Tạ Hiện còn có tên là Tạ Quang Hiện, sinh năm Tân Sửu (1841), con cụ Tạ Văn Diên, người làng Quan Lang, huyện Thụy Anh, phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định, nay là xã Quan Lang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Tạ Hiện từ khi nhỏ đã ưa hoạt động, giỏi võ nghệ, bơi lặn, đỗ tú tài võ. Ông giữ đến chức Đốc binh quân vụ tỉnh Tuyên Quang. Tháng 9 năm 1872, Tạ Hiện chỉ huy một số thuyền nhỏ của Nghệ An, đánh tan 30 chiến thuyền lớn của bọn hải tặc nước ngoài tại Hàm Giang (Quảng Yên). Sau chiến thắng này Tạ Hiện được phong Phó quản cơ.
Trang 1NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG PHONG TRÀO VĂN
THÂN CHỐNG PHÁP (1883 – 1885)
1 Đô thống Tạ Hiện
Tạ Hiện còn có tên là Tạ Quang Hiện, sinh năm Tân Sửu (1841), con cụ Tạ Văn Diên, người
làng Quan Lang, huyện Thụy Anh, phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định, nay là xã Quan Lang, huyện TháiThụy, tỉnh Thái Bình Tạ Hiện từ khi nhỏ đã ưa hoạt động, giỏi võ nghệ, bơi lặn, đỗ tú tài võ Ông giữ đếnchức Đốc binh quân vụ tỉnh Tuyên Quang
Tháng 9 năm 1872, Tạ Hiện chỉ huy một số thuyền nhỏ của Nghệ An, đánh tan 30 chiến thuyền lớncủa bọn hải tặc nước ngoài tại Hàm Giang (Quảng Yên) Sau chiến thắng này Tạ Hiện được phong Phóquản cơ
Ngày 31 tháng 12 năm 1873, quân Pháp trao trả tỉnh thành Hải Dương, triều đình cử Tạ Hiện làmLãnh binh, (Nguyễn Huy Tự làm Hộ đốc, Nguyễn Hữu Đỗ làm Bố chính)
Tháng 10 năm 1879, thành lập đồn Cối Sơn, tỉnh Quảng Yên, Tạ Hiện được cử chỉ huy đồn Ông chỉhuy quân lính đánh dẹp bọn phỉ phương Bắc, nên vùng này được yên lành
Tháng 8 năm 1882, Tạ Hiện được thăng Chưởng vệ, lãnh Đề đốc Bắc Ninh Tháng 2 năm 1883, triềuđình giao cho Tạ Hiện chỉ huy đội Hùng nhuệ thay Thống chế Hoàng Văn Thụ bị giáng chức
Ngày 27 tháng 3 năm 1883, thành Nam Định thất thủ, Tạ Hiện xin triều đình thôi giữ chức chỉ huyHùng nhuệ quân về giữ chức Đề đốc Nam Định để khôi phục lại tỉnh thành
Ngày 25 tháng 8 năm 1883, triều đình Huế ký Hòa ước Quý Mùi, nước ta phải chịu sự bảo hộ củaPháp
Tháng 9 năm 1883, triều đình ra lệnh triệt binh, Tạ Hiện không chịu, kiên quyết ở lại cùng nhân dânkháng chiến Ông phái người nộp trả ấn Đề đốc, rồi cùng một số quan lại, binh lính lui về phủ Kiến Xương(Nam Định) phát hịch tố cáo giặc Pháp xâm lược, chiêu mộ hương dũng đánh Pháp nhiều trận kịch liệt Ôngcòn mở rộng địa bàn hoạt động xây dựng căn cứ chống Pháp ở các huyện Hưng Nhân và huyện Thần Khê,Duyên Hà khi đó thuộc tỉnh Hưng Yên Ông còn phối hợp với Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế thủ lĩnh cuộckhởi nghĩa Bãi Sậy đánh quân Pháp nhiều trận lớn trên hai bờ Tả ngạn và Hữu ngạn sông Luộc
Cuối năm 1883, Tạ Hiện tập trung tới 4.000 - 5.000 nghĩa quân, đánh chiếm lại tỉnh thành Nam Định
Họ đã làm chủ vùng nông thôn: thu thuế, tuyển lính, xử án
Trong những chiến công của nghĩa quân do Tạ Hiện chỉ huy trên các chiến trường ở các tỉnh TháiBình, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, có những trận đánh lớn vào đồn giặc ở Trà Lý (TháiBình), đền Trần (Nam Định), trận đánh úp đồn Quỳnh Côi (Thái Bình) gây cho địch nhiều thương vong
và thu được nhiều vũ khí Nghĩa quân dựa vào dân thực hiện chiến tranh du kích, thiên biến vạn hóa,thoắt ẩn, thoắt hiện Giặc Pháp tung quân đi càn quét không tìm được nghĩa quân nhưng lại thường bịđánh úp, bị phục kích Có trận nghĩa quân mặc quần áo lính khố xanh, công khai hành quân ban ngày.Lực lượng nghĩa quân Tạ Hiện ngày càng đông, mạnh mẽ, được huấn luyện tốt, có tinh thần căm thùgiặc và ý thức kỷ luật cao
Tạ Hiện đã phối hợp với nhiều thủ lĩnh nghĩa quân như Đinh Gia Quế ở Bãi Sậy trong các năm 1883,
1884 Bang Tốn và một số tướng lĩnh của ông đã sát cánh chiến đấu với nghĩa quân Bãi Sậy
Ông cùng với Nguyễn Thiện Thuật, Lã Xuân Oai, Phạm Huy Quang, Cai Kinh, Lưu Vĩnh Phúc đánhquân Pháp ở cầu Quan Âm (Bắc Lệ, Lạng Sơn) ngày 24 tháng 5 năm 1884
Đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, Phạm ThậnDuật tấn công đồn Mang Cá và tòa Khâm sứ ở kinh đô Huế Bị quân Pháp phản công, Tôn Thất Thuyết
hộ giá vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị phát động phong trào Cần Vương
Ngày 3 tháng 6 âm lịch, Hàm Nghi năm thứ nhất(11-7-1885), Hoàng đế ban dụ phục hồi, thăng chức cho một số quan lại phe chủ chiến Trong đó nguyên
Đề đốc Tạ Hiện nay thăng chức Đô thống
Từ cuối năm 1885 đến tháng 7 năm 1886, Tạ Hiện sát cánh chiến đấu cùng Nguyễn Thiện Thuật ở lưuvực sông Kinh Thày, sông Thái Bình Năm 1885, Đô thống Tạ Hiện thành lập nghĩa quân có 5 dinh làtrung quân, tiền quân, hậu quân, tả quân, hữu quân Phạm Văn Đức giữ chức Tiền quân đô thống, CửBình ở An Lão, Kiến An chỉ huy hậu quân
Từ tháng 10 năm 1886, nghĩa quân Tạ Hiện hoạt động mạnh trở lại Nghĩa quân đánh úp đồn Quỳnh
Côi Nghĩa quân do Bang Tốn chỉ huy và nghĩa quân do sư So ở chùa Thiền Quan chiếm lại được phủ
Trang 2Kiến Xương, tấn công huyện Trực Định (Kiến Xương) Nghĩa quân còn đánh đồn Thanh Quan, đồn Vụ
Bản và nhiều trận khác Đốpphe (Daufès) trong cuốn La Garde indigène de l’Indochine de sa création à nos four, tập I, Toukin, Avignou 1933 đã phải thừa nhận: "Đội lính khố xanh đã xung đột nhiều trận với các đội nghĩa quân của Tán Thuật, Lãnh Giang, Tổng Kinh, Đốc Sung, Đề đốc Tạ Hiện, Đốc Tít chỉ huy càn quét, bình định vùng giữa sông Luộc và sông Trà Lý, đốt phá làng mạc, tàn sát nhân dân Nghĩa quân tránh những trận đánh lớn, chỉ lẻ tẻ chiến đấu Nghĩa quân của ông thường đào hố ngụy trang dụ địch đến là nhảy ra bắt gọn chúng, nên chúng gọi là giặc vồ".
Về cái chết của Tạ Hiện, có nhiều tư liệu khác nhau, nhưng đáng tin là cuốn "Lịch sử quân sự Đông Dương" thì đầu năm 1887, Tạ Hiện bị địch bắt và bị giết vào đêm mồng 2 tháng 2 năm 1887 ở Bình Bắc,
Đông Triều Các cụ già ở quê Tạ Hiện cũng xác định ông bị giặc Pháp bắt và giết ở quê vợ tại ĐôngTriều, hiện ở đó còn đền thờ ông
Ngoài võ công lừng lẫy, Tạ Hiện còn là nhà thơ, nay còn lại bài "Cái nợ tang bồng"
Cái nợ tang bồng tí tẻo teo,
Nay đòi mai hỏi tiếng ong eo.
Ta nay quyết kéo trời Nam lại
Kẻo để giang sơn đổ lộn phèo
(Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, trang 214 nhóm Chu Thiên, Văn học, Hà Nội,
1970)
2 Bang Tốn
Bang Tốn tên thật là Nguyễn Đình Tốn, người làng Hoàng Nông, xã Tam Nông, huyện Duyên
Hà, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Hoàng Nông, xã Điệp Nông, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)
Năm 1861, Nguyễn Đình Tốn, Nguyễn (Ngô) Quang Bích, Nguyễn Huy Quỳnh, Ngô Quang Huy, LãXuân Oai học ở trường "Đại tập thành Nam" do Đốc học An - Định là Doãn Khuê đỡ đầu
Năm 1862, Nguyễn Đình Tốn cùng học với Phạm Huy Quang người làng Phù Lưu, huyện ĐôngQuan nay thuộc xã Đông Quang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
Năm 1864, Nguyễn Đình Tốn thi đỗ tú tài; cũng năm đó, ông cùng các sĩ tử tham gia vụ phá bỏ trườngthi Nam Định để phản đối triều đình ký Hoà ước 1864 Ông cũng cùng Phạm Huy Quang tham gia vụ đốtphá nhà thờ Thiên chúa chống cố đạo Phạm Thuật lợi dụng Hiệp ước 1864 ức hiếp dân chúng
Ngày 1 tháng 7 năm 1865, triều đình mở khoa thi Hương ở Thừa Thiên, Bình Định, Nghệ An, NguyễnĐình Tốn và Phạm Huy Quang cùng học qua bốn trường, nhưng sau Bang Tốn không đỗ liền bỏ học làmthư lại sau sang Tư vụ bộ Binh
Năm Tự Đức thứ 36 (1883), Bang Tốn giữ chức Tư vụ Bang biện ở kinh đô Huế, sau được điều điQuân thứ hai tỉnh Bình Định, Phú Yên1
Ngày 27 tháng 3 năm 1883, thành Nam Định thất thủ, Tạ Hiện xin thôi chức chỉ huy Hùng nhuệ quân
ở kinh đô về giữ chức Đề đốc Nam Định để tổ chức lực lượng đánh Pháp, giành lại tỉnh thành Tháng 9năm 1883, triều đình ra lệnh triệt binh, Tạ Hiện kháng chỉ, trả ấn tín lui về phủ Kiến Xương (Nam Định)
hô hào nhân dân đánh Pháp; cũng thời gian này, Bang Tốn bỏ nhiệm sở ở tỉnh Phú Yên về Duyên Hà phátđộng cuộc khởi nghĩa chống quân Pháp vì triều đình đã hèn nhát ký hoà ước đầu hàng giặc, tiếp tay chochúng xâm lược nước ta Bang Tốn có mười anh chị em trong đó có năm trai, năm gái Anh em Bang Tốnđược cha dạy chữ thánh hiền, người nào cũng sáng dạ, thông minh, lớn lên được theo học thầy ngoài.Mấy người con trai ứng thí đỗ đạt làm quan, mấy người con gái khôn lớn, đảm đang việc nhà, xuất giátrọn bề gia thất
Khi Bang Tốn từ quan ở Phú Yên về quê hương dựng cờ khởi nghĩa thì có thêm bảy anh chị em thamgia:
- Nguyễn Đình Tốn (Bang Tốn) giữ vai trò thống lĩnh
- Nguyễn Đình Thường (anh trai), nguyên chức Đề hiệu quân cơ tại phủ đường, nay giữ chức Đề đốctrực tiếp quản quân cơ tiên phong của nghĩa quân
- Nguyễn Đình Trung (em trai) giữ chức Lãnh giao liên hệ với các cánh quân ở phía Nam như nghĩaquân Tống Duy Tân ở Thanh Hoá, nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ An, nghĩa quân Phan ĐìnhPhùng ở Hà Tĩnh
1 Kỳ Đồng tiểu sử và thơ văn, Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình, 1983 viết Bang Tốn nguyên là tri huyện Duyên Hà, từ
quan tham gia phong trào Cần Vương, được vua Hàm Nghi phong là Bang biện Quân vụ.
Trang 3- Nguyễn Đình Thực (em trai) giữ chức Lãnh giao liên hệ với nghĩa quân Bãi Sậy ở phủ Khoái Châu
do Đổng quân vụ Đinh Gia Quế chỉ huy, với Tam tỉnh nghĩa quân (Bắc Ninh - Hải Dương - Hưng Yên)
do Ngô Quang Huy, Nguyễn Cao… chỉ huy
Bang Tốn còn cùng các hào kiệt trong vùng hưởng ứng chiếu Cần Vương gia nhập nghĩa quân, giữcương vị chỉ huy một cánh quân như Tổng Dụng (Trần Đình Dụng), Lãnh Nhang, Lãnh Tính, Lãnh Mè.Ông còn liên kết với Lãnh Bí (ở Tân Phong - Vũ Thư), Lãnh Đoàn người Thọ Vực, huyện Thần Khê (nay
là xã Đông Thọ, huyện Đông Hưng), Lãnh Chánh người huyện Thanh Quan (nay là Thái Thuỵ), LãnhGạo, Lãnh Cao người Hải Dương Các ông tập hợp được hơn một nghìn người tham gia nghĩa quân BangTốn còn phối hợp chỉ huy với nghĩa quân của sư Sồ chùa Thuyền Quan, Đốc Nhưỡng ở Đô Kỳ, LãnhHoan ở Thọ Vực và nhiều thủ lĩnh nghĩa quân khác Bang Tốn gia nhập nghĩa quân Tạ Hiện, Tạ Hiệngiao cho ông phụ trách huyện Thần Khê và huyện Duyên Hà, ông lập căn cứ làng Hoàng Nông nay thuộc
xã Điệp Nông, huyện Hưng Hà, Thái Bình
Quân Pháp đem quân đánh làng Hoàng Nông nhiều trận, song trận nào chúng cũng bị thua, phải rútquân
Phản ánh về tài tập hợp nghĩa quân của các ông, nhân dân có bài ca, xin trích đoạn:
…Quan Đề quê ở Quang Lang Tiên Hưng Bang Tốn, quê làng Hoàng Nông
Hoặc:
Thứ nhất Đề Hiện Quang Lang Thứ nhì Bang Tốn quê làng Hoàng Nông
Đi thì cờ mở, trống giong Làm cho thiên hạ nức lòng mộ quân
… Đi thì gươm cắp, mộc mang Đánh trống, đánh phách cả làng cùng xem 1
Trong bài: "Vè Bang Tốn" có đoạn:
Để cho lục Bộ trống không, Anh em Bang Tốn về Nông 2 tế cờ
Chiêu quân, mộ tướng tức thì Mồng một tháng sáu kéo đi Duyên Hà
ông Tốn bày trận Đống Ba 3
Đề Thường, Tú Soạn, bày ra Đống Đùng 4
Nghĩa quân được sư Sồ5 chùa Thuyền Quan (nay thuộc Thái Thụy) cùng hơn một trăm dân binh, mặc
áo buồm nẹp đai đỏ, kéo cờ có chữ "Nam mô Thuyền Quan đại tướng quân" giúp sức kéo quân đi đốt phácác cơ sở nhà thờ Thiên chúa giáo theo Pháp chống lại nhân dân và nghĩa quân
Theo lệnh của công sứ Nam Định Bơrie (Brière), Đốc bộ Hiến sát sứ Phan Đình Bình viết tờ sớ giaocho tri huyện Trực Định là Trần Văn Kiêm, người làng Thổ Trứ chiêu mộ dân binh vũ trang chống lại sư
Sồ và Bang Tốn
1 Lê Thanh Hiền: Chí sĩ - nghệ sĩ Nguyễn Thúc Khiêm, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1996.
1 Bài ca Đề Hiện, Bang Tốn (Khuyết danh).
2 Tức Hoàng Nông.
3 Đống Ba một gò đất lớn, nay thuộc xã Thống Nhất, Hưng Hà, Thái Bình.
4 Đống Đùng thuộc xã Thống Nhất, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Bài Đề Đốc Tạ Hiện và phong trào chống Pháp ở
Nam Định - Thái Bình cuối thế kỷ XIX của Đặng Quang Vận, Chu Thiên, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử viết sư So ở chùa Thiền
Quan (cũng gọi là Thuyền Quan) Thái Bình.
5 Còn gọi sư Gồ là sư So.
Trang 4Linh mục Trương Bá Thạch, linh mục Phú cũng chiêu mộ quân giáo dũng phối hợp với quân của TrầnVăn Kiêm chống lại quân Bang Tốn, sư Sồ Trận đánh lớn nhất diễn ra ở làng Tống Vũ, nay thuộc xã VũHội, huyện Vũ Thư, cả hai bên đều bị thương vong Ngày hôm sau, Bang Tốn kéo quân đến huyện TrựcĐịnh đốt nhà tên Trần Văn Kiêm, Kiêm đem quân trở lại kịch chiến với nghĩa quân Bang Tốn.
Hai huyện Thần Khê, Duyên Hà khi đó thuộc tỉnh Hưng Yên, căn cứ này có quan hệ mật thiết với cáccăn cứ của nghĩa quân Bãi Sậy ở Tiên Lữ, Ân Thi Đánh giá quá trình chống Pháp ở Thần Kê, Duyên Hà,
trong sách tài liệu "Địa chí Thái Bình có viết: "Những hoạt động quân sự của nghĩa quân Bãi Sậy ở vùng đất Thái Bình ngày nay gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp Những người chỉ huy quân sự (Pháp) lúc đó quyết định thành lập một binh đoàn mạnh tiến từ Hải Phòng lên để đánh bật các toán quân của Đổng Quế ra sông Hồng Đại tá Đônniê (Đonnier) thuộc lữ đoàn Nêgriê (Négrier) chỉ huy binh đoàn này Vì những lý do nói ở trên, cuộc hành quân không đạt được kết quả, mà chỉ làm cho dân chúng nghèo đói thêm và đẩy mạnh thêm tình cảnh loạn lạc cướp bóc" 1 Tuy vậy một cánh quân của Đônniê cũng tràn được
vào Thần Khê đốt phá các làng Trần Xá, Khả Lậu, Đông Cao, Đô Kỳ, Hải An, Hoàng Nông nhưng bịnghĩa quân chống trả kịch liệt, không thu được kết quả gì đáng kể
Theo lệnh Đề Hiện, Bang Tốn cho quân vượt sông Luộc sang Trại Vàng, một trại nhỏ ở bên kia sông(nay thuộc xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Phụ) Nắm được tình hình, tên công sứ Pháp và bọn việt gian
Vũ Văn Báo, bố chính Nam Định dùng mọi thủ đoạn mị dân và xây dựng một số đồn bốt trên đất TháiBình để bao vây nghĩa quân
Đề Hiện cùng Phạm Huy Quang vây đánh Phủ Bo, Bang Tốn lại đem quân về Quỳnh Côi Giặc co vềgiữ Đô Kỳ (Tây Đô, Hưng Hà), Bang Tốn liền cùng Đốc Nhưỡng, Tổng Dụng đánh chiếm Quỳnh Côi, rồiđem quân về Bương (nay thuộc xã Quỳnh Hà, huyện Quỳnh Phụ) để lập huyện nha
Trong bài "Vè Bang Tốn" có đoạn:
… Đề Thường, Bang Tốn kịp thu Chuyển về Xích Bích 1 , Cẩn Dung 2 họp bàn
Đang họp Tây nó đến càn Chuyển sang An Khoái 3 rút sang ướng, Rồng 4
Tàu Tây lại ở trên sông Quan Đề Hiện lệnh quân vòng sang sông
Đàn bà con trẻ hãi hùng Giặc càn, đốt, hiếp khắp vùng ra gio
Quân ta đánh gấp Phủ Bo Giặc sợ rút lại, nằm co Đô Kỳ
Đốc Nhưỡng nhận lệnh ra đi Giúp quân Tổng Dụng kéo về Quỳnh Côi
Sang Bương mở huyện đã rồi, Huyện nha trao hẳn nhà ngồi việc quan 1
Để giữ vững vùng mới giải phóng đầu tháng 7 năm 1885, Bang Tốn cùng Phạm Huy Quang chia quânđóng ở các đồn Dù, đồn Zét, đồn Đo, đồn Phủ Bo Các ông còn xây đồn Vũ Hạ là nơi tiếp giáp giữa bahuyện Quỳnh Côi, Phụ Dực, Đông Quan để khống chế đường sang huyện Ninh Giang phủ Kiến An, tỉnhHải Dương Đồn này giao cho Bá Diên, Lãnh Quý, Lãnh Nhàn chỉ huy
Nghĩa quân đang củng cố vùng mới giải phóng thì nhận được tin, đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5tháng 7 năm 1885 Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn chỉ huy Phấn Nghĩa quân tấn công toà Khâm sứPháp, đồn Mang Cá, khu nhượng địa Pháp ở kinh thành Huế Việc không thành Tôn Thất Thuyết và cácquan trong phe chủ chiến rước Vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị Vua Hàm Nghi hạ chiếu CầnVương Sĩ phu khắp các tỉnh Trung Kỳ và Bắc Kỳ nhiệt liệt hưởng ứng, chiêu mộ quân, xây dựng căn cứchống Pháp Nguyễn Thiện Thuật đang ở Long Châu (Trung Quốc) được báo tin cũng về Tiên Động (Phú
1 Theo phần "Thái Bình phong vật chí" trong sách Tài liệu "Địa chí Thái Bình" Nguyễn Quang Ân, Nguyễn Thanh dịch, chủ
biên, Trung tâm UNESCO, thông tin tư liệu lịch sử văn hoá Việt Nam, 2006.
1 Toà sứ Hưng Yên tỉnh Hưng Yên La Pravince de Hưng Yên, viết tháng 1-1933 bằng tiếng Pháp
2 Xích Bích, Cẩn Du nay thuộc xã Quỳnh Sơn, Quỳnh Phụ, Thái Bình.
3 Ương Rồng là tên nôm hai thôn Nam Đài và Ngọc Chi, nay thuộc xã Quỳnh Bảo, Quỳnh Phụ, Thái Bình.
4 An Khoái thuộc xã Thống Nhất, Hưng Hà, Thái Bình.
1 Vè Bang Tốn.
Trang 5Thọ) gặp Lễ bộ thượng thư Nguyễn Quang Bích Ông được vua giao cho nhiệm vụ chủ trì phong tràochống Pháp ở Bắc Kỳ, nhận chiếu Cần Vương và chức Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần, thống nhấtlực lượng chống Pháp ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy thaycho Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế bị ốm nặng đang phải nằm phục thuốc.
