1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO NHÂN vật LỊCH sử VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP ĐÁNH bắc kỳ lần II 1882 1883

91 171 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 803,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàng Diệu tên thật là Hoàng Kim Tích, tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai1 sinh ngày 10 tháng 2 năm Kỷ Sửu (531829 lịch Tây), con cụ Hoàng Văn Cự và cụ bà Phạm Thị Khuê, thuộc xã Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Điện Quang, vùng Gò Nổi, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Theo gia phả họ Hoàng làng Xuân Đài, gia tộc Hoàng Diệu vốn gốc làng Huệ Trù (nay thuộc xã Lộc Trù, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông tổ đời thứ nhất di cư vào Quảng Nam, thời gian đầu ở làng Đông Bàn sau chuyển về làng Xuân Đài, đến đời Hoàng Diệu là thứ bảy. Nay gia đình họ Hoàng ở Xuân Đài còn giữ đôi câu đối:Hải đạo Huệ Trù chi hưởng bản căn thân côNam châu Xuân Đài thử địa dịch diệp ly lang

Trang 1

NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP ĐÁNH BẮC KỲ LẦN THỨ II (1882 – 1883)

Tổng đốc Hoàng Diệu

Hoàng Diệu tên thật là Hoàng Kim Tích, tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai1 sinh ngày 10 tháng 2 năm KỷSửu (5-3-1829 lịch Tây), con cụ Hoàng Văn Cự và cụ bà Phạm Thị Khuê, thuộc xã Xuân Đài, huyện DiênPhước, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Điện Quang, vùng Gò Nổi, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) Theo giaphả họ Hoàng làng Xuân Đài, gia tộc Hoàng Diệu vốn gốc làng Huệ Trù (nay thuộc xã Lộc Trù, huyện NamSách, tỉnh Hải Dương) Ông tổ đời thứ nhất di cư vào Quảng Nam, thời gian đầu ở làng Đông Bàn sau chuyển

về làng Xuân Đài, đến đời Hoàng Diệu là thứ bảy Nay gia đình họ Hoàng ở Xuân Đài còn giữ đôi câu đối:

Hải đạo Huệ Trù chi hưởng bản căn thân cô

Nam châu Xuân Đài thử địa dịch diệp ly lang

Lời diễn Nôm của Hoàng Diệu:

Huệ Trù xứ vốn là cõi Bắc, do tổ tiên cội gốc vững bền

Xuân Đài châu nay thuộc miền Nam, truyền con cháu giống dòng hưng thịnh.

Hoàng Diệu là người thông minh từ nhỏ, ông với anh trai là Hoàng Kim Gián cùng học một thầy Khoa thiHương tại Thừa Thiên năm 1848, cả hai anh em cùng đỗ cử nhân, chánh chủ khảo thấy văn bài của hai anh em

có chỗ giống nhau nên có ý nghi ngờ Sự việc được tâu lên vua Tự Đức, Tự Đức cho phúc hạch riêng bài của

hai anh em Sau khi xét duyệt, Tự Đức phê: "Văn hành công khí, quý đắc chân tài, huynh đệ đồng khoa, thành

vi mĩ sự" Nghĩa là: Sự hành văn là việc chung, cốt để chọn nhân tài, anh em đỗ đồng khoa là việc tốt đẹp.

Năm năm sau (1853), Hoàng Diệu thi Đình, đỗ Phó bảng Khởi đầu ông làm Tri huyện Tuy Phước, tỉnhBình Định Do nha lại nhầm lẫn án từ nên ông chuyển làm Tri huyện Hương Trà, Thừa Thiên

Năm 1864 xảy ra vụ nổi dậy của Hồng Tập, em chú bác với Tự Đức Hồng Tập bị án chém Khi hành

quyết Hoàng Diệu có mặt ở đó đã nghe Hồng Tập nói: "Vì tức giận về hòa nghị mà bị tội, xin chờ ghép vào

tội phản nghịch" Sau lời trăng trối đó được các quan đề nghị nhà vua thẩm tra lại vụ án Khi xét kỹ mới rõ,

Hoàng Diệu nghe được lời trối trăng đó nói lại Vì vậy Hoàng Diệu và một số người khác bị giáng chức.Sau theo bản sớ tấu của Đặng Huy Trứ tiến cử người hiền tài, ông được phục chức làm Tri phủ LạngGiang, rồi thăng án sát Nam Định, Bố chánh Bắc Ninh Năm 1873 ông về Huế làm Tham tri bộ Hình, sau làmTham tri bộ Lại, kiêm Đô sát viện, sung Cơ mật đại thần

Năm 1878, Quảng Nam bị lụt lớn, dân chúng vô cùng đói khổ, trộm cướp hoành hành, Tự Đức trao cho

ông chức Khâm sai đại thần, cầm cờ tiết và quyền "tiên nghi hình sự" ông đã cho điều tra tội trạng của tên

Hương Phi ở làng Giao ái, lợi dụng nước lụt, cho tay chân đi cướp của, khống chế nhân dân Sau khi thu thập

đủ chứng cứ, ông bàn với quan tỉnh, đưa hắn ra xét xử, lên án trảm quyết, được nhân dân hoan nghênh, tintưởng

Ông còn điều tra một cử nhân, hai tú tài thuê người thi mà đỗ, nay cậy thế ức hiếp nhân dân, tâu vua chosát hạch lại ba người đó để xử lý

Năm 1878, Hoàng Diệu được nhận chức Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An - Hà Tĩnh) Năm sau ông được điều

về kinh giữ chức Phó sứ thương thuyết với Tây Ban Nha Sau đó ông giữ chức Thượng thư bộ Binh ThángGiêng năm 1880, ông được thăng chức Thự Tổng đốc; năm 1881 thăng Tổng đốc Hà - Ninh (Hà Nội - NinhBình)1

Hoàng Diệu làm quan lớn, cha mẹ, vợ được phong tước hiệu, nhưng gia đình ông vẫn sống ở làng quê với

một cuộc sống dân dã Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép: "Hoàng Diệu tính tình cương trực, lâm sự

quyết đoán, có phong độ bậc đại thần".

