông qua Điều lệtóm tắt của Công hội, Nông hội, Đoàn thanh niên cộng sản, Hội phụ nữ, Hội cứu tế đỏ, Hội phản
đế (tức Mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc)
Hội nghị còn quyết định kế hoạch thống nhất các cơ sở Đảng trong cả nớc, thể thức cử Banchấp hành trung ơng lâm thời và bàn việc liên hệ để thu nạp Đông Dơng cộng sản liên đoàn Hộinghị cũng nhất trí rằng, khi về nớc các đại biểu đều lấy danh nghĩa thay mặt đại biểu quốc tế (tức
là đồng chí Nguyễn ái Quốc) mà tiến hành công việc của Hội nghị hợp nhất Nói về nỗi vui s ớngcủa ngời cộng sản trớc sự kiện lịch sử này, về sau đồng chí Nguyễn Thiệu, đại biểu của An Namcộng sản Đảng dự Hội nghị hợp nhất đã viết: "Tôi vô cùng cảm ơn đồng chí Vơng (tức đồng chíNguyễn ái Quốc) đã làm cho tôi đợc thoả lòng Đảng mới, tên mới, tất cả đều thống nhất theotinh thần mới Có thể nói rằng, mỗi ngời đều đợc mà chẳng ai mất gì Đồng chí Vơng đã đem lạicho chúng tôi nhiều quá, nhiều gấp mấy lần những điều mà chúng tôi mong ớc Đêm ấy về nhà,chúng tôi không ngủ đợc vì quá vui mừng"
Nhờ sự hoạt động tích cực của các đồng chí đại biểu thay mặt đồng chí Nguyễn ái Quốc, chỉtrong một thời gian ngắn, các đảng bộ ở cơ sở đã đợc hợp nhất Các tổ chức quần chúng cũngthống nhất theo điều lệ mới Lâm thời chấp ủy của Đảng ở các xứ đợc chỉ định và Ban chấp hànhtrung ơng lâm thời đợc thành lập Các đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Hới, Trần Vân Lan,Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao, Phan Hữu Lầu, Hoàng Quốc Việt đợc các đảng bộ cử vào Ban chấphành trung ơng lâm thời do đồng chí Trịnh Đình Cửu đứng đầu Đảng bộ Hoa kiều ở Chợ Lớncũng cử đồng chí Lu Lập Đạo tham gia Ban chấp hành trung ơng lâm thời của Đảng cộng sảnViệt Nam
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, H 1996, tr 8.
13
Trang 14Ngày 24 tháng 2 năm 1930, hai đồng chí Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu thay mặt đại biểuquốc tế, các đồng chí Phan Hữu Lầu, Hoàng Quốc Việt thay mặt Ban chấp hành trung ơng lâmthời cùng với đồng chí Ngô Gia Tự, Bí th lâm thời chấp ủy của Đảng bộ Nam Kỳ đã họp và quyết
định chấp nhận Đông Dơng cộng sản liên đoàn gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam
Nh vậy, chỉ nửa tháng sau, kể từ ngày Hội nghị hợp nhất bế mạc, ba tổ chức cộng sản ở ĐôngDơng đã hoàn toàn thống nhất trong một đảng duy nhất - Đảng cộng sản Việt Nam
Chính vì quyết định mọi vấn đề trọng đại nêu trên, nên Hội nghị thành lập Đảng (2-1930) có
ý nghĩa nh một đại hội Thành quả lớn nhất của hội nghị là đã quy tụ, thống nhất toàn bộ phongtrào công nhân và phong trào yêu nớc dới sự lãnh đạo của một đội tiên phong duy nhất, với một
đờng lối cách mạng đúng đắn; tạo sự thống nhất trong toàn Đảng về chính trị, t tởng và tổ chức;chấm dứt tình trạng phân tán, chia rẽ của phong trào Cộng sản Đông Dơng
Thắng lợi của hội nghị là thắng lợi của ý thức giác ngộ vì lợi ích căn bản và lâu dài của giai cấpcông nhân và của toàn dân tộc; là kết quả tất yếu của sự chuẩn bị công phu, gian khổ, với những bớc
đi phù hợp để thể hiện năng lực tổ chức tài tình của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc; là sự thắng thế của t ởng vô sản đối với đờng lối chính trị của giai cấp vô sản
t-Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời chứng tỏ cách mạng Việt Nam đã chấm dứt đợc tình trạngkhủng hoảng về lãnh đạo Đánh giá về sự kiện lịch sử trọng đại này, Hồ Chí Minh viết: "Việcthành lập Đảng là một bớc ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta Nóchứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng"1
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kỳ đơn độc, biệt lập của phong trào dân tộcViệt Nam Từ đây gắn chặt phong trào cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh thời đại và sức mạnhtrong nớc, kết hợp chủ nghĩa yêu nớc chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ sự kết hợp ba yếu tố: Chủ nghĩa Mác - Lênin, phong tràocông nhân, phong trào yêu nớc Đây là sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin
về sự ra đời của Đảng Cộng sản ở một nớc nửa thuộc địa phong kiến và có truyền thống yêu nớc
từ hàng ngàn năm
Sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về sự ra đời của Đảng Cộng sảndựa trên căn cứ lý luận và điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam nh sau:
Một là, Đảng ta là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân
và phong trào yêu nớc Việt Nam Chủ nghĩa Mác - Lênin, theo t tởng Hồ Chí Minh là nền tảng ttởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Song xuất phát từ thực tiễn nớc ta, một nớc thuộc
địa nửa phong kiến, một nớc ngoài sự phát triển của phong trào công nhân đầu thế kỷ XX thìphong trào yêu nớc đợc kế thừa từ truyền thống hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc tạo nên,phát triển sôi nổi Con đờng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội đòi hỏi phải có một hệ t tởngkhoa học tiên tiến thay thế cho hệ t tởng phong kiến lỗi thời, hớng dẫn, chỉ đạo con đờng pháttriển Song hệ t tởng ấy phải có một tổ chức tiên phong cách mạng tập hợp quần chúng nhân dân
đông đảo, biến hệ t tởng khoa học đó thành hiện thực Hồ Chí Minh coi "công nông là gốc cáchmạng", song công nông và dân chúng nói chung phải giác ngộ, và muốn đợc giác ngộ, đi từ tựphát đến tự giác thì phải có đảng cách mạng dẫn đờng Đảng nh ngời cầm lái, ngời cầm lái cóvững, thuyền mới chạy Và trong tiến trình cách mạng, mọi cơng lĩnh, chính sách, chủ trơng của
Đảng đều bắt nguồn từ hệ t tởng đó: chủ nghĩa Mác - Lênin Cách mạng càng khó khăn, gian khổcàng phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin Xa rời hệ t tởng Mác - Lênin thì cách mạng đi vàongõ cụt và không tránh khỏi sự thất bại thảm hại
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, H 1996, tr 8.
14
Trang 15Hai là, Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân, ngời đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam Bản chất giai cấp công nhân của Đảng tathể hiện ở chỗ Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng t tởng; Đảng ta lấy độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội; lấy dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là mục tiêu lý tởng củamình Đảng tuân thủ nguyên tắc tổ chức của Đảng là Đảng kiểu mới, Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin.Song, giai cấp công nhân là một bộ phận trong dân tộc nên vấn đề dân tộc và giai cấp có quan hệ khăngkhít với nhau
Ngay phạm trù giai cấp công nhân cũng cần đợc nhận thức cho đầy đủ Mác từng nói đến giai cấpcông nhân đại diện cho lực lợng sản xuất tiên tiến nhất của thời đại Ngày nay, trong điều kiện củacuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, nội hàm của giai cấp công nhân cũng phải đợc mở rộng
đến các lực lợng lao động trí óc rộng lớn, thúc đẩy sự phát triển xã hội Trong thực tiễn, Đảng ta gắn
bó máu thịt với dân tộc, với nhân dân và đợc nhân dân thừa nhận Toàn bộ nghị lực của Đảng, toàn bộ
sự phấn đấu, hy sinh của các thế hệ đảng viên đều hớng vào mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóngnhân dân, giành tự do, độc lập, hạnh phúc cho nhân dân Ngoài mục tiêu đó, Đảng ta không có mụctiêu nào khác "Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác" Trongnhững khúc quanh co của lịch sử, Đảng ta luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, trách nhiệm tolớn đối với nhân dân, đối với vận mệnh của dân tộc Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc,bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn thể hiện là ngời chiến sĩ tiên phong, hoàn thành sứ mệnh lịch sử cao cả
mà dân tộc, nhân dân giao cho, giải phóng dân tộc, thống nhất giang sơn về một mối, bảo vệ từng tấcnúi, thớc sông, bầu trời, biển cả bao la của Tổ quốc Trong công cuộc xây dựng đất nớc, có những lúcchúng ta đã mắc sai lầm, khuyết điểm nh chủ quan, duy ý chí, áp dụng mô hình của nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp quá lâu dài và cả những khuyết điểm, sai lầm khác Song Đảng
ta thẳng thắn nhận rõ sai lầm thiếu sót kiên trì con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội, quyết tâm lãnh đạonhân dân vợt qua khó khăn thử thách, trụ đợc trong bão táp và đi lên
Ba là, Nguyễn ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam Ngời đã đi từ chủ nghĩa yêu nớc
đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Trong quá trình tìm đờng cứu nớc, Ngời đã đến với chủ nghĩaMác - Lênin và từ đó Ngời đã dày công truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào nớc ta, vào phongtrào công nhân và phong trào yêu nớc Việc thành lập Thanh niên cách mạng đồng chí Hội (1925)bao gồm những chiến sĩ yêu nớc để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nớc là hiện thân của
sự kết hợp ba yếu tố ngay từ những bớc chuẩn bị ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Là sảnphẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân, phong trào yêu nớc, ngay từkhi mới ra đời Đảng ta đã phát huy đợc truyền thống yêu nớc, đoàn kết đợc các lực lợng cáchmạng và nhờ đã giữ đợc quyền lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam tuyển lựa đảngviên không những trong phong trào công nhân mà còn chọn những phần tử tiên tiến giác ngộ chủnghĩa cộng sản trong nông dân lao động, trí thức và trong phong trào yêu nớc
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bớc ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nớc ta, chấm dứtcuộc khủng hoảng về đờng lối cứu nớc, là cơ sở dẫn đến những thắng lợi oanh liệt và những bớcnhảy vọt lớn trong lịch sử dân tộc những năm sau
II Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền cách mạng
(1930-1945)
15
Trang 161 Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng
8 năm 1945
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đợc thành lập Đó là bớc ngoặt vĩ đại củalịch sử dân tộc, đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ khủng hoảng của cách mạng Việt Nam kéo dài trongsuốt nửa cuối thế kỷ XIX và những năm đầu của thế kỷ XX
Dới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng của nhân dân ta phát triển ngày càng mạnh
mẽ trong khắp đất nớc Từ những cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy sợi Nam Định, đồn điềnPhú Riềng, công nhân các nhà máy ở Hải Phòng, Vinh - Bến Thủy; đấu tranh của công nhân ởcác hầm mỏ, đồn điền phong trào đã nhanh chóng lan về nông thôn và trở thành cao trào cáchmạng rộng lớn, tác động trực tiếp đến hệ thống chính quyền đế quốc phong kiến trong cả n ớc D-
ới sự lãnh đạo của Xứ ủy, ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh phong trào đấu tranh của nhân dân đãlàm rung chuyển hệ thống chính quyền của bọn đế quốc phong kiến Tuy cha có chủ trơng giànhchính quyền nhng một hình thức chính quyền mới đã đợc thiết lập đó là nền chuyên chính công -nông dới hình thức Xô-viết Khi Xô-viết hình thành, Trung ơng Đảng đã có nhiều chỉ thị cho Xứ
ủy Trung Kỳ và các cấp ủy đảng ở Nghệ - Tĩnh phải thực sự bảo vệ và hớng cho Xô-viết hoạt
động Trớc tình hình đó, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp khốc liệt phong trào đấu tranh yêu nớc
và cách mạng của nhân dân ta, đặc biệt là phong trào Xô - viết Nghệ - Tĩnh Dới sự chỉ đạo củaTrung ơng, tổ chức đảng ở các địa phơng trong toàn quốc đã lãnh đạo, đa phong trào đấu tranhtiếp tục phát triển Khẩu hiệu ủng hộ Xô-viết, lên án thực dân Pháp đàn áp dã man Xô-viết đã vanglên khắp nơi trong cả nớc Từ cuối năm 1930 đến đầu năm 1931, làn sóng đấu tranh sôi sục của quầnchúng công - nông đạt tới mức cao trào Phong trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô-viết Nghệ
- Tĩnh đã giáng cho kẻ thù một đòn choáng váng, báo hiệu thời kỳ sụp đổ không thể tránh khỏichế độ thống trị của đế quốc phong kiến tay sai ở Việt Nam
Phong trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô-viết Nghệ - Tĩnh cuối cùng đều bị thựcdân Pháp khủng bố, dìm trong biển máu Đảng ta bị tổn thất nặng nề, sau Hội nghị tháng 3 năm
1931 phần lớn ủy viên Ban Chấp hành Trung ơng bị bắt, một số phải tạm thời lánh ra nớc ngoài.Cuộc đấu tranh khôi phục cơ sở đảng cũng nh phong trào quần chúng lúc này trở nên hết sức khókhăn, phức tạp Đầu năm 1932, nhiều chi bộ vừa mới khôi phục trở lại thì đã bị kẻ địch khủng bố,phá vỡ ngay Tuy vậy, các chiến sĩ cách mạng và quần chúng trung kiên vẫn không hề nao núng,kiên trì móc nối, xây dựng cơ sở cả trong và ngoài nớc Cuối năm 1932, đầu năm 1933, nhìnchung cơ sở đảng bớc đầu đợc hồi phục trong phạm vi toàn quốc
Mặc dù phong trào bị thực dân Pháp khủng bố dã man nhng ý nghĩa to lớn và sâu sắc của nó
đã trở thành bất tử Thông qua phong trào đấu tranh rầm rộ, sôi nổi đó, Đảng ta đã khẳng địnhtrên thực tế độc quyền lãnh đạo cách mạng của mình Đờng lối, chủ trơng của Đảng đợc kiểmnghiệm trong thực tế và ăn sâu vào quần chúng nhân dân Khối liên minh công nông, động lựcchính của cách mạng Việt Nam đợc hình thành, tạo nên sự liên kết vững chắc không gì có thể phá
vỡ Phong trào cách mạng trong phạm vi toàn quốc, đặc biệt là Xô-viết Nghệ - Tĩnh đã để lại chocách mạng nớc ta và cho Đảng ta nhiều bài học kinh nghiệm hết sức quý báu Đó là những vấn đềcơ bản nh xác định nhiệm vụ cách mạng, xây dựng đờng lối, xây dựng khối liên minh công nông,phơng pháp cách mạng, vấn đề giành, giữ, xây dựng chính quyền, v.v
Đầu 1934, Ban lãnh đạo ở nớc ngoài của Đảng - coi nh Ban Chấp hành lâm thời của Đảng -
đ-ợc thành lập nhằm đào tạo cán bộ, đề ra chủ trơng, kế hoạch hoạt động và thống nhất nội bộ.
