luận văn, khóa luận, đề tài, tài liệu, thạc sĩ, cao học
Trang 1Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Cơ sở hình thành đề tài:
Trong những năm gần đây, cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao và dễ dàng tiếp cận với nhiều công nghệ hiện đại, tiên tiến Trên thực tế những công nghệ đó mang đến rất nhiều lợi ích cho con người trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống Một vấn đề quan trọng trong những lĩnh vực đó là việc liên lạc giữa con người với nhau, ngày nay việc sở hữu một chiếc điện thoại di động không còn là một việc quá khó khăn đối với mọi người Hầu hết ai cũng có thể mua cho mình một chiếc di động, nhưng vấn đề sử dụng mạng di động nào cho phù hợp luôn được mọi người quan tâm Nắm bắt được thị hiếu
đó, các nhà cung cấp dịch vụ mạng di động xuất hiện ngày càng nhiều và song song với việc cải tiến chất lượng, công nghệ nhằm thu hút khách hàng, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt trong thị trường cung cấp mạng di động trong nước
Bên cạnh những nhà cung cấp dịch vụ mạng di động trong nước đã xuất hiện sớm như: Mobifone, Vinaphone, Viettel, SFone… thì mới đây, lần đầu tiên một nhà cung cấp dịch vụ mạng di động của nước ngoài đã đầu tư vào Việt Nam, đó là mạng di động Beeline Mạng di động Beeline chỉ xuất hiện ở thị trường Việt Nam được bốn tháng nhưng trong tháng một vừa qua, Beeline đã vinh dự nhận giải thưởng “ Độ nhận diện thương hiệu xuất sắc nhất ” và “ Quảng cáo ngoài trời xuất sắc nhất ” do Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam tổ chức và bình chọn Những thành quả trên cho thấy mạng di động Beeline rất quan tâm đến thương hiệu của mình nhằm tăng tính cạnh canh trong thị trường di động hiện nay bằng nhiều chương trình quảng cáo, khuyến mãi Thiết nghĩ, trong thời gian sắp tới, mạng di động Beeline cần nâng cao thương hiệu của mình hơn nữa tại thị trường đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là thành phố Long Xuyên, An Giang vì Long Xuyên là thành phố trung tâm của tỉnh An Giang, là nơi có mật độ dân cư đông đúc và tiếp giáp với nhiều tỉnh thành trong khu vực Chính vì thế, muốn tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao thương hiệu của mình, Beeline cần có thêm nhiều thông tin của người dân thành phố Long Xuyên đối với mạng di động Beeline
Chính vì lý do trên, tôi chọn đề tài “ Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu
mạng di động Beeline của người dân thành phố Long Xuyên, An Giang ” để thực
hiện chuyên đề năm 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Dựa vào cơ sở hình thành trên, mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá được khả năng nhận biết thương hiệu của người tiêu dùng đối với mạng di động Beeline và để từ
đó đưa ra một số biện pháp cụ thể để nâng cao sự nhận biết của khách hàng đối với mạng
di động nàytrong thời gian sắp tới
Trang 2Việc phỏng vấn được tiến hành đối tượng là người dân thành phố Long Xuyên, không phân biệt đã sử dụng hay chưa sử dụng mạng di động Beeline.
