1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO SÁCH NGHIÊN cứu, xây DỰNG NHÀ nước PHÁP QUYỀN xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM

131 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước pháp quyền lúc đầu như một ý tưởng, ý niệm; sau dần dần hình thành, phát triển thành một học thuyết và được vận dụng, làm phong phú hơn trong thực tiễn xây dựng nhà nước và xã hội công dân. Học thuyết cũng như thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị chung mang tính phổ biến mà nhân loại đã tích lũy được trong quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài và gian khổ nhằm hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, bình đẳng, bác ái và một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Trang 1

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Ở VIỆT NAM

Nhà nước pháp quyền lúc đầu như một ý tưởng, ý niệm; sau dần dần hình thành, phát triển thành một học thuyết và được vận dụng, làm phong phú hơn trong thực tiễn xây dựng nhà nước và xã hội công dân Học thuyết cũng như thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị chung mang tính phổ biến mà nhân loại đã tích lũy được trong quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài và gian khổ nhằm hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, bình đẳng, bác ái và một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu tất yếu khách quan, là nội dung trọng yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Điều đó đã được xác định rõ ràng, chính thức qua các văn kiện quan trọng nhất của Đảng và ghi nhận trang trọng trong bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 (sửa đổi, bổ sung): ''Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân

và đội ngũ trí thức'' Tuy nhiên, xây dựng nhà nước pháp quyền là một quá trình lâu dài, phức tạp; đòi hỏi chúng ta phải vừa vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa xuất phát từ kinh nghiệm xây dựng Nhà nước Việt Nam mấy chục năm qua, vừa tham khảo những kiến thức và kinh nghiệm tiên tiến trên thế giới

Trên thế giới hiện nay, nhà nước đang là vấn đề được đặc biệt quan tâm xem xét, nghiên cứu, đổi mới nhận thức và xây dựng Những biến đổi to lớn của tình hình chính trị, quân sự và phát triển của nền kinh tế thế giới, hội nhập quốc tế đang đòi hỏi mọi quốc gia, dân tộc, mọi nhà nước, không phân biệt hình thức chính thể cần phải nhìn lại những vấn đề căn bản về tổ chức quyền lực nhà nước,

về mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và xã hội, về vai trò của nhà nước trong phát triển nền kinh tế thị trường, thúc đẩy toàn thế giới, từng quốc gia, dân tộc phát triển bền vững Xây dựng nhà nước pháp quyền được coi là "chìa khóa", giải pháp tốt nhất để giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề cốt yếu liên quan tới đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của mọi quốc gia, dân tộc hiện nay

ý tưởng về một nhà nước pháp quyền là "hình thức tổ chức quyền lực nhà nước trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà nước và pháp luật" ra đời rất sớm, ngay

từ thời kỳ cổ đại Biểu tượng thần công lý: Nữ thần che mắt bằng vải đen, một tay cầm kiếm, một tay cầm cán cân công lý tượng trưng cho sự thống nhất giữa sức mạnh và quyền lực của pháp luật, sự bình đẳng của mọi thành viên trong một xã hội có nhà nước Biểu tượng thể hiện khát vọng của nhân dân về sự công bằng, bình đẳng; về sự trông chờ vào Nữ thần - quan tòa công minh, bảo vệ cho họ trước mọi bạo lực cường quyền

Trang 2

ở Việt Nam, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; của phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xu hướng mở rộng dân chủ trong lĩnh vực kinh

tế và đời sống chính trị, xã hội được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết Đáp ứng xu thế chung của thời đại, xây dựng nhà nước pháp quyền được tiếp tục khẳng định như một tất yếu khách quan Xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam được coi

là một nội dung trọng yếu của đổi mới, hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII khẳng định chủ trương "tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa".

Mặc dù đã được chính thức ghi nhận vào các văn kiện của Đảng, được sự thừa nhận của Hiến pháp và pháp luật, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân vẫn là vấn đề cần phải tiếp tục được làm sáng tỏ Hiện nay, ở Việt Nam, nghiên cứu về nhà nước pháp quyền, bên cạnh những cuốn sách chuyên khảo, các bài viết, bài nói, còn có cả những đề tài, đề án khoa học cấp nhà nước, cấp bộ được sự đầu tư rất lớn của Nhà nước, của Bộ Quốc phòng và của các cấp, các ngành Tuy vậy, do tính chất phức tạp, nhạy cảm và phong phú, nhiều chiều của vấn đề nên đến nay, nghiên cứu

về nhà nước pháp quyền vẫn luôn là nhiệm vụ cấp bách Việc làm sáng tỏ thêm nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau của nhà nước pháp quyền rất cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách nghiêm túc và đầu tư thỏa đáng.

là hợp lý khi chúng ta nghiên cứu về nhà nước pháp quyền bắt đầu bằng việc khảocứu nguồn gốc lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền

Trang 3

trong lịch sử Và cũng chỉ có bằng cách này mới có thể nắm vững bản chất sâu xa,bên trong và xu hướng vận động của nhà nước pháp quyền

Khái niệm ''nhà nước pháp quyền'' được đề cập đến lần đầu vào năm 1813trong các công trình của các nhà luật học người Đức là C Uylecơ và R Môn.Nhưng những ý niệm đầu tiên về nhà nước pháp quyền xuất hiện ngay từ thời kỳđầu tiên của nền văn minh nhân loại Ngay từ thời cổ đại xa xưa, loài người đã bắtđầu tìm kiếm những hình thức, cơ chế và điều kiện để có được một đời sống xãhội công bằng, tốt đẹp hơn ý niệm đầu tiên chính là quan niệm ngây thơ củangười xưa cho rằng, lẽ phải, công bằng, pháp luật là do Thượng đế sinh ra, lànhững gì hợp với lẽ thường của Trời - Đất, chứ không phải là sự áp đặt của quyềnlực Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, những ý niệm ban đầu trênđây đã được các nhà tư tưởng phát triển và hình thành nên tư tưởng về hình thức

tổ chức quyền lực xã hội mà trong đó pháp luật trở thành quy phạm bắt buộc đốivới mọi người là sức mạnh mang tính nhà nước và quyền lực xã hội được phápluật thừa nhận trở thành quyền lực nhà nước

Chính cách hiểu trên về nhà nước như một hình thức tổ chức pháp lý của

quyền lực xã hội là ''mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền''.

1 Những mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong quá trình phát triển xã hội phương Đông cổ, trung đại

Phương Đông là sự khởi đầu của văn minh nhân loại Đúng như nhận định nàycủa nhiều nhà nghiên cứu, các nền văn minh ở phương Đông xuất hiện rất sớm vàrực rỡ Tại nơi đây, từ thời cổ đại, con người đã sớm nhận thức được giá trị củasức mạnh cộng đồng và ý thức đó đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình tạo dựng nhànước Chính vì vậy, chúng tôi bắt đầu cuộc khảo cứu tìm kiếm của mình từphương Đông cổ đại chứ không phải từ phương Tây như một số công trình nghiêncứu trước đây Hơn nữa, học thuyết nhà nước pháp quyền là sản phẩm văn hóakhông chỉ của phương Tây; mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền tồn tại

cả ở phương Đông và phương Tây cổ đại Mặc dù, một trong những nét nổi bậtcủa tư tưởng chính trị phương Đông cổ đại là đặt giá trị các quy phạm đạo đức lênrất cao, ''coi đạo đức là cái căn bản chi phối sự vận hành các quan hệ xã hội - nhànước và pháp luật''1 Song trong thực tế, các nhà chính trị, tư tưởng phương Đông

cổ đại cũng đã nhận ra mặt hạn chế của cai trị đất nước chỉ bằng đạo đức, coi đạođức là yếu tố duy nhất để có thể vận hành tốt các quan hệ xã hội và duy trì được

sự bình đẳng trong xã hội Vì thế, tư tưởng Nho giáo đã bị thay bằng tư tưởngpháp trị ở chính cái nôi sinh ra nó - phương Đông cổ đại

Ngay từ khi có nhà nước, người phương Đông đã nhìn thấy nguy cơ lạm dụng

và thèm khát quyền lực của những người cầm quyền Các nhà tư tưởng và chínhtrị phương Đông đã bắt đầu tìm kiếm phương thức quản lý xã hội có hiệu quả hơn

1 Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị, Khoa Luật, Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn, Đại học

Quốc gia Hà Nội, H 1995, tr 13-14.

Trang 4

Quản lý theo kiểu đức trị tuy có vẻ nhân đạo, ôn hòa nhưng khó có thể duy trì lâudài sự ổn định xã hội và có những bước phát triển mạnh mẽ Trong bối cảnh đó, tưtưởng pháp trị ra đời.

Đặc điểm nổi bật, chi phối quá trình hình thành tư tưởng nhà nước phápquyền phương Đông cổ đại, lại có những mức độ tác động, thể hiện khác nhautùy từng khu vực với các điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau Vì vậy, nộidung khảo cứu sẽ tiến hành theo từng khu vực quốc gia cụ thể

ở Ai Cập cổ, trung đại: Quan niệm chính trị - pháp luật được hình thành từ ba

yếu tố: quan niệm về quyền lực tối thượng của Pharaôn; quan niệm về sức mạnhcác thần linh và cuộc đấu tranh chống bạo quyền và bảo vệ quyền lực

Trên nền tảng quan niệm chính trị đó, trong suốt thời kỳ trị vì của hơn 30 triềuđại Pharaôn (vua)1, Ai Cập là quốc gia chiếm nô mà ở đó, quyền lực tối thượngcủa các Pharaôn là tuyệt đối Và cũng chính tính chuyên chế, độc đoán trong thiếtchế quyền lực và nhà nước đã đẩy mâu thuẫn xã hội lên cao, làm cho tầng lớp bịtrị - dân chúng trở nên cùng quẫn cao độ Tư tưởng chính trị của dân chúng thểhiện qua những bài ca, những ''Lời thoại'', ''Lời giáo huấn'' Những khát vọng tự

do và sự phẫn uất trước bạo lực của dân chúng được phản ánh trong lời thoạiIpuxe hay trong lời thoại Haheperaxêp: ''Ta thường ngẫm nghĩ về những gì xảy ranơi trần thế đất nước đang nghèo đói công lý bị vứt bỏ sự gian dối ngậpkhắp nơi Thật khó mà im lặng được ''2 Đối với dân chúng Ai Cập cổ đại, phápluật được coi như công lý của cuộc sống Họ mơ ước tới một xã hội mà ''pháp luậtphải công minh và thống nhất với tất cả'' (Lời giáo huấn của Merica), một xã hội

mà ''công lý sẽ chào đón, sự giả dối sẽ vĩnh viễn mất đi'' (Lời thoại Nephecti)3 Từ

đó, có thể nói rằng, ''Ai Cập có thể được coi là nôi nuôi dưỡng những mầm mống

tư tưởng sơ khai đầu tiên về nhà nước pháp quyền''

ở Tây á: Vào khoảng đầu thiên niên kỷ thứ III tr.CN ở Tây á đã bắt đầu xuất

hiện nhà nước - các quốc gia cổ đại Tây á là khu vực sớm xuất hiện những tưtưởng về nhà nước và pháp luật

Ngay từ năm thứ hai trị vì đất nước, Hammurabi (1792-1750) bắt tay soạn thảo

Bộ luật Hammurabi, kết cấu gồm 3 phần 282 điều, được coi là văn bản luật hoànthiện những quan niệm cơ bản triều đại Hammurabi về tính cấp thiết của pháp luậtnhư một công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi cho tầng lớp những người giàu có,bảo vệ tính bền vững của chế độ chiếm hữu nô lệ Cũng giống như ở Ai Cập cổđại, ở đây đối lập với tư tưởng chính trị chính thống là hệ tư tưởng của dân chúng.Những khát vọng trỗi dậy đòi công lý, lẽ phải bắt đầu xuất hiện ngày một nhiều

thêm trong các Lời thoại, Trường ca ở Babilon.

ở ấn Độ cổ, trung đại: Nhà nước ấn Độ cổ đại xuất hiện vào khoảng đầu thế

kỷ 6 tr.CN Để duy trì quyền lực tối thượng của vua, triều đại Mauria đã làm ra Bộluật Manu là tuyển tập tập quán của người ấn, lấy tên của vị thần sáng tạo ra con

1 1 Lịch sử Ai Cập tính từ năm 3 nghìn tr.CN đến 33 s.CN.

2, 3 Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị, Khoa Luật, Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn,

Đại học Quốc gia Hà Nội, H 1995, tr 18, 21.

Trang 5

người là Manu Tư tưởng phản kháng của dân chúng lúc bấy giờ đối với cườngquyền mới chỉ là tư tưởng chính trị thụ động núp dưới các giáo lý nhà Phật Tuynhiên, tìm kiếm mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền ở phương Đông cổđại không thể không khảo cứu ấn Độ cổ đại.

ở Trung Quốc cổ, trung đại: Nét nổi bật của lịch sử quốc gia này là thường

xuyên xảy ra các cuộc giao chiến, tranh giành đất đai, quyền lực Lịch sử từng biếtđến những cuộc giao tranh tương tàn từ thế kỷ thứ IX tr.CN giữa các nước chư hầukhi thế lực tập quyền của nhà Chu bị suy yếu; các cuộc giao tranh giữa các nướclớn chư hầu như Tấn, Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề thời Chiến Quốc Chính bốicảnh đó đã làm nảy sinh nhiều tư tưởng chính trị - pháp luật mà đến nay vẫn cònnhiều giá trị Các nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại đã cố gắng tìm kiếm những cáchthức nhằm cải biến trật tự hiện thời Nổi bật là: tư tưởng bất hành động ''vô vi'', tưtưởng dùng đạo đức, tư tưởng ''thế thiên hành đạo'', tư tưởng ''kiêm ái'' và tư tưởngdùng sức mạnh của pháp luật để chấn hưng đất nước

Hệ tư tưởng bất hành động ''vô vi'' do Lão Tử, họ là Lý, tên là Nhĩ, người nước

Sở, sống vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc sáng lập Tư tưởng xuyên suốt tronghọc thuyết của Lão Tử là nguyên tắc ''vô vi'' Lão Tử chủ trương một xã hội bìnhyên, trong một quốc gia nhỏ bé, ít dân và dân thì thuần phác hiền lành, nơi khôngcần học vấn, phương tiện đi lại và binh khí Ông cho rằng, muốn đạt tới một xãhội như trên, người cầm quyền nên tỏ ra khiêm nhường, không cần dùng đến bạolực, mà cần dùng ''Đạo'' để cảm hóa dân chúng

Hệ tư tưởng dùng đạo đức, còn gọi là ''tư tưởng Nho giáo'', được thể hiện một

cách cơ bản và có hệ thống trong các quan điểm của Khổng Tử (551-479 tr.CN).Phái Nho giáo, lúc đầu chủ trương nhân trị, lễ trị hay đức trị do yêu cầu của sựphát triển xã hội đã phải tìm đến những yếu tố thích hợp của tư tưởng pháp trị.Đến Mạnh Tử (372-289 tr.CN), Nho giáo được phát triển thành thuyết vương

chính Nho giáo chủ trương tư tưởng dân vi quý Vua vâng mệnh trời mà trị dân,

nhưng mệnh trời phải hợp với lòng dân, người cầm quyền phải dựa vào dân ĐếnTuân Tử (khoảng 298-238 tr.CN), Nho giáo chủ trương kết hợp ''lễ'' với ''luật'' đểtrị nước Tuân Tử cho rằng, pháp luật là để ngăn cấm điều bạo ngược, ghét bỏđiều ác và ngăn chặn điều xấu chưa xảy ra Đối với người tốt thì dùng lễ, đối vớingười xấu thì dùng luật

Hệ tư tưởng ''kiêm ái'', được thể hiện khá đậm nét trong thuyết ''kiêm ái'' của

Mặc Tử, tên là Địch (478-392 tr.CN) Mặc Tử đề cao những giá trị tự do và bìnhđẳng tự nhiên của con người, coi nguồn gốc của nhà nước là phát sinh từ sự thoảthuận xã hội Để tránh tình trạng loạn lạc đói nghèo , mà theo Mặc Tử là do sựxâm chiếm lẫn nhau của các quốc gia, do kẻ mạnh chèn ép người yếu, kẻ giàusang đè nén người nghèo, những kẻ cai trị thì không công minh và tham lam, độc

ác Và để chấm dứt tình trạng đó, Mặc Tử chủ trương ''kiêm ái'', mọi người nênyêu thương nhau để cùng hưởng lợi

Có thể nói, bên cạnh những hạn chế lịch sử, thuyết ''kiêm ái'' có giá trị nhấtđịnh trong việc chống lại ''bạo quyền, áp bức'', đề cao những phẩm hạnh tự nhiên

Trang 6

tốt đẹp của con người.

Hệ tư tưởng nghiêng về phía dùng sức mạnh của pháp luật còn gọi là ''tư tưởng pháp trị'' Những người khởi xướng tư tưởng pháp trị này có thể coi là Quản Trọng (khoảng 683-640 tr.CN) và Tử Sản (khoảng 522 tr.CN) Các ông chủ

trương lấy pháp luật làm công cụ cơ bản để cai trị đất nước và đề ra nguyên tắc''Pháp bất vị thân'', bất cứ ai (vua, tôi, trên, dưới, sang, hèn) đều phải tuân thủ phápluật Chủ trương tôn trọng vua, vì vua là người đặt ra pháp luật Các ông quanniệm vua phải yêu dân thì mới được dân phục tùng Bởi yêu dân là vì yêu vua.Vua và pháp luật của vua quý hơn dân Các ông đưa ra yêu cầu: pháp luật của vuaphải rành mạch về luật - hình - chính và hợp với lợi ích của dân theo thiên thời,địa lợi và nhân hòa Pháp luật ban hành phải cẩn trọng và ít thay đổi

Thương Ưởng (khoảng 347 tr.CN) đã đưa tư tưởng pháp trị phát triển lên một

bước tiến mới Ông chủ trương trị nước phải kết hợp cả 3 yếu tố: pháp luật,quyền lực và lòng tin của dân Trong đó, pháp luật là phương tiện xác định tínhhợp pháp của việc chiếm hữu ruộng đất bằng mua bán, xác lập quyền bình đẳnggiữa các tầng lớp xã hội và thiết lập chế độ chuyên chế trung ương tập quyền

Hàn Phi (280-233 tr.CN) là người phát triển tư tưởng pháp trị lên đỉnh cao.

