MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ XĂNG DẦU 4 1.1. Nguồn gốc, vị trí của xăng dầu trong đời sống kinh tế xã hội nói chung. 4 1.2. Vai trò của xăng dầu trong phát triển kinh tế đối với các quốc gia phát triển và đang phát triển. 5 1.3. Vai trò của xăng dầu trong phát triển kinh tế đối với các quốc gia xuất nhập khẩu xăng dầu. 7 1.4. Đặc điểm của xăng dầu 8 1.5. Phân loại xăng dầu 9 CHƯƠNG II. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NHIÊN LIỆU Ở VIỆT NAM 12 2.1. Tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí 12 2.2. Các mỏ dầu khí tại Việt Nam 14 2.3. Xu hướng sản xuất những năm tới 15 CHƯƠNG III TÌNH HÌNH KINH DOANH NHIÊN LIỆU Ở VIỆT NAM 21 3.1. Thị trường xăng dầu ở Việt Nam 21 3.1.1. Giai đoạn trước năm 2000 21 3.1.2. Giai đoạn từ năm 2000 đến trước thời điểm Nhà nước công bố chấm dứt bù giá, vận hành giá xăng dầu theo thị trường (tháng 92008) 23 3.1.3. Giai đoạn từ cuối năm 2008 đến nay 25 3.2. Một số đặc điểm của thị trừờng xăng dầu nước ta. 26 3.2.1. Thị trường xăng dầu nước ta là thị trường nhập khẩu 100%. 27 3.2.2. Nguồn cung xăng dầu ở Việt Nam 28 3.2.3. Nhu cầu tiêu dùng xăng dầu ở Việt Nam 28 3.2.4. Cạnh tranh trên thị trường xăng dầu ở Việt Nam hiện nay 29 3.3. Tác động của việc phát triển thị trường xăng dầu ở Việt Nam hiện nay đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu 29 3.4. Đánh giá về tình hình phát triển thị trường xăng dầu ở Việt Nam 29 3.4.1. Những mặt đạt được 29 3.4.2. Những mặt còn hạn chế 30 3.2. Đánh giá chung về cơ chế quản lý nhà nước đối với thị trường xăng dầu và bài học kinh nghiệm 30 3.2.1. Những mặt đạt được: 30 3.2.2. Những mặt còn hạn chế: 31 KẾT LUẬN 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ XĂNG DẦU 4
1.1 Nguồn gốc, vị trí của xăng dầu trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung 4
1.2 Vai trò của xăng dầu trong phát triển kinh tế đối với các quốc gia phát triển và đang phát triển 5
1.3 Vai trò của xăng dầu trong phát triển kinh tế đối với các quốc gia xuất nhập khẩu xăng dầu 7
1.4 Đặc điểm của xăng dầu 8
1.5 Phân loại xăng dầu 9
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NHIÊN LIỆU Ở VIỆT NAM 12
2.1 Tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí 12
2.2 Các mỏ dầu khí tại Việt Nam 14
2.3 Xu hướng sản xuất những năm tới 15
CHƯƠNG III TÌNH HÌNH KINH DOANH NHIÊN LIỆU Ở VIỆT NAM 21
3.1 Thị trường xăng dầu ở Việt Nam 21
3.1.1 Giai đoạn trước năm 2000 21
3.1.2 Giai đoạn từ năm 2000 đến trước thời điểm Nhà nước công bố chấm dứt bù giá, vận hành giá xăng dầu theo thị trường (tháng 9/2008) 23
3.1.3 Giai đoạn từ cuối năm 2008 đến nay 25
3.2 Một số đặc điểm của thị trừờng xăng dầu nước ta 26
3.2.1 Thị trường xăng dầu nước ta là thị trường nhập khẩu 100% 27
3.2.2 Nguồn cung xăng dầu ở Việt Nam 28
3.2.3 Nhu cầu tiêu dùng xăng dầu ở Việt Nam 28
3.2.4 Cạnh tranh trên thị trường xăng dầu ở Việt Nam hiện nay 29
3.3 Tác động của việc phát triển thị trường xăng dầu ở Việt Nam hiện nay đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu 29 3.4 Đánh giá về tình hình phát triển thị trường xăng dầu ở Việt Nam 29
3.4.1 Những mặt đạt được 29
3.4.2 Những mặt còn hạn chế 30
3.2 Đánh giá chung về cơ chế quản lý nhà nước đối với thị trường xăng dầu và bài học kinh nghiệm 30
3.2.1 Những mặt đạt được: 30
Trang 23.2.2 Những mặt còn hạn chế: 31
KẾT LUẬN 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Dầu mỏ, cùng với các sản phẩm dầu mỏ - trong đó có nhiên liệu là nguồn năng lượng không thể thiếu đối với loài người Nhiên liệu giải phóng năng lượng thông qua quá trình hóa học như cháy hoặc quá trình vật lý, ví dụ phản ứng nhiệt hạch, phản ứng phân hạch Tính năng quan trọng của nhiên liệu đó là năng lượng có thể được giải phóng khi cần thiết
và sự giải phóng năng lượng được kiểm soát để phục vụ mục đích của con người Trong các loại nhiên liệu thì xăng dầu là nhiên liệu thiết yếu cho tất cả các loại phương tiện vận tải hiện đại, giúp con người thuận tiện trong lưu thông, đi lại, máy móc trong sản xuất, gián tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội Vì vậy, xăng dầu có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt và sản xuất, thương mại
Trong bài tiểu luận này,em xin được tìm hiểu về đề tài : “Tìm hiều tình hình sản xuất và kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam”
Em xin cảm ơn thầy cô đã giúp đỡ em hoàn thành bài tiểu luận này
Dù đã cố gắng nhưng bài tiểu luận này em không tránh được những sai sót mong thầy cô góp ý cho em
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 4CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ XĂNG DẦU
