Đỗ Cơ Quang tên húy là Đỗ Viêm, tự là Chân Thiết, hiệu là Kiếm Phong, thường gọi là Ba Đỗ, sinh ngày 28 tháng 10 năm Mậu Dần (1878). Ông người thôn Cầu Khánh, xã Thịnh Hào, sau là thôn Hoàng Cầu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (nay thuộc phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội). Đỗ Cơ Quang là con cụ Đỗ Uẩn, năm 1873 cụ đã cùng Đốc học Lê Đình Diên đánh Pháp ở Hà Nội. Kế đó cụ làm Tri phủ huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Năm 1885, cụ từ quan về hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, chuẩn bị tham gia thì mất. Gia đình Đỗ Cơ Quang có một cửa hàng kim hoàn ở phố Hàng Bạc. Đỗ Cơ Quang học giỏi, thơ hay, đi thi một lần đã vào Tam trường, ông còn thạo chữ Quốc ngữ. Ông có tài diễn thuyết, cảm hóa được lòng người.
Trang 1NHÂ VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG PHONG TRÀO VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI CHỐNG PHÁP
Đỗ Cơ Quang
Đỗ Cơ Quang tên húy là Đỗ Viêm, tự là Chân Thiết, hiệu là Kiếm Phong, thường gọi là Ba Đỗ, sinh ngày 28tháng 10 năm Mậu Dần (1878) Ông người thôn Cầu Khánh, xã Thịnh Hào, sau là thôn Hoàng Cầu, quận Đống
Đa, thành phố Hà Nội (nay thuộc phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội) Đỗ Cơ Quang là con
cụ Đỗ Uẩn, năm 1873 cụ đã cùng Đốc học Lê Đình Diên đánh Pháp ở Hà Nội Kế đó cụ làm Tri phủ huyện TĩnhGia, Thanh Hóa Năm 1885, cụ từ quan về hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, chuẩn bị tham giathì mất Gia đình Đỗ Cơ Quang có một cửa hàng kim hoàn ở phố Hàng Bạc Đỗ Cơ Quang học giỏi, thơ hay, đithi một lần đã vào Tam trường, ông còn thạo chữ Quốc ngữ Ông có tài diễn thuyết, cảm hóa được lòng người
Khi còn trẻ Đỗ Cơ Quang hoạt động trong phong trào Văn Thân Ông cùng Hoàng Sơn thảo bản "Hưng quốc sách", nội dung đòi Pháp xem xét lại Hòa ước 1874 và đòi lại chủ quyền quốc gia.Ông xuất dương theo Phan Bội Châu sang Trung Quốc, hoạt động trong phong trào Duy Tân Khi trường Đông Kinh
Nghĩa Thục thành lập, ông sớm tham gia và là một "Sáng lập viên", song ông thuộc phái bạo động Đỗ Cơ
Quang cùng với Phượng Sơn lập hội buôn, đi Hải Dương, Thái Bình mua gạo về Hà Nội bán Ông còn mở hiệu Đồng Lợi Tế ở phố Mã Mây chuyên buôn bán hàng nội hóa, không bán những hàng do Trung Quốc sản xuất Sau đó ông lại mở hiệu thuốc bắc Tụy Phương ở gần ga Hàng Cỏ (ga Hà Nội ngày nay).
Đỗ Cơ Quang quan hệ mật thiết với phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu hoạt động ở Trung Quốc,Nhật Bản Đỗ Cơ Quang dùng ngôi nhà số 2 ngõ Phất Lộc của ông Tùng Hương là anh em con cô, con cậu củaông làm chỗ cho thuê chứa súng và thuốc phiện lậu để có tiền gửi cho những người tham gia phong trào Đông
Du của Phan Bội Châu Đồng thời, Đỗ Cơ Quang còn liên lạc với các nhà hoạt động cách mạng Trung Hoa bímật về Việt Nam quyên tiền của Hoa kiều ủng hộ cách mạng Trung Quốc Ngoài ra, ông cùng một số ngườithành lập một xưởng nhỏ chế tạo vũ khí ở gần thị xã Hà Đông Thời gian này, ông bí mật liên lạc và thống nhấtvới thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Yên Thế - Hoàng Hoa Thám, để khi ông nổi dậy ở Hà Nội thì Hoàng Hoa Thám chi
viện
Đỗ Cơ Quang còn liên lạc với nhóm "Vân Nam Du học sinh" có chi nhánh ở phố Hàng Bún và lập một hội
lấy tên là "Song Nam đồng minh hội"1.Năm 1911, cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc thành công, nắm được đây là cơ hội thuận lợi cho cách mạngViệt Nam, đầu năm Nhâm Tý (1912) ông để lại mẹ, vợ và bốn con nhỏ trong đó có Đỗ Thị Chuyên và Đỗ Bảng,sang Trung Quốc để gia nhập một tổ chức cách mạng mới do Phan Bội Châu tổ chức Ông sống cùng vớiNguyễn Thượng Hiền tại thành phố Thượng Hải (Trung Quốc) Ngày 19 tháng 3, mùa Xuân năm Nhâm Tý
(1912), Đỗ Cơ Quang làm Bài điếu 72 liệt sĩ ở Hoàng Hoa Cương 1 Lời điếu có đoạn:
"… Than ôi! Trên mặt địa cầu, Việt Nam chúng ta ở đâu? Trong 50 năm các vong nhân, chí sĩ bể máu, núixương không kể xiết, máu tươi anh hùng toan mai một, đau thương không nỡ nhìn lân bang Tôi chúc Trung Hoa,tôi chúc các liệt sĩ Trung Hoa, tôi thương cho Việt Nam tôi, tôi lại thương cho các liệt sĩ Việt Nam tôi Nhân tiện
1 "Song Nam Đông Minh hội" tức Việt Nam và Vân Nam.
1 Hoàng Hoa Cương tên một hòn núi ở gần tỉnh thành Quảng Đông Ngày 29 tháng 3 năm Tân Hợi (1911), quân cách mạng nổi dậy đánh dinh Tổng đốc thất bại; 72 người bị hy sinh, táng chung tại Hoàng Hoa Cương.
Trang 2tôi làm bài văn này để trình các vị xem Chẳng phải văn chương gì đâu, chẳng qua cũng là để tế các người xưa và
biểu đồng tình với các chú bác, anh em đồng châu mà thôi"
Bài điếu 72 liệt sĩ ở Hoàng Hoa Cương
Bài II
Hoàng Hoa Cương, Hoàng Hoa Cương Người qua trông thấy những thê lương, Hoàng Hoa Trung Quốc, bảy mươi hai,
Đồng bào mới vẽ tượng Hoàng Hoa nước ta ba mươi năm Vẫn là kiếp Hồng dương Nòi giống cạnh tranh tuồng thiên diễn, Thiết huyết anh hùng giữ tang thương Việt Nam ta mất hay còn, Hoàng Hoa không thẹn với mùi hương
Tôn Quang Phiệt dịch1
Sau khi đọc xong hai bài thơ "Bài điếu 72 liệt sĩ ở Hoàng Hoa Cương" của Đỗ Cơ Quang, Nguyễn Thượng Hiền cảm xúc làm bài thơ: "Đọc Kiếm Phong điếu Hoàng Hoa Cương liệt sĩ thi hữu cảm".
1 Theo Đặng Đoàn Bằng, Việt Nam nghĩa liệt sử, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1959.
Trang 3Muôn phương ghét Hồ như ghét Dinh Trượng phu vì nghĩa quên tử sinh.
Hươu chạy từ đó bị giết chết, Trận này bắt đầu nổi oai thanh, Dân quốc thành công rạng sử sách, Riêng ta bơ vơ nơi đất khách.
Ngảnh đầu về Nam mây mịt mù,
Há rằng không có người khí phách, Nghĩa đảng Đông Kinh giết quân thù Việc tuy không thành, mưu cũng sâu Trên đài đoạn đầu hội tráng sĩ, Máu biếc rưới trời, trời cũng đau Yên Thế ba năm tiếng súng nổ Sức mạnh trăm người địch ngàn hổ.
Tiếng thét dậy đất khói tối trời, Xương chất như núi gửi cây cỏ Chiếc thân muôn dặm nhọc bôn ba, Nước cũ lầm than, dạ xót xa
Nỡ để anh hùng bị vùi lấp, Than ôi! tội ấy vì chúng ta Quyết chí phục thù đồng hẹn trước Quyết liều trăm trận cứu non sông, Gió mây tô điểm bộ sử nước, Muôn người nâng chén vái hồn trung, Hiệp cốt hương bay khắp tám vùng Dương Thành, Việt Điện cách dòng nước, Chon von ngàn thuở khí anh hùng 1
Tháng 6 năm 1912, Phan Bội Châu họp các đồng chí ở Quảng Đông tuyên bố giải tán Duy Tân hội, thành lậpViệt Nam Quang Phục hội Đỗ Cơ Quang tán thành tôn chỉ của Việt Nam Quang Phục hội là bãi bỏ chế độ quân
chủ Ông được các đại biểu dự Hội nghị giao cho nhiệm vụ liên hệ với cách mạng Trung Hoa
Với sự quen biết và tài ngoại giao của mình, ông đã quan hệ với cách mạng Trung Hoa giúp đỡ Việt NamQuang Phục hội Kết quả là cách mạng Trung Hoa bố trí trụ sở làm việc cho hội, nhận học sinh Việt Nam vàohọc ở các trường quân sự của Trung Hoa, giúp vũ khí và một phần kinh phí cho các hội viên Việt Nam Quang
Phục hội về nước hoạt động
Trang 4Để nắm được kiến thức quân sự, Đỗ Cơ Quang vào học ở Trường Quân sự Nam Kinh nửa năm Ông cùngNguyễn Thượng Hiền, Lương Ngọc Quyến, Hoàng Trọng Mậu… đi nhiều tỉnh thành như Hàng Châu, ThượngHải, Thiên Tân, Hán Khẩu, Quảng Đông, Quảng Tây vận động cho cách mạng Việt Nam Ông cũng liên lạc với
Đồng Minh hội của Trung Quốc để cầu viện, song việc không thành
Năm 1914, khi Đại chiến thế giới lần thứ I bùng nổ, lãnh sự Đức ở Mông Tự hứa giúp đỡ phong trào nổi dậycủa Việt Nam chống Pháp Tổng bộ Việt Nam Quang Phục hội phái ông cùng nhiều người khác như Lương NgọcQuyến, Trần Hữu Lực… về nước gây cơ sở Riêng Đỗ Cơ Quang được giao nhiệm vụ về Hà Nội vận động lính tập
đánh úp thành Hà Nội Khi về ông đem theo một số cuốn "Hà Thành liệt sĩ truyện" thuật chuyện vụ đầu độc lính
Pháp ở Hà Nội của một số nhân sĩ và binh lính do Phan Bội Châu viết
Ông về nước theo đường Vân Nam - Lào Cai vì đường Lưỡng Quảng bị ngăn trở Cùng đi với ông có tênNguyễn Hắc Sơn là cháu Tú Từ (tức Nguyễn Hải Thần) Hắn là mật thám được tên trùm mật thám Nguyễn HàTường giao cho đi xuất dương chui vào Việt Nam Quang Phục hội làm nội gián Vì hắn là cháu của Nguyễn HảiThần nên không có ai nghi ngờ Tên Sơn giao du với ông đã lâu năm Ông không biết hắn làm mật thám choPháp Trên đường về nước, ông vận động được Việt kiều và nhân viên công ty Hỏa xa Vân Nam và một số línhngười Việt Nam phục dịch đường sắt Vân Nam hưởng ứng Ông đã thành lập chi hội Việt Nam Quang Phục hội
ở Vân Nam
Cuộc vận động của ông ở Vân Nam gặp thuận lợi, vì viên Lãnh sự Đức đóng ở Mông Tự giúp, do họ đangmuốn quấy rối thực dân Pháp Đỗ Cơ Quang và chi hội Vân Nam chủ trương dựa vào giao thông trên đường sắtVân Nam và Hải Phòng để ngầm liên kết với binh lính người Nam trong quân đội Pháp ở Hà Nội để đánh chiếmthành Ông nhờ một số binh lính người Việt phục vụ đường sắt Vân Nam đưa về vận động lính tập đóng ở HàNội Đã có mấy người đội và mấy người lính tham gia và Đỗ Cơ Quang chuẩn bị cho cuộc bạo động ở Hà Nội để
gây tiếng vang, bí mật sản xuất tạc đạn
Tên Nguyễn Hắc Sơn tỏ thái độ tích cực nên được Đỗ Cơ Quang tin cậy Hắn đã nắm hết các đầu mối hoạtđộng, danh sách hội viên mà Đỗ Cơ Quang phát triển ở Vân Nam và cả số binh sĩ được ông phái về hoạt động ở
Hà Nội báo cho Pháp Trong số đó có ông Ký Lan, đội khố đỏ; ông Lê Đình Kiện, con cụ Lê Thúc Hoanh, cháuđích tôn Hoàng giáp Lê Đình Diên, chồng bà Đỗ Thị Trinh, là em ruột Đỗ Cơ Quang Tại Hà Nội, Đỗ Cơ Quang
đã tổ chức được một nhóm hoạt động đông tới 30 người, phần lớn là viên chức công sở, viên chức tư nhân của
Pháp, một số hạ sĩ quan, binh lính do Lương Minh Hiến đứng đầu
Nhóm này dùng hình thức "phát văn bằng" để phát triển hội viên, phát Hịch tuyên truyền, giác ngộ lòng yêu
nước của đồng bào Lương Minh Hiến cử người vẽ bản
đồ các vị trí đóng quân quan trọng của thực dân Pháp ở Hà Nội để chuẩn bị cho trận đánh úp thành phố.Song Đỗ Cơ Quang không biết rằng mọi hoạt động của ông đã bị tên Nguyễn Hắc Sơn báo cho mật thámPháp Từ ngày 3 tháng 9 năm 1914, Phủ Thống sứ Bắc Kỳ nhận được báo cáo của Lãnh sự Pháp ở Vân Nam cho
biết rõ chi tiết kế hoạch bạo động của Đỗ Cơ Quang ở Hà Nội
Bọn cầm quyền Pháp bắt Đỗ Cơ Quang, Ký Lan, Lê Đình Kiện, Lương Minh Hiến và nhiều người khác Chỉtrong vài ngày, tên Nguyễn Hắc Sơn đã chỉ điểm cho mật thám bắt hết 58 người do Đỗ Cơ Quang tổ chức cùng
số chất liệu để chế tạc đạn Chúng dùng mọi cực hình tra tấn Đỗ Cơ Quang và những người hoạt động cùng ông,
nhưng ai nấy đều kiên cường bất khuất, không hề khai báo
Bọn cầm quyền Pháp không mở phiên tòa xét xử mà ngày Rằm tháng 10 năm Giáp Dần (2-12-1914), chúngđưa 58 người lên Hà Khẩu (thị xã Lào Cai) dùng dao chặt đầu chỉ trong một ngày rồi vứt xác ngoài đường để
khủng bố đồng bào và nhân viên đường sắt Vân Nam - Hà Nội
Trang 5Nghe tin Đỗ Cơ Quang hy sinh có rất nhiều thơ, trướng, câu đối của các sĩ phu, các đồng chí khóc ông Phan
Bội Châu đang ở Trung Quốc viết bài thơ "Khóc ông Đỗ Cơ Quang".
II
Thương ông thân châu ngọc đã hóa kiếp rồi!
Suốt đời chí khí hùng tráng như gió sấm.
Lo việc đời ba canh giọt lệ nhỏ sa,
Vì việc nước, nghìn dặm đem thân trở về.
Đạo suy đốn, ít người thương kẻ chính sĩ.
Thời khó khăn, luôn năm mất người anh tài.
Một mình ôm mãi cái chí rửa sạch núi sông,
Ta ngồi trên cung mây mà nhìn hoàn cầu.
1 Hợp tuyển Thơ văn Việt Nam (1858-1920), Nxb Văn học, h 1985, trang 167-168.
Trang 6Lê Thước dịch
Sau này nhà chí sĩ Phan Bội Châu viết về Đỗ Cơ Quang trong lời tựa cuốn "Việt Nam nghĩa liệt sử" của Đặng
Đoàn Bằng với những dòng trân trọng như sau: "Bàn về anh hùng thế giới không nên do ở chỗ thành hay bại" và nhận định: "Đỗ Cơ Quang thân mình nhỏ bé, diện mạo không hơn một người bậc trung thế mà can đảm tày trời
mới là lạ".