Nội dung chủ yếu của tư tưởng pháp trị này là lấy pháp luật thay cho lễ làm công

cụ trị nước, an dân và tiền đề cho việc xây dựng chế độ nhà nước phong kiếnthịnh vượng

Hàn Phi cho rằng, nhà nước rất cần tới pháp luật bởi pháp luật là công cụquan trọng để điều chỉnh xã hội Ông nói: ''nếu bỏ pháp luật mà cứ làm theo tâm

ý riêng khi trị nước thì có như các bậc thánh hiền Nghiêu, Thuấn cũng không giữcho ngay ngắn được một nước''1 và khẳng định: ''Làm việc theo lòng tư lợi thìhỗn loạn, làm việc theo công pháp thì ổn định'' Theo Hàn Phi, mọi người phảiđược bình đẳng trước pháp luật Ông nói: ''Hình phạt không trừ bậc đại phu''1.''Pháp luật không a dua quý tộc, pháp luật đặt ra thì người có tiền cũng khôngtránh được, hình phạt không tránh quan đại thần Khen thưởng không bỏ rơi kẻthường dân''

Bên cạnh việc đề cao ý nghĩa của pháp luật, Hàn Phi còn nhấn mạnh khái niệm''cao thuật, thuận thế'' Theo đó, pháp luật muốn thực hiện được thì phải dựa vào''thế'' và ''thuật'' Hàn Phi chủ trương kêu gọi sự củng cố quyền lực từ phía nhữngngười cai trị nhà nước Ông nói: ''cai trị bằng sức mạnh thì được làm vua'' ''không cai trị bằng sức mạnh thì dễ bị lật đổ''2

Tóm lại, để duy trì một trật tự đẳng cấp phong kiến như mong muốn, theo

thuyết pháp trị, vua cần phải có 3 yếu tố như trên đã phân tích là: pháp, thế và

1 1 Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị, Khoa Luật, Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn,

tr 40.

1 Hàn Phi Tử, Sự phát triển của tư tưởng pháp gia, Nxb Đồng Nai, 1995, tr 71.

2 Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị, Khoa Luật, Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn, Đại

học Quốc gia Hà Nội, H 1995, tr 21.

Trang 7

thuật để trị nước Trong đó, ''Pháp'' có nghĩa là pháp luật, mệnh lệnh, chiếu chỉ

xuất phát từ ý chí của vua được gọi là ''cái khuôn mẫu của thiên hạ'' để thần dânnoi theo mà tuân thủ; ''Thế'' có nghĩa là quyền uy, muốn pháp luật có thể được thihành thì vua phải có ''Thế''; còn ''Thuật'' là phương pháp điều hành, nghệ thuậtquản lý con người Theo thuyết pháp trị, một khi đã hội đủ cả 3 yếu tố: pháp, thế,thuật thì vua phải chuyên quyền độc đoán, chỉ cần thẳng tay dùng nghiêm hìnhphạt để cai trị

ý nghĩa của tư tưởng pháp trị thể hiện ở những quan điểm chính trị pháp luậtthực tế và đã trở thành thực tiễn sống động trong đường lối cai trị của các vị ''thiêntử'' sau đó Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi không chỉ là sản phẩm của lịch sử, màcòn là yếu tố có ý nghĩa quyết định trong việc cải tạo và đưa nước Trung Hoa cổđại vào thời kỳ phát triển mới Các chế độ phong kiến của Trung Quốc sau nàytuy đề cao nhân - lễ trị của Nho giáo, nhưng vẫn dương nho - âm pháp''1

Nhìn chung, mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền ở phương Đông cổ, trung đại khi hội đủ để tạo thành mô hình sẽ được phân biệt với mô hình nhà nước pháp quyền kiểu phương Tây bởi có sự khác biệt về địa - chính trị, truyền thống văn hóa, tâm lý, tình cảm của người phương Đông so với người phương Tây Từ xưa tới nay, ''đức trị'' (hay ''nhân trị'') và ''pháp trị'' vốn là hai dòng tư tưởng, hai khuynh hướng trong văn hóa trị nước ở phương Đông Hai cách thức này mặc dù có đối lập và đấu tranh với nhau, nhưng lại thường xuyên tác động và

bổ sung cho nhau trong thực tế cai trị đất nước của nhà cầm quyền Những nhà chính trị sáng suốt thường không bao giờ tuyệt đối hóa vị trí độc tôn của phép trị nước này hay phép trị nước kia Mạnh Tử từng khẳng định: ''Chỉ có đức nhân không đủ để cai trị, chỉ có một mình luật pháp tự nó cũng không thể thi hành được'' 2

ở Việt Nam, đường lối trị nước của các thời đại phong kiến cơ bản là đường lốitổng hợp, vận dụng cả tư tưởng đức trị của Nho gia và tư tưởng pháp trị của Phápgia Các nhà chính trị nước ta ở mức độ khác nhau đã đề cao pháp trị trong cai trịđất nước Vua Lê Thái Tổ hạ chiếu rằng: ''Từ xưa tới nay trị nước phải có pháp luật,không có pháp luật thì sẽ loạn Cho nên học tập đời xưa, đặt ra pháp luật là để dạycác tướng hiệu, quan lại, dưới đến dân chúng trăm họ biết thế nào là thiện, là ác,điều luật thì làm, điều chẳng lành thì tránh, chớ để đến nỗi phạm pháp''1

2 Những mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong quá trình phát triển xã hội phương Tây cổ, trung đại

Có thể nói, những mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền xuất hiện ởphương Tây cổ đại ''sớm đậm nét''2 Mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền

1 Lê Minh Quân, Xây dựng nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã

hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, H 2003, tr 15-16.

2 Việt Đăng Lê Văn Được, Thuật trị nước của người xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr 198.

1 Quốc triều hình luật, Nxb Pháp lý, H 1991, tr 16.

2 Khác với quan niệm của phương Đông, pháp luật trong quan niệm của các nhà triết học cổ đại phương

Trang 8

ở phương Tây cổ đại được hình thành, phát triển từng bước, có tính kế thừa và hệ

thống, thể hiện tập trung nhất ở các nhà tư tưởng cổ đại như Xôlông, Hêraclít, Xôcrát, Đêmôcrít, Platôn, Arixtốt, Pôlibi, Xixêrông Các nhà tư tưởng trên đây đã

cố gắng giải thích rằng, mối quan hệ và tác động qua lại giữa pháp luật và chínhquyền nhà nước đã đảm bảo được sự hoạt động hài hòa của xã hội Các ông chorằng, chính cái hình thức chính trị mà trong đó, pháp luật là điều kiện bắt buộcchung vừa cả với công dân, vừa cả với nhà nước là hợp lý và công bằng nhất.Chính quyền nhà nước, vừa thừa nhận pháp luật, vừa bị giới hạn bởi pháp luậtđược coi là nhà nước chính nghĩa

Tư tưởng thống nhất quyền lực và pháp luật (cốt lõi của tư tưởng nhà nước pháp

quyền) trong việc tổ chức nhà nước Aten theo nguyên tắc dân chủ được Xôlông

(638-559 tr.CN) nhà thông thái Hy Lạp thực hiện trong các cải cách của mình vàothế kỷ thứ VI tr.CN, Xôlông coi bản chất các cuộc cải cách của mình là: ''Tôi giảiphóng cho tất cả Và điều đó đạt được nhờ có sự ngự trị của pháp luật bởi quyềnlực và pháp luật hòa hợp vào nhau''1

Hêraclít (530-470 tr.CN) hết sức coi trọng pháp luật và cho rằng, pháp luật là

phương thức để thực hiện cái phổ biến Sự kính trọng đối với luật pháp công bằng

và hợp lý của Thượng đế thể hiện qua câu nói nổi tiếng của ông: ''Người dân cầnphải chiến đấu bảo vệ cho pháp luật, như bảo vệ cho ngôi nhà của mình''2

Trong tác phẩm của nhà triết học Xôcrát (496-399 tr.CN) chúng ta lần đầu tiên

bắt gặp ý đồ phân loại các hình thức nhà nước Ông cho rằng, nhà nước có cáchình thức cơ bản như sau: chế độ quân chủ, nền bạo chúa, chế độ quý tộc, nửa quýtộc và nền dân chủ Chỉ có chế độ quý tộc được ông coi là đúng đắn và có đạo đứcnhất, vì đây là chính quyền của một số người có học vấn và có đạo đức Họcthuyết của Xôcrát bắt nguồn từ cơ sở rằng, sự công bằng nằm ở việc phục tùngpháp luật đang hiện hành Tính công bằng và tính pháp luật được ông coi là một.Theo ông, nếu không có sự tuân thủ luật pháp thì không thể có nhà nước, cũngnhư không thể có trật tự pháp luật Xôcrát khẳng định: ''Bất cứ một đạo luật nào,mặc dù còn thiếu sót đến đâu, cũng mang tính cứu sinh hơn là tình trạng phạmpháp Nếu như mọi công dân đều tuân thủ theo pháp luật, thì nhà nước mà trong

đó họ đang sống sẽ trở nên hùng mạnh và phồn thịnh hơn nhiều''1

Nhà duy vật Hy Lạp cổ đại Đêmôcrít (khoảng 460-370 tr.CN) cho rằng: ''Pháp

luật không cấm mỗi người sống theo cách của mình, nếu như họ không làm gì hạiđến người khác, bởi vì lòng đố kỵ, ganh ghét là khởi đầu của sự thù địch''2 Trongquan niệm của mình, Đêmôcrít cũng đã đề cập tới tự do và pháp luật, nhưng ôngchưa thấy được mối liên hệ biện chứng giữa chúng Một mặt, ông cho rằng ''cần

luật còn gắn với yêu cầu pháp luật phải chứa đựng nội dung công bằng của số đông.

1 1 Arixtốt, Nền chính trị Aten, M 1937, tr 21 (tiếng Nga).

2 2 Các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại, M 1955, tr 45 (tiếng Nga).

M 1993, tr 62 (tiếng Nga).

2 2, 3 Sơ lược lịch sử triết học, M 1944, tr 119 (tiếng Nga).

Trang 9

phải nhượng bộ luật pháp, quan chức, người già'', mặt khác, ông lại quan niệm''nhà thông thái không cần phải nghe theo luật pháp, mà sống tự do''3

Vấn đề thể chế hóa xã hội được Platôn (427-347 tr.CN) quan tâm nhiều Điều

đó thể hiện trong các tác phẩm Luật pháp, Pôlitei của thời kỳ giữa và các tác phẩm Luật pháp, Nômôi của thời kỳ sau của ông Trong tác phẩm đối thoại Nhà nước, Platôn vẽ nên bức tranh một xã hội tương lai và khi luận chứng về nó, ông

đã giải quyết một loạt vấn đề lý luận liên quan đến cấu trúc của xã hội đó

Theo Platôn, xã hội - Polis xuất hiện từ những nhu cầu mà con người chỉ cóthể đáp ứng được bằng cách cộng tác với nhau trên cơ sở phân công lao động.''Trong xã hội cần cả thợ giấy và thợ bánh mì, mỗi người cần phải làm tốt việccủa mình, bảo đảm sản phẩm lao động mình làm ra không chỉ cho bản thân, màcòn cho những người khác Cũng như vậy đối với những người thợ gốm và cácđiền chủ Xã hội cần cả người lính, cần cả người lãnh đạo Từng người riêng rẽthì không thể có khả năng làm tất cả mọi việc như vậy Họ chỉ có thể đạt đượcmục đích của mình khi hợp sức cùng nhau''1 Như vậy xã hội được Platôn coinhư là một tổng thể hữu cơ có cơ cấu, chức năng và lợi ích của mình, chứ khôngnhư là sự cố kết các cá nhân độc lập Và trong xã hội này, lợi ích của toàn thểcao hơn lợi ích của từng bộ phận Từ đó ông đi đến kết luận: ''Để nguyên tắc đóđược thừa nhận, nhà nước cần phải phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội, chứkhông vì một nhóm nào đó, không phải là đa số hay thiểu số, mà là vì tất cả''2.Platôn bảo vệ tư tưởng này khi tranh luận với nhà ngụy biện Phơraximác, ôngnày cho rằng, sự công bằng và luật pháp - đó là những gì có lợi cho kẻ mạnh,cho nhóm người có thế lực nhất trong nhà nước và họ áp đặt chúng cho toàn xãhội Theo Phơraximác, nhà nước phục vụ cho lợi ích của những ai trong tay cóquyền lực Platôn, về vấn đề này, cũng không phủ nhận là thường xảy ra như vậy.Tuy nhiên, theo ông, đó không phải là một nhà nước bình thường, mà là kiểunhà nước vụ lợi Chế độ nhà nước nói chung chỉ có thể tồn tại ở nơi có các đạoluật công bằng thống trị; các đạo luật này, theo lời ông, là ''sự quyết định của lý

trí'' Ông bảo vệ và phát triển tư tưởng này trong tác phẩm Luật pháp, trong đó

ông viết: ''Chúng ta thừa nhận rằng, ở nơi mà luật pháp quy định vì lợi ích của một

số người, thì đó không phải là thể chế nhà nước, mà là sự bất hòa bên trong, vànhững gì ở đó được coi là công bằng thì chỉ là tên gọi như vậy mà thôi''1

Còn nhiều luận điểm của Platôn thể hiện sự sâu sắc trong nhận thức về nhànước của ông Chẳng hạn, ông viết: ''Ta nhìn thấy sự hủy diệt của loại nhà nước, ở

đó luật pháp không có sức mạnh và phải nằm dưới quyền lực của một ai đó Còn ởnơi mà luật pháp là lãnh chúa đối với kẻ cầm quyền, và họ là nô lệ của nó, ta nhìnthấy được sự cứu vớt nhà nước và mọi của cải mà chỉ Thượng đế mới có thể bantặng cho nó''2

Platôn coi chế độ quý tộc là hình thức nhà nước tối ưu nhất và chia nó thành

1 1, 2 Agiarơkin N N, Leptrencô N N: Lịch sử các học thuyết chính trị, M 1994, tr 41 (tiếng Nga).

1 1, 2 Platôn, Toàn tập, tập 3, phần 2, M 1972, tr 188-189 (tiếng Nga).

Trang 10

hai loại nhỏ: loại chỉ có một người nắm quyền lãnh đạo và loại do một số ngườinắm quyền - đó là tầng lớp quý tộc.

Tóm lại, những tư tưởng của Platôn có giá trị rất lớn cho nhận thức chính trị

-xã hội và chính trị - luật pháp của nhân loại ý tưởng của Platôn về sự phồn vinh

và lợi ích chung như là nền tảng của sự thống nhất xã hội, tư tưởng về tư hữu như

là nguyên nhân của các mâu thuẫn xã hội, các quy luật và biến đổi xã hội, quanđiểm coi nền pháp chế là đặc trưng quan trọng nhất của tổ chức chính trị lànhững đóng góp to lớn của ông vào sự hình thành và phát triển tư tưởng nhà nướcpháp quyền

Quan điểm về sự thống trị của các đạo luật hợp lý cũng được Arixtốt (384-323

tr.CN) đề xướng Arixtốt là "người cha'' của khoa học chính trị cổ đại Các quan

điểm chính trị của ông thể hiện đầy đủ và hệ thống nhất trong các tác phẩm Chính trị, Chính trị Aten, Đạo đức học của ông.

Nhà nước, theo Arixtốt, là sự sáng tạo của tự nhiên, là sản phẩm của sự pháttriển tự nhiên Nền tảng của nó là nhu cầu của con người Arixtốt đưa ra một địnhnghĩa nổi tiếng về con người - con người là động vật chính trị'', hay là động vật xãhội, bởi vì polis chính là xã hội ý nghĩa của định nghĩa này là ở chỗ, con ngườikhông thể sống một mình, nó cần phải giao tiếp với người khác ''Polis - trước hết

là sự thống nhất giữa con người và lãnh thổ, cùng ở dưới sự lãnh đạo của chínhquyền, có cùng một hiến pháp Sự thống nhất quyền lực và lãnh thổ tạo cho polis

sự toàn vẹn của mình Polis - đó là sự giao tiếp của những con người tự do và bìnhđẳng trong một chừng mực nào đó, có trí tuệ và khả năng tự khẳng định mình,điều khiển các hành vi của mình Quyền lực trong các polis phân chia cho cáccông dân tự do và bình đẳng''1

Quan điểm của Arixtốt về pháp luật liên quan chặt chẽ với quan niệm của ông

về nhà nước, đúng hơn là polis, bởi polis - theo cách diễn đạt hiện nay - chính là''nhà nước pháp quyền'' Khác với Platôn, ông cho rằng: ''Thật may là nhờ có đặctính chung của mình, luật pháp được tách khỏi dục vọng, đó là lý trí cân bằng màcảm xúc, tình cảm, ác cảm không ngăn trở được Trong polis pháp luật cần phảithống trị, chứ không phải là con người''1 Theo Arixtốt, pháp luật đồng nhất với sựcông bằng Tính luật pháp và tính công bằng cần phải trùng hợp với nhau Đócũng là quan điểm truyền thống của Platôn, và trước đó là của Xôcrát Mục đíchcủa pháp luật, cũng như của nhà nước (polis) là nguồn lợi chung, và nó, tất nhiên

là liên quan với sự công bằng Pháp luật như là một yếu tố tối quan trọng củapolis, điều tiết quan hệ của những người tự do và công bằng và quan hệ thống trị,

bị trị

Ông viết: ''Như vậy, người nào đòi hỏi luật pháp thống trị, dường như là đòihỏi sự thống trị của thần thánh và lý trí, còn người nào đòi hỏi con người thống trị,

11 Lịch sử các học thuyết chính trị, M 1994, tr 48 (tiếng Nga).

1 1 Lịch sử các học thuyết chính trị, M 1994, tr 20 (tiếng Nga)

Trang 11

nghĩa là đưa vào đòi hỏi của mình yếu tố động vật, bởi vì sự say mê là một cái gì

đó có tính động vật, cũng như sự phẫn nộ cũng làm cho người cầm quyền lầmđường lạc lối, mặc dù họ là những người ưu tú nhất; ngược lại, luật pháp - đó làmột lý trí cân bằng''2

Theo Arixtốt, nơi nào không có luật pháp thống trị, ở đó không có chỗ cho bất

kỳ một hình thức nhà nước nào Vì Arixtốt hiểu luật pháp là luật pháp quyền ''mọiđạo luật về cơ bản đều đòi hỏi tính pháp luật trong một mức độ nào đó''1, cho nên

về thực chất ông nói về sự thống trị của pháp luật trong một xã hội có tổ chức ''Sựthống trị không chỉ bằng đạo luật, mà trái ngược hẳn với pháp quyền không thể là

sự nghiệp của pháp luật; mong muốn một sự khuất phục bằng bạo lực, dĩ nhiên làtrái ngược với tư tưởng pháp quyền''2 Mối liên hệ bên trong tất yếu giữa pháp luật

và nhà nước - đặc trưng của nhà nước pháp quyền, được Arixtốt diễn đạt như sau:''khái niệm công bằng liên quan đến khái niệm về nhà nước, bởi vì pháp luật -thước đo của sự công bằng - là quy phạm điều chỉnh sự giao tiếp chính trị''3

Arixtốt còn là người đầu tiên đã có đề cập tới phân loại các cơ quan quyền lựcnhà nước Theo Arixtốt, trong mọi chế độ nhà nước đều có ''ba bộ phận: bộ phậnthứ nhất là cơ quan tư vấn pháp lý về hoạt động của nhà nước, bộ phận thứ hai làcác tòa thị chính, bộ phận thứ ba là các cơ quan tư pháp'' Ba bộ phận này, theoông, tạo thành nền tảng của mỗi nhà nước và ''chính sự khác nhau của chế độ nhànước bắt nguồn từ sự tổ chức khác nhau của mỗi bộ phận này''4 Tuy nhiên, ýtưởng trên đây của Arixtốt vẫn chưa chứa đựng quan điểm phân chia quyền lựctheo tinh thần của học thuyết nhà nước pháp quyền

ý nghĩa to lớn trong việc phát triển học thuyết phân chia quyền lực là quanđiểm về sự cai trị hỗn hợp của Pôlibi Nêu lên sự tồn tại của chính quyền hỗn hợp

ở Xpáctác, Cácphaghen và Rôma, Pôlibi làm nổi bật ưu thế của hình thức này như là sự kìm hãm và đối lập lẫn nhau của các bộ phận của nó, điều đó cho phépđạt tới một chế độ chính trị cần thiết Sự hòa trộn ba nguyên tắc cầm quyền (cónghĩa là ba chính quyền: chính quyền quốc vương, chính quyền nhân dân và chínhquyền tù trưởng) mà Licurơgơ (nhà làm luật Xpáctác) đạt được - theo lời Pôlibi -

-đã bảo đảm cho người Xpáctác một nền tự do lâu dài Pôlibi còn phân tích quyềnhạn của ba thế lực trong nhà nước La Mã - thế lực lãnh sự, thế lực nguyên lãoviện, thế lực nhân dân, thể hiện tương ứng các nguyên tắc quốc vương, quý tộc vàdân chủ Ông cho thấy, nhà nước thực hiện quyền lực bằng cách nào, chức nănggiữa các thế lực này được phân chia như thế nào và giải thích các cơ sở, thủ tục vàphương tiện pháp luật mà nhờ đó các thế lực riêng rẽ khi cần thiết có thể gây cảntrở cho nhau hay ngược lại, có thể bảo vệ và ủng hộ nhau Những bất bình có thể

có của một thế lực về sự vi phạm và không phù hợp với nó đụng độ tới sự phảnđối thích đáng của các thế lực khác, kết quả là sẽ đạt đến một trật tự đúng đắn choquan hệ của chúng, và về tổng thể nhà nước sẽ bảo vệ được sự vững mạnh và ổnđịnh của mình

2 2 Arixtốt, Chính trị, M 1911, tr 145 (tiếng Nga).