Tháng 3 năm 1935, Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã đợc triệu tập, họp ở Ma Cao (Trung Quốc),
đánh dấu sự hồi phục hoàn toàn của Đảng, tiếp tục đa phong trào cách mạng phát triển trong giai
16
Trang 17đoạn mới Song song với việc khôi phục các tổ chức đảng, phong trào cách mạng của quần chúng
từ giữa năm 1932 cũng đã xuất hiện ở nhiều nơi Đầu năm 1934, phong trào đã có ở khắp ba kỳ,
kể cả vùng rừng núi đến đồng bằng Tuy không sôi nổi rầm rộ nh những năm 1930-1931, quy môkhông lớn nhng các cuộc đấu tranh đã thu hút rộng rãi nhiều tầng lớp hơn Bên cạnh giai cấpcông nhân, nông dân xuất hiện tầng lớp học sinh, sinh viên, tiểu thơng, viên chức… Hình thức tổchức phong phú, bên cạnh bí mật là chủ yếu thì đã biết lợi dụng triệt để các hình thức hợp pháp
và nửa hợp pháp, lợi dụng các tổ chức sẵn có trong quần chúng để tập hợp quần chúng Nhìnchung các cuộc đấu tranh đều giành đợc thắng lợi vì yêu cầu đề ra không cao Qua đó, Đảng đãdần dần tập hợp quần chúng xung quanh mình Phong trào quần chúng đi từ thấp đến cao và cuốicùng đã tập hợp đợc lực lợng trên quy mô toàn quốc
Trong thời gian này, tình hình quốc tế có những chuyển biến hết sức sâu sắc Chủ nghĩaphát xít đang hình thành và phát triển nhanh chóng là mối đe dọa lớn đối với toàn nhân loại Để
đối phó với nguy cơ mới, Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII (họp vào tháng 7-1935) đã có
bớc chuyển hớng quan trọng, chủ trơng lập Mặt trận nhân dân thế giới, bao gồm quần chúngcách mạng và các lực lợng dân chủ chống chủ nghĩa phát xít gây chiến tranh, bảo vệ hòa bình Thực hiện Nghị quyết VII (1935) của Quốc tế Cộng sản, xuất phát từ tình hình thực tế, Đảng
ta xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dơng lúc này là bọn phản động thuộc địa - thực chấtcũng là bọn phát xít đang điên cuồng đàn áp phong trào cách mạng Đảng chủ trơng lập Mặt trậnphản đế Đông Dơng, sau đổi thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dơng, gọi tắt là Mặt trậndân chủ Đông Dơng Sách lợc đấu tranh, phơng thức hoạt động lúc này của Đảng đợc xác định làlấy hoạt động bí mật là chủ yếu, đồng thời tranh thủ điều kiện thuận lợi để hoạt động hợp pháp vànửa hợp pháp, thông qua đó mà tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện quần chúng Chính nhờ sáchlợc đúng đắn ấy nên Đảng đã phát động đợc cao trào cách mạng rất rộng lớn Đó là phong trào
đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, đòi tự do, cơm áo, hòa bình, đòi cải thiện dân sinh nổ ra rấtmạnh mẽ trong những năm 1936-1939, đỉnh cao là những năm 1937, 1938, thu hút đợc hầu hếtcác giai tầng trong xã hội Việt Nam tham gia
Cao trào đấu tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lợc diễn ra với nhiều hình thứcphong phú Một mặt Đảng ta khai thác tối đa thời cơ thuận lợi tổ chức quần chúng công khai đấutranh hợp pháp nh phong trào Đông Dơng đại hội, phong trào đấu tranh dới hình thức đón rớc,các cuộc mít tinh, biểu tình, đấu tranh trên lĩnh vực t tởng thông qua báo chí, Hội Tuyên truyềnchủ nghĩa Mác, đấu tranh đòi phòng thủ Đông Dơng ; mặt khác hết sức chú ý xây dựng các cơ
sở bí mật, hình thức hoạt động bí mật, bất hợp pháp Điều này thể hiện tính nhạy cảm đặc biệtcủa Đảng ta trong nhận thức tình hình chung cũng nh bản chất của kẻ thù cách mạng Tại "chínhquốc" Pháp, Mặt trận bình dân đã đợc thành lập và Chính phủ Bình dân ra đời Đây vẫn là nền
chuyên chính t sản nhng trớc áp lực quốc tế nó đã thi hành một số chủ trơng tiến bộ ở thuộc địa
chúng thả tù chính trị, thi hành một số cải cách xã hội nhỏ mọn, đa lại một số quyền lợi cho quầnchúng lao động Mức độ cải cách tuy rất thấp nhng đối với nớc thuộc địa, lại có ý nghĩa đặc biệtquan trọng, là điều kiện hết sức quý hiếm với phong trào đấu tranh yêu nớc và cách mạng củanhân dân ta
Từ năm 1936-1939, phong trào đấu tranh dân chủ là một phong trào cách mạng khá đặc biệttrong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ Mặc dù mọi quyền lợi cuối cùng đều bị thực dân Pháp tớc bỏ nh-
ng phong trào có ý nghĩa to lớn Đảng đã căn cứ chủ trơng của Quốc tế Cộng sản và tình hình cụthể ở Đông Dơng đề ra sách lợc đấu tranh thích hợp nhằm tạo điều kiện cho phong trào cáchmạng phát triển rộng lớn Đặt ra nhiệm vụ chống phản động thuộc địa, tay sai, đòi tự do dân chủ,chống phát xít, chiến tranh nhng nó khác về bản chất so với tất cả các cuộc cải lơng Bởi Đảng
17
Trang 18không coi phong trào này là mục đích mà chỉ là sách lợc đấu tranh trong quá trình cách mạng khi
điều kiện lịch sử cho phép Vì thế, cao trào 1936-1939 là một giai đoạn trong quá trình đấu tranhgiành chính quyền ở Việt Nam Thông qua các hình thức đấu tranh đã hình thành đạo quân cáchmạng rất rộng lớn cả về chính trị, t tởng và tổ chức Đạo quân cách mạng của Đảng đợc phát triểnmạnh mẽ không chỉ ở giai cấp công - nông mà còn phát triển rộng rãi ở các tầng lớp khác Cơ sởcách mạng của ta ở nông thôn, thành thị đều mạnh lên, tạo tiền đề quan trọng cho vấn đề giànhchính quyền trong giai đoạn tiếp theo Đặc biệt, chính phong trào đã đào tạo cho Đảng một độingũ cán bộ đông đảo Phạm vi lãnh đạo của Đảng đã đợc mở rộng Trớc kia, chủ yếu là giai cấpcông - nông, bây giờ Đảng đã ảnh hởng đợc các tầng lớp khác Với những ý nghĩa cơ bản đóphong trào đấu tranh dân chủ thời kỳ 1936-1939 là bớc chuẩn bị t tởng, chính trị, là cuộc tập dợtlần thứ hai cho Cách mạng tháng Tám
Khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ (9-1939), ở Đông Dơng, thực dân Pháp đặt
Đảng Cộng sản và phong trào đấu tranh yêu nớc, dân chủ ra ngoài vòng pháp luật Trớc tình thế
đó, Đảng ta đã kịp thời chỉ thị cho các tổ chức đảng, các cơ sở của cách mạng hoạt động côngkhai nhanh chóng rút ngay vào bí mật, chuyển trọng tâm công tác từ thành thị về nông thôn Chủtrơng này có ý nghĩa lịch sử quan trọng, bởi đi vào nông thôn Đảng ta có điều kiện hoạt động tốthơn Tuy vậy, một số nơi cách mạng cũng bị tổn thất do không hiểu rõ thời thế, chần chừ trongviệc tổ chức rút lui Chủ trơng rút lui, bảo toàn lực lợng là rất đúng đắn nhng cha đáp ứng đợc yêucầu của thời cuộc Tình hình lúc này đòi hỏi Đảng phải có chủ trơng mới đáp ứng sự phát triểntoàn diện của cách mạng Việt Nam trớc bớc ngoặt mới Hội nghị lần thứ sáu (11-1939), lần thứbảy (11-1940), lần thứ tám (5-1941) của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (khóa I) đã đánh giátoàn diện tình hình thế giới, trong nớc, đề ra và hoàn chỉnh chủ trơng chuyển hớng chỉ đạo chiếnlợc trong giai đoạn cách mạng mới Trên cơ sở đánh giá tình hình và chỉ ra một cách cụ thểnhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam, Đảng ta khẳng định: Vấn đề cấp bách nhất là giải quyếtmâu thuẫn dân tộc, nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, thành lập Mặt trận tập hợp lực lợng rộngrãi, chuẩn bị lực lợng vũ trang, coi chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm lúc bấygiờ Để tập trung lực lợng giải quyết vấn đề dân tộc, tạm gác khẩu hiệu "tịch thu ruộng đất của
địa chủ, việt gian, phản động chia cho dân cày nghèo, thực hiện giảm tô thuế, chia lại ruộngcông"
Trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ơng lần thứ tám, Hồ Chí Minh nhận định: "Cuộc Chiếntranh thế giới lần thứ nhất đã đa đến kết quả sự ra đời của nớc Nga, chiến tranh thế giới lần thứ haichắc chắn sẽ có nhiều nớc xã hội chủ nghĩa mới ra đời, cách mạng nhiều nớc sẽ thành công" Cuộcchiến tranh đế quốc đã tạo ra khủng hoảng mới, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc trên thếgiới sâu sắc hơn, đa tới sự phát triển mạnh mẽ phong trào đấu tranh trên phạm vi thế giới
Về tình hình Đông Dơng: Các nghị quyết của Hội nghị Trung ơng đều nhấn mạnh tới nhữngchính sách kinh tế, chính trị, quân sự thời chiến của Pháp, Nhật Nhân dân ta cha lúc nào bị ápbức nặng nề nh từ năm 1939 trở đi Hậu quả đó đã làm cho thái độ chính trị của các giai cấp biếnchuyển khá sâu sắc, Đảng đánh giá sự chuyển biến của t sản dân tộc và địa chủ có những điểmmới: một số khá đông căm ghét đế quốc, đứng trung lập, có lợi cho cách mạng Để thực hiệnnhiệm vụ giải phóng, Đảng chủ trơng thay đổi hình thức tổ chức mặt trận; thành lập Mặt trận dântộc thống nhất rộng rãi thay Mặt trận dân chủ Tại Hội nghị lần thứ tám (1941) Đảng đa ra chủ tr-
ơng thành lập chính quyền riêng ở Việt Nam: Chính phủ dân chủ cộng hòa Việt Nam là chínhphủ phản ánh thành phần rộng rãi trong dân tộc ta, phản ánh thắng lợi của Mặt trận Việt Minh
Từ năm 1939 trở đi, Đảng ra sức xây dựng phát triển lực lợng Việt Minh và vận động t sản,tiểu t sản, những ngời yêu nớc nhằm cô lập kẻ thù Tổ chức các hội của thanh niên, phụ nữ, lôi
18
Trang 19cuốn nhiều trí thức, học sinh tiểu t sản, Đảng đã thông qua Mặt trận Việt Minh để lôi cuốn tríthức, học sinh yêu nớc Tiếp tục xây dựng lực lợng vũ trang, căn cứ địa cách mạng, đẩy mạnhphong trào đấu tranh chính trị của giai cấp công - nông và các tầng lớp khác; từng bớc thúc đẩyphong trào chiến tranh du kích, xây dựng các căn cứ; đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực t tởng vănhóa; củng cố lực lợng có đủ năng lực lãnh đạo; việc chuẩn bị lực lợng có ý nghĩa quyết định trựctiếp cho thắng lợi về sau Năm 1939, một số địa phơng đã bắt đầu tổ chức đội tự vệ
Từ những tháng đầu năm 1940, ở Nam Bộ lực lợng tự vệ phát triển mạnh, đến cuối năm 1940
có khoảng 15 vạn ngời tham gia, trong đó 5.000 ngời đợc vũ trang thô sơ Một số địa phơng đãchuẩn bị sản xuất bom, tạc đạn, quyên góp đồng, sắt, gang Một số lò rèn tiến hành sản xuất vũkhí Trong những năm 1940-1941 đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ,binh biến Đô Lơng Đây không phải là ngẫu nhiên mà là tất yếu trong quá trình vận động cáchmạng của Đảng Nó chứng tỏ sức mạnh quật cờng của nhân dân, báo hiệu sự trở mình của phongtrào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo: Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, Đội du kích Bắc Sơn đã hình thành
Đội du kích Bắc Sơn đợc thành lập và duy trì là dựa vào sự ủng hộ của đồng bào dân tộc miềnnúi, dựa vào địa thế hiểm trở rừng núi Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã mở ra khả năng khởi nghĩatừng phần, xây dựng căn cứ địa, mở đờng tiến lên tổng khởi nghĩa
Tháng 7 năm 1940, Xứ ủy Nam Kỳ có cuộc họp, thống nhất tổ chức khởi nghĩa Chủ trơngnày đợc báo cáo ở cuộc họp Ban Chấp hành Trung ơng lần thứ bảy ở Bắc Ninh Hội nghị đã kếtluận, nếu khởi nghĩa nổ ra sẽ thất bại vì thời cơ mới chín muồi ở một phần Nam Bộ, trong lúc cảnớc cha có điều kiện thích hợp về chính trị, kinh tế Do vậy nhiệm vụ lúc này là phải ra sức giáodục quần chúng tích cực chuẩn bị, chờ thời cơ toàn quốc khởi nghĩa vũ trang Nhng khi đồng chíPhan Văn Lu, ngời mang chỉ thị của Trung ơng về đến Sài Gòn thì lệnh khởi nghĩa đã ban bố.Cuộc khởi nghĩa có ý nghĩa rất lớn, nổ ra trên phạm vi rộng, có tổ chức, có sự tham gia của đông
đảo quần chúng nhân dân Cuộc khởi nghĩa đã khẳng định nhiệm vụ chống đế quốc, chống phongkiến có quan hệ khăng khít với nhau, lực lợng của giai cấp công nhân và nông dân là đội quânchủ lực đông đảo nhất, vĩ đại nhất Khi công - nông đã đoàn kết, có sự lãnh đạo của Đảng thìchúng ta có sức mạnh lật đổ kẻ thù Khởi nghĩa có tác dụng đánh đòn rất nặng vào phát xít và taysai Có tác dụng cổ vũ quần chúng toàn quốc tích cực chuẩn bị lực lợng vũ trang Mặc dù Sài Gònkhông khởi nghĩa nhng các địa phơng khác đều khởi nghĩa, nhiều nơi giành đợc thắng lợi, có nơigiành chính quyền, duy trì đợc 50 ngày Trớc tình hình đó, tối ngày 22, rạng ngày 23 ở Sài Gòn,
địch ra lệnh giới nghiêm và lùng bắt cơ quan đầu não xứ ủy
Bớc sang năm 1945, trớc thắng lợi của Đồng minh, thực dân Pháp tăng cờng hoạt động, nuôi
âm mu chờ Đồng minh đánh Nhật để khôi phục quyền thống trị Nhật biết trớc âm mu của Phápnhng cha có điều kiện trừng trị, nên nó đang tạm thời hòa hoãn Trung ơng dự kiến: cuộc đọ sứcPháp, Nhật nhất định sẽ nổ ra Và rồi Nhật đã lật đổ chính quyền Pháp ở Đông D ơng vào đêm 9tháng 3 năm 1945
Trớc tình hình đó, Ban Thờng vụ Trung ơng đã triệu tập hội nghị mở rộng vào đêm 9 tháng 3năm 1945, tại Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) Hội nghị ra Chỉ thị: "Nhật, Pháp bắn nhau và hành
động của chúng ta" Bản chỉ thị phân tích nguyên nhân dẫn tới cuộc đảo chính và chỉ ra: cuộckhủng hoảng chính trị ở Đông Dơng phát triển sâu sắc Cuộc đảo chính của Nhật làm cho chínhquyền Pháp ở Đông Dơng tan rã, chính quyền của Nhật cha ổn định đợc để hoạt động Trung ơngnhận định, thời cơ cách mạng sẽ nhanh chóng chín muồi, bởi vì: nạn đói đang diễn ra ghê gớm,quần chúng oán ghét quân cớp nớc; cuộc chiến tranh thế giới đang đi vào giai đoạn quyết liệt,cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, kẻ thù không rảnh tay đối phó với cách mạng; quân Đồngminh sẽ có thể đổ bộ vào Đông Dơng đánh Nhật Song thời cơ để tổng khởi nghĩa vẫn cha xuất