1.1 Nguồn gốc, vị trí của xăng dầu trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung.
Từ hàng ngàn năm trước công nguyên, loài người đã tìm thấy dầu mỏ xuất hiện lộ thiên
ở rất nhiều nơi trên trái đất Tuy nhiên, thời đó dầu mới chỉ được khai thác bằng phương pháp sơ khai và thường được sử dụng trong chiến tranh, sau đó là sản xuất muối ăn Cho tới thế kỷ 19, người ta mới bắt đầu khai thác dầu theo mô hình công nghiệp để khai thác lấy chất đốt cho đèn thay thế các loại chất đốt trước kia là dầu cá voi và nến bằng mỡ Từ giữa thế kỷ 19 một số nhà khoa học đã áp dụng nhiều phương pháp để khai thác dầu một cách thương mại Người ta bắt đầu đi tìm kiếm những mỏ dầu lớn và cho tới khi nhà địa chất Hoa Kỳ Edwin L.Drake phát hiện ra mỏ dầu lớn đầu tiên tại Pennsylvania vào ngày
27 tháng 8 năm 1859 đã đánh dấu một bước ngoặt cho ngành năng lượng toàn cầu Kể từ
đó, dầu mỏ trở thành nguồn năng lượng không thể thiếu đối với con người
Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất dùng để sản xuất điện và cũng lànhiên liệu chủ yếu cho các phương tiện vận tải Thông qua quá trình lọc hóa dầu người ta thu được các sản phẩm của dầu mỏ và sử dụng chúng vào các mục đích khác nhau, trong
đó nhiều nhất là các sản phẩm xăng dầu Trước đây, các sản phẩm của xăng dầu chủ yếu
để làm chất đốt, xăng dùng làm chất tẩy các vết bẩn trên quần áo Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế -xã hội và khoa học kỹ thuật, xăng dầu đã xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như vận tải, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp v.v
Ngày nay trong bất kỳ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào cũng chứa một lượng chi phí xăng dầu nhất định, tùy theo nhu cầu sử dụng chi phí lớn nhỏ cũng khác nhau
Một trong những ngành tiêu thụ xăng dầu nhiều nhất đó là ngành giao thông vận tải Tất
cả các phương tiện giao thông hiện đại như xe máy, ô tô, tàu hỏa, máy bay, tàu thủy hiện nay đều phải sử dụng nhiên liệu xăng hoặc dầu để vận hành, các loại dầu bôi trơn để bảo dưỡng máy móc Trên thực tế, cho tới nay vẫn chưa có một loại nhiên liệu nào dùng cho
Trang 5động cơ có thể thay thế tốt hơn và hiệu quả hơn nhiên liệu xăng dầu Do đó, trong giá thành sản phẩm ngành vận tải, chi phí xăng dầu chiếm xấp xỉ 40% tổng giá thành, trong ngành sản xuất nhiệt điện, chi phí xăng dầu chiếm 22-25% tổng giá thành, đối với các ngành sản xuất công nghiệp, chi phí xăng dầu khoảng 5-17%, ngành nông nghiệp chi phí xăng dầu chiếm ít hơn, khoảng 3-15% Riêng đối với ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, chi phí xăng dầu cho ngành này chiếm từ 70-80% tổng phí của một chuyến đi biển
Có thể thấy chi phí xăng dầu là một bộ phận chi phí quan trọng trong giá thành sản phẩm
Nó có ảnh hưởng trực tiếp tới tổng giá thành đồng thời chính là một bộ phận trong cấu thành giá trị sản phẩm
Đối với các ngành sản xuất vật chất như sản xuất xi măng, than, thép, điện, dệt may, xăng dầu được dùng trong các dây chuyền sản xuất để tiến hành các hoạt động sản xuất, bảo đảm cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, hiệu quả Ví dụ, các loại dầu bôi trơn dùng để kéo dài tuổi thọ cho máy móc, các loại dầu mỡ được sử dụng nhằm mục đíchbảo dưỡng và hạn chế hao mòn thiết bị
Đối với lĩnh vực quốc phòng và an ninh, xăng dầu lại đóng vai trò đảm bảo phát huy sức mạnh chiến đấu và khả năng phòng thủ bảo vệ đất nước Cụ thể: các loại máy bay, tênlửa cần một số loại xăng dầu chuyên biệt như xăng máy bay, dầu diesel, dầu hỏa ; các loại vũ khí cũng cần dầu nhớt để bảo dưỡng
Do vậy, ngày nay, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, xăng dầu đều chiếm 1 vị trí quan trọng và có giá trị lớn Xăng dầu không chỉ là yếu tố đảm bảo cho hoạt động sản xuất diễn ra bình thường mà còn có vai trò tham gia vào việc tạo ra giá trị xã hội, làm cho kinh tế ngày càng phồn vinh, đời sống ngày càng phát triển