1 1, 2, 3, 4 Arixtốt, Chính trị, M 1911, tr 16, 306, 9, 188 (tiếng Nga).

Trang 12

Những đóng góp của các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại đối với sự hình thành vàphát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền không chỉ nằm ở khía cạnh chứng minhcho quan niệm về sự thống trị của pháp luật và pháp chế trong đời sống chính trị,

mà còn ở phương diện xem xét hệ thống, cơ cấu và cơ chế chính quyền nhà nước,phân tích so sánh các hệ thống và nguyên tắc cầm quyền khác nhau Một bướctiến quan trọng trong phương diện này là việc phân loại các cơ quan quyền lựctương ứng với đặc trưng của các chức năng mà chúng thực hiện Nhà tư tưởng HyLạp cổ đại Arixtốt và sau này là Pôlibi chính là những người đặt nền móng cho sựhình thành học thuyết tam quyền phân lập sau này

Quan điểm của các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại về quan hệ của nhà nước vàpháp luật, của chính trị và pháp luật được phát triển lên trong học thuyết của cácnhà chính trị La Mã cổ đại, đặc biệt là Xixêrông

Xixêrông (104-44 tr.CN) hiểu nhà nước như là một cộng đồng pháp lý công

khai Ông khẳng định: ''Nhân dân không phải là một sự liên kết mọi người bất kỳ,tập hợp với nhau bất cứ kiểu nào, mà là sự liên kết, gắn bó với nhau bởi tinh thầnhòa hợp về vấn đề pháp lý và cùng chung lợi ích''1 Nhà nước theo Xixêrông,không chỉ thể hiện lợi ích chung của các thành viên tự do của nó mà còn là sự giaotiếp được thoả thuận về mặt pháp lý của các thành viên đó, là một cấu thành mangtính tổ chức - pháp lý, như là một hình thức pháp quyền của tổ chức ''sự nghiệpchung''

Trong điều kiện như vậy, pháp luật, theo Xixêrông, là cội nguồn lập hiến thiếtyếu của tổ chức nhà nước Pháp luật ở đây được hiểu là pháp luật tự nhiên, bắtnguồn từ bản chất lý trí của con người và toàn bộ giới tự nhiên xung quanh nó đượccoi là sáng tạo của lý trí thần thánh tối cao Pháp luật tự nhiên tồn tại trước nhànước và pháp luật thành văn Cội nguồn và nền tảng của nhà nước là pháp luật tựnhiên của nhân dân, tạo ra thể chế pháp luật của mình trong hình thức nhà nước.Như vậy, luận điểm về nhà nước của Xixêrông chứa đựng cả tư tưởng cộng hòa lẫn

tư tưởng chủ quyền của nhân dân Đó là một thành quả hết sức to lớn trên conđường tiến tới học thuyết về nhà nước pháp quyền và bản chất pháp quyền của chế

độ nhà nước

Nhà nước, theo Xixêrông, mang tính pháp quyền không phải vì nó tuân thủ cácđạo luật của mình và các điều kiện bên ngoài khác, mà là vì nó có nguồn gốc, bảnchất là pháp luật, pháp luật tự nhiên của nhân dân, được thoả thuận và thể chế hóa

Từ đó, Xixêrông cho rằng, các đạo luật của nhà nước phải phù hợp với đòi hỏi củapháp luật tự nhiên Theo ông, chỉ có những đạo luật phù hợp với pháp luật tựnhiên mới là những đạo luật đúng đắn Khi nói về các đạo luật đúng đắn,Xixêrông nhìn thấy vai trò quan trọng của chúng trong việc điều tiết các mối quan

hệ giữa nhà nước và các công dân Ông đưa ra nguyên tắc pháp lý quan trọng:''Mọi người đều phải tuân thủ pháp luật''1

1 1 Nêrơxêxan V X.: Tư tưởng và tổ chức nhà nước pháp quyền: Lịch sử và hiện tại, M 1990, tr 11 (tiếng

Nga).

1 1, 2 Xixêrông, Đối thoại, M 1966, tr 139 (tiếng Nga).

Trang 13

Sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật của nhà nước, theo Xixêrôngchỉ có thể đạt được trong hình thái nhà nước hỗn hợp, tạo nên từ các thành tố:quyền lực quốc vương, quý tộc và dân chủ ''Bởi vì - trong nhà nước cần phải cómột cái gì đó nổi bật lên và ngự trị, và một phần quyền lực phải được phân chia vàtrao cho uy thế của những người chiếm hàng đầu, còn một số công việc phải dànhcho nhân dân xét đoán và giải quyết''2.

Xixêrông chỉ ra nguy cơ thiên về nguyên tắc này hay nguyên tắc khác của hìnhthức nhà nước hỗn hợp và ủng hộ cho sự cân bằng giữa chúng bằng cách ''phânchia quyền lực nghĩa vụ và quyền hạn cân bằng''1

Những ý tưởng về nhà nước pháp quyền thời kỳ cổ đại thực sự có giá trị cả về

lý luận và thực tiễn đối với quá trình phát triển của lịch sử xã hội nhân loại Đánhgiá về những đóng góp to lớn của tư tưởng về nhà nước và pháp luật của người HyLạp và La Mã cổ đại, Ph Ăngghen viết: ''Không có cái cơ sở của nền văn minh

Hy Lạp và đế chế La Mã thì không có châu Âu hiện đại''2

3 Tư tưởng về nhà nước pháp quyền thời trung cổ và bước chuyển tiếp sang thời kỳ cận đại

Đêm dài trung cổ kéo dài hàng nghìn năm dưới ách thống trị của các chế độchuyên chế vương quyền, thần quyền Nhà nước không hoặc ít biết đến phápquyền Tuy nhiên, thời kỳ này cũng có không ít các nhà tư tưởng tiến bộ đã đấutranh để bảo vệ và phát triển thêm những ý tưởng về nhà nước pháp quyền thời cổđại Đó là các nhà thần học như: G Ôguytxtanh, Tômát Đacanh, Giăng Bôđanh

G Ôguytxtanh (357-430) quan niệm, quyền lực nhà nước phải được thực hiện

như một thứ quyền lực phục vụ - là công cụ để thực hiện tình yêu và sự côngbằng Ông đòi hỏi nhà cầm quyền phải dùng quyền uy vào phục vụ nhân dân; lấycông bằng làm gốc và từ thiện làm ngọn; điều độ, dám hy sinh vì người khác vàbiết giới hạn khát vọng cá nhân G Ôguytxtanh cảnh báo sự sa sút về phẩm chất

và tư cách nhà cầm quyền chính là nguyên nhân chủ yếu làm sụp đổ nhà nước

Tômát Đacanh (1225-1274) cho rằng, trật tự pháp luật đem đến cho mỗi thành

viên xã hội cái thuộc về họ và làm cho họ có thể đạt tới sự dồi dào về vật chất vàtinh thần Theo ông, xã hội thần dân - sản phẩm thuần tuý bản năng sớm haymuộn cũng sẽ bị thay thế bởi xã hội công dân - sản phẩm của lý trí Tômát Đacanhphân biệt luật pháp ở 4 loại khác nhau1: luật vĩnh cửu là luật của Chúa; luật tựnhiên phản chiếu luật vĩnh cửu bằng ý chí của con người; nhân luật là pháp luậtphong kiến hiện hành, phản ánh luật tự nhiên; thần luật là luật của Kinh thánh.Trong đó, nhân luật không được phản tự nhiên, vì bất luận trong hoàn cảnh nào thìcon người cũng cần được sống Nhà cầm quyền không được cấm thần dân sống,hôn nhân và sinh đẻ như dưới thời nô lệ

1 1 Xixêrông, Đối thoại, M 1966, tr 32 (tiếng Nga).

H 1995, tr 254.

1 1 Lê Minh Quân: Xây dựng nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã

hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, H 2003, tr 28.

Trang 14

Giăng Bôđanh (1530-1596) là người sáng lập lý thuyết chủ quyền nhà nước.

Ông cho rằng, nhà nước nhân dân là nhà nước mà ở đó nhân dân chỉ huy quyền tốithượng bằng tập thể và bằng cá nhân Tư tưởng của Giăng Bôđanh đã đặt nền tảngcho sự ra đời của chủ nghĩa chuyên chế cá nhân - bước tiến hóa của chủ nghĩachuyên chế - chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc cách mạng pháp quyền thời Phụchưng, ánh sáng

Trong thời kỳ mà chế độ phong kiến bắt đầu tan rã, tư tưởng về chế độ nhànước pháp quyền xét theo quan điểm lịch sử do các nhà tư tưởng tiến bộ đặt nềnmóng: đó là nhà tư tưởng người ý là Mắckiaveli và nhà tư tưởng người Pháp là

Bôđen Trong học thuyết của mình, Mắckiaveli (1469-1527) đã dựa trên kinh

nghiệm từ nhiều thế kỷ tồn tại của nhà nước để giải thích các nguyên tắc chính trị,làm rõ động lực phát triển đời sống chính trị, đưa ra hình ảnh nhà nước lý tưởng,đáp ứng được nhu cầu của thời đại ông một cách tối ưu nhất Ông nhìn thấy mụctiêu của nhà nước là ở khả năng sử dụng của cải một cách tự do và sự bảo đảm anninh cho mỗi người Khi xem xét các hình thức nhà nước, ông dành sự ưu ái chohình thức nhà nước cộng hòa, bởi theo ông nhà nước cộng hòa đáp ứng được đòi

hỏi bình đẳng và tự do nhiều hơn cả Còn Bôđen (1530-1596) lại định nghĩa nhà

nước như là sự quản lý bằng luật pháp các gia đình và tất cả những gì phụ thuộcvào nó Nhiệm vụ của nhà nước là bảo đảm quyền lợi và tự do

4 Nhân tố nhà nước pháp quyền trong lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam

Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, cách tổ chức nhà nước và các chếđịnh pháp luật đều xuất phát từ ý niệm Vua là Thiên tử, con trời, do trời sai xuống

để chăn dắt dân Quyền lực của Vua là quyền lực tuyệt đối, tức nhà Vua nắmtrong tay tất cả mọi quyền ''quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp'': Vua vừa làngười đặt ra pháp luật, ra các đạo Dụ (luật), vừa là người đứng đầu nền hànhchính, có quyền bổ nhiệm, điều động, thăng thưởng, bãi chức các quan trong triều

và quan chức địa phương, vừa là vị thẩm phán cao nhất, quyết định tối hậu về các

Mặc dù có một ưu quyền tuyệt đối, các vương triều phong kiến Việt Nam vẫn

bị những khuôn phép triết lý ''Nho giáo'' chi phối, điều khiển hành vi cai trị củamình Dưới ảnh hưởng của các triết lý Nho giáo, các Hoàng đế Việt Nam đã đưa

ra các chính sách thân dân, lấy dân làm gốc đã hạn chế được khá nhiều mức độchuyên chế độc tài của vương triều phong kiến vốn có ở Việt Nam thời kỳ phongkiến, những vị vua thấm nhuần tinh thần nhân ái, thương dân như con đẻ ''Thíchcái dân thích, ghét cái dân ghét là cha mẹ của dân'' nhiều hơn là những ôngvua mang tiếng tàn bạo Trong lịch sử tư tưởng của dân tộc phải kể tới các quanđiểm tích cực đối với dân Lý Công Uẩn nói: ''Trên vâng mệnh trời dưới theo ý

Trang 15

dân, thấy thuận tiện thì thay đổi''; Lý Phật Mã nói: ''Nếu trăm họ mà no đủ, thì talàm sao không đủ được''; Trần Khâm (Trần Nhân Tông) nói: ''Ngày thường thì cóthị vệ hai bên, đến khi Nhà nước loạn thì chỉ có bọn ấy (tức gia nô) đi theo thôi'';Nguyễn Trãi nói: ''Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân''; Lý Thường Kiệtnói: ''Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân'' Hội nghị Diên Hồng là sự kiện lịch sửtrọng đại thể hiện tinh thần dân chủ trong đường lối cai trị đất nước của ông chata.

Trong lịch sử nhà nước và pháp luật xã hội phong kiến Việt Nam đã hìnhthành một cơ chế kiểm soát, hạn chế sự lạm dụng quyền lực như: lập ra các tổchức có nhiệm vụ can gián nhà Vua và xem xét các quan đại thần có lỗi hoặc bịngười dân khiếu nại (triều Lý, Trần); đặt ra các Lục khoa để giám sát công việccủa các Lục Bộ (triều Lê), lập Đô sát viên để xem xét, buộc tội các quan đại thần,các hoàng thân, các quan lại địa phương (triều Nguyễn)

Các triều đại phong kiến Việt Nam cũng đã hình thành lên cơ chế giám sát lẫnnhau giữa các chức quan và các cơ quan: cơ quan này có quyền giám sát, hạn chế

cơ quan kia, chức quan này có quyền giám sát, hạn chế chức quan khác Các biệnpháp kiểm soát hoạt động hành chính, đặc biệt là các biện pháp kiểm soát của triềuđình đối với các làng, xã khá phong phú Bên cạnh pháp luật của Nhà nước, cáclàng, xã còn lập ra các bản hương ước, luật tục để điều hành công việc trong làng,xã; mỗi làng, xã có phong tục tập quán riêng, cách điều hành công việc làng, xãkhông hoàn toàn giống nhau Các triều đình phong kiến mặc dù đã có nhiều cốgắng nhưng thường là rất khó can thiệp vào các làng, xã truyền thống Bởi vậy,trong dân gian vẫn truyền tụng câu nói cửa miệng ''Phép vua thua lệ làng''

Nhà Vua đã đặt ra các định chế nhằm kiểm tra các hành vi hành chính của cácquan chức làng, xã như: Hội đồng kỳ mục do nhà Vua lập ra là hình thức phổbiến, giúp nhà Vua cai quản các công việc làng, xã; quân cấp công điền, định racác thứ thuế, các biện pháp trừng phạt cá nhân, trừng phạt làng Đặt ra chế độtuyển dụng quan lại là cơ chế phát hiện nhân tài công bằng và dân chủ Mặc dù làdân chủ theo kiểu phong kiến, nhưng chế tuyển dụng có nhiều ưu điểm đã hìnhthành một đội ngũ quan lại có nhiều tài năng, hiểu biết, có đức, ích nước và lợidân Cùng với sự ra đời của Nhà nước, pháp luật Việt Nam ra đời rất sớm Đây lànhân tố quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành và phát triển Nhànước pháp quyền Việt Nam:

Sự phát triển của Nhà nước và pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn củaNho giáo, đạo đức, phong tục tập quán giữ vai trò quan trọng trong việc điềuchỉnh các quan hệ xã hội Nhà nước và pháp luật thường xuyên được sử dụng nhưnhững công cụ chủ yếu của giai cấp phong kiến và ngoại bang nhằm thống trị vàbóc lột nhân dân lao động Pháp luật không đóng vai trò thống trị trong việc điềuchỉnh các quan hệ xã hội Tuy nhiên, nhà nước phong kiến đã có những tiến bộtrong việc xây dựng và phát triển pháp luật Pháp luật phong kiến đã đưa vàophạm vi điều chỉnh của mình những vấn đề của đời sống kinh tế - xã hội của xãhội dân sự chứ không chỉ phát triển luật hình sự

Trang 16

Phân tích mối liên hệ giữa sự ra đời và phát triển của nhà nước và pháp luậtphong kiến với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, có mấy điều có thể

lý giải:

Chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển chứng tỏ Nhà nước và pháp luật ViệtNam có một sức sống dồi dào, một khả năng thích ứng với hoàn cảnh lịch sử.Chính trong quá trình tồn tại và phát triển, Nhà nước Việt Nam đã chắt lọc, hunđúc nên những truyền thống tốt đẹp mà việc biết phát huy nó trong xây dựng nhànước và pháp luật là hết sức cần thiết Trong lịch sử đã có những giai đoạn màpháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm, mà một trong các lý do dẫn tớiđiều đó là sự tôn trọng truyền thống dân tộc Bộ luật Hồng Đức được xây dựngtrên lập trường dân tộc và thấu hiểu các phong tục tập quán phổ biến trong dânchúng Như nhận định của các nhà nghiên cứu: ''Một điều đáng lưu ý là luật thời

Lê tuy được soạn thảo ra nhằm điều chỉnh hành vi xã hội theo định hướng củachính quyền, nhưng chứa đựng nhiều những giá trị phản ánh những phong tục tậpquán, những truyền thống của dân tộc''1

Tuy nhiên, bề dày lịch sử cũng có thể tạo ra ở nhà nước và pháp luật phong kiếntính bảo thủ, hạn chế phần nào trong việc tiếp thu các nhân tố mới cũng là điềuchúng ta cần lưu tâm trong khi vận dụng những giá trị truyền thống trong xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

II HọC THUYếT PHáP QUYềN Tư SảN

Và Mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Xô viết

1 Học thuyết pháp quyền tư sản

Theo đánh giá của Ph Ăngghen, học thuyết nhà nước pháp quyền tư sản từngbước được hình thành trên cơ sở thế giới quan của giai cấp tư sản đang lên - thếgiới quan pháp lý

Trong thời kỳ của các cuộc cách mạng tư sản đầu tiên, đóng góp đáng kể vàoquan điểm chế độ nhà nước pháp quyền thuộc về các nhà tư tưởng tiến bộ thuộc cáctrường phái lý thuyết pháp quyền khác nhau, nỗi bật là: H Grốtxi, B Xpinôda,Hốpxơ, G Lốccơ, Môngtexkiơ, Điđrô, Hônbách

* Lý thuyết pháp quyền tự nhiên

Dựa trên cơ sở lý luận pháp quyền tự nhiên thời cổ đại, nhà triết học Hà Lan là

B Xpinôda và H Grốtxi đã sáng lập nên thuyết này Tư tưởng chủ đạo của lý

thuyết pháp quyền tự nhiên là tuyên ngôn cho tính độc lập của pháp quyền tựnhiên Nhà nước và pháp luật không phải do Chúa trời tạo ra mà do thoả thuậngiữa con người với nhau phù hợp với quyền tự nhiên vốn có của mình và với quyluật tự nhiên Bởi vậy, theo tư tưởng pháp quyền tự nhiên, pháp luật do nhà nướcsáng tạo ra phải phù hợp với pháp luật tự nhiên; cần phải giải phóng nhà nước vàpháp luật khỏi thần quyền và thần giáo Hình thức nhà nước tốt nhất theo tư tưởng

1 1 Vũ Minh Giang, Xây dựng lối sống theo pháp luật nhìn từ góc độ lịch sử truyền thống, Tạp chí Nhà nước và

pháp luật Số 3/1993, tr 16.