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu:
Dữ liệu sơ cấp:
Trong nghiên cứu này sử dụng dàn bài phỏng vấn sâu để thảo luận với 5 người ngẫu nhiên Kết quả của lần phỏng vấn này là một bản câu hỏi, sẽ phỏng vấn thử 5 người nhằm chỉnh sửa cho bản câu hỏi được hoàn chỉnh Và cuối cùng là thu thập dữ liệu thông qua bản câu hỏi phỏng vấn chính thức về sự nhận biết thương hiệu của người dân thành phố Long Xuyên đối với mạng di động Beeline
1.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu:
Dữ liệu sau khi được thu thập về tiến hành xử lý, mã hóa bằng Excel rồi đem tổng hợp lại Sau khi dữ liệu đã được mã hóa, làm sạch, dữ liệu sẽ được phân tích theo phương pháp thống kê mô tả
1.5 Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả của đề tài nhằm cung cấp các thông tin cho mạng di động Beeline trong việc đánh giá được khả năng nhận biết của người dân thành phố Long Xuyên đối với thương hiệu của mình để từ đó có những kế hoạch phù hợp cho việc phát triển thương hiệu tại thị trường này trong tương lai
SVTH: Trần Thị Minh Thi
Trang 3cứu Đến chương 2 “ Cơ sở lý thuyết & Mô hình nghiên cứu”, đây là phần quan trọng
trong việc xác định hướng nghiên cứu của đề tài Trong chương này sẽ trình bày về những lý thuyết đã được chọn lọc phù hợp với đề tài để nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu Nội dung chương 2 gồm bốn phần chính: (1) Lý thuyết về thương hiệu; (2)
Lý thuyết về giá trị thương hiệu; (3) Xây dựng mô hình nghiên cứu
2.2 Lý thuyết về thương hiệu:
2.2.1 Định nghĩa về thương hiệu 1 :
Trong Marketing, thương hiệu được xem là trung tâm của các công cụ Marketing vì thương hiệu chính là những gì mà nhà marketing xây dựng và nuôi dưỡng để cung cấp lợi ích cho khách hàng mục tiêu của mình Khái niệm thương hiệu ra đời từ lâu, từ khi ra đời
và phát triển, khái niệm thương hiệu cũng được thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của ngành marketing Vì vậy, có nhiều quan điểm về thương hiệu Có thể chia theo hai quan điểm chính:
+ Theo quan điểm truyền thống về thương hiệu, định nghĩa của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ cho rằng: “Thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ, hay tổng hợp tất cả các yếu tố kể trên nhằm xác định một sản phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm) người bán và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh” Còn Philip Kotler thì định nghĩa: “Thương hiệu (brand) có thể được hiểu như là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng được xác nhận sản phẩm của người bán và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh”
Với quan điểm về truyền thống này, thương hiệu được hiểu như là một thành phần của sản phẩm chức năng chính của thương hiệu là để phân biệt sản phẩm này với sản phẩm cạnh tranh cùng loại
+ Theo quan điểm tổng hợp về thương hiệu thì Ambler & Styles đã có định nghĩa:
“Thương hiệu là một các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ
đòi hỏi”
Theo định nghĩa này thì sản phẩm lại được coi là một thành phần của thương hiệu,
có chức năng chủ yếu là cung cấp “giá trị lợi ích tiêu dùng” cho khách hàng Còn thương hiệu có chức năng cung cấp các “giá trị lợi ích tinh thần” mang đến cho khách hàng thông qua việc khai thác những ưu thế có từ thương hiệu Quan điểm sản phẩm là một thành phần của thương hiệu ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận Lý
do là khách hàng có hai nhu cầu: nhu cầu về chức năng và nhu cầu về tâm lý Sản phẩm chỉ cung cấp cho khách hàng lợi ích chức năng, thương hiệu mới cung cấp cho khách hàng cả hai
1 Nguyễn Đình Thọ - Nguyễn Thị Mai Trang 2007 Nguyên Lý Marketing NXB Đại học quốc gia TPHCM
Trang 4Thương hiệu là thành phần Sản phẩm là thành phần
Hình 2.1 Hai quan điểm sản phẩm và thương hiệu 2
Stephen King của tập đoàn WPP đã từng phát biểu: “Sản phẩm là những gì được sản xuất trong nhà máy, thương hiệu là những gì khách hàng mua Sản phẩm có thể bị bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh nhưng thương hiệu là tài sản riêng của công ty Sản phẩm có thể nhanh chóng bị lạc hậu, nhưng thương hiệu, nếu thành công sẽ không bao giờ bị lạc hậu”
Chính vì vậy, khái niệm thương hiệu đã dần dần thay thế cho khái niệm sản phẩm trong các nghiên cứu hàn lâm cũng như trong hoạch định các chương trình marketing của doanh nghiệp Các doanh nghiệp cần nỗ lực xây dựng, quảng bá và phát triển cho được thương hiệu của mình vào các thị trường mục tiêu thì mới co thể cạnh tranh, tồn tại và phát triển trên thị trường
2.2.2 Thành phần của thương hiệu 3 :
Khái niệm thương hiệu ngay nay được hiểu rộng hơn không chỉ là cái tên, biểu tượng…mà thương hiệu là một tập các thành phần có mục đích cung cấp lợi ích chức năng và lợi ích tâm lý cho khách hàng mục tiêu Do đó thương hiệu được cấu thành bởi hai thành phần sau:
2.2.2.1 Thành phần chức năng:
Thành phần chức năng của thương hiệu có mục đích cung cấp lợi ích chức năng của thương hiệu cho khách hàng mục tiêu và nó chính là sản phẩm Nó bao gồm các thuộc tính mang tính chức năng như: công dụng sản phẩm, các đặc trưng bổ sung, chất lượng…
2 Nguyễn Đình Thọ - Nguyễn Thị Mai Trang (2002), Nghiên cứu các thành phần của giá trị thương hiệu và
đo lường chúng trong thị trường hàng tiêu dùng tại Việt Nam, B2002-22-23: TPHCM: Trường ĐH Kinh tế TPHCM, trang 6