1.2 Vai trò của xăng dầu trong phát triển kinh tế đối với các quốc gia phát triển và đang phát triển.
Xét theo khía cạnh từng khu vực và quốc gia trên thế giới, sự thiết yếu của xăng dầu
thể hiện ở lượng tiêu thụ sản phẩm này Theo tổng hợp số liệu từ EIA từ năm 2002 tới
2006 cho thấy lượng tiêu thụ xăng dầu của thế giới không ngừng gia tăng Mức tiêu thụ dầu của từng khu vực được thể hiện rõ rệt trong biểu đồ dưới đây:
Trang 6Khu vực tiêu thụ lượng dầu lớn nhất là Bắc Mỹ, trong giai đoạn 2002-2006, mỗi ngày khu vực này tiêu thụ trung bình từ 24-25 triệu thùng dầu Trong đó chỉ tính riêng nước
Mỹ đã tiêu thụ trung bình khoảng 20 triệu thùng dầu mỗi ngày và luôn là quốc gia tiêu thụnhiều dầu nhất trên thế giới trong nhiều thập kỷ trở lại đây Tiếp đó là khu vực châu Á và châu Đại Dương, kể từ năm 2002 tới nay lượng tiêu thụ dầu ở khu vực này liên tục tăng
và ngày càng có xu hướng cân bằng với khu vực châu Mỹ Trong đó phải kể đến 2 quốc gia tiêu thụ dầu lớn thứ 2 và thứ 3 thế giới là Trung Quốc (trung bình 7 triệu thùng/ngày)
và Nhật Bản (trung bình 5 triệu thùng/ngày) Trong khi đó, các khu vực kém phát triển như Âu Á và châu Phi chỉ cần đến một lượng dầu khá khiêm tốn, khoảng từ 3-4 triệu thùng/ngày và tốc độ tiêu thụ tăng không đáng kể
Như vậy, không thể phủ nhận mối tương quan giữa trình độ phát triển kinh tế với nhu cầu tiêu dùng xã hội, đặc biệt là nhu cầu về năng lượng Nhìn chung, các quốc gia có lượng tiêu thụ xăng dầu lớn trên thế
giới đều thuộc nền kinh tế phát triển Nguyên nhân do kinh tế càng phát triển, các lĩnh vực sản xuất, vận tải, công nghiệp càng cần tiêu thụ nhiều năng lượng hơn, nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Hơn nữa, mức sống của người dân được cao làm tăng
Trang 7nhu cầu sử dụng các trang thiết bị hiện đại sử dụng năng lượng, hoặc các phương tiệ n giao thông để phục vụ cho hoạt động đi lại, du lịch Ngược lại, đối với các nước đang pháttriển và kém phát triển thì nhu cầu năng lượng thấp hơn tuy nhiên các nước này nên cần đẩy nhanh nhu cầu sử dụng năng lượng để hỗ trợ các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại phát triển Cho tới nay, xăng dầu vẫn là nguồn năng lượng chính cần thiếtcho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới.