Trang 17

pháp quyền tự nhiên là chế độ dân chủ, đối lập với chế độ quân chủ, nơi không có

sự ngự trị của lý trí và tự do Trong mô hình nhà nước dân chủ đó, con người sống

tự do, bình đẳng và giao tiếp tự nhiên với nhau mà sinh ra pháp quyền tự nhiên.Nhà nước đồng nhất với xã hội, chứ không phải với vua Tất cả các quyền lực mànhà nước có được là do sự ủy quyền từ các cá nhân trong xã hội Pháp quyền chỉxuất hiện khi con người từ bỏ trạng thái tự nhiên để đi vào xã hội và lập nên nhànước là sản phẩm của khế ước

H Grốtxi (1583-1645) là nhà lý luận xuất sắc đầu tiên của trường phái pháp

luật tự nhiên Theo ông, tồn tại pháp luật có tính chất tự nhiên và pháp luật đượcxác lập theo ý chí Nguồn gốc của pháp luật tự nhiên là bản chất của con người, làtrí tuệ loài người Ông coi sự giữ mình trước tài sản của người khác, nghĩa vụ phảigiữ lời hứa, bồi thường cho sự thiệt hại mình gây ra, và cả sự ''trừng trị'' thíchđáng là những chỉ định của pháp quyền tự nhiên Pháp luật được xác lập theo ý chícủa nhà nước cần phải hoàn toàn phù hợp với những nguyên tắc của pháp luật tựnhiên Các thể chế pháp luật của chế độ phong kiến theo ông là đối lập với bảnchất con người, vì vậy, đòi hỏi phải có một pháp luật mới ''phù hợp với quy luậtcủa lý trí'' Mục tiêu của nhà nước là bảo vệ chế độ tư hữu bằng các điều luật cóthể bảo đảm được cho mỗi người việc sử dụng tự do các tài sản của mình cùng với

sự đồng tình của mọi người Bản chất của mọi hình thức nhà nước là khế ước xãhội, vì vậy khi thiết lập nhà nước nhân dân có thể lựa chọn bất kỳ một hình thứcchấp chính nào, tuy nhiên, đã lựa chọn nó, thì phải có trách nhiệm phục tùngngười lãnh đạo Sự thay đổi hình thức nhà nước chỉ có thể thực hiện được khi có

sự thoả thuận của cả hai bên, thông qua khế ước xã hội

Xpinôda (1632-1677) là một trong những người đầu tiên đưa ra nền tảng lý

luận cho nhà nước dân chủ, liên kết với luật pháp, bảo đảm cho quyền lợi và tự dothực sự của con người Ông khẳng định, nhà nước chỉ có thể hùng mạnh khi nóbảo đảm cho mỗi công dân không chỉ cuộc sống, mà còn làm thoả mãn các lợi íchcủa họ và phòng ngừa các nhà lãnh đạo khỏi sự xâm phạm đến sở hữu, an toàn,danh dự, tự do và các quyền lợi khác của thần dân

Tóm lại, lý thuyết pháp quyền tự nhiên đã góp phần giải phóng lý luận về nhànước và pháp luật khỏi sự bảo hộ của thần học và chủ nghĩa kinh viện trung đại C.Mác nhận xét, lý thuyết pháp quyền tự nhiên ''đã bắt đầu xem xét nhà nước bằngđôi mắt người và rút ra những quy luật tự nhiên của nhà nước từ lý trí và kinhnghiệm, chứ không phải từ khoa thần học''1

* Lý thuyết về tự do, phân quyền và chủ quyền nhân dân

Tiếp tục phát triển lý luận về pháp quyền tự nhiên, các nhà triết học duy vật Anh thế kỷ XVII là G Lốccơ và T Hốpxơ đã xây dựng nên lý thuyết này.

G Lốccơ (1632-1704) - nhà tư tưởng người Anh thế kỷ XVIII, theo C Mác là

đại biểu cổ điển của quan niệm pháp quyền của xã hội tư sản, đối lập với xã hội

H 2002, tr 165.

Trang 18

phong kiến Trong các tác phẩm của Giôn Lốccơ, tư tưởng về sự thống trị của luậtpháp thể hiện ở kiểu nhà nước, trong đó chiếm vị trí cao nhất là luật pháp phù hợpvới pháp quyền tự nhiên và công nhận quyền và tự do tất yếu của cá nhân và trong

đó có sự phân chia quyền lực Nhà nước với sự ngự trị của pháp luật như vậyđược ông đặt đối lập với chế độ chuyên chế Dựa trên tư tưởng chủ quyền nhândân và khế ước xã hội, tạo nên cơ sở pháp luật và nguồn gốc của chế độ nhà nước,

G Lốccơ luận giải ''học thuyết về nền pháp chế chống lại mọi biểu hiện phi luậtpháp của chính quyền'' Ông có nhiều luận điểm tự do mang tính kinh điển vềquyền và tự do của cá nhân trong điều kiện chế độ nhà nước pháp quyền Ôngnhận xét: ''Tự do của những người nằm dưới quyền lực của chính phủ là ở chỗ,cần có một quy tắc cố định cho cuộc sống, chung cho mọi cá nhân trong xã hội vàđược quy định bởi quyền lập pháp được thiết lập ở đó Đó là quyền tự do được làmtheo ý muốn riêng trong mọi trường hợp, nếu như ý muốn đó không bị luật phápngăn cấm và không phụ thuộc vào ý chí độc đoán thường xuyên, không xác định vàkhông rõ ràng của người khác''1 Nguyên tắc pháp luật mà G Lốccơ đưa ra ở đâychỉ khác ít nhiều về mặt từ ngữ với công thức: ''Cho phép làm tất cả những gì màluật pháp không ngăn cấm'' Cũng nói thêm rằng, G Lốccơ đã đi xa hơn điều đó: vìnguyên tắc trên chỉ đúng đắn, thích hợp với cá nhân, chứ không phù hợp với nhữngngười đang nắm quyền, nên đối với những người này lại cần có một nguyên tắc đốilập: ''Ngăn cấm làm tất cả, những gì luật pháp không cho phép''

Những ý tưởng ban đầu của Arixtốt và Pôlibi về phân chia quyền lực đã được

G Lốccơ kế thừa và phát triển cho phù hợp với đặc điểm phát triển của xã hộiphương Tây lúc bấy giờ

G Lốccơ phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hànhpháp và quyền liên hợp Trong đó, quyền lập pháp thuộc về nghị viện, hai quyềncòn lại thuộc về nhà vua, nhưng vua không được lạm quyền và quyền tư pháp làmột bộ phận trong quyền hành pháp với sự xét xử có sự tham gia của đại biểunhân dân Việc soạn thảo và người soạn thảo pháp luật cần phải tách khỏi ngườithực hiện và bảo vệ pháp luật Việc dồn ba quyền trên vào một cá nhân hay cơquan đã bị lịch sử vượt qua Sự nới lỏng quyền lực từ phía cơ quan lập pháp cũngnhư sự thắt chặt quyền lực từ phía cơ quan hành pháp đều gây ra tác hại Từ tưtưởng này, quyền lực thực tế của nhà nước sẽ được chia thành các bộ phận riêng

rẽ và được trao cho những lực lượng chính trị - xã hội khác nhau là giai cấp tư sản

và tầng lớp quý tộc phong kiến

T Hốpxơ (1588-1679) - nhà triết học, đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa duy vật

Anh thế kỷ XVII, quan niệm con người là một thể thống nhất giữa tính tự nhiên vàtính xã hội Từ quan niệm về bản tính tự nhiên của con người, ông coi nhà nước là

sự sáng tạo cao nhất của con người, đóng vai trò điều hành sự phát triển xã hội.Theo T Hốpxơ, nhà nước là con người sáng tạo; pháp luật cần phải được nhànước sử dụng như là một tất yếu trong quản lý xã hội Với sự xuất hiện của nhànước, tự do chính đáng của mỗi cá nhân được mở rộng

1 1 Lốccơ, Tuyển tập triết học, tập 2, M 1960, tr 16-17 (tiếng Nga).

Trang 19

Giôn Minlơ (1806-1873) - nhà triết học, lôgíc học và kinh tế học người Anh đã

nêu ra nguyên tắc cá nhân có thể làm những gì không hại đến người khác Theoông, tự do cá nhân phụ thuộc vào hai điều kiện là trình độ dân trí và sự nghiêmminh của pháp luật

* Lý thuyết về phân quyền, chủ quyền nhân dân và khế ước xã hội Người sáng lập là các nhà triết học khai sáng Pháp thế kỷ XVIII như S.L.

Môngtécxkiơ, J.J Rútxô, Vônte, Điđơrô, Hônbách

S.L Môngtécxkiơ (1689-1775) - nhà luật học người Pháp nổi tiếng, quan niệm

nhà nước ra đời từ sự vận động và phát triển của xã hội loài người đến một trình độnhất định

Những ý tưởng về sự phân chia quyền lực đã được S.L Môngtécxkiơ nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống Ông phân chiatrong mỗi nhà nước ba loại quyền lực: lập pháp, hành pháp và tư pháp, vì vậymuốn ngăn chặn được nạn lạm dụng quyền lực thì phải có một trật tự, trong đócác thế lực khác nhau có thể kìm hãm được nhau Quyền lập pháp giao cho nghịviện, quyền hành pháp giao cho chính phủ, quyền tư pháp giao cho tòa án Sựphân chia quyền lực và hạn chế lẫn nhau, theo Môngtécxkiơ là điều kiện chủ yếubảo đảm cho quyền tự do chính trị trong quan hệ của nó với thể chế nhà nước.Ông viết: ''khi quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một ngườihay một viện nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa; vì rằng người ta sợchính con người ấy hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài.Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp vàquyền hành pháp Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp, thì người ta sẽđộc đoán đối với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt

ra luật Nếu quyền tư pháp nhập với hành pháp, thì quan tòa sẽ có sức mạnh của

kẻ đàn áp''1 Ông nhấn mạnh: ''Không một cơ quan nào vượt lên những cơ quankia, và không một cơ quan nào có thể tước đoạt quyền cá nhân của công dân''2.Đồng thời, ông nhấn mạnh, quyền tự do chính trị không phải là ở chỗ được làmmọi điều theo ý muốn, mà ''trong nhà nước, có nghĩa là trong xã hội, nơi có cácđạo luật tự do là quyền được làm những gì mà luật pháp cho phép Nếu nhưngười công dân có thể làm những gì mà luật pháp ngăn cấm, thì bản thân anh takhông có tự do, bởi vì những công dân khác cũng có thể làm như vậy''1

Học thuyết của S.L Môngtécxkiơ và G Lốccơ về phân quyền và sự bảo đảmquyền lợi và tự do cho công dân đã có những ảnh hưởng sâu sắc không chỉ đối vớicác luận điểm lý thuyết về nhà nước pháp quyền tiếp theo, mà còn đối với nền lậphiến tư sản thời kỳ đầu và chính sách pháp luật nhà nước

J.J Rútxô (1712-1788), nhà văn nổi tiếng người Pháp là người đã thổi vào học

Trang 20

thuyết nhà nước pháp quyền tư sản những nội dung mới và sâu sắc.

Nhiều nhà tư tưởng cho rằng, chủ quyền của nhân dân bắt nguồn từ ''Khế ước

xã hội'' Chúng ta có thể tìm thấy mầm mống tư tưởng của nguyên tắc khế ước xãhội trong các đạo luật và trong các phong trào cải cách tiến bộ ngay từ thời kỳ cổđại La Mã, Hy Lạp Cùng với thời gian, những tư tưởng về khế ước xã hội ngàycàng được củng cố và phát triển J.J Rútxô cùng với các nhà tư tưởng tiến bộ khác

đã làm phong phú và đầy đủ thêm những khía cạnh của lý thuyết khế ước xã hội.Theo J.J Rútxô, bước quá độ chuyển sang trạng thái tự do được đánh dấu bởi

sự ký kết khế ước xã hội Theo khế ước đó, mỗi người dân tự nguyện nhượng lạicho cộng đồng một số quyền Thay vào đó, mỗi người đều có các quyền và tự docông dân, cuộc sống và tài sản của mỗi cá nhân được bảo vệ bằng sức mạnhchung của cả cộng đồng Nhờ vậy, các quyền và tự do của công dân mang tínhpháp lý Tóm lại, con người đến với xã hội và nhà nước không phải để mất điquyền tự do vốn có của mình, mà để bảo vệ và phát triển quyền tự do đó J.J.Rútxô viết: ''Mỗi thành viên trong khi khép mình vào tập thể, dùng sức mạnh tậpthể, vẫn được tự do đầy đủ như trước, vẫn chỉ tuân theo chính bản thân mình''1.J.J Rútxô lập luận, trên cơ sở của khế ước xã hội dần dần hình thành nên liênminh của những công dân tự do và bình đẳng, hình thành nên chế độ cộng hòa.Trong đó, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân chứ không phải quốc vương,nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc ủy quyền cho các đạibiểu của mình trong bộ máy nhà nước Khế ước xã hội có thể hiểu là pháp luật và

bộ máy nhà nước do nhân dân tạo ra Khi nhà nước vi phạm khế ước xã hội đãthoả thuận thì nhân dân có quyền thay thế bằng nhà nước mới Tham gia vào nhànước, vào khế ước xã hội, con người từ bỏ trạng thái tự nhiên để bước sang trạngthái dân sự Nhà nước là ''con người tập thể'' thực hiện ý chí và quyền lực chung.Tóm lại, công dân có trách nhiệm với nhà nước như thế nào, thì nhà nước có tráchnhiệm với công dân như thế ấy ''Những mối dây ràng buộc chúng ta vào cơ thể xãhội chỉ là cưỡng chế khi nào nó là sự ràng buộc cả hai phía, có đi có lại Tính chấtcủa nó là trong khi thực hiện sự ràng buộc, người ta vừa làm cho kẻ khác lại vừalàm cho chính mình''1

Đối lập với quan điểm tam quyền phân lập củaS.L Môngtécxkiơ và G Lốccơ, J.J Rútxô quan niệm: ''ý chí chung muốn thật sự

là ý chí chung, thì phải là ý chí chung từ trong đối tượng và bản chất của nó; phải từtất cả và ứng dụng cho tất cả''2, chứ không phải là ý chí của cá nhân, một nhóm ápđặt cho tất cả hay ý chí chung nhưng lại ''thiên về một đối tượng riêng rẽ'' Côngdân tuân thủ ý chí chung tức là tuân thủ ý chí của mình Không thể có một sự phânchia quyền lực thật sự nào với ý nghĩa là phân chia quyền lực tối thượng của nhândân ''Chủ quyền tối cao không thể từ bỏ thì cũng không thể phân chia được''3

Vônte (1694-1778) cho rằng, tất cả mọi người trong xã hội đều bình đẳng; các

quyền lợi và nghĩa vụ của mọi thành viên trong xã hội được pháp luật thừa nhận

1 J J Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr 41.

1 , 2, 3.J J Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr 41, 61, 55.

Trang 21

Đó là các đạo luật tự nhiên, đạo luật của lý trí.