Đỗ Cơ Quang có người con là Đỗ Bảng, bí danh Chu Văn Vận và một người con gái là Đỗ Thị Chuyên, bí danh
là Đỗ Thị Tâm gia nhập tổ chức Việt Nam Quốc Dân đảng của Nguyễn Thái Học Sau bạo động tháng 2 năm 1930,
Đỗ Bảng bị bắt tại Hà Nội khi chuẩn bị trốn sang Trung Quốc và bị mật thám Pháp đánh chết ở xà lim Hỏa Lò - HàNội năm 1932 Đỗ Thị Tâm bị mật thám bắt tại cơ quan của Việt Nam Quốc Dân đảng tại phố Hàng Bột - Hà Nội,đưa về giam ở Hỏa Lò Để tránh đòn tra tấn và giặc làm nhục, Đỗ Thị Tâm đã nuốt giải yếm và hy sinh.Gia đình Đỗ Cơ Quang cả ba cha con đều hiến thân cho sự nghiệp đánh đuổi giặc Pháp giải phóng đất nước
Hồ Bá Kiện
Hồ Bá Kiện tự là Thiếu Tùng, quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Ông là con
trai đầu án sát Hồ Bá Ôn Trong trận đánh quân Pháp ở thành Nam Định lần thứ 2 năm Quý Mùi (1883), cụ Hồ
Bá Ôn bị trọng thương, về quê phục thuốc rồi chết Hồ Bá Trị là chú ruột của Hộ Bá Kiện, ông hy sinh trong trậnđánh trả đám dân quá khích được thực dân Pháp vũ trang đốt phá nhà cửa, giết người ở Quỳnh Lưu vào cuối
tháng 12 năm 1885
Hồ Bá Kiện tư chất thông minh, đọc nhiều sách, làm thơ văn giỏi Từ khi cha chết vì nước, ông bỏ cử nghiệp,
đi giao du với khách kiếm hiệp Phàm những kẻ hào kiệt cùng đường đều tụ tập ở nhà ông Nhà có bao nhiêu của
cải dự trữ ông đều hào hiệp bỏ tiếp khách hết
Cùng làng với ông có Cù Sĩ Lương là một nho sinh, sau khi được đọc "Hải ngoại huyết thư", "Việt Nam vong
quốc sử" của Phan Bội Châu từ Nhật gửi về, Cù Sĩ Lương đã từ bỏ lối học khoa cử, quyết tâm hành động cứu
nước Thấy Cù Sĩ Lương có tư tưởng yêu nước, ông đã dẫn Cù Sĩ Lương đến gặp các ông Đặng Thái Thân, LêDật Trúc là những người đứng đầu trong phái "ám xã" của Duy Tân hội nhận công tác làm kinh tài cho hội Ông
đã tận tâm làm việc có hiệu quả Biết gia đình ông nghèo túng anh em có ý muốn lấy công quỹ trợ cấp nhưng ông
nhất định không nhận
Hồ Bá Kiện cùng thím ruột là Trần Thị Trâm (vợ ông Hồ Bá Trị) tham gia Duy Tân hội (1904) và phong tràoĐông Du (1905) do Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đặng Thái Thân, Ngô Đức Kế… sáng lập Đặng Thái Thân
Trang 7thuộc phái bạo động (ám xã) Hồ Bá Kiện là trợ thủ đắc lực cho Đặng Thái Thân, người đứng đầu phong trào
Duy Tân ở tỉnh Nghệ An
Được giao nhiệm vụ, Hồ Bá Kiện ra Bắc, tới vùng biên giới Việt - Trung thuộc hai tỉnh Hải Ninh, Lạng Sơnmua súng đạn chuyển về Nghệ An cho Đặng Thái Thân Việc vận chuyển số súng đạn từ biên giới Việt - Trung
là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, nguy hiểm do bà Trần Thị Trâm, thím ruột Hồ Bá Kiện đảm nhiệm Với sựmưu trí, khôn khéo, dũng cảm, bà Trần Thị Trâm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển súng đạn, không
để chậm trễ, mất mát một viên đạn Bà Trần Thị Trâm còn làm nhiệm vụ quyên góp tiền ở Nghệ An, Hà Tĩnh
chuyển cho Hồ Bá Kiện mua vũ khí
Năm 1910, trong chuyến công tác ở Phan Thôn thuộc huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Đặng Thái Thân bịgiặc Pháp bao vây toan bắt sống Ông đã dùng súng lục (chính là khẩu súng Hồ Bá Kiện mua, bà Trần Thị Trâmchuyển về) bắn chết mấy tên giặc Bọn giặc cậy đông vẫn vây kín xung quanh Quyết không để giặc bắt, ông
giành viên đạn cuối cùng cho mình và đã hy sinh anh dũng
Giặc Pháp ráo riết truy lùng Hồ Bá Kiện và những người trong tổ chức của ông Năm 1912, Phan Bội Châugiải tán Duy Tân hội thành lập Việt Nam Quang Phục hội thì Hồ Bá Kiện cùng thím của mình là Trần Thị Trâm
lại hoạt động tích cực trong tổ chức cách mạng mới này
Nhiệm vụ của Hồ Bá Kiện vẫn là phát triển tổ chức, mua vũ khí trang bị cho Quang Phục quân1 Vàokhoảng năm 1914, trong một chuyến đi công tác cho hội ở Hưng Yên1, Hồ Bá Kiện bị giặc Pháp bắt, chúngđày ông lên nhà tù Lao Bảo, trong chuyến đi đày này còn có cả Liêu Thanh cũng là một hội viên tích cực của
Việt Nam Quang Phục hội
Năm 1915, nhà tù Lao Bảo có trên 200 tù nhân Nhà tù nằm giữa cánh rừng nổi tiếng là nơi "ma thiêng nước
độc" Bọn cai ngục, mã tà đều là những tên hung bạo, chúng đánh đập, hành hạ tù nhân không thương tiếc Nhiều
tù nhân bị đánh chết rồi quẳng xác vào rừng cho thú dữ ăn thịt
Từ khi bị đưa đi đày ở Lao Bảo, Hồ Bá Kiện cùng với Liêu Thanh tranh thủ quan sát địa hình, địa vật, quyluật đi lại, canh gác của bọn cai ngục, mã tà để có thời cơ thì tổ chức tù nhân giết lính, vượt ngục
Với bản tính nhân đạo, từ khi vào tù Hồ Bá Kiện thường nhường cơm cho những người đau yếu, tự mình làmnhững công việc nặng nhọc, nên được anh em tù rất quý mến Trong tù bọn cai ngục thường bố trị một tay anhchị hay ăn chặn đồ tiếp tế của tù nhân, bắt tù nhân nhường miếng thịt hiếm hoi mà hàng tuần mới có một lần.Những người tù mới vào đều bị hắn đánh phủ đầu Hồ Bá Kiện khuyên bảo nhiều lần không được Một hômnhân lúc bọn cai tù không có ở đó, ông liền đánh cho hắn một trận đau nhừ tử, đến khi hắn phải lạy van, Hồ Bá
Kiện ra điều kiện là không được ức hiếp bạn tù mới tha
Sau khi Hồ Bá Kiện và Liêu Thanh nắm vững quy luật hoạt động của bọn cai ngục, mã tà, tập hợp được hơnmột chục anh em tù chính trị hăng hái, hai người quyết định khởi sự Hai ông phác thảo ra kế hoạch hành động,rồi bàn với hơn chục anh em tù chính trị tin cẩn nhất, lặng lẽ chuẩn bị vũ khí và phân công nhiệm vụ cụ thể cho
từng người Khi quyết định khởi sự, mọi người bầu Hồ Bá Kiện và Liêu Thanh làm chỉ huy
Ngày 22 tháng 9 năm 19151, một tên cai và ba tên lính dẫn một số tù nhân trong đó có Liêu Thanh ra khỏi trạilàm tạp dịch Theo kế hoạch vạch ra từ trước, Liêu Thanh ra lệnh cho anh em xông lại chém tên cai và ba tên línhcoi tù Bọn lính và cai ngục còn lại hoảng loạn chạy tứ tung, tù nhân vô cùng phấn khích Lập tức toàn bộ tù nhân
ở nhà ngục Lao Bảo nổi dậy phá xiềng, gông, giết lính gác, cướp súng trong trại lính, đánh bại bọn lính, mã tàcòn kháng cự Kết quả là ba tên lính chống lại bị giết chết, bảy tên khác bị thương Tù nhân nổi dậy thu 36 súng,
1 Quang Phục quân: là một tổ chức thuộc Quang Phục hội.
1 Sách "Họ Hồ trong cộng đồng dân tộc Việt viết ông bị bắt ở Sơn Tây năm 1907, bị đưa đi đày ở Lao Bảo.
1 Có sách viết là ngày 28-9-1915.
Trang 815 lưỡi lê, 5.000 viên đạn đồng thời đốt hết các bốt gác, cắt đứt dây điện thoại từ Lao Bảo gọi đi Quảng Trị rồi
rút lên vùng rừng núi phía bắc cao nguyên Sê Pôn
Bọn cầm quyền Pháp nhận được tin vô cùng lúng túng, bị động, mãi tới bảy ngày sau, ngày 29 tháng 9, Khâm
sứ Trung Kỳ mới lệnh cho giám binh Pêrê (Perez) điều động 80 lính khố xanh, do thiếu úy Pagini (Pagini) chỉhuy và 40 lính khố xanh ở Quảng Trị truy kích nghĩa quân Biết quân giặc thế nào cũng tung lực lượng lớn truykích tù nhân nổi dậy, Hồ Bá Kiện và Liêu Thanh cho nghĩa quân tiến theo đường Làng Côn - Lao Bảo sang lậpcăn cứ ở vùng Bantacha, tỉnh Savanakhét (Lào), nghĩa quân đào công sự chiến đấu, tổ chức đánh quân Pháp.Quân giặc hành quân bằng xe cơ giới, nên nhanh chóng đuổi kịp tù nhân nổi dậy Chúng bao vây, lùng sục khắp
nơi
Về phía anh em tù nhân nổi dậy đều là những người bị chế độ hà khắc của nhà tù đày đọa, ăn đói, mặc rét,bệnh tật không được chạy chữa làm cho sức khỏe kiệt quệ, có người phải dìu nhau hành quân nên đi rất chậm.Trước sức tiến công áp đảo của giặc Pháp, lực lượng nổi dậy bị tiêu hao nhanh chóng, chỉ còn lại 36 người.Mặc dù vậy, anh em vẫn quyết tâm chiến đấu Ngày 8 tháng 10, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn vào Bantacha.Lực lượng nổi dậy chiến đấu dũng cảm, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của giặc, tiêu diệt 1 tên, làm bị thương 2tên khác nhưng cũng bị hy sinh 5 người Sáng ngày 9 tháng 10, khi quân Pháp xông vào đồn trại của anh em lực
lượng nổi dậy thì mọi người đã rút hết
Ngày 15 tháng 10, Hồ Bá Kiện và Liêu Thanh tổ chức trận địa phục kích ở Talaloi, đánh úp một đoàn xe vậntải lương thực tiếp tế cho bọn lính ở Bantacha thu được một số lương thực rồi rút về vùng A Sồi Quân giặc baovây, lùng sục gắt gao, trong khi nghĩa quân thì lực lượng ngày càng suy yếu Cuối tháng 10 trong một trận kịch
chiến với lính Pháp và lính khố xanh do tên thiếu úy Pagini chỉ huy,
Hồ Bá Kiện, Liêu Thanh cùng một số nghĩa quân hy sinh, khi đó ông 43 tuổi, một số còn lại sau đó tan rã.Cuộc cướp ngục nổi dậy tổ chức chiến đấu của các đảng viên Việt Nam Quang Phục hội tuy thất bại nhưng làmột trang sử vàng trong lịch sử đấu tranh vũ trang của nhân dân ta trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Biếttin cuộc cướp ngục không thành, nhiều hội viên Quang Phục hội hy sinh, nhiều người gửi câu đối viếng, điển
hình như:
Liễn viếng của Đinh - Nhạc 1
Phiên âm:
Phương tương liên nhất khí vi địa cầu, vô sở vị hợp tính, vô sở vị ly, quản giao địa hạ nhân gian, tổng y
nhiên đăng tiền kiếm ảnh, chẩm bạn kê thanh, đắc ý dã đô vong nhĩ ngã
Thả dục đạo chúng sinh ư thiên quốc, hữu vi chi nhân, tất hữu vi chi quả, bằng trượng thiên linh phật lực, hội
tu khán trần lý Âu vân, hào đoan Mỹ, vũ mục trường na phục kê đông tây
Dịch nghĩa:
- Cũng toan liều một mạch làm địa cầu, không gì là hợp, cũng không gì là ly, khiến cho dưới đất giữa người,
đều y nhiên trước đèn bóng kiếm, bên gối tiếng gà, khi đắc ý lại quên mày tớ.
- Lại muốn dẫn chúng sinh lên Thiên quốc, đã làm ra nhân, ắt sẽ làm ra quả, dựa ở oai trời sức phật, tất phải
thấy trong bụi mây Âu, đầu tia mưa Mỹ, trường chăn 1 chi xá kể đông tây.
Con trai ông là Hồ Bá Cự, tức Hồ Tùng Mậu - một trong những nhà sáng lập ra tổ chức Tâm Tâm xã, sautham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, là học trò xuất sắc của đồng chí Nguyễn ái Quốc
1 Tức Nguyễn Thượng Hiền.
1 Trường chăn (chữ này còn nghi).
Trang 9Nguyễn Thạc Chi
Nguyễn Thạc Chi còn có các tên là Hai Thạc, Nguyễn Quỳnh Chi, Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn
Trung Thường, Nguyễn Trọng Thạc, Nguyễn Mạnh Hiếu, tự là Thường Sinh hoặc Thường Sinh Phủ Quân Ông
là con thứ hai quan Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật, quê ở thôn Xuân Đào, xã Xuân
Dục huyện Mỹ Hào, tỉnh Hải Dương, nay là xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
Ông là người trầm tĩnh, khoan hòa, học rộng, nghe nhiều Khi cha ở Trung Quốc, anh trai là Nguyễn Tuyển bịđày ra Côn Đảo, Nguyễn Thạc Chi còn ở tuổi thiếu niên, phải theo người nhà đi trốn tránh Vào tuổi thanh niên,ông cùng chú là Nguyễn Thiện Kế sang Trung Quốc tham gia Đông Du và quyên tiền cho thanh niên du học.Nguyễn Thạc Chi cùng chú thường xuyên Hoa - Việt đi về để vận động và đưa thanh niên Bắc Kỳ sang Trung
Quốc du học
Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc thành công, Quốc Dân đảng Trung Hoa thành lập Chính phủ cáchmạng Dân quốc lâm thời do Tôn Trung Sơn được cử làm đại tổng thống, đặt trụ sở ở Nam Kinh Đây là cơ hộithuận lợi cho cách mạng Việt Nam Vì vậy Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền và nhiều nhà cách mạng ởkhắp nơi lần lượt về tỉnh Quảng Đông với mục đích thành lập một tổ chức cách mạng mới Khi đó Nguyễn ThạcChi đang ở Hà Nội nhưng vẫn giữ vững mối liên lạc với chú là Nguyễn Thiện Kế đang bôn tẩu ở Bắc Ninh, lập
tức vượt biên sang Hà Sa tỉnh Quảng Đông nơi cha đang ở đó để gặp Hội chủ Phan Bội Châu
Về sự kiện này Phan Bội Châu viết trong Phan Bội Châu niên biểu như sau:
"Tháng Giêng năm Nhâm Tý (2-1912), Tôn Trung Sơn được cử làm Lâm thời Đại tổng thống nước Trung
Hoa, Đô đốc Quảng Đông là Hồ Hán Dân tức là người tôi đã được quen biết ở Nhật, Đô đốc Thượng Hải là Trần Kỳ Mỹ lại rất có cảm tình với tôi Không những thế mà các đảng viên của ta ở Quảng Đông đã tăng lên hơn 100 người Kỳ Ngoại hầu ở Hương Cảng, Mai Lão Bạng ở Tiêm 1 cũng đều đến họp Trong lúc đương họp thì anh Nguyễn Trung Thường từ Hà Nội sang; hỏi về tình hình trong nước, anh nói: "Việc cách mạng Trung Hoa thành công - có ảnh hưởng to lớn đến nước ta, nhân dân phấn khởi hơn trước nhiều lắm, nếu bây giờ ở ngoài tạo được thanh thế thì không lo gì khí thế bên trong không sống lại được" Nghe tin mọi người đều rất phấn
khởi"2.Đến thượng tuần tháng 2 năm 1912, Phan Bội Châu mượn từ đường nhà ông Lưu Vĩnh Phúc ở Sa Hà (nơiNguyễn Thiện Thuật ở trong suốt 36 năm từ 1890 đến 1926 thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) làm Hội sở mở
hội nghị có đông đủ đại biểu ba kỳ bàn việc thành lập Việt Nam Quang Phục hội1.Mùa thu năm 1912, Nguyễn Thạc Chi dự hội nghị với Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Lương NgọcQuyến, Mai Lão Bạng, Hoàng Trọng Mậu… thành lập Việt Nam Quang Phục hội Hội nghị phân công NguyễnThạc Chi làm nhiệm vụ vận động cách mạng ở trong nước Cụ thể là phát triển các hội viên trung kiên, thành lậpcác chi hội Việt Nam Quang Phục hội, xây dựng căn cứ kháng chiến, vận động thanh niên sang Trung Hoa gianhập Quang Phục quân, mua trái phiếu Quang phục quân Nguyễn Thạc Chi thường Hoa - Việt đi về, đưa thanhniên xuất dương, phụng chỉ đưa Kỳ ngoại hầu Cường Để xuất ngoại mưu tính việc lớn Khi Quang Phục hộithành lập Quang Phục quân, ông là người giúp Lương Ngọc Quyến chỉ huy đạo quân này Song Nguyễn Thạc
Chi hoạt động chủ yếu ở trong nước2
1 Tức Tiêm La hay Xiêm La, nay là Thái Lan.
2 Phan Bội Châu niên biểu, Nxb Văn - Sử - Địa, Hà Nội, 1957.
1 , 2 Phan Bội Châu niên biểu, Sđd.
Trang 10Năm 1912, Nguyễn Thạc Chi cùng Nguyễn Hải Thần đem 6 quả tạc đạn, 300 đồng Đồng Đăng theo đườngLạng Sơn tiến vào Bắc Kỳ với nhiệm vụ phối hợp với các hội viên khác giết tên Toàn quyền Anbe Xarô (AbbertSarraut); phá khoa thi Hương ở trường thi Nam Định (11-1912) Việc không thành ông phải quay trở về Trung
Quốc1.Năm 1916, chiến tranh thế giới lần thứ I bùng nổ Đức tấn công nước Pháp, giặc Pháp ở Đông Dương tăngcường bắt lính, vơ vét tài nguyên phục vụ cho cuộc chiến tranh này Những người lãnh đạo Việt Nam QuangPhục hội nắm lấy cơ hội đó yêu cầu đại sứ Đức ở Xiêm giúp vũ khí, tiền bạc cho Việt Nam đánh Pháp NguyễnThạc Chi cùng Nguyễn Thượng Hiền sang Xiêm liên lạc với công sứ Đức - áo giúp đỡ Việt Nam đánh Pháp.Trong thời gian chờ ý kiến và kết quả, hai ông trở về Trung Quốc Cuối năm 1915, Chính phủ Đức mới lệnh chocác cơ quan ngoại giao của Đức ở Trung Quốc và Xiêm La tìm cách gây rối loạn ở các thuộc địa của Pháp ở châu
á Công sứ Đức ở Xiêm La nhờ một thân vương có quen biết Phan Bội Châu tìm gặp Đặng Tử Kính đang ở Xiêm
để bàn việc thực hiện nhiệm vụ trên Đặng Tử Kính viết thư phái liên lạc đưa đến cho Phan Bội Châu đang bịgiam ở núi Quan Âm, Quảng Đông xin ý kiến Phan Bội Châu viết giấy ủy nhiệm cho Nguyễn Thượng Hiền đithay Trong cuộc gặp Nguyễn Thượng Hiền, công sứ Đức tạm giúp 10.000 đồng và hứa sẽ giúp thêm nếu cácchiến sĩ Việt Nam có những hoạt động gây tiếng vang lớn ra thế giới Số tiền trên được đem về Quảng Đông chia
làm ba phần Một phần giao cho Nguyễn Mạnh Hiếu đem đi Đông Hưng chuẩn bị tấn công Móng Cái.Song do việc phối hợp giữa lực lượng bên ngoài với lính Khố đỏ ở Móng Cái không ăn khớp Khi NguyễnMạnh Hiếu chỉ huy đội nghĩa quân tiến qua cửa khẩu Đông Hưng, lính Khố đỏ không phối hợp được, ông phải rút
làm bài thơ Đập đá ở đây
Vào thời gian Nguyễn Thạc Chi bị giam ở banh II, do tên trung úy Anđôuarát (Andouarad), trừ bị ngạch cảnhsát dự bị làm chúa đảo Hắn bị cụt một cánh tay trong đại chiến thế giới lần thứ I (1914 - 1918) Hắn là một tênhung bạo thường cho chó bécgiê cắn xé tù nhân Hắn còn đưa một đàn hổ từ đất liền ra thả vào rừng để đe dọa tù
nhân trốn vào rừng
Cùng bị giam ở banh II có ông tú tài Phạm Cao Chẩm quê ở tỉnh Quảng Ngãi Ông Chẩm tham gia phong
trào chống Pháp, bị chúng kết tội "xử trảm giam hậu" giam ở nhà tù Côn Đảo Hết hạn tù trở về, ông cùng
Nguyễn Thụy người bạn tù ở Côn Đảo tham gia cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân, Thái Phiên, Trần Cao Vânnăm 1916 Nguyễn Thụy bị giặc Pháp xử tử cùng với các ông: Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phạm Cao Chẩm khi
1 Phan Bội Châu niên biểu, Sđd.
1 Theo gia phả họ Nguyễn Xuân Dục thì Nguyễn Thạc Chi sinh ba con trai là Gia Câu, Gia Tuấn, Gia Lai (theo Nguyễn Tất Ký cháu bốn đời cụ Nguyễn Thiện Thuật thì Gia Câu chính là Nguyễn Thiện Tổ) Gia Câu ở Trung Quốc với ông nội từ năm 11 tuổi, học tiếng Anh ở
Hương Cảng, sau không thấy nói đến nữa (theo Phan Bội Châu niên biểu).
