Xuất phát từ các cơ sở khoa học trên đây, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đa dạng nguồn gen di truyền quần thể Thông lá dẹt tự nhiên Pinus krempfii Lecomte ở Tây Nguyên - loài đặc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
TRẦN THỊ LIỄU
“NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG NGUỒN GEN DI TRUYỀN QUẦN
THỂ THÔNG LÁ DẸT (Pinus krempfii Lecomte) Ở TÂY
NGUYÊN – LOÀI ĐẶC HỮU CỦA VIỆT NAM”
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
TRẦN THỊ LIỄU
Đề tài :
“NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG NGUỒN GEN DI TRUYỀN QUẦN
THỂ THÔNG LÁ DẸT (Pinus krempfii Lecomte) Ở TÂY
NGUYÊN – LOÀI ĐẶC HỮU CỦA VIỆT NAM”
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Trang 3Tây Nguyên là một trong những vùng giàu loài lá kim nhất Việt Nam Hầuhết những loài lá kim ở Tây Nguyên đều là những loài có giá trị khoa học và kinh tếcao Nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng, trong đó có loài
Thông lá dẹt (Pinus krempfii Lecomte) hay còn gọi là Thông hai lá dẹt, Thông Sri,
Thông Sré, là loài đặc hữu hẹp của Việt Nam [4] Đây là nguồn gen quý và độc đáocủa với lá hình dải mác không hình kim như các loài Thông khác [32], [33] GỗThông lá dẹt mềm, ít nhựa, màu từ trắng đến vàng nhạt, nhẹ, có nhiều đặc tính kỹthuật tốt Hiện nay các rừng Thông lá dẹt đang bị đe dọa nghiêm trọng do tình trạngphá rừng làm nương rẫy, nhiều cây bị mất môi trường sinh sống tối ưu nên chết rụi,một số cây quá già cũng tự đổ gãy dẫn đến suy giảm số lượng loài nghiêm trọng.Tái sinh tự nhiên hầu như chỉ hạn chế ở giai đoạn cây mầm, lại gặp chủ yếu ở nơi cókhoảng trống, ven đường Mặt khác lại thiếu vắng các cây tái sinh ở tuổi trung gian,nên khó đủ sức thay thế những cánh rừng Thông lá dẹt cổ thụ đang tồn tại [5], [6].Theo Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN) 2013 Thông lá dẹt được xếp vàobậc sắp bị tuyệt chủng VU A2c, B1ab (iii) [65] Vì vậy, việc bảo tồn hiệu quảnguồn gen Thông lá dẹt là nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho các nhà nghiên cứu Tuynhiên, các nghiên cứu trước đây mới chỉ tập trung vào việc phân loại dựa trên đặcđiểm hình thái và nơi phân bố, còn các nghiên cứu về đa dạng di truyền nguồn genvẫn rất hạn chế và mới chỉ tập trung cho một số loài [7], [8], [46] Đặc biệt các dẫnliệu về đa dạng nguồn gen di truyền, các trình tự nucleotide đặc trưng cho loàiThông lá dẹt hầu như chưa được nghiên cứu
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sinh học hiện đại, nhiều loại chỉthị phân tử đã được sử dụng để đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen làm cơ sở chonghiên cứu bảo tồn và tái tạo nguồn gen ở đối tượng sinh vật nói chung và ở cácloài cây lá kim nói riêng [7], [10], [29], [34], [56], [68] Trong các loại chỉ thị thìchỉ thị ISSR (Internal Sequence Simple Repeat) và SSR (Sequence Simple Repeat)đang được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả trong việc đánh giá đa dạng di truyền ở
cả mức độ quần thể và loài Hơn nữa, phân tích phân tử và nhận dạng vùng gen đặc
Trang 4trưng cũng được sử dụng rộng rãi trên thế giới và cả ở Việt Nam để đánh giá các môhình đa dạng di truyền ở thực vật và kỹ thuật này có lợi thế tiềm năng cho việc điềutra thực vật quý hiếm Vì thế đến nay đã có một số công trình nghiên cứu công bố
về hiệu quả cao của phân tích phân tử trong nghiên cứu đa dạng di truyền và xácđịnh trình tự nucletide vùng gen đặc trưng cho một số loài lá kim của Việt Nam [2],[3], [7] Điển hình là công bố của Vũ Đình Duy và cộng sự (2010) về việc sử dụngchỉ thị ISSR và SSR đánh giá đa dạng di truyền của 4 loài lá kim là Pơ mu
(Fokienia hodginsii), Sa mộc dầu (Cunninghamia lanceolata var konishii), Hoàng đàn hữu liên (Cupressus tonkinesis) Thủy tùng (Glytostrobus pensilis) và giải mã
trình tự vùng gen 18S đã chỉ ra hai loài Pơ mu và Sa mộc dầu có mức độ suy giảmcao hơn loài Thủy tùng và Hoàng đàn hữu liên Kết quả giải mã trình tự vùng gen
18S còn cho phép giải quyết vấn đề tồn tại về taxon của Sa mộc dầu (Cunninghamia lanceolata var konishii) Tương tự, Đinh Thị Phòng và cộng sự (2009), Vũ Thi Thu
Hiền và cộng sự (2009) cũng đã sử dụng chỉ thị thị RAPD, ISSR và cpSSR đểnghiên cứu mối quan hệ di truyền loài Pơ mu, Bách xanh phục vụ cho cho công tácbảo tồn Hiện nay trong ngân hàng Genbank (2014) đã lưu giữ trên 884.000 trình tựnucleotide cho các loài lá kim (conifers), tập trung vào hai vùng gen chính là nhân
(ITS) và vùng gen lục lạp (cpDNA), làm cơ sở cho xác định trình tự nucleotide đặc
trưng cho loài Thông lá dẹt
Xuất phát từ các cơ sở khoa học trên đây, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên
cứu đa dạng nguồn gen di truyền quần thể Thông lá dẹt tự nhiên (Pinus
krempfii Lecomte) ở Tây Nguyên - loài đặc hữu của Việt Nam” với các mục tiêu
và nội dung nghiên cứu sau:
- Xác định mức độ đa dạng nguồn gen di truyền cho 4 quần thể Thông lá dẹt
tự nhiên thu tại các tỉnh ở Tây Nguyên bằng chỉ thị SSR và ISSR
- Xác định trình tự nucleotide đặc trưng tại 3 vùng gen (2 vùng gen lục lạp và
1 vùng gen nhân) cho loài Thông lá dẹt ở Tây Nguyên
Trang 5CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu tổng quát về loài Thông lá dẹt
1.1.1 Vị trí phân loại
Thông lá dẹt (Pinus krempfii Lecomte) còn gọi là Thông hai lá dẹt hay
Thông Sri, Thông Sré, là loài đặc hữu của Việt Nam, phân bố ở các tỉnh KhánhHòa, Lâm Đồng, Đắc Lắc và Ninh Thuận Theo phân loại khoa học, Thông lá dẹtthuộc:
Giới (regnum): Plantae
Ngành (phylum): P ino ph y t a
Lớp (class): Pin o psida
Bộ (order): Pinal e s
Họ (familia): a ceaePin
Chi (genus): Pinus
1.1.2 Một số đặc điểm sinh học chính và giá trị bảo tồn loài Thông lá dẹt
Theo đánh giá của các nhà khoa học trong và ngoài nước, Thông lá dẹt làloài cổ sinh vật hiếm hoi còn sót lại cho đến ngày nay, với chiều cao lên đến 30 m,đường kính có thể đạt 1,5 - 1,6 m, đôi khi tới 2 m [47] Tán của cây thường khárộng, dày, sẫm màu và có hình rẻ quạt Đoạn thân dưới cành lớn, hầu như không cócành nhánh, tròn đều và mọc thẳng lên (Hình 1.1) Nón xuất hiện vào tháng 4 - 5 vàtồn tại trên cây trong một thời gian dài Hạt chín vào tháng 7- 10, màu nâu nhạt và