19
Trang 20hiện bởi vì: Đội tiên phong chuẩn bị cha thật đầy đủ trong cả nớc Trớc mắt đang còn lúng túngtrong việc sửa soạn, cha sẵn sàng chiến đấu, cha quyết tâm hy sinh Hơn nữa quần chúng trunggian hoang mang nhng cần một thời gian nữa để họ thấy rõ hậu quả, tính chất phản động củaNhật, lúc đó mới ngả hẳn về phía cách mạng, mới quyết tâm giúp đỡ và đi theo giai cấp côngnhân Nếu không nhạy bén thì giai cấp trung gian không thấy đợc bản chất của Nhật Trong cuộc
đọ sức tuy Pháp chống Nhật nhng rất yếu ớt nên Nhật lật đổ Pháp dễ dàng; thời điểm này Nhậtcha đến lúc chia rẽ, hoảng loạn
Từ tình hình đó, Trung ơng xác định: kẻ thù trớc mắt của Đông Dơng đã thay đổi Nhật là kẻthù chính, trớc mắt ở Đông Dơng Pháp đã bị Nhật hất cẳng nên không phải là kẻ thù trớc mắt.Nhng chúng ta phải đề phòng âm mu của phái Đờgôn ở Đông Dơng Trung ơng nêu lên khẩuhiệu: đánh đuổi phát xít Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dơng Banthờng vụ có chủ trơng lớn là phát động cao trào chống Nhật mạnh mẽ trong toàn quốc, làm tiền
đề cho tổng khởi nghĩa Cần phải phát động du kích chiến tranh, lập căn cứ địa cách mạng.Chuẩn bị sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa khi có điều kiện thời cơ
Về thời cơ, Trung ơng nhận định: nếu Đồng minh đổ bộ, ta phát động quần chúng đứng lêntổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nớc Mặt khác, phải cảnh giác với Đồng minh vàkhông nên hoàn toàn lệ thuộc vào điều kiện đó Nếu Đồng minh không vào chúng ta cũng có thểtổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi Nhận thức này của Đảng thể hiện tinh thần tự lựccánh sinh, chủ động, sáng tạo Trớc tình hình mới, để phù hợp với yêu cầu, Trung ơng quyết địnhthay đổi mọi hình thức tuyên truyền cổ động, hình thức đấu tranh phải biết nhân cơ hội mà lãnh
đạo nông dân phá kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói Thông qua phong trào đó sẽ thúc đẩykhí thế cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ, động viên quần chúng xuống đờng biểutình, chuẩn bị thực lực, nhanh chóng khởi nghĩa khi thời cơ đến Nơi có điều kiện thì phải phát
động du kích chiến tranh, phát động khởi nghĩa từng phần giành chính quyền từng bộ phận ở địaphơng Trong toàn quốc, cao trào kháng Nhật, cứu nớc nổ ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung vàhình thức Cuộc khởi nghĩa từng phần tiến hành chiến tranh du kích cục bộ, thành lập các căn cứ
địa cách mạng, tiến lên lập khu giải phóng là mặt trận đấu tranh sôi nổi nhất, có tác dụng tích cựckhẩn trơng cho tổng khởi nghĩa sắp tới Cuộc đấu tranh chính trị nổ ra sôi nổi Nổi bật là phongtrào nông dân phá kho thóc, cứu nạn đói Nh vậy từ giữa tháng 3 năm 1945, xét nhân tố chủ quan,chúng ta đã chuẩn bị đủ thực lực cách mạng bao gồm đội quân chính trị quần chúng và có lực l-ợng vũ trang làm nòng cốt, đông đảo nhất là lực lợng tự vệ Đảng ta đã chuẩn bị sẵn sàng đón lấythời cơ Đó là điều kiện chủ quan bên trong thể hiện thực lực cách mạng Từ ngày 3 tháng 8 năm
1945 là thời kỳ trực tiếp chuẩn bị tích cực về lực lợng để tiến tới tổng khởi nghĩa
Tháng 8 năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc Bọn phát xít Nhật ở Đông D ơnghoang mang tan rã cực điểm Kẻ thù chính đã đầu hàng, chính phủ Trần Trọng Kim cũng hoangmang tan rã theo Nhật Với bản chất phản động, ngoan cố, Trần Trọng Kim tìm cách liên hiệp vớiAnh, Pháp, Mỹ nhng không kịp Còn phong trào quần chúng đã phát triển đến đỉnh cao Giai cấptrung gian đã ngả về phía công - nông, diễn ra đúng nh nhận định của Nguyễn ái Quốc Hìnhthức trực tiếp cách mạng đã đến Đảng ta đã kịp thời có chủ trơng đúng đắn để phát động khởinghĩa
Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, đa ra chủ trơng:Phải kịp thời lãnh đạo toàn dân tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật
và tay sai trớc lúc Đồng minh Anh, Mỹ vào Đông Dơng Hội nghị nhấn mạnh, cần kịp thời hành
động đánh cho Nhật những đòn chí tử, đánh chiếm những nơi chắc thắng, trong khi đánh địchcần phối hợp quân sự, chính trị, binh vận… Ngoài việc quyết định khởi nghĩa, hội nghị đề ra chủ
20
Trang 21trơng đối nội, đối ngoại quan trọng và đề ra ba nguyên tắc để đảm bảo cho tổng khởi nghĩa giành
thắng lợi: Một là, tập trung lực lợng vào công việc chính; Hai là, thống nhất mọi phơng diện
quân sự, chính trị, hành động, chỉ huy; Ba là, kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội
Khi mâu thuẫn Nhật - Pháp trở nên gay gắt, thời cơ tổng khởi nghĩa xuất hiện, ngày 3 đến 16tháng 8 năm 1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, Tổng Bí th Trờng Chinh trình bày chủ tr-
ơng tổng khởi nghĩa; thông qua mệnh lệnh khởi nghĩa của Việt Minh và 10 chính sách lớn Đạihội cử ra Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh đứng đầu Nh vậy, đội tiên phong đã sẵn sàngchiến đấu Giữa tháng 8, chúng ta có đầy đủ điều kiện để phát động cuộc tổng khởi nghĩa trongtoàn quốc Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Cách mạng tháng Tám đã nổ ra và giành đợc thắng lợitrên cả nớc
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại vờn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt quốc dân
đọc tuyên ngôn lộc lập khai sinh ra nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa Thắng lợi của cuộc Cáchmạng tháng Tám có ý nghĩa vô cùng to lớn Đối với dân tộc ta, đây là một bớc ngoặt vĩ đại Kỷnguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực trên đất nớc ta Nhân dân lao
động Việt Nam đã thực sự đổi đời, từ địa vị nô lệ, làm thuê trở thành ngời làm chủ cuộc sống củamình Đảng ta từ chỗ hoạt động bí mật, bất hợp pháp, bị đàn áp khủng bố đã trở thành một đảngcông khai cầm quyền Chính quyền cách mạng đợc thành lập trở thành công cụ sắc bén, có hiệulực nhất để Đảng ta tiếp tục lãnh đạo, tổ chức nhân dân ta xây dựng đất nớc và chiến đấu để bảo
vệ nền độc lập của dân tộc mà trớc mắt là sự thách thức nghiêm trọng của giặc đói, giặc dốt vàgiặc ngoại xâm Ngày 2 tháng 9 năm 1945 mãi mãi đi vào lịch sử Việt Nam, là ngày hội lớn nhất,
vẻ vang nhất, là mốc son chói lọi trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam
Sự thành công của Cách mạng tháng Tám là một biểu tợng sinh động có sức cổ vũ to lớn đối
với phong trào giải phóng dân tộc trên phạm vi thế giới và trở thành một trong những mẫu hình
của phong trào cách mạng thế giới, bổ sung vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin nhữngvấn đề cơ bản của cuộc cách mạng ở một nớc thuộc địa Nó đã chứng minh một chân lý lớn củathời đại: Trong điều kiện mới của phong trào cách mạng thế giới, các nớc đang bị nô dịch hoàntoàn có thể gắn mục tiêu độc lập dân tộc với sự lãnh đạo toàn diện của đội tiền phong của giaicấp công nhân là Đảng Cộng sản; gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Cuộc Cách mạngtháng Tám để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu Đó là các bài học về giơng cao ngọn cờ
độc lập dân tộc, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và phongkiến; về xây dựng khối liên minh công - nông; về thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựngmặt trận thống nhất rộng rãi; về triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, tập trung mũinhọn đấu tranh cách mạng vào kẻ thù cụ thể trớc mắt; về nắm vững nguyên lý bạo lực cách mạngcủa quần chúng, kết hợp xây dựng lực lợng chính trị với lực lợng vũ trang, kết hợp đấu tranhchính trị với đấu tranh vũ trang, thực hiện khởi nghĩa từng phần, chuẩn bị lực lợng chu đáo, nắmvững thời cơ thực hiện tổng khởi nghĩa vũ trang ở cả nông thôn và thành thị để giành chínhquyền
2 Những kinh nghiệm của Đảng trong xây dựng lực lợng cách mạng và khởi nghĩa giành chính quyền
Thứ nhất, ba cao trào cách mạng và sự phát triển lực lợng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền
- Cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh
21
Trang 22Phong trào đấu tranh của nhân dân ta trong những năm 1930-1931 tuân theo một quy luậtchung là ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh Đế quốc Pháp trút gánh nặng của cuộc khủng hoảngkinh tế lên vai giai cấp công nhân, nhân dân lao động Pháp và các thuộc địa của Pháp Đối với n-
ớc ta vào những năm 1924-1929, đế quốc Pháp tăng cờng đầu t, khai thác và bóc lột Nền kinh tếViệt Nam vốn đã kiệt quệ do chính sách bóc lột thậm tệ của thực dân Pháp, nay lại càng kiệt quệ
Đời sống của các tầng lớp nhân dân ta đều bị đe doạ, trong đó công nhân và nông dân chịu nhiềutai hoạ nhất
Để đánh đổ ách thống trị của đế quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến, làm cho n ớc ViệtNam hoàn toàn độc lập, Đảng chủ trơng "phải thu phục cho đợc đại bộ phận giai cấp mình, phảilàm cho giai cấp mình lãnh đạo đợc dân chúng" Nhiệm vụ của Đảng là "phải lấy những sự nhuyếu hàng ngày làm bớc đầu mà dắt vô sản giai cấp và dân cày ra chiến trờng cách mạng để dự
bị họ về phía võ trang bạo động sau này"
Theo phơng hớng đấu tranh đó, phong trào công nông đợc dấy lên từ cuối năm 1929 đến năm
1930 Tiếp theo cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Phú Riềng (Nam Bộ) tháng 2 năm 1930,cuộc bãi công của 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định kéo dài ba tuần lễ, từ ngày 25 tháng 3
đến ngày 16 tháng 4 do Tỉnh ủy Nam Định và Đảng ủy nhà máy tổ chức Ngay sau đó, ngày 19tháng 4, 400 công nhân nhà máy diêm Bến Thủy, thành phố Vinh đình công đòi tăng lơng và cảithiện điều kiện làm việc Ngoài những cuộc đấu tranh của công nhân, còn có những cuộc đấutranh của nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác nh: cuộc biểu tình của nông dân HàNam, Thái Bình, đòi giảm su thuế nổ ra trong tháng 4 năm 1930
Những cuộc đấu tranh lớn nói trên của công nhân và nông dân là những "pháo hiệu" mở đầucao trào cách mạng mới ở Việt Nam, chứng tỏ vai trò dẫn đầu cao trào là giai cấp công nhân vàtiếp theo là giai cấp nông dân
Trên cơ sở phong trào công nông bớc đầu phát triển và thắng lợi, Đảng kêu gọi quần chúngtiếp tục đấu tranh đòi tăng lơng, giảm giờ làm cho công nhân, giảm su, hoãn thuế cho nông dân
để thiết thực kỷ niệm ngày Quốc tế lao động ngày 1 tháng 5 năm 1930
Cuộc đấu tranh ngày 1 tháng 5 năm 1930 là một bớc ngoặt đánh dấu phong trào đấu tranh củaquần chúng phát triển thành cao trào cách mạng Ngày đó, từ thành thị đến nông thôn ở nhiều nơitrong cả nớc treo cờ Đảng, rải truyền đơn, tổ chức mít tinh, biểu tình, tuần hành thị uy, khẩu hiệu
đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế đã kết hợp với khẩu hiệu chính trị Nhiều cuộc bãi công, biểu tình
đã liên tiếp nổ ra từ các xí nghiệp công nghiệp ở thành thị đến các vùng nông thôn ở nhiều tỉnhtrong cả nớc Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cuộc bãi công của công nhân các nhà máy với cáccuộc biểu tình của nông dân ở làng xã, sự đoàn kết đấu tranh giữa công nhân và nông dân làmcho đế quốc Pháp lúng túng, bị động, lo sợ
Tháng 9 năm 1930, cao trào tiếp tục phát triển lên đỉnh cao Những khẩu hiệu chính trị đợckết hợp chặt chẽ với các yêu sách về kinh tế trong hàng loạt các cuộc đấu tranh ở khắp cả n ớc ởNghệ An, Hà Tĩnh từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 năm 1930 là thời kỳ "đấu tranh kịch liệt",diễn ra nhiều cuộc đấu tranh quy mô huyện và liên huyện với hàng nghìn, hàng vạn dân chúngtham gia Những cuộc đấu tranh tiêu biểu nh cuộc biểu tình của 3.000 nông dân huyện Nam Đànngày 30 tháng 8, của 20.000 nông dân huyện Thanh Chơng ngày 1 tháng 9, của 3.000 nông dânhuyện Can Lộc ngày 7 tháng 9, của 8.000 nông dân huyện Hng Nguyên ngày 12 tháng 9 năm
1930 Phần lớn những cuộc biểu tình này là những cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ.Quần chúng phá huyện đờng, đốt giấy tờ, phá nhà giam, phá xiềng gông, giải phóng những ngời
bị bắt Trớc khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, bọn thực dân, phong kiến hoảng sợ,
22
Trang 23nhiều tên tri huyện, lý trởng nộp lại ấn tín hoặc chạy trốn, nhiều nơi chính quyền địch tan rã.Trong tình hình đó, Xô viết Nghệ Tĩnh, một hình thức chính quyền đầu tiên của công nông tronglịch sử cách mạng Việt Nam xuất hiện
Xây dựng đợc đội quân chủ lực của cách mạng, thực hiện đợc liên minh công nông là mộtthành tích nổi bật của Đảng ta trong cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh Thực