2 Có tài liệu viết là banh I.
Trang 11bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai Ông đã cùng Nguyễn Thạc Chi phát động tù nhân nổi dậy chống chế độ nhà tù tàn
ác của thực dân Pháp, chống sự tàn bạo của Chúa đảo Anđôuarát
Cuộc nổi dậy nổ ra vào 14 giờ ngày 14 tháng 2 năm 1918, tức là ngày mồng 4 tết năm Mậu Ngọ, Nguyễn ThạcChi cùng Phạm Cao Chẩm lãnh đạo 89 tù nhân banh II dùng búa đập chết tên giám ngục Simon và 2 tên lính mã
tà Nguyễn Thạc Chi còn hô mọi người cướp súng của lính gác, nhưng tên hạ sĩ quan Lamiêriê (Larmierrier)phản kích kịp thời Lát sau tên Chúa đảo Anđôuarát dẫn lính đến chi viện Hắn ra lệnh cho lính xả súng vào đám
đông và truy sát tận tuyệt Nguyễn Thạc Chi và Phạm Cao Chẩm cùng 89 người bị chúng giết chết1
Vụ thảm sát rùng rợn này làm rung động dư luận báo chí Sài Gòn và Pháp dấy lên tố cáo sự tàn ác củaAnđôuarát Hắn phải ra tòa vào ngày 01 tháng 10 năm 1918, nhưng không bị kết án mà được tha bổng và lại trở về
làm quản đốc nhà tù Côn Đảo
Nhưng số phận của Anđôuarát đã được định đoạt Ngày 3 tháng 12 năm 1918, một người tù tên là Sáu Nhỏ(bồi phòng của hắn) đã lấy cắp được khẩu súng lục của hắn bắn chết hắn, còn một viên giành cho mình2.Tên đại úy Lămbe, quản đốc mới, rút kinh nghiệm từ bài học xương máu này, Lăm be tỏ ra mềm mỏng với tù
nhân hơn Trong buổi tang lễ Anđôuarát, Lămbe công khai phát biểu: "Anđôuarát, chuốc lắm hận thù Ông đã trả
giá cho việc làm của mình từ năm 1918".
Nguyễn Thạc Chi không những là một nhà cách mạng kiên cường, mà còn là một nhà thơ, nhà giáo dục Đếnnay gia phả còn chép một số thơ của ông, con cháu nội ngoại cũng thuộc nhiều thơ của ông
1 Nguyễn Nhã trong bài Con trai của Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thạc Chi đăng trên báo Hải Hưng số ra ngày 16-6-1973 lại viết như
sau: "… Sau 10 năm đi đày, ông bị đưa về quê quản thúc Ông cùng anh là Nguyễn Bá Tuyển bỏ trốn lên Yên Thế theo Hoàng Hoa Thám Trong một trận chiến đấu ông bị giặc bắt Giặc Pháp đem Nguyễn Thạc Chi về quê xử chém Khi bước lên máy chém, ông còn đọc một đôi câu
đối: "Nhất tử bách ưu thiên hạ tận - Tái sinh tam đảo nhị hà vô " Nghĩa là chết đi trăm lắng, nghìn lo hết - sống lại hai sông ba đảo không".
Chữ Tam Đảo, Nhị Hà có nghĩa là hai núi, ba sông, cũng có nghĩa là núi Tam Đảo và sông Nhị Hà của đất nước, đúng là lối chơi chữ rất hay…".
2 Côn Đảo ký sự và tư liệu do Ban liên lạc tù chính trị - Sở Văn hóa - Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh - Nxb Trẻ, xuất bản năm 1995 Nguyễn Đình Thứ, Hòn đảo của những di tích và danh thắng, Nxb Quân đội nhân dân.
Trang 12Phạm Văn Tráng
Phạm Văn Tráng (?-1913)1 khi đi hoạt động cách mạng ghi tên trong sách Việt Nam nghĩa liệt sử là
Phạm Thế Trung Ông quê ở làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội) nhưng
từ thuở nhỏ sống ở phố Hàng Nâu nơi tập trung đông đảo người dân Bát Tràng sang buôn bán1
Ông vốn là người gan dạ, có chí lớn, tuy theo đòi bút nghiên nhưng vẫn không ngừng luyện tập võ nghệ.Thiên tính của ông giận bọn gian tà, ghét thế tục xấu, không muốn nói chuyện tới bọn chó săn, nên thường nóivới người ta rằng: "Người Pháp vẫn là kẻ thù của ta, những đứa nịnh Pháp làm hại người ta, lại là kẻ thù đáng
ghét hơn"
Năm 1906, Duy Tân hội và phong trào Đông Du do Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh sáng lập phát triển mạnh
mẽ ở Hà Nội Theo chủ trương của các nhà lãnh đạo phong trào Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng
Bí, Lê Đại… thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội Ông cùng một số đồng chí tham gia và là ủy
viên tán trợ, quyên góp tiền cho trường
Tháng 5 năm Nhâm Tý (6-1912), Phan Bội Châu họp hội nghị với các hội viên Duy Tân, Đông Du ở trongnước, Trung Quốc và Thái Lan tuyên bố thủ tiêu Duy Tân hội thành lập tổ chức mới là Việt Nam Quang Phụchội Mùa Đông năm Nhâm Tý (1912), Phạm Văn Tráng trốn sang Trung Quốc gia nhập tổ chức mới này Ônglấy bí danh là Nguyễn Thế Trung Nguyễn Khắc Cần, Phạm Hoàng Triết, Phạm Hoàng Luân cũng chuyển từ Duy
Tân hội sang Việt Nam Quang Phục hội
Trung ương Việt Nam Quang Phục hội chủ trương "phải làm gì để gọi tỉnh hồn nước lại", và đề ra "phải giếtvài tên cướp nước đầu xỏ, cảnh cáo bọn chó săn, chim mồi, chấn hưng dân khí" Tháng 10 năm 1912, Trungương Việt Nam Quang Phục hội cử một số hội viên trong đó có Nguyễn Cẩm Giang tức Nguyễn Hải Thần vềnước thi hành bản án tử hình đối với tên trùm thực dân Pháp là Toàn quyền Anbe Xarô và các tên tay sai đầu sỏ
Khi nhận nhiệm vụ về nước làm công việc kinh thiên động địa, Nguyễn Hải Thần làm hai câu thơ:
"Thành tam thập tải sinh bình chí,
Khai trí thiên niên Tổ quốc quang"
1912, nhưng Nguyễn Hải Thần không hoàn thành nhiệm vụ, về Trung Quốc báo cáo là bom thối không nổ Biết
sự việc, Phạm Văn Tráng đã xung phong về giết tên Tuần phủ Thái Bình
Phạm Văn Tráng từng dạy học ở làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định quê hương của Tuần phủ Thái Bình Nhờ
đó mà Tráng biết quá rõ tông tích và hành vi bạo ngược của hắn
1 Theo tài liệu thực dân Pháp ghi khi hành quyết ông là 28 tuổi (tức sinh 1885).
1 Tại phố Hàng Nâu, thành phố Nam Định có ngôi đình do dân Bát Tràng trú ngụ dựng lên.
Trang 13Cùng về nước chuyến này còn có Nguyễn Khắc Cần, quê ở xã Yên Viên, huyện Gia Lâm là thầy đồ vàNguyễn Văn Thụy, tức Hán Minh, nguyên quán xã Lương Quán, tỉnh Kiến An Về tới Nam Định, Phạm VănTráng đi gặp Phạm Đệ Quý tức Nhị Quý, người làng Tương Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định là hội viên Việt
Nam Quang Phục hội để phối hợp
Sau khi nắm chắc quy luật đi lại của Tuần phủ Thái Bình, sáng ngày 12 tháng 4 năm 19131, Phạm Văn Tráng
có mặt ở thị xã Thái Bình đón đường tên tuần phủ, Nhị Quý cảnh giới Xe tay của tên tuần phủ do một người kéo
từ tòa sứ về dinh tuần phủ Phạm Văn Tráng ném lựu đạn, miệng hô "Cách mạng Việt Nam thành công!", Viên
Tuần phủ chết ngay tại chỗ Người kéo xe cũng bị thương, nhưng vào nhà thương chữa thì khỏi được Phạm Văn
Tráng hành sự xong, ung dung ngồi ở quán uống nước, nghe tin tức rồi mới đi
Tuần phủ chết, sĩ phu và nhân dân Bắc Kỳ vô cùng mừng rỡ Cử nhân Nguyễn Hiếu Tiến viết trong bài "Bài biểu
của thân sĩ Bắc Kỳ điếu tuần phủ Thái Bình bị bom giết chết", trong đó có đoạn:
Đỗ cử nhân khoa Bính Tuất (1886) chó ngáp phải ruồi Sang hậu bổ giữa Thái Bình chuột sa chĩnh gạo…
Đóng liều một chỗ làm luôn bốn năm
… Cứ bờ sôi ruộng mật, chi lợi quyền
Thì xanh vỏ đỏ lòng chi chính sách
Đỏ như vông, đông như tiết, nhờ máu manh nhi đưa đi;
Cơm là gạo, áo là tiền, đầy túi tham chi thắt lại Được thể dễ nói khoác, biết phủ huyện nhi đổ hồ Càng quen lèn cho đau, nhè thân hào nhi giở mặt
Chỉ khéo lựa chiều che gió,
Sứ muốn ăn cho ăn, muốn chơi cho chơi;
Xui nên há miệng mắc quai, Tuần bảo xôi ừ xôi, bảo thịt ừ thịt
… Múa tay trong bị, bụng rặt nhũng gươm
Ký đổi trắng thay đen Thả tát cạn nhi bắt lấy Trước còn vơ vét, giăng cánh lưới dĩ ngang sông;
Sau lại dò la, bới chân lông nhi tìm vết…
Bài biểu kết bằng đoạn:
Rồi ra của đội nón đi Vào lỗ hà ra lỗ hổng
Má phấn môi son chi Đào Bích, chưa kịp đôi hồi!
Nâng khăn sửa túi chi hầu non, lấy ai cai quản?
Hàm Tổng đốc được truy tặng nhé! Thống sứ thương thay Vua Diêm vương có mật thám chưa? Quan Tuần xuống đó
1 Có tài liệu viết là ngày 14-3-1913.
Trang 14Thân sĩ chúng tôi bất thăng, nguýt nguýt lườn lườm
chi chí Cẩn trầu biểu dĩ văn.
Thực hiện xong nhiệm vụ, Phạm Văn Tráng đến làng Yên Viên gặp Nguyễn Khắc Cần theo giao ước từtrước Khi đó Nguyễn Khắc Cần và Nguyễn Văn Thụy ném tạc đạn vào khách sạn Hà Nội, nay ở phố Tràng Tiềngiết chết hai tên trung tá Pháp đã trở về an toàn Cũng trong thời gian đó, có hai người cũng là hội viên Việt NamQuang Phục hội, nhưng khi bị giặc Pháp bắt được ở Lào Cai, cả hai tên đã ra đầu thú, nhận làm mật thám, chỉđiểm cho Pháp mà Phạm Văn Tráng và Nguyễn Khắc Cần không biết Trong bữa cơm mừng thắng lợi, các ông
đã nói cho hai tên này biết các ông sẽ đi tàu lên Lạng Sơn rồi sang Trung Quốc lấy thêm vũ khí rồi trở về nướcchờ cơ hội thi hành bản án với Toàn quyền Anbe Xarô và Hoàng Trọng Phu Lập tức hai tên này báo cho mậtthám Pháp biết thời gian, địa điểm hành trình của các ông Ngày 7 tháng 5 năm 1913, hai ông vừa xuống tàu ở ga
Lạng Sơn thì mật thám Pháp ập đến bắt đưa về Hà Nội
Về tới Hỏa Lò Hà Nội các ông mới biết Nguyễn Văn Thụy, Lương Văn Phúc và hàng chục hội viên ViệtNam Quang Phục hội bị chúng bắt Bọn mật thám dùng mọi cực hình tra tấn nhưng hai ông nghiến răng chịuđựng, không khai báo,… Những ngày sau đó, nhiều cuộc vây ráp hội viên Việt Nam Quang Phục hội ở Hà Nội
và ở các tỉnh diễn ra, số người bị bắt lên tới 254 người, đều là hội viên và có liên quan Ngày 5 tháng 9 năm
1913, giặc Pháp lập Hội đồng đề hình xét xử 871 người, có 7 người chịu án tử hình là: Phạm Văn Tráng, NguyễnKhắc Cần, Phạm Đệ Quý, Phạm Hoàng Triết, Phạm Hoàng Luân, Phạm Văn Tiến, Nguyễn Văn Thụy.Gương hy sinh anh dũng của các ông đã gây chấn động dư luận thời đó Nhân dân Hà Thành hết lời ca tụngcác ông, coi các ông tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, bất khuất của người Hà Nội Thực dân Pháp, kẻ giết hạicác ông, cũng phải ca ngợi, báo "Tương lai Bắc Kỳ" do Thống sứ Pháp nắm đã đăng liền ba số trong các ngày 5-
9, 8-9, 25-9 đã hết lời ca ngợi các ông Trong số ra ngày 25 tháng 9 năm 1913 còn in trang trọng chân dung các
ông bị chúng hành quyết ngày 29 tháng 9 năm 1913, bài viết về Phạm Văn Tráng như sau:
"Bình tĩnh và pha chút diễu cợt, Phạm Văn Tráng, tức Chang, người sát hại tuần phủ Thái Bình đã đề nghịngười lính gác tù là sau khi bị tử hình hãy ném xác ông ta xuống sông Hồng để nuôi cá, hoặc ném vào rừng sâu
để làm miếng mồi ngon cho hổ, chứ đừng đem chôn trong lòng đất, vì như vậy ông ta sẽ phải gặp lại tên tuần phủ
Thái Bình, kẻ thù mà ông không muốn làm lành
Ông Tráng cũng bày tỏ nguyện vọng sáng ngày hôm sau được tắm một cái…
… Bên trong nhà tù, thời khắc kinh hoàng đã điểm Tên Labalettem, đội trưởng lính gác dẫn đoàn người đếncác phòng giam tử tội Phạm Văn Tráng, tác giả vụ mưu sát tuần phủ Thái Bình là người đầu tiên bị đánh thức.Ông ta mỉm cười đứng nghe lời tuyên đọc rồi đáp: "Thế là tốt?" Hai tòng phạm là Nguyễn Văn Thụy và Phạm
Đệ Quý (tức Phạm Đức Quý) vẫn thản nhiên và không nói gì
… Thời khắc đã đến, cánh cửa nhà giam mở ra, tất cả họ bước đi trong sự can đảm, và chỉ trong vòng bốn
phút rưỡi mà tổng số 7 tử tội đã bị hành quyết
Trước hết là Phạm Văn Tráng tức Chang 28 tuổi, thày giáo dạy chữ, gốc gác ở làng Bát Tràng Phạm VănTráng vốn là học sinh trường Êcônđờ (Ecole de) Nam Định, sau bỏ nhà, tự mình đi kiếm sống bằng nghề dạyhọc Thời gian dạy học ở Hành Thiện, Tráng đã làm quen với các thành viên của "Hiệp hội tử vì nghĩa" Đây là
tổ chức gồm những người chuyên hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp chung của Đảng Tháng 12 năm 1912, Trángsang Trung Quốc và trước đó ông đã có mặt tại Nam Định để tham dự đại hội đại biểu toàn đảng (gồm những
người đứng đầu) tổ chức vào tháng 2 năm 1912
1 Có sách ghi 87 người.
Trang 15… Ông Tráng được giao nhiệm vụ giết chết tuần phủ Thái Bình vì tội đã làm tê liệt mọi hoạt động của đảngcách mạng ở vùng này… Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Tráng trở lại Yên Viên để lên đường sang Trung Quốctìm mua một số quả bom mới, nhưng đã bị bắt tại Lạng Sơn cùng với Nguyễn Khắc Cần… Khi bị người của sởmật thám xét hỏi, Tráng đã ca tụng hành động của mình và tuyên bố hài lòng về việc mình làm nhằm giải thoát
đất nước cho khỏi ách đô hộ của thực dân"1
An thị danh lưu Hàn vị diệt,
Ôn sinh thân tuẫn Hán phương tồn.
Anh hùng huyết mạch tràng vô tận, Thả chủng thiên thu nghĩa hiệp côn.
Chàng Yên nổi tiếng Hàn chưa mất 1
Ôn thị liều thân Hán vẫn còn.
Huyết mạch anh hùng còn mãi mãi, Ngàn thu nghĩa hiệp gốc không mòn.
Nguyên âm:
Liễn viếng
Tịch lịch nhất thanh, quần gian đởm tán;
Giang sơn thiên cổ, đại hiệp hồn hương,
Dịch thơ:
Sấm sét một kêu, bọn gian đởm tán;
Non sông ngàn thuở, hiệp sĩ hồn thơm.