có cánh trắng Khi chín, hạt có thể phát tán trong một phạm vi tương đối rộng Câymầm thường có khoảng 10 - 13 lá mầm đầu tiên có hình xoắn cong về một hướngnhư lưỡi liềm, lá dài khoảng 2 - 3 cm, sau đến là các lá nhỏ mọc quanh thân, dài 1,5
- 2,5 cm Khi cây còn non, lá dài và rộng bản (dài 10 - 15 cm) xếp như hai lưỡi kéo
ở phần đầu cành Khi cây trưởng thành, lá nhỏ và ngắn lại (dài 4 - 5 cm), màu sẫm,mọc tập trung ở đầu cành, làm cho tán cây thông già trở nên dày và sẫm màu hơn.Đặc điểm đặc trưng nhất là lá hình dải mác nhọn đầu, dẹt [32], [33]
Trang 6A C
Hình 1.1 Hình ảnh cây Thông lá dẹt ở Lâm Đồng (A: cây trưởng thành; B: nón
quả; C: cây tái sinh) (ảnh Nguyễn Tiến Hiệp)
Gỗ Thông lá dẹt mềm, ít nhựa, màu từ trắng đến vàng nhạt, nhẹ, có nhiều đặctính kỹ thuật tốt có thể sử dụng trong công nghiệp và xây dựng Theo IUCN (2013),Thông lá dẹt được đánh giá mức sắp bị tuyệt chủng (VU A2c B1ab (iii) Hiện nay,các rừng Thông lá dẹt đang bị đe dọa nghiêm trọng do tình trạng phá rừng làmnương rẫy, nhiều cây bị mất môi trường sinh sống tối ưu nên chết rụi, một số câyquá già cũng tự đổ gãy Tái sinh tự nhiên hầu như chỉ hạn chế ở giai đoạn cây mầm,lại gặp chủ yếu ở nơi có khoảng trống, ven đường Mặt khác lại thiếu vắng các câytái sinh ở tuổi trung gian, nên khó đủ sức thay thế những cánh rừng Thông lá dẹt cổthụ đang tồn tại [5], [6]
1.1.3 Tình hình phân bố Thông lá dẹt ở Tây Nguyên
Phân bố trong nước: Loài đặc hữu hẹp của tiểu vùng địa lý thực vật NamTrường Sơn, phân bố chủ yếu tại tỉnh Lâm Đồng và một số vùng giáp ranh thuộccác tỉnh lân cận như Đắc Lắc, Khánh Hòa và Ninh Thuận
Trang 7Phân bố thế giới: không gặp bất kỳ nơi nào trên thế giới ngoài Việt Nam.Thông lá dẹt thường mọc ở độ cao từ 1000 đến 2000 m so với mực nướcbiển, trong những khu rừng khép tán thường xanh, xen với những cây họ Đậu và họLong não Loài thường mọc trên đỉnh hoặc sườn núi nơi có lớp đất ẩm và tầng mùndày [4], [36] Căn cứ vào các dẫn liệu thu thập được qua khảo sát, nghiên cứu ở cácđiểm còn rừng nguyên sinh ở hầu khắp nước ta và đối chiếu với tiêu chuẩn của cácthứ hạng trong Danh lục đỏ của IUCN, thoạt đầu thấy vài tiêu chuẩn loài chưa đếnmức bị đe dọa tuyệt chủng (sự suy giảm quần thể trong quá khứ, hiện tại nhiều nhất
các tiểu quần thể đều nằm trong các Khu bảo tồn thiên nhiên, Khu du lịch sinh tháihay ở các vùng núi xa xôi chưa bị lâm tặc vào chặt trộm) Tuy nhiên trong khoảng 5năm gần đây ở hai tiểu quần thể quan trọng nhất đều thuộc VQG Bi Đúp - Núi Bàgồm các cây gỗ to lớn ở dọc đường giao thông mới xây dựng từ Khánh Hòa đi lên
Đà Lạt qua VQG Bi Đúp - Núi Bà và đường giao thông đang xây dựng ở ĐôngTrường Sơn (từ Đà Lạt ra Quảng Nam) xuất hiện nguy cơ bị lâm tặc chặt hạ và vận
xuất nên ở thời điểm hiện tại việc xếp loài vào thứ hạng sẽ nguy cấp VU A2a,c,d,
A3a,c,d, B2a,c, C1 là hợp lý nhất [4].
1.2 Đa dạng di truyền quần thể thực vật
1.2.1 Khái niệm về quần thể thực vật
Quần thể được định nghĩa là tập hợp một nhóm cá thể của một loài trong mộtnơi sống cụ thể, chúng độc lập với các quần thể khác về quan hệ sinh sản [1] Ditruyền quần thể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và bị ảnh hưởng bởi cácyếu tố như kích thước quần thể, sức sinh sản, khả năng sống sót, phương phức sinhsản, trao đổi và đột biến di truyền Kích thước quần thể là kết quả của sự tương tácphức tạp liên quan đến các điều kiện môi trường sống và các đặc tính quần thể củaloài Kích thước quần thể đóng vai trò quan trọng liên quan đến phương thức sinhsản, di truyền và tiến hoá Nguồn gốc tiến hoá thường liên quan đến cá thể lai (thế
hệ tiếp theo) trong quần thể và loài Thụ phấn chéo có thể sản sinh những cá thể lai
đa dạng Cấu trúc di truyền của những cá thể này đóng góp vào tính đa dạng trong
Trang 8quần thể và duy trì khả năng thích nghi cao của quần thể trong nhiều môi trường sống.
Tác động của con người đến môi trường sống thường dẫn đến sự phá vỡ cấutrúc quần thể hình thành những quần thể nhỏ, cô lập và dẫn đến làm suy giảm khảnăng thích nghi của quần thể với môi trường sống Trong quần thể, thế hệ sau đượcsản sinh bằng thụ phấn cận noãn sẽ dẫn đến sự khác biệt về di truyền giữa các quầnthể là lớn và làm tăng tần số gen đồng hợp tử trong các quần thể nhỏ
1.2.2 Tính đa dạng di truyền quần thể thực vật
Đa dạng sinh học thường đề cập đến mức độ khác nhau của các dạng sống baogồm các cá thể động vật, thực vật, vi sinh vật và được biểu hiện từ mức độ phân tử đến
hệ sinh thái Công ước quốc tế về Đa dạng sinh học (1994) đã xác định đa dạng sinhhọc bao gồm 3 cấp: (i) đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay đa dạng nguồn gen),(ii) đa dạng giữa các loài (đa dạng về thành phần loài hay đa dạng loài) và (iii) đa dạng
hệ sinh thái Đa dạng sinh học là kết quả của quá trình tiến hoá tự nhiên trải qua hàngtriệu năm, bao gồm cả 3 mức độ hệ sinh thái, loài và di truyền Lý thuyết tiến hoá trên
cơ sở chọn lọc tự nhiên của Darwin đã dự đoán rằng đa dạng di truyền là thành phầnchính của đa dạng sinh học Đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen (đa dạngDNA), là tập hợp những biến đổi của các gen và các kiểu gen trong nội bộ của mộtloài Đây là sự đa dạng quan trọng nhất, quyết định một loài có thể tồn tại lâu dài trong
tự nhiên hay không Tính đa dạng này, vì thế đã và đang là nguồn cung cấp vật liệucho các chương trình chọn tạo và cải tiến giống [1] Đa dạng di truyền cho phép các cáthể và loài xử lý trước những biến đổi bất lợi của môi trường sống và có khả năng tựphục hồi trong môi trường sống của chúng Như vậy, đa dạng di truyền được đề cậpđến như là mức độ đa hình của mỗi cá thể trong suốt thời gian sống của nó, hoặc đượcphản ánh bởi số alen của quần thể tại một vị trí địa lý trong một khoảng thời gian cụthể hoặc số alen của một loài trong phạm vi phân bố địa lý và lịch sử tồn tại của nó
1.2.3 Một số kỹ thuật sinh học phân tử trong nghiên cứu đa dạng di truyền ở
thực vật
a) Kỹ thuật isozyme