1.3 Vai trò của xăng dầu trong phát triển kinh tế đối với các quốc gia xuất nhập khẩu xăng dầu.
Đối với các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ, dầu trở thành mặt hàng quan trọng trong xuất khẩu và mang lại nguồn thu vô cùng lớn cho ngân sách nhà nước, làm tăng GDP, tăng thu ngoại tệ Dầu mỏ là tài nguyên thiên nhiên quý và có giá trị cao do đó bất kỳ một quốc gia nào có ưu thế về tài nguyên dầu mỏ, biết đầu tư và khai thác sẽ đem lại lợi ích không nhỏ cho nền kinh tế nước mình Một số quốc gia trước đây có nền kinh tế phát triển chậm,nghèo nàn nhưng nhờ có các mỏ dầu lớn đã nhanh chóng trở nên giàu có như Ả rập Saudi,
Cô Oét, Li bi, Mexico, Venezuela Trong những năm trở lại đây, Việt Nam bắt đầu tập trung vào lĩnh vực thă m dò khai thác dầu và đạt được kim ngạch xuất khẩu ngày càng cao, tổng lượng dầu thô xuất khẩu giai đoạn 2001-2005 ước đạt 90 triệu tấn, trị giá đạt 23,2 tỷ USD Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đã có đóng góp không nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nói chung Trong khoảng chục năm, dầu thô nhanh chóng trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu lớn và giữ vị trí chiến lược trên thị trường xuất khẩucủa Việt Nam
Đối với các nước nhập khẩu dầu xăng dầu lớn, bên cạnh mặt tích cực của những giá trị kinh tế do dầu mỏ mang lại, vẫn tồn tại những mặt tiêu cực khó tránh khỏi từ tác động củaviệc tăng giá dầu Những dấu mốc đáng ghi nhận trong lịch sử về ảnh hưởng của giá dầu trên thế giới là 2 cuộc khủng hoảng dầu năm 1973-1974 và 1979-1980 Khủng hoảng dầu gây ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các nước nhập khẩu dầu và nguy cơ lạm phát rất lớn Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 khiến giá dầu thế giới tăng gấp 4 lần (từ 2,89
USD/thùng lên 11,65 USD/thùng) nền kinh tế Nhật bị ảnh hưởng nặng nề, mức tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản giảm từ mức trung bình 10%/năm xuống còn 3,6%/năm
Trang 8trong suốt những năm từ 1974 tới 1979 Tại Mỹ, giá xăng dầu tăng nhanh từ 38,5 cent/ gallon (05/1973) lên tới 55,1 cent/ gallon (06/1974), đồng thời, cổ phiếu chứng khoán New york lỗ 97 tỷ USD trong 6 tuần7 Trong các giai đoạn khủng hoảng, nguồn cung giảm mạnh, giá dầu thô trên thế giới liên tục tăng kỷ lục, dẫn tới khủng hoảng chung cho toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là các quốc gia phụ thuộc lớn vào nguồn dầu mỏ.
1.4 Đặc điểm của xăng dầu
Xét về đặc tính lý hóa, xăng dầu là dạng hóa chất ở thể lỏng, dễ bốc cháy, nhạy cảm với nhiệt độ môi trường Do đó, việc bảo quản, chuyên chở và sử dụng xăng dầu cũng cần có những yêu cầu khác hẳn với các mặt hàng khác như: phương tiện, thiết bị chuyên dùng, công tác bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy Hơn nữa, xăng dầu là sản phẩm dễ bị hao mòn hữu hình thông qua quá trình vận chuyển như: bay hơi, dễ kém hoặc mất phẩm chất Vì vậy, yêu cầu về bảo quản để đảm bảo chất lượng xăng dầu là tương đối cao và phải được chú trọng, nếu không giá trị của xăng dầu sẽ giảm Từ đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu như: tăng chi phí hao hụt khi xăng dầu bị bay hơi trong quá trình vận chuyển, bảo quản không tốt khiến chất lượng kém
Bảng 1.2 : Mức độ hao hụt xăng dầu trong quá trình vận chuyển
Hình thức vận chuyển Mức hao hụt của xăng(%) Mức hao hụt của dầu(%)
Trang 9quá trình tiêu dùng xăng dầu là quá trình gián tiếp tham gia vào giá trị của các sản phẩm, hàng hóa khác Đặc tính của xăng dầu có tính đặc biệt như trên nên việc sử dụng xăng dầutrong đời sống và sản xuất không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Việc tiết kiệm xăng dầu trong quá trình sử dụng còn phải xem xét dựa trên nhiều yếu tố, xét trên toàn bộ quá trình hoạt động, sản xuất xem có phù hợp hay không, để không ảnh hưởng tớilợi ích kinh tế của xã hội.