Nguyễn Khắc Cần
Nguyễn Khắc Cần tên chữ là Tiểu Lâm, người xã Yên Viên, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay
thuộc Hà Nội, cùng với Phạm Văn Tráng tham gia Duy Tân hội và phong trào Đông Du Ông là người trầm nghị,
1 Báo Tương lai Bắc Kỳ số ra ngày 25-9-1913 Phạm Quân dịch, in lại trong Danh nhân Hà Nội.
1 Yên Trọng Căn người Triều Tiên (Hàn) ám sát tên Y đằng Bác Văn, Toàn quyền Nhật ở Triều Tiên
Trang 16ít nói, kín đáo Nguyễn Khắc Cần cùng Phạm Văn Tráng là ủy viên tán trợ của trường Đông Kinh Nghĩa Thục.Ông góp phần tích cực cùng Nguyễn Cảnh Lâm tổ chức phân hiệu Đông Kinh Nghĩa Thục ở huyện Gia Lâm.Năm 1907, trường Đông Kinh Nghĩa Thục bị nhà cầm quyền Pháp giải thể, ông hoạt động trong phong tràoĐông Du vận động thanh niên đi du học ở Trung Quốc, Nhật Bản và quyên tiền ủng hộ cho phong trào này.Ngày 19 tháng 6 năm 1912, Phan Bội Châu họp các hội viên Duy Tân, phong trào Đông Du ở Trung Quốc,Xiêm La (Thái Lan) và trong nước tuyên bố giải thể hai tổ chức trên thành lập tổ chức chính trị mới là Việt Nam
Quang Phục hội với tôn chỉ thành lập nước Cộng hòa Dân quốc Việt Nam tại Trung Hoa
Mùa đông năm Nhâm Tý (1913), Nguyễn Khắc Cần sang Trung Quốc họp với những người trong đảng,
Trung ương Việt Nam Quang Phục hội chủ trương "phải làm gì để gọi tỉnh hồn nước" và xác định "thì phải giết
tên cướp nước đầu xỏ, cảnh cáo bọn chó săn, chim mồi, chấn hưng dân khí", nên phái các hội viên Nguyễn
Trọng Thường (tức Nguyễn Thạc Chi), Nguyễn Hải Thần, Phạm Văn Tráng, Nguyễn Khắc Cần, Nguyễn VănThụy về nước phối hợp với các hội viên trong nước như Phạm Hoàng Triết, Phạm Hoàng Luân, quê ở Lỗ Khê,Đông Anh thi hành bản án tử hình đối với tên trùm thực dân Anbe Xarô và các tên tay sai đầu sỏ Hoàng Trọng
Phu, Nguyễn Duy Hàn
Nguyễn Hải Thần được giao nhiệm vụ đặt bom tại vọng cung thành Nam Định mưu sát Toàn quyền AnbeXarô đến chúc mừng các cử nhân thi đỗ khoa thi Hương tại trường thi Nam Định, nhưng không hoàn thành
nhiệm vụ, Nguyễn Hải Thần về Trung Quốc báo là bom không nổ
Ngày 14 tháng 3 năm 1913, trước tình hình đó, Phạm Văn Tráng đã xung phong về nước thi hành nhiệm vụ
mà Hải Thần không hoàn thành đã ném bom tại tỉnh lỵ Thái Bình giết chết tên tuần phủ Việt gian bán nước.Sau sự kiện giết tuần phủ Thái Bình, thực dân Pháp và tay sai hết sức cảnh giác đề phòng việc đánh bom cáccông sở, doanh trại, khách sạn, nhà hàng, chúng thực hiện canh gác nghiêm ngặt Sự đề phòng của giặc không làmnhụt ý chí tấn công của các chiến sĩ Việt Nam Quang Phục hội Ngày 25 tháng 4 năm 1913, Nguyễn Khắc Cần vàNguyễn Văn Thụy do thám biết bọn sĩ quan Pháp thường tụ tập ăn uống ở khách sạn (Hotel) tại đường Pônbe(Paulbert), nay là phố Tràng Tiền Nguyễn Văn Thụy cảnh giới cho Nguyễn Khắc Cần liệng bom vào giết chết haitrung tá Pháp là Mônggơray (Mongraud) và Sapuy (Chapuis), một số tên Pháp và tay sai người Việt bị thương1.Thi hành xong bản án, lợi dụng lúc bọn giặc đang hoảng loạn, la hét, hai ông ung dung đi bộ trên đường rồilên một chiếc xe tay kéo nhanh qua Gia Lâm về Yên Viên Hai anh em ẩn náu ở Yên Viên, vài hôm sau thấy giặckhông lùng sục Nguyễn Khắc Cần thết một bữa tiệc đạm bạc tại nhà mình để mừng thành công, có một người là2
đại diện của Việt Nam Quang Phục hội dự
Nguyễn Khắc Cần và Nguyễn Văn Thụy được lệnh trở về Trung Quốc nhận nhiệm vụ mới Trên đường đi,ngày 7 tháng 5 năm 1913, hai ông vừa từ trên xe lửa bước xuống một ga xép, hai người bị lính vây kín áp tới lục
soát Vì trong người hai ông có một số giấy tờ khả nghi, nên chúng bắt cả 2 người giải về Hà Nội
Sau hành động làm kinh hoàng giặc Pháp và bọn Việt gian bán nước ở Thái Bình và Hà Nội, giặc Pháp điêncuồng khủng bố các cơ sở Việt Nam Quang Phục hội ở trong nước Chúng bắt tất cả những người chúng nghingờ có liên quan đến phong trào Đông Du và vụ Hà Thành đầu độc Tại các tỉnh Bắc Kỳ, các nhà tù chật ních các
1 Sách "Nhân Chính trên những chặng đường lịch sử" - Nxb Chính trị, quốc gia, viết quả bom (lựu đạn) do Nguyễn Khắc Cần ném là do
ông Tư Diếc (Nguyễn Văn Diếc) ở làng Mọc Quan Nhân chế tạo, giặc Pháp bắt ông đày đi Côn Đảo.
Sách Việt Nam nghĩa liệt sử, Đặng Đoàn Bằng viết "Hiệp sĩ Nguyễn Khắc Cần ném quả tạc đạn ở khách sạn Hà Nội là do Hán Minh (?)
ném nhầm vào quan binh Pháp Pháp truy nã ráo riết người đảng, bọn chó săn cũng đề phòng rất nghiêm ngặt, nên ông không thực hiện được
kế hoạch của mình Ông lại cùng Nguyễn Thế Trung định ra ngoại quốc Đến Lạng Sơn thì gặp phải người Pháp, nên cả hai bị bắt Nguyễn Khắc Cần muốn cho Hán Minh chạy thoát cho nên mới nhận với người Pháp chính ông là người ném tạc đạn ở khách sạn Vì vậy ông bị giết cùng Nguyễn Thế Trung.
2 Có sách viết người này là đại diện Việt Nam Quang phục hội chỉ huy những người lưu động trong nước và phân phát phương tiện hành động cho các nhóm Khi bị giặc Pháp bắt được ở Lào Cai, tên này và một tên nữa làm phản, nhận làm mật thám, chỉ điểm cho Pháp.
Trang 17chiến sĩ cách mạng Riêng các chiến sĩ Việt Nam Quang Phục hội ở Hà Nội ngoài Nguyễn Khắc Cần, NguyễnVăn Thụy, chúng còn bắt được Phạm Văn Tráng, Phạm Hoàng Triết, Phạm Hoàng Luân Bọn mật thám còn điềutra biết ông Tư Diếc ở làng Quan Nhân đã chế tạo quả bom cho Nguyễn Khắc Cần ném, nên bắt ông Tổng số
chiến sĩ Việt Nam Quang Phục hội ở Hà Nội và những người có liên quan lên tới 254 người
Tất cả những người bị bắt đều bị chúng tra tấn dã man để lấy khẩu cung Trong cuốn sách: "Phong trào
Đại Đông Du" của Phương Hữu có thuật lại có một viên thẩm phán người Việt xét vụ liệng bom ở Hà Nội tra
hỏi các chính trị phạm cặn kẽ, gắt gao, bị Nguyễn Khắc Cần đứng ra trả lời một cách khinh bỉ: "Ông cũng là
người Việt Nam như tôi sao ông lại hỏi tôi những câu ấy? Tôi cho ông biết ý tưởng của tôi, chết bây giờ, chết ngày mai, hay ngày sau, ông thấy khác ở chỗ nào? Nếu ông cho rằng tôi đã phạm một tội tàn bạo, thì ông
cứ chặt đầu tôi đi, tôi sẵn sàng chịu hình phạt, ông còn tra hỏi tôi nhiều mà làm chi! Mục đích việc hành động tôi há không rõ như nước trong dưới khe? Năm ba người bị xử tử, thây kệ, những kẻ khác sẽ noi theo
chúng tôi, ông không giết chết hết chúng tôi được đâu!".
Ngày 5 tháng 9 năm 1913, Hội đồng Đề hình Pháp mở phiên tòa xét xử 84 người trong số 254 người được coi
là có liên quan đến các vụ ném tạc đạn ở Thái Bình và Hà Nội và hoạt động ám sát Chúng tuyên tử hình 7 ngườivới tội danh "âm mưu ám sát hoặc đồng lõa ám sát" là: Nguyễn Khắc Cần, Phạm Văn Tráng, Phạm Đệ Quý,Nguyễn Văn Thụy, Phạm Hoàng Luân (Quế), Phạm Hoàng Triết và Phạm Văn Tiến - người ám sát chủ đồn điềnphản bội ngày 25 tháng 5 năm 1913 Ngoài ra còn kết án Lương Văn Phúc tội đồng lõa trong vụ ném tạc đạn ởThái Bình với án khổ sai chung thân vì mới 18 tuổi, 8 người bị lưu đày trong đó có ông Tư Diếc ở Quan Nhân, 5
người án biệt xứ, 2 người miễn tố, 11 án giam quản thúc, 9 người trắng án
Tòa án thực dân Pháp cũng kết án vắng mặt 13 người lưu vong ở Trung Quốc, trong đó có 6 án tử hình làCường Để, Phan Bội Châu, Nguyễn Bá Trạc, Nguyễn Văn Thịnh, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Trọng Thường
(Nguyễn Thạc Chi ) và 7 án chung thân trong đó có Hai Kế (Nguyễn Thiện Kế)
Tuy giặc Pháp đã kết án tử hình vắng mặt nhiều yếu nhân của Việt Nam Quang Phục hội đang ở Trung Quốc,nhưng nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương vẫn chưa yên tâm Chúng đã cấu kết với Long Tế Quang, Đô đốcQuảng Đông bắt các chiến sĩ cách mạng Việt Nam chủ yếu là Việt Nam Quang Phục hội nhằm giải tán Việt Nam
Quang Phục hội và hội "Chấn Hoa hưng á" do Phan Bội Châu sáng lập.
Ngày 19 tháng 1 năm 1914, Phan Bội Châu và Mai Lão Bạng bị chính quyền Quảng Đông bắt giam.Mặc dù bọn cầm quyền Pháp đã đàn áp tàn bạo Việt Nam Quang Phục hội ở trong nước cũng như ở TrungQuốc, nhưng bọn thực dân Pháp ở Đông Dương vẫn vô cùng hoảng hốt Cụ Phan Chu Trinh khi đó đang ở Pháp.Phóng viên một số tờ báo phỏng vấn cụ về vụ này Cụ đã vạch mặt bọn thực dân Pháp ở Đông Dương Cụ nhắclại với phóng viên các báo lời phát biểu của cụ với Bộ trưởng thuộc địa Mátsuy và Toàn quyền Đông Dương
Anbe Xarô về những vấn đề có liên quan đến vụ ném bom như sau:
"Tôi đã cho họ biết hoàn cảnh nặng nề của đồng bào tôi Tôi đã nói với họ rằng: "Nếu người ta không thực
hiện những cải cách đã hứa với nhân dân An Nam, thì tất cả đều đáng lo ngại cả… Từ lúc ấy người ta đã làm vài việc cỏn con cho người Việt Nam, nhưng như là cho một đứa trẻ một cái kẹo để xoa những vết đòn đầy rẫy trên mình nó, việc độc quyền rượu lại được tiếp tục, mặc dù người ta đã hứa một cách trịnh trọng là việc đó không xảy ra nữa; những nhà ái quốc bị đày ở Côn Đảo vẫn rên xiết ở trong đó, khi người ta đã hứa tha họ; nền học vấn mà chúng tôi đòi hỏi vẫn bị từ chối, sự khinh bỉ mà chúng tôi đã tố cáo vẫn đến với chúng tôi một cách rộng rãi… Nhân dân Việt Nam muốn được học, được kính trọng, không muốn bị nhồi nhét bằng rượu, và có thể
dần dần sẽ tự giác thoát được"1
1 L'Asie francaise năm 1913, bài "Aropos de là bom be de Hà Nội, trang 219, dẫn trong Lịch sử thủ đô Hà Nội".
Trang 18Nguyễn Khắc Cần, Phạm Văn Tráng và các đồng chí của hai ông tuy chưa đạt được mục tiêu mà Trung ươngViệt Nam Quang Phục hội đề ra và phong trào có bị thực dân Pháp khủng bố, lực lượng Việt Nam Quang Phụchội bị thiệt hại nặng nề nhưng những hành động anh hùng của họ đã thức tỉnh lòng yêu nước của đồng bào Hà
Nội cũng như đồng bào cả nước2
Thơ điếu
Phiên âm:
Anh hiền khâm bão hiệp can trường, Thành sự qui nhân bại độc đương.
Khởi vị báo bì danh khả ái;
Cánh cam hổ khẩu độc tiên thường.
Tín trinh kim thạch tâm nan tử, Bích nhiễm sơn hà huyết hữu hương.
Kỳ khí dĩ kham hàn tặc đởm, Chi kim bạch nhật quán hồng quang.
Dịch:
Anh hiền cầm sẵn tấm gan rồi, Thành việc là người bại ấy tôi.
Hà phải da heo mà lấy tiếng;
Chỉ cam miệng cọp để làm mồi.
Tin như vàng đá lòng khôn chết, Thơm nhuộm non sông máu đã sôi.
Khi mạnh làm cho thù mất vía, Cầu vồng muôn thuở mặt trời soi.
Nguyễn quang Diêu
Nguyễn Quang Diêu hiệu Tử Ngọc, biệt hiệu Trần Cảnh Sơn và Nam Xương, ông sinh năm Canh
Thìn (1880) con cụ Nguyễn Quang Huy (tức Hội đồng Sách) và cụ bà Nguyễn Thị Huệ - một gia đình khá giả;quê ở xã Tân Thuận, tổng An Tịnh, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, nay thuộc xã Tân Thuận Tây, thành phố Cao
Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
2 Cách mạng cận đại Việt Nam Thăng Long Hà Nội Lịch sử thủ đô Hà Nội Phan Bội Châu niên biểu Thơ văn Phan Bội Châu Chống xâm lăng của Trần Văn Giàu - Lịch sử Việt Nam 1897 - 1918.
Trang 19-Nguyễn Quang Diêu có tư chất thông minh từ nhỏ, đặc biệt là tính tình khoan dung, điềm đạm nhưng ngaythẳng và dũng cảm, có tâm hồn yêu nước dạt dào Ông là học trò nhà chí sĩ Trần Hữu Thường1 nên sớm ý thứcđược sự nhục nhã của một dân tộc mất chủ quyền Khi phong trào Duy Tân phát triển lan rộng vào Nam ônghăng hái tham gia và hoạt động cùng các chí sĩ Nguyễn An Khương (cha Nguyễn An Ninh), Nguyễn Thần Hiến,Bùi Chí Nhuận Năm 1907, ông hoạt động và đặt trụ sở bí mật ở chùa Linh Sơn (Cao Lãnh), từ chùa này ôngphát triển tới chùa Kim Quang và các chùa khác Năm 1910, ông làm bài thơ Tự thuật tỏ rõ ý chí làm cách mạng
tới cùng của mình
Tự thuật
Nghĩ mình mang lấy tiếng nam nhi Cái nợ cung dân gánh nặng trì, Tuổi tác đã vừa ba chục chẵn Công danh chưa có ít nhiều chi!
Rừng cao yến đỗ nương nhờ chỗ, Gió thuận hồng mong gặp gỡ khi Xem khắp thế tình rồi nghĩ ngợi Muốn nói Thánh trước cưỡi bè đi 1
Năm 1912, Phan Bội Châu giải tán Duy Tân hội thành lập Việt Nam Quang Phục hội thì ông và hầu hết cácđồng chí lại chuyển sang hoạt động cho Việt Nam Quang Phục hội Tháng 5 năm 1913, Nguyễn Quang Diêu dẫuđầu một đoàn 12 người, vượt biên giới sang Cao Miên, tới Xiêm La để từ đó đi Trung Hoa liên lạc với Phan BộiChâu và các đồng chí trong Tổng bộ Trước khi đi ông làm bài thơ gửi vợ nhờ đồng chí là Hai Kỳ đưa cho vợ
Ai ơi! hãy nếm mùi ly biệt,
Có nếm rồi ra mới hết ngon!
(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam)
1 Trần Hữu Thường còn gọi là Tú Thường, sinh năm 1884, tại xã Phú Thuận, quận Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ nhiều lần mời cụ ra làm quan, cụ từ chối, mở trường dạy học và làm thơ yêu nước.
Nxb Văn học, Hà Nội, 1985.
1 Hương Hỏa: do chữ tam sinh hương hỏa, nói chuyện đôi lứa nhân duyên.
2 Tang bồng: Cái cung bằng cành dâu, cái tên bằng cỏ bồng Xưa ở Trung Quốc sinh con trai thì dùng cung bằng cành dâu tên bằng cỏ bồng bắn ra bốn phương, trên trời, dưới đất cầu cho đứa trẻ lớn lên tung hoành ngang dọc.
Trang 20Đến Hương Cảng, các ông chưa kịp hoạt động thì cảnh sát Anh khám thấy tạc đạn và giấy tờ quan trọng tại
nơi phái đoàn ở, nên ông và các đồng chí đều bị bắt Nhà cầm quyền Anh ở Hương Cảng trục xuất, giải các ông về Hà Nội, giao cho mật thám Pháp
Trong phiên tòa xét xử, chúng coi ông là người cầm đầu, kết án 10 năm khổ sai, đày sang Guyam (Nam Mỹ).Trên đường đi Guyam, qua Pháp chúng giam ông ở nhà ngục Mácxây Tại nhà tù nổi tiếng nghiệt ngã của đế chế
Pháp, ông sáng tác bài thơ:
Sổ lồng tháo cũi hẳn chờ khi.
Làm sao cũng chẳng làm sao vậy, Thương nước gan ông nó đã lỳ!
Thực dân Pháp đày Nguyễn Quang Diêu đến một hòn đảo hoàn toàn xa lạ, sống giữa những người ngoại tộc,ông không hề biết tiếng, phong tục tập quán của họ, không được nghe tiếng nói thân thương của đồng bào, đồngchí, cách Việt Nam nửa vòng trái đất Đế quốc Pháp tin rằng ông sẽ phải chịu chết già trên hòn đảo đó, song với
ý chí quật cường, quyết tâm vượt ngục trở về nước hoạt động như ông đã bộc lộ trong bài thơ Bị giam ở Mácxây
cảm tác;
… Nếm mật nằm gai đành tạm lúc,
Sổ lồng tháo cũi hẳn chờ khi….
Đầu năm 1917, Nguyễn Quang Diêu vượt ngục trốn sang đảo Trinidat thuộc Anh Do ông đã giỏi tiếng Pháp,tiếng Hoa nên ông sống trà trộn trong đồng bào Hoa gặp nhiều thuận lợi Bằng sự ngụy trang khéo léo để giấutung tích, cuối năm 1920, Nguyễn Quang Diêu trở về Hồng Kông rồi tới Quảng Châu liên lạc với Phan BộiChâu Bạn bè, đồng chí vô cùng kinh ngạc thấy ông xuất hiện ông rất đau buồn khi biết tin nhiều đồng chí thânthiết đã hy sinh hay còn nằm trong nhà tù đế quốc Được trở về hoạt động cùng các đồng chí, được nghe tiếngnói thân thương của đồng bào, ông dồn hết sức lực, tâm trí cho công tác cách mạng, bù đắp cho thời gian ông bị
thực dân Pháp cầm tù ở nơi xa xôi
Năm 1921, khi ông đang ở Trung Quốc thì nhận được tin thầy Tú Thường mất, ông làm thơ gửi về viếng
Học trò của ông là Nguyễn Chánh Giáo dịch ra chữ quốc ngữ:
Bài thơ khóc thầy
Nhớ Thái Sơn nước trông chớn chở Đỉnh chọc trời bỗng lở thình lình Ngậm ngùi dấu sách còn in
Sở hòng tranh lấp dạy mình giờ ai?
Cửa Trình Hạo bụi dầy tuyết phủ Sân Đào Tiềm lối cũ tòng hoang
Trang 21Tình thầy nợ nước chứa chan Nỗi niềm thầm nghĩ, dạ càng xót xa!