Trang 9Kỹ thuật isozyme là kỹ thuật nghiên cứu sự đa hình enzyme Phương phápnày được Hunter và Market đưa ra từ năm 1957, sau đó Harris hoàn thiện vào năm
1966 và bắt đầu được sử dụng phổ biến từ thập niên 70 đến nay Mặc dù hiện nay
có nhiều kỹ thuật phân tử phát triển nhưng kỹ thuật isozyme vẫn được sử dụng vìcách thức thực hiện tương đối nhanh, chi phí thấp, thích hợp cho các nghiên cứu xácđịnh mức độ biến đổi di truyền ở cấp độ thấp Ngoài ra việc kết hợp kỹ thuậtisozyme với các kỹ thuật nghiên cứu đa hình DNA cho phép phân tích, so sánhnhững đặc tính bền vững (hoặc thay đổi) theo điều kiện khác nhau của môi trường[9]
b) Kỹ thuật RAPD (Random Amplified Polymorphic DNA)
Kỹ thuật RAPD được hai nhóm nghiên cứu của Welsh và Clelland (1991) vàWilliams và cộng sự (1990) đồng thời xây dựng [70], [71] Kỹ thuật này dựa trênứng dụng kỹ thuật PCR sử dụng các mồi đơn có trình tự ngẫu nhiên gồm khoảng 10nucleotide Số lượng các đoạn DNA được nhân bản phụ thuộc vào độ dài và vị trícác đoạn mồi, kích thước và cấu trúc DNA genome Sự đa hình của kỹ thuật RAPDnói chung là do đột biến ở vị trí gắn mồi làm ngăn trở đến việc bắt cặp của mồi Kếtquả là sau khi điện di sản phẩm RAPD – PCR sẽ phát hiện được sự khác nhau trongphổ các phân đoạn DNA được nhân bản Sự khác nhau đó gọi là tính đa hình chiềudài sản phẩm PCR
Kỹ thuật RAPD thao tác nhanh, đơn giản, giá thành thấp, dễ thực hiện dokhông cần biết trước trình tự bộ gen của đối tượng cần nghiên cứu, sử dụng lượngnhỏ DNA khuôn, chất lượng DNA khuôn không cần độ tinh sạch quá cao Tuynhiên chỉ thị RAPD là chỉ thị trội do đó những kiểu gen lặn quy định tính trạng nào
đó sẽ khó phát hiện sự đa hình khi điện di sản phẩm [13], [72] Kỹ thuật RAPD có
độ chính xác không ổn định (thể hiện ở mức độ lặp lại giống nhau thấp) [9], [10]
c) Kỹ thuật RFLP (Restriction Fragment Length Polymorphism)
Đây là kỹ thuật dựa trên tính đa hình chiều dài các đoạn cắt giới hạn, doBotstein và cộng sự (1980) xây dựng vào năm 1980 để lập bản đồ di truyền ở người[15] Kỹ thuật này dựa trên đặc điểm của các enzyme giới hạn khác nhau, tạo nên
Trang 10các đoạn cắt DNA khác nhau phân biệt được bằng điện di đồ Số lượng các đoạnnày phụ thuộc vào số điểm nhận biết của enzyme giới hạn trong hệ gen, các đoạncắt còn được gọi là các “dấu vân tay” đặc trưng cho từng phân tử DNA DNA củamẫu nghiên cứu sau khi được tách chiết và tinh sạch sẽ được cắt với cùng một sốloại enzyme giới hạn Tính đa hình độ dài được phát hiện nhờ đánh dấu phóng xạcác mẫu dò DNA bổ sung tạo ra từ cùng một locus Chỉ thị RFLP thường được ứngdụng trong một số lĩnh vực như: nghiên cứu sự đa dạng của bộ genome, xây dựngbản đồ di truyền, xác định mức độ liên kết với các tính trạng nông sinh học, xácđịnh con lai F1 trong lai hữu tính và lai tế bào trần, cũng như khả năng có chứa genbất dục tế bào chất, bất dục đực nhân mẫn cảm với nhiệt độ và ánh sáng, tìm dãyalen tự bất hợp, gen phục hồi và gen duy trì Tuy nhiên kỹ thuật này có nhược điểm
là quy trình phức tạp, cồng kềnh, tốn kém và sử dụng chất đồng vị phóng xạ gâynguy hiểm cho người thao tác thí nghiệm
d) Kỹ thuật AFLP (Amplified Fragment Length Polymorphism)
Kỹ thuật AFLP được hiểu là sự đa dạng của các đoạn DNA được nhân lên cóđịnh hướng sau khi bị cắt bởi các enzyme giới hạn Nguyên tắc của kỹ thuật nàytương tự như kỹ thuật RAPD nhưng mồi được sử dụng ở đây bao gồm một phần cốđịnh dài hơn (5bp) chứa vị trí nhận biết của enzyme giới hạn và một phần thay đổingắn (2-4bp) Phần cố định dài tạo ra sự ổn định của sản phẩm được nhân lên, phầnthay đổi ngắn sẽ tạo ra nhiều locus, có thể lên đến hơn 100 locus được nhân lên vớimồi AFLP đơn AFLP phát hiện sự khác nhau của các đoạn DNA bởi sự nhân cóchọn lọc các trình tự DNA hệ gene đã được cắt (bởi enzyme giới hạn) và được gắnvới đoạn tiếp hợp (adapter) Phương pháp cho phép sàng lọc đồng thời một số lượnglớn các chỉ thị không có nghĩa Sự đa hình được xác định bởi sự có mặt hoặc không
có mặt của một phân đoạn DNA Phương pháp AFLP kết hợp được những ưu điểmcủa RFLP và RAPD nên có hiệu quả trong phát hiện và phân tích đa hình một cáchnhanh chóng, ổn định và đáng tin cậy Tuy nhiên chi phí và yêu cầu chuyên môn kỹthuật để thực hiện phân tích AFLP là rất cao nên phương pháp này ít được sử dụng
để nghiên cứu phân loại học phân tử mà chủ yếu được sử dụng trong việc thiết lậpbản đồ di truyền các tính trạng số lượng [72]
Trang 11e) Kỹ thuật SSR (Simple Sequence Repeat)
Kỹ thuật SSR hay microsaterlite (vi vệ tinh) là kỹ thuật nghiên cứu dựa trêntrình tự lặp các đoạn đơn giản trên genome của sinh vật, đây là những trình tự ngắn(từ 2 đến 6 cặp bazơ, ví dụ (AT)n; (AG)n; (AGTC)n) có thứ tự lặp lại liên tiếp daođộng từ 2 đến 40 đơn vị Các trình tự lặp đơn giản rất phổ biến ở hệ gen động vật vàthực vật, mật độ các trình tự dao động rất lớn, phân bố trong hệ gen và có tính đặctrưng cho từng loài [9]
Kỹ thuật này dựa trên nguyên lý phản ứng chuỗi PCR với mục tiêu đầu tiên
là nhận dạng các trình tự lặp lại đơn giản Sau khi các trình tự lặp lại đơn giản nàyđược nhận dạng, bước tiếp theo là xác định trình tự của DNA ở hai đầu của cácđoạn lặp lại và thiết kế mồi Các trình tự gần kề và các trình tự lặp lại sẽ tạo nênSSR Mồi SSR sau đó được sử dụng tương tự như các mồi RAPD Kỹ thuật SSR cótiềm năng rất lớn do có khả năng phát hiện tính đa hình rất cao, có thể phân biệtđược sự sai khác mà không xác định được bằng các chỉ thị khác như RAPD vàAFLP Phản ứng không quá tốn kém, tiết kiệm được thời gian và hoá chất Vì vậySSR là công cụ hữu hiệu trong nghiên cứu đa dạng di truyền nguồn gen cũng nhưlập bản đồ hệ gen ở sinh vật [53] Mồi sử dụng trong kỹ thuật SSR dài hơn mồiRAPD và dựa trên trình tự đặc trưng của loài, vì thế độ tin cậy cao hơn so với kỹthuật RAPD Hơn nữa mồi SSR là các locus đặc trưng, nên cung cấp nhiều thông tinrất có ích cho việc phát hiện sự thay đổi các trình tự hiếm SSR là loại chỉ thị đồngtrội nên đã nhanh chóng thay thế chỉ thị AFLP và RAPD và trở thành công cụ hữuhiệu trong các ứng dụng chọn giống thực vật và nghiên cứu di truyền