tế lịch sử cho thấy, trong cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh, công nông thểhiện một nghị lực cách mạng phi thờng và sức mạnh to lớn Hàng triệu nông dân đã đứng lêncùng với giai cấp công nhân phối hợp đấu tranh chống đế quốc, phong kiến Đó là nhờ C ơng lĩnh
đầu tiên của Đảng đúng, gắn nhiệm vụ chống đế quốc với nhiệm vụ chống phong kiến, thực hiệngiải phóng dân tộc và ruộng đất cho dân cày, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của công nông Nh -
ng nếu chỉ thấy lực lợng cách mạng có hai giai cấp công nhân và nông dân thì sẽ dẫn đến cô độc,hẹp hòi, hạn chế việc mở rộng lực lợng cách mạng Trong chỉ thị thành lập Hội Phản đế đồngminh Đông Dơng ra ngày 18 tháng 11 năm 1930, Thờng vụ Trung ơng Đảng đã phân tích, chỉ rõtính "biệt phái" của phong trào, thiếu một tổ chức thật quảng đại quần chúng để lôi cuốn các tầnglớp trí thức dân tộc, t sản dân tộc, địa chủ có đầu óc oán ghét đế quốc Pháp, mong muốn quốc gia
độc lập Đó là nhận thức mới, cách nhìn mới, đánh giá đúng các tầng lớp, giai cấp trong dân tộccủa Đảng Chỉ có nh vậy mới tập hợp đợc lực lợng của cả dân tộc Vì "Cách mạng t sản dânquyền ở Đông Dơng mà không tổ chức đợc toàn dân lại thành một lực lợng thật rộng, thật kín thìcuộc cách mạng cũng khó thành công" Đội quân chính trị quần chúng có tính quyết định là côngnông, nhng muốn đánh đổ kẻ thù lớn mạnh, đạt tới thắng lợi nhanh nhất và giảm bớt tổn thất chocách mạng, đội quân chính trị ấy không thể chỉ có công nông, mà phải bao gồm hết thảy các giaicấp và tầng lớp có khả năng chống đế quốc và phong kiến
- Cao trào vận động dân chủ 1938-1939
Vào cuối năm 1931, cách mạng Việt Nam bớc vào thời kỳ thoái trào Thực dân Pháp thi hànhchính sách đàn áp khủng bố rất tàn bạo, nhất là đối với nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh Cơ quantrung ơng, các xứ ủy Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, nhiều cơ quan tỉnh, huyện, xã bị phá vỡ hầuhết Kẻ địch định dìm phong trào cách mạng của quần chúng trong biển máu, tình hình đen tối t-ởng nh không có đờng ra Cách mạng đứng trớc thửthách lớn
Do tinh thần yêu nớc, thiết tha với độc lập, tự do của nhân dân ta và lòng trung thành, ý chí
đấu tranh kiên cờng của cán bộ, đảng viên, cách mạng đã nhanh chóng ra khỏi thời kỳ thoái trào,tiến lên một cao trào mới, cao trào vận động dân chủ 1936-1939 Cách mạng Việt Nam nhữngnăm 1936-1939 diễn ra trong bối cảnh thế giới có những diễn biến phức tạp Chủ nghĩa phát xítxuất hiện, nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới đang đến gần Nhân loại đứng bên bờ vựccủa thảm hoạ chiến tranh Chủ nghĩa phát xít là kẻ thù xấu xa, tàn bạo nhất của nhân dân thế giới.Trớc tình hình ấy, Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ VII đã họp tại Mátxcơva (7-1935), tham gia
Đại hội có 65 đoàn đại biểu của các đảng cộng sản trên thế giới Đoàn đại biểu Đảng cộng sản
Đông Dơng có các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Nọn do đồngchí Lê Hồng Phong làm trởng đoàn Đồng chí Hồ Chí Minh, lúc này đang học tập và nghiên cứutại trờng Quốc tế Lênin ở Mátxcơva cũng đợc mời dự Đại hội xác định kẻ thù trớc mắt của giaicấp công nhân, nhân dân thế giới là chủ nghĩa phátxít, nhiệm vụ đấu tranh trớc mắt là chốngphátxít, chống chiến tranh, đòi dân chủ, gìn giữ hoà bình Đại hội quyết định thành lập Mặt trậnnhân dân rộng rãi trên thế giới chống chủ nghĩa phátxít, đòi tự do, dân chủ và hoà bình ở Pháp,vào đầu năm 1936, Mặt trận nhân dân Pháp và Chính phủ phái tả phải ra sắc lệnh ân xá chính trị
23
Trang 24phạm ở Đông Dơng, thành lập ủy ban điều tra tình hình thuộc địa ở Bắc Phi và Đông Dơng, cómột số thay đổi về chế độ lao động đối với công nhân
Vận dụng nghị quyết Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ VII, phân tích tình hình thế giới, trongnớc, Đảng xác định kẻ thù chủ yếu trớc mắt của nhân dân Đông Dơng là bọn phản động thuộc
địa và bè lũ tay sai của chúng, mục tiêu đấu tranh trớc mắt là chống bọn phản động thuộc địa,chống phátxít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hoà bình Mục tiêu đó không chỉ thốngnhất với mục tiêu đấu tranh của nhân dân thế giới, tranh thủ đợc sự đồng tình ủng hộ quốc tế, màcòn đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng bức thiết của nhân dân ta, có sức cổ vũ và tập hợp lực lợngmột cách rộng lớn, thu hút đợc hết thảy các giai cấp, tầng lớp tham gia phong trào dân chủ bằngnhiều hình thức phong phú, sát hợp
Mặt trận dân chủ, một hình thức mặt trận thích hợp nhất lúc đó đã thay thế Mặt trận dân tộcthống nhất phản đế Thành phần tham gia Mặt trận dân chủ rộng hơn Mặt trận phản đế Mặt trậndân chủ không chỉ có các lực lợng tiên tiến, kiên quyết chống đế quốc mà gồm cả những thànhphần chỉ có yêu cầu cải cách, không chỉ có quần chúng cơ bản là công nhân, nông dân mà còn cócả những tầng lớp t sản, địa chủ, các đảng phái cải lơng ít nhiều tiến bộ, các thủ lĩnh dân tộc, tôngiáo đấu tranh cho dân chủ, tự do cơm áo, hoà bình
Mặt trận không chỉ bao gồm những ngời tán thành dân chủ thuộc ba nớc Đông Dơng, mà cònthu hút cả những ngoại kiều nh Hoa kiều, Pháp kiều tán thành mục tiêu này Để tập hợp đông đảoquần chúng, trong chính sách mặt trận, Đảng coi trọng liên minh các tầng lớp, giai cấp cơ bản,vừa thực hiện liên minh các tầng lớp, giai cấp cơ bản, vừa thực hiện liên minh với các tầng lớptrên, lấy liên minh công nông làm nền tảng
Các nghị quyết của Đảng thời kỳ này vạch rõ tình hình mới đòi hỏi Đảng phải có đ ờng lốichính trị mới và có phơng pháp hoạt động mới Phơng pháp phải rất linh hoạt nhằm đoàn kết
đông đảo quần chúng trong một mặt trận thống nhất chống phản động thuộc địa, chống phátxít
và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ Đảng chủ trơng chuyển hình thức hoạt động bí mật, không hợppháp sang các hình thức công khai, hợp pháp và nửa công khai, hợp pháp, nhằm tập hợp và hớngdẫn đông đảo quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao, qua đó giáo dục, phát triển lực lợng cáchmạng Các cuộc đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp đã diễn ra sôi nổi ở cả ba nớc
Đông Dơng, nhất là ba xứ Nam, Trung, Bắc thuộc Việt Nam Đó là phong trào Đông Dơng đạihội, phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, phong trào báo chí, truyền bá quốc ngữ,
đấu tranh nghị trờng, những cuộc mít tinh nhân ngày Quốc tế lao động ngày 1 tháng 5, nhữngcuộc đón tiếp Gôđa và Brêviê, các "vị quan to của nhà nớc bảo hộ Pháp" Những cuộc đấu tranh
đó đã thu hút đợc hàng nghìn, hàng vạn quần chúng Đảng và quần chúng trởng thành nhanhchóng qua thực tiễn đấu tranh, đồng thời càng thấy rõ sức mạnh to lớn của nhân dân cùng nhữngkinh nghiệm giác ngộ, tổ chức quần chúng thành những lực lợng cách mạng tự giác
Thực tiễn thời kỳ 1936-1939, Đảng nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa mục tiêu với các hìnhthức tổ chức đấu tranh Hình thức tổ chức đấu tranh phải phục tùng mục tiêu đấu tranh, phải huy
động đợc nhiều lực lợng tham gia đấu tranh bằng nhiều hình thức thích hợp Đảng đặt vấn đề phảibiết tranh thủ những điều kiện hợp pháp, không ảo tởng về con đờng hợp pháp giành chínhquyền, mà chính là để mở rộng việc giáo dục và tập hợp quần chúng, phát triển rộng rãi ảnh h ởngcủa cách mạng Từ những hội ái hữu, nghiệp đoàn, đa nguyện vọng đòi mở Đại hội Đông Dơng,
đón phái đoàn điều tra, truyền bá quốc ngữ, hoạt động báo chí đến việc lợi dụng Viện dân biểu,Hội đồng quản hạt, yêu cầu cải cách hơng chính, v.v Đảng và quần chúng đã sáng tạo ra hàngloạt hình thức hoạt động, tổ chức và đấu tranh vô cùng phong phú, linh hoạt, từ thấp đến cao Chỉ
24
Trang 25trong một thời gian ngắn đã tập hợp đợc đội quân chính trị quần chúng rộng lớn Động viên hàngtriệu quần chúng vào mặt trận đấu tranh, bao gồm công nhân, nông dân, trí thức, thợ thủ công,những ngời buôn bán nhỏ mà hình thành đội quân chính trị quần chúng rộng lớn, thực sự là bớcphát triển mới trong xây dựng lực lợng cách mạng, là một trong những thành quả nổi bật trongcao trào cách mạng 1936-1939
Trong cuộc tổng diễn tập lần thứ nhất (1930-1931) lực lợng đấu tranh chủ yếu là công - nông,thì trong cuộc tổng diễn tập lần thứ hai (1936-1939) ngoài công - nông là nòng cốt còn có đông
đảo các tâng lớp, giai cấp tập hợp trong Mặt trận dân chủ Trên cơ sở phong trào quần chúng rộngrãi, nòng cốt là khối liên minh công - nông đã hình thành trên thực tế từ cao trào 1930-1931,
Đảng xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất Đó là bớc tiến mới trong nhận thức và chỉ đạo thựctiễn của Đảng về xây dựng lực lợng cách mạng
- Cao trào giải phóng dân tộc 1939-1945
Tình hình thế giới vào những năm 1939-1945, nổi bật là cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ haibùng nổ, chi phối đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các nớc Chiến tranh gây tổn thất, đau th-
ơng cho nhân dân, đồng thời đẩy nhanh quá trình "cách mạng hoá quần chúng" Đảng cách mạngcủa giai cấp vô sản nhân cơ hội đó tập hợp lực lợng, đẩy nhanh quá trình phát triển phong tràocách mạng tiến lên từng bớc vững chắc Chính phủ phản động Pháp là một trong những bên gây
ra chiến tranh Sau khi tham chiến, chúng thi hành chính sách phátxít, giải tán Đảng cộng sản vàcác tổ chức dân chủ tiến bộ ở nớc Pháp cũng nh các thuộc địa của Pháp Tại Đông Dơng, chúngthi hành chính sách cai trị thời chiến trên tất cả các mặt đời sống xã hội, ra lệnh tổng động viên,bắt lính, bắt phu, tăng cờng áp bức, bóc lột
Nhận rõ những biến động to lớn của tình hình thế giới và trong nớc, tiền đề của cách mạngthế giới và cách mạng Đông Dơng, Đảng ta quyết định chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc: giơng caohơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc cao hơnnhiệm vụ chống phong kiến, giành ruộng đất cho nông dân, coi nhiệm vụ trung tâm của cáchmạng là chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân Đảng ta hiểu rằng, thắng lợi củacách mạng không tự đến mà phải chủ động chuẩn bị giành lấy và giữ vững Muốn vậy phải có lựclợng, có sức mạnh toàn dân đoàn kết
Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời chủ tr ơng đoàn kết hếtthảy các giới đồng bào yêu nớc, không phân biệt giàu, nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệttôn giáo và xu hớng chính trị nhằm đấu tranh giải phóng dân tộc
Mặt trận Việt Minh ra đời đã thu hút ngày càng nhiều các tầng lớp nhân dân Từ cuối năm
1941 đến đầu năm 1942, các hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc,Thanh niên cứu quốc, đội tự vệ cứu quốc đã đợc thành lập ở nhiều tỉnh miền Bắc, một số tỉnhmiền Trung và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Mặt trận Việt Minh thực sự đã đánh thức đợctinh thần dân tộc xa nay trong nhân dân Đặt vấn đề khởi nghĩa giành chính quyền là nhiệm vụtrung tâm, đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng lực lợng về mọi mặt, vừa có lực lợng chính trị, vừa cólực lợng vũ trang Tiến hành xây dựng lực lợng vũ trang, đẩy hình thức đấu tranh vũ trang lên khicần thiết, kết hợp xây dựng lực lợng chính trị với lực lợng vũ trang, chú ý xây dựng, bố trí lực l-ợng trên các địa bàn chiến lợc, ở cả nông thôn và thành thị là nội dung mới về xây dựng lực lợngcách mạng của thời kỳ 1939-1945 Quá trình xây dựng lực lợng cách mạng đồng thời là quá trìnhphát triển cao trào đánh Pháp đuổi Nhật Mặt khác, qua đấu tranh, lực lợng cách mạng khôngngừng lớn mạnh
Trong hai năm 1943-1944, thực hiện Nghị quyết của Ban thờng vụ trung ơng Đảng tháng 2năm 1943, hầu hết các đảng bộ địa phơng vùng đồng bằng Bắc Bộ, sau những đợt chống khủng
25
Trang 26bố, đã đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố các đoàn thể Việt Minh ở nông thôn và thành thị ở
Hà Nội, tổ chức Việt Minh đợc phát triển mạnh trong nhiều nhà máy, trờng học
ở các tỉnh đồng bằng và ven biển miền Trung, nhiều tổ chức cơ sở của Đảng và Việt Minh đã đivào quần chúng công nhân, nông dân, dân nghèo, đồng thời phát triển vào các tầng lớp tiểu t sản,trí thức ở thành thị ở Nam Bộ, cùng với sự phục hồi một số cơ sở công hội, tổ chức Việt Minh đ-
ợc xây dựng ở Sài Gòn, Gia Định, Tây Ninh và một số tỉnh khác Hoạt động của các đội tuyêntruyền xung phong và vũ trang ở nhiều thành phố, thị xã đã gây thanh thế cho Việt Minh, thúc