3 Nguyễn Đình Thọ - Nguyễn Thị Mai Trang 2007 Nguyên Lý Marketing NXB Đại học quốc gia TP.HCM.
Trang 5Thành phần cảm xúc của thương hiệu bao gồm các yếu tố mang tính biểu tượng nhằm tạo cho khách hàng mục tiêu những lợi ích tâm lý Các yếu tố này có thể là nhân cách thương hiệu (brand personality), biểu tượng (symbols), luận cứ giá trị hay còn gọi là luận cứ bán hàng độc đáo, gọi tắt là USP (unique selling proposition), vị trí thương hiệu, đồng hành với công ty (organisational associations) như quốc gia xuất xứ (country
of origin), công ty nội địa hay quốc tế, Trong đó yếu tố quan trọng nhất của thương hiệu tạo nên lợi ích tâm lý cho khách hàng mục tiêu là nhân cách thương hiệu
Jenifer Lynn Aaker định nghĩa “Nhân cách thương hiệu là một tập thuộc tính của con người gắn liền với một thương hiệu” Như vậy, nhân cách thương hiệu sẽ có
những đặc tính của con người như giới tính, tuổi tác, tầng lớp xã hội, cũng như cảm xúc của họ như nhiệt tình, âu lo, đa cảm…
Hình 2.2 Các thành phần của nhân cách thương hiệu 4
2.2.3 Chức năng thương hiệu:
2.2.3.1 Chức năng nhận biết và phân biệt :
• Đây là chức năng đặc trưng, gốc, quan trọng nhất Khi hàng hóa càng phong phú đa dạng thì chức năng phân biệt lại càng quan trọng Đặc biệt, khi các sản phẩm đã đạt đến mức độ hầu như không thể phân biệt được bằng tính chất, đặc điểm, lợi ích và công dụng thì thương hiệu là yếu tố duy nhất tạo ra sự khác biệt
• Nếu các dấu hiệu nhận biết và phân biệt thương hiệu không rõ ràng, gây khó khăn cho khách hàng khi phân biệt, sẽ cản trở sự phát triển của một thương hiệu
• Nếu không chủ động tạo ra dấu hiệu phân biệt, thì khách hàng cũng sẽ
“tự phát” trong việc tìm và nhớ một yếu tố nào đó để tự phân biệt Và điều này, đôi khi sẽ làm phản tác dụng
4 Nguồn: Aaker (1997), Dimesions of brand persionality, Journal of Marketing Research, 34 (August): 347 – 57.
2.2.3.2 Chức năng thông tin và chỉ dẫn
Nhân cách thương hiệu
Trang 6Thông qua thông điệp, hình tượng, dấu hiệu thể hiện của một thương hiệu, người tiêu dùng phần nào nhận biết được một vài thông tin như (nơi sản xuất, cách thức chế tạo, công dụng, điều kiện tiêu dùng, giá trị sử dụng của hàng hóa đó, đẳng cấp hang hóa) Không phải tất cả thương hiệu đang tồn tại trên thị trường điều có chức năng này.