Thực dân Pháp với âm mưu đánh thành Hà Nội lần thứ hai để mở đầu cho việc đánh chiếm Bắc Kỳ Từ năm

1 Theo Phạm Thận Duật, Toàn tập, trang 418 thì hiệu ông là Tĩnh Tâm.

1 Khi đó Hà Nam thuộc tỉnh Hà Nội.

Trang 2

1874 đến năm 1882, bọn thực dân Pháp ở Sài Gòn theo lệnh Chính phủ Pháp đã vi phạm Hiệp định Canh Tuất

-1874, tăng cường lực lượng quân sự ở Hà Nội, tăng quân từ 100 tên lên 500 tên, cùng một số chiến hạm hoạtđộng trên sông Hồng, sông Thái Bình, sông Đuống; chúng còn có 5 tàu chiến, 2 tàu máy cùng mấy đại độiđóng ở Ninh Hải (Hải Phòng ngày nay)

Quân Pháp có âm mưu lấy thành Hà Nội từ lâu Việc chuẩn bị lấy thành Hà Nội do Thống đốc Nam Kỳ LơMyrơ Đờ Vile (Le Myre De Vilers) giao cho Kêlađích (Kergradère) - một tên mật vụ nhà nghề giữ chức lãnh sựPháp tại Hà Nội từ năm 1875, phối hợp cùng Giám mục Puyghinê (Puguiner), tên Việt là Phước giám mụcvùng Sở Kiện, Hà Nam thực hiện Đồng thời Đờ Vile giao cho trung tá Hăngri Rivie chuẩn bị lực lượng, vũkhí, thu thập tin tức tình báo từ đầu năm 1881

Ngày 28 tháng 11 năm 1881, Thống đốc Nam Kỳ Lơ Myrơ Đờ Vile viết thư ra hỏi lãnh sự Pháp Kêlađích

ở Hà Nội kế hoạch đánh chiếm Hà Nội một cách bất ngờ, không phải gây ra chiến tranh Lãnh sự Pháp

Kêlađích trình bày kế hoạch đánh thành Hà Nội ngày 5 tháng 2 năm 1882, đại thể: "Chiếm thành Hà Nội mà

không phải đánh là một việc rất dễ, chỉ cần cho một toán quân Pháp đi tuần hành ở ngoài phố và gần thành.

Sự tuần hành ấy vẫn thường làm, nên không ai ngờ vực, rồi toán quân ấy khi đến gần thành sẽ bất ngờ đột nhập vào cửa Đông thành chẳng hạn, rồi vượt qua hào mà vào trong thành như thế là quân Pháp có thể làm chủ được thành mà không phải bắn một phát súng nào" 1

Sau khi nhận được báo cáo từ Kêlađích, Giám mục Puyghinê về tình hình Hà Nội, tháng 3 năm 1882, ĐờVile lệnh cho Hăngri Rivie đem quân ra Bắc Kỳ Trong đội quân ra Bắc lần này ngoài quân Âu - Phi của sưđoàn Hải quân còn có lính Duavơ Zouaves, đầu đội mũ cứng thuộc địa to như quả dừa, áo sặc sỡ, ống quầnphồng ra như hai cái bồ Đó là lính đánh nhau ở châu Phi quen chịu nắng Lại có lính ngụy gọi là Mã tà, làbọn côn đồ, lưu manh, trộm cướp do bọn Pháp mộ, đã dẫn đường cho quân Pháp đi đánh các tỉnh ở Nam Kỳ.Bọn này đầu đội nón tre ghép, quần áo lính, nhưng trước bụng có mảnh khố Chúng là bọn dã man, tàn bạokhông còn tính người đi đến đâu cũng cướp, hiếp, giết và đốt phá, bọn Pháp gọi bọn lính này là (TiralleursCôchin Chinois)2

Ngày 3 tháng 4 năm 1882, binh thuyền của Hăngri Rivie đổ bộ vào Hà Nội, đóng quân tại Đồn Thủy.Ngay khi tới Hà Nội, Hăngri Rivie đã có cuộc họp với Kêlađích, Puyghinê để bàn tính kế hoạch hạ thành HàNội

Họp xong, chúng dự tiệc do tên lãnh sự Kêlađích chiêu đãi Tiệc tan, tên lãnh sự trùm mật thám viết thư báocáo gửi Bộ trưởng Bộ Hải quân và thuộc địa Giôrê Ghihêri (Jorer Guihérie) ở Paris kế hoạch đánh thành Hà Nội

Tên Kêlađích nhấn mạnh: "Chiếm giữ thành này rồi, chúng ta sẽ thống trị cả tỉnh về quân sự và sẽ chiếm những

cứ điểm ở Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh rồi cả một vùng rộng lớn ở sông Hồng".