Nguyễn Thiện Thuật đã phái cử nhân Nguyễn Hữu Đức, Tán tương quân vụ vượt sông Luộc sangHưng Nhân, Duyên Hà, Thần Khê gặp Thủ lĩnh Tạ Hiện, Bang Tốn, Phạm Huy Quang và các thủ lĩnhkhác để thông báo tình hình và kế hoạch đánh Pháp, đến trung tuần tháng 8 năm 1885 mọi người phải vềcăn cứ Bãi Sậy để nghe tuyên đọc chiếu Cần Vương và bàn định kế hoạch tác chiến
Song, Nguyễn Hữu Đức vừa về buổi chiều, thì quân Pháp tấn công căn cứ Bãi Sậy; chúng lợi dụng lúcBắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật còn đang tập hợp lực lượng; Tạ Hiện cùng contrai là Tạ Quang Báo (Ba Báo) đang chiến đấu ở lưu vực sông Thái Bình, Lục Đầu (Hải Dương); đêmmồng 10 tháng 8 năm 1885, quân Pháp dùng pháo thuyền đổ bộ lên làng Hoàng Nông Một cánh quânkhác kịch chiến với nghĩa quân Bãi Sậy ở làng Mão Cầu, Ân Thi, Hưng Yên Một cánh quân hỗn hợpthủy, bộ khác gồm 10 đại đội bộ binh, 2 trung đội pháo binh, một đoàn thuyền máy và mấy tàu phóng ngưlôi tới bắn phá các làng ở hai bờ sông Luộc tại các huyện Thần Khê, Duyên Hà, Tiên Lữ, Ninh Giang, đitới đâu chúng cũng thực hiện chính sách tam quang là giết sạch, đốt sạch, phá sạch
Trước sức tấn công ác liệt của quân Pháp, Bang Tốn rút quân sang Trại Vàng, phái người đi các hoạtđộng của giặc và liên lạc với các lực lượng nghĩa quân khác Lợi dụng thời cơ quân Pháp đánh phá cáchuyện dọc sông Luộc, các lực lượng của Nguyễn Hữu Cương ở Động Trung (nay là Vũ Trung, KiếnXương); của Giám Thố ở Cổ Ninh (nay là Vũ Ninh, Kiến Xương); Lãnh Bôn1 ở Đoan Túc (nay là xã TiềnPhong, Vũ Thư); với Lãnh Hoan (nay là xã Đông Thọ, Đông Hưng), của sư Sồ ở chùa Thuyền Quan, mởtrận tiến công lớn vào phủ lỵ, các đồn binh ở Kiến Xương, Tiên Hưng Trận chiến đấu quyết liệt giữa cáclực lượng nghĩa quân với quân Pháp diễn ra ở làng Tống Vũ (nay là xã Vũ Hội, Vũ Thư) và ở Cầu Kìm,Chợ Đác (nay là xã Vũ Lạc, Kiến Xương) Giữa lúc giặc Pháp đang phải đối phó với nghĩa quân ở KiếnXương, Vũ Thư thì Đề Hiện, Phạm Huy Quang vây đánh Phủ Bo Bang Tốn từ Trại Vàng đem quân vềhuyện Quỳnh Côi, phối hợp với Tổng Dụng (tức Trần Đình Dụng) đánh chiếm huyện lỵ Quỳnh Côi, đốthết sổ sách, tài liệu, tịch thu triện bạ ở phủ Bọn quan phủ không dám chống cự, nghĩa quân thu đượcmười khẩu súng bắn nhanh của quân Pháp trang bị cho lính cơ, mấy thuyền lương thực rồi về Bương (naythuộc xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Phụ) lập huyện nha, Bang Tốn chỉ định lý trưởng một số xã, tiến hànhthu thuế để chi vào việc quân Bang Tốn hoạt động mạnh ở vùng xung quanh xã Ngọc Đình (quê hương
Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm), Tạ Xá (làng Tè), Phú Lãng, Đô Kỳ, Hải An, Hoàng Nông Ông được cácnhà nho yêu nước như Nguyễn Bá Ôn, Trần Xuân Sắc ủng hộ Trước thế giặc quá mạnh, nghĩa quân dầndần thất thế, Bang Tốn cùng các tướng sĩ phải vượt sông Luộc sang phối hợp với nghĩa quân ở căn cứ BãiSậy (Khoái Châu, Hưng Yên) chiến đấu dưới sự chỉ huy của Nguyễn Thiện Thuật
Nói đến giai đoạn Bang Tốn rút quân về Bãi Sậy, đã được phản ánh trong bài: "Vè Bang Tốn"
Vua quan đã nghĩ thế nào,
Để cho Tây nó kéo vào nước ta
Tây thì vô số hằng hà, Một mình Bãi Sậy biết là làm sao
Truyền đòi các chư tướng vào Bây giờ việc nước thế nào các quan?
ông bàn dọc, ông bàn ngang
Kẻ bàn rằng đánh, người can rằng đừng
Đánh ra thì chết đến thân Thời ta hãy liệu lấy dăm ba ngày
Nào đồn ta hãy đóng đây
Hễ Tây kéo đến ta rầy hãy ra,
Mồng một tháng Giêng chăng là Tây nó kéo đến hơn ba nghìn thằng
Tớ thày kế sách dùng dằng, Chạy hay là đánh dùng dằng gì đây
1 Lãnh Bôn còn gọi là Lãnh Bí.
Trang 6Nằm trong Bãi Sậy năm ngày Nào chánh Đề đốc, nào là Lãnh binh
Nào đâu Lãnh Uyển xuất chinh Nào đâu bộ hạ nghe minh lệnh troàn
Nào là Lãnh Cấp, Quyền Doan Lãnh Tư, Tư Chức, Lãnh Kiên sở cầu
Khốn nạn thay các tướng đi đâu,
Để ta vò võ đêm thâu một mình
Nào là Tả đạo, Hữu dinh Lấy ai mà dãi tâm tình với ta
Thoắt thôi than với mẹ già
Mẹ thời ở lại con đà thác di
Mẹ già nói lại một khi:
"Tao già tao chết có chi phải bàn
Làm trai nợ nước chan chan Gặp cơn li loạn phải toan mọi bề
Nỡ nào chịu tiếng cười chê, Vua mình tay vỗ, vua mê lóng chèo" 1
Dân tình gặp bước gieo neo, Đình chùa giặc đốt, tre pheo tơi bời.
Đường làng tao tác tiếng người Đồng trơ gốc rạ, nội phơi cỏ vàng
Sông sâu đê vắng đò ngang
Mõ làng chơ chỏng, chợ hoang bụi mù
Người thì bị bắt đi phu Đắp đê Phủ Khoái, đào hồ Hưng Yên
Người thì mất bạc mất tiền,
Kẻ thời đánh chết, người thời phải giam,
Hết cháy nhà lại Tây càn, Làm cho thiên hạ tồi tàn đến đâu.
Chỉ còn mở mắt với nhau, Chả còn tấp tểnh quân hầu, quân sai,
Chả còn trông thấy hôm mai, Chả còn mã tấu đường quai đêm ngày.
Chả còn áo mỏng, áo dày, Chả còn điếu tráp, tớ thày nghênh ngang.
Chả còn tư Bắc, tư Nam 1
Chả còn tư Bố, chả còn Tổng lương 2
Trở về Phủ Khoái khám đường
Để cho dân xã tỏ tường được hay… 3
Tháng 9 năm 1885, sau lễ tế cờ ở Văn Chỉ, Bình Dân, Nguyễn Thiện Thuật sai Nguyễn Giới, NguyễnMịch là con trai thứ ba, thứ tư của Nguyễn Thành Thà, quê ở thôn Phan Bổng, xã Đỗ Mỹ, huyện ThầnKhê, tỉnh Hưng Yên, khi đó đang chiến đấu ở căn cứ Bãi Sậy vượt sông Luộc sang Duyên Hà, HưngNhân giúp Bang Tốn xây dựng phòng tuyến sông Luộc Nguyễn Mịch đóng một đồn binh ở miệt vạnchài1 ven sông Luộc, cách đồn úng Lôi của giặc Pháp không xa Nghĩa quân của ông phần lớn là dân chàiđánh cá trên sông Luộc và các ngòi lạch ở các huyện Thần Khê, Phù Cừ, Tiên Lữ, nên rất thông thạo ngòilạch, đầm lầy ở vùng ven sông Luộc Ông đảm đương đầu mối liên lạc giữa ban chỉ huy trung tâm của
1 ý nói khi vua còn sáng suốt thì bề tôi mừng rỡ Khi vua hôn mê thì bề tôi buông lỏng tay chèo con thuyền đất nước.
1 Dinh thự của quan lại ở bắc, nam Hưng Yên.
2 Tư Bố nơi quan đóng Tổng lương: kho lương lớn nhất để nuôi quân của nam, bắc Hưng Yên khi ấy.
3 Theo các bô lão huyện Khoái Châu bài này còn đoạn cuối nhưng người kể không nhớ hết.
1 Vạn chài: Làng chài gồm nhiều thuyền quần tụ ở một khúc sông.
Trang 7cuộc khởi nghĩa ở Bãi Sậy với Bang Tốn ở Duyên Hà, Hưng Nhân, Thần Khê; Nguyễn Giới đóng đồn ởĐống Lau, làng Phan Bổng, xã Đỗ Mỹ, huyện Thần Khê để bảo vệ sườn phía tây của căn cứ Hoàng Nông.Khi vua Hàm Nghi ra sơn phòng (Quảng Trị) hạ chiếu Cần Vương, Lãnh Hoan hợp quân cùng BangTốn, Đốc Đen, Đốc Nhưỡng đánh Pháp quyết liệt tại Thọ Vực(9-1885) quân Pháp thua phải bỏ chạy để lại nhiều xác chết Lãnh Hoan cùng các thủ lĩnh khác đánh Pháp
ở làng Tống Vũ (nay thuộc xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư, TháiBình), Cầu Kìm, Chợ Đác (nay thuộc xã Vũ Lạc, Kiến Xương, Thái Bình) nghĩa quân gây cho quân Phápthiệt hại nặng nề1
"Tháng 7 năm 1885, sự biến ở kinh thành Huế
… Tại Thái Bình, các ông Tạ Hiện, Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Thu, Bang Tốn, Phạm HuyQuang tích cực hưởng ứng Hưởng ứng phong trào chống Pháp, nhiều nhà sư gia nhập nghĩa quân,trong đó có sư Sồ tu ở chùa Thuyền Quan (nay thuộc xã Thái Hà, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình) đãdựng cờ khởi nghĩa ở chùa Thuyền Quan"1
Tháng 10 năm 1886, trong khi nghĩa quân Tạ Hiện đánh úp đồn Quỳnh Côi thì nghĩa quân BangTốn và nghĩa quân sư Sồ chỉ huy chiếm lại phủ Kiến Xương, tấn công huyện Trực Định Nghĩa quâncòn đánh đồn Thanh Quan, đồn Vụ Bản và nhiều trận khác Nghĩa quân Bang Tốn có kế hoạch đánhchiếm Thuỵ Anh thì nhận được tin đoàn tàu quân Pháp từ tỉnh thành Nam Định đang trên đường theosông Hồng để về thành Hà Nội Bang Tốn triệu tập các tướng như Đề đốc Nguyễn Đình Thường, Đềđốc Hiệu, Đốc Thục, Đốc Thành, Đốc Thịnh, Lãnh Trung, Lãnh Thực bàn kế hoạch phục kích đoàn tàuchiến giặc giống như trận đánh của Thủ lĩnh Nguyễn Trung Trực chỉ có hơn 50 nghĩa quân mà phụckích đốt cháy tàu Hy Vọng của giặc Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông, thuộc thôn Nhật Tảo giết chết tênthiếu úy Bápphơ (Bafe) và 45 lính Pháp, nên nghĩa quân Bang Tốn quyết định dùng kế hỏa công, cáctướng đều nhất trí với cách đánh này và chuẩn bị gấp thuyền nan, bè, mảng, rơm, cỏ khô, chất dẫn cháynhư dầu lạc, diêm tiêu Địa điểm phục kích ở đoạn sông Hồng chảy qua địa phận làng Nga (nay thuộc
xã Hồng An, Hưng Hà) bờ sông này cỏ lác, cây sậy mọc um tùm, rậm rạp, rất thuận tiện cho cuộc maiphục Nghĩa quân đã được nhân dân làng Nga, làng Đống Gạo (nay là thôn Gạo, xã Hồng An) ủng hộquân lương, trưng thu thuyền nan, làm bè mảng, rơm cỏ khô, các chất dẫn cháy dầu lạc, diêm tiêu Cuộc hành quân diễn ra hết sức thận trọng, đảm bảo bí mật, an toàn cho nghĩa quân và nhân dân trongvùng Chánh tổng Trần Đức Lưỡng là người yêu nước, ông đã bỏ tiền bạc tranh chức chánh tổng để bênhvực dân Mặc dù ra làm quan cho chính quyền Huế, nhưng vẫn một lòng ủng hộ nghĩa quân hưởng ứngphong trào Cần Vương chống Pháp, ông dùng quyền và uy tín của mình huy động anh em họ mạc, dânđinh trong làng bí mật xay thóc giã gạo, chuẩn bị kho quân lương, xay giã giữ bí mật mọi hoạt động củanghĩa quân trước sự đeo bám, chỉ điểm của bọn việt gian, phản động theo Pháp Đến nay vẫn còn dấu tích
là Đống Gạo, Đống Trấu và lời truyền tụng Khi nghĩa quân chuẩn bị tác chiến, những chiếc thuyềnnan, bè mảng được chất đầy cỏ khô, chất dẫn cháy đã tập kết trong những con ngòi nhỏ được lau sậy chekín để đảm bảo yếu tố bất ngờ Bang Tốn bố trí hai khẩu súng thần công, một khẩu bắn đạn ghém, mộtkhẩu bắn đạn sắt, đá tròn cùng trên 20 tay súng bắn nhanh trên các gò đống cao ở hai bên bờ sông bắnyểm hộ cho các thuyền chở nghĩa quân và thuyền nan, bè mảng chở rơm rạ cỏ khô, chất dẫn cháy
Tàu chiến giặc đi ngang qua, Bang Tốn nổ pháo lệnh Lập tức hai khẩu thần công gầm lên, nhưng mộtkhẩu bắn bằng đạn ghém (tức là các mảnh gang, sắt trộn với thuốc nổ lèn vào nòng súng, khi bắn thì hàngtrăm mảnh đạn phóng ra) chỉ có tác dụng sát thương bộ binh, bắn trúng vào tàu chỉ làm bị thương nhữngtên lính đứng trên boong tàu, còn khẩu thần công thu của quân triều đình thì bắn bằng các viên đạn bằngsắt, bằng đá tròn to như quả bưởi, đạn trúng mục tiêu không gây nổ nên chỉ như cú va đập mạnh làm chotàu lắc lư Đạn của súng bắn nhanh không xuyên qua được vỏ tàu Thoạt đầu quân Pháp hoang mang chuixuống dưới hầm tàu, sau đó chúng lấy lại tinh thần, bắn như vãi đạn vào các thuyền chở nghĩa quân,thuyền chở rơm rạ, cỏ khô cùng chất dẫn cháy Trước lưới lửa dày đặc của giặc nhiều nghĩa sĩ đã hy sinh,
nhiều thuyền bị lật Tuy vậy, có hai thuyền chở hơn mười nghĩa quân vượt qua được lưới lửa của giặc, áp
sát được mạn tàu, xông lên đánh giáp lá cà, giết được hơn mười tên giặc, một số thuyền, bè mảng chở cỏkhô, chất cháy cũng áp được vào mạn tàu giặc, và được nghĩa quân phóng hỏa đốt cháy rừng rực, nhưngkhông đốt cháy được tàu làm bằng sắt của giặc Sau những giờ phút hoảng loạn, giặc tổ chức phản công,
1 Nhiều tác giả, Danh nhân Thái Bình, tập III, Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình xuất bản.
1 Kỳ Đồng tiểu sử và thơ văn, Sở Văn hoá - Thông tin Thái Bình, 1983,
tr 24, 25.
Trang 8chúng nấp trong hầm tàu bắn xối xả về phía nghĩa quân Nghĩa quân Bang Tốn bị thương vong rất nhiều,hàng trăm nghĩa sĩ cùng thủ lĩnh vẫn ào ạt xông lên đánh giáp lá cà, máu nghĩa sĩ nhuộm đỏ cả một khúcsông Đến chiều một đoàn thuyền từ thành Hưng Yên đến tiếp viện, chúng đổ quân lên bờ truy sát cácnghĩa sĩ bị thương và nhân dân trong vùng… chúng đi đến đâu là tiếng gào khóc của đàn bà, trẻ con vàngọn lửa tàn bạo thiêu trụi nhà cửa đến đó Chúng bắt được một số nghĩa quân trong đó có Bang Tốn, ĐềThường, Đề Hiệu đều bị thương nặng Do có bọn việt gian ở trong làng nhận diện, chúng biết ba ông đều
là thủ lĩnh nghĩa quân nên tra tấn cho đến chết, chặt đầu, treo lên cây gạo ở đầu dốc Đìa thuộc làng Nga,giao cho quan huyện Hưng Nhân cắt lính canh gác, còn xác các nghĩa sĩ chúng đem bỏ ngoài cánh đồngngập nước trong vùng
Nghĩa quân Bang Tốn sau trận đánh này bị thiệt hại nặng nề, một số thủ lĩnh và nghĩa quân chạy thoát
đã cùng Chánh tổng Trần Đức Lưỡng huy động con cháu và những người ủng hộ nghĩa quân đi thu lượm
tử sĩ ở trong các làng và ngoài cánh đồng nước nổi trong vùng về mai táng bí mật tại thửa ruộng của giađình ở thôn Đống Gạo
Trong cuộc truy sát gắt gao của giặc, một số thủ lĩnh và nghĩa quân chạy thoát đã tập hợp lại lựclượng Các bà Đốc Thục, Đốc Thành, Đốc Thịnh đã tổ chức lại lực lượng phối hợp cùng tướng NguyễnCao tiến đánh hàng loạt trận trong vùng Hưng Nhân, Duyên Hà trừng trị bọn việt gian phản động làm taysai cho chính quyền Huế và giặc Pháp xâm lược Lãnh Trung sau trận ấy đã đi Đông Triều gia nhập nghĩaquân Lưu Kỳ Lãnh Thực đi Thanh Hoá gia nhập nghĩa quân Tống Duy Tân Phong trào do Bang Tốnlãnh đạo hưởng ứng chiếu Cần Vương đi vào thoái trào Bà Đốc Thục (Nguyễn Khánh Thục) đổi tên làNguyễn Thị Tảo, sau tái giá với một nghĩa sĩ Cần Vương người xã Đoàn Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnhHải Dương là Nguyễn Lương Côn ông sinh ra Nguyễn Lương Thiện, ông Thiện sinh ra ông NguyễnLương Bằng, sau này giữ chức Phó Chủ tịch nước Bà Nguyễn Khánh Thành đổi tên là Nguyễn Thị Tần
đi làm ăn nơi xa Bà Nguyễn Khánh Thịnh giữ nguyên tên hiệu đi tu chùa
Về Bang Tốn, thực dân Pháp và triều đình Huế mặc dù căm thù ông cũng phải viết như sau: "Bang Tốn người xã Hoàng Nông, huyện Duyên Hà Năm Tự Đức thứ 36 (1883), Tốn giữ chức Bang biện Tư vụ coi việc ở quân thứ Nam Định Năm đầu niên hiệu Hàm Nghi (1885), xảy ra việc biến ở kinh thành, quan Đề đốc Tạ Hiện đưa quân ở miền thượng du về chiếm giữ huyện Thuỵ Anh, tỉnh Thái Bình Bang Tốn cũng giả danh ung, nghĩa Cần Vương để chiêu mộ dân chúng, dân binh có cả nghìn người, sắm đủ khí giới, Bang Tốn cùng với đầu mục là Lãnh Bí (người làng Đoan Túc, huyện Vũ Tiên), Lãnh Hoan (người Thọ Vực, huyện Thần Khê), Lãnh Chánh (người huyện Thanh Quan), Lãnh Gạo (người tỉnh Hải Dương) đem quân đi đánh chiếm hai phủ Tiên Hưng, Kiến Xương Lại có nhà sư ở chùa Thuyền Quan, nay thuộc xã Thái Hà, huyện Thái Thụy tên là sư Sồ, chiêu mộ dân binh được hơn trăm người, ai nấy đều mặc áo buồm 1 may chỉ đỏ, trương cờ hiệu thêu mấy chữ: "Nam mô Thuyền Quan đại tướng quân" Bọn sư Sồ hợp sức với bè đảng Bang Tốn đi đốt phá các nhà thờ đạo (Thiên chúa) Quan Đốc bộ Hiến sát sứ Phan Đình Bình viết tờ sớ giao cho Trần Văn Kiêm, người làng Thổ Trứ chiêu mộ quân nghĩa dũng đề phòng Linh mục Trương Bá Thạch, linh mục Phú cũng đứng ra chiêu mộ quân nghĩa dũng để tiếp tay trừ dẹp, giao chiến với bọn Bang Tốn ở xã Tống Vũ Bè đảng bọn Bang Tốn thua chạy, bên quân giáo dũng bắt được 7 tên giải lên nạp quan Ngày hôm sau, bọn Bang Tốn nhân lúc sơ hở kéo đến huyện Trực Định đốt nhà Trần Văn Kiêm Kiêm vội trở về đốc xuất quân nghĩa dũng đánh lại quân Bang Tốn, hai bên lại kịch chiến…" 1
Sau ba năm, ngày tướng sĩ nghĩa quân Bang Tốn hy sinh, Chánh tổng Trần Đức Lưỡng mua hơn 200chiếc tiểu sành, nồi hông cùng họ mạc và dân làng cải táng các nghĩa sĩ tử trận, tập trung lại thành mộtngôi mộ tập thể và san lấp bằng để ngụy trang che mắt bọn việt gian và quân Pháp Bên cạnh ngôi mộchung, ông đã cùng dân làng lập một ngôi đền "Hàn Lâm Tự" với đôi câu đối nhiều ẩn ý:
"Nghĩa địa phúc lưu thiên cổ cốt
Hàn lâm tự sự bách niên hương"
Trước lúc lâm chung, ông đã truyền đời cho con cháu và nhân dân thôn Gạo trông nom và đèn hươngngày mồng một, ngày rằm, ngày lễ tết nơi bản đền và ngôi mộ chung Đến nay cháu bốn đời cụ TổngLưỡng là ông Trần Minh Hải cùng cụ bà vẫn chăm sóc, hương khói nơi bản đền và ngôi mộ
1 Tức là loại áo khâu bằng vải may buồm.
1 Bùi Quang Ân, Nguyễn Thanh, chủ biên: Tài liệu "Địa chí Thái Bình", tập I Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch
sử và văn hóa Việt Nam, Hà Nội 2006.
Trang 9Cùng trong thời gian đó dân làng Đìa (sau đổi là làng Nga, nay là thôn Việt Thắng, xã Hồng An,Hưng Hà) đã xây cất tại dốc Đìa (nơi giặc Pháp và tay sai phản động hành quyết ba ông Bang Tốn, ĐềThường, Đề Hiệu) ngôi đền thờ "Đền thờ tướng sĩ Cần Vương tử vong" nhân dân gọi tắt là "Đền thờBang Tốn" Đền nằm trang nghiêm trên khu đất cao hơn mặt thổ làng ba mét, rộng hơn hai sào Bắc Bộ,
có nhiều cây cổ thụ xanh tốt, dân sùng kính cúng lễ quanh năm Các cụ xưa truyền tụng cho con cháurằng "Đền thờ Bang Tốn" linh thiêng lắm Năm 1945 nơi này vỡ đê kéo theo cả đền "Đền thờ Bang Tốn" đổ,chỉ còn sót lại cây ruồi cổ, dân làng sùng kính xây cất lại đền, tuy còn rất khiêm tốn, song quanh năm đènnhang hương khói phụng thờ Đền thờ Bang Tốn là bậc hào kiệt chống giặc ngoại xâm, đây là di tích lịch sửvẫn được người dân gìn giữ
Ngày nay nhân dân có nguyện vọng phục hồi "Đền thờ tướng sĩ Cần Vương tử vong" như ngày trước,đây là nghĩa cử tốt đẹp, truyền lại dấu son vốn có trên quê hương
Năm 2003, cháu bốn đời cụ Bang Tốn là ông Nguyễn Minh Lâm mới tìm được gia phả dòng họ, mớibiết cụ Nguyễn Đình Tốn sinh gia nhà chí sĩ - nghệ sĩ Nguyễn Thúc Khiêm, liệt sĩ chống Pháp đã hy sinhtại nhà tù Sơn La năm 1944 (cha đẻ nhà lão thành cách mạng Nguyễn Minh Bạch) Nơi quê nhà làngHoàng Nông thân tộc đã xây dựng "Nhà thờ họ chi Bang Tốn" đêm ngày hương khói thờ phụng Cán bộ
và nhân dân thôn Hoàng Nông đã xây dựng nhà "Bia tưởng niệm" để tri ân nhà "văn thân" yêu nước
Nguyễn Đình Tốn, chí sĩ - nghệ sĩ, liệt sĩ Nguyễn Thúc Khiêm
Năm 2008, cán bộ và nhân dân thôn Gạo, thân nhân hậu duệ của nghĩa quân Bang Tốn, thân nhân hậuduệ cụ Trần Đức Lưỡng đã tôn tạo bản đền "Hàn Lâm Tự" nay nhân dân gọi là "Đền Chùa Hà" và xây cấtngôi mộ tập thể, dựng văn bia để tưởng niệm "Tướng sĩ Cần Vương tử vong" thành kính, trang nghiêm.Đôi câu đối ở văn bia do ông Nguyễn Thanh - nguyên Giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Thái Bình
đã viết:
Anh hùng xá kể chi thành bại, cốt nhục lưu danh gửi đất này,
Người sau kẻ trước lao vào giặc, giữ vững nghìn thu một giống nòi.