2.2.3.3 Chức năng tạo sự cảm nhận và tin cậy
- Thương hiệu tạo cho người tiêu dùng cảm nhận về sự sang trọng, sự khác biệt, yên tâm, thoải mái khi tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ và sự tin tưởng khi lựa chọn tiêu dùng sản phẩm đó
- Chức năng này chỉ được thể hiện khi thương hiệu đã được chấp nhận trên thị trường Khi mới xuất hiện, thương hiệu không thể hiện chức năng này
2.3 Lý thuyết về giá trị thương hiệu:
2.3.1 Định nghĩa giá trị thương hiệu:
Giá trị thương hiệu được hiểu là những giá trị đặc thù mà thương hiệu mang lại cho những đối tượng liên quan (bản thân doanh nghiệp, khách hàng, nhân viên…)
Khi nói về giá trị của thương hiệu thì chúng ta lại quan tâm đến hai khía cạnh Thứ nhất, giá trị cảm nhận là những cảm xúc, tình cảm của người tiêu dùng đối với thương hiệu Thứ hai, giá trị tài chính là hành vi của người tiêu dùng – họ chọn dùng thương hiệu của tổ chức hay là những đối thủ cạnh tranh5
Nghiên cứu này xoay quanh khía cạnh thứ nhất của giá trị thương hiệu: những cảm xúc, tình cảm của người tiêu dùng đối với thương hiệu
2.3.2 Nội dung giá trị thương hiệu 6 :
Giá trị thương hiệu gồm 4 thành tố chính đó là: sự nhận biết thương hiệu, lòng ham muốn thương hiệu, chất lượng cảm nhận và lòng trung thành thương hiệu Việc tạo dựng được những giá trị này là cả một quá trình, đòi hỏi sự đầu tư và quyết tâm của doanh nghiệp
Sự nhận biết thương hiệu
- Nhận biết thương hiệu là khả năng mà một khách hàng tiềm năng có thể nhận dạng và phân biệt những đặc điểm của một thương hiệu trong một tập các thương hiệu có mặt trên thị trường Người mua thường lựa chọn thương hiệu mà mình đã biết bởi vì họ cảm thấy được an toàn và thoải mái hơn Theo lệ thường thì một thương hiệu được nhiều người biết đến sẽ đáng tin cậy hơn và chất lượng sẽ tốt hơn Sự nhận biết thương hiệu sẽ rất quan trọng đối với các mặt hàng tiêu dùng khi mà mỗi khi mua hàng hóa thì người ta thường hoạch định thương hiệu từ trước Trong trường hợp này thì những thương hiệu không được biết đến sẽ không có cơ hội được chọn lựa
5 Nguyễn Thanh Thảo 24/12/2007 Giá trị thương hiệu [trực tuyến] Vietnambranding Đọc từ: http://vietnambranding.com/kien-thuc/tong-quan-thuong-hieu/2863/Gia-tri-thuong- hieu.
6 Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang 2007 Nghiên cứu khoa học Marketing: Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM TPHCM: NXB Đại Học Quốc Gia 12-17.
- Nhận biết thương hiệu là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình tiến trình mua sắm và
là một tiêu chí quan trọng để đo lường sức mạnh của thương hiệu Sự nhận biết thương
SVTH: Trần Thị Minh Thi
Trang 7hiệu được tạo ra từ các chương trình truyền thông như quảng cáo, quan hệ cộng đồng, khuyến mãi, bán hàng cá nhân hay tại nơi trưng bày sản phẩm
- Mức độ nhận biết thương hiệu có thể được đo lường bằng thang chỉ tiêu sau:
1 Nhắc đến ngay lần đầu tiên khi nói đến chủng loại sản phẩm (top of mind)
2 Nhận biết không nhắc nhở (spontaneous)
3 Nhận biết có nhắc nhở (Promt)
4 Không nhận biết
- Các mức độ nhận biết thương hiệu có thể sắp xếp vào tháp nhận biết như sau7:
Tầng 1: Hoàn toàn không nhận biết
Ở cấp độ này, khách hàng hoàn toàn không có bất kỳ nhận biết nào đối với thương hiệu khi được hỏi, dù được trợ giúp bằng cách cho xem thương hiệu để nhắc nhớ Mức
độ nhận biết của khách hàng đối với thương hiệu trong trường hợp này là bằng 0
Tầng 2: Nhận biết có nhắc nhở