Hôm sau, ngày 4 tháng 4 năm 1882, hắn vào thành yết kiến Tổng đốc Hoàng Diệu Chuyến vào thành củaHăngri Rivie không nhằm mục đích ngoại giao mà đích thân dò xét mọi mặt Hoàng Diệu phán đoán hắn rachuyến này là để hạ thành Hà Nội, nhưng chưa có lệnh của Triều đình Huế, ông không dám đánh ngay ônggấp rút điều động lực lượng phòng thủ trong thành1 bố trí ở những địa điểm sung yếu Ông cho tôn cao mặtthành lên từ 1,5 mét đến 1,9 mét, tường thành được tu bổ dày thêm từ 0,60 mét đến 0,80 mét Cổng thànhđược làm lại bằng gỗ lim dày, vững chắc, bên trong chất nhiều bao đất đá, gỗ Riêng cửa Nam và cửa Đông -nơi Gácniê (Garnier) đột nhập vào 10 năm trước, có thêm các dãy tường chéo bao bọc lấy khu trung tâm, cókho thuốc súng, quân dụng và hành cung Như vậy là hai cửa Tây và Bắc không vững như hai cửa trên Súngđại bác cũng được tăng cường, đặt trên mặt thành Ông còn phái một bộ phận quân đội ra ngoài thành để cùnglực lượng dân binh đánh tập hậu quân địch

Thương sứ Pháp ở Hà Nội là Kécgrađesơ (Kergradère) thấy Hăngri Rivie quyết đánh thành, không theochỉ thị của Thống đốc Nam Kỳ Đờ Vile, vì vậy ngày 16 tháng 4, hắn đã thông báo một cách mơ hồ cho Thống

đốc Nam Kỳ Lơ Myrơ Đờ Vile rằng: "Tình trạng hiện thời khó mà giữ được, khi các nhà cầm quyền Việt Nam

thực hiện những biện pháp quân sự ngay từ lúc H Rivie tới, bất chấp những việc bảo vệ hoàn toàn hòa bình của tư lệnh Hăngri Rivie… chắc chắn Hăngri Rivie bị buộc phải chiếm giữ thành để rồi lại trao thành cho

dễ sai khiến hơn ông Tổng đốc đương nhiệm Viên quan

1 Theo Archives Centralle de L Indochinoi amirauc.

2 Theo Hoàng Đạo Thúy: Người và cảnh Hà Nội.

1 Theo đánh giá của địch, quân trong thành có khoảng 5.000 người Theo cụ Nguyễn Văn Tố trong báo Tri Tân số ra ngày

31-5-1945 cụ đánh giá có 2.000 người.

Trang 3

đó phải tiếp tục điều hành tỉnh này với tư cách của triều đình Huế" 1

Ngày 10 tháng 4 năm 1882, Hăngri Rivie gửi thư cho Đờ Vile ở Sài Gòn xin 100.000 viên đạn, 150kilôgam thuốc nổ, Hăngri Rivie còn tập trung súng đạn của Sư đoàn Hải quân Pháp về Hà Nội; lệnh cho 7 tàuchiến, 2 tàu máy đậu ở cửa Ninh Hải sẵn sàng về Hà Nội tiếp ứng Hắn cũng phái tàu chiến đến nhà thờ PhátDiệm liên lạc với bọn gián điệp đội lốt cố đạo Pháp để thu thập tin tức tình báo Đồng thời, Hăngri Rivie chotàu chiến uy hiếp Sơn Tây, giao cho Kêlađích mua chuộc Tôn Thất Bá làm nội ứng khi chúng đánh thành HàNội

Hăngri Rivie cố thuyết phục Chính phủ Pháp là phải đánh thành Hà Nội Ngày 17 tháng 4 năm 1882, hắn

viết thư cho Giôrê Ghihêri, Bộ trưởng bộ Hải quân, nói rõ: "Tuy tôi đồng ý rằng cần phải chiếm cứ đồng bằng

Bắc Kỳ bằng cách từ từ và có tính toán, nhưng tôi cho là rất nguy hại nếu để thành Hà Nội trong tay người An Nam Còn ở trong tay người An Nam thì nó là một uy thế tinh thần và một sức mạnh vật chất và một ngày kia phải đếm xỉa tới Nếu ta lấy thành thì không cần phải giữ, cũng không cần phải ở trong đó Cứ phòng thủ mà ở ngoài tô giới của ta dựa mé sông, giao thông dễ, thì vẫn luôn là ở trong cái bộ máy bất tiện và cồng kềnh này (1.200 mét mỗi bề) Chỉ cần vô dụng hóa bức thành bằng cách phá các cửa, hủy và vứt các đại bác xuống hồ; phá thủng hai, ba chỗ trong vách thành"

Như thế, "chúng ta sẽ thống trị được cả tỉnh về mặt quân sự Rồi chúng ta sẽ chiếm các cứ điểm Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh, chúng ta dễ dàng kiểm soát cả một vùng lớn dọc theo sông Hồng Lợi thì lớn mà không tốn công gì mấy" 1

Sáng 25 tháng 4 năm 1882, Rivie gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu với lời lẽ xấc xược:

"Tôi đề nghị ông giao nộp thành theo những điều kiện tôi sắp nói đây, ngay ngày hôm nay, ngay khi tiếp được thư này, ông phải ra lệnh cho quân đội ông rời khỏi thành sau khi hạ hết khí giới và mở các cửa thành,

để đảm bảo cho các mệnh lệnh đó được thực hiện, ông cùng các ông tuần phủ, quan bố, quan án đề đốc, chánh lãnh binh, phó lãnh binh đều phải đến nạp mình ở chỗ tôi đúng 8 giờ sáng… Trong thành tôi giành quyền sử dụng những phương tiện thuận lợi để biến nó không còn gây hại cho quân đội tôi Nhưng sau khi sử dụng các phương tiện đó rồi thì tôi cam đoan trả lại thành cho ông với các kho tàng, dinh thự, nhà ở cùng với phần lớn nội cung Không có gì thay đổi trong công việc hành chính nội bộ tỉnh, nó vẫn thuộc chính quyền của Hoàng đế nước An Nam Thành vẫn thuộc về ông, chỉ đối với chúng tôi thì nó không còn là một đối tượng đáng nghi ngờ nữa 1

Làm sao có thể chấp nhận được một tối hậu thư như thế?