Nhược điểm của kỹ thuật này là chi phí cao và khó khăn trong việc thiết kếcặp mồi đặc hiệu cho một locus đa hình Để xây dựng cặp mồi đặc hiệu cần táchdòng và đọc trình tự một số lượng lớn các đoạn DNA hệ gen chứa đoạn lặp lại Mộtvấn đề khác cũng thường gặp trong sử dụng SSR là việc xác định quan hệ giữa cácalen với các chỉ thị phân tử là rất khó SSR có thể được phân bố ngẫu nhiên tronggenome nhưng cũng có khi tập trung lại ở tâm động hay eo thứ cấp của nhiễm sắcthể Điều này hạn chế việc sử dụng các mẫu dò nhiều locus trong phân tích liên kết
di truyền và nghiên cứu quần thể [9]
Trang 12f) Kỹ thuật ISSR (Inter Simple Sequence Repeat)
Kỹ thuật do Zietkiewicz và cộng sự phát hiện năm 1994 [76] Trong cấu trúc
hệ gen của vi sinh vật nhân thật tồn tại một loại các trình tự nucleotide lặp lại,chúng thường đặc trưng cho loài Trình tự này gồm từ 2 đến 5 nucleotide lặp lạinhiều lần, ví dụ: (AT)n, (AG)n, (AGTC)n và nằm rải rác trong hệ genome của thựcvật bậc cao Kỹ thuật ISSR dựa trên kỹ thuật PCR và dùng một mồi đơn có độ dài
từ 20 đến 30 nucleotide để nhân bản các trình tự đơn giản ở giữa các trình tự lặp lạicho loài Đoạn mồi được thiết kế là đoạn oligonucletide có trình tự bổ sung với trình
tự lặp Khoảng cách giữa các trình tự lặp khác nhau làm cho các phân đoạn DNAđược nhân có độ dài ngắn khác nhau và đặc trưng cho mỗi cá thể Nhiều kết quảnghiên cứu đã chỉ ra chỉ thị ISSR phản ánh mức độ phân nhóm di truyền của quyluật Mendel [66] Chỉ thị này cũng được sử dụng rất hiệu quả trong nghiên cứu đadạng DNA ở một số đối tượng cây trồng [24], [35], [43], [48]
1.3 Ý nghĩa của nghiên cứu cứu xác định trình tự nucleotide ở thực vật
1.3.1 Ý nghĩa của nghiên cứu giải mã trình tự nucleotide ở thực vật
Nghiên cứu giải mã một số vùng gen bảo thủ cho mục đích phân loại, nhậndạng một số nguồn gen quý là hướng nghiên cứu được phát triển mạnh trên thế giớitrong những năm gần đây Cơ sở của phương pháp này là dựa trên kỹ thuật phântích DNA còn được gọi là “dấu vân DNA- DNA fingerprint” Ứng dụng hướngnghiên cứu này giúp nhận biết ranh giới các loài (giám định gen); đánh giá sự phátsinh chủng loại giữa các loài (tiến hóa loài) [28] Phương pháp được xây dựng dựatrên thành phần và cấu trúc của các vùng gen đặc hữu của các taxon sinh vật, tập
trung vào hai vùng gen chính là gen nhân (ITS) và vùng gen lục lạp (cpDNA, nên có
hiệu quả cao trong việc định loại và giám định loài Với các giá trị khoa học nêutrên, đến nay việc xác định trình tự nucleotide vùng gen đặc trưng đang là công cụ
hỗ trợ đắc lực cho các nhà nghiên cứu trong việc phát hiện các loài mới, giải quyếtcác mối nghi ngờ về vị trí phân loại, đánh giá đầy đủ về tính đa dạng di truyền, quan
hệ chủng loại và mức độ tiến hoá của nhiều loài động thực vật và vi sinh vật Hiệnnay, ở Việt Nam hướng nghiên cứu này đang được sử dụng trong nghiên cứu phân
Trang 13loại, định loại, tiến hóa,… trên nhiều đối tượng sinh vật ở Viện Công nghệ sinh học, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam,…
1.3.2 Giới thiệu tổng quát về ba vùng gen giải mã trình tự nucleotide
a) Vùng gen thuộc hệ gen lục lạp
Hệ gen lục lạp (cpDNA) là một phân tử DNA vòng, sợi đơn, mỗi gen thườngkhông lặp lại, có kích thước từ 120 kb - 220 kb Không giống như các gen nhân, cácgen lục lạp chỉ mã hoá các protein cần thiết cho chức năng quang hợp Hệ gen lụclạp thường được sử dụng cho nghiên cứu phân loại ở thực vật do đặc tính di truyềntheo dòng mẹ, không bị tái tổ hợp di truyền cho thế hệ sau và rất bảo thủ [55] Hệgen lục lạp được đánh giá là sự tích lũy các đột biến theo thời gian, nên phản ánhđúng mức độ tiến hóa của loài Các gen lục lạp có tốc độ đột biến thấp hơn từ 4 - 5lần so với gen trong nhân, nhưng nhanh hơn khoảng ba lần so với DNA ty thể thựcvật và thường xuyên được sử dụng trong nghiên cứu phân loại Hiện nay, các vùng
gen matK, trnL - trnF, vùng đệm psbA - trnH, rpoC2…hay được sử dụng trong
nghiên cứu hệ thống học phân tử thực vật Tất cả các gen thuộc hệ gen lục lạpthường có mức độ biến đổi không lớn hơn 2 % giữa các loài lân cận
- Vùng psbA - trnH: thường được sử dụng cho nghiên cứu phân loại [58].
Vùng này có kích thước xấp xỉ 450 bp, xác suất nhân bản thành công rất cao (100 %với các loài đã được nghiên cứu) Mức độ khác biệt trình tự nucleotide giữa các loàitrung bình là 1,24 % và sự khác biệt bên trong loài rất thấp từ 0 – 0,08 % [31]
Trình tự psbA - trnH cũng đã được công bố trên ngân hàng gen với nhiều loài khác
nhau thuộc thực vật hạt trần, dương xỉ, rêu và rêu tản
- Gen trnL: Là gen mã hoá cho tRNA vận chuyển Leucine trong lục lạp, có
kích thước khoảng 440-750 bp Gen này được sử dụng nhiều trong nghiên cứu phânloại phân tử [30], [42], [59] Các kết quả thu được trong các nghiên cứu nguồn gốc
phát sinh loài sử dụng gen trnL cho thấy đây là một vùng DNA hữu ích cho phân
loại
b) Vùng gen nhân (ITS)
Vùng ITS (Internal Transcribed Spacer) của gen mã hoá cho ribosome nhân gồm các đơn vị gen 18S, 5,8S và 26S Giữa các đơn vị gen có các đoạn ITS-1 và
Trang 14ITS-2, các thành phần này tạo thành một nhóm gen cơ bản Các nhóm gen như vậy
lặp lại liên tục trong hàng nghìn bản sao trong hệ gen nhân và chúng được ngăncách bởi vùng NTS (nontranscribed spacer)
Trong các nghiên cứu phân loại thực vật ở mức độ loài, vùng ITS là locus
được xác định trình tự phổ biến nhất, được kiến nghị làm vùng DNA barcode cho
thực vật [12], [14] Ở mức độ loài, vùng ITS có mức độ đa dạng cao (khoảng 13,6 %
giữa các loài gần gũi), nhưng lại có mức độ biến đổi thấp bên trong loài [14] Với sự
hiện diện của trên 70.000 trình tự ITS được công bố trên ngân hàng Genbank năm
2011 đây là nguồn tư liệu có giá trị, mở ra những triển vọng lớn cho nghiên cứuphân loại và giám định
1.4 Một số thành tựu nghiên cứu tính đa dạng di truyền và tiến hóa phân tử ở các loài lá kim
và được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm [25]
Năm 2010, Wang và Hao đã sử dụng chỉ thị ISSR để đánh giá đa dạng di
truyền của 13 quần thể thông tự nhiên ở Trung Quốc (Pinus tabulaeformis Carr.)