Để đo lường mức độ nhận biết thương hiệu ở cấp này, người ta sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu như phỏng vấn qua điện thoại hoặc phỏng vấn trực tiếp Người được phỏng vấn (đáp viên) sẽ được nhắc nhớ bằng cách cho xem một danh sách các thương hiệu trong cùng nhóm sản phẩm, sau đó sẽ trả lời xem mình nhận ra được những thương hiệu nào Ở tầng này, bắt đầu xuất hiện sự liên hệ giữa thương hiệu và sản phẩm, nghĩa
là khách hàng đã có thể nhớ ra thương hiệu khi được cho biết trước nhóm sản phẩm của thương hiệu Tuy nhiên mối liên hệ này còn rất yếu
Tầng 3: Nhận biết không nhắc nhở
Ở cấp độ này, đáp viên sẽ tự mình nêu tên thương hiệu mà không cần xem danh sách các thương hiệu như ở cấp độ 2 Mức độ nhận biết thương hiệu ở tầng này đạt được
là nhờ vào chiến lược định vị thương hiệu hiệu quả Số thương hiệu được khách hàng liệt
kê được thường ít hơn nhiều so với khi được nhắc nhớ
Tầng 4: Nhắc đến ngay lần đầu tiên khi nói đến chủng loại sản phẩm
Đây là tầng cao nhất trong tháp nhận biết Đáp viên nêu tên thương hiệu trước nhất khi được hỏi về nhóm sản phẩm Trong trường hợp này thương hiệu đã chiếm vị trí đặc biệt trong trí nhớ của khách hàng, vị trí hạng nhất trong bảng xếp hạng của não
7 Đọc từ: http://www.youtemplates.com/show.asp?file=5505
Lòng ham muốn về thương hiệu
Trang 8Nhận biết thương hiệu là điều cần thiết nhưng chưa đủ vì khách hàng có thể nhận biết nhiều thương hiệu trong hàng loạt các thương hiệu có mặt trên thị trường Khi ra quyết định tiêu dùng, khách hàng nhận biết nhiều thương hiệu khác nhau và so sánh các thương hiệu với nhau Khi đó, họ lại thường có xu hướng tiêu dùng những thương hiệu
mà mình thích thú Vậy sự thích thú về một thương hiệu là kết quả của quá trình đánh giá một thương hiệu so với thương hiệu khác trong cùng một tập cạnh tranh Khi người tiêu dùng thích thú và muốn tiêu dùng một thương hiệu thì đó là họ ham muốn sở hữu thương hiệu đó Ham muốn thương hiệu được đo lường bởi ý định tiếp tục mua, lòng tin và sự giới thiệu với người khác về sản phẩm và dịch vụ mà khách hàng đang dùng
Chất lượng cảm nhận
Yếu tố chính để so sánh các thương hiệu với nhau là chất lượng của nó Nhưng thực tế thì chất lượng thật sự của một thương hiệu mà nhà sản xuất cung cấp và chất lượng khách hàng cảm nhận được thường không trùng nhau Đó là vì khách hàng thường không phải là chuyên viên trong lĩnh vực này vì thế khách hàng thường đánh giá không được đầy đủ và chính xác về tính năng kỹ thuật của sản phẩm/dịch vụ Chất lượng mà khách hàng cảm nhận được mới là yếu tố mà khách hàng chọn làm căn cứ để ra quyết định tiêu dùng Chính vì vậy, chất lượng cảm nhận được bởi khách hàng là thành phần thứ ba của giá trị thương hiệu
Lòng trung thành thương hiệu
- Các thương hiệu mạnh luôn được nhận diện và đảm bảo bởi những “người hâm mộ” này Thêm vào đó, việc kiếm tìm một khách hàng mới sẽ tốn kém hơn rất nhiều so với việc duy trì được khách hàng cũ Điều này đặc biệt quan trọng trong thị trường dịch
vụ khi mà việc chuyển sang sử dụng các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh ngày càng dễ dàng Đối với một khách hàng trung thành thì công ty còn được một lợi ích rất lớn đó là những khách hàng này sẽ giới thiệu và thuyết phục người thân và bạn bè sử dụng dịch vụ của công ty