Sau thất bại trong âm mưu khởi nghĩa năm 1916 của Việt Nam Quang Phục hội ở các tỉnh miền Nam Trung
Kỳ (do các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân có vua Duy Tân tham gia và khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917 doTrịnh Văn Cấn chịu ảnh hưởng của Lương Ngọc Quyến một yếu nhân Việt Nam Quang Phục hội thất bại) thìViệt Nam Quang Phục hội không còn hoạt động nào đáng kể Từ năm 1920 đến năm 1922 cụ Phan Bội Châu
chuyển sang viết cho các tờ báo Đông á Tân văn ở Bắc Kinh và Tạp chí Bình Sự ở Hàng Châu.
Sau vụ Phạm Hồng Thái ném tạc đạn giết hụt Toàn quyền Maclanh ở Sa Điện tháng 5 năm 1924, Phan BộiChâu viết Tuyên ngôn Dân đảng Việt Nam về vụ án này Đồng thời Phan Bội Châu cải tổ Việt Nam Quang Phụchội thành Việt Nam Quốc dân đảng Nguyễn Quang Diêu là trợ thủ đắc lực cho tổ chức mới này Song công việcmới bắt đầu thì tháng 6 năm 1925 cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt cóc ở Thượng Hải đưa về Hà Nội.Phong trào cách mạng ở trong nước cũng như ở Trung Quốc, Xiêm La đều gặp khó khăn Đầu năm 1927,Nguyễn Quang Diêu tình nguyện về nước với cái tên mới là Trần Văn Vẹn, để khôi phục phong trào mặc dù ôngbiết nguy hiểm đang rình rập ông ở khắp nơi Tháng 3 năm 1927, ông từ Sài Gòn bí mật về Sa Đéc là địa bànhoạt động của ông trong đó có chùa Linh Sơn ở Cao Lãnh là trụ sở1 Khi ông Diêu đến, ông Võ Hoành (một yếunhân của Đông Kinh Nghĩa Thục theo xu hướng bạo động bị thực dân Pháp an trí ở đó) đã cho người đi mời cụNguyễn Sinh Sắc đến bàn việc bố trí nơi ẩn náu cho ông Nguyễn Quang Diêu Cụ Sắc đưa ông Diêu đến sởruộng ở kênh Ba Thê cũ (sau núi Sập) nay thuộc xã Phước Mỹ, thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang nơi cụ và cụ
Vũ Hoành tổ chức khai hoang từ trước để làm kinh tài cho phong trào Những người đến đây khai hoang đều làngười nghèo, bị điền chủ áp bức không có ruộng cấy, những chính trị phạm cũ, nên đã nhiệt tình giúp đỡ và bảo
vệ ông Diêu như những nhà hoạt động cách mạng khác Từ sở ruộng Ba Thê, ông Nguyễn Quang Diêu đi mócnối với các cơ sở cũ, phát triển cơ sở mới Cụ Sắc và một số nhà yêu nước thường qua lại bàn bạc về thời cuộc,
về phong trào cách mạng với ông Diêu Với tài làm thơ quốc âm và vè ông Diêu đã sáng tác nhiều bài thơ, vè vềgiới nông dân nghèo khổ để tuyên truyền, vận động, tố cáo tội ác của thực dân Pháp, quan lại với lời lẽ dung dị
có vần điệu như các bài: Chiêu hồn dân nông, Vợ nhà nông khuyên chồng, Chồng nhà nông khuyên vợ, Sầu non
nước Trong đó Sầu non nước là một bài thơ dài có 10 khổ thơ, mỗi khổ tám câu Đó là những câu thơ rỉ máu nói
về cảnh nước mất nhà tan và là lời kêu gọi thiết tha:
Ai cũng anh em Hồng Lạc cả
Ai ơi phải biết phận làm dân!
Thực dân Pháp đánh hơi thấy các hoạt động cách mạng của Nguyễn Quang Diêu, chúng tung mật thám đi dò
la tung tích của ông, lùng bắt ông rất gắt gao, ông phải thường xuyên thay đổi chỗ ở Theo Công văn mật số 1895ngày 6 tháng 6 năm 1928 thì ngày đó cụ Sắc đến tìm Nguyễn Quang Diêu ở Tân An (Tân Châu) Khi thì ôngDiêu ở trại ruộng tại Rạch Giá, khi ở Bến Tre, khi ở núi Lam (Châu Đốc), khi sống với các nhà sư trong các ngôi
chùa hẻo lánh, có lần mật thám truy lùng gắt quá ông lại ẩn náu tại vùng biên giới Việt - Miên
Do Nguyễn Quang Diêu tham gia phong trào Đông Du, Việt Nam Quang Phục hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc
của chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên, nên ông đã dịch các sách Tam dân chủ nghĩa, Ngũ quyền hiến pháp
của Tôn Dật Tiên
Sau một số người có cảm tình với ông, lại có thế lực đối với Pháp đứng ra bảo trợ nên Nguyễn Quang Diêuđến làng Vĩnh Hoà gần Tân An dạy học và bốc thuốc Ông cũng sáng tác nhiều văn thơ để gửi gắm nỗi niềm tâm
sự của mình
1 Tháng 3 năm 1917, cụ Nguyễn Sinh Sắc đến chùa Linh Sơn gặp nhà sư yêu nước Hoàng Đạo trụ trì ở đó, sư Hoàng Đạo cho cụ Sắc biết chùa Linh Sơn là trụ sở của phong trào Đông Du ở Nam kỳ do ông Nguyễn Quang Diêu là lãnh tụ.
Trang 22Tháng 5 năm 1929, cụ Nguyễn Sinh Sắc đến Vĩnh Hoà (Tân Châu) thăm ông Diêu đang dạy học ở đó ÔngDiêu đã truyền được lòng yêu nước, căm thù giặc Pháp cháy bỏng của mình đến học sinh Sau này phần lớn họcsinh của ông đều trở thành đảng viên cộng sản sau năm 1930 khi đảng Cộng sản Đông Dương ra đời1.Mùa hè năm 1935, Nguyễn Quang Diêu mắc bệnh mà mất, thọ 55 tuổi Các đồng chí của ông làm câu đối
1 Tư liệu về cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
2 Theo Nguyễn Văn Hầu, Nguyễn Quang Diêu - Phong trào Đông Du miền Nam, Nxb Hương Sơn, Sài Gòn, 1974.
Trang 23Phạm Hoàng Triết - Phạm Hoàng Luân
Tại làng Lỗ Khê, tên Nôm là làng Rỗ Khê có nhà họ Phạm Hoàng Gia đình có bốn anh em trai, anh
cả là Phạm Hoàng Trù đỗ cử nhân, được bổ nhiệm làm Huấn đạo Ba người em của ông Trù đều học giỏi trong
đó xuất sắc có Phạm Hoàng Triết sinh năm 1875, Phạm Hoàng Luân sinh năm 1877 (còn gọi là Phạm HoàngKhuê, Phạm Hoàng Quế), hai ông do chưa đỗ đạt nên đi dạy học Học trò và cư dân kính trọng không gọi tên húy
hai ông, mà gọi là Đồ Ba, Đồ Tư, hoặc Đồ Tam, Đồ Tứ
Cả mấy anh em đều ở chung một nhà và có lòng hiếu thảo phụng dưỡng mẹ già, nổi tiếng hiếu thuận trong
vùng
Năm 1906, hai ông Phạm Hoàng Triết và Phạm Hoàng Luân tham gia tổ chức Duy Tân hội Năm 1907trường Đông Kinh Nghĩa Thục thành lập, hai ông tham gia, mở phân hiệu Đông Kinh Nghĩa Thục ở Lỗ Khê Cácông còn tổ chức bình văn thơ là những tài liệu được giảng dạy ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục cho đông đảo
nhân dân nghe
Phạm Hoàng Luân là người cương nghị, có tài tổ chức nên được "ủy ban Hành quyết" của Việt Nam QuangPhục hội giao cho phụ trách hai huyện Đông Anh và Tiên Du Phạm Hoàng Triết, Phạm Hoàng Luân đã tham gia
tuyên truyền, vận động cho phong trào ở địa phương
Hai ông còn đến tận huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình nói chuyện thời thế với anh cả là Phạm Hoàng Trùđang làm huấn đạo Sau buổi nói chuyện này, Phạm Hoàng Trù lấy cớ phải nuôi mẹ già, từ quan về dạy học.Nguyễn Khắc Cần cũng là ông đồ ở làng Yên Viên, huyện Gia Lâm cũng sang Trung Quốc tham gia DuyTân hội, năm 1912 chuyển sang hoạt động cho Việt Nam Quang Phục hội cũng nhận lệnh về nước phối hợp vớiPhạm Hoàng Triết, Phạm Hoàng Luân và Nguyễn Văn Thụy có biệt hiệu là Hán Minh công nhân nhà máy xe lửaGia Lâm thực hiện bản án tử hình tên trùm xâm lược Toàn quyền Anbe Xarô, Nguyễn Khắc Cần đến Lỗ Khê
thống nhất hành động với Phạm Hoàng Triết, Phạm Hoàng Luân
Hai ông đã biến nhà mình ở Lỗ Khê làm trụ sở của ủy ban Hành quyết Điều này đã được báo Tương lai Bắc
Kỳ (tiếng Pháp) do thống sứ Pháp nắm, trụ sở có 144 Juylơ Phơry (Jules Ferry) - (nay là trụ sở báo Hà Nội mới,
số 44 Lý Thái Tổ, Hà Nội) viết: " … Quế và Triết đã nhiều lần giúp cho những người đại diện của ủy ban Hànhquyết tại Bắc Kỳ làm nơi cư ngụ Ngôi nhà của họ đã trở thành nơi cư trú của các nhà cách mạng An Nam,
những khi họ từ Trung Quốc về nước và từ trong nước sang Trung Quốc"1.Trong các hoạt động trừ gian, hai anh em họ Phạm Hoàng có mối quan hệ mật thiết với Nguyễn TrọngThường (tức Nguyễn Thạc Chi), con trai thứ hai của lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy Nguyễn Thiện Thuật đểnhận chỉ thị và bom do Nguyễn Trọng Thường đem từ Trung Quốc về để mưu sát bọn trùm thực dân Pháp vàbọn tay sai đầu sỏ Mối quan hệ của hai nhà cách mạng trên, được H Đờ Mátxiarơ (H De Massiare) viết: "Phạm
1 Báo Tương lai Bắc Kỳ số ra ngày 29-8-1913.
Trang 24Hoàng Quế (tức Phạm Hoàng Luân) có quan hệ với Trọng Thường (Trọng Phương) hay còn gọi là Hai Thạc, con
trai thứ hai của Tán Thuật và là người đứng đầu bộ phận cách mạng ở Bắc Kỳ"2.Sau cuộc gặp gỡ này, ba người có cuộc gặp gỡ với đại diện Việt Nam Quang Phục hội chỉ huy những ngườilưu động hoạt động ở trong nước có nhiệm vụ phân phát phương tiện hành động cho các nhóm Trong cuộc gặpmặt này Phạm Hoàng Luân nhận thấy vị đại diện này hay nhìn trộm, hỏi những câu về tổ chức không thuộc phạm
vi mình, nên đã có ý nghi hắn làm phản từ khi hắn bị mật thám Pháp ở Lào Cai bắt Luân trao đổi nhận xét của
mình với Cần, Cần cũng có ý ấy, nhưng chưa có chứng cớ cụ thể, nên chưa xử lý được
Sau thất bại này, tháng 2 năm 1913, các nhà lãnh đạo Việt Nam Quang Phục hội ở Nam Ninh (Trung Quốc)
đã chọn một số hội viên cảm tử trong đó có Phạm Văn Tráng để tiến hành ám sát tên trùm thực dân Toàn quyền
Anbe Xarô và các tên tay sai
Việc chọn Phạm Văn Tráng đi cảm tử là do trong quá trình thực hiện việc ám sát, mật thám và bộ máy đàn
áp của Pháp rải ra theo dõi gắt gao khắp nơi, mặt khác do Nguyễn Hải Thần không hoàn thành nhiệm vụ về báo
là bom không nổ
Ngày 14 tháng 4 năm 1913, Phạm Văn Tráng về nước cùng với Phạm Đệ Quý (tức Nhị Quý) đã hoàn thànhviệc xử tội tên Tuần phủ tỉnh Thái Bình Trong khi đó nhóm Nguyễn Khắc Cần, Nguyễn Văn Thụy (tức Sụy)ném bom vào khách sạn Hà Nội trên đường Pônbe (Paulbert) (nay là phố Tràng Tiền) ngày 26 tháng 4 năm 1913,
giết chết hai tên trung tá Pháp là Mônggơray và Sapuy chết tại chỗ và làm bị thương 12 người khác1.Sau 2 vụ ám sát trên, bọn thống trị Pháp ở Bắc Kỳ mà trung tâm là Hà Nội có sẵn bản danh sách các hội viênViệt Nam Quang Phục hội ở Hà Nội và các tỉnh ở Bắc Kỳ do tên đại diện ủy ban hành quyết ở Quảng Tây tạiBắc Kỳ đã phản bội làm mật thám, chỉ điểm cho Pháp bắt các hội viên Việt Nam Quang Phục hội
Nguyễn Khắc Cần, Phạm Văn Tráng đã lên đến Lạng Sơn vừa xuống tàu, chuẩn bị vượt biên giới thì bị mậtthám Pháp bắt Nguyễn Văn Thụy, Phạm Hoàng Triết, Phạm Hoàng Luân kịp thời lánh đến nơi an toàn Các ôngkết luận Viên đại diện đã chỉ điểm cho mật thám Pháp bắt các đồng chí của mình Vì vậy các ông quyết định trừ
khử nó càng sớm càng tốt
Ngày 24 tháng 5 năm 1913, Phạm Hoàng Luân viết giấy triệu tập tên chỉ điểm đến cây đa ở đầu làng Lỗ Khêgặp mình Nhận giấy triệu tập, tên phản bội tin chắc sẽ bắt được hai ông Triết và Luân là những nhân vật quantrọng của Việt Nam Quang Phục hội ở Bắc Ninh Tên phản bội muốn cho chắc ăn, hắn đi về Lỗ Khê điều tratrước, nên chỉ để lại giấy báo cho quan thầy là hắn đi Lỗ Khê Phạm Hoàng Triết mai phục sẵn ở cánh đồng bỏhoang, Phạm Hoàng Luân đi đón rồi dụ hắn tới đó Tên phản bội trúng kế đã bị hai anh em ông Triết giết chết
kéo xác xuống cái hố cải mả lấp đất trên
Những vụ đánh bom và ám sát đã gây chấn động dư luận thời đó do bốn chiến sĩ Việt Nam Quang Phục hộiquê ở Hà Nội là hai anh em Phạm Hoàng Triết, Phạm Hoàng Luân, quê ở Lỗ Khê, Đông Anh; Phạm Văn Tráng
quê ở Bát Tràng (Gia Lâm), Nguyễn Khắc Cần quê ở Yên Viên (Gia Lâm) thực hiện
Bọn mật thám Pháp thấy tên chỉ điểm đi đã ba ngày không về, liền sai bọn mật thám về Lỗ Khê dò xét Bangày sau chúng phát hiện ra xác tên này liền cho lính vây làng Lỗ Khê bắt Phạm Hoàng Triết, Phạm Hoàng Luân
và nhiều người khác Chúng đưa hai ông về sở mật thám Bắc Ninh tra tấn vô cùng dã man Chúng nung đỏ mâmđồng bắt hai ông ngồi lên Thịt mông cháy sèo sèo khét lẹt, hai ông vẫn nghiến răng chịu đựng cho đến khi chếtngất Suốt mấy ngày tra khảo các ông không nhận mình giết tên mật thám, không khai báo cho đồng chí nào, cơ
2 Báo Tương lai Bắc Kỳ số ra ngày 29-8-1913.
1 Việt Nam nghĩa liệt sử viết là Hán Minh (tức Nguyễn Văn Thụy) ném lần vào quan binh Pháp ở khách sạn Pháp Nguyễn Khắc Cần nhận
mình ném để Hán Minh chạy thoát.
Trang 25sở nào Chúng hèn hạ bắt mẹ và anh trai hai ông là Phạm Hoàng Trù đến tra khảo nhằm lấy tình cốt nhục lung lạc
hai ông Song cũng không có kết quả1.Ngày 29 tháng 8 năm 1913, thực dân Pháp thành lập Hội đồng Đề hình để xét xử tới 84 người trong số 254người bị chúng bắt vì cho là có liên quan đến hai vụ ném tạc đạn ở Thái Bình, Hà Nội và giết hai tên tay sai.Trong số 84 người đưa ra xét xử, chúng tuyên án tử hình 7 người với tội danh âm mưu ám sát là Phạm HoàngTriết, Phạm Hoàng Luân, Phạm Văn Tráng, Nguyễn Khắc Cần, Nguyễn Văn Thụy, Phạm Đệ Quý (tức ĐứcQuý), Phạm Văn Tiến Ngoài ra chúng còn tuyên án: 1 án khổ sai chung thân, 8 án lưu đày, 5 án biệt xứ, 11 án tùgiam quản thúc, 2 người miễn tố, 9 người trắng án, và chúng còn kết án vắng mặt 13 người lưu vong ở TrungQuốc trong đó có 6 án tử hình (Cường Để, Phan Bội Châu, Nguyễn Bá Trạc…) và 7 án chung thân
Ngày 23 tháng 9 năm 1913, bọn cầm quyền Pháp đưa 7 ông ra Pháp trường ở ngay cổng nhà tù Hỏa Lò xử
tử Các ông vẫn hiên ngang bất khuất, coi thường cái chết Các nhà báo thực dân chứng kiến cảnh hành hìnhcũng phải ca ngợi các ông là anh hùng tột bậc Báo "Tương lai Bắc Kỳ" (tiếng Pháp) do Thống sứ Bắc Kỳ nắmđăng vụ án trên 3 số ngày 5 tháng 9, ngày 8 tháng 9 và ngày 25 tháng 9 năm 1913 đã hết lời ca ngợi chí khí dũngcảm hiên ngang bất khuất của các ông Riêng về hai ông Phạm Hoàng Triết, Phạm Hoàng Luân chúng viết: "…Sau thủ phạm vụ khách sạn Hà Nội đến lượt Phạm Hoàng Triết và Phạm Hoàng Luân Phạm Hoàng Triết 38tuổi, vốn là một nho sinh ở làng Lỗ Khê, tổng Hà Lỗ, tỉnh Bắc Ninh Người đồng mưu và là anh ruột của
Phạm Hoàng Luân 36 tuổi cũng là một nho sinh…"
Khi hy sinh, Phạm Hoàng Luân 36 tuổi, Phạm Hoàng Triết 38 tuổi Trước sự hy sinh lẫm liệt của hai ông,nhân dân đã vượt qua sự khủng bố của giặc bí mật đặt câu đối phúng viếng trên mộ, có những câu chỉ được
truyền miệng từ đời này qua đời khác như:
"Anh em ruột thịt một hùng tâm, con Lạc cháu Hồng nêu nghĩa cả
Khí tiết sáng ngời hai chí sĩ, non Thường dòng Lỗ ngát hồn thơm"1
Vì bọn giặc luôn luôn rình rập trả thù nên sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân ngày giỗ của hai chí
sĩ họ Hoàng, chính quyền, dòng họ và nhân dân xã Hà Lỗ mới tổ chức lễ truy điệu hai ông Dòng họ cùngnhân dân Lỗ Khê đã lập đền thờ hai ông và các chiến sĩ Việt Nam Quang Phục hội đã anh dũng hy sinh vì
nước
1 Sách Lịch sử Đảng bộ xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Sách Danh nhân Hà Nội do Trần Quốc Vượng chủ biên Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2004, Trong bài "Phạm Văn Tráng, Nguyễn Khắc Cần, Phạm Hoàng Luân, Phạm Hoàng Triết, trang 422-423 viết như sau: "Sau vụ ném bom ở Thái Bình trừng trị tên tuần phủ bán nước (12-4-1913) và ở Hà Nội giết hai tên trung tá Pháp (26-4-1913) bọn thực dân Pháp hoảng hốt
đã tiến hành một cuộc khủng bố trắng bắt bớ hàng nghìn người Do sự phản bội của hai tên trước kia cũng ở Việt Nam Quang Phục hội, bị Pháp bắt
ở Lào Cai và đã đầu hàng, bọn thực dân nắm được danh sách những nhân vật chủ chốt Ngày 7 tháng 5 năm 1913, Phạm Văn Tráng và Nguyễn Khắc Cần bị bắt tại Lạng Sơn, khi sắp sửa vượt qua biên giới.