đẩy việc phát triển các đoàn thể cứu quốc ở vùng rừng núi và trung du Bắc Bộ, có những dấuhiệu của cao trào cách mạng ở Cao Bằng, hệ thống Việt Minh đợc xây dựng khắp các cơ sở trongtỉnh Đội tự vệ vũ trang và du kích đợc thành lập ở các xã, các huyện Các lớp huấn luyện chínhtrị, quân sự mở ra liên tiếp Phong trào chuẩn bị khởi nghĩa sục sôi trong toàn tỉnh Không khíchuẩn bị khởi nghĩa dâng lên mạnh mẽ ở Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, HàGiang, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Yên, Việt Trì Trong khi đó mâu thuẫn Nhật - Phápngày càng phát triển gay gắt Đúng nh dự đoán của Đảng, đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đã nổsúng đánh Pháp cùng một lúc trên toàn cõi Đông Dơng Ngay đêm 9 tháng 3 năm 1945, giữa lúcNhật nổ súng đánh Pháp, Hội nghị mở rộng của Ban thờng vụ trung ơng Đảng họp ở làng ĐìnhBảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) do đồng chí Trờng Chinh chủ trì Hội nghị quyết định phát động mộtcao trào kháng Nhật, cứu nớc mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa
Giữa lúc ấy, nạn đói ở các tỉnh miền Bắc diễn ra rất nghiêm trọng Chính sách vơ vét, bóc lộtcủa phát xít Nhật và thực dân Pháp đã làm cho hơn hai triệu dân ta chết đói Trớc tình hình đó,
Đảng nêu khẩu hiệu: "Phá kho thóc, giải quyết nạn đói" Chủ trơng đó của Đảng đã đáp ứngnguyện vọng cấp bách nhất của quần chúng, đã dấy lên một cao trào đấu tranh rộng lớn ở nôngthôn Bắc Bộ Cao trào kháng Nhật cứu nớc càng dâng lên mạnh mẽ khi đợc tin thắng lợi củaHồng quân Liên Xô và phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện Trong tình hình vô cùng khẩn cấp,Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, tiếp sau đó ngày 16tháng 8 năm 1945 Đại hội quốc dân họp tại Tân Trào (Tuyên Quang), quyết định phát động toàndân tổng khởi nghĩa Nhân dân cả nớc, triệu ngời nh một đã nhất tề đứng lên khởi nghĩa giànhchính quyền từ tay phát xít Nhật và chính quyền tay sai Chỉ trong vòng 12 ngày, từ ngày 14 đếnngày 25 tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã giành đợc chính quyền trong cả nớc
Cách mạng tháng Tám thắng lợi "chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta cóthể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lầnnày là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảngmới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc Cách mạng thángTám nổ ra và thắng lợi là kết quả hợp thành của các nhân tố chủ quan và khách quan, trong vàngoài nớc Nhng quyết định trực tiếp, trớc hết là các nhân tố chủ quan bên trong Đó là sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng và tinh thần quật khởi mạnh mẽ của toàn dân ta Trong suốt 15 năm, kể
từ khi ra đời đến Cách mạng tháng Tám 1945, qua ba cao trào, Đảng ta đã kiên trì xây dựng lực ợng cách mạng về mọi mặt Nhờ có lực lợng toàn dân đoàn kết đợc xây dựng rộng khắp, có tổchức chặt chẽ nên Cách mạng tháng Tám đã diễn ra nhanh, ít đổ máu và thắng lợi vẻ vang
l-Thứ hai, kinh nghiệm xây dựng lực lợng cách mạng đấu tranh giành chính quyền
- Từng thời kỳ, Đảng định ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể sát đúng để tập hợp quần chúng, xây dựng lực lợng cách mạng
Từ khi ra đời, Đảng đã xác định trong Cơng lĩnh của mình con đờng phát triển tất yếu củacách mạng Việt Nam: trớc làm cách mạng dân tộc dân chủ, sau đó tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏqua giai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, hai nhiệm
26
Trang 27vụ chống đế quốc và chống phong kiến đợc kết hợp một cách khăng khít, nhằm thực hiện mụctiêu độc lập dân tộc và ngời cày có ruộng Phơng hớng và mục tiêu cơ bản đó đáp ứng yêu cầu,nguyện vọng thiết tha nhất của toàn dân tộc, trớc hết là công nhân, nông dân và nhân dân lao
động Đờng lối chiến lợc đúng là ngọn cờ hiệu triệu, tập hợp lực lợng Nhng cách mạng muốnthắng lợi, muốn đạt tới mục tiêu chiến lợc phải có sự chỉ đạo chiến lợc đúng
Kinh nghiệm cho thấy, đề ra mục tiêu chiến lợc và kiên định mục tiêu chiến lợc đó đã khó, việc đề ra mục tiêu trớc mắt sát hợp với từng thời kỳ, kết hợp đúng đắn mục tiêu trớc mắt với mục tiêu lâu dài còn khó khăn, phức tạp hơn ở
đây, có thể phạm sai lầm "hữu khuynh" hoặc "tả khuynh" Nóng vội, chủ quan hay do dự, bảo thủcũng dễ bị tổn thất Phải kết hợp nhiệt tình cách mạng với tri thức khoa học, phải có quan điểmlịch sử cụ thể mới xác định đợc mục tiêu trớc mắt sát đúng và do đó mới tập hợp và xây dựng đợclực lợng cách mạng đông đảo, vững mạnh Đồng chí Đỗ Mời, - Nguyên Tổng Bí th đã nói:
"Trong việc xác định mục tiêu, tuy có chú ý tính toàn diện, nhng cần tập trung vào những trọng
điểm và thể hiện tính khả thi, không đề ra cao quá, vì sẽ không có khả năng thực hiện, gây nghingờ trong quần chúng, cũng không hạ thấp vì sẽ kìm hãm phong trào cách mạng của nhân dân.Phải đặc biệt tính toán các giải pháp, phơng tiện để thực hiện mục tiêu"
Thực tiễn lịch sử chứng tỏ, Đảng ta từng bớc bổ sung, cụ thể hoá đờng lối cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân, nhận thức và giải quyết ngày càng đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụchống đế quốc và chống phong kiến Quá trình đó đồng thời là quá trình giác ngộ, tổ chức quầnchúng và xây dựng lực lợng cách mạng Luận cơng chính trị tháng 10 năm 1930 xác định đúngnhiệm vụ chiến lợc và lực lợng cơ bản của cách mạng t sản dân quyền ở nớc ta, nhng cha xác
định rõ nhiệm vụ chủ yếu trớc mắt là chống đế quốc, giải phóng dân tộc, cho nên cha đánh giá
đúng vai trò, lực lợng của giai cấp trí thức tiểu t sản và t sản dân tộc Do đó đã hạn chế việc tậphợp lực lợng cách mạng
Trong thời kỳ 1936-1939, Đảng xác định mục tiêu trớc mắt đáp ứng yêu cầu, nguyện vọngcủa nhân dân, vì thế đã thu hút đợc đông đảo quần chúng tham gia đấu tranh Bên cạnh côngnhân, nông dân trớc sau vẫn là nòng cốt của cách mạng, Đảng còn thu hút đợc đông đảo các tầnglớp, các giai cấp, các dân tộc, kể cả các đảng phái cải lơng, các cá nhân tiên tiến thuộc tầng lớptrên, tán thành đấu tranh cho dân sinh, dân chủ Trên thực tế đã hình thành đội quân chính trịquần chúng rộng lớn
Đánh giá ý nghĩa của cao trào cách mạng 1936-1939, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Việc gì
đúng với nguyện vọng nhân dân thì đợc quần chúng nhân dân ủng hộ và hăng hái đấu tranh, và
nh vậy mới thật là một phong trào quần chúng Nó cũng dạy chúng ta rằng: phải hết sức tránhnhững bệnh chủ quan, hẹp hòi, v.v…"
Trong thời kỳ 1940-1945, Đảng nhận thức đầy đủ hơn và chỉ đạo kết hợp một cách khéo léogiữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, coi nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếunhất, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và đợc rải ra thực hiệntừng bớc Đảng chỉ rõ: "Trong lúc này, nếu không giải quyết đợc vấn đề dân tộc giải phóng,không đòi đợc độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc cònchịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi bộ phận của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại đợc".Trong giai đoạn hiện tại "nếu không đánh đuổi đợc Nhật - Pháp thì vận mạng của dân tộc phảichịu kiếp ngựa trâu muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết đợc" Tậptrung mũi nhọn đấu tranh đánh đổ đế quốc phátxít Nhật - Pháp và bè lũ tay sai, thực hiện mụctiêu chủ yếu là giải phóng dân tộc, song Đảng không quên nhấn mạnh, cách mạng vẫn mang tínhchất dân tộc dân chủ, nghĩa là không đợc tách rời hai nhiệm vụ chiến lợc mà phải coi đánh đổ đế
27
Trang 28quốc và giai cấp địa chủ phong kiến là nhiệm vụ khăng khít, vấn đề dân tộc và vấn đề dân chủkhông thể tách rời Nhng, không tiến hành song song nhất loạt ngang nhau
Tập trung giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc không phải là Đảng thủ tiêu vấn đề đấutranh giai cấp và bỏ nhiệm vụ điền địa, cũng không phải lùi một bớc mà chỉ bớc một bớc ngắn
hơn, để có sức mà bớc một bớc dài hơn Đảng chủ trơng tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất
mà thay bằng khẩu hiệu tịch ký ruộng đất của đế quốc Pháp và của những địa chủ phản bội quyền
lợi dân tộc, tức là cha đánh vào toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến Đây là một chủ trơng khônkhéo, nhằm tập trung lực lợng giải quyết nhiệm vụ chủ yếu Chủ trơng đó nhằm tạo ra sức mạnh
to lớn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia cách mạng, đồng thời củng cố khối liênminh công nông thêm vững chắc
- Lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp với trình độ giác ngộ và khả năng đấu tranh của các tầng lớp, giai cấp
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề tổchức Đảng hiểu rằng, sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ sức mạnh của quần chúng, mà sứcmạnh của quần chúng phải là hành động tự giác có tổ chức Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Cáchmệnh thì phải có tổ chức rất vững bền mới thành công" Chỉ thị về công tác tổ chức của Ban chấphành trung ơng Đảng (1-2-1941) chỉ rõ: "Biết tổ chức thì dù bọn phátxít qủy quyệt, tàn nhẫn đến
đâu cũng không làm gì nổi Biết tổ chức tức là có thêm cán bộ, có vũ khí, có tài chính, có chiến
đấu lực, tất cả những điều kiện cần thiết cho cuộc cách mạng dân tộc giải phóng" ở mỗi thời kỳlịch sử, do mục tiêu đấu tranh, trình độ quần chúng, đối tợng cách mạng, lực lợng đối sánh, đặc
điểm thời cuộc mà có những hình thức tổ chức thích hợp
Thời kỳ 1936-1939, Đảng chủ trơng: phải rất linh hoạt, khôn khéo trong việc tổ chức quầnchúng, không cứng nhắc, không nhất thiết các tổ chức quần chúng đều phải mang một màu sắc,
đều phải nhuộm màu đỏ nh Công hội đỏ, Hội cứu tế đỏ mà có thể lấy những cái tên đơn sơ, cốt saotập hợp đợc đông đảo quần chúng vào các tổ chức cách mạng Đảng quyết định lấy tên Thanh niênphản đế đoàn thay Thanh niên cộng sản đoàn, lập Hội cứu tế bình dân thay Hội cứu tế đỏ, lấy tênCông hội thay Công hội đỏ và lấy tên Nông hội thay Nông hội đỏ Đảng và quần chúng sáng tạo
ra các hình thức tổ chức phổ thông gắn liền với đời sống sinh hoạt bình thờng hàng ngày nh hộicấy, hội gặt, hội lợp nhà, hội hiếu hỉ, phờng đi săn, hội hát kịch, v.v Những hình thức tổ chức
"biến tớng" đó thích hợp với nhân dân ta ở một nớc thuộc địa nửa phong kiến, mọi quyền tự dodân chủ bị kẻ thù bóp nghẹt và nhất là nhân dân vừa trải qua một thời kỳ bị kẻ thù đàn áp đẫmmáu Do đó, nhiều hình thức tổ chức vừa làm, sát hợp với quần chúng, nên đã lôi kéo đợc đông
đảo quần chúng tham gia vào các phong trào đấu tranh công khai, bán công khai, rầm rộ, sôi nổihiếm thấy dới thời Pháp thống trị và hiếm có ở một nớc thuộc địa Việc tổ chức quần chúng phải
có nhiều hình thức thích hợp với từng giai cấp, tầng lớp nhân dân và từng lứa tuổi Thông thờng,quần chúng có ba loại: tiên tiến, trung bình, chậm tiến, lại còn có sự khác biệt về giai cấp, tôngiáo, dân tộc, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp Cho nên, ngoài các đoàn thể cứu quốc, Đảng còn
tổ chức nhiều đoàn thể đơn sơ, không điều lệ, công khai hoặc nửa công khai để thu hút đông đảodân chúng
Trong khi tổ chức đảng hết sức chặt chẽ, thì tổ chức quần chúng phải hết sức rộng rãi, nhẹnhàng, thậm chí có khi không thành hình thức tổ chức; phải biết tận dụng mọi khả năng hợppháp, nửa hợp pháp, dù là đơn sơ, nhỏ hẹp Phải biết nắm lấy mọi hoạt động của xã hội, kể cả các
tổ chức do thực dân Pháp lập ra, các hoạt động văn hoá, kinh tế trong sinh hoạt hàng ngày củaquần chúng để tập hợp quần chúng đông đảo và che giấu tổ chức không hợp pháp Từ cuộc đấu
28
Trang 29tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ cụ thể hàng ngày mà tập hợp quần chúng, từng bớc đaquần chúng tham gia phong trào cách mạng
Khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền là nhiệm vụtrung tâm, Đảng lại có những hình thức tổ chức mới cao hơn Để khích lệ hơn nữa tinh thần yêunớc, ý thức dân tộc, các đoàn thể quần chúng đều có tên chung "cứu quốc" nh Thanh niên cứuquốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, v.v Tìm tòi, chọn lựa các hìnhthức tổ chức vừa tầm, thích hợp với quần chúng, đồng thời còn phải phù hợp với hoàn cảnh kháchquan, mới có khả năng thu hút đông đảo quần chúng đấu tranh cho mục tiêu đã định Trongnhững năm 1930-1935, hình thức mặt trận mà Đảng lựa chọn là Hội phản đế đồng minh Thời kỳ1936-1939 là Mặt trận dân chủ Hội nghị Ban chấp hành trung ơng Đảng lần thứ tám (tháng 5-1941) quyết định một hình thức mặt trận mới thay Mặt trận dân chủ, đó là Việt Nam độc lập
đồng minh, gọi tắt là Việt Minh
Mặt trận Việt Minh đợc thành lập theo chủ trơng chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc của Đảng.Lúc này, Đảng đã xác định mục tiêu cụ thể trớc mắt không còn là đấu tranh đòi những quyền lợidân sinh, dân chủ đơn sơ, mà là chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân,
đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc Vì nguy cơ diệt vong đã bày ra tr ớc mắt Hiệnthời chúng ta chỉ có một con đờng mu sống là đoàn kết, thống nhất đánh đuổi Nhật - Pháp, trừkhử Việt gian Mặt trận dân chủ rõ ràng không còn thích hợp với mục tiêu đấu tranh trong thời kỳmới, cần có một hình thức mặt trận phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới, nhằm liên kết hết thảycác giới đồng bào yêu nớc, không phân biệt giàu-nghèo, già-trẻ, gái-trai, không phân biệt tôngiáo và xu hớng chính trị, đặng cùng nhau mu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn Mặt trận ViệtMinh đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chung củatoàn dân tộc, là cơ sở quyết định quy tụ cả cộng đồng dân tộc trong Mặt trận dân tộc thống nhất,
đánh đổ ách thống trị của phátxít Nhật - Pháp và bọn tay sai
- Kết hợp đúng đắn giữa xây dựng lực lợng chính trị và lực lợng vũ trang
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ đầu đã khẳng định, cách mạng Việt Nam phải tiếnhành bằng phơng pháp cách mạng bạo lực, lực lợng chính trị quần chúng là cơ sở để xây dựng vàphát triển lực lợng vũ trang cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Muốn có đội quân võ trangphải có đội quân tuyên truyền, vận động, đội quân chính trị trớc đã Nên việc này phải làm ngay,sao cho đội quân chính trị ngày càng đông Nh ở ta muốn đánh Pháp - Nhật thì ai vác súng? Ai làngời tự nguyện, tự giác vác súng? Ta phải có quần chúng giác ngộ chính trị tự nguyện vác súngthì mới thắng đợc"
Thực tiễn cuộc vận động giải phóng dân tộc cho thấy bắt đầu từ xây dựng lực lợng chính trị,trên cơ sở lực lợng chính trị mà xây dựng lực lợng vũ trang Khi nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặtlên hàng đầu, yêu cầu phải đẩy cuộc đấu tranh lên hình thức cao để hỗ trợ cho công tác tuyêntruyền, vận động quần chúng, từ các đoàn thể, các tổ chức chính trị quần chúng, đã hình thànhcác đội tự vệ chiến đấu, các tổ du kích chiến đấu, hình thức sơ khai của lực lợng vũ trang Các đội
tự vệ công nông đầu tiên trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, các đội Cứu quốc quân, Việt Namtuyên truyền giải phóng quân, du kích Ba Tơ đều từ lực lợng chính trị của quần chúng, từ nhândân đợc giác ngộ, có tổ chức mà ra Trong xây dựng lực lợng, Đảng coi trọng xây dựng lực lợng
vũ trang nhng không tuyệt đối hoá vai trò của nó, không đặt vấn đề xây dựng lực lợng vũ tranglớn ngay từ đầu mà trớc hết xây dựng lực lợng chính trị, kết hợp đúng đắn xây dựng lực lợngchính trị với lực lợng vũ trang đáp ứng nhiệm vụ giải phóng dân tộc
Thời kỳ 1939-1945, trớc nguy cơ phátxít và chiến tranh xâm lợc của phátxít Nhật, Pháp, đểchuẩn bị đón thời cơ, Đảng lấy việc xây dựng lực lợng chính trị quần chúng làm cơ bản Thông
29
Trang 30qua các phong trào đấu tranh của quần chúng, các đoàn thể và mặt trận, một lực lợng chính trịquần chúng đông đảo đã hình thành, đồng thời trên cơ sở đó mà từng bớc xây dựng các lực lợng
vũ trang cách mạng Hội nghị Ban chấp hành trung ơng Đảng lần thứ sáu (tháng 11-1939) chủ
tr-ơng thành lập các đội tự vệ chiến đấu: "Đội tự vệ phải to rộng, đủ dũng cảm và điềm tĩnh, khônkhéo và hy sinh bảo vệ quần chúng" Hội nghị Ban chấp hành trung ơng Đảng lần thứ bảy (tháng11-1940) chỉ rõ: "Mặt trận phải trực tiếp võ trang cho dân chúng cùng Đảng tổ chức nhân dâncách mạng quân" Hội nghị Ban chấp hành trung ơng Đảng lần thứ tám (tháng 5-1941) chủ trơng
mở rộng các tổ chức cứu quốc và thành lập những tiểu tổ du kích chiến đấu Cuối năm 1941,
đồng chí Nguyễn ái Quốc quyết định thành lập đội tự vệ vũ trang Cao Bằng để thúc đẩy việc xâydựng cơ sở chính trị và chuẩn bị cho việc xây dựng lực lợng vũ trang Tháng 12 năm 1944, Đảngchỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tổ chức tiền thân của quân đội nhândân Việt Nam sau này Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời trên cơ sở những đội dukích nhỏ hoạt động từ trớc ở Cao Bằng, Lạng Sơn Mặc dù hình thức là đội quân vũ trang, hoạt
động tác chiến, nhng Đảng chỉ rõ phơng châm và nhiệm vụ hoạt động của Việt Nam tuyên truyềngiải phóng quân là chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến
Sau ngày đảo chính Nhật - Pháp, Đảng cho rằng tình thế lúc này đã đặt nhiệm vụ quân sự lêntrên và cần kíp, do đó quyết định phát triển lực lợng vũ trang và thống nhất Việt Nam cứu quốcquân với Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành Việt Nam giải phóng quân Khi tiến lênkhởi nghĩa từng phần, đi đôi với việc đẩy mạnh đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, Đảng đãnhanh chóng phát triển lực lợng chính trị quần chúng và lực lợng vũ trang cách mạng, thúc đẩymạnh mẽ cao trào cách mạng trong cả nớc, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền
Tháng Tám năm 1945, trong lúc lực lợng vũ trang nhân dân còn non trẻ, Đảng đã huy động
đ-ợc một lực lợng chính trị quần chúng lớn mạnh, bao gồm hàng triệu hội viên cứu quốc và hàngchục triệu đồng bào dới khẩu hiệu hành động của Mặt trận Việt Minh, tạo thành lực lợng chủ yếuquyết định thắng lợi của tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 Cách mạng tháng Tám thành công là
do biết kết hợp chặt chẽ lực lợng chính trị và lực lợng vũ trang, đấu tranh chính trị và đấu tranh
vũ trang, trong đó lực lợng chính trị và đấu tranh chính trị của đông đảo quần chúng giữ vai tròchủ yếu Kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đã tạo ra u thế áp đảo quân thù, giànhthắng lợi nhanh, gọn trong Cách mạng tháng Tám năm 1945
- Xây dựng và bố trí lực lợng đều khắp trên các địa bàn nông thôn và thành thị
Đảng ta sớm nhận thức đúng về vị trí, tầm quan trọng của các địa bàn chiến lợc, coi trọng cảnông thôn và thành thị, chú ý xây dựng lực lợng ở cả nông thôn và thành thị Trong đấu tranhcách mạng, nhất là trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, vấn đề xây dựng lực lợng, bố trílực lợng trên các địa bàn, kết hợp phong trào đấu tranh của nông dân ở nông thôn với phong tràocủa công nhân, trí thức, học sinh, thợ thủ công và buôn bán nhỏ ở thành thị để tiến hành khởinghĩa toàn dân, kịp thời cơ thuận lợi là một vấn đề quan trọng Trong đờng lối cũng nh chỉ đạothực tiễn phong trào, chứng tỏ Đảng ta đã giải quyết tốt vấn đề xây dựng và bố trí lực l ợng bảo
đảm cho Cách mạng tháng Tám thành công
Đảng hiểu rằng, nông thôn đồng bằng là nơi tiếp giáp với thành thị, hơn 90% dân số là nôngdân sống chủ yếu ở đây Do bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề, nông dân rất thathiết với nền độc lập của đất nớc và có ruộng đất cấy cày Đây là nơi bộ máy thống trị của địchyếu hoặc tơng đối yếu và có nhiều sơ hở Khởi nghĩa của ta là khởi nghĩa toàn dân, việc tổ chứclực lợng và phát động nhân dân đồng bằng đứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền là vấn đề có ýnghĩa chiến lợc quan trọng Thành thị là nơi tập trung giai cấp công nhân, giàu tinh thần cách
30
Trang 31mạng, có đông đảo nhân dân lao động, học sinh, trí thức tiến bộ là những tầng lớp có tinh thầnyêu nớc cao Thành thị là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá; là nơi tập trung các cơquan đầu não và bộ máy thống trị của địch
Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng lực lợng cách mạng ở thành thị, đặc biệt
là công tác vận động công nhân và trí thức Nếu không chú trọng công tác trên đây thì khởi nghĩakhó nổ ra ở trung tâm đầu não của quân thù và do đó không làm cho chúng bị tê liệt Không xâydựng lực lợng cách mạng ở thành thị thì cuộc khởi nghĩa khó phát triển lên thành tổng khởi nghĩagiành chính quyền trong toàn quốc
Từ cuối năm 1939, tuy chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, Đảng vẫn không xem nhẹcông tác ở thành thị Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ơng lần thứ tám (5-1941) nêu rõ:
"Muốn có một lực lợng toàn quốc đủ sức phát động và bảo đảm cho một cuộc khởi nghĩa thắnglợi thì đi đôi với việc mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc sẵn có, phải chú trọng mở rộngcác tổ chức vào những nơi thành thị, xí nghiệp, hầm mỏ, đồn điền" Từ đó, công tác vận độngcách mạng ở thành thị ngày càng đợc tăng cờng, đặc biệt trong công nhân và trí thức Nghị quyếtBan thờng vụ trung ơng Đảng (2-1943) chỉ rõ: "Không làm cho thợ thuyền tích cực tham gia khởinghĩa thì: Cuộc khởi nghĩa khó nổ ra ở những nơi huyết mạch của quân thù (thành phố, vùng mỏ,
đồn điền, đờng vận tải cốt yếu), do đó quân thù không bị tê liệt Cuộc khởi nghĩa có tính chất địaphơng, eo hẹp, không lan rộng ra toàn xứ cho tới toàn quốc, nh thế quân thù có thể tập trung lựclợng vào một vài nơi đàn áp quân khởi nghĩa"
Chính nhờ ra sức xây dựng cơ sở, lực lợng và căn cứ địa ở nông thôn, đồng thời chú trọng xâydựng cơ sở và lực lợng ở thành thị, nên khi thời cơ đến, Đảng đã phát động đợc toàn dân ở cảthành thị và nông thôn cùng nổi dậy, nhanh chóng giành đợc chính quyền trên cả nớc trongnhững ngày tháng Tám năm 1945
- Gắn xây dựng lực lợng với đấu tranh, thông qua đấu tranh để củng cố, phát triển lực lợng
Xây dựng và phát triển lực lợng cách mạng nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đấu tranh giảiphóng dân tộc và giải phóng giai cấp, không thể tiến hành ngoài vòng đấu tranh đó Xây dựng lựclợng và đấu tranh có mối quan hệ tác động biện chứng Xây dựng lực lợng để đấu tranh và đấutranh đúng mức, vừa sức bảo đảm thắng lợi, gìn giữ và phát triển đợc lực lợng để đấu tranh mạnh
mẽ hơn, giành thắng lợi lớn hơn Trong điều kiện ban đầu, Đảng còn ít kinh nghiệm, lực lợng
đảng viên còn mỏng, quần chúng cha đợc tổ chức chặt chẽ, rộng khắp đã vội đẩy phong trào lênquá mức, bộc lộ lực lợng thì cách mạng không tránh khỏi tổn thất Phải xây dựng lực lợng đếnmức nhất định thì tiến hành đấu tranh mới có kết quả
Đảng và lãnh thụ Nguyễn ái Quốc đánh giá cao tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dânNghệ An, Hà Tĩnh trong cao trào 1930-1931, nhng cũng đã dự đoán chính quyền Xôviết sẽkhông duy trì đợc lâu vì lực lợng còn non yếu, cha đều khắp, vũ trang bạo động trong một vài địaphơng là quá sớm Đồng chí Nguyễn ái Quốc chỉ rõ nhiệm vụ trớc mắt của Đảng và phong tràonông dân nớc ta là: "Tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giành lấy chủquyền của nhân dân, chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa địa phơng" Phải lựa chọncho phong trào quần chúng những hình thức đấu tranh phù hợp với điều kiện và khả năng lực l -ợng cách mạng cho phép
Vừa tổ chức vừa đấu tranh, đấu tranh để rèn luyện, củng cố tổ chức là hai mặt thống nhất củaquá trình xây dựng, phát triển lực lợng, tổ chức quần chúng đấu tranh Nhấn mạnh mặt tổ chức,coi nhẹ mặt đấu tranh và ngợc lại, hoặc tách rời nhau đều là sai lầm Trong xây dựng lực lợng vàtiến hành đấu tranh có lúc, có nơi Đảng mắc sai lầm "hữu" hoặc "tả", cả hai khuynh hớng đó đều
có hại cho phong trào
31
Trang 32Từ Hội nghị trung ơng Đảng tháng 10 năm 1930, Đảng đã phân tích, phê phán khuynh hớnglệch lạc cho rằng củng cố tổ chức rồi mới đấu tranh, chờ hết khủng bố rồi mới hoạt động, đồngthời vạch rõ, chỉ có thông qua đấu tranh hàng ngày mới phát triển đợc cơ sở, rèn luyện và thanhlọc đợc hàng ngũ, chấn chỉnh đợc tổ chức "Tổ chức ra để có sức tranh đấu, tranh đấu để mởrộng, kiên cố tổ chức, kiên cố tổ chức để mở rộng tổ chức nữa, tổ chức và tranh đấu hết sức mậtthiết liên kết cùng nhau, đồng phát triển với nhau, cái này rời cái kia thì không đợc gì hết" Đảngcòn nói rõ rằng, tổ chức để tranh đấu, nhng chính trong sự tranh đấu mà phát triển tổ chức "Chonên sự tranh đấu quần chúng với công việc tổ chức thật mật thiết liên lạc, không thể rời ra đợc" Thực tiễn ba cao trào cách mạng là quá trình kết hợp đấu tranh với xây dựng lực lợng, thôngqua đấu tranh mà Đảng ta ngày càng trởng thành, lực lợng cách mạng ngày càng phát triển Caotrào dân chủ 1936-1939 là bớc phát triển mới trong việc xây dựng, tập hợp lực lợng cách mạng.
Đảng đề ra những hình thức đấu tranh vừa sức, vừa tầm, phù hợp với trình độ quần chúng và khảnăng lực lợng cho phép Đồng thời qua đấu tranh, Đảng đợc mở rộng, củng cố, phát triển lực l-ợng Đấu tranh nhng vẫn bảo tồn, gìn giữ đợc lực lợng, tránh tổn thất, tiêu hao lực lợng, mà lại
đạt kết quả cao Trong khi xây dựng lực lợng, không đợc thủ tiêu đấu tranh, Đảng phải lãnh đạoquần chúng đấu tranh mạnh mẽ, nhng chủ yếu là để tập dợt quần chúng, chuẩn bị cho khởi nghĩa,giành chính quyền khi có thời cơ thuận lợi và bảo đảm thành công
Thứ ba, kinh nghiệm lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền.