Bức thư láo xược của giặc Pháp, làm cho Tổng đốc Hoàng Diệu vô cùng căm tức Ông lập tức triệu tập cácquan văn võ họp ở lầu trên Cửa Đông, xếp ở đó mấy hòm thuốc súng, rót rượu nói với các quan, tướng rằng:

"Tôi xin các ông cạn chén, thề tận trung báo quốc Nếu vạn nhất thành mất thì tất cả chúng ta đến đây, đốt các hòm đạn này" Các quan thà chịu chết chứ không chịu đầu hàng2

Để tranh thủ thời gian chuẩn bị kháng chiến, Tổng đốc Hoàng Diệu cử án sát Tôn Thất Bá đi gặp HăngriRivie xin hoãn trả lời một ngày Tôn Thất Bá được dòng dây

từ trên mặt thành xuống, Hoàng Diệu không biết rằng Tôn Thất Bá đã đầu hàng giặc Pháp từ trước, nên đãtrốn vào đền Ngọc Sơn nằm1

Tổng đốc còn cho người ra ngoài thành, lệnh cho cử nhân Nguyễn Đồng, phường Bích Câu đưa dân binhđánh vào sau lưng quân Pháp, làm rối loạn đội hình của chúng

Quân ta đóng chặt cửa Đông và cửa Bắc, tổ chức chiến đấu ở cửa Tây và cửa Nam Quân Pháp nghi binh

ở cửa Đông, cửa Nam, nhưng lại đánh phá cửa Bắc và cửa Tây Tổng đốc Hoàng Diệu đang ốm vẫn mặctriều phục, mang gươm cùng Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng đích thân lên mặt thành đốc chiến Ông cũngkhông khoan nhượng với bọn quan lại có tư tưởng hòa hoãn, đầu hàng ngăn chặn những vụ phá hoại, gieorắc hoang mang trong quân lính của chúng

8 giờ sáng ngày 25 tháng 4, quân Pháp bao vây thành, chúng cho ba pháo thuyền của Pháp là La Phăngpharơ (La Fanfare), Mátxuyê (Maxuer), Carabin (Carabine) từ bờ sông Hồng đua nhau nã đại bác vào thành Mười

1 Taboulet, trang 779.

1 Taboulet, trang 171.

1 Amaxông: Thư từ chính trị của viên chỉ huy Rivie ở Bắc Kỳ.

2 Hoàng Đạo Thúy: Người và cảnh Hà Nội.

1 Sau đó Tôn Thất Bá, tên phản quốc đã đầu hàng giặc từ lâu mà Hoàng Diệu không ngờ Khi chiếm xong thành Hà Nội, Pháp

gọi hắn ra làm Tổng đốc bù nhìn.

Trang 4

giờ quân Pháp đổ bộ tấn công thành.

Trên đường tiến quân, quân Pháp vấp phải tinh thần quyết tử của nhân dân Hà Nội, bà con đã tự tay đốtnhà mình và phố mình, tạo thành bức rào lửa ngăn bước tiến của giặc Pháp, khiến cho chúng hoảng hốt phải

di chuyển vị trí đặt đại bác mấy lần Quân bộ cũng không đi được trên đường phố vì chỗ nào cũng có lửacháy, chúng phải tiến quân qua chiến hào đầy nước và bùn

Hơn mười giờ, quân Pháp tiến sát chân thành Khi quân Pháp xông lên đánh thành, một cuộc giáp chiến ácliệt nổ ra, trong bắn ra, ngoài bắn vào, cả hai bên đều thương vong nặng nề

Chính lúc cuộc chiến đang diễn ra quyết liệt thì nhân dân Hà Nội sau khi đã đốt các dãy phố làm cản bướctiến của chúng, nay lại tập hợp nhau mang theo vũ khí đến cửa thành xin được điều động giết giặc Người già,trẻ con không đi chiến đấu được thì gõ chiêng trống, thùng chậu ầm ầm để hư trương thanh thế

Trong trận chiến, Nguyễn Đình Trọng, còn gọi là Cử Tấn, người Hà Tĩnh đỗ phó bảng võ năm 1880, giữchức Suất đội thuộc Tả trấn, Hữu dinh ở trong thành, ông là vệ sĩ của Tổng đốc, luôn luôn theo sát bảo vệTổng đốc Hai ông suất đội là Trần Lộc người làng Nghè, Bếp Bốn người làng An Phú đều thuộc huyện TừLiêm chiến đấu trực tiếp dưới quyền chỉ huy của Tổng đốc Hoàng Diệu, tả xung hữu đột và đều hy sinh anhdũng1

Tại cửa Bắc phía ngoài có nhiều tường đất cản trở, quân Pháp phải dùng thuốc nổ để phá Song giặc Phápkhông tiến được dễ dàng vì cử nhân võ Nguyễn Đồng chỉ huy hàng nghìn dân binh đánh tập hậu vào quânPháp ở trước đình Quảng Văn2

Để động viên tướng sĩ, Tổng đốc Hoàng Diệu tuyên bố ai giết được giặc sẽ được thưởng vàng bạc, giếtđược càng nhiều thưởng càng lớn

Khi các đám nhà cháy đã tàn, đội dân binh của cử nhân Nguyễn Đồng bị đạn đại bác bắn chặn dữ dội,buộc phải phân tán Đến lúc đó giặc Pháp mới băng qua chiến hào đầy bùn nước Chúng bắc gần 50 thang leolên thành