Theo Điđơrô (1713-1784), các nguyên tắc pháp lý của chính quyền nhà nước

dựa trên chủ quyền của nó, được xây dựng theo khế ước xã hội Chính quyền nhànước, theo ông, xuất hiện như là sản phẩm của khế ước xã hội, tạo ra cho xã hộimột hình thái tổ chức chính trị Con người vốn chuyển giao từng phần sự tự chủ tựnhiên của mình cho nhà nước với mục đích đảm bảo lợi ích và thống nhất ý chí,sức mạnh của tất cả mọi người Quyền lực nhà nước, vì vậy, dựa trên ý chí củanhân dân, mà nhân dân là chủ quyền ''Quốc gia là một chủ quyền thực sự, nhândân có thể trở thành người lập pháp chân chính, bởi vì ý chí của nhân dân lànguồn gốc của quyền lực chính trị''1 Mục tiêu chủ yếu của nhà nước là bảo đảmcho quyền lợi không thể tước đoạt được của công dân và hạnh phúc của họ Tưtưởng này của Điđrô được phát triển và hoàn thiện trong học thuyết nhà nướcpháp quyền của Cantơ

Hônbách (1723-1789) khẳng định, tự do là quyền bất khả xâm phạm của con

người Trong xã hội các đạo luật phải được hình thành trên cơ sở các khế ước xãhội Pháp luật quy định trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và cá nhân, đặc biệt làtrách nhiệm của nhà cầm quyền đối với xã hội

* Lý thuyết về nhà nước pháp quyền của các nhà triết học cổ điển Đức

I Cantơ (1724-1804) đã đề ra và nghiên cứu một cách chi tiết nền tảng triết

học của học thuyết nhà nước pháp quyền mà vị trí trung tâm ở đó thuộc về conngười Có thể nói, từ giữa thế kỷ XVIII, cùng với I Cantơ, lý luận về nhà nướcpháp quyền đã tìm thấy cơ sở triết học của mình

I Cantơ cho rằng, mỗi con người là một giá trị tuyệt đối và không thể là công

cụ của bất cứ mưu đồ nào, dù là mưu đồ tốt đẹp nhất, đây là ''mệnh lệnh tuyệt đối''

mà con người phải tuân theo Việc xây dựng nhà nước, mà tổ chức và hoạt độngcủa nó phải được đặt dưới pháp luật, là đòi hỏi khách quan của lịch sử

I Cantơ coi nguyên tắc cực kỳ quan trọng của quyền lợi công chúng là sự đòihỏi của họ được tham gia vào việc xác lập trật tự pháp luật bằng con đường thôngqua hiến pháp, thể hiện ý chí của họ Tầng lớp trên của nhân dân quy định quyền

tự do, công bằng và tự chủ của tất cả mọi công dân trong nhà nước - với tư cách là''sự hợp nhất rất nhiều người, phụ thuộc vào luật pháp''1 ở nơi mà nhà nước hoạtđộng trên cơ sở quyền lập hiến và phù hợp với ý chí chung của nhân dân, ở đó nhànước mang tính pháp quyền, ở đó không thể có sự hạn chế quyền của công dântrong lĩnh vực tự do cá nhân

Theo I Cantơ, trong nhà nước pháp quyền, người công dân cần phải có khảnăng cưỡng ép người cầm quyền thi hành chuẩn xác luật pháp, giống như thái độcủa người cầm quyền đối với họ vậy Tính tổ chức pháp lý của mối quan hệ giữangười cầm quyền với công dân được I Cantơ trực tiếp gắn chặt với sự phân quyềnthành quyền lập pháp - thuộc về nghị viện, quyền hành pháp - thuộc về chính phủ

1 1 Lịch sử các học thuyết chính trị, Phần I, M 1971, tr 181 (tiếng Nga).

1 1, 2 Cantơ: Toàn tập, tập 4, tr 233, 140 (tiếng Nga).

Trang 22

và quyền tư pháp do tòa án hội thẩm được nhân dân bầu ra thực hiện Lợi ích củanhà nước, theo I Cantơ, hoàn toàn nằm ở sự phối hợp chặt chẽ của thể chế nhànước với các nguyên tắc pháp quyền, và để đạt tới sự phối hợp như vậy thì lý tríbắt buộc chúng ta phải tuân theo một mệnh lệnh kiên quyết: ''Hãy hành động bềngoài sao cho biểu hiện tự do sự độc đoán của anh có thể thống nhất với tự do củamỗi người, phù hợp với luật pháp chung'' Việc thực hiện yêu cầu của mệnh lệnhtrên trong lĩnh vực chế độ nhà nước ở I Cantơ giống như là tổ chức pháp lý có sựphân quyền.

Nhà nước pháp quyền (chế độ cộng hòa) theo I Cantơ không phải như mộthiện thực có tính kinh nghiệm, mà như một mô hình lý thuyết lý tưởng, cần đượcquản lý trong tổ chức thực tiễn của sinh hoạt nhà nước - pháp luật C Mác, khi coitriết học của I Cantơ là lý luận của Đức về cách mạng Pháp, đã viết: ''ở I Cantơchế độ cộng hòa, với tư cách là một hình thức nhà nước hợp lý duy nhất, đang trởthành định đề của lý trí thực tiễn, tuy không bao giờ thực hiện được nhưng việcthực hiện nó cần phải luôn luôn là mục tiêu của chúng ta và đối tượng suy tưởngcủa chúng ta''1

V.F Hêghen (1770-1831) là người có những đóng góp quan trọng vào việc xác

định cơ sở triết học của lý luận về nhà nước pháp quyền

Nếu như ở I.Cantơ pháp luật pháp quyền và nhà nước pháp quyền là cái cầnphải đạt tới, thì ở V.F.Hêghen, chúng là hiện thực, có nghĩa là hiện thực hóa lý trí

và thực tiễn trong các hình thức tồn tại hàng ngày của con người V.F Hêghenxem xét nhà nước trong bối cảnh toàn bộ hệ thống quan điểm triết học cơ bản củaông về thế giới mà một phần quan trọng trong đó là triết học pháp quyền

Pháp luật theo V.F Hêghen, là hiện thực quyền tự do ''sự tồn tại hiện hữu của ýchí tự do''2 Nhà nước - theo ông - cũng là pháp luật (pháp luật cụ thể theo cách giảithích biện chứng) - pháp luật phong phú, sâu sắc và phát triển nhất, là toàn bộ hệthống pháp luật, bao gồm sự chấp nhận mọi quyền còn lại, trừu tượng hơn nhưquyền con người, quyền xã hội, quyền gia đình Trong trường hợp đó, chúng ta cóthể nói rằng - nhà nước là một thứ quyền năng vật chất Tuy nhiên, với điều kiệnxem xét nó trong thứ bậc biện chứng của pháp luật, thì nhà nước, với tư cách làquyền lực cụ thể hơn cả, sẽ đứng ở đỉnh cao của hình chóp

Nâng nhà nước lên thành cái tuyệt đối, đứng trên cá nhân và xã hội, Hêghenchứng minh rằng sự tồn tại của nhà nước có trước sự phát triển xã hội công dân Nhà nước theo V.F Hêghen là một tổ chức hoàn thiện nhất của đời sống xãhội, trong đó tất cả mọi thứ đều được xây dựng trên nền tảng pháp luật, thể hiện

sự thống trị của tự do thực sự Chính trong nhà nước và thông qua nhà nước màcác giá trị đạo đức tối cao của con người được thực hiện, bởi vì nó cũng là hiệnthực của tư tưởng đạo đức Xã hội công dân nhờ có các thể chế pháp luật mà bảođảm cho lợi ích của các cá nhân và bảo vệ cho sở hữu của họ, giữ vững trật tự xãhội Trong nhà nước tự do cá nhân và trật tự bên ngoài hòa hợp vào nhau, đạt đến

1 1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 7, tr 77 (tiếng Nga).

2 2 Hêghen, Triết học pháp quyền, 1953, tr 53 (tiếng Nga).

Trang 23

sự thống nhất bản chất pháp quyền và quan niệm về đạo đức Nói cách khác,Hêghen từ góc độ triết học ca tụng nhà nước như là hiện thực phát triển nhất của

tự do

Về tổng thể, toàn bộ dự án về nhà nước pháp quyền của V.F Hêghen trực tiếp và nhất quán chống lại sự chuyên quyền, tình trạng vôquyền và nói chung là tất cả các hình thức phi pháp luật, áp dụng sức mạnh từphía cá nhân và chính quyền nhà nước Chủ nghĩa duy nhà nước của V.F Hêghenkhác biệt hoàn toàn với chế độ cực quyền dưới mọi hình thức - nhìn thấy trong tổchức nhà nước và thể chế pháp luật kẻ thù trực tiếp của mình và muốn thay thếluật pháp quyền bằng các đạo luật mang tính mệnh lệnh - chuyên quyền và thaythế chế độ nhà nước bằng cơ chế quyền lực chính trị đặc biệt Và trong tư tưởng

về vấn đề này của Hêghen chúng ta nhận thấy không phải là sự chuẩn bị về tưtưởng cho chế độ cực quyền mà là sự cảnh báo về mặt triết học về những hiểmhoạ của nó

Xem xét quan điểm nhà nước của V.F Hêghen trong bối cảnh kinh nghiệm vàtri thức của thế kỷ XX về chế độ cực quyền cho phép ta nhận thức được sự đối lập

và loại trừ lẫn nhau giữa chế độ nhà nước và chế độ cực quyền Cũng với nghĩanày có thể khẳng định sự can thiệp của nhà nước chống lại chế độ cực quyền.Giá trị của những quan điểm của V.F Hêghen về nhà nước là ở chỗ, chức năngbạo lực, cưỡng bức của nó không chiếm vai trò quan trọng lắm Điều chủ yếu - đó

là định hướng xã hội và pháp lý của hoạt động nhà nước, bản chất định hướng sâusắc, tính lý trí và hữu ích của nó đối với xã hội và cá nhân

G.G Phíchtơ (1762-1814), quan niệm nhà nước và pháp luật là những phương

tiện để nhân loại thực hiện sứ mệnh lịch sử tối cao của mình, là tiến tới tự do tuyệtđối, cái tôi tuyệt đối Nhà nước và pháp luật có nhiệm vụ quản lý và điều hòa sựphát triển của xã hội, chúng xuất hiện trên cơ sở khế ước xã hội và vì lợi íchchung là hướng tới tự do Nhà nước pháp quyền là công cụ để xây dựng một xãhội lý tưởng, bảo đảm các nhu cầu cơ bản của công dân

* Lý thuyết về nhà nước pháp quyền tư sản thế kỷ XIX - XX

Xu hướng ảnh hưởng lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước phápquyền tư sản là hệ thống quan điểm pháp lý - thực định Đây là xu hướng ra đờinhằm thay thế lý thuyết pháp quyền tự nhiên Xu hướng này thể hiện qua nhiềubiến thể, khuynh hướng khác nhau của chủ nghĩa thực định pháp lý trong các thế kỷ

XIX và XX Các đại biểu nổi tiếng của nó là: R.F Môn, K.T Vancơ, Hécbéc, Đaixi, Enlinnec, Iêring, Korơcunốp, Bản chất quan điểm của họ là ở ý đồ tạo ra

một cơ cấu tự hạn chế nào đó của nhà nước bằng chính pháp luật do nhà nước xâydựng lên Song song với điều đó là phủ nhận sự khác nhau giữa pháp luật và luật,còn chính bản thân pháp luật lại được quy về các quy phạm pháp luật do nhà nướcban hành, bảo vệ (các quy phạm pháp luật, các văn bản dưới luật, tập quán pháp lý,các án lệ, ) Nếu như không đánh giá chủ quan thì đa số các tác giả giống nhau ởchỗ chỉ có thể coi kiểu nhà nước, trong đó nhà nước lập pháp cũng phải tuân thủ

Trang 24

pháp luật như mọi công dân khác là nhà nước pháp quyền

Iêring cho rằng, chế độ nhà nước pháp quyền chỉ có thể tồn tại ở nơi mà chính

quyền nhà nước cũng lệ thuộc vào trật tự mà nó đặt ra, nơi mà nó đạt được sựvững chắc về pháp lý Chỉ có cùng với sự ngự trị của pháp luật thì lợi ích dân tộc,thương mại và các ngành thủ công nghiệp mới phát triển được, ''sức mạnh trí tuệ

và đạo đức''1 mới được mở mang Trong quan điểm của Enlinnec, nhà nước đượcđịnh nghĩa là người đại diện cho lợi ích chung của nhân dân mình, là liên minhthống trị, tư cách pháp nhân của nhân dân, đáp ứng lợi ích cá nhân, lợi ích quốcgia và lợi ích chung của nhân loại theo hướng phát triển tiến bộ của xã hội

Hécbéc cho rằng, nhà nước là hình thức pháp quyền đối với toàn bộ đời sống của nhân dân và là pháp nhân tối cao Laban lại nhìn thấy ''một tổ chức pháp lý

của nhân dân'' và ''sự nhân cách hóa có tính chất pháp lý nhận thức của nhândân ''

R.F Môn, K.T Vancơ là những người đầu tiên sử dụng thuật ngữ nhà nước

pháp quyền Nhà nước pháp quyền có mục tiêu là phát huy tự do và năng lực sángtạo của mọi công dân Nhà nước pháp quyền phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản:tính tối cao của pháp luật; chủ quyền của nhân dân thông qua nghị viện; mọi côngdân đều bình đẳng trước pháp luật

L.F Stan (1815-1890) đưa ra những nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp

quyền như: sự ràng buộc của nhà nước bởi pháp luật; đảm bảo quyền tự do tối đacho hoạt động của công dân L.F Stan quan niệm nhà nước pháp quyền vừa mangtính hình thức vừa mang tính vật chất ''Nhà nước pháp quyền vật chất'' đảm bảo

sự ngự trị của đạo đức ''Nhà nước pháp quyền hình thức'' ngăn ngừa bạo lực dướimọi hình thức

Tóm lại, tư tưởng nhà nước pháp quyền thực chứng được hình thành và pháttriển trên cơ sở xã hội tư bản bước vào thời kỳ chấm dứt giai đoạn công trườngthủ công và bước vào giai đoạn đại công nghiệp Lý thuyết này xem là thực chứngtất cả những gì được xác lập bằng các chế định của con người - tức pháp luật donhà nước ban hành ở thời kỳ này, các phạm trù, khái niệm về nhà nước và phápquyền tư sản được xây dựng một cách hệ thống hơn Từ sau Chiến tranh thế giớithứ hai đến những thập kỷ gần đây vấn đề nhà nước pháp quyền lại được nghiêncứu ở nhiều nước phương Tây Các công trình nghiên cứu về nhà nước đã đượctiến hành khá rầm rộ ở các cường quốc tư bản như tại nước Anh từ những năm

1970, ở Pháp từ những năm 1980 gắn với tên tuổi của các nhà khoa học như P.V.Đôminicơ, Đ Côlaxơ, M Croidơ, B Krigen

2 Mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Xô Viết

* Cơ sở hình thành, phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Tư tưởng nhà nước pháp quyền được thể hiện rộng rãi trong các học thuyếtchính trị - pháp luật của Nga, trong các tác phẩm của Pixarép, Hécxen,

1 1 Lêring R, Mục đích trong pháp luật, Xanh Pêtécbua, 1881, tr 47 (tiếng Nga).

Trang 25

Trecnưsépxki, Rađisép, Pexten, Muraviốp và một số tác giả khác, phê phán tìnhtrạng phi pháp luật của chế độ phong kiến Trong các tác phẩm của các nhà triết học

và luật học Nga trước Cách mạng Tháng Mười đã có sự hoàn thiện về lý luận trongquan điểm về nhà nước pháp quyền Tuy các luận điểm của họ rất khác nhau,

nhưng chúng thống nhất ở một điểm: luận điểm về mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật.

Chẳng hạn, Nốpgôrớtxép viết: ''Để nhận thức được sự ràng buộc của nhà nước

bằng pháp luật, cần phải thừa nhận một số quy phạm đứng trên nhà nước, chúngkhông thể bắt nguồn từ ý chí của nhà nước và trở thành bộ phận cấu thành củapháp luật do nhà nước đề ra, đó chỉ có thể là quy phạm đạo đức, quy phạm phápluật tự nhiên''1

Còn Sécsennevích nêu lên các hướng hình thành và những thông số cơ bản của

nhà nước pháp quyền như sau:

Thứ nhất, để loại trừ sự chuyên quyền nhất thiết phải thiết lập các quy phạm

pháp luật khách quan, xác định được giới hạn tự do của mỗi người và giới hạn cáclợi ích này và các lợi ích khác, trong đó có cả lợi ích của các tổ chức nhà nước, -

từ đây bắt nguồn tư tưởng thống trị của pháp luật trong quản lý

Thứ hai, nếu như quyền chủ động của cá nhân đòi hỏi tự do, thì nhà nước chỉ

cần bảo vệ cho các quyền lợi riêng; để cho thể chế mới không bị chính các cơquan quyền lực phá vỡ, nhất thiết phải quy định chặt chẽ quyền hạn của các cơquan quyền lực này, tách quyền lập pháp khỏi quyền hành pháp, khẳng định tính

tự chủ của quyền tư pháp và cho phép các thành phần xã hội đã được bầu tham gialập pháp Tán thành với những đặc trưng như vậy của nhà nước pháp quyền, mặtkhác Sécsennevích lại nhìn thấy sự bảo đảm thiết thực cho chế độ nhà nước phápquyền ở chỗ, trong các thời điểm khác nhau lại đưa ra những sự bảo đảm khácnhau của pháp luật chống lại tệ chuyên quyền của chính quyền nhà nước '' a)quyền tất yếu của cá nhân; b) nguyên tắc phân quyền; c) sự tự hạn chế quyền lựccủa chính quyền; d) sự lệ thuộc nhà nước vào pháp luật đứng trên nó Trong thực

tế sự bảo đảm như vậy chỉ có thể do sức mạnh kiềm chế của dư luận xã hội'' Tưtưởng ''kiềm chế'' quyền lực bằng các tổ chức xã hội phi nhà nước, bằng dư luận

xã hội, thông tấn, báo chí, truyền hình, ngày nay đã được tất cả mọi ngườicông nhận, mặc dù, theo ý chúng tôi, kết quả của điều đó thật cũng quá ít ỏi

Hécxen, dựa trên các quan điểm nền tảng của tư tưởng chính trị - pháp luật

phương Tây, đã định nghĩa nhà nước pháp quyền như sau: ''Nhà nước được coi làpháp quyền khi nó công nhận các quy phạm pháp luật mà nó với tư cách người lậppháp xây dựng nên là bắt buộc đối với chính mình, trong việc thực hiện các chứcnăng chính phủ và tư pháp được ràng buộc và giới hạn bởi luật pháp, nó đứngdưới pháp luật, nhưng không ở ngoài và ở trên pháp luật''1 Đồng thời, Hécxen đã

1 1 Nốpgôrớtxép, Pháp luật và nhà nước Những vấn đề triết học và tâm lý học, 1904, số 74, tr.439 (tiếng

Nga)

1 Nhà nước pháp quyền và sự biểu quyết của nhân dân, Xanh Pêtécbua, 1906, tr 10 (tiếng Nga).

Trang 26

có những sửa đổi nhất định về phía nội dung của nhà nước pháp quyền Ông bảo

vệ cho tự do của hoạt động luật pháp theo nghĩa nhà nước không bị ràng buộc bởipháp luật hiện hành và tập quán thông thường bởi vì không có tập quán và đạoluật nào là vĩnh cửu Cách lập luận của Hécxen có điểm chưa hợp lý, bởi cácphong tục của nhân dân, bất kể là thuộc dân tộc nào, đều có tính vĩnh cửu Có thểnói, về nguyên tắc chúng có tính trường tồn và ý nghĩa như nhau đối với mọi dântộc, giống như với các điều luật của Thượng đế