Phạm Hoàng Khuê được biết tin về hành động của hai tên phản bội bèn trừng trị hai tên này bảo vệ an toàn cho tổ chức…".
1 Non Thường tức núi Nguyệt Thường ở huyện Tiên Du cũ, thường được dùng để chỉ huyện Bắc Ninh - Xưa kia miền Hà Lỗ, Lỗ Khê và nói chung cả miền phía đông huyện Đông Anh ngày nay đều nằm trong huyện Đông Ngàn thuộc Kinh Bắc, dòng Lỗ chỉ đất Hà Lỗ nói chung và Lỗ Khê nói riêng.
Trang 26Huỳnh Hưng
Huỳnh Hưng còn gọi là Hoàng Hưng tên thật là Huỳnh Văn Nghị Ông gốc người Tam Bình, tỉnh
Vĩnh Long Ông là chú Hoàng Văn Kỷ cũng du học ở Nhật, đồng hương với Lý Liễu, Nguyễn Truyện.Huỳnh Hưng cùng vợ tham gia phong trào Đông Du ở Nam Kỳ từ năm 1905 Khi phong trào phát triển đếnNam Kỳ, ông cùng với các ông Nguyễn An Khương ở Mỹ Hòa, Hoóc Môn, Gia Định; Trần Chánh Chiếu ở RạchGiá; Nguyễn Thần Hiến ở Cần Thơ vận động thanh niên, thiếu niên Nam Kỳ xuất dương Đợt đầu các ông tổchức cho một số người xuất dương trong đó có các ông Bùi Chí Nhuận, Hoàng Hữu Chí Huỳnh Hưng xuấtdương đợt thứ hai cùng với Lưu Do Hưng, Đặng Bỉnh Thành và người cháu là Hoàng Văn Kỷ cùng hai con trai
của ông Trần Thúc Định là Trần Văn An và Trần Ngọc Thư là những thiếu niên ở tuổi 12, 13
Huỳnh Hưng là người tận tụy với sự nghiệp, có chí khí, sẵn sàng hy sinh vì tổ chức, vì anh em cùng hoạtđộng Khi các lưu học sinh ở Nhật hết tiền ăn, học, ông về nước quyên góp, rồi đem sang
Tháng 4 năm 1908, có một số người yêu nước ở Sài Gòn mất cảnh giác đã gửi qua "đường dây thép" (đường
bưu điện) ở Sài Gòn sang cho Phan Bội Châu ở Nhật bức thư với nội dung: "Nghĩa dân chúng tôi ở Nam Kỳ đã
nhóm góp được số bạc là 200.000 đồng, nhưng chưa biết cách gửi bạc làm sao cho tiện, xin nhờ Chúa công 1 với tiên sinh chỉ bảo cho" Phan Bội Châu nhận được điện tín thì vô cùng sợ hãi vì đánh điện qua sở dây thép là lọt
vào mắt người Pháp; biết hung họa sắp ập đến nơi, Phan Bội Châu bèn cầu cứu với ông Hoàng Hưng lãnh tụđảng Trung Hoa, khi đó đang có mặt ở Nhật Bản hỏi kế sách tránh việc Pháp phát hiện xử lý bức thư trên ÔngHoàng Hưng tự viết thư giao tài khoản của ủy viên cách mạng Đảng là Phùng Tự Do hiện đang có mặt ở Sài Gònbiện lý giúp cho ta Hoàng Hưng bảo cụ Phan cho người về trong nước đem thủ thư2 nhờ Phùng giải quyết choviệc ấy Số bạc cứ đánh đến chỗ Hoàng Hưng, rồi Hoàng sẽ chuyển cho Phan Phan Bội Châu cử Hoàng QuangThành, Đặng Bỉnh Thành đem văn kiện của Hoàng Hưng về Sài Gòn Hai người về Hương Cảng rồi đi tàu củangười Anh về Sài Gòn Vừa tới bến tàu, cảnh sát Pháp khám xét nghiêm ngặt, bắt hai ông, tịch thu toàn bộ vănkiện Trước đây các gia đình có con em đi du học ở Nhật chỉ trả lời là không rõ chúng đi đâu Nay nhà cầmquyền Pháp biết rõ số thanh thiếu niên đó đang du học ở Nhật, liền khống chế các gia đình bắt gọi về Trước kia
số học sinh đi du học chỉ do phong trào, chưa có mục đích rõ ràng, nên khi nhận được thư của cha mẹ thì đòi về.Mặt khác nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương đã ký kết Hiệp ước Hữu nghị với Chính phủ Nhật, nên Pháp yêucầu Chính phủ Nhật trục xuất du học sinh Việt Nam thì Chính phủ Nhật làm ngay Khi đó số học sinh ở Nam Kỳsang Nhật du học có tới 100 người, xin về gần hết, chỉ còn Huỳnh Hưng, Nguyễn Xương ái và 3 thiếu niên làTrần Văn An, Trần Ngọc Thu, Hoàng Vĩnh Hùng lén lút ở lại Nhật, đi làm thuê lấy tiền ăn học Sau không kiếmđược việc, lại bị cảnh sát Nhật lùng bắt, Huỳnh Hưng, Hoàng Vĩnh Hùng và ba thiếu niên phải về Trung Quốc.Tới Trung Quốc, Huỳnh Hưng viết thư giao cho người tin cẩn đón vợ sang Trung Quốc Ông bà thuê một cănnhà rộng ở ven đảo Cửu Long, phía bên kia Hồng Kông Ông bà được Hội chủ Phan Bội Châu và những ngườitrong Hội tin cậy giao cho giữ đầu mối liên lạc giữa các lãnh tụ trên đất Trung Hoa, Nhật với những người ởNam Kỳ Nhà ông bà cũng là nơi nhận thư từ, tiền bạc, quà cáp từ Nam Kỳ gửi sang cho các du học sinh và thư
1 Chúa công: chỉ Cường Để, tiên sinh chỉ Phan Bội Châu.
2 Thư viết tay.
Trang 27từ từ Nhật, Trung Quốc về Nam Kỳ Các cán bộ của Duy Tân hội và phong trào Đông Du, học sinh từ trong nướcsang phần lớn trú ngụ ở nhà Huỳnh Hưng chờ chắp mối liên lạc Nhà ông cũng là nơi cất giấu tài liệu mật, vũ khí
cho tổ chức
Tháng 5 năm 1912, Phan Bội Châu họp với trên 100 đồng chí từ ba xứ: Bắc, Trung, Nam Kỳ, từ Trung Quốc
và Xiêm La tới, tại đây Phan Bội Châu tuyên bố giải tán Duy Tân hội thành lập Việt Nam Quang Phục hội.Huỳnh Hưng cũng tham dự Đại hội nghị này Nhà của vợ chồng ông lại trở thành nơi thường trú của cán bộ hội
từ trong nước sang, từ Xiêm La tới
Vào khoảng cuối tháng 5 năm 1913, đoàn Nam Kỳ sang có nhu cầu mua tạc đạn, Huỳnh Hưng đã mua 13 trái
để ở trong nhà mình Hôm đó cả đoàn cán bộ gồm các ông Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn Thần Hiến, Đinh HữuThuật, Trần Ngọ đang có mặt tại nhà ông Lý Liễu học ở Hồng Kông nghe tin đoàn Nam Kỳ tới cũng về có mặt.Bất ngờ mật thám Anh bao vây nhà Huỳnh Hưng, khám xét, thấy một số giấy tờ, tiền và 13 trái tạc đạn Chúng
bắt tất cả mọi người về đồn tra hỏi
Khi ra tòa, chỉ có một mình Huỳnh Hưng nhận là mình đi mua, còn những người kia không biết gì, vì thế chỉ
một mình ông bị nhà cầm quyền Hồng Kông kết án tù
Về sự kiện này, trong cuốn "Tự phán" (viết năm 1929), đoạn nói về những học sinh Đông Du bị giải tán mà không chịu trở về nước, cụ Phan Bội Châu chép về Huỳnh Hưng như sau: "Huỳnh Hưng ở lại Nhật Bản khổ học
ước nửa năm, sau về Hương Cảng, khổ tâm tích cực, định làm một nhà thực hành; vì chế tạo đạn dược, toan hành động một việc phi thường, bị Chính phủ Anh dẫn độ cho Pháp, án đày Côn Đảo Nam Kỳ thanh niên lúc đó
như ông Huỳnh Hưng thật là hiếm"1.Huỳnh Hưng bị án tù ở Hồng Kông, hết hạn tù, chính quyền Anh giải về Đông Dương giao cho nhà cầmquyền Pháp, chúng lại đày ông ra Côn Đảo Khoảng năm 1927, 1928, ông được ân xá về quê ở Tam Bình, VĩnhLong Nhưng do bị đày đọa ở nhà tù Hồng Kông và nhà tù Côn Đảo lại do tuổi cao, ông luôn bị ốm yếu, bị mật
thám theo dõi giám sát gắt gao nên không hoạt động được1
1 Tự phê phán, Phan Bội Châu
Nguyễn Quang Diêu, Tạp chí Xưa và Nay xuất bản.
Trang 28Lý Liễu
Lý Liễu còn gọi là Lý Hy Liễu, sinh năm 1893, quê ở Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Cha ông là Lý
Chánh (tức Lý Trung Chánh), bí danh là Lê Văn Quý - là một nhà yêu nước, từ năm 1905 hoạt động trong DuyTân hội (Nam Kỳ gọi là hội Minh Tân), phong trào Đông Du cùng với các ông Huỳnh, Bộ Tòng, Xã Trinh (ởVĩnh Long), Bùi Chí Nhuận (ở Tân An) Nguyễn Quang Diêu (ở Cao Lãnh), Nguyễn Thần Hiến (ở Cần Thơ).Đầu năm 1907, Bùi Chí Nhuận thực hiện chủ trương của Phan Bội Châu đã từ Nhật về Nam Kỳ kêu gọi thanhniên xuất dương Để có tiền cho thanh thiếu niên sang Nhật du học, các ông đã thành lập "Khuyến học du hội" để
quyên góp tiền
Để làm gương cho mọi người, ông Lý Chánh đã cho Lý Liễu khi đó mới khoảng 14-15 tuổi cùng với NguyễnTruyện, con cụ Xã Trinh (tuổi cũng xấp xỉ) xuất dương ngay đợt đầu tiên Sang tới Trung Quốc, Lý Liễu và
Nguyễn Truyện được đưa tới Hồng Kông học tại trường Trung Anh học đường
Lý Liễu vốn bẩm sinh cực kỳ thông minh từ nhỏ, lại say sưa học tập nên ngoài giới chuyên môn, Liễu còngiỏi tiếng Anh, tiếng Trung và biết tiếng Pháp, ông được Cường Để nhiều lần khen ngợi và thưởng tiền
Lý Liễu hết sức chăm chỉ học tập, chờ ngày về nước thi thố tài năng giúp nước Nhưng mơ ước đó vĩnh viễnkhông thành Nguyên nhân là cuối tháng 5 năm 1913, một phái đoàn Nam Kỳ do ông Nguyễn Quang Diêu dẫnđầu sang Hồng Kông với mục đích lĩnh tín phiếu mua vũ khí, đưa thêm vài học sinh sang du học Đoàn ngụ ởnhà ông Huỳnh Hưng ở ven đảo Cửu Long Hai vợ chồng ông Huỳnh Hưng sang Cửu Long ở đã rất lâu và luôngiữ đầu mối liên lạc giữa tổ chức ở Trung Quốc và trong nước Vì vậy khi nghe tin phái đoàn đến, Lý Liễu đến
nhà Huỳnh Hưng hỏi thăm tin tức gia đình
Ngày 16 tháng 6 năm 1913 do có kẻ chỉ điểm, mật thám Anh đã ập đến nhà Huỳnh Hưng khám xét, bắt được 13quả tạc đạn, bắt hết những người có mặt Lý Liễu vừa đến cũng bị cảnh sát bắt, Huỳnh Hưng nhận mình mua số tạcđạn đó, những người khác không biết Tòa án Anh ở Hồng Kông xử Huỳnh Hưng án tù, còn những người khác bị
cảnh sát anh giao cho nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương
Mùa đông năm 1913, Lý Liễu và số người này bị cảnh sát Anh giao cho cảnh sát Pháp ở Đông Dương Mọingười bị bọn mật thám Pháp tra tấn cực kỳ dã man Cuối năm 1913, Tòa án Đại hình đặc biệt xử tại Hà Nội, trong
đó Lý Liễu bị án nhẹ nhất là 5 năm khổ sai Nguyễn Truyện giả bệnh vào nhà thương chữa trị rồi dùng dao mổbụng tự tử, Nguyễn Thần Hiến chống đối bằng cách tuyệt thực đến chết Lý Liễu, Nguyễn Quang Diêu, Đinh Hữu
Thuật, Trần Ngọ đều bị đày đi Guyam (Nam Mỹ)
Guyam là thuộc địa của ba nước Pháp, Anh, Hà Lan; thuộc địa của Pháp là Cayen (Cayenne) Vì vậy các ông
bị đày đến đó Nhà cầm quyền Pháp ở Guyam bắt các ông lên rừng đốn cây, cắt gỗ, công việc vô cùng nặngnhọc Riêng Lý Liễu do ít tuổi, biết thông thạo tiếng Anh, tiếng Tàu, biết một ít tiếng Pháp nên không phải laođộng mà làm liên lạc từ trại tù đến Cayen Vì thế Lý Liễu có thời gian đi lại với kiều dân Trung Hoa, Nhật Bản.Ông Lý Liễu là người thông báo tin tức, đấu tranh đòi quyền lợi như quần áo, thuốc men, nhận thư từ từ trongnước gửi sang và chuyển thư của anh em về nước Khi Lý Liễu cầm tờ báo Trung Hoa đưa tin vua Duy Tân hiệpsức cùng Thái Phiên, Trần Cao Vân chống Pháp mọi người đã có hy vọng nhưng rồi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp
Trang 29Lòng yêu nước của các ông vẫn sục sôi, song có lúc không khỏi ngao ngán Bức thư và bài thơ Lý Liễu gửi về
cho gia đình trong đó có bài thơ gửi cho chị gái bộc lộ rõ tâm trạng đó:
"Có quản chi em bước lạc loài
Đạo nhà nhờ chị đỡ hôm mai
Đã rằng chung đội ơn trời đất Thôi chớ phân ly phận gái trai Ngoài cuộc phong trần em gánh cả, Trong khi hưỡm cấp chị gồm hai".
Do Lý Liễu quen biết thân thiết với nhiều kiều dân Hoa sống ở Guyam, ông ngỏ ý vượt ngục và nhờ họ giúp
đỡ Họ khảng khái nhận lời giúp đỡ Việc đi trốn được bàn từ giữa năm 1916, nhưng đến đầu năm 1917 mới bốtrí được cho Nguyễn Quang Diêu và Đinh Hữu Thuật đi trước trốn sang đảo Trinidat là thuộc địa của Anh Nhàcầm quyền Pháp tra khảo tù nhân để tìm ra những người tổ chức vượt ngục Anh em khuyên Lý Liễu đi trốn kẻo
nguy đến tính mạng, ông khảng khái trả lời: "Việc này anh em chỉ trông cậy vào tôi, việc chưa xong, tôi nỡ nào
đi trước".