Quân ta chiến đấu quyết liệt, cả hai bên đều bị thiệt hại nặng nề Giữa lúc đó viên Hiệp quản Thiệu bắnchết một tên sĩ quan Pháp, Tổng đốc Hoàng Diệu thưởng ngay 30 lạng bạc làm nức lòng tướng sĩ Quân tachiến đấu đến 11 giờ trưa, sĩ khí hăng hái Thượng tướng quân Nam đô Lê Văn Thứ trấn thủ thành cửa Bắc hysinh

Nhưng quân Pháp kéo được vào cửa Bắc ngày càng đông, một viên quản của đội Hùng Nhuệ hy sinh ởcửa Nam, Thủy sư Đô đốc Nguyễn Đình Đường chỉ huy quân sĩ chống cự với giặc quyết liệt

Quân ta càng đánh càng hăng, trong thành tướng sĩ đồng lòng đánh giặc, ngoài thành thì dân binh tự trang

bị vũ khí đánh địch ở khắp mọi nơi Người già, trẻ em, đàn bà không xung trận được thì nổi chiêng trống, mõ,reo hò ầm vang khiến cho kẻ địch vô cùng hốt hoảng Quân Pháp lọt được vào cửa Đông, Đề đốc Lê VănTrinh, Bố chánh Phan Văn Tuyển chạy trốn Một việc xảy ra bất ngờ là kho thuốc súng đột nhiên bốc cháy,quân ta hoang mang, lúng túng, vỡ từng mảng Thừa lúc trong thành quân ta đang rối loạn, quân Pháp dồn lựclượng đánh phá cửa thành phía Tây, giặc cũng dùng nhiều thuốc nổ để phá cửa Bắc Giặc ùa vào bên trong.Quân ta tan rã Tổng đốc Hoàng Diệu, Phó lãnh binh Hồ Văn Phong không sao cản nổi giặc, vì chúng kéo vàoquá đông

Tổng đốc Hoàng Diệu thấy thành đã vỡ, không thể chống cự nổi, ông quay mặt về phía Nam, chảy nước

mắt nói: "Thần đã sức cùng, lực tận rồi, xin tạ tội".

Sau đó, ông cưỡi voi đến Võ miếu, lực lượng đi cùng chỉ còn hơn một chục suất đội hộ vệ, Hoàng Diệucho giải tán rồi viết một tờ biểu gửi vua Tự Đức:

"Tôi học lực thô sơ, trách nhiệm quá lớn, được ủy thác giữ cả một phương diện, trong khi ba cõi chưa yên Một gã thư sinh, vốn chưa quen với việc chính trị, mười năm hòa ước, tin sao được lòng kẻ thù.

Tôi từ khi vâng mệnh ra đây, đã được ba năm, thường huấn luyện quân sĩ, sửa sang thành trì, không những chỉ để củng cố đất ta, mà còn để ngăn chặn loài lang sói nữa.

Dè đâu chim còn đang ràng tổ, thú đã vội thay lòng, ngày tháng hai năm nay bỗng thấy tàu Tây tụ tập, dồn quân thêm nhiều, quân nó từ xa đến, lòng dân ta xôn xao Tôi thiết nghĩ, Hà Nội là cổ họng của miền Bắc, mà là đất trọng yếu của nước nhà, nếu một khi mà đổ sụp, thì các tỉnh khác cũng tan rã theo, vì thế tôi lấy làm lo sợ, một mặt kíp tư cho các hạt lân cận, một mặt báo tin lên triều đình, xin cho thêm quân để kịp đối phó Không ngờ mấy lần có chiếu xuống; hoặc trách tôi là nắm binh quyền mà lòe nạt, hoặc kết tội tôi là xử

lý chưa được thích nghi; cúi đọc lời phán truyền, thực nghiêm khắc hơn rìu búa Kẻ dưới quyền thất vọng,

1 Lịch sử phường Nghĩa Đô.

2 Cửa Nam ngày nay.

Trang 5

khôn tính bước tiến lui".

Vẫn biết rằng chuyên chế kém tài, đâu dám cậy cái nghĩa bậc đại phu ra giữ bờ cõi 1 , chỉ nơm nớp tự mình nhắc nhở, phải kính theo tấm lòng thờ vua của người xưa.

Hằng ngày bàn bạc với đôi ba người chức việc, có người bàn nên mở cổng cho chúng tự do ra vào; có người bàn nên rút hết quân đi, để chúng khỏi ngờ vực Những kế đó dù tôi có phải nát thịt tan xương, cũng không bao giờ nỡ làm.

Việc điều động chưa xong thì chúng liền giở mặt Ngày mồng 7 tháng này, chúng hạ chiến thư, ngày hôm sau là chúng tiến đánh, quân chúng đông như kiến tụ, súng của chúng gầm như sấm vang; ngoài phố lửa cháy lan tràn, trong thành ai nấy táng đởm, tôi vẫn gượng bệnh đốc chiến, đi trước quân lính, bắn chết được hơn trăm tên, giữ thành được nửa ngày Vì chúng nó sung sức mà quân ta kiệt hơi rồi, lại thêm tuyệt đường cứu viện, thế lâm đường cùng, quan võ thì sợ giặc chạy trốn từng đàn, quan văn nghe gió cũng chạy theo nốt! Lòng tôi đau như cắt, một tay không thể duy trì Đã không tài làm tướng, than thân sống cũng bằng thừa; thành mất cứu không xong, biết chắc chết không hết tội! Rút lui để tính toán về sau ư? Mưu trí đã thua Tào Mạt 2 , cắt cổ để cho tắc trách, hành vi đành bắt chước Trương Tuần 1 ! Dám rằng trung nghĩa mà đắm chìm thành đất giặc, sống càng sạn mặt với nhân sĩ kinh kỳ, cô trung quyết sống thác với thành Rồng 2 , thì xin theo bậc tiên thần họ Nguyễn 3 dưới chín suối!