- Ngoài ra, sự trung thành thương hiệu sẽ làm cho đối thủ cạnh tranh nản chí trong việc tìm cách lôi kéo khách hàng mới vì chi phí mà họ bỏ ra sẽ rất lớn mà hiệu quả mang lại thì không cao Sự trung thành của khách hàng được xem như một tài sản của doanh nghiệp vì vậy các doanh nghiệp cần phải tạo ra sự hài lòng đối với khách hàng hàng nâng cao sự trung thành của họ đối với doanh nghiệp Có thể nhận định rằng,khách hàng trung thành là tài sản lớn nhất của một thương hiệu
2.4 Mô hình nghiên cứu:
Mô hình nghiên cứu được xây dựng như sau:
SVTH: Trần Thị Minh Thi
Nhận dạng thương hiệu:
- Tên, logo, slogan, màu
sắc…
- Quảng cáo ngoài trời
- Tivi, internet, báo chí…
Trang 9Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu
Tóm lại, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu dựa vào những cơ sở lý thuyết trên và theo
mô hình nghiên cứu Phần tiếp theo sẽ trình bày rõ hơn về phương pháp nghiên cứu của
đề tài
Chương 3
Phân biệt thương hiệu:
Phân biệt được những đặc điểm
của thương hiệu trong một tập
các thương hiệu có mặt trên thị
trường
Mức độ nhận biết thương hiệu
Trang 10GIỚI THIỆU DOANH NGHIỆP
3.1 Sơ lược về mạng di động Beeline 8 :
- Mạng di động Beeline được thành lập từ năm 1993, đến nay, sau 16 năm hoạt động, Beeline được đánh giá là một trong những thương hiệu mạnh nhất trên thế giới Năm 2005, Beeline đã tiến hành một cuộc cải cách thương hiệu và một chiến dịch ra mắt mới gắn với phương châm “tươi sáng”, “thân thiện”, “hiệu quả”, “đơn giản” và “tích cực” Cuộc cải cách này đã mang lại những thành công lớn cho Beeline Từ đó, hình ảnh Beeline với hình tròn 2 sọc vàng, đen xen kẽ đã trở nên quen thuộc với người dân trên toàn thế giới
- Tháng 4/2009, Beeline được đánh giá là một trong 100 thương hiệu đắt giá nhất toàn cầu Nằm ở vị trí thứ 72, thương hiệu Beeline ước tính có trị giá lên tới 8,9 tỉ USD Đồng thời, thương hiệu Beeline cũng được gắn với một trong 10 thương hiệu viễn thông lớn nhất trên thế giới
- Hiện tại, Beeline phủ sóng trên một địa bàn rộng lớn bao gồm toàn bộ nước Nga, các nước khu vực SNG, Campuchia và Việt Nam với 62,7 triệu thuê bao (nguồn Johnson’s & Partner) và 440 triệu người
- Logo:
3.2 Mạng di động Beeline Việt Nam 9 :
- Mạng di động Beeline Việt Nam được thành lập ngày 8/7/2008 trên cơ sở thỏa thuận hợp tác giữa Tổng công ty Viễn thông Di động Toàn cầu và Tập đoàn VimpelCom
- Một trong những Tập đoàn Viễn thông hàng đầu ở Đông Âu và Trung Á, GTEL Mobile
là công ty liên doanh chuyên cung cấp các dịch vụ thoại và truyền số liệu trên công nghệ GSM/EDGE Sự ra đời của GTEL Mobile xuất phát từ thỏa thuận thành lập một liên doanh viễn thông tại Việt Nam được ký kết với tập đoàn VimpelCom vào cuối năm 2007 GTEL Mobile không chỉ là một doanh nghiệp hoạt động vì mục đích kinh tế đơn thuần
mà đây còn là sự kết hợp các nhân tố quốc tế nhằm mang lại trào lưu và phong cách truyền thông mới cho người dân Việt Nam
- Để triển khai hệ thống mạng GSM, GTEL Mobile đã hợp tác với rất nhiều công ty viễn thông nổi tiếng Trong đó, phải kể đến những công ty hàng đầu thế giới như: Alcatel Lucent, Ericsson, Huawei, Comverse, Avaya và IBM GTEL Mobile sử dụng thương hiệu
“Beeline VN” để ra mắt tại thị trường viễn thông Việt Nam
8,9 Đọc từ: http://beeline.vn/vn/pages/news.aspx?id=69
SVTH: Trần Thị Minh Thi
Trang 11- Cũng giống như thương hiệu Beeline ở các quốc gia khác, Beeline VN tiếp tục duy trì những giá trị cốt lõi như sau:
+ Thân thiện và nhiệt tình: mục tiêu của Beeline là đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng và phục vụ khách hàng với nỗ lực cao nhất
+ Đơn giản: Sản phẩm của Beeline đơn giản, dể hiểu, dễ sử dụng