[69] Kết quả chỉ ra rằng tổng số biến đổi di truyền trong quần thể Thông ở TrungQuốc chủ yếu duy trì bên trong quần thể Sự đa dạng di tuyền có xu hướng giảm từquần thể trung tâm đến quần thể trung gian và quần thể biên Cả hai yếu tố phân bố
tự nhiên và hoạt động của con người đều ảnh hưởng đến sự hình thành cấu trúc ditruyền của loài này Hay như nhóm tác giả Mariette và cộng sự (2001) bằng việcphân tích hai chỉ thị AFLP và SSR đã đánh giá đa dạng di truyền của 23 quần thể
Pinus pinaster xuất xứ từ Aquitaine và Corsican thuộc nước Pháp [39] Kết quả chỉ
ra rằng những quần thể Pinus pinaster xuất xứ từ Aquitaine có sự đa dạng di truyền
cao hơn so với những quần thể xuất xứ từ Corsican Ngoài ra còn nhiều nhóm táckhác trên thế giới cũng đã quan tâm và nghiên cứu vấn đề này như Kadermir và
Trang 15cộng sự (2004) đã nghiên cứu đa dạng di truyền loài thông đỏ Thổ Nhĩ Kỳ [29];
Ledig và cộng sự (2005) nghiên cứu trên loài Picea breweriana [34]; Clark và cộng
sự (2000) đã nghiên cứu trên những loài thuộc chi Abies trong họ Thông [20],…Đặc biệt thông qua việc phân tích cấu trúc di truyền sử dụng chỉ thị ISSR, AFLP,của một số loài lá kim bị đe doạ tuyệt chủng cho thấy mức độ đa dạng di truyền bịsuy giảm rất cao liên quan đến khả năng tăng hệ số đồng hợp tử trong các quần thểnhỏ và hẹp Những nghiên cứu đó cũng chỉ ra mức độ đa dạng giữa các quần thể làrất lớn và đồng thời đưa ra một số biện pháp hiệu quả để phục hồi nguồn gen một sốloài lá kim bị đe dọa tuyệt chủng [18], [73]
Riêng đối với loài Thông lá dẹt, công bố mới nhất về tính đa dạng nguồn genquần thể Thông lá dẹt của Việt Nam được xác định bởi nhóm nghiên cứu của Wang
và cộng sự (2014) [68] Trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng 57 mẫu được lấy
từ sáu quần thể Thông lá dẹt tại Vườn Quốc gia (VQG) Bi Đúp để phân tích sự thayđổi trình tự nucleotide tại mười vùng gen nhân (~ 9 kb), 14 vùng gen ti thể (~10 kb)
và bảy vùng gen lục lạp (cpSSR) Kết quả cho thấy mức độ đa dạng nucleotide rấtthấp tại các vùng gen nhân (0,0020) Trong khi đó, mức độ đa dạng gen dị hợp(haplopype) của các vùng gen cpSSR tương đối cao (0,911), nhưng lại không có
tính đa hình nucleotide khi phân tích với tất cả 14 vùng gen ty thể (mtDNA) Trong
nghiên cứu này, các tác giả cũng đã chỉ ra mức độ sai khác di truyền quần thể ở 10vùng gen nhân phân tích là rất thấp (5,2%) [68]
1.4.2 Trong nước
Việt Nam hiện được xếp vào một trong 10 điểm nóng nhất trên thế giới vềbảo tồn Thông nên việc nghiên cứu bảo tồn các loài lá kim cần được coi trọng [4],[5] Vì vậy, việc nghiên cứu tính đa dạng di truyền các loài lá kim có giá trị khoahọc, kinh tế, các loài đặc hữu, quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng ở Việt Nam làhết sức cần thiết Tuy nhiên ở Việt Nam hiện có rất ít công trình nghiên cứu đánhgiá mức đa dạng di truyền một số loài lá kim Hiện nay ở Việt Nam chỉ có nhómnghiên cứu của Phòng Phân loại học thực nghiệm và Đa dạng nguồn gen thuộc Bảotàng Thiên nhiên Việt Nam (BTTNVN) là đơn vị đã và đang có những nghiên cứusâu về đa dạng di truyền nguồn gen một số loài Thông trên cơ sở phân tích phân tử
Trang 16Chẳng hạn như Vũ Đình Duy và cộng sự (2010) đã sử dụng chỉ thị ISSR và SSR đểđánh giá đa dạng di truyền của 4 loài thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae) là Pơ mu
(Fokienia hodginsii), Sa mộc dầu (Cunninghamia lanceolata var konishii), Hoàng đàn hữu liên (Cupressus tonkinesis) và Thủy tùng (Glytostrobus pensilis) đã chỉ ra
hai loài Pơ mu và Sa mộc dầu có mức độ suy giảm cao hơn Thủy tùng và Hoàngđàn hữu liên, sự suy giảm đều liên quan đến hoạt động của con người, đặc biệt nơisống bị phân cắt Ngoài ra, bằng việc giải mã vùng gen 18S, nhóm tác giả đã giải
quyết vấn đề tồn tại về taxon của Sa mộc dầu (Cunninghamia lanceolata var konishii) [2] Hay Nguyễn Minh Tâm và cộng sự (2010) đã giải mã vùng gen rpoC, gen rbcL và gen matK để nghiên cứu mối quan hệ di truyền của 15 loài lá kim
thuộc lớp Thông (Thủy tùng, Thông đỏ bắc, Bách xanh núi đá, Bách xanh núi đất,Hồng tùng, Thông Pà cò, Thông tre lá dài, Thông đà lạt, Thông nàng, Thông tre lángắn, Thông ba lá, Kim giao nam, Kim giao bắc, Dẻ tùng vân nam và Thông đỏnam) và đã chỉ ra mối quan hệ gần gũi của các loài [8] Để nghiên cứu mối quan hệ
họ hàng giữa các taxon trong thực vật, Tam và Trang (2012) đã sử dụng vùng gen18S để xác định mối quan hệ tiến hoá của 6 chi thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae)
ở Việt Nam [58] Kết quả chỉ ra 2 nhánh tiến hoá có quan hệ mật thiết với nhau,
Xanthocyparis vietnamesis/Cupressus tonkinensis và Fokienia hodginsii/Cupressus rupestris/C formasana Xanthocyparis noothatensis có quan hệ gần gũi với loài thuộc chi Cupressus Fokienia hodginsii cùng nhánh tiến hoá với chi Calocedrus.
Tương tự, Đinh Thị Phòng và cộng sự (2009), Vũ Thi Thu Hiền và cộng sự (2009)cũng đã sử dụng chỉ thị thị RAPD, ISSR và cpSSR để nghiên cứu mối quan hệ ditruyền cho Pơ mu, Bách xanh phục vụ cho nghiên cứu bảo tồn [3], [7] Đến nay cóthể nói, các dẫn liệu về đa dạng di truyền, các trình tự nucleotide đặc trưng cho một
số loài lá kim đặc hữu, có giá trị kinh tế cao và có nguy cơ tuyệt chủng hầu nhưchưa được nghiên cứu hoặc rất hạn chế nên cần được quan tâm nghiên cứu để có kếhoạch bảo tồn cũng như khai thác nguồn tài nguyên quý giá này
Trang 17CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu:
- Gồm 70 mẫu lá và gỗ của 70 cá thể từ 4 quần thể loài Thông lá dẹt (Pinus krempfii) thu tại 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắc Lắc Các mẫu do TS Nguyễn Tiến Hiệp,
cộng tác viên của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam cung cấp Mẫu lá, gỗ sau khi thuđược bảo quản trong sillicagel và giữ ở nhiệt độ phòng cho tới khi sử dụng Thôngtin chi tết các mẫu nghiên cứu được thể hiện trong bảng 2.1
- Bốn mẫu (Pk5; Pk8; Pk18 và Pk45) đại diện của 4 quần thể Thông lá dẹt đểxác định trình tự nucleotide 01 vùng gen nhân và 02 gen lục lạp
Bảng 2.1 Thông tin của các mẫu thu nghiên cứu phân tử
Kí kiệu mẫu
Vị trí địa lí Độ cao
so mặt nước biển (m)
Vĩ độ bắc (◦N) Kinh độ đông (◦E)
Các cặp mồi sử dụng trong nghiên cứu:
- Hai mươi sáu mồi ISSR và 17 cặp mồi SSR dùng để đánh giá đa dạng ditruyền quần thể Thông lá dẹt Các cặp mồi được tổng hợp bởi hãng IDT (IntergratedDNA Technology, Mỹ), có ký hiệu và trình tự nucleotide như trong bảng 2.2 vàbảng 2.3
Trang 18Bảng 2.2 Trình tự nucleotide của 26 mồi ISSR sử dụng trong nghiên cứu
STT Tên mồi nucleotide Trình tự Tham khảo STT Tên mồi nucleotide Trình tự Tham khảo
Bảng 2.3 Trình tự nucleotide của 17 cặp mồi SSR sử dụng trong nghiên cứu STT Tên mồi Trình tự nucleotide (5’ – 3’) Tham khảo
Trang 20Bảng 2.4 Kích thước lý thuyết của các cặp mồi dùng trong nghiên cứu
Nhiệt độ bắt cặp (Tm)C
Nguồn gốc tổng hợp
ITSR
CCTGCGGAAGGATCATTGTCTTAAACTCAGCGGGTAGTC
1100 50 Thiết kế
dựa vàotrình tựnucleotideloài
Elleanthus conife mãsốEU490666Genbank
Các hóa chất dùng trong nghiên cứu:
Hóa chất tách chiết và tinh sạch DNA (CTAB, EDTA, Tris-HCl,Isopropanol, ethanol, ARNase, chloroform, Kit tinh sạch genomic, Kit tinh sạch sảnphẩm PCR, đệm TAE, agarose, poly acrylamide, TE, ; các hóa chất dùng trong
phẩm PCR và xác định trình tự nucleotide: Quick Gel Extraction Kit QIAGEN, DyeTeminator Cycle Sequencing Kit,… Các hóa chất sử dụng đều là của các hãngFermentas, Biobasis, QIAGEN,
:
), máy ly tâm), bộ điện di Nytechnich (Anh), máy chụp ảnh gel (Cleaver, Đức)
Genetic Analyzer (Applied Biosystems),.…
Cối, chày sứ, thìa vô trùng, giấy thấm vô trùng, ống eppendorf, đầu côn cácloại,…của các hãng Canada, Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam
Trang 212.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định và phân tích các thông số di truyền của 4 quần thể Thông lá dẹt sửdụng chỉ thị ISSR và SSR
- Xác định, phân tích và so sánh trình tự nucleotide của 03 vùng gen (01vùng gen nhân và 02 vùng gen lục lạp) với các trình tự liên quan trên ngân hàngGenbank
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Phòng Phân loại học thực nghiệm và Đa dạngnguồn gen - Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam - 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, HàNội
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Tách chiết DNA tổng số từ 70 mẫu Thông lá dẹt
DNA tổng số được tách chiết từ lá hoặc vỏ cây bằng phương pháp củaPorebski và cộng sự (1997) [51] Kiểm tra độ sạch trên gel agarose 0,9 % và đonồng độ DNA tổng số trên máy UVS 2700, Labomed, Hoa Kỳ
2.4.2 Thiết kế cặp mồi
Để thiết kế được cặp mồi có tính đặc hiệu cao và giảm thiểu khả năng bắt cặpkhông đặc hiệu Chúng tôi đã khai thác các dữ liệu trong ngân hàng gen Genbank để
tìm ra tất cả các trình tự gen mã hoá cho vùng gen ITS đối với loài lá kim Sau đó sử
dụng phần mềm BioEdit để so sánh, vùng bảo thủ nhất được sử dụng để thiết kế cặp
mồi Cặp mồi ITSF/ITSR nhân bản vùng gen ITS được thiết kế dựa vào trình tự
trình thiết kế cặp mồi được thực hiện trên phần mềm DNAstar Hai cặp mồi
psbA3'f/trnHf và trnLF/trnFR được tổng hợp dựa trên những nghiên cứu của Sang
và cộng sự (1997), Tate và cộng sự (2003) và Taberlet và cộng sự (2006)
2.4.3 Nhân bản DNA
Phản ứng PCR (polymerase chain reaction) với các chỉ thị ISSR và SSR:
Phản ứng nhân gen được thực hiện trên máy PCR system 9700 (Hoa Kỳ) với tổng
Trang 222 mM; mồi 100 nM; 50 ng DNA khuôn và 0,5 đơn vị Taq polymerase Chu trình
nhiệt của phản ứng PCR: biến tính ở 94°C trong 4 phút, tiếp sau là 35 chu kỳ nốitiếp nhau với các bước: biến tính 94°C trong 1 phút; gắn mồi 50 - 58°C trong 1 phút
4°C Sản phẩm PCR được kiểm tra trên gel polyacrylamide 5 % cùng với thangDNA chuẩn 100 bp (của hãng Fermentas), và gel agarose 1,5 % với thang chuẩn1kb (của hãng Fermentas) sau đó nhuộm ethidium bromide 15 phút và quan sát dướitia UV
Nhân bản DNA và đọc trình tự: phản ứng PCR được tiến hành với thể tích
2.4.4 Thôi gel và tinh sạch sản phẩm PCR
Tinh sạch sản phẩm PCR là bước quan trọng để thực hiện phản ứng giải trình
tự Quá trình tinh sạch nhằm thu được sản phẩm đoạn gen mong muốn Sản phẩmPCR được điện di trên gel agarose 1,5 %, cắt lấy phân đoạn DNA quan tâm trên bànsoi UV và tinh sạch bằng bộ KIT QIAquick Gel Extraction của QIAGEN Kiểm trasản phẩm thu được trên gel agarose 0,9 % Chụp ảnh sản phẩm thôi gel và xác địnhhàm lượng DNA để gửi đi xác định trình tự
2.4.5 Giải trình tự nucleotide các đoạn DNA
Các sản phẩm PCR sau khi tinh sạch được gửi sang công ty Macrogen (HànQuốc) để xác định trình tự nucleotide theo hai chiều (xuôi và ngược)
2.5 Phân tích số liệu
- Phân tích đa dạng di truyền
Các thông số đa dạng di truyền ở mức độ quần thể và loài của loài Thông lá
dẹt: số alen trung bình (Na), số alen hiệu quả (Ne), và các thông số đa dạng di
Trang 23truyền quần thể như phần trăm lô cút đa hình (PPB), chỉ số đa dạng di truyền Shannon (I), hệ số gen dị hợp tử mong đợi (He), được xác định cho cả chỉ thị ISSR
và SSR bằng phần mềm GenAlex 6.3 [50]
Hàm lượng thông tin đa hình (PIC) của mỗi chỉ thị ISSR được xác định theo
kiểm tra Phạm vi giá trị PIC từ 0 (không đa hình) tới 1 (đa hình hoàn toàn) Chỉ số
đa dạng di truyền (h) theo Nei (1973) của mỗi quần thể Thông lá dẹt với chỉ thị ISSR được tính theo công thức: h = ∑pi2 (trong đó pi là tần số của alen thứ i tại
Dữ liệu DNA sau khi thực hiện ghép nối, xắp xếp thẳng hàng (alignment)được tạo cây tiến hoá bằng phần mềm MEGA 4.0, sử dụng phương pháp Neighbor
- Joining (NJ) với các thông số phân tích như sau:
Trang 24- Kiểm tra phân tích: kiểm tra bằng giá trị bootstrap với số lần lặp lại(replicate) là 1000 lần.
- Dữ liệu thiếu/ khoảng trống nucleotide (do đột biến thêm bớt tạo ra): được xoá bỏ theo cặp (pairwise deletion)
- Mô hình đột biến: mô hình Maximum composite Likelihood với số lượng độtbiến được tính bao gồm cả đột biến hoán đổi (A↔T, G↔C) và hoán vị (A↔C, A
↔ G, T ↔ C, T↔ G)
Trang 25CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kết quả tách chiết DNA tổng số loài Thông lá dẹt
DNA tổng số của 70 cá thể từ 4 quần thể Thông lá dẹt (Pinus krempfii) được
tách chiết theo phương pháp của Porebski và cộng sự (1997) có cải tiến một số bướccho phù hợp với phòng thí nghiệm [51] Kết quả kiểm tra DNA tổng số trên gelagarose 0,9 % (hình 3.1) cho thấy mỗi giếng chỉ cho một băng vạch duy nhất, cácbăng đậm, sắc nét, thể hiện DNA tách chiết được có độ tinh sạch cao, không bị đứtgãy Kết quả này một lần nữa khẳng định chất lượng DNA tách chiết được hoàntoàn đủ điều kiện cho những nghiên cứu tiếp theo
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36
Hình 3.1 Hình ảnh DNA tổng số đại diện của một số mẫu Thông lá dẹt (các giếng
từ 1 đến 36 là thứ tự các mẫu Thông lá dẹt như bảng 2.1)
DNA tổng số sau khi tách chiết được kiểm tra hàm lượng và độ sạch bằngphương pháp đo quang phổ hấp thụ ở bước sóng 260 nm và 280 nm Kết quả thuđược cho thấy, nồng độ DNA của 70 mẫu Thông lá dẹt dao động từ 640 đến 1000
đến 2 (số liệu không chỉ ra ở đây) Kết quả trên khẳng định các mẫu DNA tách chiếtđược hoàn toàn đủ tiêu chuẩn cho những phân tích tiếp theo
3.2 Tính đa dạng di truyền quần thể loài Thông lá dẹt
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng 26 mồi ISSR và 17 cặp mồiSSR để đánh giá tính đa dạng di truyền của bốn quần thể Thông lá dẹt thu ở Yang
Ly, Cổng Trời, Hòn Giao của tỉnh Lâm Đồng và Chư Yang Sin của tỉnh Đắc Lắc
3.2.1 Tính đa dạng di truyền quần thể Thông lá dẹt phân tích với chỉ thị ISSR Tính đa hình DNA giữa 70 mẫu Thông lá dẹt
Hai mươi sáu mồi ISSR đã được sử dụng để phân tích cho 70 cá thể thuộcbốn quần thể Thông lá dẹt thu tại Yang Ly, Cổng Trời, Hòn Giao và Chư Yang Sin
Trang 26thì có 23/26 mồi ISSR chỉ ra tính đa hình giữa các mẫu nghiên cứu Tổng số có 137phân đoạn DNA được nhân bản với kích thước dao động trong khoảng 250 - 1800
bp, trong đó có 98 phân đoạn đa hình Hàm lượng thông tin đa hình của các mồi daođộng từ 0 (mồi ISSR5, ISSR18, ISSR10) đến 0,515 (mồi UBC843) Các mồi ISSRcho tỉ lệ phân đoạn đa hình cao giữa các mẫu nghiên cứu, sáu mồi (ISSR3, ISSR6,ISSR67, UBC834, UBC843 và UBC854) có số phân đoạn đa hình chiếm 100%, 16mồi có số phân đoạn đa hình trên 50 % (Bảng 3.1) Kết quả điện di sản phẩm PCRcủa 70 mẫu Thông lá dẹt với mồi UBC834 đại diện cho 26 mồi ISSR được thể hiệntrong hình 3.2
Bảng 3.1 Giá trị PIC và tỉ lệ phân đoạn đa hình của 70 mẫu Thông lá dẹt phân tích
với 26 mồi ISSR
STT Tên mồi
Kích thước phân đoạn (bp)
PIC đoạn đa Phân
hình
Phân đoạn đồng hình
Tổng phân đoạn
% phân đoạn
Trang 27Hình 3.2 Sản phẩm PCR-ISSR của 70 mẫu Thông lá dẹt phân tích với mồi
UBC834 trên gel agarose 1,5 % (giếng 1-70 thứ tự của các mẫu Thông lá dẹt nhưbảng 1, M: marker phân tử 1 kb)
Mồi UBC834: Đây là một trong những mồi thể hiện rõ nét nhất tính đa hình
DNA giữa 70 mẫu Thông lá dẹt nghiên cứu Có tổng số 10 phân đoạn DNA đượcnhân bản với kích thước từ 250 bp đến 1350 bp thì cả 10 phân đoạn đều thể hiện sựsai khác về mặt di truyền giữa các mẫu (hình 3.2) Chẳng hạn ở vị trí 1350 bp (hình
←) chỉ có duy nhất mẫu Pk70 (tương ứng với giếng số 70) không xuất hiện phânđoạn DNA, 69 mẫu còn lại đều xuất hiện phân đoạn DNA Hay như tại vị trí 400 bp
Trang 28(hình →) có 3 mẫu Pk43, Pk44 và Pk45 (tương ứng các giếng 43, 44 và 45) xuất hiện phân đoạn DNA, các mẫu còn lại không xuất hiện phân đoạn DNA.