Mấy dòng lệ máu, muôn dặm cửa trời, chỉ mong rực rỡ đôi vầng, xét soi thấu tấc son là đủ!" 4

Viết xong bài biểu, ông lấy khăn quấn đầu bằng nhiễu đỏ thắt cổ tự tử để khỏi bị quân xâm lăng hạ nhục.Khí tiết hy sinh vì nước lẫm liệt của ông được Nguyễn Văn Giai ca tụng trong bài "Hà thành chính khí ca"

"… Một cơn gió thảm mưa sầu

Nấu nung gan sắt dãi dầu lòng son

Chữ trung còn chút cỏn con

Quyết đem gửi cái tàn hồn gốc cây

Trời cao bể rộng đất dầy

Núi Nùng sông Nhị chốn này làm ghi"

Sau khi Hoàng Diệu tuẫn tiết, cử nhân Lương Văn Can và cử nhân phường Kim Cổ Ngô Văn Dạng quyêngóp

tiền mua áo quan chôn ông ở phường Dinh Đốc Học(ở sau ga Hà Nội ngày nay) Lần lượt các tổng đốc đến tế, đọc những bài văn thống thiết, lâm li, kích độnglòng người Bức trướng to nhất treo ở trước linh cữu là của ông cử phường Kim Cổ Ngô Văn Dạng:

"… Người như tiên sinh

Vãn Hà - Ninh Tổng đốc Hoàng Diệu

Đổng quận điệp cáo ai, quân chi thệ khứ

Trúc Đường Phạm Lão kỷ hà nhật;

Bát niên lưỡng chế địch, kim chi dinh thị

Quý Dậu vãng sự thắng nhất trù".

1 Đại phu ra giữ bờ cõi, mệnh vua có thể có lúc không theo.

2 Tào Mạt người nước Lỗ đời Xuân Thu Nước Tề đánh Lỗ, Tào Mạt ba lần thua trận Lỗ Trang Công phải dâng đất cho Tề.

Trong khi hai nước họp bàn, Tào Mạt đem gươm ngắn dọa giết vua Tề Tề Hoàn Công sợ, phải trả lại tất cả đất đã cướp của Lỗ.

1 Trương Tuần đậu tiến sĩ, làm quan lệnh hai huyện Thanh Hà, Châu Nguyên đời Đường An Lộc Sơn làm phản, Trương Tuần

cùng Hứa Viễn giữ thành Thư Dương Quân hết lương, ông giết vợ lẽ yêu lấy thịt khao quân Sau bị giặc bắt, ông mắng chửi giặc

và hy sinh.

2 Thành Rồng: thành Thăng Long.

3 Họ Nguyễn: Nguyễn Tri Phương.

4 Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, Nxb Văn học, Hà Nội, 1976.

1 Các lãnh binh Lê Trực, Phó lãnh binh Hồ Văn Khương, Nguyễn Đình Đường, khi thấy không còn cơ hội chiến đấu cũng bỏ chạy.

Hoàng Hữu Xứng bị giặc bắt, dụ không hàng, chửi bới chúng Về sau lại ra cộng tác với Pháp.

Trang 6

Dịch nghĩa:

Viếng Hoàng Diệu - Tổng đốc hai tỉnh Hà Nội - Ninh Bình

Đồng hương liên tiếp cáo tang, ông ra đi cách ông Phạm Trúc Đường 2 là mấy?

Tám năm hai phen dẹp giặc, việc ngày nay so với năm Quý Dậu 1 hơn nhiều

Tương truyền phu nhân của Tổng đốc Hoàng Diệu vẫn ở quê làm ruộng Bà đang cùng người nhà cấy lúa,thì có người gọi báo tin quân Pháp đánh thành Hà Nội, thành mất, quan Thượng đã quyên sinh Nghe tin trên,

bà cứ đứng yên giữa ruộng Chị em làm quanh đó thấy lạ, không thấy bà khóc, đến lay thì bà đã mất rồi.Hoàng Diệu mất, có rất nhiều thơ ca, bài hát ca ngợi ông và các tướng lĩnh, quân sĩ hy sinh khi giữ thành

Hà Nội Trong đó có Trướng văn của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị Toàn văn bức Trướng văn như sau:

"Người ta có thể sát thân để thành "nhân", bỏ sự sống để giữ "nghĩa" đời dầu cách xa mà tinh thần còn tưởng vọng, cảm khái vô cùng, huống chi là người đồng thời, đồng sự Bình sinh chúng tôi thường lấy khí tiết hẹn thề với nhau Ông chế đào họ Hoàng là bạn hữu của tôi Tháng 3 năm nay vì trách nhiệm gìn giữ đất đai cùng sống chết với giặc Buồn thay!

Ông đậu Phó bảng năm Quý Sửu (1853) ra vào chốn trường ốc trong ngoài, từ lâu đã được đức Hoàng thượng quý mến Trước đây vùng Ninh Bình bị úng lụt ông đã cùng dân bản hạt ra sức lo liệu sửa sang Bấy giờ ông làm Tuần phủ, tôi cùng ông nâng chén bàn luận văn chương chỉ thề với non sông Khi ông giữ chức Tổng đốc Hà Nội thì tôi làm nhiệm vụ canh giữ miền biển, ở cách xa nhau hơn trăm dặm Nhân khi ông có việc phải đi, nên mùa đông năm ngoái tôi được gặp ông một tối Còn thư từ trao đổi với nhau chẳng sao kể hết Trước khi ông tuẫn tiết hai ngày, tôi nhận được mật thư ông, thấy rõ lời nói ông lúc bình sinh.