Với những đặc tính như trên, có thể thấy những yếu tố khách quan như điều kiện môi trường, khí hậu, quá trình vận chuyển và bảo quản.cũng là các nhân tố có ảnh hưởng tới mặt hàng này
1.5 Phân loại xăng dầu
Xăng dầu là chỉ các sản phẩm của quá trình lọc dầu mỏ, dùng làm nhiên liệu, bao gồm: xăng động cơ, dầu diesel, dầu hỏa, dầu mazut, nhiên liệu máy bay; các sản phẩm khác dùng làm nhiên liệu động cơ, không bao gồm các loại khí hóa lỏng Các sản phẩm lọc dầuthô dưới các điều kiện nhiệt độ khác nhau sẽ tạo ra các sản phẩm xăng dầu khác nhau Mỗi loại sản phẩm đó lại có các chức năng khác nhau và được dùng trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống sinh hoạt và sản xuất Việc định giá loại xăng dầu nào sẽ phụ thuộc vào
sự thiết yếu của sản phẩm, tính phức tạp trong quy trình lọc hóa dầu để tạo ra được sản phẩm đó Do đó, để hiểu rõ tầm quan trọng của các sản phẩm xăng dầu trước hết cần tìm hiểu các chủng loại, đặc tính của từng loại và ứng dụng thực tiễn của chúng
Như đã biết, sản phẩm bắt nguồn là dầu thô, hay tên khác là dầu mỏ, còn được ví như
“vàng đen”, là một chất lỏng đặc màu nâu hoặc ngả lục Hiện
nay dầu thô chủ yếu dùng để sản xuất dầu hỏa, diezen, và xăng nhiên liệu Ngoài ra dầu thô cũng là nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ra các sản phẩm của ngành hóa dầu như dung môi, phân bón hóa học, nhựa, thuốc trừ sâu, nhựa đường Khoảng 88% dầu thô dùng để sản xuất năng lượng, 12% còn lại dùng cho hóa dầu Theo ước tính, trữ lượng dầu mỏ thế giới khoảng từ 1.148 tỉ thùng tới 1.260 tỉ thùng Tuy nhiên, do dầu thô là nguồn năng lượng không tái tạo được nên theo ước tính trong khoảng 50 năm nữa nguồn dầu thô sẽ cạn kiệt
Trang 10Các thành phần hóa học của dầu thô được chia tách bằng phương pháp chưng cất phân đoạn sẽ tạo ra các sản phẩm dầu mỏ Khi chưng cất dầu thô ở các nhiệt độ khác nhau sẽ thu được các sản phẩm khác nhau như sau:
Xăng ê te: 40-700C (được sử dụng như là dung môi) Xăng ê te thu được từ chưng cất phân đoạn dầu mỏ như là sản phẩm trung gian giữa xăng naphta nhẹ hơn và dầu hỏa nặng hơn
Xăng nhẹ: 60-1000C: Xăng là một loại dung dịch nhẹ chứa hydrocacbon, dễ bay hơi, dễbốc cháy, cất từ dầu mỏ Xăng được sử dụng như một loại nhiên liệu, dùng để làm chất đốt cho các loại động cơ xăng Xăng được dùng trong các loại máy móc như xe máy, ô tô,máy bay, máy phát điện Trên thế giới, các quốc gia tiêu thụ lượng xăng lớn nhất là Hoa
Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản
Xăng nặng: 100- 1500C: dùng làm nhiên liệu cho ô tô
Xăng máy bay: loại nhiên liệu có chỉ số Octan cao (Octan: chỉ số biểu thị khả năng chống
kích nổ của xăng), chỉ được sử dụng trong các loại máy bay có sử dụng động cơ đốt trong,các máy bay phản lực và các động cơ tuốc bin sử dụng kê rô si làm nhiên liệu
Các loại xăng dùng cho ô tô và xe máy gồm có: xăng Mogas 83, xăng Mogas 90, xăng
Mogas 92, xăng Mogas 95 Xăng Mogas 95 có chỉ số Octan cao, có ưu điểm hơn các loại xăng Mogas 90, 92 nên chúng phù hợp nhất với các loại xe ga cao cấp Các loại xăng Mogas 83, Mogas 90, Mogas 92 thường dùng với những loại ô tô, xe máy thông thường Tuy vậy, loại xăng nào có chỉ số Octan càng cao, biểu thị chất lượng và độ an toàn cao, thìgiá càng cao
Trên thị trường xăng dầu hiện nay song song tồn tại 2 loại: xăng pha chì và không pha chì Các loại xăng pha chì có hại cho môi trường và sức khỏe con người Trên thế giới khoảng trên 90% tổng lượng xăng không pha chì, chủ yếu được tiêu thụ ở các nước phát triển, 10% còn lại tiêu thụ ở các nước đang phát triển Nước ta vẫn đang tiếp tục nghiên cứu các phương án loại bỏ hoàn toàn loại xăng pha chì trên thị trường Tuy nhiên, theo tính toán của Ngân hàng thế giới và thực tiễn áp dụng ở Thái Lan, giá thành của xăng không pha chì cao hơn xăng pha chì từ 0,015-0,02 USD/lít Do đó, vẫn cần một biện
Trang 11pháp phù hợp nhằm giải quyết trở ngại giữa mức sống trung bình của người dân và một mức giá xăng hợp lý, chất lượng đảm bảo.