Hoặc:
Xõa tóc, vươn đầu, trừng mắt hận;
Bình minh, rạng mặt, tỏ lòng trung 1
3 Đốc Đen
Đốc Đen tên thật là Bùi Văn Quảng, người đen khoẻ mạnh, rất giỏi bơi lội, tính khí ngang
tàng Vì vậy mọi người gọi ông là Đen, ít người nhắc đến tên cúng cơm của ông Ông người làng Yên Lũ,huyện Đông Quan, nay thuộc xã Đông Quang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Nhà nghèo, từ nhỏ ông
đã phải đi ở cho nhà họ Lại tại làng Sen, nay thuộc xã Trọng Quan Nguyễn Thân, người làng Sen là độitrưởng trong quân đội nhà Nguyễn dạy ông học võ Ông học võ rất tấn tới, dân anh chị trong vùng phảitôn là đại ca
Năm 1882, ông làm phụ tá cho Nguyễn Thân Tổng đốc Định - An là Vũ Trọng Bình gọi Thân vàothành giúp việc quân, Thân đem theo cả Đen ở trong quân ngũ, Đen tiếp xúc, kết thân với Lãnh Khuyển,
Đề Gạo, Ba Gang - sau đều là những thủ lĩnh giỏi của nghĩa quân Hải Dương, Hưng Yên
Ngày 27 tháng 3 năm 1883, thành Nam Định thất thủ lần thứ hai, triều đình cử Tạ Hiện về làm Đề đốcĐịnh - An thay Đề đốc Lê Văn Điếm đã hy sinh Tạ Hiện là người tích cực trong phe chủ chiến đã kêu gọinhân dân thành lập nghĩa binh Ông cùng với Đốc binh Nguyễn Trọng Bái, người xã Nguyệt Xá hoạtđộng mạnh ở Tiên Hưng, Thần Khê Quân sĩ và nhân dân tôn ông là Đốc binh - gọi là Đốc Đen Tháng 9năm 1883, Tạ Hiện kiên quyết không tuân lệnh triệt binh của triều đình Huế, phái người nộp trả ấn Đềđốc, lui về vùng Kiến Xương (Nam Định) khởi binh tố cáo lên án giặc Pháp, chiêu mộ hương dũng chốngPháp rất quyết liệt
Đốc Đen đánh úp các toán quân của triều đình do phe chủ hoà chỉ huy lấy vũ khí Ông còn tập kíchvào các huyện lỵ Quỳnh Côi, Đông Quan, Phủ Dực, Kiến Xương Đốc Đen liên hợp với các thủ lĩnhnghĩa quân như Đốc Nhưỡng ở Đô Kỳ, Lãnh Hoan ở Thọ Vực
Phong trào kháng chiến chống Pháp phát triển mạnh và quyết liệt từ tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghixuất bôn, hạ chiếu Cần Vương Tri phủ Hoàng Văn Hoè từ quan theo Tạ Hiện cùng Đốc Đen chiêu mộquân đánh Pháp Từ năm 1885 đến năm 1888, Đốc Đen hoạt động mạnh ở Thanh Quan, Đông Quan (ThuỵAnh), lan sang cả Thần Khê
1 Đôi câu đối cụ Trần Ngọc Hảo viết tặng "Đền thờ Bang Tốn" tại thôn Việt Thắng, xã Hồng An, Hưng Hà, Thái Bình.
Trang 10Ngày 25 tháng 8 năm 1888, Đốc Đen tập kích đồn Bình Cách phủ lỵ Thái Bình, Pháp phải đưa lính ởThuỵ Anh tới cứu viện.
Đêm 23 tháng 11 năm 1888, trong khi nghĩa quân Nam Định tiến công đồn Vụ Bản thì Đốc Đen chỉ huy
300 quân đánh vào đồn Thanh Quan, hai tên thiếu uý Đuyvécgiơ (Duvergé) và Iluyếcxi (Illiercy) phải liềuchết đốc thúc quân lính dưới quyền chống cự mới giữ được đồn
Đêm 21 tháng 9 năm 1889, quân Pháp cho tên Khải người cùng làng Đốc Đen chà trộn vào hàng ngũnghĩa quân chỉ điểm Đốc Đen phát hiện ra liền tương kế, tựu kế, cố tình để lộ việc mời các thủ lĩnh vềnhà mình ăn uống, bàn cách đánh kho gạo Kiến Xương Tên Khải thám thính được vội vàng báo cho BùiPhụng, Tuần phủ Thái Bình và tên thiếu uý Rivie (Rivière) chỉ huy đồn Phụ Dực biết Hai tên này vộivàng đưa lính đến làng Yên Lũ, Bùi Phụng thúc lính vây kín chung quanh làng, Đốc Đen cho số quân ít ỏiphục ngoài vườn còn mình và các tướng vẫn ngồi trên sập uống rượu Rivie vừa vào tới sân thì nghĩaquân phục ở ngoài vườn nổ súng Đốc Đen cầm mã tấu xông ra sân, chém cụt đầu tên thiếu uý Pháp Tên
Khải đi sau vội kêu lên: "ối quan phủ ơi nó giết mất quan một rồi" Hắn chưa dứt lời thì cũng bị nghĩa quân
xông vào chém đứt đầu hắn như tên đồn trưởng Pháp rồi xách đầu hắn chạy Bùi Phụng phải vượt qualưới đạn của nghĩa quân để khênh cái xác không đầu của Rivie ra khỏi làng
Trận đánh phá vây nổi tiếng uy danh Đốc Đen càng lừng lẫy, đích thân tên công sứ Nam Định Lamơthơ
đờ Rariê (Lamothe de Rarrier) lệnh cho phó sứ bố chánh Nam Định, từ phủ Thái Bình đem quân đi càn quét
để bắt Đốc Đen
Quân Pháp, quân Nam đi sục sạo khắp nơi, gặp dân bất kỳ đàn ông, đàn bà hay trẻ em là bắt tra hỏi,tới đâu cướp bóc đốt phá tới đó, nhưng chẳng thấy cái đầu tên quan một đâu Không lẽ để cái xác béo phìnung núc mỡ cho dòi bọ làm tổ, ngày hôm sau bọn Pháp và Bùi Phụng đành phải chôn tên quan một làmcon ma không đầu
Trước khi hạ huyệt Bùi Phụng đọc bài văn tế lâm li cho quan thầy:
"Nước Đại Nam, vua Thành Thái đầu năm Kỷ Sửu, tháng 8 ngày 23, tức ngày mồng 8 tháng 9 Tây năm 1889.
Quan tỉnh Nam Định sức xuống phủ Thái Bình tri phủ là tôi, đem nha lệ với chánh phó các tổng biện
lễ hoa quả, xôi một ván, bò một con, rượu hai nồi, kính bày trước mồ ông quan một đồn Phụ Dực là ông Rivière tế và than rằng:
Ông là đấng anh hùng mà lòng trung hậu, mười lăm năm ra lính, mấy mươi trận cầm quân Nước Đại Pháp đã thưởng mề đay, vua An Nam cũng ban kim khánh
Bởi vì khinh chúng nó quân hồ,
Đến nỗi thiệt một người mãnh hổ!
Theo tục nước Nam
Đĩa hoa, cốc rượu.
Nghĩ lại sông dài, bể rộng, cách trở bao xa
Tưởng như tướng mạnh, thần thiêng, linh khôn
Trang 11cũng thấu "
Tri huyện Thanh Quan cũng đọc tiếp:
"Từ bên Đại Pháp,
Sang cõi An Nam
Trông phép nước như việc nhà đồng làn bảo hộ.
Đem quân đi đánh giặc mấy trận xông pha
Ngày rằm tháng Tám, sắp lính đồn qua huyện Thanh Quan, vào làng Yên Lũ:
Thương ôi!
Nửa đêm lăn lộn, không để thằng Đen
Ba huyện xông pha vì thương con đỏ
Đã trải bên Đông, bên Bắc vua cũng biết tài.
Ai hay làm tướng, làm thần giời cho để tiếng
Nay tôi: Vâng lệnh quan trên sức xuống.
Khắc đem nha lệ đều sang
Nghĩ lại đường dài, trông theo ngọn cỏ
Gọi là lễ bạc xin đãi tấm lòng"
Sau này có bài văn tế được phổ biến rộng rãi hơn:
Văn tế Rivie (Rivière)
Hỡi ơ!
Ông ở bên Tây
Ông qua bảo hộ
Cái tóc ông quăn,
Cái mũi ông lõ
Đít ông cưỡi lừa
Miệng ông huýt chó
Lưng ông mang súng lục liên
Chân ông đi giày có mỏ
Ô hô thượng hưởng 1
(Dựa theo bản của Báo Mai - In lại trong Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX)
Sau khi chôn cất tên Rivie được vài ngày, quân lính mới tìm thấy cái đầu hắn ở cánh đồng làng CồCốc
Ngay sau đó giặc Pháp điên cuồng hành quân càn quét khủng bố trong toàn phủ Thái Bình Làng Yên
Lũ, quê hương Đốc Đen bị triệt hạ, nhân dân phải trốn tránh đi các nơi, ruộng đất bị đem chia cho các xã
1 Chưa rõ tên tác giả bài nhại văn tế của Bùi Phụng, có nhiều bản.
Trang 12khác Đợt khủng bố ác liệt dài ngày này đã gây tổn thất nặng nề cho các toán nghĩa quân.
Từ cuối năm 1889, phong trào chống Pháp ở Nam Định khó khăn, Tạ Hiện, Phạm Huy Quang, BangTốn hy sinh Căn cứ Đô Kỳ của Đốc Nhưỡng, căn cứ Thọ Vực của Lãnh Hoan bị quân Pháp càn đi, quétlại nhiều lần Quân Pháp sau khi bị nghĩa quân Đốc Đen phá vỡ một số cuộc càn quét, đã tập trung binhlực bao vây, truy quét Đốc Đen Tuy vậy ông vẫn khôn khéo tránh các mũi nhọn của địch, đánh nhiềutrận tập kích, phục kích xuất sắc Tiêu biểu như các trận cuối năm 1889, Đốc Đen chỉ huy nghĩa quânđánh một trận ác chiến với quân lính của tên quan phủ Kiến Xương Tháng 1 năm 1890, Đốc Đen chỉ huynghĩa quân đánh một trận lớn ở phía bắc phủ Kiến Xuơng,
ở chùa Tương An, Đốc Đen còn tấn công huyện đườngThư Trì1
Tháng 3 năm 1890, Đốc Đen nhận được tin tên công sứ chở gạo từ Gia Định về để bán với giá cắt cổcho dân bị mất mùa, ông phối hợp với quân của Lãnh Hoan, Đốc Nhưỡng đánh trận Bình Cách để cướpgạo Tri phủ Bùi Bổng và Hiệp quản Trần Trúc chỉ huy nha lệ hai đồn Phụ Dực, Thuỵ Anh phản công.Trận đánh kéo dài từ 9 giờ sáng đến tối Sau nghĩa quân lợi dụng trời tối rút quân an toàn Quân Pháp
phải thú nhận: "Bọn giặc tập hợp các dũng đảng lại", nhận xét: "từ khi giết được viên quan một cả bọn suy tôn Đốc Đen là người giỏi nhất" 2
Các hoạt động của Đốc Đen vang dội, Tạ Quang Hổ con trai Tạ Hiện; Cả Tiến, con rể Phạm HuyQuang cùng về liên hệ, bàn kế hoạch tác chiến
Để đối phó với quân Pháp tập trung quân mở các cuộc càn quét lớn vào các khu vực hoạt động củanghĩa quân Đốc Đen chia quân thành những toán nhỏ, mặc quần áo của lính khố xanh, khố đỏ, hành quângiữa ban ngày tiến đánh các đồn bốt giặc, các lỵ sở của bọn quan phủ huyện làm tay sai cho giặc Pháp.Tháng 11 năm 1889, Đốc Đen phối hợp với các thủ lĩnh nghĩa quân các cuộc khởi nghĩa ở NamĐịnh, Hưng Yên đánh phủ lỵ Kiến Xương và phủ lỵ Thư Trì Các ông tập trung ở căn cứ của Lãnh Bí,tên chánh đội Phạm Biểu làm phản báo cho tri phủ Kiến Xương là Trần Thuỳ, tên này báo cho quânPháp rồi đưa lính đến bao vây Hai bên đánh nhau ác liệt từ chiều đến đêm, cả hai bên đều bị thiệt hạirồi cùng rút lui
Tháng 12 năm 1889, Đốc Đen chỉ huy nghĩa quân đánh thẳng vào huyện lỵ Thư Trì Song quân triềuđình đã được tăng viện lính và vũ khí chống trả dữ dội, nên trận đánh không hiệu quả
Năm 1890, tỉnh Thái Bình1 mất mùa, Đốc Đen đánh úp các đoàn tải lương của quân Pháp Ông cùngvới Đốc Nhưỡng, Lãnh Hoan hợp quân đánh thẳng vào Bình Cách, phủ lỵ Thái Bình, các huyện lỵ ĐôngQuan, Thanh Quan, Kiến Xương Nhưng kế hoạch bị lộ, tri phủ Bùi Bổng phi báo cho Pháp đưa quân đếnbao vây Cuộc chiến diễn ra ác liệt từ 9 giờ sáng đến hơn 4 giờ chiều Lực lượng quân Pháp đông gấpnhiều nghĩa quân, Đốc Đen phải mở đường máu rút lui về chùa Trực Nội Tên chánh tổng báo cho trihuyện Thư Trì là Vũ Văn Trinh Tên này báo cho quân Pháp bao vây chùa, Vũ Văn Trinh xông vào chùa
bị Đốc Đen bắn liền chạy rút ra Đốc Đen cùng mấy nghĩa quân bắn mạnh, mở đường máu xông ra ngoàithì bị quân Pháp bắt được Chúng giải ông ra Hà Nội cho tên Thống sứ Bắc Kỳ biết mặt rồi đưa ông vềlàng Yên Lũ chặt đầu để uy hiếp nhân dân1
4 Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi
Vũ Hữu Lợi tên thật là Vũ Ngọc Tuân sinh năm Bính Thân (1836), quê ở xã Giao Cù1, tổng
Sa Lung, huyện Nam Chân, tỉnh Nam Định, nay là thôn Giao Cù, xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnhNam Định Năm Canh Ngọ (1870), ông 35 tuổi, đỗ cử nhân, đến năm ất Hợi (1875) ông đỗ tiến sĩ, nên
còn gọi là "Ông nghè Giao Cù" Do tài năng và đức độ, ông được bổ làm Đốc học Nam Định Ông còn là
một nhà giáo, từ khi đỗ cử nhân, học trò của ông người các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, HưngYên theo học rất đông
1 Danh nhân Thái Bình - Lịch sử cận đại Việt Nam - Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Diên; Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc
đến năm 1889, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
2 Phần Thái Bình phong vật chí, in trong sách "Chí Thái Bình", Nguyễn Quang Ân, Nguyễn Thanh địch, Trung tâm UNESO
thông tin tư lệnh lịch sử Văn hóa Việt Nam, 2006".
1 Tỉnh Thái Bình được Pháp thành lập ngày 21 tháng 3 năm 1890.
1 Theo Thái Bình thông chí của Phạm Văn Thụ thì sau trận Bình Cách, Đốc Đen chạy về Trực Nội, huyện Thanh Quan và bị
bắt ở một ngôi chùa do bị phản bội.
1 Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn viết là Dao Cù Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX cũng viết là Giao Cù.
Trang 13Ông có tinh thần yêu nước rất cao, bất bình với bọn thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai(1882) rồi đánh rộng ra các tỉnh Bắc Kỳ, trong đó có tỉnh Nam Định Năm 1883, ông bỏ quan về quê,cùng tiến sĩ Đỗ Huy Liệu người làng La Ngạn, huyện Đại Yên, tỉnh Nam Định và Nguyễn Đức Huyngười làng Thái La, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định chiêu mộ quân khởi nghĩa Ông đã liên hệ với các sĩphu tham gia phong trào Cần Vương ở tỉnh Nam Định và Thái Bình, dự định cùng Nguyễn Quang Bíchđang chống Pháp ở Hưng Hóa khởi nghĩa ở Nam Định.
Ông là học trò cũ của tiến sĩ Vũ Văn Lý, quê ở làng Nghĩa Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Cụ Lý
có con trai là Vũ Văn Báo1 vừa là bạn vừa là học trò của Vũ Hữu Lợi Vũ Văn Báo đỗ phó bảng ra làmquan cho Pháp, giữ chức Tổng đốc Nam Định Báo là tên tay sai cho Pháp, nên sĩ phu Nam Định, HàNam, Hưng Yên đều căm ghét
Một hôm, Vũ Văn Báo đến thăm thầy Vũ Hữu Lợi nhằm dò xét hoạt động chống Pháp của thầy cũ đểmật báo cho Pháp lập công Khi Báo đến, Vũ Hữu Lợi đang giảng bài, biết Báo đến dò la, nên Vũ HữuLợi đọc:
"Lý chi đình, thi lễ chi đình"
Nghĩa là nhà ông Lý là một nhà thi lễ Một học trò giỏi của Vũ Hữu Lợi biết thâm ý của thầy, liềnnhanh nhẹn đối:
"Báo chi quách, khuyển dương chi quách".
Nghĩa là da con báo như da chó dê
Hai câu này lấy điển trong sách luận ngữ Lý là tên Bá Ngư, con Khổng Tử, hai câu đối trên có nghĩa
là: "Nhà bố tên Báo cũng là nhà tử tế hẳn hoi, vậy mà lại đẻ ra thằng con làm mật thám cho Pháp như là
Chúng giải các ông về thành Nam Định, dùng mọi cực hình tra tấn, nhưng không moi được một bí mậtnào của nghĩa quân Mười ngày sau, công sứ Pháp và Tổng đốc Vũ Văn Báo đem Vũ Hữu Lợi và NguyễnĐức Huy ra chém ở chợ Nam Định trong đêm 30 tết năm Giáp Thân (1884), năm ấy ông chưa đầy 50tuổi Trước khi chết, Vũ Hữu Lợi ung dung ngâm câu: "Tuyệt mệnh":
Võ vô dung địa tương thùy thích?
Sư đại như thiên nại nhĩ hà?
Dịch:
Võ không còn đất đi đâu được
Việc lớn như trời biết tính sao?
Nguyễn Đức Huy đọc đôi câu đối: "Lâm hình thời tác", nghĩa là: Câu đối làm khi bị ra hành hình
Sinh bất phùng thời, nan bả hình hài hoàn tạo hóa;
Tử đắc kỳ táng cảm tương tâm huyết báo từ châu.
Dịch:
Sống chẳng gặp thời, khó trả hình hài cho tạo hóa
Chết may được táng, dám đem tâm huyết báo từ thân.
(Phong trào cách mạng qua thơ văn, Trần Huy Liệu, Tập san Văn, Sử, Địa, số 35 tháng 12-1957).
Đỗ Huy Liệu bị Pháp bắt tù, chúng dụ ông làm án sát Bắc Ninh ông từ chối Hai năm sau ông đượctha, về phụng dưỡng mẹ Khi mẹ mất, ông uống thuốc độc tự tử
Vũ Hữu Lợi bị Pháp giết, có nhiều câu đối, thơ phúng viếng Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến gửiđôi câu đối:
Vị tiệp thân tiện, trường sử anh hùng lệ mãi;
1 Vũ Văn Báo người làng Vĩnh Trụ, huyện Nam Xang nay là huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, sinh năm 1841, là con trai tiến
sĩ Vũ Văn Lý, đỗ phó bảng năm 1868, làm quan ở Định An, Tam - Tuyên tổng đốc, Tổng đốc Nam Định dẫn quân Pháp đến bắt
Vũ Hữu Lợi.
Trang 14Tịch du nhan hậu khẳng gia phu tử sinh hoàn
Dịch:
Ra quân chưa báo tin thắng, mà đã chết trước, khiến người anh hùng đầy nước mắt;
Những bạn của ông không rõ mặt dầy đến đâu, nếu ông sống lại mà về với dân với nước.
Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến còn làm bài tứ tuyệt vịnh con thiêu thân, dụng ý khóc ông NghèGiao Cù:
Vịnh con thiêu thân
Tiện nhĩ tiêm tiêm nhất vũ hàn
Đầu minh nhi tử, tử nhi an
Cổ đăng sát nhĩ ưng lần nhĩ
Đãi đáo thành hôi, lệ thủy càn
Dịch thơ:
Vịnh con thiêu thân
Chiếc thân nhỏ nhắn, nhẹ như tên
Tìm sáng liều mình thác mới yên
Ngọn sáp hại ngươi nhưng vẫn xót
Xác chưa tàn hết, lệ còn hoen
Nhân Phủ dịch
Môn sinh có câu đối viếng thầy Vũ Hữu Lợi:
Vị tiệp thân tiên, trường sử anh hùng lệ mãi
Tịch du nhan hậu, khẳng giao phù tử sinh hoàn
Dịch:
Chưa thắng đã thương thân! Thường khiến anh hùng lệ tuôn nhủ;
Bạn lứa sao dầy mặt? Chẳng để thầy ta sống trở về
Đỗ Huy Liệu đang bị giam trong ngục làm thơ khóc Vũ Hữu Lợi:
Khóc Giao Cù đại huynh
Thê lương bắc vũ sái thông tân,
Bạch nhỡn lâu tiền bán dạ sân.
Diệc giác lực suy nan đỉnh Tống,
Kỳ như ân trọng cố chùy Tần.
Bách niên quả hữu sinh tâm sự,
Trừ tịch kham bi tử tiết thần.
Cận nhật sô linh vi giá trọng
Năng vô tác lệ tự Trương Tuần.
(Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, trang 247-248)
Dịch thơ:
Khóc đại huynh làng Giao Cù
Mưa mù phủ kín bến thê lương
Trằn trọc đêm trường, mắt vẫn giương.
Giúp Tống, sức suy đành chịu vậy
Thù Tần, ơn nặng phải liều mang
Trăm năm tâm sự còn như sống,
Một dạ trung trinh chết những thương
Hiện tại người môi mua giá đắt,
Mà không táo bạo giống chàng Trương.
Chu Thiên dịch
Về sau Đốc Nhưỡng và Lãnh Hoan là học trò của Vũ Hữu Lợi đã lập mưu bắt sống Vũ Văn Báo
Trang 15về xử tội.
Trang 165 Lãnh Hoan
Lãnh Hoan tên thật là Vũ Văn Hoan, người làng Thọ Vực, huyện Thần Khê, nay thuộc xã
Đông Thọ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Ông cùng Nguyễn Khuyến, Đinh Khắc Nhưỡng, NguyễnThành Thà học thầy Vũ Hữu Lợi, còn gọi là ông nghè Giao Cù Trong số đồng môn còn có Vũ Văn Báo
là con tiến sĩ Vũ Văn Lý quê ở làng Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Vũ Văn Báo được Vũ HữuLợi kèm cặp, đỗ cử nhân sau Vũ Hữu Lợi bốn năm Vì thế Vũ Văn Báo đối với Vũ Hữu Lợi vừa là đồngmôn, vừa là thầy trò
Học chữ được vài năm thì Nguyễn Thành Thà chuyển sang học võ, năm 1874 khi quân Pháp rútkhỏi Nam Định, Nguyễn Thành Thà mở trường dạy võ cho đội "Anh danh giáo dưỡng" Học sinh ởtuổi thanh niên, thiếu niên theo học rất đông, trong đó có Vũ Văn Hoan và Đinh Khắc Nhưỡng
Học võ xong trở về làng, Vũ Văn Hoan giữ chức phó tổng, sau đó theo việc binh, được phong là Lãnhbinh
Ngày 25 tháng 3 năm 1883, quân Pháp do trung tá Hải quân Hăngri Rivire chỉ huy từ Hà Nội về đánhthành Nam Định lần thứ hai Trưa ngày 27 tháng 3 năm 1883, thành Nam Định lọt vào tay quân Pháp.Lãnh Hoan từ quan về quê ở làng Thọ Vực lập căn cứ chiêu mộ quân sĩ đánh Pháp Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi,Đốc học Nam Định cũng từ quan cùng Nguyễn Đức Huy mộ quân chống Pháp, được phong chức Đềđốc trong khi đó Vũ Văn Báo làm tổng đốc Nam Định
Nghĩa quân Lãnh Hoan cùng nghĩa quân của năm cha con Nguyễn Thành Thà, nghĩa quân Đinh KhắcNhưỡng đánh quân Pháp và lũ tay sai của chúng nhiều trận
Vũ Hữu Lợi muốn thuyết phục Vũ Văn Báo con thầy học và cũng là học trò của mình, nghĩ đến lợiích của dân tộc, làm nội ứng cho nghĩa quân hạ thành Nam Định Vũ Văn Báo rắp tâm làm tay sai choPháp từ lâu đang muốn lập công với Pháp để leo lên chức tước cao hơn, nên đã lừa Vũ Hữu Lợi giả làmnội ứng Vũ Hữu Lợi tin lời Báo liền họp với Nguyễn Đức Huy, Đỗ Huy Liệu ở một làng ở gần tỉnh thànhNam Định bàn kế trong ứng, ngoài hợp Vũ Văn Báo báo cho Pháp rồi dẫn đường cho quân Pháp bắtđược cả ba thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa và một số người khác
Mười ngày sau, đúng chiều 30 tết Giáp Thân (1884), công sứ Pháp và Tổng đốc Vũ Văn Báo đem VũHữu Lợi và Nguyễn Đức Huy xử chém ở gần chợ Nam Định
Sự phản bội của Vũ Văn Báo khiến sĩ phu Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam căm giận ĐinhKhắc Nhưỡng quyết tâm trả thù cho thầy, ông viết thư cho Lãnh Hoan trình bày kế hoạch bắt sống VũVăn Báo về xử tội Cuối thư viết một câu đối:
"Tam xích thân tồn, quốc nhục bất tiễu vị tức,
Thốn tâm thường tại, sư thù vị báo bất lương".