Thực tế thì Hécxen coi quyền lập pháp không thể bị hạn chế bởi pháp luật ởđây có một luận điểm thực tiễn mang tính nguyên tắc: các đạo luật cần phải phùhợp với trình độ phát triển của xã hội, phản ánh các điều kiện kinh tế, xã hội, vănhóa luôn thay đổi của xã hội, đáp ứng được yêu cầu phát triển khách quan của nó

Côliarôpxki thì lại ủng hộ học thuyết của Cantơ về mối liên hệ và trách nhiệm

đối với nhau của nhà nước và cá nhân mà sự phân chia quyền lực bảo đảm cho nó.Kết luận của ông về vai trò của tòa án như là cơ quan chủ yếu bảo đảm cho tráchnhiệm đối với nhau của nhà nước và cá nhân có ý nghĩa thực tiễn đối với sinh hoạtnhà nước pháp luật hiện đại Đó phải là Tòa án Hiến pháp, tuyệt đối không phụthuộc vào bất cứ ai và được nhân dân tin tưởng tuyệt đối Mất đi niềm tin này sẽlàm lung lay nguyên tắc của các cơ quan tư pháp, cũng như nguyên tắc của nhànước pháp quyền

Nhà văn và nhà luật học Murômxep không coi mình là nhà lý luận về nhà nước

pháp quyền, nhưng tất cả những gì ông viết về quyền của cá nhân, về pháp luậtnói chung, về sự hợp tác của nhà nước và xã hội đều liên quan chặt chẽ với quanđiểm nhà nước pháp luật Bên cạnh đó, Garanôpxki cho rằng, nhà nước phápquyền hiện đại, vì các nguyên tắc cơ bản của mình, trước hết cần phải thừa nhậnquyền của công chúng, hay nói cách khác, quyền tự do cá nhân

Những giá trị phổ biến, tiến bộ của tư tưởng nhà nước pháp quyền ''đề cao dânchủ, pháp luật, tính nhân văn, nhân đạo '' đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác - Lênin kế thừa và phát triển trong điều kiện mới Từ những tác phẩm đầu

tiên: Sự khốn cùng của triết học, Phê phán triết học pháp quyền Hêghen Và được đặt long trọng trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C Mác và Ph Ăngghen đặt

vấn đề xây dựng một xã hội kiểu mới, trong đó, ''tự do của mỗi người là điều kiệnphát triển tự do của tất cả mọi người", là ''sự phát triển toàn diện con người'' Theo

C Mác và Ph Ăngghen, vì con người và giải phóng con người là mục tiêu xâydựng xã hội mới Về mặt nhà nước, C Mác và Ph Ăngghen chủ trương xác lập

một chế độ dân chủ triệt để Trong tác phẩm Phê phán triết học pháp quyền Hêghen, C Mác viết: ''Chế độ dân chủ quan hệ với mọi hình thức khác của chế độ

nhà nước như loài quan hệ với giống của mình''1 Luận điểm trên xuất phát từ thực

tế lịch sử sâu xa: có con người, có xã hội mới có nhà nước; nhà nước từ nhân dân

mà ra, tính chất nhân dân là tính chất gốc rễ của nhà nước

H 2002, tr 350.

Trang 27

Những luận điểm trên đã được V.I Lênin tiếp thu và phát triển trong quá trìnhxây dựng nhà nước kiểu mới Người khẳng định: không có chế độ dân chủ thì chủnghĩa xã hội không thể thực hiện được; pháp luật và pháp chế là điều kiện cơ bản

để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi,với sự ra đời của Nhà nước Xô Viết công nông, về cơ bản nhân dân thoát ách''thần dân'' để được sống với tư cách là những công dân làm chủ xã hội, làm chủnhà nước ''Đối trọng'' với các học thuyết nhà nước và pháp luật tư sản, ở Liên Xô(cũ) đã hình thành lý thuyết về pháp chế xã hội chủ nghĩa Pháp chế xã hội chủnghĩa, về nội dung là một hệ thống những quan niệm về xây dựng pháp luật, thihành pháp luật và bảo vệ pháp luật

Nền pháp chế xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền có nhiều điểm tương đồng: Pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn

thiện và đồng bộ thì nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng đòi hỏi Nhànước phải không ngừng củng cố, hoàn thiện hệ thống pháp luật; Pháp chế xã hộichủ nghĩa đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, là chế độ hoạt động của nhànước mà trong đó mọi quy định của pháp luật đều được mọi cơ quan nhà nước, tổchức và công dân thực hiện nghiêm túc thì nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

đề cao tính tối cao của pháp luật, nhấn mạnh nguyên tắc mọi cơ quan nhà nướcphải đặt mình dưới luật; Pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải giữ gìn nghiêmngặt pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước, đấu tranh kiên quyết chống mọi

vi phạm pháp luật, từ mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân thì nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa cũng đề cao hệ thống định chế tư pháp để xét xử các hành vi viphạm; Pháp chế xã hội chủ nghĩa cũng như pháp luật pháp quyền hay nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và có quan hệ biệnchứng với Dân chủ xã hội chủ nghĩa

Thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa trong gần 100 năm qua đã chứng tỏ,trong quá trình tổ chức và hoạt động của mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa đã tạo

ra được nhiều yếu tố cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Có thểthấy hiện hữu những thành tựu cơ bản mà các nhà nước xã hội chủ nghĩa đã tạodựng và được hàng triệu triệu trái tim và khối óc trên thế giới hướng về:

- Hệ thống cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyêntắc khoa học, dân chủ;

- Hệ thống quy phạm pháp luật và các quy tắc xã hội mang bản chất dân chủ,nhân văn và công bằng xã hội;

- Quyền con người, quyền công dân được đảm bảo

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ngay cả ở các nước phát triển theo định hướng xãhội chủ nghĩa, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học, kỹ thuật, củavăn hóa chưa chín muồi cần thiết, lại tồn tại quá lâu trong cơ chế tập trung quanliêu bao cấp, nên quyền làm chủ của nhân dân vẫn còn bị hạn chế Đúng như lờiV.I Lênin là do không thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ, nên chủ nghĩa xã hộichiến thắng đã không giữ được thắng lợi của mình

Trang 28

Trong những năm cải tổ ở Liên Xô cũ đã diễn ra nhiều thay đổi quan trọng trongquan điểm về nhà nước và pháp luật, nhiều quan điểm mới đánh giá vai trò của nhànước và pháp luật trong hệ thống chính trị xã hội được hình thành.

* Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Xô Viết - quan điểm và mô hình

Quan điểm về nhà nước pháp quyền của các nhà khoa học Liên Xô trước đây đãhình thành lên một mô hình lý thuyết về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ởLiên Xô khá hoàn hảo Đáng tiếc rằng, mô hình đó chưa kịp đưa vào cuộc sống thìchế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô bị sụp đổ

Có thể kể tên các nhà khoa học Nga đã có nhiều đóng góp vào quá trình hìnhthành mô hình lý thuyết về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô cũnhư: Alêcxâyep X.X., Vengerôp V.E., Đêep V.E., Baturin In M., Bectrenco A.Ia.,Doockin V.D., Kêmirôp Đ.A., Kuđriaxep B.N., Lađrep B.N., Lêđiac I.A., Lipsin

R D Lucasep E.A., Mansep G.V., Temuskin O.P., Tôporơnin B.I., NêrơxêxanV.X., Pixơcôtin M.I., Tikhômirốp Iu.A., Khanphina R.A., Trecnilốpxki D.M.,Khơrôpanhuc V.H., Ilin Iu.D

Khi bàn về khái niệm nhà nước pháp quyền là gì, các nhà khoa học Xô Viếtchủ yếu thống nhất ở hai quan điểm cơ bản

Quan điểm thứ nhất quan niệm nhà nước pháp quyền như là ''sự thống trị của

luật (đạo luật) trong toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội''1 ở đây các luậtđược hiểu như các văn bản luật pháp của các cơ quan quyền lực nhà nước caonhất, được soạn thảo và thông qua theo một trình tự lập pháp dân chủ, tiến bộnhất Hơn thế nữa, luật (đạo luật) ở đây còn phải là những đạo luật có chất lượngtốt, đáp ứng yêu cầu cụ thể sau đây:

- Luật của nhà nước pháp quyền phải là sự biểu hiện và ghi nhận trong luậtmức độ khách quan của các quyền và tự do của con người;

- Luật của nhà nước pháp quyền chứa đựng trong mình nguyên tắc công bằngpháp lý mang tính hình thức có tính bình đẳng chung nhất Tức là nội dung củaluật đó phải xác lập được quan hệ hài hòa và bình đẳng về các quyền và nghĩa

vụ, trách nhiệm pháp lý giữa một bên là nhà nước pháp quyền và bên kia là cánhân (công dân) nhằm loại trừ xu hướng vô chính phủ từ phía công dân, cũngnhư nguy cơ tùy tiện và chuyên quyền từ phía chính quyền nhà nước

- Luật của nhà nước pháp quyền tính đến và bảo vệ quyền lợi cho cả nhữngthành viên xã hội nằm ngoài công bằng pháp lý mang tính hình thức có tính bìnhđẳng chung như những người bệnh tật, người già cả cô đơn không có nơi nươngtựa và những thành viên xã hội không có khả năng kiếm được công ăn việc làm

- Luật của nhà nước pháp quyền không phải là sản phẩm tự do duy ý chí, do ýmuốn chủ quan của các nhà làm luật mà phải là sự phản ánh khách quan nhu cầuchín muồi của xã hội Alếcxâyep X.X viết: ''Luật cần phải biểu hiện mình với ýnghĩa cao cả nhất của từ đó, với ý nghĩa là những nguyên tắc và trụ cột của một xãhội, đến lượt mình những nguyên tắc và trụ cột ấy phải phản ánh đúng bản chất

1 1 Tretơverơnhin V A, Quan điểm nhà nước pháp quyền Xô Viết Pháp luật và chính quyền, M 1990, tr.

113 (tiếng Nga).

Trang 29

của xã hội đó''1

Quan điểm thứ hai quan niệm nhà nước pháp quyền như sự thống trị của pháp

luật Quan điểm này xuất phát từ sự khác nhau căn bản giữa pháp luật và luật Sựthống trị của pháp luật với ý nghĩa tối cao của các đạo luật pháp quyền Bởi vì,không phải bất kỳ đạo luật nào, ngay cả những đạo luật mang ''lý tưởng cao cả'',cũng đều chứa đựng pháp luật2

Từ hai quan điểm trên, các nhà khoa học Xô Viết đã đề cập tới cả hai khía cạnh cơ bản của nhà nước pháp quyền:1

- Về mặt hình thức nhà nước pháp quyền là sự thống trị của luật (đạo luật), sựràng buộc của nhà nước, các cơ quan nhà nước, các nhân viên nhà nước, nhất lànhững người có chức vụ, cũng như mọi tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế

và công dân bằng pháp luật (chế độ pháp chế trong lập pháp và trong thực hiệnpháp luật)

- Về mặt bản chất (nội dung của vấn đề), luật mới chỉ là hình thức của phápluật Pháp luật không đồng nghĩa với luật và cơ quan làm luật phải tuân thủ cácnguyên tắc của pháp luật, phải phản ánh và đáp ứng các yêu cầu của tiến bộ xãhội

Mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do các nhà khoa học Xô Viết xây dựng lên mang những đặc trưng cơ bản chung sau đây:

- Mối liên hệ giữa nhà nước với pháp luật, sự thống trị của pháp luật theo nghĩarộng;

- Tính tối cao của quyền lập pháp và liên hệ chặt chẽ với nó là tính tối cao củaHiến pháp và các đạo luật cơ bản do cơ quan quyền lực tối cao thông qua;

- Tính pháp quyền của mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân (công dân) vàcác cơ quan nhà nước (người có chức vụ), cũng như quan hệ biện chứng giữacác cơ quan nhà nước với những tập thể lao động và với mọi tổ chức chính trị -

xã hội của công dân, quan hệ giữa các công dân với nhau;

- Sự phân công quyền lực thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp; sựhiện diện của cơ chế phối hợp giữa ba loại hình cơ quan ấy;

- Mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp do tính chấtquan trọng của nó phải được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật và cácnguyên tắc của hiến pháp là đạo luật cao nhất có hiệu lực trực tiếp;

- Hiến pháp, các đạo luật và toàn bộ hệ thống pháp luật phải được xây dựngtrên nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến bộ đã được thừa nhận chung của nhân loạinhư công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế;

- Quy định trong luật và thực hiện chủ quyền của nhà nước;

1 1 Alếcxâyep X X, Nhà nước pháp quyền - Số phận của chủ nghĩa xã hội, M 1988, tr 89 (tiếng Nga).

(tiếng Nga).

1 1 Xem Dookin V D, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Những đặc điểm cơ bản của cấu trúc Pháp

luật và chính quyền, tr 65 (tiếng Nga).

Trang 30

- Hiện diện sự tương ứng của pháp luật trong nước với các nguyên tắc và quyphạm của pháp luật quốc tế;

- Thường xuyên sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm bảođảm một nền pháp lý ổn định, phù hợp và hoàn thiện;

- Giáo dục pháp luật, nâng cao văn hóa pháp luật và tuyên truyền, giáo dục ýthức pháp luật cho nhân dân là điều kiện quan trọng để hình thành nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa

Những đặc trưng cơ bản trên đây của nhà nước pháp quyền liên hệ chặt chẽ vớikhái niệm pháp chế, với những cơ chế bảo đảm thực hiện chế độ pháp chế trongđời sống sinh hoạt xã hội

3 Những giá trị phổ biến của tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong sự phát triển của xã hội

Tư tưởng về nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị chung mang tínhphổ biến mà nhân loại đã tích lũy được trong quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài vàgian khổ nhằm hướng tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và xã hội công bằng,dân chủ và bình đẳng bác ái Những giá trị phổ biến này thể hiện những đặc trưng

cơ bản của một nhà nước pháp quyền và đánh dấu sự phát triển không ngừngtrong nhận thức và thực tiễn tổ chức nhà nước của nhân loại Từ những lý luận cơbản về nhà nước pháp quyền trên thế giới có thể khái quát những đặc trưng mangtính phổ biến của tư tưởng về nhà nước pháp quyền như sau:

* Chủ thể của quyền lực nhà nước chính là nhân dân

Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, nhiều nhà tư tưởng đã đưa ra những lý giảikhác nhau về nguồn gốc của nhà nước, quyền lực nhà nước thuộc về ai; đến nay,vấn đề trên vẫn là một chủ đề nổi bật trong cuộc đấu tranh tư tưởng trên thế giới

Do có sự khác nhau về ý thức hệ, về cách nhìn nhận lịch sử và do những hạn chế cótính lịch sử, trong việc giải thích nguồn gốc nhà nước, chủ thể của quyền lực nhànước đã hình thành nên nhiều quan điểm, nhiều học thuyết khác nhau Chẳng hạn,các nhà tư tưởng theo thuyết thần học cho rằng, quyền lực nhà nước bắt nguồn từChúa, Trời Quyền lực đó được trao cho Vua thay Trời trị vì và chăn dắt dân Vớiquan niệm ấy, quyền lực nhà nước là tài sản riêng của Vua và tồn tại vĩnh viễn nhưmột thiên mệnh Quyền lực nhà nước là từ bên trên và bên ngoài nhân dân, chứkhông phải là từ nhân dân và của nhân dân

Với sự xuất hiện của tư tưởng về nhà nước pháp quyền, nhân loại đã tìm ra câutrả lời đúng ''quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao

và duy nhất của quyền lực nhà nước'' Mặc dù nội hàm khái niệm nhân dân có sựbiến thiên trong lịch sử (người bình dân, nhân dân trong thời kỳ cách mạng tư sản,nhân dân lao động…) Nhưng nguyên tắc ''quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân''

là cái xuyên suốt trong tổ chức nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước phápquyền Đó chính là bản chất dân chủ của nhà nước pháp quyền, là ''quyền lực củanhân dân'' Nguyên tắc đó được khẳng định và tiếp tục ghi nhận trong hầu hết cácbản hiến pháp của các nước có chế độ chính trị khác nhau

Vấn đề quyền lực nhà nước thuộc về ai là tiêu chí cơ bản để phân biệt nhà nước

Trang 31

pháp quyền với nhà nước cực quyền, phát xít Trong nhà nước pháp quyền, quyềnlực thuộc về nhân dân trở thành vấn đề mang tính pháp lý và tìm kiếm cơ chếnhằm bảo đảm cho việc thực hiện quyền lực thuộc về nhân dân vừa là nội dung cơbản, vừa là mục tiêu bao trùm của xây dựng nhà nước pháp quyền Trong nhànước không phải là pháp quyền, nhân dân không phải là chủ thể mà chỉ là kháchthể của quyền lực.

* Tôn trọng và bảo đảm trên thực tế các quyền và tự do cơ bản, các lợi ích hợp pháp, danh dự và nhân phẩm của công dân (con người)

Trong tư tưởng nhà nước pháp quyền, con người là mục tiêu và giá trị cao nhất.Với sự ra đời của học thuyết về nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền tưsản trong hiện thực, con người đã bước từ địa vị nô lệ trong xã hội thần dân sangđịa vị công dân trong xã hội công dân Trong điều kiện nhà nước pháp quyền,quyền con người, quyền công dân được xác lập về mặt pháp lý Các quyền thiêngliêng nhất của con người như quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng và quyềnmưu cầu hạnh phúc được nhà nước bảo hộ bằng pháp luật Nhà nước cam kếtbằng pháp luật tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, danh dự vànhân phẩm của công dân

Với sự ra đời của nhà nước pháp quyền tư sản, con người đã được giải phóngmột bước cơ bản Nguyên tắc ''công dân có thể làm tất cả những gì luật phápkhông cấm'' đã tạo ra cơ sở pháp lý cho sự phát triển và hoàn thiện cá nhân Theo

đó, con người với tư cách là một nguồn lực của sự phát triển xã hội được khai thác

có hiệu quả

* Pháp luật giữ vị trí chi phối đối với nhà nước và xã hội

Với sự ra đời của các tư tưởng và học thuyết về nhà nước pháp quyền, mốiquan hệ giữa nhà nước và pháp luật đã có sự thay đổi căn bản Pháp luật do nhànước ban hành giữ vai trò thống trị không chỉ đối với xã hội, mà còn đối với cảnhà nước Về mặt hình thức, pháp luật trong nhà nước pháp quyền chi phối toàn

bộ hoạt động xã hội và nhà nước Pháp luật không chỉ là công cụ để duy trì vàphát triển xã hội mà còn là công cụ duy trì sự tồn tại của chính nhà nước Nhànước pháp quyền tự đặt mình dưới pháp luật chứ không đứng trên hay đứng ngoàipháp luật Trong nhà nước pháp quyền, viên chức, cơ quan nhà nước ''chỉ đượclàm những gì mà luật cho phép'', còn công dân ''có thể làm tất cả những gì phápluật không cấm'' Trong nhà nước pháp quyền, quan hệ nhà nước - công dânchuyển từ quan hệ quyền lực trên dưới sang quan hệ pháp lý: công dân có tráchnhiệm với nhà nước như thế nào thì nhà nước có trách nhiệm đối với công dânnhư thế ấy

Tóm lại, đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền là sự thống trị của phápluật trong mọi lĩnh vực xã hội; sự ràng buộc của nhà nước và cơ quan nhà nướcbởi pháp luật; nhà nước pháp quyền xác định rõ trách nhiệm hai chiều giữa nhànước và công dân trên cơ sở pháp luật

* Tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, dùng quyền lực chế ước, giám sát quyền lực

Nhà nước pháp quyền có những hình thức kiểm tra, giám sát có hiệu quả việc

Trang 32

tuân theo pháp luật.