Đó là một hành động cao cả vậy! Chẳng phải nói rằng sự việc đã khó lại càng khó Thế là một đêm tâm sự cùng nhau bỗng hóa thành thiên cổ! Thật là khó lường được trời, khó rõ được thần linh! Buồn thay! Vậy là cái chết của bậc bề tôi, là khó nói Sự việc đúng sai tự nó sẽ có công luận, sự thành bại chẳng bàn luận làm

gì Cũng có những người cảm khái việc này hay chỉ có bậc sĩ đại phu?

Tôi ở phên dậu phía Nam, luôn luôn kính trọng ông Phu nhân ông tất không nhường bậc hiền sĩ Bà chẳng phải là người dẹp loạn Náo Xỉ 1 Ông chẳng phải là Tôn Hành Giả mà là hiếu tử, là trung thần Sự an

ủi đêm ngày, niềm ngưỡng vọng luôn treo trước mắt Sự đời qua rồi mà tấm lòng như nhau vậy Ôi! Cảm khái thay!

Ông có ba anh em Người em thứ làm án sát tỉnh Quảng Bình, người em út làm Huyện đoàn Châu Ninh 2 Năm ngoái ông đã xin cho người em thứ về phụng dưỡng cha già Đó là kế dự phòng cho hôm nay Ông yên tâm rồi, gia đình đã có em phụng sự thần hôn Việc nước có em út đêm ngày lo liệu Tâm chí ông được yên lòng mà linh sàng ông dưới chín suối cũng được an ủi vậy Tôi mong đợi sâu sắc ở hai người em ông; đó là

sự khích lệ đối với ông.

Linh hồn ông biết chăng, hẳn cũng đang ngậm cười Tôi cũng đang nén lòng buồn thương, lại có lời an ủi ông.

Khi hà cương nhị hà đại,

Tiết hà khổ nhị hà trinh.

Hà ngư nhi hương dục, hề nghi hùng thị dinh

Hà Sơn thi thậm trọng, hề nhi nao thị khinh

Duy kỳ nghĩa hề, ngô thư nhân hề

Ngô thành cô bất tri ái than chi quý, thân chi vi vinh,

Sở di: Hưng vong giả thanh

Bất hủ giả danh

Chiêu hồ quán nhật nguyệt, bại hồ tái thương minh

Công chí trung tức cung chi hiếu

Công chi tử do công chi sinh

Hựu huyệt yên khắp thê nhiên linh

Hiệu nhi nữ chi thương tích

Nhi bất hộ nhiên kỳ tam tự chi hình giả dã!

2 Tức Phạm Phú Thứ, hiệu Trúc Đường (1820-1880), người làng Đông Bàn, huyện Diên Phước, Quảng Nam, đậu Hội nguyên Tiến

sĩ khoa Quý Hợi (1843) làm quan đến Hộ bộ Thượng thư Năm 1863 làm Phó sứ sang Pháp.

1 ý so sánh với việc Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất (1873).

1 Tên một dòng họ của nước Sở Tướng của nước Sở tên là Náo Xỉ Về sau Náo Xỉ làm loạn thế nào, chưa tra cứu được.

2 Châu Ninh nay là huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Trang 7

Dịch nghĩa:

Không gì lớn bằng, cứng cỏi bằng khí phách,

Không gì kiên định bằng, hết lòng bằng khí tiết trung trinh

Cá muốn bơi về đâu chừ mà gấu làm ổ,

Núi nào nặng chừ mà lòng nhẹ tênh.

Chi "Nghĩa" này ta giữ "Nhân" này ta thành

Cho nên chết yên thân mình là quý, tham sống là vinh

Quyết sống chết với thành

Bất hủ ấy là danh.

Gương sáng soi vùng nhật nguyệt, tràn đầy cõi thương minh

Lòng trung của ông tức là lòng hiếu của ông

Ông mất tức ông sống mãi

Tôi sụt sùi khóc ông như máu chảy ròng

Như nhi nữ thường tình

Mà ràng buộc vào sự tam tụ của thân hình

Sau khi hạ được thành Hà Nội, thực dân Pháp cấp tốc buộc Tự Đức phải ký Hòa ước nhận cho chúng

đóng 600 quân ở Hà Nội cho tàu chiến của chúng "đi lại tự do khắp nơi và chúng giữ độc quyền thương

chính" Nếu Tự Đức thỏa mãn những yêu cầu trên thì "đã đủ để đặt sự bảo hộ của Pháp hoàn toàn trên đất Việt Nam, ít nhất là trên Bắc Kỳ" 1

Quân Pháp biết triều đình Huế đang khiếp nhược, Hăngri Rivie liền cho tàu chiến vào cửa Thuận An uyhiếp kinh thành Huế, nhưng lại báo cho triều đình Huế, y sẽ trả lại Hà Nội

Triều đình Huế nhận được tin mất thành Hà Nội thì vô cùng khiếp sợ, chưa biết tính sao Khi nghe tinHăngri Rivie trả lại thành, Tự Đức đã ngu ngốc tin ngay vào lời hứa hão huyền của giặc, nên cử Trần ĐìnhTúc và Nguyễn Hữu Độ theo chiến hạm của chúng ra Hà Nội thương lượng vào nhận thành

Trần Đình Túc, Nguyễn Hữu Độ tuy đứng về phe chủ hòa (tức là phe đầu hàng mà Tự Đức cầm đầu), nhưngkhi tiếp xúc, các ông đã thấy rõ dã tâm xâm lược của giặc Pháp và các ông cũng chứng kiến tinh thần khángchiến mãnh liệt của nhân dân Bắc Kỳ, nên khi trở về đã tâu với Tự Đức, hoặc phải dốc lực lượng toàn quốc rađuổi, hoặc phái người đi Paris, đi Sài Gòn mà trách hỏi (!?) Tự Đức kẻ đầu hàng đó kiên quyết không cho đánh,không đi Pháp hay Sài Gòn mà thương thuyết ngay với viên Pháp với điều kiện thỏa mãn mọi yêu cầu của thựcdân Pháp

Tự Đức đã dụ cho Hoàng Tá Viêm phải đuổi ngay đoàn quân của Lưu Vĩnh Phúc theo yêu cầu của Pháp, bắtNguyễn Hữu Độ tới nơi đóng quân của Hoàng Tá Viêm buộc Viêm phải thực hiện, bắt các tỉnh phải giải tán

ngay binh dũng: "không được trù trừ nước đôi rồi đến hỏng việc".