Ngoài các loại xăng, dầu thô còn được chưng cất thành sản phẩm dầu các loại, cụ thể:
Dầu hỏa nhẹ: 120- 1500C: dùng làm dung môi, chất làm sạch bề mặt và các sản phẩm làm khô nhanh khác
Dầu hỏa: là hỗn hợp của các hydrocacbon lỏng không màu, dễ bắt cháy Nó thu được từ
chưng cất phân đoạn dầu mỏ từ nhiệt độ 1500C đến 2750C Trước kia dầu hỏa được sử dụng như nhiên liệu cho các đèn dầu hỏa, hiện nay nó được sử dụng chủ yếu làm nhiên liệu cho máy bay phản lực Một dạng dầu hỏa khác là RP-1 được sử dụng làm nhiên liệu cho tên lửa
Dầu diezen: 250- 3500C, là một loại nhiên liệu lỏng, sản phẩm tinh chế từ dầu mỏ có thành phần chưng cất nằm giữa dầu hỏa và dầu bôi trơn Chúng dùng được làm nhiên liệu cho động cơ diezen hoặc làm dầu sưởi Các nhiên liệu diezen nặng hơn, với nhiệt độ bốc hơi từ 315 tới 4250C còn gọi là dầu Mazut Dầu diezen thường được sử dụng cho tàu thủy
Dầu bôi trơn: > 3000C, dầu bôi trơn động cơ, còn gọi là dầu nhớt, dầu nhờn Dầu bôi trơnđộng cơ chiếm khoảng 40% dầu bôi trơn ở các nước công nghiệp
Ngoài các sản phẩm chính trên còn có một số sản phẩm khác thu được từ quá trình lọc dầu như: hắc ín, nhựa đường, các nhiên liệu khác
Có thể thấy dầu mỏ là một loại hàng hóa đa tính năng Các sản phẩm thu được từ dầu hỏa rất phong phú và đa công dụng, mỗi loại chuyên dùng cho một loại máy móc khác nhau Thông qua chức năng và phạm vi sử dụng của các sản phẩm này càng thấy rõ sự cần thiết của chúng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống
Trang 12CHƯƠNG II TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NHIÊN LIỆU Ở VIỆT NAM
2.1 Tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí
Hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí của Petrovietnam đã được triển khai từ rất sớm (năm 1961), chủ yếu được thực hiện với sự giúp đỡ của Liên Xô tại phía Bắc Saukhi Việt Nam có chính sách đổi mới năm 1986 và ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm
1987, công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí được triển khai mạnh mẽ, nhất là trên thềm lục địa Nhiều công ty đã phát hiện dầu khí như Total ở vịnh Bắc Bộ, Shell ở biển miền Trung, ONGC và BP ở bể trầm tích Nam Côn Sơn…
Trong giai đoạn đầu, hoạt động tìm kiếm thăm dò chủ yếu do các công ty dầu khí nước ngoài thực hiện và Petrovietnam chỉ chính thức góp vốn đầu tư khi có phát hiện thương mại Đến nay, Petrovietnam đã có thể tự thực hiện tìm kiếm thăm dò dầu khí bằng cách tựlực hoặc hợp tác với đối tác nước ngoài, không chỉ thực hiện với các lô có tiềm năng gần
bờ mà còn thực hiện tìm kiếm thăm dò tại các lô nước sâu, xa bờ Nhờ đó, hàng năm Petrovietnam đều có trữ lượng dầu khí gia tăng Trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm
2015, trữ lượng dầu khí gia tăng của Petrovietnam lần lượt là 43; 35,6; 48,32; 40,5 triệu tấn quy dầu