Sau đó ông khôn khéo vận động để nhà cầm quyền Pháp ở Guyam bỏ qua cuộc điều tra Sau đó ông sắp xếp
những cuộc vượt ngục khác cho anh em, còn ông đi chuyến cuối cùng trốn sang Trinidat
Các ông được kiều dân Trung Hoa ở đảo Trindat sắp xếp công ăn việc làm ổn định, lo giấy tờ hợp pháp chocác ông mang quốc tịch Trung Hoa Lý Liễu ở trong thương hội một thời gian rồi lấy vợ người Anh Nhờ của hồi
môn của vợ, vợ chồng ông mở một hiệu buôn đủ ăn
Lý Liễu tìm đọc các sách nói về tổ chức hành chính, kinh tế của người Anh, học cách sử dụng máy móc của
người Anh Ông còn đọc nhiều tiểu sử các danh tướng nước Anh
ở Trinidat các ông sống sung sướng về vật chất, không bị hành hạ về thể xác nhưng luôn luôn nghĩ tới tráchnhiệm của mình đối với Tổ quốc; Lý Liễu, Nguyễn Quang Diêu đã sang Anh để thăm dò tin tức trong nướcnhưng không nắm được gì Năm 1920 các ông bàn cách về nước Nguyễn Quang Diêu đáp tàu đi Hoa Thinh Đốn
rồi đổi tàu khác về Trung Hoa Những người khác cũng lần lượt đi theo
Riêng Lý Liễu, chuyến trở về đâu có nhẹ nhàng vì ông phải vĩnh biệt người vợ trẻ đã đầu gối tay ấp 6 nămtrời và có ba con với nhau Hôm ông ra đi là nhân lúc vợ con ông về bên ngoại Lý Liễu mở tủ lấy một ít tiền,khóa kín các tủ lại, để lại một phong thư Trong thư ông cũng không dám nói thật mình là người Việt và chuyến
ra đi của ông là vĩnh quyết, không một lời từ biệt
Giữa năm 1925, Lý Liễu về đến Hồng Kông, sau nhiều ngày tìm kiếm, ông gặp được Nguyễn Hải Thần vàmột số thanh niên trong nước đang học tại "Hoàng Phố quân quan học hiệu", nhưng vì tình hình cách mạng ViệtNam đang rời rạc, không làm được việc gì đáng kể, cho nên ông chỉ ở Quảng Châu ít lâu rồi trở về Hồng Kông
để tìm đường về Việt Nam
Năm 1929, ông có được giấy thông hành Trung Hoa, nên giả làm người Tàu từ Hồng Kông về Sài Gòn Tàutới Mỹ Tho, trời tối, ông không biết nhà người bà con ở chỗ nào vì tính từ ngày ông ra đi đã 22 năm, nên thuêphòng ở khách sạn Ông nghe tiếng rao "ai bánh hói đi", thì trong lòng nôn nao nhớ quê hương, nhớ món ăn củaquê hương, ông bảo người bồi gọi vào Ông đã ăn hết một phần tư sàng bánh chấm nước mắm trước sự ngạc
nhiên của cô gái và anh bồi vì anh "ba Tàu" "ăn mạnh" và "biết ăn" đến thế
Trang 30Sáng hôm sau, ông tìm đến nhà người quen, rồi nhờ người đó nhắn tin cho cụ Lý Chánh biết Ngay lập tức,
cụ Lý Chánh cho Lý Thảo, em ruột ông sang đón về
Lý Liễu lại tìm gặp người quen cũ như Bùi Chí Nhuận ở Tân An, Đinh Hữu Thuật ở Mương Điềm, NguyễnQuang Diêu ở Vĩnh Hòa Ai cũng nói là chưa có cơ hội, phải nán đợi Ông tới gặp Huỳnh Hưng - sau khi mãnhạn tù ở Hồng Kông, đế quốc Anh trả về Đông Dương, thực dân Pháp bắt Huỳnh Hưng đi tù ở Côn Đảo, mới
được ân xá về - thì ông trả lời đang bị cảnh sát theo dõi riết không hoạt động được gì
Lý Liễu cho rằng các đồng chí này đã già, không muốn hoạt động, ông quay sang tuyên truyền lớp trẻ Mộtnhóm thanh niên nghe ông giảng giải về tinh thần dân chủ ở nước ngoài thì mê lắm Ông tìm cách đưa họ ra nước
ngoài học tập
Thực dân Pháp biết ông trở về, sai người chiêu dụ ông ra đầu thú sẽ được làm quan Ông phản đối, phải trốn
về vùng quê hoạt động và vẫn vững vàng một lòng tranh đấu
Để che mắt bọn cầm quyền Pháp, Lý Liễu đổi tên là Lý Phùng Xuân Ông cất nhà ở bến đò Ba Rô ở ấp PhúXuân, xã An Phước, nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, mở hiệu tạp hóa, tiếp tục hoạt động cách mạng.Ông Lý Phùng Xuân lấy bà Trương Thị Cưu, người ấp Phước Tới, xã An Phước Ông bà sinh được ba người con
là Lý Thị Thành, Lý Văn Công và Lý Văn Kích
Ông Lý Văn Công (sinh năm 1936) đã kể với Phan Lương Minh tác giả bài báo "Đi tìm quãng đời còn lại của
Lý Liễu - Lý Phùng Xuân"1 như sau:
"Tôi là Lý Văn Công, con trai ông Lý Phùng Xuân, tên do ông bà đặt là Lý Văn Huệ, quê quán ở Tam Bình,Vĩnh Long Ông nội tôi làm thợ bạc, hồi phong trào Đông Du của Phan Bội Châu đó cho ông già tôi đi Nhật, lúc
đó mới 14 tuổi Ông nội tôi cũng làm cách mạng, chết ở Côn Đảo Cha tôi đi Nhật, sang Tàu, có ở tù Hỏa Lò, HàNội từ nước ngoài qua Anh Hồi đó người ta không biết ông là người Việt Nam, tưởng là người Tàu, lại có tênAnh là Lý Giôdép (Joseph) Tại xứ người ông làm đủ nghề, sau mở tiệm bán tạp hóa, có vợ, ba con, hai trai, một
gái, bà vợ này có hai dòng máu Tàu và Anh, tên gì tôi không biết
… Hồi chưa gặp bà già tôi, ông hay giả đò cờ bạc, đá gà, hốt me để đi làm cách mạng…"
Cũng theo lời ông Lý Văn Công thì thực dân Pháp bắt cả gia đình Lý Phùng Xuân gồm cụ Lý Trung Chánh,
Lý Phùng Xuân, các em ông là Lý Văn Hiến, Lý Văn Thảo, Lý Văn Mẫn đưa đi tù ở nhà tù Côn Đảo, còn em gái
ông thì bị tù ở Vĩnh Long
Vào tù, Lý Phùng Xuân dạy tiếng Anh cho các bạn tù, không có giấy viết, lấy đá viết trên nền xi măng hay
lên tường Bị cai ngục cấm thì nhặt cục gạch nhét vào hậu môn viết thay phấn
Năm 1942, cụ Nguyễn Trung Chánh chết ở nhà tù Côn Đảo
Tháng 8 năm 1945, cách mạng thành công, chính quyền cách mạng đưa tàu ra đón các tù chính trị về Ông Lý
Phùng Xuân được cử làm Chủ tịch huyện An Hóa
Mộ ông Lý Liễu - Lý Phùng Xuân táng ở xã An Phước quê vợ1
1 Bài đăng trên Tạp chí Xưa và Nay số Tết Đinh Hợi 277, 278 tháng 2-2007.
toàn tập - Cuộc đời của Cường Để, in tại nhà in Tôn Thất Lễ, xuất bản năm 1957…
Trang 31Nguyễn Truyện
Cuối năm 1906, cụ Xã Trinh (tức Nguyễn Ngơn Hanh) cùng với các cụ Lý Chánh, Bộ Tòng, Huỳnh
Hưng… tích cực hoạt động trong phong trào Đông Du ở tỉnh Vĩnh Long
Năm 1907, Bùi Chí Nhuận đang ở Nhật, thực hiện lệnh của Phan Bội Châu và Cường Để về Nam Kỳ kêu gọithanh niên xuất dương, đã về mới gặp gỡ các cụ Lý Chánh, Xã Trinh, Nguyễn Thần Hiến, Bộ Đầu là các sáng lập
viên trong "Khuyến du học hội" cổ động du học sinh.
Để làm gương, cụ Lý Chánh cho con mình là Lý Liễu, cụ Xã Trinh cho con mình là Nguyễn Truyện sinh năm
1892, khi đó mới 14, 15 tuổi đi học cùng số thanh niên đi đợt đầu Nguyễn Truyện quê ở xã La Ghì, huyện TamBình, tỉnh Vĩnh Long Sang Trung Quốc, trong số du học có một số học sinh được cử sang Nhật Nguyễn Truyệnđược đưa vào ở cư xá Bính Ngọ hiệu học "lớp đặc biệt" Khi Chính phủ Nhật trục xuất học sinh Việt Nam,Nguyễn Truyện cùng Lý Liễu về Trung Hoa, được đưa tới Hồng Kông học ở trường "Trung Anh học đường".Nguyễn Truyện và Lý Liễu thường đến nhà cụ Huỳnh Hưng quê ở Vĩnh Long, gia đình cụ Huỳnh Hưng đãsang Hồng Kông từ lâu, nhà ở bên bờ ven đảo Cửu Long đối diện với Hồng Kông để hỏi thăm tin tức, nhận tiếp
tế của gia đình và gửi thư từ về nước
Khoảng cuối tháng 5 năm 1913 một phái đoàn ở Nam Kỳ do cụ Nguyễn Quang Diêu dẫn đầu tới Hồng Kôngđang ở nhà cụ Huỳnh Hưng Ngày 16 tháng 6 năm 1913, không rõ kẻ nào đã chỉ điểm cho cảnh sát Anh vàokhám nhà cụ Huỳnh Hưng phát hiện 13 quả lựu đạn (tạc đạn) Chúng bắt Huỳnh Hưng cùng tất cả những người
có mặt là Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn Thần Hiến, Đinh Hữu Thuật và Lý Liễu vừa tới Chúng đưa ra tòa xét
xử, Huỳnh Hưng nhận số tạc đạn đó do mình mua, những người kia không biết, nên chỉ Huỳnh Hưng bị kết án 6tháng tù giam, những người khác được tha về Hồng Kông, nhưng sẽ bị giải về Hà Nội giao cho cảnh sát Pháp tại
Đông Dương
Nguyễn Truyện không có mặt ở nhà Huỳnh Hưng nên không bị bắt, ông nóng ruột liền đến phòng dự thínhcủa phiên tòa để nghe ngóng Cảnh sát Anh nghi ngờ, xét giấy tờ rồi bắt Nguyễn Truyện giam chung với những
người bị bắt ở nhà Huỳnh Hưng, chờ cùng giải về Hà Nội
Trong cuốn "Cuộc đời cách mạng Cường Để" đoạn thuật lại lúc mắc nạn ở Hồng Kông năm 1913, Kỳ Ngoại hầu có nói: "Khi ấy (Nguyễn Thần Hiến) vừa từ Thượng Hải về tới Hồng Kông thì tiếp được thư đồng chí ở Nam
Kỳ viết ra bảo mua tạc đạn gửi về, liền cùng Huỳnh Hưng đi mua mấy quả tạc đạn Cảnh sát biết đến khám nhà,
bắt được quả tang Bấy giờ cả người lớn lẫn trẻ con có bảy người đều bị bắt.
Khi ra tòa, Huỳnh Hưng khai tạc đạn là do một mình y mua về chứa ở đó, người khác không biết chuyện Quan tòa xử Huỳnh Hưng phải nộp phạt hai trăm bạc và ngồi tù sáu tháng, các người khác đều được tha".
Những trẻ con đó chính là Nguyễn Truyện và Lý Liễu Song vì đi tìm những người được tha mà Cường Để bịcảnh sát Anh bắt Lâm Cần và Nguyễn Háo Vĩnh học ở trường La Mã biết tin liền xuất 2.000 bạc ký quỹ để trạng
sư bảo lãnh ra, nếu không cũng bị án tử hình hoặc đi đày
Trang 32Khi các ông bị áp giải về Hà Nội, thực dân Pháp truy ra tông tích ông là con cụ Xã Trinh - một yếu nhân củaDuy Tân hội ở Nam Kỳ Vả lại khi Nguyễn Truyện bị thực dân Pháp đưa ra xét xử vẫn khẳng khái nhận mình là
du học sinh do phong trào Đông Du đưa đi học tập để đem tài năng về khai hóa cho quốc dân, bởi vì người Pháp
đã hứa khai hóa mà không khai hóa gì hết Do đó ông bị tòa án thực dân Pháp kết án nặng nhất là khổ sai chung
thân
Trong bài "Hà Thành lâm nạn" cụ Nguyễn Quang Diêu làm tại nhà pha Hỏa Lò - Hà Nội, sau khi cho biết
mình bị kết án tù 10 năm, cụ kể rõ tên họ các đồng chí khác bị xử
như sau:
"Thương ông Thần Hiến râu mày,
Cùng Đinh Hữu Thuật đều đày mươi năm.
Càng thương gã thiếu niên Nguyễn Truyện,
Du học mà biện án chung thân, Oan anh Trần Ngọ quá chừng, Tám năm tân khổ không phân lẽ nào, Chàng Lý Liễu cũng vào một đắng,
Vì chân liên phải án năm năm".
Xử án xong chúng giam ông ở Hỏa Lò chờ ngày đi đày, nhưng Nguyễn Truyện giả bệnh ra nằm nhà thươngPhủ Doãn chữa trị rồi dùng dao mổ bụng tự tử (khi đó ông mới 22 tuổi) - Nguyễn Thần Hiến nhịn ăn mà chết để
phản đối Pháp, còn những người khác bị đi đày ở Guyam
(Nam Mỹ)1
1 Theo Tạp chí Bách khoa năm 1992.
Trang 33Hoàng Văn Xa
Hoàng Văn Xa tên chữ là Khắc Trung, sinh năm 1850, người châu Thất Khê, tỉnh Lạng Sơn1 Ông đilính cho Pháp, làm tới chức Chánh quản cơ trại lính khố xanh ở đồn Thất Khê Ông sinh ra và lớn lên ở vùngrừng núi, nên tính tình cương trực, thẳng thắn, không xu nịnh cấp trên, ức hiếp kẻ dưới Khi ở trại binh ôngthường thể hiện có tinh thần giúp đỡ người gặp nạn Ông tuy làm Chánh quản cơ, nhưng khi quyết định việcquan trọng thì quyền binh đều ở tay người Pháp Ông muốn có những hành động ngăn chặn bàn tay tàn bạo của
quan binh Pháp và bọn tay sai, nhưng thân cô, thế cô không làm gì được
Năm Tân Hợi (1911), cách mạng Trung Hoa thành công, tạo thuận lợi cho cách mạng Việt Nam Thượngtuần tháng 5 năm Nhâm Tý (1912) Việt Nam Quang Phục hội thành lập tại từ đường nhà ông Lưu Vĩnh Phúctrên đất Trung Quốc Sau Đại hội nghị, Việt Nam Quang Phục hội cử một số hội viên về nước gây dựng và pháttriển cơ sở ở trong nước Trong số người về Lạng Sơn có Nguyễn Trọng Thường (tức Nguyễn Thạc Chi, con thứhai của Nguyễn Thiện Thuật) Nguyễn Trọng Thường đã gặp một số binh sĩ Pháp người Việt yêu nước ở LạngSơn trong đó có Hoàng Văn Xa giới thiệu tôn chỉ mục đích duy nhất của Việt Nam Quang Phục hội là: "Đánh
đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa dân quốc"
Từ khi tiếp xúc với các cán bộ của Việt Nam Quang Phục hội, Hoàng Văn Xa đã có mục tiêu đấu tranh, có tổchức yêu nước chỉ đạo, có đông đảo anh em đồng chí cùng thực hiện Phái viên của Việt Nam Quang Phục hộigiao cho Hoàng Văn Xa phụ trách việc liên lạc với binh lính Pháp người Việt Ông tiếp xúc với nhiều binh sĩ yêu
nước, với các lực lượng yêu nước khác ở tỉnh Lạng Sơn để phối hợp cùng hành động
Các hoạt động của ông mặc dù bí mật song vẫn bị bọn mật thám phát hiện Vào một ngày tháng 5 năm QuýSửu (1913), chúng đem những việc của ông định làm báo cho quan binh Pháp Hoàng Văn Xa bị bắt giải về tỉnhthành Lạng Sơn Quan binh Pháp tra hỏi ông về những người đồng đảng, song ông yên lặng không nói một lời.Chúng đem hình cụ ra tra tấn, Hoàng Văn Xa cũng không sờn lòng Chúng lại giải ông về tỉnh Thái Bình tiếp tụctra tấn bằng những hình cụ man rợ hơn, nhưng ông vẫn trơ như đá, vững như đồng, không cung khai một lời.Quan binh Pháp thấy những lời vu khống Hoàng Văn Xa không có chứng cớ, nên không làm gì được, chúnggiam ông trong ngục, đợi có thời cơ làm án Khi đó ông đã 53 tuổi, bị tra tấn ròng rã một tháng trời, thân hìnhông tiều tụy Hoàng Văn Xa lại viết một bức thư nhờ người tin cậy gửi đến Long Châu (Trung Quốc), vĩnh biệtanh em và tự thề lấy cái chết đền nợ nước, khuyên anh em phải kiên nhẫn đến chết làm sao cho đạt mục đích.Khi thư của ông tới Long Châu thì ông cũng tuyệt thực chết ở nhà ngục Thái Bình Đặng Đoàn Bằng bình luận
trong bài viết của mình về ông: "Than ôi! Già mà càng mạnh, chết để tỏ lòng mình như ông Hoàng thiệt là một
đại vĩ nhân trong quân giới vậy".
Đặng Đoàn Bằng có thơ điếu:
Thơ điếu
Phiên âm:
1 Tác giả Việt Nam nghĩa liệt sử không viết rõ ông ở xã nào, người dân tộc nào, nhưng chắc ông người dân tộc Thổ, nay gọi là dân tộc
Tày.
Trang 34Thương kiếm sinh nhai thập kỷ niên, Tru cừu tâm tự lão dĩ kiên.
Anh hùng dụng vũ khổ vô địa, Quốc tặc khiêu lương tu cộng thiên Nhị đức đài nam chưng nộ chướng, Tam Thanh động lý yết trung tuyền Nhất hô thảng toại bình sinh chí, Thiên cổ ninh tri ngã tử hiền?
Dịch:
Súng gươm mười mấy năm trời, Tấm lòng giết giặc già rồi càng căm Anh hùng không đất ăn làm, Thẹn cùng lũ giặc, gian tham chung trời.
Bên đài Nhị Đức giận sôi 1
Tam thanh trong động nghẽn lời trung kiên.
Thỏa lòng một tiếng kêu lên, Ngàn thu chết đói người hiền ai hay?
Thơ điếu của Hoàng Ngọc Long
Phiên âm:
Thập tải tương tri lão nhãn thanh,
Đồ phân Nam, Bắc các linh tinh Kiếm cung nhưng bão bình sinh nguyện, Kiềm tỏa đô vong khổ nhục hình Trọc tửu tam bôi tằng huyết thệ,
Di thư nhất cảo thượng tâm minh Quốc cửu do tại không tâm ngã, Hồi thủ giang sơn lệ thế linh.
Dịch thơ:
Mười năm quen biết mắt già xanh, Nam, Bắc chia nhau bước lộ trình Cung kiếm những ôm bao ý nguyện, Xích xiềng quên cả mọi nghiêm hình Rượu ba chén đục hòa theo máu, Thơ một phong trao để mối tình.
1 Đài Nhị Đức, động Tam Thanh là các nơi di tích lịch sử của tỉnh Lạng Sơn.
Trang 35Thù nước vẫn còn ta luống thẹn, Ngoảnh nhìn sông núi lệ buồn tanh.
Phiên âm:
Thơ điếu của Trần Quốc Duy
Cửu phong hoàn bão thất tuyền lưu,
Kỳ cốt lăng lăng đáo bạch đầu Chưởng thượng đao quang trì siểm điện, Yêu gian bảo kiếm uất hoành thu Khốc ca thân thể liêu Yên thị, Phủ ngưỡng kiền khôn thặng Sở tù Thân tại ngã hương tâm tại quốc,
Di hàm tê huyết đáo kim lưu.
Dịch thơ:
Chín núi quanh vòng bảy suối xuôi, Bạc đầu khí cốt vẫn kỳ khôi Trên tay dao sáng chưa nhanh nhẹn, Bên nách gươm thiêng vẫn đợi thời.
Ca khóc chợ Yên thân thế quạnh, Bùi ngùi lù Sở tháng ngày trôi Thân nơi làng đói lòng nơi nước,
Để lại phong thơ luống ngậm ngùi.