- Dự đoán đúng thời cơ và hành động kiên quyết, đúng lúc
Đảng ta hiểu rằng, thời cơ là sự kết hợp hàng loạt nhân tố chủ quan và khách quan đã đến độchín muồi, rằng thời cơ không phải tự nó đến, một phần lớn do ta sửa soạn nó, thúc đẩy nó Chínhvì vậy, Đảng đã bền bỉ và công phu chuẩn bị tinh thần và lực l ợng trong suốt mời lăm năm Đảngchăm chú theo dõi, phân tích sâu sắc sự phát triển của tình hình, dự đoán các khả năng, chủ động
đối phó với mọi tình huống
Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Đảng đã có những dự đoán về thời cơ khởinghĩa Từ dự đoán ban đầu đó, dựa vào phân tích tình hình thế giới, chiều hớng phát triển củachiến tranh, tiền đồ cách mạng thế giới và cách mạng Đông Dơng, Hội nghị Ban Chấp hành trung
ơng Đảng lần thứ 8 (5-1941) nêu rõ: "Liên Xô thắng trận, quân Trung Quốc phản công Tất cảcác điều kiện ấy sẽ giúp cho các cuộc vận động của Đảng ta mau phát triển và rồi đây lực lợng sẽlan rộng ra toàn quốc để gây một cuộc tổng khởi nghĩa toàn quốc rộng lớn" Hội nghị còn nêu lênbốn nhân tố của thời cơ chín muồi cho cuộc khởi nghĩa là: "1- Mặt trận cứu quốc đã thống nhất
đợc toàn quốc 2- Nhân dân không thể sống đợc nữa dới ách thống trị của Pháp - Nhật, mà đã sẵnsàng hy sinh bớc vào con đờng khởi nghĩa 3- Phe thống trị Đông Dơng đã bớc vào cuộc khủnghoảng phổ thông đến cực điểm cả về kinh tế, chính trị lẫn quân sự 4- Những điều kiện kháchquan tiện lợi cho cuộc khởi nghĩa Đông Dơng nh quân Trung Quốc đại thắng quân Nhật Cáchmạng Pháp hay cách mạng Nhật nổi dậy, phe dân chủ đại thắng ở Thái Bình Dơng, Liên Xô đạithắng, cách mạng các thuộc địa Pháp - Nhật sôi sục và nhất là quân Trung Quốc hay quân Anh -
Mỹ tràn vào Đông Dơng"
Từ năm 1942, trong bốn khả năng trên, Đảng nhận định khả năng Liên Xô chiến thắngphátxít Đức - Nhật là quan trọng nhất, là thời cơ tốt nhất và xác định "chuẩn bị khởi nghĩa lànhiệm vụ trung tâm của Đảng ta và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại" Tháng 9 năm 1944,
Đảng đã dự kiến rằng, mâu thuẫn Nhật - Pháp sẽ dẫn tới Nhật đảo chính lật đổ Pháp, và chỉ ra
ph-ơng hớng hành động cho toàn Đảng: "Hãy mài gơm, lắp súng khi quân Nhật - Pháp bắn nhau, kịpnổi dậy tiêu diệt chúng giành lại giang sơn" Tháng 10 năm 1944, đồng chí Nguyễn ái Quốc gửi
th kêu gọi đồng bào toàn quốc Bức th nêu rõ: "Phe xâm lợc gần đến ngày bị tiêu diệt Các Đồng
32
Trang 33minh quốc sắp tranh đợc sự thắng lợi cuối cùng Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong mộtnăm hoặc năm rỡi nữa Thời gian rất gấp Ta phải làm nhanh!" Đến Hội nghị Thờng vụ trung ơng
Đảng tháng 3 năm 1945, dự đoán của Đảng ta về thời cơ cách mạng cụ thể, rõ ràng và chính xáchơn Đảng cho rằng, cuộc đảo chính Nhật - Pháp làm cho cuộc khủng hoảng chính trị thêm sâusắc Tuy vậy, những điều kiện khởi nghĩa cha thật chín muồi Những cơ hội tốt đang giúp chonhững điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi Ba cơ hội tốt đó là:
a) Chính trị khủng hoảng (quân thù không rảnh tay đối phó với cách mạng)
b) Nạn đói ghê gớm (quần chúng oán ghét quân cớp nớc)
c) Chiến tranh đến giai đoạn quyết liệt (Đồng minh sẽ đổ bộ vào Đông Dơng đánh Nhật)
Đảng dự kiến ba trờng hợp, tạo thời cơ cho cách mạng bùng nổ: 1) Cách mạng Nhật bùng nổ.2) Nhật mất nớc 3) Quân Đồng minh vào Đông Dơng Đảng đặc biệt chú ý trờng hợp quân Đồngminh vào Đông Dơng, phải tính toán rất chu đáo khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dơng đánhNhật không phải là ta có thể phát động tổng khởi nghĩa ngay tức khắc Quân đồng minh vào, mà
ta khởi nghĩa ngay, có thể: Nhật cha thật lúng túng, nó có thể tiến hành đàn áp Quân Anh, Mỹ làquân đế quốc khi đổ bộ vào, ta khởi nghĩa, nó có thể dừng lại cho Nhật tiêu diệt cách mạng rồimới tiến quân Mợn Nhật diệt cộng sản, rồi tiến tới tiêu diệt Nhật, lập chính phủ bù nhìn tay sai Tháng 8 năm 1945, tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất hiện Cuộc khủng hoảng chính trị ở
Đông Dơng chín muồi nhanh chóng Phong trào chiến tranh du kích ở các chiến khu với phongtrào quần chúng ở nông thôn và thành thị kết hợp chặt chẽ với nhau, tạo nên một không khí sụcsôi cách mạng Đội tiên phong đã sẵn sàng chiến đấu đến cùng Lực lợng hậu bị đã sẵn sàng theo
đội tiên phong Trớc đây, tầng lớp trung gian còn lng chừng, do dự trớc lời kêu gọi của Việt Minhvì tởng Nhật còn mạnh, nay nói chung đều ngả theo cách mạng
Mùa thu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, đã tạo điều kiện khách quanthuận lợi cho cách mạng Việt Nam ở Đông Dơng quân đội Nhật hoang mang, tê liệt Chính phủTrần Trọng Kim do Nhật lập ra bị nhân dân oán ghét đã hoảng hốt, một số bộ trởng xin từ chức.Một điều kiện khách quan nữa thúc đẩy cuộc tổng khởi nghĩa phải tiến hành gấp rút là việc quânAnh, Mỹ sẽ vào Đông Dơng để tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật Nh vậy, số phận của nớc ta sẽ
nh thế nào khi kẻ xâm lợc cũ vừa thua nhng còn đó, thì bọn đế quốc mới với danh nghĩa pháp lýquốc tế sắp nhảy vào Điều đó, đòi hỏi cách mạng phải chạy đua gấp rút với quân Anh, Mỹ đểtránh trờng hợp bất lợi cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù
Trong tình hình vô cùng khẩn cấp, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến ngày 15tháng 8 năm 1945 tại Tân Trào (Tuyên Quang) Sau khi phân tích những điều kiện chủ quan vàkhách quan đã chín muồi để cuộc tổng khởi nghĩa có thể nổ ra và thắng lợi Hội nghị quyết định:
Đảng phải kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phátxít Nhật trớc khi quân Đồng minh vào Đông Dơng Nắm vững thời cơ, kịp thời chớp thời cơ đểphát động toàn dân khởi nghĩa là cả một nghệ thuật, mà tuyệt diệu nhất là chọn đúng lúc, đúngnơi, tập trung toàn lực giáng đòn quyết định vào kẻ thù Thời cơ của cuộc Cách mạng tháng Támxuất hiện vào lúc cao trào chống Nhật, cứu nớc lên đến đỉnh cao, khi Chiến tranh thế giới thứ haisắp kết thúc, bọn phátxít Nhật đã bị bại trận, chính quyền bù nhìn tay sai tan rã, quân Anh, Mỹ và
ch hầu cha kịp đến Chính lúc đó, Đảng ta đã kiên quyết phát động toàn dân nổi dậy đập tan bộmáy thống trị của đế quốc và phong kiến, lập nên nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà Thời cơ
"nghìn năm có một" của Cách mạng tháng Tám đợc chọn chính xác, nổ ra đúng lúc Đó là mộtthành công lớn trong nghệ thuật lãnh đạo Cách mạng tháng Tám của Đảng ta
- Khởi nghĩa phải đa vào cao trào cách mạng của toàn dân
33
Trang 34Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, khởi nghĩa là công việc chung của toàn dân, khôngphải riêng của Mặt trận Việt Minh hay của Đảng Việc cứu nớc, giải phóng dân tộc là việc chungcủa toàn dân, ai là ngời Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm, ngời có tiềngóp tiền, ngời có của góp của, ngời có sức góp sức, ngời có tài năng góp tài năng Chỉ có nh vậymới tạo ra đợc sức mạnh tổng hợp to lớn của toàn dân tộc, đập tan bộ máy nhà nớc của giai cấpthống trị, giành chính quyền về tay nhân dân
Đó là những quan điểm chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về khởi nghĩa
vũ trang Dựa vào cao trào cách mạng phát động toàn dân nổi dậy, nổi dậy bằng tất cả các lực l ợng, bằng tất cả các hình thức đấu tranh của nhân dân để đánh đổ chính quyền đế quốc, phongkiến Lực lợng vũ trang là rất quan trọng không thể thiếu trong cuộc khởi nghĩa, nhng thắng lợicủa khởi nghĩa phải là kết quả nổi dậy của toàn dân kết hợp với lực lợng vũ trang cách mạng.Quan điểm khởi nghĩa toàn dân của Đảng đợc thể hiện tập trung trong cuộc Cách mạng thángTám Nhng thực tế đã đợc quán triệt trong quá trình chuẩn bị Đảng ta đã ra sức tuyên truyền,giáo dục và tổ chức quần chúng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao, tập dợt cho quầnchúng mạnh dạn tiến lên tổng khởi nghĩa
-Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của phơng thức tiến hành khởi nghĩa toàndân của Đảng Nó càng làm sáng tỏ thêm nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về điều kiệnthắng lợi của khởi nghĩa vũ trang Muốn thắng lợi, khởi nghĩa vũ trang không đ ợc dựa vào một
âm mu, một chính đảng mà phải dựa vào giai cấp tiên phong, dựa vào cao trào cách mạng củanhân dân, vào bớc ngoặt quyết định trong lịch sử của cuộc cách mạng
- Khởi nghĩa từng phần giành chính quyền địa phơng tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc
Từ nhận định, sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp, phátxít Nhật là kẻ thù chính và cụ thể trớc mắtcủa nhân dân Đông Dơng, Đảng quyết định phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nớc mạnh
mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa Phơng thức đấu tranh của thời kỳ này là: khởi nghĩatừng phần, chiến tranh du kích cục bộ, mở rộng căn cứ địa, thành lập chính quyền cách mạng ởnhững nơi có điều kiện, đẩy mạnh phong trào quần chúng, đặc biệt là phong trào phá kho thócchống đói Phong trào đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phầndiễn ra sôi nổi ở vùng thợng du, trung du Bắc Bộ
ở Việt Bắc, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân đã phối hợp với nhândân nổi dậy giải phóng hàng loạt châu, huyện, xã thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn,Thái Nguyên, Tuyên Quang ở Bắc Giang, nhân dân nổi dậy thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng
và đội du kích Bắc Giang ở Quảng Ngãi, đợc tin Nhật đảo chính, một số đảng viên đang bị giamtrong các trại ở Ba Tơ đã họp chi bộ quyết định khởi nghĩa, chiếm đồn Ba Tơ, thành lập đội dukích Ba Tơ Trên thực tế, nhiều nơi lúc đó đã hình thành hai chính quyền song song tồn tại: chínhquyền phản động tay sai của phát xít Nhật và chính quyền của nhân dân ở khu giải phóng và ởcác địa phơng đã nổi dậy
Khởi nghĩa từng phần đã xuất hiện trong lịch sử đấu tranh giai cấp và dân tộc từ xa đến nay
Điều khó khăn là làm thế nào giữ vững và phát huy thắng lợi của khởi nghĩa từng phần để tiến lêntổng khởi nghĩa Đảng gắn liền khởi nghĩa từng phần với tổng khởi nghĩa, có nghĩa là trong điềukiện cả nớc đang tích cực chuẩn bị tổng khởi nghĩa mà tiến hành khởi nghĩa từng phần Ng ợc lại,tổng khởi nghĩa chỉ có thể giành đợc thắng lợi trên cơ sở một cao trào cách mạng của nhân dân,cao trào đó đợc phát động bởi nhiều yếu tố, trong đó có ảnh hởng của các cuộc khởi nghĩa từngphần Sáng tạo của Đảng ta là đã vận dụng những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin
để giải quyết thành công vấn đề thời cơ khởi nghĩa từng phần ở nông thôn và thời cơ tổng khởi
34
Trang 35nghĩa ở cả thành thị và nông thôn Trong tình hình rất phức tạp, Đảng ta đánh giá đúng lực l ợng
so sánh địch - ta trong từng địa phơng cũng nh trong cả nớc, đánh giá đúng xu thế phát triển củatình hình và trên cơ sở phát huy cao độ sự cố gắng chủ quan, đã ra sức lợi dụng những điều kiệnkhách quan thuận lợi, sáng tạo thời cơ và mau lẹ chớp thời cơ để lãnh đạo quần chúng vùng lên đ-
a cuộc Cách mạng tháng Tám thành công nhanh chóng
35
Trang 36Trên thế giới, sau Cách mạng tháng Mời Nga, nhà nớc xã hội chủ nghĩađầu tiên trên thế giới
ra đời.Phong trào giải phóng dân tộc phát triển với quy mô rộng lớn và khí thế ngày càng mạnh
mẽ, làm lung lay hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Phong trào đấu tranh đòi dân sinh,dân chủ của công nhân, nhân dân lao động, của các đảng cộng sản ở nhiều nớc t bản đang pháttriển Đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai là ba trào l u cáchmạng thế giới ngày càng phát triển thế tiến công chiến lợc toàn diện vào chủ nghĩa đế quốc, thựcdân Cuộc đấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng với phong trào giải phóng dân tộc chống
ách thực dân là nội dung chính của tiến trình lịch sử thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới thứhai Tình hình đó tác động sâu sắc đến Nhà nớc Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám
Về mặt quốc tế, cách mạng Việt Nam lúc đó ở vào một tình thế không thuận lợi, Việt Namnằm trong phạm vi tiếp quản của các nớc đế quốc mang danh nghĩa Đồng minh Hệ thống các n-
ớc xã hội chủ nghĩa mới hình thành và ở xa Cách mạng Trung Quốc cha giành đợc thắng lợihoàn toàn Phong trào giải phóng dân tộc ở các nớc thuộc địa khác xung quanh Việt Nam chaphát triển mạnh Đông Dơng trở thành nơi tranh chấp của bọn đế quốc và các thế lực phản động.Sau khi giành đợc chính quyền cách mạng, đất nớc ta gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, vănhóa, chính trị xã hội Chúng ta đã tiếp thu một "gia tài" đổ nát của chế độ thực dân, phong kiến.Nông nghiệp bị phá sản, công nghiệp bị đình đốn, kinh tế tài chính đều kiệt quệ Nạn đói năm1944-1945 cha qua mà hậu quả của nó cũng nh thực lực kinh tế đang đe dọa hàng chục triệu tínhmệnh của đồng bào ta Đó là cha nói đến hậu quả của chính sách ngu dân, hơn 90% dân số bị mùchữ, tệ nạn xã hội tồn tại đầy rẫy Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, bọn đế quốc vàphản động quốc tế đều tập trung tìm mọi cách tiêu diệt cách mạng nớc ta Đối với thực dân Pháp,
thất bại ở Đông Dơng là một đòn choáng váng Đợc sự giúp đỡ của bọn đế quốc và bọn phản
động, thực dân Pháp đã ráo riết đẩy mạnh hoạt động phản cách mạng, âm mu chiếm lại nớc tamột lần nữa ở miền Nam, 1,5 vạn quân Anh núp dới danh nghĩa Đồng minh vào tớc vũ khí củaNhật, thực chất, chúng cũng là đội quân viễn chinh đang giúp đỡ quân Pháp đánh chiếm Nam Bộ,
36
Trang 37miền Nam Trung Bộ tiến tới thôn tính toàn bộ Đông Dơng ở miền Bắc, 20 vạn quân Tởng nấp
d-ới danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, nhng thực chất chúng là tay sai của đếquốc Mỹ, thi hành âm mu của Mỹ là tiêu diệt cho đợc Đảng ta, phá tan Mặt trận Việt Minh, giúp
bọn phản động trong nớc dựng chính phủ bù nhìn cho chúng Bọn phản động trong nớc, lợi dụng
cơ hội đó, chúng đã ngóc đầu dậy, tăng cờng hoạt động, ra sức vu cáo, khiêu khích, chia rẽ nội bộnhằm tập trung bóp chết cơ quan cách mạng nớc ta Bọn đế quốc và phản động tuy chúng thốngnhất ở chỗ là tiêu diệt cho đợc cách mạng, tiêu diệt Đảng ta; biến nớc ta thành thuộc địa củachúng nhng đứng trớc quyền lợi thì bọn chúng lại là con chó sói đối với nhau, tên nào cũng muốngiành cho đợc phần lợi lộc về mình Chúng luôn mâu thuẫn với nhau gay gắt Sự thống nhất giữachúng là tạm thời, còn mâu thuẫn giữa chúng là căn bản, là không thể điều hòa đợc Do vậy, ngaysau Cách mạng tháng Tám thành công việc xác định chính xác kẻ thù và tính chất cuộc đấu tranhgiai cấp, đấu tranh dân tộc vẫn diễn ra hết sức gay go và phức tạp
Cách mạng vừa thành công, nền dân chủ cộng hòa cha đợc củng cố vận mệnh đất nớc đứng
tr-ớc thử thách vô cùng nghiêm trọng "ngàn cân treo sợi tóc" Vấn đề cơ bản nhất đợc đặt ra cho
Đảng và nhân dân ta là phải giữ vững chính quyền cách mạng trớc sự tiến công điên cuồng củanhững kẻ thù lớn mạnh, độc ác và nguy hiểm
Khẩu hiệu hành động đợc nêu ra lúc này là: "Dân tộc trên hết", "Tổ quốc trên hết", phải tậptrung lực lợng đối phó với kẻ thù chính, nguy hiểm nhất là thực dân Pháp xâm lợc
Yêu cầu bức thiết hàng đầu của cách mạng nớc ta lúc này là phải tìm cho ra kẻ thù chính và
có biện pháp để phân hóa chúng Phân tích sâu sắc tình hình cụ thể, Đảng ta đi đến kết luận: Pháp
là kẻ thù chính, là kẻ thù số một Phải tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính Khẩu hiệu chỉ đạocủa Đảng ta đa ra lúc này là: "Chống Pháp xâm lợc, Hoa - Việt thân thiện" nhằm thêm bạn bớtthù, loại trừ dần từng kẻ thù Lênin đã dạy rằng: chúng ta chỉ có thể thắng đợc chúng với điềukiện phải có một sự nỗ lực hết sức lớn, phải biết chăm chú lợi dụng những rạn nứt của kẻ thù đểtranh thủ bạn đồng minh dù chỉ là có điều kiện, bấp bênh, tạm thời
Để làm cơ sở cho cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài, Đảng đã lãnh đạo nhân dân xâydựng lực lợng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa Đây là một nhiệm vụ chiến lợc nặng nề, đòihỏi nhân dân ta phải cố gắng vợt bậc, phát triển tiềm lực mọi mặt mới đáp ứng yêu cầu của cáchmạng Nội dung xây dựng lực lợng của Đảng đợc xác định nhiệm vụ hàng đầu là củng cố, xâydựng chính quyền Xây dựng, bảo vệ là hai mặt của một vấn đề Phải triệt để đập tan bộ máychính quyền cũ, xây dựng bộ máy chính quyền mới từ trung ơng đến địa phơng
Để xây dựng hệ thống chính quyền hợp hiến, trong phiên họp của Chính phủ lâm thời tại HàNội ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một trong sáu nhiệm vụ cấp báchcần làm ngay là tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử dân chủ để ngời dân đợc thực hiệnquyền tự do, dân chủ của mình Ngời nêu rõ: "Trớc chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế caitrị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên Nhà nớc ta không có hiến pháp.Nhân dân ta không đợc hởng quyền tự do, dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm cànghay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu"1.