Việt Nam bắt đầu khai thác khí từ năm 1981 (mỏ khí Tiền Hải C - Thái Bình) và khai thácdầu cùng với khí đồng hành từ năm 1986 (mỏ Bạch Hổ ở thềm lục địa phía Nam) Từ đó, Việt Nam bắt đầu có tên trong danh sách các nước khai thác, xuất khẩu dầu thô trên thế giới Tính đến ngày 31/12/2015 toàn Ngành Dầu khí đã khai thác được 352,68 triệu tấn dầu và 114,03 tỷ m3 khí cộng dồn Trong đó, các mỏ dầu trong đá móng chiếm tới 80% trữ lượng và sản lượng khai thác dầu của Việt Nam Trong giai đoạn 1986 - 2013, sản lượng khai thác dầu, khí đã tăng lên đáng kể, trung bình đạt trên 16 triệu tấn dầu thô/năm, sản lượng khí cũng đạt trên 7 tỷ m3 /năm, tương đương 0,5% sản lượng dầu thô và 0,2% tổng sản lượng khí toàn thế giới Riêng năm 2014, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
đã khai thác được 17,39 triệu tấn dầu thô và 10,21 tỷ m3 khí Sản lượng dầu thô tăng lên
Trang 1318,75 triệu tấn trong năm 2015, đồng thời sản lượng khí khai thác cũng tăng lên và đạt 10,67 tỷ m3
Biểu đồ Hình 1 cho thấy sản lượng khai thác dầu thô của cả nước tăng ổn định từ sau chính sách đổi mới năm 1986 và đạt đỉnh vào năm 2004 với trên 20 triệu tấn/năm Tuy nhiên sản lượng khai thác dầu thô bắt đầu đi xuống từ năm 2005 do sản lượng từ các mỏ lớn như mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng suy giảm mạnh và việc đưa nhiều mỏ nhỏ vào khai thác không thể bù đắp được mức sụt giảm này Giai đoạn từ năm 2006 - 2010 đã có 14 mỏ nhỏđược đưa vào khai thác nhưng sản lượng khai thác chỉ tăng nhẹ trong năm 2009 sau đó tiếp tục đà sụt giảm Trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2015, 36 mỏ và công trình dầu khí
đã được đưa vào khai thác, trong đó 26 mỏ/công trình trong nước, 10 mỏ/công trình ở nước ngoài Công tác tìm kiếm thăm dò hiện nay phải tiến hành tại những khu vực xa bờ
và nước sâu nên chi phí lớn và mất nhiều thời gian hơn, các phát hiện dầu khí gần đây chủyếu là các mỏ có trữ lượng nhỏ
Trang 14Hình 2 thể hiện sản lượng khai thác khí của Petrovietnam đến năm 2015 Từ năm 1986 đến năm 1997 sản lượng khai thác khí tăng không đáng kể, đà tăng mạnh diễn ra trong giai đoạn từ năm 1997 đến nay Theo số liệu thống kê của Petrovietnam, tính đến tháng 12/2015 tổng sản lượng khai thác khí đạt trên 111,88 tỷ m3 , riêng năm 2015 đạt 10,67 tỷ m3 , mức cao nhất kể từ năm 1981 đến nay
2.2 Các mỏ dầu khí tại Việt Nam
Tính đến cuối năm 2013, trong nước có 9 lô hợp đồng có hoạt động phát triển mỏ và 13 hợp đồng có hoạt động khai thác dầu khí (từ 14 mỏ/cụm mỏ dầu và 6 mỏ/ cụm mỏ khí) Toàn Ngành đã khai thác được 268,31 triệu tấn dầu thô; trong đó, sản lượng khai thác từ Vietsopetro đạt 189,9 triệu tấn, sản lượng khai thác từ PVEP đạt 78,3 triệu tấn Riêng năm
2013, sản lượng khai thác dầu thô là 15,25 triệu tấn, khí là 9,75 tỷ m3 ; năm 2014 sản lượng khai thác dầu thô đạt 17,39 triệu tấn, khí đạt 10,21 tỷ m3
Đặc biệt trong năm 2015, mức sản lượng vẫn tiếp tục tăng và duy trì ở mức cao, dầu thô đạt 18,75 triệu tấn, khí 10,67 tỷ m3 Thông qua hoạt động phát triển, khai thác, trình độ
kỹ thuật - công nghệ của Petrovietnam đã được nâng lên, có khả năng điều hành công tác phát triển, khai thác các mỏ dầu khí ở khu vực nước sâu và xa bờ Đặc biệt, Petrovietnam
Trang 15đã phát hiện và tổ chức khai thác thành công, có hiệu quả các thân dầu trong đá móng trước Đệ Tam; mở ra một chương mới cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam; đồng thời đã có những đóng góp quan trọng cho khoa học công nghệ dầu khí cũng như công nghệ khai thác dầu trong đá móng của thế giới.