Trang 36Lương Bảo Định
Lương Bảo Định đã tham gia phong trào Cần Vương Khi bị giặc Pháp đàn áp, ông trốn sang Sầm
Nưa, Thượng Lào, đổi tên là Lương Sám Ngày 10 tháng 11 năm 1914, Lương Bảo Định liên kết với các tùtrưởng người Thái như Bạch Cầm Chấn, Lương Văn Nho, Cầm Văn Tư, chiêu tập vài chục thủ túc đột nhập vàođồn Sầm Nưa (Lào), giết chết tên đại úy Cămbe (Cambert), đại lý Sầm Nưa, phá hủy công sở, kho tàng, thu 120
khẩu súng cùng nhiều đạn dược, 10 vạn đồng rồi rút lui an toàn vào rừng
Trận ra quân thắng lợi, mọi người tôn Lương Bảo Định làm chủ tướng Ông tuyên bố lật đổ ách thống trị của
thực dân Pháp và các dân tộc được quyền tự quản
Mục tiêu cuộc khởi nghĩa này phù hợp với ý nguyện của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc nên có rấtnhiều người gia nhập lực lượng nghĩa quân Lương Bảo Định đem quân từ Sầm Nưa về tấn công đồn MườngBum ở Lai Châu, giết chết tên quan một Kétnen và 33 lính, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng TừMường Tè nghĩa quân mở rộng địa bàn hoạt động đến huyện Phong Thổ1 và phía tây Sa Pa của Lào Cai.Trước tình hình hoạt động mạnh của nghĩa quân do Lương Bảo Định chỉ huy, Pháp đưa quân đến càn quéthòng tiêu diệt lực lượng nghĩa quân non trẻ; Lương Bảo Định đón đường phục kích tiêu diệt hầu hết quân Pháprồi thừa thắng kéo tới bao vây thị xã Sơn La, gây cho quân Pháp thiệt hại nặng nề Quân Pháp phải đưa viện binhtới giải vây, nghĩa quân rút về Điện Biên Phủ xây dựng căn cứ cố thủ Tại khu vực Điện Biên Phủ, ông chỉ huytấn công đồn Mường Thanh, tên sĩ quan Pháp chỉ huy đồn sợ hãi tự tử, nghĩa quân đánh chiếm đồn dễ dàng.Hoảng sợ trước hoạt động của nghĩa quân, quân Pháp quyết tâm đánh nghĩa quân, chúng chia hai đường: mộtđường từ tỉnh lỵ Lai Châu qua huyện Mường Lay đánh xuống, đường khác từ Sơn La qua huyện Tuần Giáo đánhvào Song đang mùa mưa lũ, quân Pháp cơ động chậm, nên không có những trận đánh lớn, chỉ có vài trận đánh
nhỏ diễn ra ở vùng sông Nậm Hu
Đến tháng 7 năm 1914, nước vừa rút, trong khi quân Pháp còn án binh bất động thì Lương Bảo Định và bộchỉ huy nghĩa quân tấn công về phía Nam, chiếm vị trí chiến lược Phong Sa Lỳ và một số vị trí lân cận, án ngữ
đường giao thông giữa Bôlôven và Xiêng Khoảng
Trước sự tấn công mãnh liệt của nghĩa quân, quân Pháp tháo chạy khỏi Bôlôven bỏ đồn để cho nghĩa quânchiếm Nhân đà thắng lợi, nghĩa quân tấn công chiếm Mộc Pha, một vị trí có tầm chiến lược quan trọng trên sông
1 Phong Thổ khi đó thuộc tỉnh Lào Cai, nay thuộc tỉnh Lai Châu.
Trang 37giặc Quân Pháp không tiến được, bị thương vong nặng nề Sau chúng tập trung hỏa lực bắn yểm hộ cho côngbinh bò lên đặt mìn mới phá được công sự tràn vào Trận đánh giáp lá cà diễn ra quyết liệt, cả hai bên đều bị
thương vong nặng nề, quân Pháp chiếm được Mộc Pha
Cùng trong thời gian tiến đánh Mộc Pha quân Pháp cho một đội quân tấn công bản Long Nai, nhưng tại đây,quân địch cũng bị thất bại nặng nề Sau khi chiếm được Mộc Pha, quân Pháp phải đưa quân sang tiếp ứng mới
chiếm được Long Nai
Sau hai trận Mộc Pha, Long Nai, lực lượng nghĩa quân bị tổn thất nặng nề, chúng tập trung quân truy kíchnghĩa quân, nghĩa quân rút về cố thủ tại Phong Sa Lỳ Nghĩa quân cầm cự được một thời gian, do lực lượng đềkháng của nghĩa quân suy yếu, đạn dược không còn, nên nghĩa quân phá hủy công sự, doanh trại rồi rút lui Quân
Pháp chặn đường về Lai Châu, nhưng nghĩa quân vẫn vượt qua, bảo toàn lực lượng
Tại phía Bắc Lai Châu, lực lượng nghĩa quân ít, khi quân Pháp từ Phong Thổ đánh xuống, nghĩa quân chialàm hai bộ phận: một nửa lực lượng hành quân chi viện cho cánh quân phía Nam, còn một nửa lực lượng vượtbiên giới tránh đụng độ với quân Pháp bảo toàn lực lượng, nhưng thỉnh thoảng quay trở lại tập kích quân Pháp
nhưng không có trận nào lớn
Tuy lực lượng suy giảm nhiều so với ban đầu, song nghĩa quân Lương Bảo Định vẫn tiếp tục chiến đấu với
quân Pháp, gây nhiều thiệt hại cho chúng đến tháng 3 năm 1916 mới tan rã
Trang 38Triệu Tiến Tiên
Năm Nhâm Dần (1901) Triệu Tài Lộc và Triệu Tiến Kiên người dân tộc Dao đều quê ở Khe Đò, xã
Vi Thượng, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang lãnh đạo nhân dân chống Pháp Hai ông đem quân đánh đồn NộmLốp (huyện Bắc Quang, Hà Giang) và đồn Bắc Hà (Lào Cai) Triệu Tiến Kiên hy sinh trong trận đánh đồn Bắc
Hà, Triệu Tài Lộc trốn thoát
Đến năm 1905, Triệu Tài Lộc lại phối hợp với các thủ lĩnh khác đánh Pháp ở Hoàng Su Phì (Hà Giang)
Quân Pháp đàn áp, ông lại phải trốn tránh
Vùng quê Lục Yên vốn là nơi có truyền thống chống áp bức, cường quyền Năm 1862, Lục Yên cùng với Bảo
Hà đã từng là căn cứ của thủ lĩnh Bàn Văn Nhị người dân tộc Dao ở Lào Cai chống lại quan quân của vua TựĐức Trong các năm từ 1886 đến 1893, Lục Yên từng là chiến trường của các thủ lĩnh Hoàng Man, Hoàng ThânLợi, Mã Quế An chống Pháp Từ năm 1901 đến năm 1905, đồng bào Dao ở Lục Yên đã hưởng ứng cuộc khởinghĩa của các thủ lĩnh người Dao, Triệu Tiến Tiên và Triệu Tài Lộc ở Bắc Quang (Hà Giang) đánh Pháp Năm
1908 quân cách mạng Trung Quốc bị triều đình Mãn Thanh đuổi đánh chạy sang Việt Nam đã xây dựng căn cứ ởTrúc Lâu (nay là xã Trúc Lâm, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái) và Mỏ Vỏ (Trấn Yên, Yên Bái ngày nay) Đồng
bào dân tộc Dao đã giúp đỡ nghĩa quân Trung Quốc trên nhiều phương diện
Chính vì vậy ngày 27 tháng 2 năm 1910, Muranh (Mourin) chỉ huy quân sự Pháp ở Lào Cai đã viết báo cáo
gửi Chánh sứ Lào Cai Tuare (Touris) trong đó nhận xét: "Những người nhà quê và Hoa Kiều ở Lục Yên Châu đã
không ngừng che chở quân cách mạng bằng sự im lặng của họ hoặc bằng cách cung cấp cho ta những tin tức dối trá" Vì vậy từ cuối năm 1913 đầu năm 1914, ở Lục Yên có tới hai đồn binh Pháp do tên quan hai Pháp chỉ
huy; tri châu, châu úy Lục Yên cũng có một đội lính khố xanh
Triệu Tiến Tiên và Triệu Tài Lộc đến Lục Yên đã chủ động liên lạc với Triệu Tài Tiến (tức Chòi Chằn) cũng
là người dân tộc Dao có uy tín trong quan lại Chính Triệu Tài Tiến đã bàn với hai ông xây dựng căn cứ chống
Pháp ở Trúc Lâu Hai ông đã chọn Khe Nậm Lói nằm trong tổng Trúc Lâu làm cứ điểm
Triệu Tiến Tiên tự xưng là quốc vương Ba ông đã chọn màu trắng làm màu cờ, trên nền cờ thêu bốn chữ "Tổquốc bạch kỳ" màu đen Đối với người Dao màu trắng là màu trong sáng và mới Năm 1862, Bàn Văn Nhị đã
giương cao ngọn cờ màu trắng chống quan quân của vua Tự Đức
Mục tiêu của cuộc khởi nghĩa được xác định là:
- Chống đi phu, chống nộp thuế cho Pháp;
- Đánh đuổi người Pháp lấy lại nước;
- Làm cho người Dao được tự do, sung sướng không ai bị áp bức khổ sở
Hình thức tuyên truyền là đặt ra các bài hát, bài cúng, hiệu triệu, sách học được phổ biến rộng trong đồng bàodân tộc Dao ở các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang Triệu Tiến Tiên đã tự mình đi Tuyên Quang
để vận động khởi nghĩa
Đối tượng tuyên truyền mà Triệu Tiến Tiên xác định trước hết nhằm vào kỳ mục, đầu mục, thầy mo, quảnDao, trưởng động, giáp làng trong đồng bào Dao, sau đó thuyết phục đồng bào Thổ, đồng bào Hoa Khi tuyên
Trang 39truyền ông nói với người Thổ: "Nếu thắng Pháp thì Dao, Thổ cùng
giữ nước, trường hợp thất bại thì người Thổ bao che cho người Dao".
Sau khi được tuyên truyền, các chức sắc tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân trong khe động của mình
Nội dung tuyên truyền cũng như trên nhưng khẳng định: "Tây đã đến ngày tận số, hoàng thiên đã báo ứng như
thế rồi!".
Đồng bào Dao đã bị giặc Pháp đánh thuế ruộng, thuế nương, cả thuế nước, thuế đường, đi xuống chợ cũngphải nộp thuế, vào rừng chặt cây làm nhà, làm nương cũng bị phạt Trong mấy chục năm qua người Dao đã bịchết vì các cuộc đàn áp của giặc Pháp, bị bắt đi phu, đi lính mà chết, bị chết vì dịch đậu mùa, bị chết đói, vốn sẵn
lòng căm thù giặc Pháp sâu sắc nên đã nhiệt liệt tham gia cuộc khởi nghĩa
Chỉ trong một tháng tuyên truyền, vận động đã có kết quả rất lớn Tại Lục Yên, Triệu Tiến Tài (tức Chòi Lụa)dân tộc Dao được phong làm tướng nhất, Triệu Tài Tiến (tức Chòi Chằn) được giao làm tướng hai, Đặng VănQuân giữ chức tốc tài1, Bàn Thừa Ân giữ chức phó tướng, Lý Tiến Minh được chỉ định chỉ huy cả khu vực này;
Lý Văn Liềm làm nhiệm vụ thu lương, Tổng Giang làm nhiệm vụ liên lạc, giao thiệp
Các chức vụ người Thổ, tổng Thúy Cuông như Chánh Chít, Phó Ra, Cai Bao, Bếp Va, Tuần Nới; ở Phú Yên, Đại Bục như Chánh Thuật, Phó tổng Thôm, Tuần
Ngoan… cũng tham gia
Tại huyện Yên Bình, Đặng Văn Đài phụ trách tất cả các phong trào của đồng bào Dao quần trắng.Các dân tộc Thổ, Hoa ở Đông Cuông, Trái Hút, Bảo Hà, Lục Yên đều tham gia cuộc khởi nghĩa.Triệu Tiến Tiên nhân danh quốc vương cấp dấu làm việc và bằng sắc, riêng dấu quốc vương được đúc từ
Trung Quốc
Do các chức dịch, nhân dân hưởng ứng đông đảo, nên Triệu Tiến Tiên nhanh chóng tổ chức được lực lượngnghĩa quân Đến tháng 9 năm 1914 ở khu Trái Hút, tổng Đông Cuông có 114 quân, tổng Yên Phú có 50 quân; ởkhu Lục Yên (Hạ huyện - gồm cả Yên Bình) có 300 quân, ở thượng huyện có 350 quân; khu Bảo Hà có ngót 600
quân Chưa kể số quân ở huyện Trấn Yên (Yên Bái) và các nơi khác
Nghĩa quân còn đặt ra quân kỳ, quân kỷ, có nơi còn may quân phục như ở Đại Bục, Trái Hút
Vũ khí chiến đấu của nghĩa quân gồm có súng kíp, súng hỏa mai, dao mã tấu, dao phát, dao thái chuối TạiBảo Hà, Triệu Xuân Tiến giao nhiệm vụ sản xuất vũ khí cho ông Triệu Kim Tiền Ông Tiền tập trung tất cả thợ
rèn trong vùng lại để rèn vũ khí
Về lương thực, những ngày hội quân thì dân đóng góp, khi đánh đồn thì nghĩa quân tự túc
Sau khi chiêu mộ được quân, chuẩn bị được vũ khí lương thực, đặc biệt là sau khi đã tuyên truyền sâu rộngtrong đồng bào dân tộc Dao, Thổ, Triệu Tiến Tiên, Triệu Tài Lộc quyết định nổi dậy đánh Pháp vào đầu thángnăm 19149 (âm lịch) Nghĩa quân sẽ cùng một lúc tấn công ba đồn Lục Yên, Bảo Hà, Trái Hút, sau đó sẽ đánhchiếm Yên Bái ở Phố Ràng, địch không có đồn trại nhưng có một toán quân lớn do tên quan hai, đại lý Lục Yênchỉ huy đến đóng để đàn áp nghĩa quân, nên nghĩa quân chủ trương trong khi tập trung quân đánh ba đồn trên vẫn
phải bố trí quân để bảo vệ căn cứ và đánh Phố Ràng
Nghĩa quân còn phối hợp với nghĩa quân các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang cùng đánh Pháp.Triệu Tiến Tiên họp các tướng phân công Lý Văn Minh đánh Trái Hút; Trần Xuân Tiến đánh Bảo Hà; TriệuTài Lộc và Triệu Tài Tiến đánh Lục Yên; Hoàng Văn An đánh Phố Ràng; Triệu Tiến Tiên ở lại Nậm Lói chỉ huy
chung
1 Là một chức của dân tộc Dao.
Trang 40Họp xong, các tướng về chuẩn bị gấp đánh đồn, triệu tập toàn dân phát lệnh đánh đồn, mở trận là tế cờ.Tại Trái Hút, Lý Tiến Minh đang chuẩn bị tế cờ thì quân lính bắt được hai tên lính cơ, Lý Tiến Minh ra lệnhthủ tiêu một tên, còn một tên cho cầm giấy về báo cho đồn Trái Hút nghĩa quân sẽ đánh đồn Người Thổ đem
trâu bò đến khao quân
Tại Lục Yên tổ chức tế cờ trong đồn Nậm Lói Nghĩa quân Lục Yên làm chủ công có sự phối hợp của nghĩa
quân phủ Yên Bình
Tại Bảo Hà, Triệu Xuân Tiến họp các tướng ở núi Đáng Đeng Ông được hai người dân cho biết cách đâynăm hôm tên quan một étserê đồn trưởng Bảo Hà đi tuần sang Phố Ràng khoảng vài ngày nữa thì quay về Nắmđược tình hình, Triệu Xuân Tiến quyết định đánh đồn Bảo Hà, ông cho một cánh quân phục kích ở Mã Yên Sơn
để đón đánh tên quan một étserê
Ngày 19 tháng 10, gần 500 nghĩa quân tập trung ở Đáng Đeng
Do công tác tuyên truyền chống Pháp, chuẩn bị lực lượng công khai, nên bọn cầm quyền Pháp đã biết mộtphần về cuộc nổi dậy Nhưng do đồng bào Dao và đồng bào Thổ biết giữ bí mật, địa hình lại hiểm trở nên quânPháp không đàn áp ngay được Tuy nhiên, chúng cũng cảnh giác và tăng cường lực lượng, chia quân đi lùng sục
vào các động Dao
Tại Lục Yên, đầu tháng 10 năm 1914, chúng bắt được anh ấu, một nghĩa quân của Triệu Tài Lộc Bị giặcPháp tra tấn, ấu đã khai Triệu Tài Lộc và Hoàng Văn An chỉ huy đánh Phố Ràng Tại Trái Hút do nghĩa quân thacho một tên lính, hắn về báo nơi nghĩa quân ở nên chúng tăng cường 100 lính khố đỏ do tên quan ba Satenliê
(Chatellier) chỉ huy từ Yên Bái lên tăng cường Tại Bảo Hà cũng có nhiều toán quân tuần tiễu
Trận đánh Trái Hút diễn ra vào ngày 19 tháng 10, do Lý Tiến Minh chỉ huy 114 nghĩa quân tiến đánh từ ĐáĐương sang hết Đông Cường, đến xóm Sài Lương và Đồng Dẹt thì bị quân Pháp phục kích Quân Pháp chờ nghĩaquân đến gần mới nổ súng, nghĩa quân chạy tán loạn Toán quân do Bàn Thừa Ân chỉ huy nghe tin quân Lý Tiến
Minh bại trận không dám qua sông đánh ga Ngòi Hóp nữa
Tại Bảo Hà, vào lúc 9 giờ sáng ngày 21 tháng 10 năm 1914 nghĩa quân chia làm hai cánh tiến đánh Bảo Hà,nhưng ở cả hai cánh quân bị địch chống cự kịch liệt, đến trưa nghĩa quân hết đạn phải rút lui Cánh quân phụckích tên quan một, do Lào Si chỉ huy, chỉ bắn bị thương tên quan một và giết chết 2 lính Lào Si hy sinh, nghĩaquân tan tác bỏ chạy vào rừng Quân Pháp vây đánh, nhưng nghĩa quân vẫn kháng cự được 10 ngày.Tại Lục Yên sau lễ tế cờ Triệu Tài Lộc chỉ huy 300 nghĩa quân, chia làm ba toán, đúng 8 giờ sáng ngày 22tháng 10 (âm lịch) cùng xuất phát Do địa hình hành quân khó khăn, nên chỉ có cánh quân Chòi Chằn tới trước,cách đồn Đồng Bành 500 thước Tin vào xin âm dương tiến đánh thế nào cũng thắng, nên Chòi Chằn chỉ huy 100
quân tấn công đồn
Quân Pháp phản công, tướng Triệu Hữu Kin cắm được cờ lên cổng đồn thì bị bắn chết Nghĩa quân bị đánh từhai mặt: trong đồn và ở gò Chè kẹp nghĩa quân vào giữa hai luồng đạn Một số lớn nghĩa quân bị thương, 3 nghĩa
quân bị chết, Phó tướng Triệu Hữu Bảo bị bắt
Năm hôm sau quân Pháp tiến đánh Nậm Lói, căn cứ cuối cùng của nghĩa quân Căn cứ bị bao vây, một nghĩaquân tên là Đặng Hữu Châu bắn chết một tên lính, anh Triệu Hữu Phụ bắn bị thương một tên, bọn Pháp hoảngloạn, phá được vòng vây chạy thoát Sau đó, giặc Pháp tăng viện tiếp tục đến bao vây nghĩa quân, bọn giặc gọihàng Chòi Lụa không được, chúng đe dọa nếu nghĩa quân không ra hàng, chúng giết cả nhà, nghĩa quân sợ đều
bỏ tướng ra hàng Cuối cùng bọn xã đoàn ở tổng Lương Sơn và Lâm Trường lừa được Chòi Chằn vào ổ phục
kích, rồibắn chết
Trong trận đánh này nghĩa quân giết chết 6 tên địch trong đó có một tên đội Tây, một tên Cai làm tay sai choPháp, làm bị thương 2 tên trong đó có tên quan một Nghĩa quân bị chết 8 người trong đó có hai tướng Triệu Hữu