Các lực lợng phản động Việt quốc, Việt cách với sự hậu thuẫn của quân Tởng đã đa ra hàngloạt yêu sách ngang ngợc Trớc tình thế đó một mặt Chính phủ kiên quyết bác bỏ những đòi hỏivô lý của địch, đồng thời có một số nhân nhợng nhất định, tạo điều kiện thuận lợi cho chuẩn bị vàtiến hành bầu cử Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dơng ra tuyên bố "tự giảitán" thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật để thực hiện quyền lãnh đạo trong thời kỳ đangdiễn ra cuộc đấu tranh một mất, một còn giữa ta và địch
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H 1996, tr 8.
37
Trang 38Trớc thái độ mềm dẻo nhng kiên quyết của ta, các tổ chức Việt quốc, Việt cách đã phải cam
kết cùng Việt Minh phấn đấu vì độc lập và đoàn kết dân tộc, tổ chức tổng tuyển cử, đình chỉ côngkích lẫn nhau, mở rộng Chính phủ lâm thời
Ngày 1 tháng 1 năm 1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời đợc thành lập có một số thành viên
của Việt quốc, Việt cách tham gia Nhiệm vụ quan trọng nhất của Chính phủ liên hiệp lâm thời là
tổ chức tổng tuyển cử, bầu Quốc hội của nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, bất chấp sự khủng bố của kẻ thù, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên củachế độ mới đợc tiến hành Lần đầu tiên sau những năm dài sống cuộc đời mất tự do, nhân dân ta
đợc hởng quyền làm chủ của mình Khoảng 90% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu Quốc hội khóa I
đ-ợc bầu ra gồm 333 đại biểu thuộc các giai cấp dân tộc, tôn giáo và các đảng phái khác nhau.Cuộc tổng tuyển cử diễn ra trong lúc vô cùng khó khăn, phức tạp (kẻ thù phá hoại ráo riết)song đã giành đợc thắng lợi cực kỳ to lớn Điều đó đã nói lên nhân dân ta tuyệt đối tin tởng vào
Đảng và Bác Hồ Đồng thời nó chứng tỏ quần chúng cách mạng thực sự đã có ý thức làm chủ vậnmệnh của mình, là biểu tợng sức mạnh to lớn, ý chí độc lập tự do, sự cố kết dân tộc không có gìlay chuyển nổi
Quốc hội khóa I họp kỳ họp đầu tiên ngày 2 tháng 3 năm 1946, đã đồng ý mở rộng 70 ghế
cho lực lợng Việt quốc, Việt cách Chủ tịch Hồ Chí Minh đợc Quốc hội ủy nhiệm đã thành lậpChính phủ liên hiệp chính thức có sự tham gia của một số đại biểu tay sai của T ởng Trong Chínhphủ liên hiệp chính thức này, Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịch Chính phủ
Những nhân nhợng cần thiết trên đây tạo điều kiện hạn chế đến mức thấp nhất những hoạt
động chống phá cách mạng của bọn Tởng và tay sai Khi quân Tởng rút về, bọn phản cách mạng
lộ mặt đã bỏ chạy số còn lại đã bị quần chúng vạch tội và bị chính quyền trừng trị Sách lợc hòahoãn với quân Tởng đợc thực hiện với kết quả cao nhất Chính quyền nhân dân và lực lợng cáchmạng đợc củng cố một bớc
Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội còn thông qua tuyên ngôn khẳng định chủ quyền của nớc Việt Nam độc lập, tuyên bố chính thể dân chủ cộng hòa, khẳng định quyền và nghĩa vụ của tất cả các dân tộc trên đất nớc Việt Nam, khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập, quyền tự do của nhân dân Việt Nam
Tháng 10 năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nớc ta ra đời Bản Hiến pháp đã phản ánh thànhquả to lớn của Cách mạng tháng Tám Nó đã đặt nền móng cho việc xây dựng chế độ mới về sau,
là cơng lĩnh hành động cho toàn Đảng, toàn dân ta tiến lên giành thắng lợi triệt để
Bản Hiến pháp đó là: "Bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nớc nhà Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nớc Việt Nam đã độc lập dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do Hiến pháp
đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết,công bình của các giai cấp"1
Tại kỳ họp thứ hai này Quốc hội còn thảo luận các báo cáo của Chính phủ, ra các nghị quyết
về nội trị, ngoại giao, lập chính phủ mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo và bầu Ban Thờngtrực Quốc hội, quy định vị trí chức năng của các cơ quan lập pháp và hành pháp Lần đầu tiêntrong lịch sử Việt Nam, hệ thống nhà nớc bao gồm từ cơ quan lập pháp đến hành pháp, t pháp đã
đợc xây dựng theo nguyên tắc: của dân, do dân, vì dân
Cuộc trng cầu dân ý vĩ đại đó đã đa đến việc chính thức hóa bộ máy nhà nớc từ trung ơng đến
địa phơng, làm tăng uy tín và hiệu lực của chính quyền cách mạng, tạo nên sức mạnh vật chất,tinh thần to lớn để tiến hành đấu tranh chống thù trong giặc ngoài
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H 1996, tr 440.
38
Trang 39Sau Cách mạng tháng Tám, tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn đặt ra cho nhân dân ta rấtnhiều vấn đề cần giải quyết Nền kinh tế của nớc ta lúc này đang bị bọn đế quốc, phản động quốc
tế bao vây ngặt nghèo, lu thông Bắc - Nam không thực hiện đợc Chúng ta lại giải quyết vấn đềkinh tế trong điều kiện trên đất nớc đang có thế lực kẻ thù rất lớn Vụ mùa 1945, thu nhập giảm50% Dự trữ lơng thực của quốc gia chỉ nuôi đợc 8 triệu dân trong vòng 3 tháng Đó là một nguycơ lớn đang đe dọa trực tiếp tới sinh mệnh chính trị, con ngời của dân tộc ta
Đảng xác định: giải quyết vấn đề kinh tế lúc này không chỉ là kinh tế đơn thuần mà còn mangnội dung chính trị Nó thể hiện bản chất, tính hiệu nghiệm của chính quyền mới, chính quyền dânchủ nhân dân Nó nhằm tạo cơ sở vật chất cần thiết để làm điều kiện cho cuộc đấu tranh bảo vệchính quyền cách mạng Biện pháp khắc phục của Đảng là: Trớc mắt, phát động phong trào nh-ờng áo, sẻ cơm trong toàn thể đảng viên, cán bộ, nhân dân, quân đội nhng đây chỉ là biện pháptạm thời; về lâu dài, chủ trơng đẩy mạnh sản xuất đã trở thành khẩu hiệu có tính chất chiến lợc
Chủ trơng "toàn dân tăng gia sản xuất" là một chính sách kinh tế căn bản, của chế độ dân chủ
nhân dân mới ra đời Trớc mắt, chính sách đó đã động viên nhân dân Việt Nam khắc phục mọikhó khăn, phát triển sản xuất nông nghiệp với khẩu hiệu "tấc đất, tấc vàng" nhằm giải quyết nạn
đói và ổn định đời sống cho nhân dân
Theo chủ trơng của Đảng, chính quyền thực hiện ngay việc tịch thu ruộng đất của đế quốc,Việt gian chia cho nông dân nghèo; chia lại ruộng công; tạm giao ruộng đất của t nhân bỏ hoangcho nông dân thiếu ruộng; ra thông t giảm tô 25%; ra sắc lệnh bãi bỏ thuế thân và các thuế vô lýkhác, giảm thuế điền thổ 20% trong cả nớc, miễn thuế cho vùng bị lụt; thành lập ban khuyếnnông ở trung ơng và địa phơng để tổ chức, giúp đỡ nông dân khắc phục khó khăn về giống, vốn,nông cụ, điều hòa sức kéo, hớng dẫn nông dân về kỹ thuật canh tác
Nhờ những chủ trơng, biện pháp trên sản xuất nông nghiệp đợc nhanh chóng khôi phục, cómặt phát triển hơn trớc, sản lợng ngô, khoai, sắn và các cây lơng thực khác tăng lên gấp bội Nạn
đói đợc đẩy lùi, đời sống của ngời nông dân đã đợc ổn định
Trong sản xuất công nghiệp, chế độ lao động ngày làm 8 giờ đợc ban hành; một số quyền lợi
của ngời lao động đợc quy định cụ thể
Về tài chính, để giải quyết khó khăn trớc mắt Chính phủ ra sắc lệnh xây dựng "Quỹ độc lập"
và tổ chức "Tuần lễ vàng" động viên mọi ngời yêu nớc đóng góp cho cách mạng Hởng ứng lờikêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Mặt trận Việt Minh và của Chính phủ, đồng bào cả nớc
đã tự nguyện góp 370 kilôgam vàng và 20 triệu đồng vào "Quỹ độc lập" và 40 triệu đồng phục vụquốc phòng1
Để xây dựng nền tài chính độc lập của nớc nhà, ngày 31 tháng 1 năm 1946, Chính phủ ra sắclệnh phát hành "tiền Việt Nam" Việc phát hành đồng "tiền Việt Nam" thay thế tiền ngân hàng
Đông Dơng trên thị trờng nớc ta là thắng lợi lớn của cách mạng trên mặt trận tài chính
Nhà nớc dân chủ nhân dân đã xóa bỏ những đặc quyền, đặc lợi của thực dân Pháp, giành lạichủ quyền về tài nguyên, hầm mỏ, ngoại thơng thuế quan Giấy bạc Cụ Hồ ra đời, cùng một loạtcác biện pháp nhằm bớc đầu cải thiện đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động đợc thi hànhtợng trng cho nền kinh tế độc lập của một đất nớc
Cùng với thắng lợi to lớn bớc đầu trên mặt trận kinh tế, tài chính, chính quyền nhân dân cũng
có cố gắng lớn và giành đợc nhiều thành tích trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục Chính sách ngu dân
của thực dân Pháp để lại hậu quả nặng nề, hơn 90% dân số Việt Nam bị mù chữ Cách mạngthành côn, một trong những việc cấp bách mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm là phải "diệt giặc
1 Số liệu dẫn theo Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 1, Nxb Sự thật, H 1981, tr 447.
39
Trang 40dốt" Ngời phát động phong trào toàn dân chống nạn mù chữ Sau một năm đã có 2,5 triệu ng ờithoát nạn mù chữ.
Chính quyền nhân dân chăm lo xây dựng một nền giáo dục mới Hệ thống giáo dục từ tiểuhọc đến đại học đợc sớm khai giảng trở lại Tiếng Việt đợc dùng giảng dạy trong các nhà trờng,
kể cả ở các trờng đại học
Tháng 9 năm 1945 nhân ngày khai trờng năm học đầu tiên sau ngày cách mạng thành công,Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi th dặn dò các cháu học sinh "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vanghay không, dân tộc Việt Nam có đợc vẻ vang sánh vai các cờng quốc năm châu đợc hay không,chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu"1
Cùng với giáo dục, sự nghiệp văn hóa cũng phát triển Công tác y tế, vệ sinh phòng bệnh đợc
quan tâm, từng bớc hình thành mạng lới y tế chăm sóc sức khỏe của nhân dân
Trớc hiểm họa xâm lợc của chủ nghĩa đế quốc Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa rất coi
trọng nhiệm vụ xây dựng lực lợng vũ trang, củng cố quốc phòng Tháng 1 năm 1946 Trung ơng
Quân ủy đợc thành lập giúp Ban Chấp hành Trung ơng Đảng lãnh đạo công tác quân sự Các đơn
vị dân quân, tự vệ và tự vệ chiến đấu đợc tổ chức ở các khu phố, thôn xã, các đơn vị giải phóngquân Việt Nam đợc củng cố, bổ sung lực lợng và trang bị đổi tên thành Vệ quốc đoàn Ngày 22tháng 5 năm 1946, Vệ quốc đoàn đợc đổi thành Quân đội quốc gia Việt Nam Từ đầu năm 1946lực lợng vũ trang đợc biên chế thống nhất theo các cấp từ trung đoàn trở xuống Nguồn trang bị
đầu tiên là súng đạn lấy của quân lính Nhật, Pháp nhng chủ yếu vẫn là nguồn vũ khí thô sơ nhdao găm, giáo mác, mã tấu, gậy tre, v.v
Bộ đội tập trung, dân quân tự vệ, công an nhân dân là những lực lợng nòng cốt bảo vệ Nhà nớc dân chủ nhân dân, bảo vệ an toàn quốc gia, chống thù trong giặcngoài, bảo vệ chế độ mới, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân
Thành công lớn của Đảng trong thời kỳ này là tăng cờng thực lực cách mạng về mọi mặt:chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá t tởng, đồng thời phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân với tcách ngời chủ đất nớc để xây dựng và bảo vệ chế độ mới và nền độc lập dân tộc Sức mạnh củachính quyền và chế độ mới thật sự bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân Phát huy đợc sức mạnhcủa toàn dân là do Đảng giải quyết thành công một số vấn đề cơ bản và thiết yếu sau đây:
Một là, Đảng ý thức sâu sắc rằng, cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân Trong
đ-ờng lối, chủ trơng, chính sách cũng nh trong hoạt động thực tiễn, Đảng đã bằng mọi cách làmcho nhân dân hiểu rõ điều đó, làm cho nhân dân thấy đợc việc củng cố, bảo vệ chính quyền vàthành quả cách mạng là quyền lợi và trách nhiệm, là ý chí và tình cảm của mọi ngời để họ thựchiện nhiệm vụ cách mạng một cách tự giác Nếu không có sự ủng hộ hết lòng và tự giác của nhândân thì chính quyền không thể đứng vững Sức mạnh của quần chúng nhân dân chỉ đợc phát huy
đầy đủ khi có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng "Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủlực lợng Nếu không có Chính phủ; thì nhân dân không ai dẫn đờng Vậy nên Chính phủ với nhândân phải đoàn kết thành một khối"
Có đợc sự thống nhất giữa Đảng, chính quyền cách mạng và nhân dân thành một khối vữngvàng là do Đảng và chính quyền đã có đờng lối, chính sách đúng, quan tâm đến những vấn đềdân sinh, dân chủ, dân trí, vì cuộc sống và lợi ích thiết thực của nhân dân; biết tổ chức, động viênquần chúng và điều cực kỳ quan trọng là ở sự gơng mẫu, hy sinh của cán bộ, đảng viên Đội ngũcán bộ, đảng viên đợc Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục và rèn luyện đã thu phục đợc lòng
1 Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, H 1993, tr 341.
40