Để khắc phục tình trạng lạm dụng, tập trung, tha hóa của quyền lực từ đa sốthành của một hoặc một số người, nhà nước pháp quyền đề ra nguyên tắc ''tamquyền phân lập'', phân chia quyền lực thành lập pháp, hành pháp và tư pháp vàgiao cho các cơ quan tương ứng Quyền lập pháp giao cho Quốc hội, quyền hànhpháp giao cho Chính phủ, quyền tư pháp giao cho Tòa án Phân quyền trong nhànước pháp quyền không phải là phân chia quyền lực nhà nước vốn thống nhất chocác lực lượng chính trị - xã hội khác nhau, mà là cả ba cơ quan này ''ràng buộc lẫnnhau'', nhưng ''vẫn buộc phải đi tới một cách nhịp nhàng''1 Tam quyền phân lậpvới nghĩa biệt lập các quyền chỉ là cái đặc thù của nhà nước tư sản mà thôi

* Ưu tiên pháp luật quốc tế trong quan hệ đối ngoại

Nhà nước pháp quyền giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ giữa quốc gia

và quốc tế trên cơ sở pháp luật quốc tế đã được nhiều quốc gia thừa nhận hoặctham gia ký kết Trong phạm vi quốc tế, nhà nước pháp quyền đặt phần ưu tiênđối với luật pháp quốc tế mà nó thừa nhận về mặt pháp lý; bảo đảm sự hội nhậpcủa một quốc gia vào cộng đồng thế giới, thực hiện sự giao lưu về kinh tế, chínhtrị và văn hóa, mở rộng thị trường; hạn chế tối đa mâu thuẫn giữa pháp luật quốcgia và quốc tế, tạo môi trường thuận lợi cho quá trình hội nhập, phát triển

III THựC TIễN Tổ CHứC NHà NƯớC THEO HƯớNG PHáP QUYềN HIệN NAY TRÊN THế GIớI

Tổ chức quyền lực nhà nước theo cách phân quyền là nguyên tắc đặc thùnhưng phổ biến được Hiến pháp của các nước công nghiệp phát triển ghi nhận,nhưng ở các nhà nước khác nhau thì việc vận dụng nguyên tắc này cũng khônghoàn toàn như nhau Nhìn tổng quát, ở các nước này có hai cách1 thức hay là haiphương thức vận dụng nguyên tắc phân quyền vào tổ chức và xây dựng nhà nướccủa mình là phân chia quyền lực tuyệt đối và phân công, phối hợp quyền lực

1 Phương thức phân chia quyền lực tuyệt đối

* Quyền lập pháp ở Mỹ

Mỹ được coi là trường hợp điển hình của việc áp dụng nguyên tắc phân chiaquyền lực một cách tuyệt đối Đặc điểm của phương thức tổ chức quyền lực thuộc

1 1 S L Môngtécxkiơ, Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, H 1996, tr 110.

1 Theo TS Nguyễn Thị Hồi: Do hạn chế của tư tưởng phân quyền mà sự thể hiện và áp dụng nó trong thực

tế có sự biến dạng rất lớn tùy theo từng nhà nước Mức độ, tính chất và đặc điểm của sự thể hiện và áp dụng tư

tưởng này ở các nhà nước phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: hình thức, hình thức nhà nước (hình thức chính thể,

hình thức cấu trúc và chế độ chính trị) và những truyền thống dân tộc, lịch sử tồn tại cũng như tình hình chính trị

thực tế của mỗi nước Theo đó, tác giả nhận định: sự phân quyền ở mức độ “mềm dẻo'' ở những nước có chính

thể đại nghị (ví dụ: phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước Anh, Đức); sự phân chia quyền lực “cứng rắn''

trong chính thể cộng hòa tổng thống (ví dụ: phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước Mỹ); sự phân quyền ở

mức độ “trung gian'' giữa cứng rắn và mềm dẻo trong chính thể cộng hòa hỗn hợp (ví dụ: phân quyền trong tổ

chức bộ máy nhà nước Pháp) (TS Nguyễn Thị Hồi, Sđd, tr 123-220).

Trang 33

loại này là sự tách biệt triệt để ba quyền Thay cho cơ chế chịu trách nhiệm lẫnnhau giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp là cơ chế kiềm chế và đối trọng Sự độclập hoàn toàn của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong thực thiquyền lực nhà nước.

Theo quy định của Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Quyền lập pháp ở Mỹ

do Quốc hội Mỹ thực hiện

Về cơ cấu tổ chức 1 : Theo quy định của Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Quốc hội Mỹ có cơ cấu hai viện: Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Hạ nghị viện

là Viện đại diện cho ý chí của toàn Liên bang không phân biệt các bang hợp thành do cử tri của Liên bang trực tiếp bầu ra theo nhiệm kỳ hai năm một lần, gồm 438 hạ nghị sĩ Mỗi hạ nghị sĩ đại diện cho ý chí của 520.000 cử tri và Hiến pháp còn quy định cho mỗi bang có ít nhất một đại diện dù là số cử tri không đạt tới con số 520.000 Trong tổng số 438 hạ nghị sĩ được bầu có 435 hạ nghị sĩ được chọn từ 50 bang và 3 nghị sĩ là đại diện cho các vùng có số dân chưa đạt tới 520.000 người như: Đôngxamoa là lãnh địa của Mỹ ở Thái Bình Dương, có diện tích197km 2 với số dân chỉ có 34.000 người; Đảo Guam là lãnh địa của Mỹ ở Thái Bình Dương có diện tích 535,5km 2 với dân số là 106.000 người và các hòn đảo thuộc quần đảo Virginxkie là lãnh địa của Mỹ ở Tây ấn có tổng diện tích 344km 2

với số dân có 101.000 người Thượng nghị viện Mỹ (Senate) là Viện đại diện cho

ý chí của 50 bang hợp thành Hợp chúng quốc Hoa Kỳ gồm 100 thượng nghị sĩ, không phân biệt bang to hay bang nhỏ, mỗi bang có hai đại diện cho Quốc hội lập pháp của mỗi Tiểu bang, tuyển lựa theo nhiệm kỳ là 6 năm Hiến pháp Liên bang quy định: ''Ngay sau khi Thượng viện nhóm họp lần đầu tiên, các thượng nghị sĩ sẽ phân chia thành ba hạng: Ghế thượng nghị sĩ thuộc lớp thứ nhất sẽ khuyết vào năm thứ hai, lớp thứ hai vào năm thứ tư và lớp thứ ba vào năm thứ sáu, sao cho cứ mỗi năm một phần ba tổng số Thượng nghị sĩ lại được tuyển cử'' (Điều 1, khoản 3, đoạn 2).

Bộ máy hành chính (Văn phòng Quốc hội) là cơ quan thường trực của Quốc

hội Mỹ, bao gồm: Chủ tịch Viện (ở Hạ nghị viện được gọi là người phát ngôn),Chủ tịch đoàn của Viện (hay thường vụ của Viện, còn gọi là Viện nguyên lão),các thủ lĩnh của các đảng và Đoàn thư ký của Viện (một số thành viên của Đoànthư ký có thể đồng thời là thành viên của Chủ tịch Đoàn)

Người phát ngôn của Hạ nghị viện được chọn trong số các hạ nghị sĩ là thànhviên của đảng chiếm đa số ghế trong Hạ nghị viện, là người có tiếng nói quyếtđịnh

Theo Hiến pháp Liên bang, Phó Tổng thống đương nhiên là Chủ tịch Thượngnghị viện, nhưng không có quyền bỏ phiếu, trừ khi trong trường hợp số phiếu trốngngang nhau trong một cuộc biểu quyết (Điều 1, khoản 3, đoạn 4) Chủ tịch Thượngnghị viện không mấy khi điều khiển các phiên họp của Thượng nghị viện, bởi vậy,Thượng nghị viện phải bầu ra một Chủ tịch lâm thời (protempare) để điều khiển cáckhoá họp Chủ tịch lâm thời của Thượng nghị viện thường được chọn từ những

1 Trần Hậu Thành, Cơ cấu tổ chức của Quốc hội Mỹ, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 7/2000, tr

39-43.

Trang 34

thượng nghị sĩ có thâm niên và đồng thời là thành viên của đảng chiếm đa số ghếtrong Thượng nghị viện.

Hệ thống các ủy ban của Quốc hội Hệ thống này hoạt động tương đối độc lập

và có quyền lực rất lớn, được phân ra làm hai loại: ủy ban cơ bản là các ủy banthường trực và các ủy ban đặc biệt lập ra ở cả hai viện Ngoài ra, còn có ủy bantoàn viện và ủy ban hòa giải để giải quyết những vấn đề chuyên sâu Đồng thời,trong cơ cấu của các ủy ban nói trên còn thành lập các tiểu ban

ở Hạ nghị viện có tới 22 ủy ban thường trực là: ủy ban nông nghiệp (43 người),

ủy ban cấp kinh phí (57 người), ủy ban lực lượng vũ trang (52 người), ủy banngân hàng, tài chính và đô thị (51 người), ủy ban ngân sách (35 người), ủy banvùng Colombia (10 người), ủy ban giáo dục và lao động (34 người), ủy ban nănglượng và thương mại (42 người), ủy ban đối ngoại (45 người), ủy ban hành độngcủa Chính phủ (39 người), ủy ban các vấn đề hành chính của Viện (18 người), ủyban đối nội và đảo (41 người), ủy ban pháp luật (35 người), ủy ban thương mạihàng hải và đánh cá (42 người), ủy ban bưu chính và phục vụ công dân (22người), ủy ban công tác xã hội và vận tải (52 người),

ủy ban quy tắc (13 người), ủy ban khoa học, vũ trụ và

kỹ thuật (45 người), ủy ban về các vấn đề kinh doanh nhỏ (43 người), ủy ban tiêuchuẩn hành vi phục vụ của những người có chức vụ (12 người), ủy ban cựu chiếnbinh

(34 người), ủy ban về thu nhập và tiêu dùng (36 người)

ở Thượng nghị viện có 16 ủy ban thường trực là: ủy ban nông nghiệp, lươngthực thực phẩm và kinh tế rừng (17 người), ủy ban cấp kinh phí (29 người), ủy banlực lượng vũ trang (20 người), ủy ban ngân hàng, xây dựng nhà ở và đô thị (18người), ủy ban ngân sách (22 người), ủy ban thương mại, khoa học và vận tải (20người), ủy ban năng lượng và tài nguyên tự nhiên (19 người), ủy ban môi trường vàcông tác xã hội (16 người), ủy ban tài chính (20 người), ủy ban đối ngoại (19người), ủy ban công tác tài chính Chính phủ (14 người), ủy ban pháp luật (14người), ủy ban lao động và nguồn nhân lực (16 người), ủy ban quảng cáo và cácvấn đề hành chính của Senét (16 người), ủy ban về vấn đề kinh doanh nhỏ (18người), ủy ban cựu chiến binh (11 người)

ủy ban thường trực của Quốc hội Mỹ được thành lập theo quy định của phápluật, có nhiệm vụ là: chuẩn bị các văn bản luật, giữ mối liên lạc với các cơ quanhành pháp liên bang về các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, kiểm tra và giámsát các hoạt động của các cơ quan, tổ chức và hoạt động của các chức danh trong

bộ máy nhà nước, làm rõ mọi vấn đề có liên quan đến lĩnh vực mà ủy ban cầnquan tâm

ủy ban đặc biệt của Quốc hội Mỹ được thành lập theo quyết định của mỗi Viện,

để nghiên cứu, điều tra một hoạt động nào đó của bộ máy hành pháp Các ủy banthuộc loại này chỉ được thành lập trong từng thời kỳ nhất định và chấm dứt hoạtđộng của mình khi không còn cần thiết ở Hạ nghị viện Mỹ khoá 100, có 5 ủy banđặc biệt: ủy ban điều tra (17 người), ủy ban người cao tuổi (66 người), ủy ban trẻ

em, thanh niên và gia đình (31 người), ủy ban về vấn đề đói nghèo (23 người), ủy

Trang 35

ban về ma tuý và kiểm soát ma túy (25 người) Còn ở Thượng nghị viện Mỹ khoá

100 chỉ có 4 ủy ban đặc biệt là: ủy ban điều tra (16 người), ủy ban về người da đỏ(8 người), ủy ban đạo đức (6 người), ủy ban người cao tuổi (19 người)

Khi thảo luận dự án luật, Hạ nghị viện Mỹ được tạm thời đổi thành ''ủy bantoàn Viện'' Trong Quốc hội, tín hiệu để xác định thẩm quyền của Viện: nếu gậyđiều khiển đặc biệt được đặt dưới lễ đài thì Viện họp như ''ủy ban toàn Viện''.Trong trường hợp giữa hai viện có xung đột (bất đồng) trong quá trình thông qua

dự án luật thì Quốc hội phải thành lập một ủy ban hỗn hợp ''ủy ban hòa giải'' đạidiện cho cả hai viện để lấy ý kiến cuối cùng

Trong tổ chức của cơ quan lập pháp Mỹ còn có các cơ quan có nhiệm vụ phục

vụ cho hoạt động của Quốc hội Số nhân viên làm việc trong các cơ quan này cólúc lên tới 1.000 người Nhiệm vụ của họ là tìm kiếm, chọn lọc, phân tích và xử lýnhững thông tin cần thiết để cung cấp kịp thời cho các nghị sĩ và Quốc hội Quốchội hàng năm bỏ ra một khoản tiền khá lớn để tiến hành thu thập thông tin cầnthiết phục vụ cho công việc của mình và của các nghị sĩ Hàng năm ở Mỹ cho xuấtbản trên một triệu trang tài liệu phục vụ cho hoạt động của Quốc hội với mức chiphí lên tới 1,5 tỷ đôla trong một năm

Hoạt động thông tin cho Quốc hội Mỹ do cơ quan phân tích và xử lý tin được

gọi là Trung tâm thông tin khẩn cấp và cơ quan thông tin nghiệp vụ đảm nhiệm Trung tâm thông tin khẩn cấp gồm 5 cục và tương đương là: Cục đánh giá quy

trình công nghệ, Cục ngân sách, Cục kiểm tra tài chính, Thư viện Quốc hội vàCục nghiên cứu:

Cục đánh giá quy trình công nghệ, đáp ứng hoạt động của Quốc hội bằng các

biểu bảng phân tích kết quả của các phương án trong các quyết định chính trị quân

sự, kinh tế - xã hội, hay khoa học và công nghệ, đưa ra thảo luận theo quy trìnhlập pháp

Sự bùng nổ thông tin, mức độ phức tạp của nhiều vấn đề đòi hỏi Quốc hội Mỹphải ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ thông tin vàothu thập, phân tích và xử lý tin Hiện nay, trong cơ quan tối cao của lập pháp Mỹ

đã được trang bị đầy đủ hệ thống máy vi tính hiện đại nhất Nếu như trong nhữngnăm 60, Quốc hội chỉ có 3 đến 4 chiếc máy tính thì đến giữa những năm 80 con số

đó là 7.000 chiếc Bên cạnh đó là đội ngũ chuyên gia lành nghề và đông đảo cácnhà lập trình có trình độ cao sẵn sàng phục vụ thường trực cho Quốc hội

Cục ngân sách đảm bảo cho các nghị sĩ có đủ mọi thông tin cần thiết về các

vấn đề ngân sách Nhiệm vụ của Cục là phân tích xu thế phát triển kinh tế của đấtnước, dự báo kinh tế và ngân sách, kết quả phân tích cấp ngân sách và chỉ tiêungân sách của các ủy ban và của các nghị sĩ, cũng như tình hình lực lượng vũtrang và dự trữ quốc gia Số người làm việc trong Cục ngân sách khoảng 200người, được biên chế thành 6 phòng, ban Sản phẩm thông tin của Cục là các bảnbáo cáo gửi tới các nhà lập pháp và Quốc hội

Cục kiểm tra tài chính chịu trách nhiệm thông tin cho Quốc hội về hoạt động

kinh tế - tài chính của các cơ quan hành chính và làm nhiệm vụ tư vấn cho các ủy

Trang 36

ban của Quốc hội sản phẩm thông tin do Cục cung cấp là các bản báo cáo gửiQuốc hội, số người làm việc ở Cục khoảng 500 người, được biên chế thành cácphòng, ban.