Nghĩa là:
"Ba thước thân hãy còn, nhục nước chưa tan, chưa nghỉ
Một tấm lòng vẫn vẹn, thù thầy không trả, không thôi".
Lãnh Hoan nhất trí với kế hoạch bắt Vũ Văn Báo về trị tội của Đốc Nhưỡng, cuối thư cũng viết đôicâu đối:
"Sinh dĩ trừ quốc nạn, ngô quyết mưu sinh
Tử như báo sư thù, ngã vô uý tử".
Trang 17quốc, giết thầy Vũ Văn Báo đang ở tại nhà Đinh Khắc Nhưỡng cho quân đột nhập bắt sống hắn về căn cứ
để xử tội
Năm 1885, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị hạ chiếu Cần Vương LãnhHoan lại hợp quân với anh em Bang Tốn, Đốc Đen, Đốc Nhưỡng đánh Pháp quyết liệt tại Thọ Vực QuânPháp thua phải tháo chạy bỏ lại nhiều xác chết và vũ khí Lãnh Hoan còn phối hợp với nghĩa quân của cácthủ lĩnh khác, đánh thắng quân Pháp ở làng Tống Vũ, nay thuộc xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư, tỉnh TháiBình và Cầu Kim, Chợ Đác nay thuộc xã Vũ Lạc, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Nghĩa quân gâycho giặc nhiều thiệt hại nặng nề1
Năm 1886, Lãnh Hoan chỉ huy nghĩa quân đánh Pháp ở làng Trường Yên, tiêu diệt 40 lính Pháp vàlính tập
Đầu năm 1892, Lãnh Hoan hy sinh trong tư thế hiên ngang, lẫm liệt, đã được nhân dân ghi lại trongbài:
Vè Lãnh Hoan
"Thọ Vực ông Lãnh đánh Tây
Hình dáng thợ cày, mã tấu bên hông.
Toàn thân ông nhuộm màu hồng,
Ông đã rửa hận non sông phen này" 2
Nguyễn Thành Thà làm bài thơ viếng học trò của mình, có câu:
Thọ Vực tuy tàn căn cứ địa,
Thần Khê vưu tráng nghĩa quân doanh.
Dịch:
Thọ Vực dẫu tàn căn cứ địa
Thần Khê càng mạnh nghĩa quân doanh.
6 Đốc Nhưỡng
Đốc Nhưỡng tên thật là Đinh Khắc Nhưỡng, ông còn có tên là Đinh Quang Nghĩa, con thứ ba
cụ Đinh Quang Khánh Ông người thôn Phú Lãng Đông, xã Đô Kỳ, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng,nay là xã Đông Đô, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Đinh Khắc Nhưỡng theo học thầy Lương Quy Chính, sau thầy Chính làm quan cho Pháp nên ông bỏtrường, theo học thầy Nguyễn Huy, gọi là Xứ Huy một người văn thơ hay, có lòng yêu nước thiết tha.Thầy Nguyễn Huy đã truyền cho Đinh Khắc Nhưỡng lòng yêu nước sâu sắc và ý chí căm thù giặc Phápcướp nước Trong khi học văn thầy Huy, Đinh Khắc Nhưỡng theo học võ của võ sư Đinh Tiến Đức, ônggiữ chức Hiệp quản được phong Lục phẩm thời Tự Đức, chỉ huy đồn tiền tiêu ở Quảng Yên Khi Tự Đức
ký hiệp ước đầu hàng giặc Pháp, Đinh Tiến Đức từ quan về làng mở trường luyện tập võ nghệ Do ĐinhKhắc Nhưỡng có lòng căm thù giặc Pháp và bọn quan lại tay sai nên thầy Đức rất quý mến và đem cảnhững môn võ bí truyền dạy cho Nhưỡng
Đinh Tiến Đức muốn cho cậu học trò yêu của mình giỏi cả văn, liền gửi Nhưỡng vào trường đại tậpcủa ông nghè Giao Cù Vũ Hữu Lợi Nhưỡng học thầy Lợi được 2 năm, chuẩn bị thi Hương thì năm 1882,quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai, Vũ Hữu Lợi cùng Tam đăng Phạm Văn Nghị chiêu tập nghĩa quân,lập căn cứ đánh Pháp Học trò của thầy Lợi phần lớn gia nhập nghĩa quân Khi đó Nhưỡng chưa tới tuổi
thanh niên, nên được bố trí vào đội quân "Anh danh giáo dưỡng" do ông Nguyễn Khả Dã người làng
Phươn chỉ huy
Ngày 27 tháng 3 năm 1883, thành Nam Định thất thủ các trường phân tán về quê quán chiêu mộ nghĩaquân, xây dựng căn cứ đánh Pháp Đinh Khắc Nhưỡng tuy còn trẻ tuổi, nhưng có kiến thức quân sự, lại cónhiệt tình yêu nước, căm thù giặc Pháp, cũng noi gương các bậc đàn anh về quê hương ở xã Đô Kỳ chiêutập những người yêu nước, sắp xếp vào đội ngũ, sắm sửa vũ khí, thuyền bè, tích trữ quân lương, đào hàođắp luỹ biến xã Đô Kỳ thành căn cứ chuẩn bị khởi nghĩa Đầu năm Hàm Nghi thứ nhất (1885), ĐốcNhưỡng cùng Bang Tốn khởi nghĩa Nghĩa quân của hai ông thoắt ẩn, thoắt hiện gây cho quân Pháp vàquân triều đình nhiều phen thất điên, bát đảo
1 Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình, Danh nhân Thái Bình.
2 Vè Thái Bình - Danh nhân Thái Bình, Sđd.
Trang 18Tháng 6 năm ất Dậu (7-1885), sau vụ khởi nghĩa ở kinh thành Huế không thành, Tôn Thất Thuyết,Trần Xuân Soạn hộ giá vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Quảng Trị hạ chiếu Cần Vương Lập tứccác thủ lĩnh nghĩa quân ở Thái Bình1 đã nổi dậy chống Pháp, từ tháng 3 năm 1883, khi tỉnh thành NamĐịnh thất thủ như: Vũ Văn Hoan (tức Đề Hoan), Đinh Khắc Nhưỡng (Đề Nhưỡng) người xã Đô Kỳ, LãnhNhàn (Nguyễn Nhàn) người xã An Dực (Phụ Dực) lại có thêm sức mạnh sau khi được xem nội dung
trong "Chiếu Cần Vương" của vua Hàm Nghi kêu gọi văn thân, sĩ phu và nhân dân cả nước đứng dậy
"chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu lại được bờ cõi"1 đã lập tức chiêu mộ thêm quân sĩ mởnhiều trận đánh vào các đồn binh Pháp, các phủ đường, huyện đường có quan lại người Nam theo Pháp.Quân Pháp lo sợ vùng đất Nam Định, Hưng Yên (sau là tỉnh Thái Bình) sẽ bùng lên khởi nghĩa rộnglớn, liên kết với căn cứ Bãi Sậy ở Hưng Yên thành một cứ điểm rộng lớn chống Pháp, Bộ chỉ huy quânviễn chinh Pháp ở Trung - Bắc Kỳ, ngày 11 tháng 12 năm 1885 phải điều 10 đại đội bộ binh, 2 trung độipháo binh, 1 đoàn thuyền máy và mấy chiếc tàu phóng lôi do tướng Muyniê (Munier) và trung tá Calê(Callet) cầm đầu để mở một cuộc càn quét lớn trên toàn vùng2
Trước một lực lượng mạnh, trang bị vũ khí hiện đại áp đảo nghĩa quân về vũ khí, phương tiện chiếntranh, các chỉ huy đã phải phân tán lực lượng, thực hiện chiến tranh du kích bằng các trận phục kích, tậpkích, đánh phá hậu cần của quân Pháp ở hầu hết các huyện Thuỵ Anh, Phụ Dực, Đông Quan, KiếnXương
Quân Pháp và quân triều đình sục sạo vào các căn cứ của các lực lượng nghĩa quân chỉ huy thấy cáccông sự bị phá huỷ, kho lương thực đã được phân tán, dân cư chạy hết Chúng không tìm được nghĩaquân Đốc Nhưỡng cũng như nghĩa quân các lực lượng vũ trang khác
Để hả giận, bọn Pháp tàn sát những người dân chúng gặp, bất kỳ là thanh niên, ông bà già hay trẻ con.Quân Pháp còn hèn nhát bắt vợ Đốc Nhưỡng là Phạm Thị Đề lên đồn Đô Kỳ chúng mới chiếm của ôngkhi ông rút lui, bắt bà Đề phải lấy tên quan Tây chỉ huy đồn Bà Đề kịch liệt phản đối, mấy lần định tự tử.Tri huyện Thần Khê sợ khi quân Pháp rút, Đốc Nhưỡng sẽ trị tội liền nhận Nguyễn Thị Đề về quản thúc.Đốc Nhưỡng nhận được tin trên, liền làm một lá đơn "Xin ly dị chồng" cho người lẻn về đưa cho vợ bắt
vợ phải gửi đơn ly dị cho tri huyện Thần Khê Nội dung như sau:
Đơn Phạm Thị Đề xin ly dị chồng
Bẩm quan tri huyện Thần Khê 1
Tên con là Phạm Thị Đề làng Sang 2
Thuộc về trong hạt phủ Tiên 3
Làm đơn khiếu tội võ biền phu gia 1
Cũng người trong huyện hạt nhà, Chính danh Khắc Nhưỡng, chức là Đốc binh.
Tháng năm chống đối triều đình,
Về Sang gặp thiếp duyên tình lấy nhau,
Biết bao ý hợp, tâm đầu, Không ngờ từ thuở thuyền tầu càn vây
Nhưỡng đưa thiếp đánh về đây Rồi bỏ đi biệt ít ngày gặp nhau
Sớm đứng ngõ, tối trông sao, Ngẩn ngơ, ngơ ngẩn biết bao trông chờ
Thế rồi đồn đóng Đô Cờ 2
1 Khi đó Thái Bình còn nằm trong tỉnh Nam Định và Hưng Yên, mãi đến năm 1890, tỉnh Thái Bình mới được thành lập.
1 Chiếu Cần Vương (Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX) - 1858-1900 Nxb Văn học, Hà Nội, trang 463-465.
2 Theo Thái Bình trong phong trào chống xâm lược Pháp nửa sau thế kỷ XIX của Đinh Xuân Lâm, Tạp chí Lịch sử quân
sự số 10-1988.
1 Xưa huyện Thần Khê nằm trong phủ Tiên Hưng, nay thuộc huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
2 Làng Sang (làng Khả Lang) nay thuộc xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
3 Phủ Tiên tức phủ Tiên Hưng có ba huyện Thần Khê, Duyên Hà, Hưng Nhân Phủ Tiên Hưng thuộc Hưng Yên, đến năm
Thành Thái thứ 2 (1899) mới cắt về Thái Bình.
1 Võ biền phu gia: người chồng biết võ nghệ.
2 Đô Cờ tức làng Đô Kỳ, nay thuộc xã Đông Đô, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Trang 19Thiếp rằng: "Phận đã hứa hôn,
Lẽ đâu thay đổi luôn luôn được nào.
Chồng con dù có thế nào, Chẳng như châu chấu sáng vào tối ra"
Đồn rằng: "Thời ấy đã qua Bây giờ bảo hộ đâu là thờ vua"
Thiếp rằng: "Sớm nắng chiều mưa, Thay chồng đổi chủ là đồ bỏ đi"
Nhưỡng nghe thiếp kể vân vi Không tin, còn đánh bắt thì thực khai
Thiếp lăn lóc, thiếp kêu giời, Nhưỡng lệnh bảo thiếp: "Lấy ai cho quyền"
Nhưng vì đồn cứ sớm chiều, Bắt thiếp bỏ Nhưỡng để yêu quan đồn,
Trước sự thể, thiếp lệ tuôn, Làm đơn bỏ Nhưỡng xin quan thương giùm
Vì rằng Nhưỡng đã cho quyền, Bước đi bước nữa, xin duyên cùng đồn,
Xin quan soi xét căn nguyên Phê cho thiếp được ly hôn kịp thì
Để đồn khỏi phải tình nghi, Chẳng phải nội ứng, thị phi rạch ròi
Để thiếp đỡ khổ hơn người,
Để thiếp đỡ phận ngậm ngùi cô đơn
Lời hèn chẳng dám chi hơn Chỉ mong lượng cả gia ơn thiếp nhờ
Nộp đơn lòng thiếp trông chờ, Cúi mong phụ mẫu khoan từ y cho.
Sau khi nhận đơn xin ly dị chồng của Đốc Nhưỡng viết, tri huyện Thần Khê vô cùng khó xử, nếu hắnphê không cho Phạm Thị Đề lấy quan đồn, quan đồn biết, hắn sẽ không biết xử lý ra sao Nếu hắn phêđơn cho Phạm Thị Đề lấy quan đồn, thì Đốc Nhưỡng về chém đầu hắn Cuối cùng quan huyện Thần Khêkhôn ngoan phê:
"Nhưỡng đi rồi Nhưỡng lại về, Làm thân phận gái liệu bề nói năng
Quan phê đôi chữ cho rằng Lấy ai thì lấy, tội mang mặc mày!"
Thầy dạy Đốc Nhưỡng là Vũ Hữu Lợi cùng với Nguyễn Đức Huy mộ quân đánh Pháp Tên Vũ VănBáo người làng Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam trước là học trò của Vũ Hữu Lợi và Phạm VănNghị Khi các ông lập căn cứ chống Pháp thì Vũ Văn Báo đầu hàng giặc Pháp, trà trộn trong hàng ngũcủa nghĩa quân làm mật thám cho Pháp Vũ Hữu Lợi không biết, vẫn tin cẩn hắn, hắn vạch kế hoạch chonghĩa quân đánh thành Nam Định, Vũ Hữu Lợi triệu tập cuộc họp với các tướng lĩnh ở một làng ngoạithành Nam Định Vũ Văn Báo đã ngầm báo cho quân Pháp vào bắt Vũ Hữu Lợi và Nguyễn Đức Huy.Giặc Pháp tra tấn hai ông cực kỳ dã man, song hai ông vẫn không khai một lời Mười ngày sau, đúngngày 30 tết năm Giáp Thân (1885) tên Báo đem Vũ Hữu Lợi, thầy học của hắn và Nguyễn Đức Huy rapháp trường xử tử
Trang 20Việc làm hèn hạ của Vũ Văn Báo gây nên sự căm phẫn trong dân chúng Bắc Kỳ, đặc biệt là nho sĩ cáctỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, trong đó có nhiều người theo học và biết tiếng thầy ĐốcNhưỡng đang cầm quân ở huyện Thần Khê1, tỉnh Thái Bình nhận được tin thầy Vũ Hữu Lợi bị tên lừathầy, phản bạn Vũ Văn Báo giết hại, thì trong lòng giận sôi lên, ông viết thư cho Lãnh Hoan đang chỉ huy
ở Thọ Vực bàn kế hoạch giết Báo trả thù cho thầy
Nhận được thư trả lời của Lãnh Hoan, Đốc Nhưỡng lập tức cho nghĩa quân đi do thám, biết đích xácsau khi giết Vũ Hữu Lợi, Tổng đốc Vũ Văn Báo được quan thầy Pháp cho đi ăn chơi ở Paris và hiện đang
ở tại nhà hắn làng Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Lập tức Đốc Nhưỡng phái một toán nghĩaquân, mặc quần áo lính khố xanh, đang đêm đột nhập vào nhà Vũ Văn Báo bắt sống y trói lại, nhét giẻvào miệng, áp giải xuống một chiếc thuyền nhẹ theo dòng sông xuôi về Thái Bình để xử tội
Khi xử tội tên Báo, có một ông đồ khăn áo chỉnh tề xin quan Đề đốc (Đốc Nhưỡng) vào lễ thầy rồi cấtcao giọng đọc bốn câu thơ:
Báo chẳng báo quốc báo công Báo lo Báo phản nên nông nỗi này
Chúng con làm lễ tế thầy Đuốc soi cho tỏ mặt mày trắng đen
Đốc Nhưỡng tiếp tục cuộc chiến đấu chống quân Pháp và lũ tay sai đánh thắng nhiều trận lẫy lừng ởThái Bình, Nam Định, Hưng Yên
Ngày 17 tháng 6 năm Thành Thái thứ 3 (1891), Đốc Nhưỡng tập hợp 100 nghĩa quân mặc quần áolính tây, có vũ khí đầy đủ trên đường về tiến công thị xã Thái Bình, thì bị quân Pháp chặn đường đánh.Cuộc xung đột diễn ra quyết liệt, tiền quân Khái bị thương tiến về Thư Trì thì bị tên tri huyện bắt nộp chocông sứ Thái Bình, Đốc Nhưỡng chạy lên Sơn Tây, sau cũng bị phát hiện, giặc Pháp bắt về Hà Nội1
Nguyễn Năng Thố
Nguyễn Năng Thố quê ở làng Cổ Ninh, nay thuộc xã Vũ Ninh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái
Bình Ông cùng với Nguyễn Công úc khi đó đều là phó tướng tin cậy của Viên Bổn
Mùa Xuân năm 1883, khi giặc Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai, Viên Bổn quyết định đem quân từ TrựcĐịnh vượt sông Hồng để phối hợp với quan quân giữ thành Nam Định Nguyễn Năng Thố chuẩn bị lựclượng đi theo Viên Bổn quyết định để Nguyễn Năng Thố ở lại xây dựng lực lượng Những bậc cha chútrong nhà cũng có lời khuyên như: "Thân phụ cháu đã vì nước hy sinh, cháu cần ở nhà phụng dưỡng bà và
mẹ cho tròn đạo hiếu" Nguyễn Năng Thố lúc đầu không nghe, nhưng sau cũng hiểu được sự nhìn xatrông rộng của chủ tướng về việc tổ chức xây dựng lực lượng trong cuộc chiến lâu dài, nên cho em làNguyễn Năng Giản đi theo Viên Bổn
Trận chiến đấu giữ thành Nam Định vô cùng quyết liệt, Viên Bổn hy sinh giữa trưa ngày 27 tháng 3năm 1883 Nguyễn Năng Giản cùng một số nghĩa quân đưa được thi hài của ông về an táng sau khi thànhNam Định mất, các nghĩa sĩ như Vũ Hữu Lợi xây dựng lực lượng ở vùng Nam Ninh (Nam Định), NguyễnThành Thà (tức Ngô Khả Dã) lập căn cứ ở làng Nấp (Hưng Hà), Lãnh Hoan lập chiến lũy ở làng Thọ Vực(Đông Hưng), Đốc Nhưỡng lập căn cứ ở Đô Kỳ (Hưng Hà), Nguyễn Năng Thố cũng tập hợp được 1.000quân Ông trở thành người có tài trong lĩnh vực tổ chức lực lượng huấn luyện quân đội Nghĩa quân tônông là Giám Thố
Đêm 4 rạng ngày 5 tháng 7 năm 1885 (23 tháng 5 năm ất Dậu), kinh thành Huế thất thủ, Tôn ThấtThuyết rước vua ra sơn phòng Quảng Trị phát động phong trào Cần Vương, khi ấy quân số của NguyễnNăng Thố đã lên tới trên 1.000 người Trong đội quân của ông có nhiều tướng giỏi như Bang biện PhạmĐình Tiến, Nhị trường Phạm Đình Tuấn, Quản Thạc, Quản Vồ, Quản Căn, Đội Đán, Đội Đặng Nghĩaquân Giám Thố đóng nhiều đồn binh, kiểm soát cả vùng Hữu ngạn sông Trà Lý
Nguyễn Năng Thố khi ấy được gọi là Giám Thố, ông lập xưởng sản xuất vũ khí, cho người lên biêngiới Việt - Trung mua súng, thủ pháo do các nước phương Tây sản xuất Ông quyên góp lương thực, tổchức cho nghĩa quân khai hoang cấy lúa để tự túc một phần lương thực
Giám Thố cho quân vượt sông Hồng đánh phá các đồn binh của quân Pháp, các lỵ sở của quan lạitriều đình
1 Nay là huyện Đông Hưng.
1 Giáo sư Đinh Xuân Lâm, Lịch sử Cận đại Việt Nam - Một số vấn đề đang nghiên cứu, Nxb Thế giới, 1998.
Trang 21Tháng 8 năm 1885 (tháng 6 năm ất Dậu), lợi dụng lũ sông Hồng, quân Pháp đi trên ca nô, xuồng máyxuôi sông Hồng, chúng tắt máy rồi dùng thuyền gỗ chở trên 100 tên lính thiện chiến, tập kích vào vùngBồng Tiên nằm sâu trong căn cứ của nghĩa quân Song chúng không ngờ, mọi hành động của chúngkhông lọt qua những cặp mắt cảnh giác của nghĩa quân và nhân dân Chúng chưa kịp tới mục tiêu đã bịnghĩa quân nổ súng đánh chặn rồi xông ra đánh giáp lá cà, giết chết ngay 20 lính Pháp Bọn Pháp rút chạyxuống ca nô lại bị nghĩa quân ném thủ pháo tiêu diệt thêm một số tên nữa Nghĩa quân còn bắt được tênviệt gian là Tư Môi, làm nghề lái trâu bò dẫn đường cho quân Pháp.