Đa dạng di truyền của 4 quần thể Thông lá dẹt
Các thông số di truyền của quần thể Thông lá dẹt được đánh giá ở cả mức độquần thể và loài Kết quả được thể hiện trong bảng 3.2 cho thấy theo cả ba cách tính
đa dạng di truyền của Nei (1973) [45], Shannon (1949) [57] và phần trăm phânđoạn đa hình của bốn quần thể đã chỉ ra quần thể Thông lá dẹt ở Chư Yang Sin có
tính đa dạng di truyền cao nhất (h = 0,117; I = 0,239 và PPB = 62,04) và thấp là quần thể Yang Ly (h = 0,070; I = 0,086 và PPB = 13,87) Kết quả này cho thấy, dù
tính theo phương pháp nào cũng vẫn phản ánh đúng thực trạng về tính đa dạngnguồn gen di truyền của mỗi quần thể Kết quả phân tích trong bảng 3.2 cũng chỉ ra
tính đa dạng nguồn gen trung bình 4 quần thể Thông lá dẹt đạt h = 0,082 và I = 0,137, ở mức độ loài đạt h = 0,094 và I = 0,245.
Bảng 3.2 Thông số đa dạng di truyền quần thể Thông lá dẹt phân tích với chỉ thị
số đa dạng Nei, I: Chỉ số đa dạng Shannon.
So sánh mức độ đa dạng di truyền của loài Thông lá dẹt với một số loàiThông khác trên thế giới cho thấy loài Thông lá dẹt của Việt Nam có mức độ đa
Trang 29dạng di truyền thấp hơn (PPB = 30,11% và I = 0,137) so với loài Pinus nigra của Trung Quốc (PPB = 51,04 % và I = 0,262) và loài Pinus sylvestris của Đức và Tây Ban Nha khi phân tích với chỉ thị ISSR (PPB = 99,76 % và I = 0,690) [19], [41].
Các thông số di truyền: số alen hiệu quả (Ne), số alen quan sát trung bình (Na) và hệ số gen dị hợp tử mong đợi (He) được tìm tìm thấy ở quần thể Chư Yang Sin đạt cao nhất (Ne = 1,226; Na = 1,599 và He = 0,151), tiếp đến là quần thể Hòn Giao (Ne = 1,135; Na = 1,073 và He = 0,084), xếp thứ 3 là quần thể Cổng Trời (Ne
= 1,112; Na = 0,854 và He = 0,063) và cuối cùng là quần thể Yang Ly (Ne = 1,111;
Na = 10,810 và He = 0,060) Kết quả phân tích về các thông số này cũng phù hợp với kết quả của các thông số đa dạng di truyền theo cách tính (h) của Nei (1973) [45], chỉ số I của Shannon (1949) [57] và phần trăm phân đoạn đa hình ở mức độ
quần thể theo thứ tự từ cao đến thấp là Chư Yang Sin, Hòn Giao, Cổng Trời vàYang Ly
Mức độ đa dạng di truyền trong quần thể loài Thông lá dẹt nghiên cứu rất
thấp (He = 0,151) khi so sánh với một số loài Thông trên thế giới Chẳng hạn quần thể Pinus tabuleaformis (He = 0,415), Pinus koraiensis (He = 0,348), Pinus sibirica (He = 0,267), Pinus sylvestris (He = 0,262) [26], [36], [69], [74] Kết quả này cho
thấy loài Thông lá dẹt của Việt Nam có nguy cơ suy giảm đa dạng di truyền rất cao
Bảng 3.3 Mức độ thay đổi phân tử (AMOVA) giữa và trong quần thể Thông lá dẹt
phân tích với chỉ thị ISSR
Trang 30Hệ số tương đồng di truyền và khoảng cách di truyền giữa 4 quần thể Thông lá dẹt
Hệ số tương đồng di truyền và khoảng cách di truyền giữa 4 quần thể Thông lá dẹt nhận được sau khi so sánh các cặp quần thể với nhau và được ghi nhận ở bảng3.4
Bảng 3.4 Hệ số tương đồng di truyền (dưới) và khoảng cách di truyền(trên) theo
Nei (1973) giữa các quần thể Thông lá dẹt phân tích với chỉ thị ISSR
Yang Ly Cổng Trời Hòn Giao Chư Yang Sin
Chư Yang Sin 0,953 0,939 0,969
Kết quả trong Bảng 3.4 chỉ ra các quần thể Thông lá dẹt nghiên cứu có hệ sốtương đồng di truyền cao (>0,9), trung bình đạt 0,958 Như vậy giữa 4 quần thểTrong đó quần thể Hòn Giao và quần thể Chư Yang Sin có hệ số tương đồng ditruyền cao nhất (0,969) và thấp nhất là giữa quần thể Cổng Trời và quần thể ChưYang Sin (0,939) Khoảng cách di truyền giữa các quần thể dao động từ 0,031 (giữaquần thể Chư Yang Sin và Hòn Giao) đến 0,063 (giữa quần thể Chư Yang Sin vàCổng Trời), trung bình 0,043
Mối quan hệ di truyền giữa 4 quần thể Thông lá dẹt
Phân tích NJ (Neighbor Joining) trên cơ sở khoảng cách di truyền theo Nei(1973) đã tìm thấy mối quan hệ giữa các quần thể Thông lá dẹt với nhau (hình 3.3).Kết quả từ hình 3.3 cho thấy các quần thể Thông lá dẹt hình thành 2 nhóm riêngbiệt Nhóm thứ nhất gồm 2 quần thể Yang Ly và Cổng Trời với khoảng cách ditruyền 0,034 Nhóm thứ hai gồm 2 quần thể còn lại (Hòn Giao và Chư Yang Sin)với khoảng cách di truyền 0,031
Trang 31Hình 3.3 Sơ đồ hình cây thể hiện mối quan hệ di truyền của 4 quần thể Thông lá
Cặp mồi Pt30204: Kết quả điện di sản phẩm PCR-SSR của 70 mẫu Thông lá
dẹt với cặp mồi Pt30204 được thể hiện trong hình 3.4 Tổng số 4 phân đoạn DNAnhân bản được thì cả 4 phân đoạn đa hình (chiếm tỷ lệ 100 %) Đây là một trong haicặp mồi có 100 % phân đoạn đa hình Các phân đoạn DNA nhân bản được có kíchthước dao động từ 120 đến 205 bp Sự đa hình DNA giữa các mẫu Thông lá dẹtđược thể hiện tương đối rõ khi phân tích với cặp mồi Pt30204, ở vị trí 120 bp (hình
→) có 5 mẫu Pk7, Pk30, Pk43, Pk44 và Pk45 (tương ứng các giếng số 7, 30, 43, 44
và 45) xuất hiện phân đoạn DNA, 65 mẫu còn lại đều không xuất hiện phân đoạn
Trang 32DNA Hay tại vị ví 160 bp (hình ←) tất cả các mẫu đều xuất hiện phân đoạn DNAtrừ các mẫu Pk14, Pk17, Pk24, Pk25, Pk26, pk54 và Pk59 (tương ứng các giếng số
14, 17, 24, 25, 26, 54 và 59) Như vậy kết quả phân tích với cặp mồi Pt30204 đã chỉ