+ Đam mê và hấp dẫn: Beeline luôn tiến về phía trước Beeline hấp dẫn và có thể đáp ứng mọi sở thích của khách hàng
- Hiện nay, Beeline Việt Nam có khoảng 500 người được đào tạo trong và ngoài nước với trình độ chuyên môn cao và trên 10 chuyên gia nước ngoài làm việc tại Văn phòng chính và các chi nhánh tại TP Đà Nẵng và Hồ Chí Minh Ước tính đến cuối năm nay số nhân viên sẽ lên tới 1.000 người
Trang 12Chương 4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Giới thiệu:
Sau khi đề cập đến cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu ở chương 2 Đến chương
3 là chương Phương pháp nghiên cứu Nội dung chương này đề cập đến phương pháp và cách thức tiến hành nghiên cứu Gồm ba phần chính là: (1) Thiết kế nghiên cứu, (2) Mẫu
& thông tin về mẫu, (3) Quy trình nghiên cứu
4.2 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu tiến hành qua hai bước như sau:
Bảng 4-1: Tiến độ thực hiện các bước nghiên cứu
Thang đo danh nghĩa: (còn gọi là thang đo biểu danh)
Đây là loại thang đo trong đó số đo dùng để xếp loại, nó không có ý nghĩa về lượng Vì thang đo này dùng để nhận dạng và phân loại đối tượng
4.3 Mẫu & thông tin về mẫu:
Thị trường nghiên cứu:
Đề tài này có phạm vi giới hạn là người dân thành phố Long Xuyên, An Giang nên cách thức lấy mẫu là phỏng vấn trực tiếp
Phương pháp chọn mẫu:
SVTH: Trần Thị Minh Thi
Thảo luận trực tiếpPhỏng vấn thửn= 5
Xử lý và phân tích dữ liệu
Trang 13Phương pháp chọn mẫu của đề tài này là chọn mẫu ngẫu nhiên Với cỡ mẫu là 100.
4.4 Quy trình nghiên cứu:
Hình 4.1: Quy trình nghiên cứu của đề tài
Mô hình nghiên cứu
Dàn bài thảo luậnThảo luận
Bảng câu hỏi thử
Trang 144.5 Tiến độ thực hiện nghiên cứu:
Dưới đây là bảng tiến độ nghiên cứu của đề tài:
Chương 5
SVTH: Trần Thị Minh Thi
Trang 15KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1 Đánh giá sự nhận biết thương hiệu Beeline của người tiêu dùng thành phố Long Xuyên:
Sau khi tiến hành mã hóa và làm sạch dữ liệu thông qua các biến thu thập được thông qua bản câu hỏi Mục tiêu của chương này là nhằm đánh giá sự nhận biết thương hiệu của người tiêu dùng đối với mạng di động Beeline thông qua việc phân tích và so sánh các thông tin thu thập được Phương pháp phân tích được thực hiện thông qua sự trợ giúp của phần mềm Exceel
Qua kết quả khảo sát, có thể đưa ra một số kết quả nghiên cứu sau đây:
5.1.1 Nhận dạng thương hiệu:
5.1.1.1 Nhận dạng thông qua các hình thức chiêu thị:
Biểu đồ 5-1: Nhận dạng thương hiệu thông qua các hình thức chiêu thị.
Hình thức chiêu thị bao gồm các hình thức quảng bá ngay tại thị trường như khuyến mãi, phát mẫu, quảng cáo ngoài trời, trưng bày, kích hoạt thương hiệu, tài trợ, quảng cáo qua báo chí, truyền hình, internet…Qua biểu đồ trên, ta nhận thấy rằng tỷ lệ người tiêu dùng biết đến thương hiệu Beeline thông qua việc quảng cáo ngoài trời chiếm 39% trong
số các hình thức chiêu thị của mạng di động này Quảng cáo ngoài trời chiếm tỷ lệ cao như thế bởi lẽ giữa tháng 1/2010 mạng di động này đã tổ chức một sự kiện ngoài trời khá hoành tráng ở khắp thành phố Long Xuyên để quảng cáo thương hiệu Tại những buổi quảng cáo đó, Beeline đã giới thiệu nhiều sản phẩm và chương trình khuyến mãi đến người tiêu dùng thông qua hình ảnh, logo, màu sắc, trang phục, linh vật…bắt mắt thu hút người đi đường Tuy nhiên, sự kiện quảng cáo ngoài trời này chỉ tổ chức trong vòng một tuần nên dù tỷ lệ của hình thức này cao hơn nhiều hình thức chiêu thị khác nhưng lại