Thư viện Quốc hội Mỹ được xây dựng từ năm 1880, được coi là thư viện lớn

nhất thế giới Thư viện được tổ chức chặt chẽ, khoa học và mang lại hiệu quả phục

vụ hoạt động của Quốc hội và các nhà lập pháp rất cao

Cục nghiên cứu đặc biệt được thành lập năm 1970, có quan hệ chặt chẽ với các

cơ quan nghiên cứu khác trong toàn Liên bang Nhiệm vụ chủ yếu của Cục lànghiên cứu và phân tích tài liệu, thông tin hỗ trợ cho quá trình lập pháp củaQuốc hội Cục nghiên cứu đặc biệt nằm ngay trong Thư viện Quốc hội và giữ vịtrí quan trọng trong công tác thông tin phục vụ lãnh đạo cao cấp Cục cung cấpthông tin cho các nghị sĩ và các ủy ban của Quốc hội bằng hệ thống thông tin tựđộng Nhân viên của các phòng, ban của Cục ngoài nhiệm vụ phục vụ thông tintrực tiếp, còn tiến hành nghiên cứu những vấn đề liên quan đến thu thập, xử lý vàcung cấp tin phục vụ lãnh đạo và phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học.Ngoài ra, Cục nghiên cứu đặc biệt còn lập ra các nhóm tác chiến thường trựchoặc các nhóm nghiệp vụ để thực hiện một nhiệm vụ nào đó Cục xác địnhchương trình nghiên cứu khoa học xuất phát từ nhu cầu thông tin hàng ngày và dàihạn Các nhiệm vụ cơ bản của Cục có thể khái quát như sau: tổng kết phân tích vềchính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ, về những vấn đề kinh tế - xã hội, giải đáplịch sử pháp luật của những vấn đề mà Quốc hội thảo luận; phân tích chuyên môncác kiến tạo lập pháp và luận chứng mặt lợi và mặt hại khi thông qua các kiến tạolập pháp đó; đề xuất giải pháp lựa chọn các dự án luật, dự báo kết quả có thể dẫntới trường hợp Quốc hội chấp thuận thông qua dự án luật

Cơ quan thông tin nghiệp vụ có nhiệm vụ tương tự như ''trung tâm thông tin

khẩn cấp'', nhưng khi không có thông tin khẩn cấp thì cơ quan này có thêm nhiệm

vụ giới thiệu để đại diện của cơ quan lập pháp làm quen với quy trình xử lý cácquyết định chính trị - quân sự Cơ quan ''thông tin nghiệp vụ'' lập ra các nhóm cóbiên chế từ 10-20 người, thành viên của các nhóm này bắt buộc phải là thành viêncủa Quốc hội, đã từng phục vụ trong quân đội hoặc từng công tác tại các cơ quantình báo của Mỹ Cơ quan này làm việc ba ca, cả ngày lẫn đêm, có mối liên hệchặt chẽ và thường xuyên với các trung tâm nghiệp vụ (hành động) của các cơquan hành pháp theo kênh liên lạc đặc biệt

Hạt nhân của cơ cấu Quốc hội Mỹ là các nghị sĩ (Thượng nghị sĩ và Hạ nghịsĩ) Hiến pháp Liên bang quy định cho nghị sĩ có quyền được hưởng một khoảntrợ cấp là 89.500 đôla trong một năm không phải nộp thế thu nhập; nghị sĩ khôngthể bị bắt trong khi dự khóa họp của Viện, trong khi tới Viện họp và khi ở Viện về;không bị chất vấn về các bài phát biểu tại bất cứ nơi nào khác trừ tội phản bội lại

Tổ quốc, phạm trọng tội hoặc phá rối an ninh (Điều 1, khoản 6, đoạn 1) Để tránhlợi dụng quyền miễn trừ, Quốc hội được Hiến pháp trao cho thẩm quyền như tòa

án khi xem xét những vấn đề có liên quan đến quyền hạn của nghị sĩ như quyềnbác tư cách đại biểu hoặc có thể tước quyền miễn trừ của nghị sĩ Hiến pháp cũngquy định nghị sĩ không được kiêm nhiệm bất cứ một chức vụ nào khác ngoài

Trang 37

nhiệm vụ đại biểu Về mặt hình thức, Hiến pháp khẳng định quyền bình đẳng củamọi công dân trong việc tham gia bầu cử cũng như ứng cử Điều 1, khoản 2 và 3,Hiến pháp Mỹ quy định rõ: mọi công dân Mỹ tuổi từ 25 trở lên là công dân Mỹ; làcông dân Mỹ từ 7 năm trở lên, khi được bầu có cư trú tại tiểu bang tuyển lựa mìnhđều có quyền được bầu làm Hạ nghị sĩ; và mọi công dân Mỹ từ 30 tuổi trở lên, làcông dân Mỹ từ 9 năm trở lên và khi được bầu có cư trú tại tiểu bang tuyển lựamình đều có quyền được bầu làm Thượng nghị sĩ.

Về thẩm quyền: Hiến pháp trao cho Quốc hội Mỹ toàn quyền trong lĩnh vực lập pháp Không có một đạo luật nào được ban hành hợp pháp nếu không được Quốc hội xem xét và thông qua Về cơ bản, Quốc hội Mỹ có quyền thông qua bất

cứ một đạo luật nào nhằm điều chỉnh bất cứ một quan hệ xã hội nào, nếu Quốc hội thấy rằng, việc điều chỉnh quan hệ xã hội đó bằng luật là cần thiết.

Hoạt động lập pháp của Quốc hội Mỹ được bắt đầu bằng sáng quyền lập pháp

Sáng quyền lập pháp là đặc quyền của nghị sĩ Mỹ Trung bình hàng năm ở Mỹ

có tới 10.000 dự án luật được gửi tới Quốc hội Một dự án luật có thể chuyển cho

Hạ nghị viện bất cứ lúc nào Người ta làm một thùng dành riêng cho dự án luật.Còn ở Thượng nghị viện, dự án luật được bỏ vào thùng riêng theo thời gian nhấtđịnh Sau đó, các dự án được chuyển thẳng cho ủy ban của Quốc hội

Bước tiếp theo là bước thảo luận các dự án, gồm 3 giai đoạn - ứng với mỗi giai

đoạn là một lần đọc ở lần đọc thứ nhất, dự án luật được một ủy ban của Hạ nghị

viện nghiên cứu và phủ quyết, sửa đổi hoặc chấp thuận và ấn định cho lần đọc tiếptheo nếu chấp thuận (thông thường mọi dự án luật đều phải qua ủy ban quy tắccủa Hạ nghị viện) Tuy nhiên, trong thực tế, có những dự án luật được hưởng quychế đặc biệt, và chắc chắn nó sẽ được ghi vào chương trình nghị sự Đó thường làcác dự án luật bắt nguồn từ bản thân các ủy ban quan trọng trong nghị viện như ủyban ngân sách, ủy ban tài chính, hoặc những dự án luật tuy đã được Quốc hội

thông qua nhưng Tổng thống phủ quyết Lần đọc thứ hai, dự án luật được thảo

luận tại nghị trường: trong lần đọc này, dự án luật có thể được thay đổi hoặc được

bổ sung Trình tự tiến hành lần đọc thứ hai này gọi là thủ tục ''lắng nghe'' và ''tranhcãi'' ''Lắng nghe'', tức là dự án luật đó phải được thuyết trình với mọi khía cạnhcủa nó Theo Đavít Truman1, chức năng của các cuộc lắng nghe này là: Thứ nhất,

truyền đạt cho ủy ban liên quan tất cả những thông tin cần thiết về dự án luật (về

mặt kinh tế, xã hội, chính trị cũng như về mặt kỹ thuật) Thứ hai, cho phép các ủy

ban của Quốc hội được dùng làm nơi đề xướng, tuyên truyền công khai và tự do

những lợi ích riêng biệt có nhu cầu được hợp pháp hóa Thứ ba, cho phép thuyết

trình các lợi ích riêng biệt tại các ủy ban lập pháp có tác dụng như một cái van antoàn cho sự xung đột hoặc những đòi hỏi bức bách của các khu vực lợi ích khácnhau Các cuộc ''tranh cãi'' về dự án luật là lúc mà các nghị sĩ thể hiện rõ nhất vaitrò tích cực, độc lập của mình trong hoạt động lập pháp Thường thông qua hình

1 1 Hồ Văn Thông, Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, H.

1998, tr 57.

Trang 38

thức này mà một dự án luật được bổ sung, sửa đổi hoặc sẽ bị biến dạng, thay đổi.

Lần đọc thứ ba bắt đầu bằng việc lắng nghe tóm tắt các ý kiến chống đối hoặc

đồng ý với dự án luật và biểu quyết thông qua Qua lần đọc này, số phận của dự

án được quyết định

Về nguyên tắc, bất cứ một dự án luật nào cũng phải được sự nhất trí của cả haiviện mới trở thành một đạo luật Trong trường hợp có xung đột, tức là dự án luật bịmột trong số hai viện phủ quyết thì Quốc hội phải thành lập một ủy ban hỗn hợp đạidiện cho cả hai viện để lấy ý kiến cuối cùng Các thành viên của ủy ban này thườngđược các quan chức có uy tín của hai viện chỉ định Đa số các cuộc hợp của ủy banhỗn hợp được tiến hành bí mật và không ghi văn bản Kết luận của ủy ban hỗn hợp

là quyết định cuối cùng về số phận của một đạo luật và có tính chất bắt buộc đối với

cả hai viện, không được phép tranh cãi thêm

Dự án luật sau khi được Hạ nghị viện và Thượng nghị viện thông qua, trướckhi ban hành phải đệ trình lên Tổng thống ký, công bố trong một khoảng thời giannhất định được Hiến pháp quy định Điều 1, khoản 7 Hiến pháp Mỹ quy định rõ:nếu Tổng thống tán thành dự án luật, Tổng thống sẽ ký vào dự án luật đó, nếukhông đồng ý, Tổng thống sẽ gửi trả lại, với các bác luận của Tổng thống cho viện

đã khởi xướng dự luật đó để xem xét lại

Sự độc lập của Quốc hội Mỹ còn biểu hiện ở chỗ, Hiến pháp không cho phépngười đứng đầu hành pháp được can thiệp vào công việc của Quốc hội Chính phủ(hành pháp) không được tham dự các cuộc họp Quốc hội Hiến pháp trao choTổng thống Mỹ quyền được phê chuẩn dự án luật trước khi ban hành Đồng thờiHiến pháp cũng lại quy định: nếu sau khi xem xét lại dự án luật do Tổng thống gửitrả lại mà được hai phần ba trong tổng số thành viên của mỗi viện tán thành, thì dự

án luật sẽ trở thành một đạo luật Những dự án luật mà Tổng thống không gửi trảlại trong thời hạn mười ngày (không kể ngày chủ nhật) kể từ ngày dự án luật được

đệ trình lên Tổng thống, sẽ trở thành một đạo luật, coi như là đã được Tổng thốngphê chuẩn, ngoại trừ trường hợp vì Quốc hội nghỉ nhóm họp nên Tổng thốngkhông gửi trả dự án luật cho Quốc hội được và trong trường hợp đó dự án sẽkhông thể trở thành một đạo luật được (Điều 1, khoản 1, đoạn 3)

Giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp cũng là một chức năng cơ bản của Quốc hội Mỹ.

Với việc vận dụng học thuyết về tam quyền phân lập một cách tuyệt đối, vấn

đề hành pháp chịu trách nhiệm trước lập pháp không được Hiến pháp Mỹ quyđịnh cụ thể Nhưng dù thế nào thì bộ máy hành pháp vẫn phải chịu trách nhiệmtrước lập pháp Đây là đòi hỏi tiến bộ của dân chủ tư sản Chính học thuyết về tamquyền phân lập với cơ chế ''kiềm chế'' và ''đối trọng'' đã được Hiến pháp quy định

là cơ sở pháp lý cho việc hành pháp phải chịu trách nhiệm trước lập pháp Tuynhiên, ở Mỹ thường có sự chung sống giữa Tổng thống với đa số nghị viện đốilập

Giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp về ngân sách và tài chính là hoạtđộng có hiệu quả của cơ quan lập pháp Mỹ Từ tháng 3 đến tháng 10 hàng năm,Quốc hội Mỹ dành thời gian để làm việc với cơ quan ngân sách Quốc hội,

Trang 39

với các ủy ban ngân sách của 2 viện và với Tổng thống Theo quy định của phápluật Mỹ, Tổng thống buộc phải đệ trình lên Quốc hội bất cứ một đề nghị tài chínhnào trước khi nó có hiệu lực Dự án ngân sách của Tổng thống bắt buộc phải đệtrình lên Quốc hội xem xét để duyệt Nếu Tổng thống không chịu ký vào bản dựchi ngân sách do Quốc hội quyết định thì quyết định của Quốc hội (với 2/3 sốphiếu tán thành ở cả 2 viện) vẫn có hiệu lực

Quyền hạn của Quốc hội Mỹ còn thể hiện ở lĩnh vực tư pháp Hiến pháp quy

định: Hạ nghị viện có quyền buộc tội các quan chức cao cấp của Nhà nước Mỹ kể

cả Nguyên thủ quốc gia Thượng nghị viện có quyền luận tội và kết tội và khi luậntội Tổng thống hoặc Phó Tổng thống Mỹ thì điều khiển phiên họp xét xử củaThượng nghị viện là Chánh án Tòa án tối cao Hình phạt đưa ra là cách chức đốivới quan chức phạm tội Các hình phạt khác do các Tòa án tuyên phạt theo thủ tụcbình thường Trong lịch sử nước Mỹ, thủ tục xét xử được áp dụng 13 lần, trong đó

có 5 lần Thượng nghị viện kết được tội Tuy nhiên theo cách đó, chưa có mộtTổng thống nào bị cách chức Giônxơn (1968) và Níchxơn (1874) ra đi trước khi

Hạ nghị viện tiến hành khởi tố

Từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của Quốc hội Mỹ, nổi lên mấy vấn đề cần quan tâm:

- Nghị viện đại diện cho nhân dân, nhưng trên thực tế tính đại diện luôn đượcbiểu hiện dưới hình thức độc quyền Điều này thể hiện ở chỗ: ''Nghị viện về thựcchất là một thiết chế của những người có đặc quyền trong xã hội: Những nghị sĩđược bầu ra luôn luôn là những người thuộc về một tầng lớp bề trên cho dù Hiếnpháp có khẳng định quyền bình đẳng của mọi công dân trong việc tham gia bầu cửcũng như ứng cử''1 Thực tiễn tổ chức nhà nước Mỹ cho thấy: những người ra ứng

cử nghị viện phải là những người có trình độ học vấn, khả năng tài chính lớn Trong khi đa số quần chúng lao động không thể hội đủ các điều kiện đó

- Quy định của Hiến pháp: nhiệm kỳ Hạ nghị sĩ là 6 năm, Thượng nghị sĩ là 9

năm và cứ sau hai năm bầu lại một phần ba số Thượng nghị sĩ tạo cơ sở để thườngxuyên đổi mới, bổ sung mới nhằm nâng cao chất lượng nhân sự của Quốc hội -khâu cơ bản có ảnh hưởng quyết định đến hiệu lực và hiệu quả hoạt động của cơquan này

- Quốc hội hoạt động độc lập, thường xuyên, chuyên nghiệp với quy chế Nghị

sĩ Quốc hội là những nhân viên chuyên nghiệp, không kiêm nhiệm, am hiểu vềpháp luật (cả lý luận và thực tiễn) đảm bảo cho Quốc hội thật sự là cơ quan lậppháp, đáp ứng kịp thời nhu cầu cần điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu bằngpháp luật - là yêu cầu, đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

- Quốc hội Mỹ còn có đặc trưng tiêu biểu ở trình độ tổ chức cao trong hoạtđộng lập pháp Trong thời đại thông tin, với những đòi hỏi ngày càng cao, Quốchội Mỹ đã thường xuyên hoàn thiện bằng cách ứng dụng kịp thời những thành tựumới nhất của khoa học và công nghệ vào tổ chức và hoạt động của mình

* Quyền hành pháp ở Mỹ

1 1 GS Hồ Văn Thông, Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, H.

1998, tr 47.

Trang 40

Quyền hành pháp ở Mỹ được Hiến pháp trao cho Tổng thống Điều 2, khoản

1, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ viết: ''Quyền hành pháp sẽ trao cho một vịTổng thống Hợp chúng quốc Mỹ Châu''1

Tổng thống Mỹ theo quy định của Hiến pháp vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa

là người đứng đầu bộ máy hành pháp với hơn 3 triệu nhân viên Phó Tổng thống

Mỹ và Chính phủ cùng toàn bộ các Bộ trưởng hình thành nên bộ máy giúp việcđắc lực cho Tổng thống

- Nội các bao gồm các quan chức đứng đầu các bộ, ngành trong Chính phủ,được tập hợp lại để làm tư vấn cho Tổng thống Hiến pháp Mỹ không quy định cụthể thành phần cũng như cơ cấu nội các, vì thế nó vẫn bị coi là một tổ chức khôngchính thức Nhưng trên thực tế nó vẫn tồn tại và có quyền hành, ảnh hưởng rấtlớn Nội các đầu tiên được Tổng thống G Oasinhtơn lập ra năm 1789 chỉ có 4thành viên; đến năm 1979, số thành viên nội các đã tăng lên 13 người, trong đó 12người là Bộ trưởng trong Chính phủ Liên bang và một vị là Đại sứ Mỹ tại Liênhợp quốc Từ năm 1989 đến năm 2000 tăng lên 14 người Hiện nay, trong cơ cấuthành phần nội các của bộ máy hành pháp Mỹ có 15 thành viên, bao gồm: PhóTổng thống Đích Cheli và 15 bộ trưởng phụ trách 15 bộ là: Ngoại giao, Quốcphòng, Tài chính, Tư pháp, Nội vụ, Nông nghiệp, Thương mại, Lao động, Y tế vàcác dịch vụ con người, Nhà và phát triển đô thị, Giao thông, Năng lượng, Giáodục, Các vấn đề cựu chiến binh, Cố vấn An ninh quốc gia, Giám đốc CIA, Đạidiện tại Liên hợp quốc, Đại diện WTO và Bộ trưởng Bộ An ninh Nội địa

Trong bộ máy hành pháp Mỹ, cùng với các bộ còn có những cơ quan ngang bộcùng tham gia vào quản lý đất nước và trên thực tế những cơ quan này đóng vaitrò không kém phần quan trọng so với các bộ

Trước hết phải kể đến Văn phòng của Tổng thống (còn gọi là Văn phòng Nhàtrắng) là công cụ quyền lực của Tổng thống với hơn 600 người, do các cố vấn đặcbiệt của Tổng thống điều hành Lãnh đạo Văn phòng Nhà trắng là một vị Chánhvăn phòng do Tổng thống giao trách nhiệm trực tiếp là người quyết định số phậncủa mọi thông tin và ý kiến tham mưu gửi cho Tổng thống

Tiếp đến là Văn phòng Phó Tổng thống, Hội đồng an ninh quốc gia, Hội đồng

cố vấn kinh tế, Hội đồng quốc gia về hàng không vũ trụ, Cục nghiên cứu và hoạchđịnh chính sách, Cục ngân sách hành chính, Cục khoa học và công nghệ, Cục phụtrách vấn đề môi trường, các cơ quan này tạo thành bộ máy điều hành trực thuộcTổng thống, có nhiệm vụ tư vấn cho Tổng thống về những vấn đề liên quan đếnthẩm quyền do Tổng thống giao Các cơ quan này đưa ra các phương án có luận

cứ khoa học để Tổng thống và Chính phủ xem xét và chuyển thành chương trìnhhành động chính thức của Chính phủ về đối nội và đối ngoại Để hoàn thành đượcnhiệm vụ, trong các cơ quan này được biên chế một đội ngũ các nhà khoa học cótrình độ chuyên môn cao, có phẩm chất nghề nghiệp cần thiết cho công việc vàđược lựa chọn cẩn thận Đội ngũ các nhà khoa học đầu đàn và các chuyên gia,chuyên viên giỏi này làm việc theo từng tổ, nhóm theo các chuyên đề, các nhómliên hệ tạm thời hay thường xuyên

1 1 Luật Hiến pháp các nước tư bản, Khoa Luật, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1994, tr 258.

Ngày đăng: 13/01/2019, 12:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w