Ngày hôm sau, 26 tháng 6 năm ất Dậu (cuối tháng 7 năm 1885) quân Pháp đổ bộ lên gần chợ BồngTiên hiện nay Một số hào lý làm tay sai cho chúng lùa khoảng trên 50 ông già, đàn bà, trẻ con đi trướclàm bia đỡ đạn cho chúng Khi tới gần chiếc cầu gỗ bắc ngang sông Hội Khê nay thuộc địa phận xã VũNinh, đã bị nghĩa quân phá sập, chúng bắt dân lội sang trước Đợi cho dân lên bờ, nghĩa quân bắn tạt sườnchúng, giết chết một số tên Quân Pháp tràn lên vây kín một xóm nhỏ, nơi nghĩa quân phòng thủ Giặcđông, vũ khí tối tân, nên lực lượng nghĩa quân bị thương vong tới trên 30 người
Đúng lúc đó, một cánh quân khác của giặc đông tới 1.000 tên đi ca nô theo sông Hồng ở địa phận tỉnhHưng Yên rồi vào sông Trà Lý, chiếm xã Vũ Đông ngày nay rồi tiến thẳng về phía đại bản doanh củaGiám Thố đóng ở làng Thượng Cầm, nay thuộc xã Vũ Lạc Nghĩa quân hoàn toàn bị bất ngờ Tuy vậyGiám Thố vẫn kịp cho 200 quân luồn ra phía sau lưng địch ở vùng Vàng, Đác tấn công chúng Nghĩaquân ở trong đánh ra, quân Pháp bị kẹp giữa hai luồng đạn, nên đã ghìm chân giặc suốt từ 9 giờ sáng đến
12 giờ trưa vẫn không tên nào lọt được vào khu đại bản doanh của nghĩa quân Đến 1 giờ chiều bọn chỉhuy Pháp rút 500 quân ở phía tây nam, đánh tập hậu vào đội quân 200 người ở vùng Vàng, Đác Chúnghội quân ở làng Đồng Văn rồi tấn công vào phía đông bắc làng Thượng Cầm Sau đó pháo của chúng pháđược một đoạn lũy đất và hàng rào tre rồi bắc thang tre qua mặt hào tiến vào Nghĩa quân chống cự ácliệt, cả hai bên đều thiệt hại nặng nề Nghĩa quân phải rút về phía tây nam, lợi dụng địa hình nhiều gò, bãitrống, bãi lầy, cầm cự với giặc, đến đêm tối mới rút ra khỏi căn cứ
Sáng hôm sau, bọn giặc triệt hạ làng Thượng Cầm, rồi kéo về làng Cổ Ninh, quê Giám Thố đốt phá
Bị mất căn cứ, Giám Thố đưa quân phối hợp với nghĩa quân Đốc Đen, Đốc Nhưỡng, Lãnh Hoan đánhmột số trận và bổ sung lực lượng Đến năm 1884, nghĩa quân Giám Thố đã độc lập tác chiến đánh một sốtrận lớn
Ngày 21 tháng 3 năm 1890, Toàn quyền Đông Dương ký sắc lệnh thành lập tỉnh Thái Bình thiết lập
bộ máy cai trị đàn áp các cuộc khởi nghĩa Các lực lượng nghĩa quân ở đồng bằng Bắc Kỳ đều bị tan rã.Năm 1903, ông bị bệnh phù, gia đình phải đón về chăm sóc thuốc men Từ đó ông bị chúng quản thúc.Năm 1905, 1906, ông tham gia Duy Tân Hội và phong trào Đông Du Năm 1907, ông tham gia thành lậpcác phân hiệu Đông Kinh Nghĩa Thục ở Thái Bình
Ngày 9 tháng 5 năm Quý Sửu (1913) Nguyễn Năng Thố bị bệnh mất, thọ 54 tuổi1
1 Theo Danh nhân Thái Bình.
Trang 22Sư Năm Thượng
Sư Năm Thượng chưa rõ tên thật, quê quán chỉ biết ông tu ở chùa làng Lộ Vi (tức Lộ Xá, nay
thuộc xã Thăng Long, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) Từ năm 1882, khi giặc Pháp đánh Hà Nội lầnthứ hai rồi mở rộng chiến tranh xâm lược ra các tỉnh Nam Định, Hưng Yên, Hà Nam, Ninh Bình thì nhà
sư đã tới các chùa ở Nam Định và Hưng Yên1 vận động tăng ni, phật tử chống Pháp
Sư Năm Thượng hiểu rõ nghĩa quân muốn đánh thắng giặc thì ngoài vũ khí phải có lương thực Vì vậy
từ vụ mùa năm 1882, nhà sư đã vận động phật tử khai hoang mở rộng diện tích canh tác vốn có của chùa.Làng Lộ Vi nhỏ, nên số người giúp nhà chùa mở rộng diện tích không nhiều Sư Năm Thượng đem vốnliếng của mình thuê người làm Vì vậy mỗi năm diện tích cấy lúa một tăng, thóc thu được nhiều hơnnhững năm trước Đến vụ gặt nhà sư chỉ dành một ít thóc giúp những người hoàn cảnh khó khăn, cơ nhỡ,
số còn lại đóng vào các bịch, lẫm
Năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn ra Quảng Trị hạ chiếu Cần Vương, sư Năm Thượng đã cùng sưchùa Thuyền Quan (huyện Thuỵ Anh), sư Neo ở huyện Thanh Miện (Hải Dương) chiêu mộ nghĩa quântheo Tạ Hiện đánh Pháp Nhà sư đã đem ba chồng bịch thóc, trên 1.000 phương1 thóc to bí mật ủng hộnghĩa quân Nhưng nhà sư nguỵ trang những cót thóc trong chùa vẫn nguyên vẹn
Năm 1889, nghĩa quân Thái Bình tiến đánh Phủ Bo (nay là thị xã Thái Bình), sư Năm Thượng tiếp tụcủng hộ lương thực và chỉ huy một cánh quân tấn công Phủ Bo
Sau trận đánh Phủ Bo, sư Năm Thượng bỏ chùa đi theo nghĩa quân Dân làng ra chùa kiểm soátthấy ba cót thóc vẫn đầy không vơi Vào một ngày nắng, dân đổ thóc ra phơi thì chỉ có lớp thóc bêntrên, bên dưới toàn là trấu Dân không oán trách gì sư, vì sư đem thóc đó cho nghĩa quân đánh Tây
Nay ở Thái Bình còn lưu truyền bài: "Vè sư Năm Thượng" mang thóc ủng hộ nghĩa quân chống Pháp
Kể từ ất Dậu 2 mới rồi
Nhà sư Năm Thượng là người đảm đang
Xin tu chùa của hai làng
Rèm 3 và Lộ Xá bên đường cái quan
Ruộng chùa chăm bón giỏi giang
Ba chồng cót thóc một ngàn phương to
Cụ đem ngầm giúp Phủ Bo 1
Bỏ chùa rồi cụ đi xa không về
Dân lên kiểm soát mọi bề
Ba cây thóc đẫy, chẳng hề có vơi.
Nhân khi nắng ráo đẹp trời,
Dân làng đem thóc ra phơi kịp liền
Vừa vào xúc hết lượt trên,
ở dưới toàn trấu vít liền ba cây
Thế là thóc đã lên mây,
Thóc đem ăn để đánh Tây mất rồi.
Biết vậy dân chúng đều thôi,
Lạy Phật, lạy giời phù hộ nghĩa quân".
1 Khi đó chưa thành lập tỉnh Thái Bình.
1 Phương là một cái thùng to hình vuông, đổ thóc vào gạt mặt, phương to 12kg, phương nhỏ 10kg.
2 Năm 1885.
3 Làng Rèm nay thuộc xã Hồng Châu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
1 Năm 1889 nghĩa quân tiến đánh Phủ Bo.
Trang 23Sư Thuyền Quan
Tháng 7 năm 1885, Thượng thư bộ Binh Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn chỉ huy Phấn
nghĩa quân tấn công quân Pháp đóng ở đồn Mang Cá, toà Khâm sứ Pháp, khu nhượng địa Pháp ở kinhthành Huế Cuộc tấn công không thành, tảng sáng quân Pháp phản công, Tôn Thất Thuyết và các tướng
hộ giá vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị, tại đây nhà vua hạ chiếu Cần Vương
Sĩ phu, nhân dân các tỉnh Trung Kỳ nhiệt liệt hưởng ứng chiếu Cần Vương Tại Thái Bình1 các ông TạHiện, Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Thu, Bang Tốn, Phạm Huy Quang cũng nhiệt liệt hưởng ứng.Hưởng ứng phong trào chống Pháp, nhiều nhà sư ở Thái Bình cởi áo cà sa, khoác chiến bào gia nhậpnghĩa quân giết giặc Trong số nhà sư đó có sư Sồ tu ở chùa Thuyền Quan, nay thuộc xã Thái Hà, huyệnThái Thụy, tỉnh Thái Bình đã dùng chùa làm đại bản doanh dựng cờ khởi nghĩa, nên còn gọi là sư ThuyềnQuan Nhà sư đem thóc gạo của chùa ra nuôi quân Trai tráng các huyện Thuỵ Anh, Thái Ninh gia nhậpnghĩa quân rất đông, họ tự sắm vũ khí Nhân dân nô nức đem thóc gạo, lợn gà, tiền bạc đến khao quân Sư
Sồ vốn là người có võ nghệ trong nghĩa quân từng theo việc binh, nên công tác huấn luyện quân sĩ rất cóbài bản Nghĩa quân của sư Sồ trang bị chủ yếu là vũ khí thô sơ như gươm, giáo, kiếm, đoản đao, mã tấu;mặc dù vũ khí thô sơ, nhưng có tinh thần chiến đấu và tinh thần kỷ luật rất cao Thanh thế của nghĩa quân
sư Thuyền Quan rất lớn, bọn quan lại làm tay sai cho Pháp không dám đem lính đến đàn áp
Cuối năm 1885, quân Pháp từ hai phía Nam Định và Hưng Yên có tàu chiến, pháo hạm tiến đánh TháiBình Các ông Nguyễn Hữu Cương ở Động Trung, Giám Thố ở Cổ Ninh, Lãnh Hoan ở Thọ Vực tiến vềKiến Xương, Tiên Hưng phối hợp với lực lượng của sư Sồ ở Thuỵ Anh đưa quân tới tấn công quân Phápquyết liệt ở làng Tống Vũ (nay là xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình), ở Cầu Kìm, Chợ Đác (nay
là xã Vũ Lạc, huyện Kiến Xương) Nghĩa quân đã gây cho giặc tổn thất nặng nề Được tin thất bại, quânPháp ở Hà Nội phải vội vàng điều động một đạo quân do một tên trung tá chỉ huy xuống tiếp viện1
Đội quân do sư Sồ chỉ huy còn độc lập tác chiến hoặc phối hợp với các lực lượng nghĩa quân khácđánh nhiều trận lớn ở tỉnh Thái Bình nay còn lưu truyền bài:
Vè sư Thuyền Quan
Nam vô đại tướng Thuyền Quan
Mũ ni, tích trượng, phướn, phan thay cờ 1
Bình Tây kiến lập vệ cơ 2
Nghĩa quân khắp chốn đi về sớm hôm
Chùa làm kho súng bên đồn
Lãng Sa 3 bạt vía kinh hồn Thuyền Quan
Nam vô đại thế át Nan 4
Hộ trì đại tướng Thuyền Quan công thành.
1 Năm 1885, tỉnh Thái Bình còn là đất của hai tỉnh Nam Định và Hưng Yên Ngày 21-3-1890, tỉnh Thái Bình mới thành lập
theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương gồm phủ Thái Bình, phủ Kiến Xương của Nam Định, huyện Thần Khê của tỉnh
Hưng Yên Năm 1894 cắt hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà thuộc tỉnh Hưng Yên vào tỉnh Thái Bình lấy sông Luộc làm ranh
giới giữa hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên.
1 Kỳ Đồng tiểu sử và thơ văn, Sở Văn hoá - Thông tin Thái Bình, 1983, trang 24, 25.
Trang 24khởi nghĩa ở bắc ninh - bắc giang - lạng sơn
bắc kỳ Ngô Quang Huy
Ngô Quang Huy biệt hiệu là Quang Hiên, sinh năm 1835 ở xã An Lạc, tổng Thái Lạc, huyện
Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn An Lạc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) Theogia phả họ Ngô Quang ở An Lạc thì Thuỷ tổ là Ngô Linh Công, có công phù Lê diệt Mạc được phongCông thần Duyên thọ hầu Từ đó con cháu có nhiều người đỗ đại khoa làm quan trong triều Cha ông làNgô Quang Tộc, đỗ cử nhân khoa Kỷ Mão, là tri phủ Lý Nhân (nay thuộc tỉnh Hà Nam), sắc phong Anlĩnh tử1
Ngô Quang Huy là người thông minh, nổi tiếng hay chữ một vùng, đương thời có câu: "Thần Siêu, Thánh Quát, trẻ Quang Huy" Năm 17 tuổi ông đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý, Tự Đức thứ 5 (1852) tại
trường thi Hà Nội, được bổ làm Đốc học tỉnh Bắc Ninh
Năm 1883, Triều đình Huế ký hoà ước với Pháp ra lệnh bãi binh Nguyễn Thiện Thuật đang giữ chứcTổng đốc Hải - Yên cùng một số quan lại phe chủ chiến như Ông ích Khiêm, Nguyễn Quang Bích,Nguyễn Huy Quang, Nguyễn Cao chống lệnh bãi binh Nguyễn Thiện Thuật bỏ quan về huyện ĐôngTriều, chiêu mộ quân đánh Pháp Ngô Quang Huy cùng em trai là Ngô Quang Chước, đỗ cử nhân khoaĐinh Mão, Tự Đức thứ 20 (1867) tại trường thi Hà Nội đang làm Huấn đạo huyện Mỹ Đức đều bỏ quanchiêu mộ được hơn 100 quân đến Đông Triều gia nhập đội quân khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật.Đầu năm 1884, Ngô Quang Huy cùng Nguyễn Cao, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Văn Hòe, DươngKhải thành lập Tam tỉnh nghĩa quân1, còn gọi là Đại nghĩa đoàn Ngô Quang Huy được bầu làm Hộitrưởng Nghĩa quân có 5.000 người Tam tỉnh nghĩa quân có nhiều tướng giỏi như Đội Văn (Vương VănVang) Nghĩa quân Tam tỉnh đánh quân Pháp nhiều trận như trận ở làng Ngọc Trì, huyện Lang Tài, tỉnhBắc Ninh Nghĩa quân lập đồn trại ở Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) uy hiếp khu vực sông Cà Lồ (PhúcYên), xây dựng căn cứ ở núi Nham Biền (Yên Dũng, Bắc Giang) và các căn cứ ở Trúc Ty, Vân Cốc,Trung Đồng khống chế vùng ngã ba Phượng Nhỡn nơi hợp lưu của các sông Lục Nam - sông Thương -sông Cầu
Cuối năm 1884, quân Pháp liên tục tấn công, lực lượng nghĩa quân suy yếu, thiếu súng đạn, bị quânPháp truy kích, nghĩa quân phải phân tán chờ thời cơ Ngô Quang Huy trở về An Lạc giữ đầu mối liên lạcvới Đại nghĩa đoàn ở các phủ huyện Nguyễn Thiện Thuật cùng Hoàng Kế Viêm, Lã Xuân Oai, NguyễnQuang Huy phối hợp với quân Cờ Đen đánh quân Pháp ở Phủ Lạng Thương1, Lạng Sơn Tạ Hiện vềchiêu mộ quân chiến đấu ở phủ Thái Bình tỉnh Nam Định, Nguyễn Cao về Kim Giang, huyện ứng Hòa,tỉnh Hà Đông xây dựng cơ sở mới
Đêm mồng 4 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn chỉ huy phần nghĩa quân tấn côngquân Pháp ở kinh thành Huế, việc không thành, liền rước vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị Ngày
11 tháng 7 năm 1885, trước khi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương hai ngày, vua ra dụ phục hồi và thăngchức cho một số quan lại kháng chiến ở Bắc Kỳ Dụ này được Bắc Kỳ quân thứ phụng sao, Ngô QuangHuy lấy tư cách là Hội trưởng nghĩa quân Tam tỉnh sao thành nhiều bản gửi cho các hạt đều rõ
Mở đầu Dụ viết:
"Hoàng đế dụ rằng:
1 Theo gia phả họ Ngô Quang thôn An Lạc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên do cụ giáo Ngô Quang Vi cung
cấp.
1 Gồm: Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên.
1 Phủ Lạng Thương là tên gọi thị xã Bắc Giang thời Lê, Nguyễn.
Trang 25Nhân vì phía Pháp hoành hành, bức bách quá đỗi Kinh thành phải dời đi nơi khác Lòng mong mỏi Cần Vương hầu như khắp nước đều sẵn sàng hưởng ứng… song đúng lúc quốc gia hữu sự, việc dùng người tài tất phải có sự đặc cách đề bạt mới mong chọn được người mẫn cán để hoàn thành sự nghiệp chung.
… Nguyên Bố chánh Vũ Giốc, Đốc học Ngô Quang Huy nay đều thăng thụ Hồng Lô tự khanh sung Tán lý 1
… Tất cả những người trên đều được tùy nghi tập hợp thân hào, binh dũng lựa thời cơ mà đánh dẹp rồi báo về cho Hoàng Tá Viêm biết để tiện việc điều động.
… Khâm thử (Ngự tiền chi bảo) 2
Ngày 3 tháng 6 năm âm lịch, Hàm Nghi thứ nhất 3
Nhận được Dụ của vua, Ngô Quang Huy đang tập hợp các nghĩa sĩ trong "Tam tỉnh nghĩa quân"hưởng ứng chiếu Cần Vương Công việc đang tiến hành khẩn trương thì ông nhận được lời mời của Tántương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật mời ông đến chùa Dâu bàn việc ứng nghĩa Cần Vương
Ngô Quang Huy nhận được tin, rất đỗi vui mừng liền đến ngay điểm hẹn Tới nơi ấy đã thấy cử nhânNguyễn Hữu Đức người xã Mễ Xá, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên nay là xã Hồ Tùng Mậu, Ân Thi thamgia cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy được phong Tán tương quân vụ đã có mặt ở đó
Nguyễn Thiện Thuật thông báo cho hai bạn chiến đấu là ông được vua Hàm Nghi phong chức Bắc KỳHiệp thống quân vụ đại thần gia chấn trung tướng quân, có nhiệm vụ thống nhất các lực lượng khángchiến ở châu thổ sông Hồng và vùng ven biển Bắc Kỳ, đồng thời trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa BãiSậy thay cho Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế bị ốm nặng đang phải nằm dưỡng bệnh
Ngừng lại một lát, Nguyễn Thiện Thuật nói tiếp:
- Việc tuy lớn và khó, nhưng chúng ta có thuận lợi là tướng lĩnh và nghĩa quân Bãi Sậy vẫn quyết tâm tiếp tục chiến đấu bảo vệ căn cứ Ta còn có lực lượng của Tam tỉnh nghĩa quân, mà Bắc Ninh là nơi có lực lượng mạnh, nay đang phân tán ở các địa phương chờ thời Xin hai ông cho ý kiến.
Cử Đức nói:
- Sau trận Vạn Phúc, ông Lãnh Sậy bị giết, Đổng Quân vụ phải chạy lên bến đò Hồ, một tháng sau mới trở về, thì bị ốm nặng, phải nằm dưỡng bệnh ở ấp Dương Trạch Lợi dụng cuộc khởi nghĩa mất chủ tướng, quân Pháp và Hoàng Cao Khải điều quân tới bao vây, liên tục đánh phá căn cứ Song các ông Chánh Tính, Đề Cọp vẫn cùng các tướng kiên cường đánh trả bảo vệ căn cứ Song thế lực, đạn dược ngày càng giảm sút, nếu không được củng cố về mọi mặt thì khó lòng giữ được căn cứ.
Cử Đức vừa dứt lời thì Đốc học Ngô Quang Huy1 trả lời:
- Về tình hình thực tại của Tam tỉnh nghĩa quân sau trận ta đại thắng ở Ngọc Trì tháng 7 (năm 1884) thì theo Hiệp ước Pháp - Thanh, quân Thanh và quân Cờ Đen rút về nước Quân ta ở vào thế bất lợi tại căn cứ Đình Bảng phải phân tán để bảo tồn lực lượng Các vị chỉ huy cũ mỗi người một nơi: Nguyễn Cao
về làng Kim Giang, huyện Sơn Lãng (nay là huyện ứng Hòa, Hà Nội) lấy cớ mở trường dạy học để gây dựng cơ sở mới Cử nhân Hoàng Văn Hòe được quan phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết điều về triều đình lãnh chức Sử quán biên tu để tăng cường cho lực lượng kháng chiến, Đề đốc Tạ Hiện sau trận Ngọc Trì đã cùng quan bác (chỉ Nguyễn Thiện Thuật) tham gia đánh trận ở cầu Quan Âm rồi trở về chỉ huy nghĩa quân ở phủ Hòa Bình (tỉnh Nam Định) đánh Pháp…
Nguyễn Thiện Thuật hỏi:
- Đội Văn, Đốc Sung còn duy trì được lực lượng vũ trang không?
Ngô Quang Huy trả lời:
- Đội Văn vẫn duy trì được gần 200 quân, hoạt động ở vùng Thuận Thành, Lang Tài, thường tập kích vào các đồn binh Pháp, phục kích các toán quân tuần tiễu của giặc Cũng có những trận phối hợp với Đốc Tít ở Trại Sơn, Lưu Kỳ ở Lục Ngạn đánh những trận lớn Đốc Sung về chiến đấu dưới sự chỉ huy của Tuần Văn ở Xuân Quan, huyện Văn Giang, sau đó gia nhập cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy…
Sau khi nghe cộng sự tin cậy của mình trình bày, Nguyễn Thiện Thuật nói:
1 Sau đó ít lâu Ngô Quang Huy được vua Hàm Nghi cử giữ chức Tuần phủ Hưng Yên.
2 Dấu của nhà vua.
3 Đối chiếu với dương lịch là ngày 11-7-1885.
1 Khi đó Ngô Quang Huy đã được vua Hàm Nghi thăng thụ Hồng Lô tự khanh sung Tán lý theo dụ ngày 3 tháng 6 âm
lịch, Hàm Nghi thứ nhất (11-7-1885).
Trang 26- Nhà vua và dân tộc đã giao cho chúng ta phục hồi cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy Dù gian khổ, hy sinh đến mấy chúng ta cũng quyết đưa cuộc khởi nghĩa lên quy mô lớn, trước mắt mở rộng phạm vi tới Hải Dương, Bắc Ninh, tập hợp các cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh khác thuộc châu thổ sông Hồng và vùng ven biển Bắc Kỳ chiến đấu dưới ngọn cờ Cần Vương Trước mắt tôi sẽ cùng ông Cử Đức về căn cứ Bãi Sậy tiếp xúc với các tướng lĩnh như Chánh Tính, Đề Cọp, Đề Ban Còn ông Đốc trở về Bắc Ninh gặp gỡ tất
cả những người từng tham gia Tam tỉnh nghĩa quân truyền đạt chiếu Cần Vương và tổ chức lực lượng chiến đấu.
Hai vị cử nhân đều được phong chức Tán tương quân vụ, trong đó cử Đức do Đổng Quân vụ Đinh GiaQuế phong, Ngô Quang Huy do vua Hàm Nghi phong Hồng lô tự khanh sung Tán lý theo dụ ngày 3tháng 6 âm lịch, năm Hàm Nghi thứ nhất (11-7-1885)
Sau khi tạm biệt Nguyễn Thiện Thuật, Đốc học Ngô Quang Huy cùng em trai là cử nhân Ngô QuangChước đã đến thôn Thuận An, xã Trạm Lộ, tổng Tam á, huyện Gia Bình, nay là xã Trạm Lộ, huyệnThuận Thành, tỉnh Bắc Ninh gặp Đội Văn tên thật là Vương Văn Vang vốn là một dũng tướng trong
"Tam tỉnh nghĩa quân" (còn gọi là Đại nghĩa đoàn, Nghĩa dũng) đã từng lập chiến công trong trận thắnglớn ở làng Ngọc Trì, huyện Lang Tài Ông cũng có nhiều công sức xây dựng căn cứ ở núi Nham Biền(huyện Yên Dũng) Sau trận Đình Bảng (Từ Sơn) vào cuối năm 1884, lực lượng chiến đấu của Tam tỉnhnghĩa quân bị tổn thất nặng nề Đội Văn đưa 200 quân lui về hoạt động ở tổng Tam á, huyện Gia Bình(nay là huyện Thuận Thành)
Trở về chiến trường cũ, ông tiếp tục tấn công các đồn binh Pháp ở huyện Gia Bình, Lang Tài Nghĩaquân còn tấn công quân Pháp ở các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong của tỉnh Bắc Ninh, Cẩm Giàng,Chí Linh của tỉnh Hải Dương Sau khi được nghe Đốc học Ngô Quang Huy mới được vua Hàm Nghiphong chức Hồng lô tự khanh sung Tán lý, và thông báo của vua Hàm Nghi là đã phái nguyên Tổng đốcHải Dương Nguyễn Thiện Thuật, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Chí Linh, Đông Triều năm 1883 và là mộttrong những lãnh tụ của Tam tỉnh nghĩa quân trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy thay cho ĐinhGia Quế thì Đội Văn sốt sắng đưa toàn bộ lực lượng vũ trang của mình gia nhập cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy.Ngô Quang Huy còn tới xã Xuân Quan, huyện Văn Giang gặp Tuần Vân, Đề Sung đang đóng ở xãXuân Quan chặn các cánh quân Pháp từ Gia Lâm đánh xuống, từ sông Hồng đánh lên Hai ông hân hoanchờ đón Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật là nhân vật chống Pháp kiệt xuất những năm 1883,
1884 Hai ông hứa sẽ tới các phủ huyện nam Bắc Ninh, bắc Hưng Yên, bắc Hải Dương là địa bàn hoạtđộng của Tam tỉnh nghĩa quân tập hợp anh em phân tán ở đó vào cơ đội chiến đấu dưới ngọn cờ CầnVương
Xã An Lạc và cả tổng Thái Lạc, huyện Văn Giang (nay thuộc các xã Trưng Trắc, Như Quỳnh, TânQuang, Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) Trước đây, làng nào cũng thành lập các đội nghĩabinh, mỗi tổng có một, hai đoàn ở tổng thì đặt chánh phó quản binh, ở xã thì có quản đoàn chỉ huy nghĩabinh Ngô Quang Huy được lãnh đạo Tam tỉnh nghĩa quân cử làm Hội trưởng nghĩa đoàn ba tỉnh Songđây là quê hương ông nên ông đều biết rõ các đoàn, các đội và những người phụ trách Vì vậy sau cuộctiếp xúc với Đội Văn, Tuần Vân, Đề Sung; Ngô Quang Huy cho triệu tập chỉ huy đại nghĩa đoàn ở các xãtới họp như các ông Lãnh Dâu, Lãnh Dong ở An Lạc nay thuộc xã Trưng Trắc; Điển Lộc1 ở xã NghĩaTrai, nay thuộc xã Tân Quang; Đốc Phẩm nay thuộc xã Hưng Đạo; nay thuộc huyện Tiên Lữ; ChánhThám, Chánh Giải, Lý Cầm, Lý Thông ở xã Đình Dù, Ngô Đình Điền, Bang Trọng ở Nhạc Miếu; LãnhTrưng ở làng Khoai; Cai Lâm ở Thọ Khang nay thuộc xã Tân Quang2 Các vị trên đều là chỉ huy củanghĩa binh đại nghĩa đoàn ở cấp xã, tổng, huyện
Sau khi được nghe Ngô Quang Huy thông báo về việc Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật sẽ trựctiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy và thống nhất các cuộc khởi nghĩa ở vùng châu thổ sông Hồng vàvùng ven biển Bắc Kỳ Dưới sự lãnh đạo của phong trào Cần Vương và nghe tuyên đọc chiếu CầnVương, nghĩa quân đều tình nguyện chiến đấu dưới ngọn cờ Cần Vương
Vốn đã có nghĩa binh, người chỉ huy, vũ khí nên lực lượng nghĩa binh ở nam Bắc Ninh phục hồinhanh chóng, dưới sự chỉ huy chung của Tam tỉnh nghĩa quân, Hồng lô tự khanh sung Tán lý và là nhânvật số hai trong cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy Ngô Quang Huy thành lập một đội quân tuyên truyền do các
1 Điển là chức học quan cấp huyện triều Nguyễn.