ra sự đa dạng DNA giữa 70 mẫu Thông lá dẹt nghiên cứu
Hình 3.4 Sản phẩm PCR-SSR của 70 mẫu Thông lá dẹt phân tích với cặp mồi
Pt30204 trên gel poly acrylamide 5% (giếng 1-70 thứ tự của các mẫu Thông lá dẹtnhư trong bảng 1, M: marker phân tử 100bp)
Đa dạng di truyền của 4 quần thể Thông lá dẹt
Đa dạng di truyền trong bốn quần thể Thông lá dẹt với chỉ thị SSR được chỉ ra
ở bảng 3.5 Giá trị alen quan sát trung bình (Na) thay đổi từ 1,765 (quần thể Yang
Ly) đến 2,118 (quần thể Chư Yang Sin) với giá trị trung bình của 4 quần thể là
1,912 Số alen hiệu quả (Ne) dao động từ 1,455 (quần thể Hòn Giao) đến 1,667
(quần thể Cổng Trời) với giá trị trung bình là 1,529
Số alen hiếm trên một locus (Ap) chỉ tìm thấy ở ba quần thể Yang Ly (0,059),
Cổng Trời (0,118) và quần thể Chư Yang Sin (0,294) Cụ thể đã tìm thấy alen hiếm
ở lô cút RPE24 và PRS2 tại Cổng Trời; locus PtTX3020 tại Yang Ly; locusPtTX3020, PtTX3026, Pt26081 và PRS2 tại Chư Yang Sin Không tìm thấy alenhiếm tại quần thể Hòn Giao
Trang 33Giá trị của hệ số gen dị hợp tử quan sát (Ho) khác nhau giữa các quần thể,
trung bình 0,303 dao động từ 0,271 ở quần thể Yang Ly đến 0,332 ở quần thể Chư
Yang Sin Trong khi đó giá trị hệ số gen dị hợp tử mong đợi (He) dao động từ 0,200
ở quần thể Hòn Giao đến 0,250 ở quần thể Cổng Trời Giá trị Ho và He cao được
tìm thấy ở mức độ loài, với giá trị 0,310 và 0,234, tương ứng Kiểm định cân bằngHardy-Weinberg đã chỉ ra sự khác nhau có ý nghĩa giữa hệ số gen dị hợp tử quansát và mong đợi tại locus PRE24, PtTX3020, Pt9383, Pt26081, Pt30204, RPS2 vàPt71936 (p<0,001) và locus Pt36480 (p<0,05) Sự khác nhau có ý nghĩa giữa hệ sốgen dị hợp tử quan sát và mong đợi cũng được tìm thấy ở một số locus ở mức độquần thể của loài Thông lá dẹt Sự khác nhau này được tìm thấy ở locus Pt71936(p<0,05) cho quần thể Yang Ly; locus PtTX3020, Pt71936 (p<0,001), locusPt36480, Pt26081, Pt30204 (p<0,05) cho quần thể Cổng Trời; locus PRE24,PtTX3020, Pt9383, RPS2, Pt71936 (p<0,001) và locus Pt30204 (p<0,05) cho quầnthể Hòn Giao; locus PRE24, Pt30204, RPS2, Pt71936 (p<0,001), locus Pt2030(p<0,05), locus Pt9383 (p<0,01) cho quần thể Chư Yang Sin (Số liệu không chỉ ra ởđây)
Bảng 3.5 Một số thông số đa dạng di truyền của từng quần thể Thông lá dẹt phân
tích với chỉ thị SSR
Quần thể
Mức độ quần thể
Mức độ loài
Giá trị chỉ số đa dạng di truyền Shannon (I) được tính toán cao nhất ở quần thể Cổng Trời (I = 0,415), sau đó đến quần thể Chư Yang Sin (I = 0,390), tiếp theo
Trang 34là quần thể Yang Ly (I = 0,373) và thấp nhất là quần thể Hòn Giao (I = 0,330) Tuy
nhiên xét về khía cạnh đa hình của các phân đoạn DNA cho thấy tính đa dạng di
truyền quần thể không khác biệt nhau nhiều ở cả ba quần thể Yang Ly (PPB = 52,93 %), Cổng Trời (PPB = 52,95 %) và Chư Yang Sin (PPB = 52,94 %), và thấp hơn cả vẫn là quần thể ở Hòn Giao (PPB = 47,06 %).
Thông qua kết quả trong bảng 3.5 cho thấy tính đa dạng di truyền thấp đốivới quần thể Hòn Giao và cao ở quần thể Chư Yang Sin Trong bốn quần thể nghiêncứu thì quần thể Chư Yang Sin thuộc tỉnh Đắc Lắc, còn ba quần thể Yang Ly, CổngTrời và Hòn Giao thuộc tỉnh Lâm Đồng (khoảng cách giữa quần thể Hòn Giao vàCổng Trời là 54 km; Hòn Giao và Yang Ly 4 km, Cổng Trời và Yang Ly là 50 km;Chư Yang Sin và Hòn Giao, Yang Ly, Cổng Trời là 74; 70 và 40 km, tương ứng).Điều này cũng có thể liên quan tới khác biệt địa lý, sự thay đổi khí hậu, sự trao đổi
di truyền của mỗi quần thể,… [41] Hơn nữa trong quá trình điều tra thực địa, chúngtôi cũng nhận thấy quần thể Thông lá dẹt ở Cổng Trời có số lượng cây trưởng thànhnhiều nhất (có 10 cây với đường kính 1,5 - 2 m, cao 30 - 40 m) so với các quần thể
ở Hòn Giao và Yang Ly (thường là cây tái sinh có chiều cao khoảng trên 10 m) Kếtquả này cho phép nhận định việc giao phấn (pollilation) ở Cổng Trời cao hơn haiquần thể Yang Ly và Hòn Giao
Để có thêm cơ sở về tính đa dạng di truyền loài Thông lá dẹt, chúng tôi cũng
đã phân tích thêm một số thông số di truyền của quần thể Thông lá dẹt với mỗi cặpmồi SSR và được thể hiện trong bảng 3.6 cho thấy, 8 trong số 17 cặp mồi SSR phântích (PRE24, PtTX3020, Pt36480, Pt9383, PtTX3026, Pt26081, Pt30204 và RPS2)
đã chỉ ra tính đa hình Trong đó, giá trị alen trung bình (Na) cao nhất là cặp mồi
PRE24 (4,5) và thấp nhất là cặp mồi Pt26081 (1,75) Kết quả phân tích SSR cũng
cho thấy mức độ di nhập gen (Nm) tương đối cao của quần thể Thông lá dẹt khi phân tích với cặp mồi Pt9383 (Nm = 10,796 và Fst = 0,023) và thấp nhất là cặp mồi Pt26081 (Nm = 1,813 và Fst = 0,121) Kết quả này cho phép nhận xét việc di nhập
gen rất cao trong quần thể Thông lá dẹt
Trang 35Bảng 3.6 Thông số di truyền chính của quần thể Thông lá dẹt phân tích v ớ i t ừ n g
Mức độ thay đổi phân tử (AMOVA) giữa các quần thể và giữa các cá thểtrong cùng quần thể ở bảng 3.7 đã chỉ ra, tổng mức độ thay đổi phân tử rất thấp giữacác quần thể (11,94 %) và cao giữa các cá thể trong cùng quần thể (88,06 %) với giá