Những năm qua, Ngành Dầu khí Việt Nam đã nỗ lực đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm
dò, phát triển mỏ Quá trình tìm kiếm thăm dò trong giai đoạn 2011 - 2015 đã đưa được
36 mỏ và công trình dầu khí mới vào khai thác Trong đó, năm 2011 có 3 mỏ trong nước: Đại Hùng pha 2, Tê Giác Trắng, Chim Sáo và 2 mỏ nước ngoài: Visovoi, Dana Năm
2012 có 7 mỏ/công trình được đưa vào khai thác bao gồm 4 mỏ/công trình trong nước: giàn H4 mỏ Tê Giác Trắng, mỏ Gấu Trắng, Sư Tử Trắng, Lan Đỏ và 3 mỏ ở nước ngoài:
mỏ Tây Khosedayu, mỏ Junin 2, mỏ Nagumanov Năm 2013 và 2014 số lượng mỏ đưa vào khai thác tăng mạnh và đạt 9 mỏ mỗi năm Năm 2015 chỉ có 4 mỏ mới được đưa vào khai thác, đó là mỏ khí Thái Bình, mỏ Bir Seba Lô 433a-416b, giàn H5 Tê Giác Trắng và giàn Thỏ Trắng 2 Bên cạnh quá trình tìm kiếm thăm dò này còn triển khai công tác phát triển mỏ đối với các mỏ Sư Tử Trắng, giai đoạn 2 phát triển mỏ Đại Hùng, mỏ Hải Thạch
- Mộc Tinh - Lô 05-2 và 05-3, mỏ Tê Giác Trắng - Lô 16-1, mỏ Hải Sư Trắng và Hải Sư Đen - Lô 15-2/01, mỏ Chim Sáo, Dừa - Lô 12W Tuy nhiên các mỏ dầu này đều có trữ lượng nhỏ (mỏ dầu lớn nhất trong số các mỏ mới phát hiện là mỏ Sư Tử Đen với trữ lượng khoảng 100 triệu tấn, chỉ bằng 1/3 mỏ Bạch Hổ)
2.3 Xu hướng sản xuất những năm tới
Từng là nước phụ thuộc hoàn toàn vào xăng dầu nhập khẩu, Việt Nam đã dần dần đáp ứng nhu cầu xăng dầu nội địa nhờ các nhà máy lọc dầu đã, đang và sắp đi vào hoạt động như Dung Quất, Nghi Sơn
Theo tính toán, với sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế VN trong 5 năm tới, tổngnhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong cả nước từ năm 2018 đến năm 2022 trung bình đạt
khoảng 6,5 triệu tấn xăng và 8,5 triệu tấn dầu DO
Với nhu cầu tiêu thụ trên, hiện tại VN có Nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất đang hoạt động với công suất 6,5 triệu tấn dầu thô/năm Sản lượng Dung Quất đưa ra thị trường
Trang 16một năm khoảng 2,746 triệu tấn xăng và 3,068 triệu tấn dầu DO Sắp tới, NMLD Dung Quất tiến hành nâng cấp mở rộng nhà máy, nâng công suất chế biến lên 8,5 triệu tấn dầu thô/năm Dự kiến dự án hoàn thành vào năm 2021.
Nguồn cung xăng dầu nội địa lớn thứ 2 là NMLD Nghi Sơn vận hành thương mại vào năm 2018 Với công suất thiết kế 10 triệu tấn dầu thô/năm, dự kiến NMLD Nghi Sơn cung cấp khoảng 2,3 triệu tấn xăng và gần 3,7 triệu tấn dầu DO Ngoài ra, các nhà máy Condensate như PV Oil Phú Mỹ, Sài Gòn Petro, Nam Việt Oil, Đông Phương có công suất thiết kế khoảng 690.000 tấn xăng/năm
Như vậy, năm 2018, dự kiến tổng nguồn cung xăng dầu của 2 NMLD lớn bậc nhất Việt Nam đạt khoảng 6 triệu tấn/năm và gần 7 triệu tấn dầu DO/năm Sản lượng này tương ứng khoảng 92% xăng và 82% dầu DO nhu cầu tiêu thụ nội địa Con số thiếu hụt trung bình 0,8 triệu tấn xăng và 1,8 triệu tấn dầu DO mỗi năm sẽ được nhập khẩu từ các nước trong khu vực như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Hàn Quốc và Trung Quốc
Với sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường như trên, Công ty lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) - đơn vị quản lý vận hành NMLD Dung Quất đã và đang xây dựng chiến lược kinhdoanh nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm
Theo đó, BSR tập trung lập kế hoạch sản xuất theo khả năng vận hành thực tế của nhà máy và điều chỉnh linh hoạt theo thị trường, tối đa công suất các phân xưởng công nghệ,
áp dụng các sáng kiến, cải tiến nhằm tối ưu hóa năng lượng, tiết giảm chi phí, giảm tồn kho và tập trung sản xuất ra nhiều sản phẩm hóa dầu, sản phẩm có giá trị kinh tế cao Bên cạnh đó, BSR luôn chủ động mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng thị phần trong nước cũng như xây dựng phương án xuất khẩu sản phẩm sang nhiều nước lân cận trong khu vực như Lào, Campuchia, Indonesia…
Thị trườngxăng dầu Việt Nam chịu áp lực bởi cam kết quốc tế và của các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã cam kết Tính đến thời điểm hiện nay (2017) mức tiêu thụ xăng dầu vào khoảng 16 triệu m3 tấn, sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 40%, còn lại 60% phải nhập khẩu Nếu nhà máy lọc dầu Nghi Sơn đi vào hoạt động thương mại thì khả năng cân đối đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước Tuy nhiên thị trường xăng dầu Việt