2 Danh sách trên chúng tôi căn cứ vào tài liệu của Pháp và của Hoàng Cao Khải để lại, một số được ghi trong lịch sử đảng
bộ xã và đọc gia phả các gia đình có tổ tiên theo nghĩa quân Bãi Sậy và hồi ức của các bậc cao tuổi ở các xã thuộc huyện Văn
Giang, Văn Lâm…
Trang 27nho sinh là đội viên, trống giong, cờ mở đi dọc đường số 5 từ chợ Đường Cái tới gần Như Quỳnh, GhênhSủi, Dâu Keo, từ chợ Đường Cái tới gần Bần Yên Nhân, sang Kênh Cầu, Tráng Vũ, Giai Phạm dịch loa
tố cáo tội ác của giặc Pha lang (Pháp) và quan lại Nam triều, họp các kỳ hào và dân chúng, tuyên đọcchiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi1
Ngô Quang Huy cho đắp đê, trồng tre dọc sông Nghĩa Trụ kéo dài từ xã Ngọc Kinh qua Tuấn Dị,Vĩnh Bảo đến các xã Đông Khúc, Vĩnh Khúc, Tráng Vũ, Kênh Cầu dài gần 20 cây số; một con đê khác từNghĩa Trai đến Cầu Ghênh (Nhạc Miếu) dài 4 cây số làm tuyến phòng thủ2 Ông cho đắp nhiều gò đống,đắp nhiều bờ ruộng cao, khơi sâu kênh mương ở dọc đường 5 để quân sĩ ẩn nấp phục kích quân Pháp3.Nhiều làng đã xây dựng thành làng chiến đấu như Đại Từ (Văn Lâm), Đông Khúc, Khúc Lộng, XuânQuan (Văn Giang) quân Pháp đánh nhiều trận không vào được
Nghĩa quân do Ngô Quang Huy chỉ huy đánh nhiều trận như trận tấn công đồn Bần Yên Nhân, nhiềutrận phục kích quân Pháp ở đồn Ghênh, đồn Bần Yên Nhân, đồn Đống Mối (Nghĩa Lộ, tổng Đại Từ, VănLâm) Các trận càn của quân Pháp và quân Hoàng Cao Khải vào An Lạc, Đình Dù, Đại Từ, Nghĩa Trai,Đông Khúc, Khúc Lộng đều bị nghĩa quân đánh bật ra bảo vệ được căn cứ Song cũng có những trậnnghĩa quân bị thiệt hại nặng như trận tấn công đồn Bần Yên Nhân thứ hai, nghĩa quân chém phải ngựa gỗ,
bị lộ, quân Pháp bắn ra dữ dội, nghĩa quân phải rút1; trận Hoàng Cao Khải, nghĩa quân cho đốt đìnhnhưng trời mưa, đình không cháy; trận đánh quân Pháp ở đình Như Phương, Ngô Quang Huy sai QuảnHuống đánh, Quản Huống cho quân cưa ống tre và trẩy ổi xanh đổ ra đường để chúng chạy trượt chânngã rồi xông ra chém; Quản Huống còn lấy mâm thau làm lá chắn đạn nhưng đạn của súng bắn nhanh bắnthủng mâm làm một số nghĩa quân hy sinh
Từ khi vua Hàm Nghi phong cho Ngô Quang Huy chức Tuần phủ Hưng Yên sung Tán lý quân vụ Bắc
Kỳ, Nguyễn Cao được phong Bố chánh Hải Dương sung Tán lý quân vụ Bắc Kỳ quân thứ thì hai ông tổchức lực lượng chỉ huy chiến đấu Đại nghĩa đoàn ở Hưng Yên, Hải Dương, nhưng Tam tỉnh nghĩa quân(Đại nghĩa đoàn) vẫn chiến đấu dưới sự chỉ huy của Thống lĩnh Nguyễn Thiện Thuật đại diện nhà vualãnh đạo phong trào chống Pháp ở châu thổ sông Hồng và ven biển và cũng là thủ lĩnh nghĩa quân BãiSậy
Cùng với thắng lợi của những trận chiến đấu với quân Pháp và quân triều đình, Ngô Quang Huy,Nguyễn Cao còn làm công tác binh vận Sau đây là toàn văn bức hiểu thị của Ngô Quang Huy, NguyễnCao gửi binh lính người Việt trong quân đội Pháp:
"- Lãnh Tuần phủ Hưng Yên sung Tán lý quân vụ Bắc Kỳ kiêm Hội trưởng Nghĩa đoàn ba tỉnh Ngô Quang Huy…".
- Bố chánh Hải Dương sung Tán lý quân vụ Bắc Kỳ quân thứ Nguyễn Cáolàm bản hiểu thị sau đây:
Xét: từ ngày giặc Pháp chiếm đóng nước ta, nhân dân và binh lính ta ai chẳng muốn vằm gan xé xác chúng để hả lòng nhân nghĩa.
Kìa như lính giản ở các tỉnh đang yên cơ ngũ, thế mà chúng ép buộc ta phải giao cho chúng sai bảo 1
Họ phải mang cái tên "lính tập" 2 , phải thay đổi đội ngũ, thay trang phục hoặc bị đưa đi đóng ở các đồn xung yếu hoặc xua ra mặt trận đương đầu với súng đạn Họ bị chúng đánh mắng, thậm chí còn bị bắt xuống tàu chở về nước để chết thay cho chúng, sinh ly tử biệt nói càng đau xót Nhân dân ta có tội tình gì
mà phải chịu cảnh cùng cực vậy?
Ôi! Quốc gia nuôi quân hàng trăm năm là dùng để đánh giặc, mà nay lại bị giặc sử dụng Tuy rằng
do giặc bắt buộc phải theo, song việc con em chống lại cha anh mình, tấm lòng các người có thấy đúng chăng? Giữa vòng lửa đạn, tính mạng con người thật chẳng khác chi cỏ rác Đành rằng chết yên nơi, yên chốn, nhưng lòng của các ngươi có mong muốn hay không? Huống chi các ngươi đều là người lương thiện, trong đó có nhiều người xuất thân là nghĩa dân, nghĩa dũng, lương tri, lương năng chưa phải đã mất hẳn, mối liêm sỉ cũng chưa đến nỗi phai mờ Trước kia các ngươi là người, nay sao bỗng nhiên biến thành ma, thành quỷ, hãy thử nhìn lại xem cái bóng dáng của mình đã trở thành giống gì? Chính các
1 Theo gia phả dòng họ Ngô Quang ở Thái Lạc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
2 Con đê trên đến năm 1956 khi làm công trình Đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải mở rộng sông Nghĩa Trụ mới phá Các gò
đống dọc đường 5 phá kho cải tạo đồng ruộng cho cơ giới hoá.
3 Cụ Duyên quê xã Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, cán bộ hưu trí kể.
1 Cụ Duyên quê xã Như Quỳnh cán bộ hưu trí kể.
1 Chỉ một sắc lính của triều đình phục vụ ở các tỉnh.
2 Chỉ một sắc lính ngụy trước đây, hoặc còn gọi là lính khố xanh.
Trang 28ngươi cũng tự lấy làm hổ thẹn và đáng giận nữa Bởi vậy thân tuy theo chúng, nhưng lòng thường không phục và còn muốn giết chúng nữa là đằng khác.
Hiện nay, quan quân ta còn đóng yên một nơi nên các ngươi chưa từng đi theo Giả sử các ngươi có nỗi lòng căm phẫn vì nghĩa quân mình, chẳng những không được ích gì mà còn liên lụy đến bản thân Do
đó các ngươi phải nhẫn nại để chờ cơ hội.
Trên triều đình không phải không biết xét về thế và lượng về tình cho các ngươi đâu Hiện nay thiên binh đã thẳng tiến, quét sạch mây mù, từ Thanh Hóa trở vào Nam gần trở lại nếp xưa Viện binh ở Vân Nam - Quảng Tây 1 đã bốn mặt đổ về, còn các quân thứ ở Bắc Kỳ cũng nhất tề nổi dậy tiến hành đánh chiếm Đem sức hùng mạnh của quân đội ta đánh vào lúc vận nước của giặc Pháp đang xuống Lại dựa vào khí thiêng của non sông ta, hồng phúc của xã tắc ta, ngày phục hưng nhất định sẽ tới gần Các ngươi không tranh thủ đứng lên thì còn đợi đến bao giờ?
Vậy nay hiểu thị để các cơ ngũ lính giản đương bị sai phái đóng ở các đồn truyền báo cho nhau biết
để làm nội ứng hoặc ở nơi trận tiền quay giáo lại giết giặc, giành lấy súng đạn mang về đồn bẩm nạp, chờ sai phái và nhận phần thưởng bằng tiền bạc Ngoài ra, còn được ghi tên vào sổ vàng biểu tâu để thăng thưởng, đề bạt.
Thể lệ thưởng sẽ ghi dưới đây để mọi người đều biết:
Nếu các ngươi không suy tính kỹ để tâm thành mình sa vào vòng lửa đạn thì lúc đó sẽ liên lụy đến gia đình, làng xóm; ăn năn làm sao kịp nữa?
Nay hiểu thị
Bản hiểu thị này gửi cho cai, đội, lính giản ở các tỉnh Bắc Kỳ đều biết:
- Nếu dùng cách đánh nội công, giành được một đồn lớn của giặc (có từ 20 tên Pháp trở lên) sẽ được thưởng 500 lạng bạc; một đồn loại trung bình (có từ 10 tên Pháp trở lên) sẽ được thưởng 200 lạng bạc; một đồn loại nhỏ (có từ 4 tên Pháp trở lên) sẽ được thưởng 100 lạng bạc Những tang vật của Pháp nếu thu được, trừ các loại súng đạn ra, đều cho cả Nếu chặt được đầu giặc Pháp, cứ mỗi đầu thưởng 10 lạng bạc; nếu là hàng sĩ quan thì mỗi cấp thưởng thêm 20 lạng bạc.
- Nếu thu được súng của giặc như đại bác cỡ lớn sẽ được thưởng 300 lạng bạc, loại vừa được thưởng
200 lạng bạc, loại nhỏ được thưởng 100 lạng bạc Súng tay, mỗi khẩu thưởng 10 đồng bạc ngoại, mỗi trăm viên đạn thưởng 2 đồng bạc ngoại.
- Nếu xông pha trước trận tiền và đánh thắng, trừ việc chém được đầu giặc và thu được tang vật, sẽ chiểu theo tình hình cụ thể: khó thưởng 100 đồng, dễ thưởng 20 đồng.
- Nếu tập hợp được 100 người trở lên, đánh được một đồn và thắng một trận thì người chỉ huy sẽ được thưởng thụ Chánh Quản cơ, hàm Tứ phẩm sung Lãnh binh, Suất đội viên sẽ thưởng thụ Suất đội hàm Chánh lục phẩm sung Lãnh binh, Suất đội viên sẽ thưởng thụ Suất đội hàm Chánh lục phẩm sung Chánh Hiệp quản.
- Nếu tập hợp được 30 người trở lên, đánh được một đồn và thắng một trận, người chỉ huy sẽ được thưởng thụ Phó Quản cơ hàm Tòng tứ phẩm sung Phó Lãnh binh, suất đội viên sẽ được thưởng thụ Suất đội hàm Tòng lục phẩm sung Phó Hiệp quản; từ 10 người trở lên thì người chỉ huy sẽ được thưởng thụ Suất đội tùng lục phẩm binh sĩ sẽ thưởng thụ Chánh thất phẩm suất đội sung phái.
Tuy không đánh đồn nhưng có thắng trận như đem quân mang súng trở về theo quân thứ (lúc nào trở về cũng được và không kể quân thứ nào) sẽ chiểu theo điều khoản trên để thăng thưởng, nhưng có giảm đi một bậc sung phái.
Ngày 20 tháng 8 âm lịch Hàm Nghi năm thứ hai" 1
Ngô Quang Huy thường thảo thư từ liên lạc với các quan lại trong phe chủ chiến và sớ gửi vua HàmNghi Vì thế tháng 4 năm Đinh Hợi (5-1887), quân Pháp bắt được một tờ sớ của ông gửi vua Hàm
Nghi Trong tờ sớ có đoạn: "Số sĩ phu Bắc Kỳ đang bí mật mưu toan khôi phục, trong đó có Nguyễn Cao" Biết chắc Nguyễn Cao trong số đó, giặc Pháp đã về Kim Giang, huyện ứng Hoà, tỉnh Hà Đông bắt
1 Chỉ quân đội nhà Thanh (Trung Quốc) lúc đó có nhiều đơn vị đã vượt biên giới kéo sang nước ta với danh nghĩa bề ngoài
là giúp triều Nguyễn đánh Pháp; nhưng trong thực tế chúng cố tình tránh né đụng độ với Pháp và muốn lợi dụng tình hình để điều
đình với Pháp nhằm mưu lợi riêng.
1 Đối chiếu với dương lịch là ngày 17 tháng 9 năm 1886 Tư liệu trên trích từ bài "Ba văn kiện về phong trào Cần Vương"
của Đinh Xuân Lâm - Võ Văn Sạch trích trong tập 6 - Tư án tỉnh Bắc Ninh" (phòng nha Kinh lược Bắc Kỳ - Kho lưu trữ trung
số 5 - 1983.
Trang 29ông Chúng nhốt Nguyễn Cao vào cũi giải về Hà Nội, trên đường đi ông rạch bụng móc ruột tự tử,chúng cứu ông thoát chết để khai thác tổ chức sĩ phu yêu nước Để giữ trọn danh tiết ông cắn lưỡi chết.Giặc Pháp vẫn đưa ông sang Toà án Nam kết án tử hình, chúng đưa thi hài ông ra pháp trường chém.
Nhận được tin đau xót trên, Ngô Quang Huy làm bài: "Trướng các chánh phó lãnh binh, quản đội và nghĩa dũng khóc ông Nguyễn Cao 1 Nội dung bài trướng vô cùng thống thiết nêu lên sự nghiệp cứu nước
của Nguyễn Cao, công lao xây dựng đất nước, và khi giặc Pháp xâm lược ông đã kiên trì đứng về phe chủchiến Trong đó có đoạn nêu lên khí thế khi ông khởi nghĩa:
" Bỗng gặp năm Quý Dậu 2
Xảy việc Bắc Kỳ
Gấp lòng cứu nước;
Quyết chí dựng cờ.
Lệnh nghiêm minh mà tướng mạnh quân hùng;
Oai lẫm liệt khiến giặc tan thù diệt.
Lê thị 1 sư khen trí
Tôn Thất 2 tướng trọng tài ".
Đêm 31 tháng 3 rạng ngày 1 tháng 4 năm 1888, Ngô Quang Huy phái một đơn vị nghĩa quân do ĐốcSung, Lãnh Mỹ chỉ huy liên tục di chuyển ở các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành (Bắc Ninh), KimAnh (Phúc Yên), Cẩm Giàng (Hải Dương) đánh cho quân Pháp ở các đồn trại, phá tan các cuộc càn quét dođích thân công sứ Bắc Ninh, Tuần phủ Hoàng Cao Khải, án sát Bắc Ninh chỉ huy
Ngày 12 tháng 11 năm 1888, khi vừa nhận được lệnh của chủ tướng Nguyễn Thiện Thuật, Ngô QuangHuy cùng các tướng dẫn hơn 200 quân về cánh đồng Liêu Trung để đánh quân Pháp và bắt sống Hoàng
vong hồn Lãnh Giang bị quân Pháp giết ngày 9 tháng 2 năm 1888 Đội quân của Ngô Quang Huy cùngcác đội quân khác chỉ thực hiện được mục tiêu giết chết tên Giám binh Lui Nay (Louis Ney), còn HoàngCao Khải thì may mắn chạy thoát, nhưng quân ta cũng giết chết 31 tên lính Pháp, lính Nam trong đó có cảtên bang tá tỉnh Hải Dương Nguyễn Hữu Hào
Từ đầu năm 1889, khi căn cứ Bãi Sậy bị quân Pháp và quân Hoàng Cao Khải tấn công liên tục, NgôQuang Huy cùng các tướng Tuần Vân, Đốc Sung, Lãnh Mỹ, Trương Đình Tuyển, Hiệp Hanh đã tăngcường các hoạt động quân sự ở nam Bắc Ninh, Phúc Yên và ở bắc Hải Dương để phân tán lực lượng củaquân địch Hoàng Cao Khải viết thư dụ hàng, ông khẳng khái vạch mặt hắn là kẻ phản bội Tổ quốc, tiếp taycho giặc tàn sát đồng bào còn ông vẫn giữ vững ý chí kháng chiến chống giặc Pháp xâm lược tới cùng
Tháng 3 năm 1889, Hoàng Cao Khải được bọn mật vụ báo tin lực lượng nghĩa quân do ông chỉ huyđang hoạt động ở nam Bắc Ninh liền báo cho quân Pháp tập trung binh lực ở đồng bằng Bắc Kỳ; HoàngCao Khải đưa toàn bộ đạo quân Bình định đến đánh phá với mưu đồ bắt hoặc diệt được ông và các tướngdưới quyền ông như Đội Văn, Tuần Vân, Lãnh Mỹ, Trương Đình Tuyển, chúng chia làm nhiều cánh quânbao vây, liên tục tấn công
Quân Pháp với binh chủng bộ binh, công binh, pháo binh có sự yểm trợ của các chiến hạm gắn đạibác, đạo quân Bình định và toàn bộ quân lính ở tỉnh Bắc Ninh Chúng lại trang bị mạnh và tàn bạo, nênchỉ sau một tuần tác chiến, nghĩa quân của ta bị đánh bật ra khỏi các căn cứ Để chặn đường nghĩa quânrút về căn cứ Bãi Sậy, quân Pháp lập thêm nhiều đồn bốt mới, tung nhiều toán quân lưu động mạnh chặncác ngả đường từ Hải Dương, Hưng Yên tới Bắc Ninh để cô lập cánh quân của Ngô Quang Huy Vì thếnhiều cánh quân từ căn cứ Bãi Sậy do chủ tướng Nguyễn Thiện Thuật phái đi, cánh quân của NguyễnThiện Kế, Đề Vinh, Quan Bá Học đang hoạt động ở Cẩm Giàng (Hải Dương), Lang Tài, Gia Bình (BắcNinh) tới cứu viện đều bị quân Pháp chặn lại Riêng cánh quân của Ba Phi, con út Lý Tích ở Ngọc Truyềnđánh sang tới gần phủ lỵ Thuận Thành thì bị tri phủ Từ Sơn và viên Vệ binh chính Siapađi (Chiapadi) chỉhuy 50 lính chặn lại1
1 Chỉ nghĩa quân Tam tỉnh.
2 Sự kiện Bắc Kỳ năm 1873, Pháp đánh Hà Nội và một số tỉnh Bắc Kỳ lần thứ nhất.
1 Tức Lê Tuấn giữ chức Khâm sai thị sư đại thần, đại diện triều đình giải quyết tình hình Bắc Kỳ.
2 Tôn Thất Thuyết.
1 Piglowski: Lịch sử lính Khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ.
Trang 30Nguyễn Thiện Thuật liều thân đi cứu, ông vượt qua các toán quân chặn đường, các tháp canh của quânPháp tới Đình Tổ, trên bờ Tả ngạn sông Đuống huyện Thuận Thành thì bị bọn mật thám báo cho quânPháp Giám binh Bơrăngsát (Branchard), Hoàng Cao Khải sai quân đồn Phú Thị (Gia Lâm trước thuộcBắc Ninh, nay thuộc Hà Nội) và Phân đội Côrơ (Corre) hỗn hợp tiến đánh làng Đình Tổ mà chúng xácđịnh là làng này thông đồng với nghĩa quân2, Hoàng Cao Khải còn sức giấy3 đe nếu làng xã nào chứanghĩa quân, để nghĩa quân xây dựng làng chiến đấu, tiếp tế cho nghĩa quân, thấy nghĩa quân mà khôngbáo, quân Pháp sẽ triệt hạ làng Mặc cho quân Pháp đe doạ và đốt phá, tàn sát đồng bào một số làng, đồngbào vùng nam Bắc Ninh vẫn tiếp tế lương thực, cứu chữa thương binh, báo cho nghĩa quân biết nơi quânPháp mai phục Nhiều làng thấy nghĩa quân đến, người già, đàn bà trẻ em đã rời khỏi làng, nhường làngcho nghĩa quân xây dựng thành pháo đài chiến đấu, trai tráng đều ở lại cùng nghĩa quân xây dựng công sự
và chiến đấu như các làng Tam á, Hà Mãn, Lệ Chi, Đình Tổ (Thuận Thành); Quan Đình, Quan Độ, ThuýLâm (huyện Yên Phong)
Ngô Quang Huy cùng các tướng chỉ huy nghĩa quân anh dũng đánh trả quân Pháp, đẩy lùi nhiều đợttấn công của chúng Ông phái nhiều toán quân đi liên lạc với đội quân cứu viện do Nguyễn Thiện Thuật,Đốc Sung chỉ huy nhưng đều bị quân Pháp bắt và giết
Các toán quân cứu viện do Nguyễn Thiện Thuật, Đốc Sung chỉ huy cũng bị quân Pháp bao vây, chặnđánh như ở Nghĩa Lộ, Đại Từ, Mễ Đậu (Thuận Thành) Các ông đã khôn khéo tránh các mũi tấn côngchính diện, tập kích các đồn binh, lừa địch rồi quay về đánh phá hậu phương của chúng Khi chúng quaytrở lại thì nghĩa quân đã rút lui an toàn và lại tấn công chúng ở nơi khác, khiến chúng phải phân tán lựclượng, không tập trung đánh nghĩa quân Ngô Quang Huy được
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song các cánh quân do Nguyễn Thiện Thuật và Đốc Sung chỉ huy khôngsao tiếp cận được để giải vây cho Ngô Quang Huy Bị quân Pháp liên tục bao vây, truy kích, nhiều nghĩaquân hy sinh, bị thương, bị bắt, lạc đơn vị Đạn dược, lương thực cũng cạn kiệt, Ngô Quang Huy đànhphải giải tán nghĩa quân rồi cùng em là Ngô Quang Chước và mươi nghĩa quân thân tín chạy lên PhủLạng Thương (tỉnh Bắc Giang ngày nay) Quân Pháp vẫn đuổi sát phía sau Để giữ trọn danh tiết không
sa vào tay giặc, ngày 1 tháng 4 năm Kỷ Sửu (khoảng 1-5-1889), Ngô Quang Huy đã tự tử Ngô QuangChước cùng mấy nghĩa quân chôn cất, rồi san bằng mặt ruộng cho mất dấu tích Mươi năm sau, ôngChước quay lại tìm mộ thì không thấy1
2 Piglowski: Lịch sử lính Khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ.
3 Sức giấy: Thông báo.
1 Theo gia phả họ Ngô Quang do ông Ngô Quang Vi cung cấp.
Trang 31bố chính sung tán lý Nguyễn Cao
Ba Đình là nơi thờ ba người anh hùng chống Pháp cuối thế kỷ XIX là Khâm mang Đại thần Nguyễn TriPhương, Tổng đốc Hoàng Diệu và Tán lý quân vụ Bắc Kỳ Nguyễn Cao
Nguyễn Cao hiệu là Trác Phong, ông sinh năm 1840 tại làng Cách Bi (còn gọi là Cách Pha), huyệnQuế Dương, tỉnh Bắc Ninh, nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Cha ông là Nguyễn Hành, đỗ cử nhânkhoa Tân Mão (1839) đời Minh Mệnh, làm tri huyện Thủy Đường (nay là Thủy Nguyên, thành phố HảiPhòng) Mẹ là Nguyễn Thị Điềm, góa chồng khi 20 tuổi, ở vậy thờ chồng nuôi con1
Khi ấy Nguyễn Cao 12 tuổi, được thân mẫu gửi đến nhà ông tú tài Nguyễn Gia Giao ở xã LiễuNgạn, phủ Thuận Thành là chỗ quen biết lâu đời Nhà ông tú nghèo, thầy trò phải đi làm ruộng sinhsống Năm Nguyễn Cao ngoài 20 tuổi, ông tú Giao đưa Nguyễn Cao về học thầy Phạm Văn Nghị ởTam Đăng; năm Đinh Mão (1867) - Tự Đức thứ 20, Nguyễn Cao đỗ giải nguyên (đỗ đầu Cử nhân) Ôngkhông ra làm quan mà ở nhà dạy học Tháng 11 năm 1873, quân Pháp từ Hà Nội đánh chiếm Gia Lâm,Siêu Loại, Nguyễn Cao chiêu mộ được hơn một nghìn nghĩa dũng cùng Bố chính Phạm Thận Duật đánhquân Pháp Ngày 4 tháng 12 năm 1873, nghĩa quân của ông tấn công quân Pháp ở Gia Lâm, ThuậnThành, diệt nhiều giặc Pháp, bắt sống 150 ngụy quân, giải phóng Siêu Loại (nay là huyện Thuận Thành,Bắc Ninh)
Ngày 21 tháng 12 năm 1873, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất, hòng gây thanh thế và buộc triềuđình Huế phải ký Hiệp ước cho chúng hoàn toàn làm chủ ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ
Quả nhiên, sau khi Hà Nội và một số tỉnh, thành khác lọt vào tay quân Pháp, Tự Đức vội vàng cửNguyễn Văn Tường, gặp Filát, đại diện Soái phủ Sài Gòn, để thảo ra bản Quy ước tháng 1 năm 1874 Bản
Quy ước này có hai điểm đáng chú ý là: "Triều đình Huế không được đưa thêm quân ra các tỉnh thành Pháp trao trả, phải để cho quân Pháp được tự do đi lại trên đường bộ, đường thủy ở các tỉnh đó, phải ân
xá những người đã cộng tác với Pháp" 1
Đạt được mục tiêu trên nên từ ngày 31 tháng 12năm 1873 đến ngày 16 tháng 12 năm 1874, thực dân Pháp trao trả các tỉnh thành ở Bắc Kỳ bị chúngchiếm đóng cho triều đình Huế, chỉ để lại một số quân ở Hà Nội
Ngày 15 tháng 3 năm 1874, triều đình Huế ký với Pháp Hiệp ước Giáp Tuất - 1874 có lợi cho Pháp.
Sau khi hiệp ước được ký, chiếu theo hiệp ước Nguyễn Cao buộc phải giải tán nghĩa quân
Ông có công cùng Phạm Thận Duật đánh dẹp giặc biển, triều đình ép ông làm tri huyện Yên Dũng rồitri huyện Lạng Giang Ông làm quan thanh liêm, trừng trị bọn trộm cướp, quan lại nhũng nhiễu dân, tổchức cho dân khai hoang, phục hóa, cải thiện đời sống Triều đình thăng ông chức Bố chính Thái Nguyênrồi đi kinh lý khẩn hoang ở Nhã Nam
Sau khi quân Pháp chiếm đóng hoàn toàn lục tỉnh Nam Kỳ, có thêm viện binh, vũ khí từ Pháp sang,ngày 25 tháng 3 năm 1883, Thống đốc Nam Kỳ Lơ Myrơ Đờ Vile ra lệnh cho trung tá hải quân HăngriRivie đem 2 chiến hạm, trên 500 quân ra tăng cường cho quân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ
Ngày 25 tháng 4 năm 1882, quân Pháp tấn công thành Hà Nội, đến 10 giờ cùng ngày, thành vỡ, Tổngđốc Hoàng Diệu tự tử Nguyễn Cao đang làm Tán lý quân vụ tỉnh Bắc Ninh đã chăm lo, củng cố thành
1 Tên cường hào là Tổng Trì ép duyên bà, bà không chịu, hắn đã đón đường, bóp vú trộm Bà về làm giỗ, mời họ hàng và cả
tên Tổng Trì Lúc ở trong buồng, bà lớn tiếng tố cáo Tổng Trì, rồi xẻo vú ném ra ngoài Bà chết, họ hàng bắt tội Tổng Trì.
Con trai Nguyễn Cao là Nguyễn Hào mưu khởi nghĩa, bị tên Nguyễn Kiện báo với giặc Pháp, giặc bắt Nguyễn Hào đem
giết.
Bà vợ ông Nguyễn Cao tự tử chết theo chồng Thật là toàn gia trung liệt.
1 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, Nxb Khoa học xã hội, 1971,
trang 222-233.
Trang 32Tỉnh Đạo1 Ông lại đem quân về Hà Nội cùng các cánh quân khác bao vây Hà Nội Ngày 27 tháng 3 năm
1883, Nguyễn Cao đã cùng nhiều quan lại khác chỉ huy 4.000 quân tứ tổng đột nhập vào phố Hàng Đậutấn công Cửa Đông, buộc quân Pháp phải rút vào trong thành cố thủ1
Đêm 11 tháng 3 năm 1883, Nguyễn Cao đóng quân ở Gia Lâm, cho quân nã đại bác vào Đồn Thủy, vịtrí đóng quân của quân Pháp Ngày 15 tháng 5 năm 1883, quân Pháp đổ bộ sang Gia Lâm, Nguyễn Caodàn quân ra đánh, hai bên kịch chiến đến tận ngày hôm sau Ngày 16 tháng 3 năm 1883 Nguyễn Cao bịthương nặng ở bụng Sau khi vết thương lành, ông được cử giữ chức Tán lý quân vụ Bắc Kỳ2
Triều đình Huế nhu nhược liên tiếp nhượng bộ Pháp nhiều quyền lợi của quốc gia, rút hết quân đội ởcác vị trí chiến lược quan trọng, ngăn cấm nhân dân vũ trang đánh Pháp Mùa xuân năm 1884, Bắc Ninhtrở thành chiến trường nóng bỏng Ngay từ những ngày đầu tiên Nguyễn Cao đã cùng với Hoàng VănHòe đối phó với quân Pháp Các ông phối hợp với nghĩa quân Ba Báo liên tục tấn công quân Pháp ở PhảLại và sông Cầu Khi thành Bắc Ninh mất, Nguyễn Cao, Hoàng Văn Hòe cùng nhiều quan lại, sĩ phu rút
về thành Tỉnh Đạo Đầu năm 1884, Nguyễn Cao cùng Ngô Quang Huy, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Văn
Hòe, Dương Khải thành lập "Đại nghĩa đoàn" hay còn gọi là "Tam tỉnh nghĩa quân" tiếp tục đánh Pháp Đại
nghĩa đoàn có hơn 5.000 quân tuyển mộ từ các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương Trong số tướng chỉhuy có Đội Văn, tức Vương Văn Vang, người thôn Thuận An, xã Trạm Lộ, tổng Tam á, huyện ThuậnThành, nay thuộc xã Trạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Quang (tức Nguyễn TrọngĐạo) và tú tài Nguyễn Trọng Huyên là hai anh em họ Nguyễn quê ở làng Phù Khê, tổng Nghĩa Lập,huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, nay thuộc xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia
Nghĩa quân "Đại nghĩa đoàn" dựng đại đồn trong cánh rừng Báng ở làng Đình Bảng, huyện ĐôngNgàn, phủ Từ Sơn, chia quân đóng giữ các vị trí sung yếu uy hiếp quân Pháp ở lưu vực sông Cà Lồ (tỉnhPhúc Yên cũ) Các ông xây dựng căn cứ ở núi Nham Biền, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộcBắc Giang cùng các đồn binh ở Trúc Ty, Vân Cốc, Trung Đồng khống chế vùng ngã ba Phượng Nhỡn nơihợp lưu của các sông Lục Nam, sông Thương, sông Cầu tạo thành Lục Đầu giang
Mùa xuân năm 1884, quân Pháp huy động 10.000 lính, 55 đại bác và nhiều tàu chiến do trung tướngMilô (Milo) cùng tướng Nêgriê (Négrier), tướng Bơrieđơlin (Brièdeline) tiến đánh Phả Lại, chợ Trì, núi
Va, núi Dậm, Phú Lãng, Cung Kiệm, Thị Cầu, Quả Cảm Quân triều đình, quân Thanh lui về phòng ngựkhông tham gia đánh Pháp Đại nghĩa đoàn do Nguyễn Cao, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Văn Hòe,Dương Khải, Ngô Quang Huy vẫn phối hợp với quân của Ba Báo hoạt động ở vùng sông Kinh Thầy tấncông quân Pháp Ngày 25 tháng 2 năm 1884, nghĩa quân có 300 tay súng bắn nhanh, 700 giáo mác đãchiếm lại Phả Lại Nghĩa quân còn chặn đánh quân Pháp đến tăng viện ở Cung Kiệm Ngày 12 tháng 3năm 1884, nghĩa quân Đại nghĩa đoàn phục kích bắn chìm tàu chiến Carabin, tiêu diệt 43 tên Pháp, khôngmột tên giặc nào sống sót Trong khi đó cũng ngày 12 tháng 3 năm 1884, tại tỉnh thành Bắc Ninh trướcsức tấn công của 7.000 quân Pháp do hai tên tướng Nêgriê và Bơrieđơlin chỉ huy thì Tổng đốc Bắc NinhTrương Quang Đản rút quân về đóng ở địa phận xã Nghi Vệ, huyện Tiên Du, giữ thái độ trung lập Cònquân Thanh gồm 60 doanh dưới quyền của hai tướng Hoàng Quế Lan và Triệu ốc đóng ở trong và ngoàithành nhưng đã để tỉnh thành Bắc Ninh thất thủ
Tháng 7 năm 1884, nghĩa quân Đại nghĩa đoàn tấn công quân Pháp ở Ngọc Trì (nay thuộc xã BìnhĐịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh) Nghĩa quân còn củng cố các căn cứ ở Đình Bảng, Vân Cốc,Trung Đồng
Đêm 15 tháng 5 năm 1883, quân ta tập kích vào nhà thờ Hàm Long, căn cứ của quân Pháp
Đêm 18 tháng 5 năm 1883, Nguyễn Cao đưa quân về Gia Lâm uy hiếp quân Pháp ở Hà Nội TênHăngri Rivie hốt hoảng xin viện binh của Hải Phòng và hạm đội Pháp đóng ở vịnh Hạ Long của soái phủSài Gòn Hắn đưa quân vượt sông Hồng đốt phá các làng ven sông, nhưng đến chiều lại rút về Đồn Thủy.Đêm về nghĩa quân do Nguyễn Cao chỉ huy cũng đặt đại bác ở Gia Lâm bắn sang Đồn Thủy, có đêm bắntới 80 phát
1 Thành Tỉnh Đạo nay thuộc xã Quang Tiến, huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang Ngày 19 tháng 3 năm 1884, cánh quân Pháp
đánh Yên Thế được Thân Vân Uông (Bang Uông) dẫn đường mộ dân xứ đạo Thiết Nham (huyện Việt Yên), chiều 19 tháng 3
năm 1884 đã chiếm được thành Tỉnh Đạo, phá hủy 26 khẩu pháo, đốt cháy các kho dự trữ quân lương, thu được nhiều của cải,
đạn dược.
1 Hội đồng lịch sử Hà Bắc, Lịch sử Hà Bắc tập I, 1884.
2 Tán lý quân vụ: Viên quan văn dự bàn việc quân, với tướng chỉ huy.
Trang 33Theo Hiệp ước Pháp - Thanh, quân Thanh và quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc rút về nước Đại nghĩađoàn phân tán về các địa phương, Nguyễn Cao về làng Kim Giang, huyện Sơn Lãng, tỉnh Hà Đông (nay
là huyện ứng Hòa, Hà Nội) dạy học
Đêm mồng 4 rạng ngày 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn chỉ huy Phấn nghĩaquân đánh quân Pháp ở kinh thành Huế Việc không thành các ông rước vua Hàm Nghi ra sơn phòngQuảng Trị
Vừa tới sơn phòng, trước khi hạ chiếu Cần Vương hai ngày, vua Hàm Nghi đã có dụ phục hồi vàthăng chức cho các sĩ phu kháng chiến ở Bắc Kỳ
"Hoàng đế dụ rằng:
Nhân vì phía Pháp hoành hành, bức bách quá đỗi Kinh thành phải dời đi nơi khác Lòng mong mỏi Cần Vương hầu như khắp nước đều sẵn lòng hưởng ứng Song đương lúc quốc gia hữu sự, việc dùng người tài tất phải có sự đặc cách đề bạt mới mong chọn được người mẫn cán để hoàn thành sự nghiệp chung.
Nay chuẩn cho:
- Nguyên Công bộ Thượng thư Hoàng Tá Viêm 1 được phục hồi nguyên hàm Đông các điện đại học sĩ sung Tiết chế quân vụ đại thần, được tùy cơ hành động và cần bổ dụng thêm một số Tham tán giúp việc.
Lại ủy cho:
- Nguyên Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên Nguyễn Đình Nhuận 1 được phục hồi nguyên hàm Tổng đốc kiêm sung Hiệp thống quân vụ đại thần.
- Nguyên Tuần phủ Lạng - Bình Lã Xuân Oai được thăng thụ Tổng đốc sung Tham vụ đại thần.
- Nguyên Đề đốc Tạ Hiện nay thăng thụ chức Đô thống.
- Nguyên Phó Quản cơ lãnh Phó Lãnh binh Nguyễn Văn Như nay thăng thụ chức Lãnh binh sung Đề đốc.
Nguyên Bố chính Nguyễn Văn Giáp nay thăng thụ Tuần phủ Sơn Tây sung Tham tán đại thần.
- Nguyên Bố chánh Nguyễn Cao, Tán tương Nguyễn Thiện nay đều thăng chức Bố chánh sung Tán lý.
- Nguyên Bố chánh Vũ Giốc, Đốc học Ngô Quang Huy nay đều thăng thụ Hồng lô tự khanh sung Tán lý.
- Nguyên Tri huyện Hoàng Đình Kinh nay thăng thụ án sát Bắc Ninh sung chức Tán tương.
Tất cả những người trên được tùy nghi tập hợp thân hào, binh dũng lựa thời cơ mà đánh dẹp rồi báo
về cho Hoàng Tá Viêm biết để tiện việc điều động Còn Nguyễn Đình Nhuận nên cố gắng hơn nữa, dốc lòng lập nhiều công lớn sẽ được ban thưởng hậu Ngoài ra xem trong số những người có tài cán, khẳng khái, người nào đáng được thưởng thụ hàm, tước gì thì báo về Hoàng Tá Viêm xét duyệt, thi hành.
Khâm thử (Ngự tiền chi bảo)1
Ngày 3 tháng 6 âm lịch, Hàm Nghi năm thứ nhất2
Bắc Kỳ quân thứ phụng sao Hội trưởng Nghĩa đoàn Tam tỉnh đồ ký3 (Các hạt đều biết)"
Tháng 8 năm 1885, Nguyễn Thiện Thuật từ Long Châu (Trung Quốc) về nước đến hội kiến với Lễ bộthượng thư Nguyễn Quang Bích nhận chiếu Cần Vương và nhận trách nhiệm thống nhất các lực lượngkháng chiến ở các tỉnh vùng châu thổ sông Hồng và vùng ven biển, đông bắc Bắc Kỳ; dưới ngọn cờ CầnVương và trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, Nguyễn Thiện Thuật đã có cuộc bàn bạc với Hộitrưởng Đại nghĩa đoàn ba tỉnh về việc nhanh chóng phục hồi lực lượng nghĩa binh của Đại nghĩa đoàn4 Sau cuộc trao đổi ý kiến với Nguyễn Thiện Thuật, Ngô Quang Huy tới Kim Giang bàn bạc vớiNguyễn Cao rồi triệu tập các đầu lĩnh Đại nghĩa đoàn ở ba tỉnh bàn việc nhanh chóng phục hồi lực lượng
và tham gia vào phong trào Cần Vương do Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật lãnhđạo
1 Hoàng Tá Viêm và Nguyễn Đình Nhuận đều bị giáng chức sau khi Pháp chiếm thành Hà Nội và các tỉnh Bắc Kỳ lần thứ
hai, triều đình Huế phải liên tiếp ký Hiệp ước Quý Mùi 1883 và Giáp Thân 1884.
1 Hoàng Tá Viêm và Nguyễn Đình Nhuận đều bị giáng chức sau khi Pháp chiếm thành Hà Nội và các tỉnh Bắc Kỳ lần thứ
hai, triều đình Huế phải liên tiếp ký Hiệp ước Quý Mùi (1883) và Giáp Thân (1884).
1 Đóng ấn của nhà vua.
2 Đối chiếu với dương lịch là ngày 14-7-1885.
3 Người lãnh đạo Đoàn nghĩa dũng ba tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên là Ngô Quang Huy.
4 Trích trong tập 6 "Tư án tỉnh Bắc Ninh" (Phòng Nha kinh lược Bắc Kỳ - Kho Lưu trữ Trung ương Hà Nội).
Trang 34Với lòng thiết tha yêu nước của các thủ lĩnh và nghĩa binh, lực lượng Đại nghĩa đoàn ở ba tỉnh đãđược phục hồi nhanh chóng
Ngày 9 tháng 9 năm 1885, Nguyễn Cao đã cùng Ngô Quang Huy, Lã Xuân Oai làm tờ phi báo với vuaHàm Nghi, nội dung như sau:
"- Nguyên Lạng - Bình Tuần phủ thăng thụ Tổng đốc sung Quân thứ Tham tán quân vụ đại thần Lã… 1
- Bố chánh sung Quân thứ Tán lý quân vụ Nguyễn 2
- Hồng Lô tự khanh sung Quân thứ Tán lý quân vụ Ngô… 3
Làm tờ phi báo sau đây:
Vừa qua kinh thành thất hiểm, lòng người lo sợ Trước khi có lời chỉ dụ của Hoàng thượng, có nhiều nơi đã vì nghĩa mà khích động, có nhiều nơi vì tình thế bức bách bắt buộc phải cùng đứng lên lo toan việc cứu nước, cứu nhà Do đó quân sĩ phải tập hợp đông đảo, quân nhu, quân phí phải chi tiêu khá lớn.
Vì thế có nơi đã làm những việc sai lầm như hạch sách nhân dân hoặc nhân đó sinh ra nạn nhũng nhiễu, cướp bóc Mối tệ hại ấy khác nhau, nhưng cũng đủ viện cớ để sinh lòng nghi kỵ lẫn nhau Bởi thế có nhiều nơi bắt buộc phải đoàn kết nhau lại để phòng thủ, thực là rối ren quá đỗi Thậm chí có nơi lợi dụng danh nghĩa để gây thù oán đánh lộn nhau Với tình hình này thì đại quân chưa ra mà trước đó đã hại dân, thù chung chưa rửa mà trước đó đã thỏa mãn lòng riêng tư, tuy lấy tiếng là nghĩa quân nhưng thực
ra có nhân nghĩa gì đâu, chỉ tàn sát lẫn nhau nồi da nấu thịt; tới khi của hết, lực suy thì lấy gì mà ngăn được giặc ngoại xâm; nước đến chân mới nhảy, hối sao kịp nữa?
Nay chúng tôi phụng chỉ tập hợp thân hào, binh dũng tùy thời tiễu trừ quân giặc Chúng tôi đã từng họp nhau lại bàn bạc, phân tích mọi nhẽ và tập hợp tâu trình lên Đức Thánh Hoàng để xin lập mấy điều lệnh sau đây, phi báo cho các nơi Mong rằng sau khi tiếp nhận được lệnh này, các nơi cấp tốc thi hành
và trình báo về cho biết Nhất thiết tất cả những hành động sai trái trước kia, nay tuyệt đối cấm chỉ, nếu còn cố ý trái lệnh sẽ chiểu theo quân pháp trị tội… Đối với những người theo đạo Thiên chúa, họ cũng là con cái của triều đình cả, nên cần phải xét cho rõ, những người yên phận làm ăn thì phải xem họ như là những người dân thường, không được phân biệt lương giáo để gây thêm rối loạn Còn những người chưa giác ngộ, ngoan cố chống lại thì cũng phải tìm hiểu sự thật thế nào rồi phi báo lên cho trên biết để có kế hoạch đối phó Tất cả mọi việc đều phải trình báo trên Việc dùng binh phải có kỷ luật Ngày nay binh lính và nhân dân ta đang gặp cảnh lầm than cơ cực, ai nấy đều mong sao được sống yên lành; đó là điều quan trọng bậc nhất Vì phải làm thế nào để khi quân ta đi đến đâu làm cho nhân dân ở nơi đó được yên
ổn làm ăn thì họ mới hết lòng cùng ta tiêu diệt kẻ thù, yên hưởng hạnh phúc Có như thế mới mong rửa được mối căm hờn của các đấng thần linh, mới đền đáp chút đỉnh cho những người đã hy sinh vì nợ nước Đó là lòng mong ước sâu sắc của chúng ta vậy Vả lại việc đời biến hóa thất thường, kiến thức của chúng tôi lại có hạn, nên thông báo để các nghĩa sĩ, các bậc quân tử biết Nếu ai có vũ khí gì hoặc có mưu kế gì tốt có thể thi thố được, chớ có ý luyến tiếc, giấu giếm, hãy đưa ra giúp hoặc sẵn lòng chỉ bảo; chúng tôi sẽ tâu lên trên và xin thi hành Chúng tôi rất mong chờ mà làm tờ phi báo này.
Tờ phi báo này gửi tới huyện Lương Tài1 để tuân hành, đồng thời chuyển cho các thân hào tronghuyện đều biết
Kê:
1) Việc tổ chức đoàn dân dũng cũng phải nhất thiết theo một hệ thống tổ chức chặt chẽ Mỗi tổng tổ chức thành một đoàn; mỗi đoàn có khoảng 200 hoặc 300 người Điều cốt yếu là phải lựa chọn những người thật khỏe mạnh để sung vào Mỗi xã đặt một Quản đoàn, mỗi tổng đặt một Chánh, Phó Quản binh, mỗi huyện đặt một Huyện đoàn kiêm đốc suất Trong mỗi đoàn lại lựa cho lấy 20 hoặc 30 người thật tinh nhuệ được huyện đoàn cấp lương để làm những việc sai phái, chạy các giấy tờ, trát sức Khi không có việc, những người này vẫn ở nguyên quán, nhưng khi có việc sẽ được trưng dụng và chi lương Nếu ai cố gắng, xung phong mọi việc, xét có công lao cụ thể, sẽ được thưởng cấp riêng.
2) Việc tuyển mộ binh lính không kể nhiều, ít hoặc 100 người hoặc 1.000 người, nhưng binh lính phải tinh nhuệ Khi lựa chọn binh lính thì trong 1.000 người chỉ nên lấy 500 hoặc 300 người; trong 100 người chỉ nên lấy 50 hoặc 30 người Phải luyện tập họ thật kỹ càng, súng ống, vũ khí đầy đủ, rồi chọn lấy
1 Lã Xuân Oai.
2 Nguyễn Cao.
3 Ngô Quang Huy.
1 Huyện Lương Tài thuộc tỉnh Bắc Ninh cũ.
Trang 35những người thật dũng cảm, mẫn cán đặt làm đầu mục chỉ huy Sau khi đã tổ chức họ thành đội ngũ rồi, được bao nhiêu sẽ làm bản danh sách gửi lên để cấp bằng, chi lương; không được làm qua loa, tắc trách hoặc tự tiện lấy tiền thuế lệ của địa phương để chi dùng.
3) Tiền thuế thu xong, cứ hai hoặc ba tổng đặt một kho tạm thời rồi chọn người có khả năng coi giữ
để việc thu vào hoặc chi ra có người chuyên trách Mỗi khi người giữ kho chi việc gì phải có giấy phê duyệt của cấp trên mới được chi và không được chi quá số đã được phê duyệt.
4) ở nơi đóng đồn trại, nếu có chỗ nào hiểm trở, quan trọng thì phải điều lính mộ hoặc đoan dũng cùng canh giữ, phải phân bố rõ rệt, toán nào giữ ở đâu, toán nào chặn ở chỗ nào; phải báo cáo cụ thể lên trên.
Ngày 1 tháng 8 âm lịch "Hàm Nghi năm thứ nhất" 1 Có dấu "Lạng Sơn- Cao Bằng Tuần phủ quan phòng" "Tán tương quân vụ quan phòng".
Cuối năm 1886, cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Cao chỉ huy dần dần tan rã Sau một thời gian lặn lội đitìm căn cứ ở chùa Bảo Đài, chùa Hương Sơn, Nguyễn Cao về Kim Giang (ứng Hòa, Hà Đông)
Tháng 4 năm Đinh Hợi (5-1887), quân Pháp bắt được một tờ sớ của Hồng lô tự khanh Tán tương quân
vụ Ngô Quang Huy gửi vua Hàm Nghi Trong sớ có đoạn: "Số sĩ phu Bắc Kỳ đang bí mật mưu toan khôi phục, trong đó có Nguyễn Cao" Bọn Pháp tung mật thám đi dò xét, ở làng Kim Giang có tên việt gian tố
cáo ông với giặc Pháp để tiến thân, nhưng hôm đó ông không có nhà Có một học trò đến báo cho ông
biết và khuyên ông tránh đi Nguyễn Cao nói: "Bọn kia mất ta, tất sẽ tróc nã tìm trong dân chúng Ta không nỡ vì một thân này mà để tai họa cho vài trăm người".
Rồi Nguyễn Cao ung dung đi về nhà Giặc đưa lính về bắt, chúng nhốt ông vào cũi giải về Hà Nội.Ông cắn lưỡi tự tử, chúng cứu chữa ông để khai thác các sĩ phu chống Pháp ở Bắc Kỳ Tại nhà tù, ông
viết bài Tự phận ca (Bài ca biết phận) Đây là một thiên tuyệt bút nổi tiếng.
Bài ca biết phận
Hỡi ơi trẻ tạo, sinh ta làm chi?
Cho ta có hiểu biết mà chí khí không gì,
Cho ta nên người mà thân thể gầy suy.
Đã thua con ngựa non, dọc ngang trên đường ngàn dặm
Lại kém con chim le, thung thăng giữa dòng nước trôi đi.
Đã thua con chim cắt, đậu trên cao mà liếc mắt.
Lại kém cả con báo, ẩn trong núi mà giữ vằn nín tiếng đợi thì!
Hỡi ơi trẻ tạo, sinh ta làm chi?
Lạm phần khoa hoạn, trải mấy tinh kỳ.
Tính bề yên phận, gặp buổi gian nguy,
Chợt nghe lệnh gọi, cất mình ra đi.
Danh nghĩa là trọng, lợi hại xá chi.
Rắp đem công lý, để thủ thắng.
Nhưng thế còn mạnh yếu khôn bì.
Chí đã quyết một phen thì quyết,
Dù mất công mà chả được việc gì!
Hỡi ơi trẻ tạo, sinh ta làm chi?
Trên vua cha đã không báo đáp,
Dưới dân chúng lại chẳng bù trì.
Trong không dạy bảo được con cháu, cảm hóa được họ mạc.
Ngoài không cố kết được tôi tớ, thủy chung được bạn bè.
Tự xét ba việc đều thiếu sót,
Thẹn đời ta mà sa lệ đầm đìa.
Hỡi ơi trẻ tạo, sinh ta làm chi?
Sống mà bị chìm đắm trong vùng dê chó,
Thà chết đi cùng trời đất đi về!
1 Đối chiếu với dương lịch là ngày 9-9-1885.
Trang 36Sống mà làm vật thừa thịt bướu cõi nhân thế,
Thà chết đi mà làm cành quỳnh hoa ngọc nơi nước đẹp non kỳ!
Nhị biếc vẫn đó Nùng xanh còn kia,
Một tấc đất sạch, nấm mồ lè xè.
Dằng dặc thay! Lồng lộng thay!
Nào gươm núi Sóc, nào thơ trên trời! Nào cọc sông Đằng!
Khí thiêng lên xuống trên chín tầng mây,
Hãy hòa làn gió mưa sấm sét,
Rửa hôi tanh cho dòng nước trôi đi.
Hỡi ơi trẻ tạo, sinh ta làm chi?
Nhớ trong giấc mộng, gặp Khuất Bình đêm kia,
Cùng ta nói chuyện "bỏ viếng tôi mừng, bỏ mừng
tôi viếng"
Qua mấy màn kịch, rượu còn trong be,
Đến nay hơi men dã hả, mộng đà hết mê.
Biết ta ư? Hoặc chê ta là vội giận,
Không biết ta ư? Hoặc ghét mà bảo ta muốn chuốc tiếng tăm gì,
Dù biết hay không biết, dù đời này hay đời sau,
Có kể gì miệng thế cân nhắc khen chê!
Tự biết mà tự xét, mấy lời gọi để làm ghi.
Hỡi ơi trẻ tạo, sinh ta làm chi?
Trăm năm nào mấy kẻ, tuổi năm mươi mấy nữa đã về,
Ta nay tự cho là đã thọ, việc trần gian thôi cởi mở đợi gì.
Có ham chi cuộc đời lao lực mãi,
Kiếp lênh đênh trong bể khổ sầu bi.
Hỡi ơi trẻ tạo, sinh ta làm chi?
Âu là bảo con khấn vợ, mấy lời vân vi:
Trước kia mình chết ở sông nhà,
Nay ta chết ở sông nước,
Tuy chẳng được cùng ngày cùng giờ, cùng nhau cùng thác,
Song vẫn chung dưới dòng nước bạc,
Hồn lâng lâng không vẩn đục mảy may gì.
Hỡi ơi trẻ tạo, sinh ta làm chi?
(Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, trang 202-207)
Có tên việt gian đến dụ dỗ Nguyễn Cao, chê bụng ông tối tăm không hiểu thời thế Ông đập bát, lấy
mảnh khoét rốn rút ruột ra cho chúng xem và thét: "Chúng bay xem, ruột tao trắng như ngó cần!" Bấy giờ
người đứng xem chật ních đều sợ hãi, bưng mặt mà chạy Bọn giặc Pháp đưa ông đi cấp cứu Ông nhịn
ăn, uống, luôn miệng chửi bới quân thù, rồi thiếp đi Khi tỉnh dậy, ông cắn lưỡi tự tử Hôm đó là ngày 24tháng 3 năm Đinh Hợi (14-4-1887)
Cái chết của Nguyễn Cao làm kẻ thù khiếp sợ, kích động lòng yêu nước của nhân dân Ông đã chết,giặc Pháp vẫn đưa thi hài ông sang Tòa án Nam xét xử Chúng xử ông tử hình, đem thi thể ông ra bãi Dừabên hồ Hoàn Kiếm nay là bồn nước ga xe điện Bờ Hồ (cũ) thành phố để chém đầu
Từ khi ông bị bắt, đến khi ông mất, mọi việc ma chay, an táng đều do làng Kim Giang làm; trai, gái,già trẻ đều sốt sắng góp tiền, không một người nào ngần ngại Hàng năm tuần tiết dân làng lại đặt bài vịông lên, khóc rồi tế lễ Đức, nghĩa của ông cảm động sâu sắc lòng người Ông được đưa vào thờ ở miếuTrung Liệt cùng Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu
Các sĩ phu yêu nước, thủ lĩnh nghĩa quân vô cùng thương tiếc gửi nhiều câu đối, thơ, trướng phúng
viếng Trong đó có bức "Trướng các chánh phó lãnh binh quân đội và nghĩa dũng khóc ông Nguyễn Cao"
do Tán tương quân vụ Ngô Quang Huy thay mặt nghĩa quân gửi viếng Trong đó có đoạn:
Trang 37"… Bỗng gặp năm Quý Dậu 1
Xảy việc Bắc Kỳ
Rắp lòng cứu nước;
Quyết chí dựng cờ.
Lệnh nghiêm minh mà tướng mạnh quân hùng;
Oai lẫm liệt khiến giặc tan, thù diệt.
Lê Thệ sư 1 khen trí,
Tôn thất tướng 2 trọng tài.
Bệ ngọc vâng lời;
Thang mây nhẹ bước;
Trên miếu đường chức phiên trấn vừa trao
Ngoài biên khổn, quyền tướng quân thêm trọng"…
Tôn Thất Thuyết đã từng cùng Nguyễn Cao diệt Thanh phỉ ở Bắc Giang, có lần bị vây được NguyễnCao giải cứu Khi Nguyễn Cao mất, ông đã qua Trung Quốc cầu viện, nhận được tin, liền gửi thơ vềviếng:
Dịch thơ:
Trước đây mười năm đã từng biết
Trọn đời hẹn mình cho khí tiết
Theo tôi đánh giặc vùng Bắc Giang,
Nổi tiếng can đảm hơn đồng liệt.
Quyết lòng vì nước lập kỳ công
Khá tiếc năm nay ông vội chết
Như ông xem chết dễ như chơi,
Chính khí theo kịp các tiền triết.
Gần đây chết nghĩa biết bao người,
Tiếng ông Cách Bi trội hơn hết.
Hồn thiêng nên gắng giúp non sông,
Muôn thuở Đức Giang 1 thơm sạch tuyết
(Trần Huy Liệu dịchThơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, trang 173-175)Người đương thời làm thơ khóc Nguyễn Cao, có câu:
"Thệ tâm thiên địa phi trường xích
Thiết xỉ giang san mãn thiệt hồng"
Dịch:
Rút ruột đỏ phơi tim vũ trụ,
Nghiến răng hồng nhai lưỡi non sông"
(Phan Bội Châu dịch)
Trong bài thơ Chính khí ca cũng ca ngợi Nguyễn Cao:
"Nguyễn Cao nhất mực anh hùng
Lưỡi gươm trắng nhuộm máu hồng lòng son"
Nguyễn Gia Chấn, cháu bốn đời, tác giả Cung oán ngâm khúc, quán làng Liễu Ngạn, huyện Siêu Loại,
phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh làm bài thơ viếng:
Nhất đại tài danh, bách đại hùng
Quyên sinh trọn nghĩa tự thung dung
Thệ tâm thiển vị phu tràng bạch
Thiết xỉ giang sơn mãn thiệt hồng
Cố quốc cô thần dự nhất tử
Hà thành chính khúc túc tam trung
1 Sự kiện Bắc Kỳ năm 1873, Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất.
1 Lê Tuấn giữ chức Bắc Kỳ khâm sai thị sư đại thần ở Bắc Kỳ.
2 Tôn Thất Thuyết.
1 Đức Giang tức sông Đuống (Thiên Đức) chảy qua làng Cách Bi.
Trang 38Bàng quan bất thiển quan chiêm giả Nhân hỉ, nhân sầu, nhân tích công
Ai khóc, ai cười, ai tiếc ông.
Trang 39án sát bắc ninh Hoàng đình Kinh
Hoàng Đình Kinh hồi nhỏ tên là Hoàng Đình Cư Tương truyền quê gốc ông ở Thanh Hoá, cha ông làHoàng Đình Khoa di cư đến làng Thuốc Sơn, tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Khi mớitới gia đình rất nghèo Sau ông Khoa được làm cai tổng Thuốc Sơn, cai quản 36 trang trại, gia đình trởnên giàu có Cha chết, Hoàng Đình Kinh được cử lên thay từ đây dân thường gọi ông là Cai Kinh Tínhtình ông hào hiệp, phóng khoáng nổi tiếng trong giới giang hồ, hùng cứ cả một vùng Đường Yên, GiàngThường Ông kết bạn với Hoàng Bá San, Hoàng Điển, Dương Văn Sử ở Ngô Xá, Hoàng Văn Thu
ở Lan Giới đều thuộc huyện Yên Thế Do có công đánh thổ phỉ Mãn Thanh, Cai Kinh được thăng trihuyện, huyện Hữu Lũng, lỵ sở đóng ở Hữu Hạ, nay thuộc xã Tân Sỏi, Yên Thế, Bắc Giang
Ông kết thân với Bá Phức, Đề Dương (Hoàng Hoa Thám), Lý Dương Tài ở Ngạn Thượng, Trại Lốt, TháiThuận và cùng phối hợp tác chiến chống thổ phỉ phương Bắc thắng lợi
Ngày 25 tháng 4 năm 1882, quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai, mấy ngày sau Hoàng Đình Kinhphát động cuộc khởi nghĩa ở dãy núi Đồng Nai, châu Hữu Lũng Được tin Hoàng Đình Kinh dấy cờ khởinghĩa, Bá Phức, Đề Dương, Nguyễn Văn An, Hoàng Văn Canh, Hoàng Bá San, Hoàng Điển Ân, DươngVăn Sử đều phối hợp cùng chiến đấu dưới cờ của ông
Ngày 15 tháng 3 năm 1884, quân Pháp do thiếu tướng Nêgriê (Négrier) mở chiến dịch đánh chiếmYên Thế Ngày 16 tháng 3 năm 1884, trong khi quân Pháp chiếm chợ Yên, Lãng Yên, Kép Song nhiều thủlĩnh đã chiêu mộ nghĩa quân chống lại Trong số thủ lĩnh đó có Hoàng Đình Kinh Ông đã chiêu mộ quânđánh Pháp quyết liệt, gây cho chúng nhiều tổn thất Ngày 17 tháng 3 năm 1884, quân Pháp phải rút quân,bãi bỏ kế hoạch đánh chiếm Lạng Sơn
Ngày 11 tháng 5 năm 1884, Chính phủ Pháp cử trung tá Phoniê (Fournier) ký với đại diện triều đình
Mãn Thanh là Lý Hồng Chương "Điều ước Thiên Tân" Theo điều ước Pháp nhượng một số quyền lợi
cho nhà Thanh mục đích đẩy quân Thanh về Trung Hoa để Pháp tự do hành động ở Việt Nam Căn cứvào Điều ước này, tướng Milô chỉ huy quân Pháp ở Bắc Kỳ chuẩn bị đánh chiếm Lạng Sơn, Cao Bằng.Ngày 24 tháng 6 năm 1884, đại tá Đuygien (Dugel) cầm đầu một binh đoàn trên dưới 1.000 quân, cùnghơn 1.000 phu khuân vác tiến đánh Lạng Sơn Quân Pháp đi đến bờ sông Quan Hóa (một nhánh của sôngThương), cách cầu Quan Âm ít dặm thì quân Pháp gặp quân phe chủ chiến của triều đình, quân Thanh vàlực lượng nghĩa quân do các ông Tán lý quân vụ Hoàng Đình Kinh, Tán tương quân vụ Nguyễn ThiệnThuật, Đề đốc Tạ Hiện, Phạm Huy Quang, quân Cờ đen do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy chặn đánh quyết liệt ởcầu Quan Âm Hai bên nổ súng kịch chiến trong 2 ngày Trong trận này quân Pháp bị chết trận, chết đuốirất nhiều trên dòng sông Quan Hoá, tổn thất đến 1/10 quân số Nghĩa quân và quân Thanh còn bắt sống 1quan tư, 2 quan hai, 1 bác sĩ, 20 lính Pháp, 100 lính mã tà
Chúng phải lui về giữ đồn Bắc Lệ Bọn chỉ huy Pháp ở Trung - Bắc Kỳ phản đối quân Thanh và quân
Cờ Đen vi phạm điều ước Thiên Tân, nhưng được trả lời là: "Đã biết Điều ước Thiên Tân, nhưng chưa cólệnh rút nên vẫn tiếp tục đánh quân Pháp"1
Ngày 29 tháng 6 năm 1884, Tán tương quân vụ Hoàng Đình Kinh tiếp tục chỉ huy quân nghĩa dũngđánh lấy lại Bắc Lệ, bắt sống một trung uý, một thiếu uý Pháp rồi lại tiến đánh quân Pháp ở núi Thiện Cầngiết và bắt thêm một số sĩ quan Pháp2
Tiếng tăm của trận đánh cầu Quan Âm (ngày 23-6-1884) mà Pháp gọi là: "Sự kiện Bắc Lệ" vang dộisang tận nước Pháp Chính phủ Giuyn Pheri (Julles Ferry) ra lệnh cho Đô đốc Cuốcbê (Courtbet) đang chỉhuy hải quân, tăng cường đánh phá Phúc Châu và Đài Loan, cốt làm áp lực, chia sẻ lực lượng với quânThanh Đồng thời Pháp cũng gửi quân tăng viện cho Milô quyết tâm "đánh chiếm Lạng Sơn" bằng "tiếngnói có hiệu lực nhất, đó là tiếng nói của đại bác"
1, 2 Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981, trang 237 ủy ban nhân dân
tỉnh Lạng Sơn, Địa chí Lạng Sơn, trang 234.
Trang 40Ngày 3 tháng 2 năm 1885, quân Pháp lại huy động 7.186 lính Pháp, lính ngụy đi đánh Lạng Sơn, chiathành 2 đại đoàn, trong đó một đại đoàn do đại tá Giơvannen (Jevannelle) chỉ huy, tướng Crêtanh (Crétin)làm Tham mưu trưởng, tướng Bócnítxơ Đêbông đờlítlơ (Borgnis Desbondes del'Isle) điều hành Cũngngày 3 tháng 2 năm 1885, quân Pháp xuất phát từ Chũ, nhưng bị các lực lượng của nghĩa quân chặn đánh,mãi tới ngày 11 tháng 2 mới tới Phố Vỵ Trong trận kịch chiến này, quân Pháp chết 200 tên đến và ngày
13 tháng 2 năm 1885, quân Pháp mới vào chiếm được Lạng Sơn
Nghĩa quân Cai Kinh hoạt động mạnh ở vùng Kép, phủ Lạng Thương cùng với các lực lượng nghĩaquân khác
Cai Kinh đã hỗ trợ cho phu làm đường bộ phủ Lạng Thương - Lạng Sơn nổi dậy đánh giết bọn chủthầu, bỏ trốn tập thể như ngày 22 tháng 2 năm 1885, có 45 phu Bắc Ninh bỏ trốn tập thể Ngày 27 tháng 2năm 1885, nghĩa quân Cai Kinh lại hỗ trợ cho 171 dân phu làm việc ở khu vực Đò Quan bỏ trốn tập thể.Đến ngày 6 tháng 3 năm 1885, lại có 52 dân phu làm việc trên đoạn đường Kép - Lạng Sơn bỏ trốn1
Cai Kinh có một tướng giỏi là Cai Bình Cai Bình lập căn cứ ở làng Bảo Lộc nằm trong địa hạt phủLạng Thương - Kép, quân số lên tới gần 1.000 người, có nhiều thiện xạ, được trang bị nhiều súng bắnnhanh
Ngày 28 tháng 3 năm 1885, quân Cờ Đen do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy và nghĩa quân do Cai Kinh, CaiBiều, Tổng Bưởi chỉ huy phối hợp đánh cho quân Pháp đại bại khi chúng tấn công Lạng Sơn TướngNêgriê (Négrier) bị trọng thương tại Kỳ Lừa, trung tá Ecbanhgiê (Herbinger) tạm thời lên thay Mười giờđêm thấy không thể giữ được Lạng Sơn, Ecbanhgiê cho quân bí mật rút về Phủ Lạng Thương và vào đóng
ở Chũ vào ngày 1 tháng 4 năm 1885
Nghĩa quân khống chế toàn bộ khu vực Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn Tháng 5 năm 1885, Cai Kinhchỉ huy nghĩa quân tấn công đồn Than Muội, tiêu diệt đồn này Bọn cầm quyền Pháp phải phái tên đại táĐuygien đem quân lên đánh nhiều lần không có kết quả Không đánh được Cai Kinh, quân Pháp phải xâynhiều đồn bốt kiên cố ở Võ Nhai, phố Bình Gia, Hương Giáo, v.v… để canh giữ khống chế các hoạt độngcủa nghĩa quân
Tinh thần chiến đấu ngoan cường của nghĩa quân đã khiến cho quân Pháp khiếp sợ nhưng không khỏithán phục tài cầm quân của ông Nhân dân các dân tộc ở Bắc Ninh1 - Lạng Sơn, Thái Nguyên cho con emgia nhập nghĩa quân, cung cấp lương thực, thực phẩm, đóng thuế, xây dựng đồn lũy, công sự, trinh sátnắm tình hình hoạt động của giặc Pháp báo cho nghĩa quân Nhân dân vô cùng cảm phục đã lấy tên ôngđặt tên cho dãy núi đá cao tới 500 mét chạy từ phía bắc sông Thương sang địa phận tỉnh Lạng Sơn Núixếp từng hàng tựa như bức tường thành bao bọc những thung lũng hẹp và sâu Dãy núi chạy từ Đông bắcđến Đông nam, giữa đường có nhiều đoạn khúc khuỷu đi quanh nhiều khu vực, địa thế khác nhau Câycối mọc rất tốt, thành rừng rậm, phong cảnh đẹp Mặt Nam và mặt Đông đá cao dựng đứng, trên ngọn câycối xanh rì, phía bắc tuy có nhiều đoạn núi hình răng cưa nhưng vẫn liên tiếp, phía tây phát triển tới chỉ
lưu sông Thương là sông Sỏi Dãy núi chạy dài từ Bắc Lệ đi Than Muội gọi là "Núi Cai Kinh".
Đêm mồng 4 rạng ngày 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn khởi nghĩa ở Huế.Việc không thành, các ông hộ giá vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị, tại đây nhà vua hạ chiếu CầnVương, phong chức cho một số tướng lĩnh ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ Hoàng Đình Kinh được phong chức ánsát Bắc Ninh sung Tán tương Quân vụ
Ngày 26 tháng 12 năm 1885, quân Pháp do trung tá Gôđa (Godard) chỉ huy tiến đánh Bảo Lộc, nghĩaquân do Cai Bình chỉ huy đánh trả quyết liệt, gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp rồi phân tán để bảo toànlực lượng
Tháng 4 năm 1886, Cai Kinh chỉ huy đánh trận Sao Mai làm thất bại trận càn quét của Đuygien.Tháng 5 năm 1886, quân ta phục kích đoàn vận tải của quân Pháp trên đường Đồng Đăng đi Na Sầm,diệt nhiều tên Pháp tại Tà Lài, Pác Luống
Ngày 31 tháng 5 năm 1886, nghĩa quân Cai Kinh làm chủ trên con đường huyết mạch Lạng Sơn - PhủLạng Thương, dưới sự chỉ huy trực tiếp của thủ lĩnh Hoàng Thái Nhân đã tiến đánh quân Pháp ở đồnThan Muội, Chi Lăng rồi rút lui an toàn
1 Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử tập I, Sđd.
1 Ngày 10-10-1895, Toàn quyền Đông Dương mới ra nghị định thành lập tỉnh Bắc Giang, tỉnh lỵ đặt tại Phủ Lạng
Thương (Thị xã Bắc Giang ngày nay) Địa bàn của tỉnh gồm phủ Lạng Giang, phủ Đa Phúc và các huyện Kinh Anh, Yên
Dũng, Phượng Nhỡn, Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Thế tách từ tỉnh Bắc Ninh.