Nhưng Hoàng Tá Viêm cùng các tướng lĩnh phe chủ chiến không tuân dụ vẫn cùng Lưu Vĩnh Phúc chuẩn

bị binh lực áp sát Hà Nội sẵn sàng chiến đấu

Nhân dân Hà Nội thành lập nhiều đội nghĩa binh phối hợp với quân triều đình sẵn sàng đánh Pháp, nhândân Hà Nội không bán hàng, không bán lương thực cho Pháp, Pháp phải nhờ thương nhân Hoa kiều và giáodân lo cho việc này

Không khí chiến đấu trong quân đội và nghĩa quân, nhân dân Hà Nội ngày càng sôi sục chờ ngày giội bãolửa xuống đầu giặc

Theo chính sử triều Nguyễn:

"Người Pháp hạ thành Hà Nội, Tổng đốc là Hoàng Diệu tự tử.

Lúc bấy giờ người Pháp phái tàu binh đến thêm ở

Cơ Xá và hằng ngày khiêu khích (Phái viên nước Pháp, hằng ngày đem quân đeo khí giới đi lại ở ngoài thành, nói phao tin là vào đóng trong thành), Diệu phải phòng bị nghiêm ngặt Phái viên nước Pháp tất muốn đều triệt bỏ cả Diệu không nghe Sáng sớm ngày mồng 8, người Pháp cho đưa chiến thư, Diệu ủy án sát Tôn Thất Bá ra ngoài thành để thương thuyết, Bá vừa ra khỏi thành, quân Pháp đã bắn ngay tấn công thành, Diệu cùng Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng chia đường đốc thúc quân lính chống Pháp rất lâu, quân ta và quân Pháp đều có bị thương và chết Chợt thấy kho thuốc súng phá, quân ta rối loạn, quân Pháp bắc thang lên thành, thành bèn bị mất (chống nhau từ giờ Mão đến giờ Mùi mới mất), Diệu đi lẫn vào trong đám quân hỗn loạn, một mình đến trước đền Quan Công (ở ngoài tường ngăn trong thành), thắt cổ ở dưới gốc cây to Đề đốc Lê Văn Trinh, Bố chính Phan Văn Tuyển, Lãnh binh quan Lê Trực, Phó lãnh binh quan Hồ Văn Phong, Nguyễn

1 Correspoudance politique du commandant Rivière au Tonkin A Massou, trang 84.

Trang 8

Đình Đường đều chạy cả Ngay lúc ấy Hữu Xứng đi tìm hỏi Diệu, không biết Diệu ở đâu, bèn vào thềm bên tả hành cung, bỗng bị phái viên nước Pháp bắt giữ (Phái viên nước Pháp muốn lấy lễ độ dụ Xứng, Xứng không chịu khuất phục, chửi mắng hắn, cũng không bị giết rồi sai đem Xứng về dinh tuần phủ cũ giam lại), sau rồi phái viên nước Pháp đón Bá về (Bá chạy đến xã Nhân Mục) giao tỉnh thành cho, Bá vào thành cùng với Hữu Xứng, Xứng có bàn tạm nhận (Lúc ấy Hữu Xứng đã nhịn ăn thành ốm, Bá mời vào, Hữu Xứng chối ngay, Bá hai lần khóc nói sự lợi hại Hữu Xứng lại nghĩ không tạm nhận sợ thêm khó, nhân cũng gượng dậy nghe theo, nhưng bàn do Bá nhận một mình, mà cùng ký tên tự cho Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chính cùng các tỉnh láng giềng xem thế có thể thừa cơ được, nên làm ngay thì làm, chớ lấy nhận thành làm ngại, và đem việc ấy nhận tội tâu lên), nhưng quân Pháp vẫn đóng giữ ở hành cung" 1

Sử triều Nguyễn chép: Tháng 4 Nhâm Ngọ "Vua cho tế Tổng đốc Hà Ninh là Hoàng Diệu và cho 100 quan

tiền Vua bảo rằng: Hoàng Diệu hết lòng trung, chết vì tử tiết, nghĩa hơn hẳn bè lũ, Trẫm rất thương tiếc, sai quan tỉnh Quảng Nam ban tế 1 tuần để yên ủi hồng trung một chút và cấp tiền 100 quan để nuôi mẹ viên ấy

và chi việc đám ma" Tháng 5 "vua dụ rằng: vừa rồi Hà Thành có việc, Hoàng Diệu thề quyết chí cố giữ, thà chết không hai lòng, các quan chính nên cố sức làm việc đến chết, mới hợp nghĩa hiến thân cho nước, thế mà hết lòng trung chết vì tiết nghĩa chỉ có một mình Hoàng Diệu Bọn Lê Văn Trinh đều là quan to một tỉnh, sợ chết tham sống bỏ thành chạy trốn, Phan Văn Tuyển lại trốn trước đến Sơn Tây thì hèn nhát bất tài quá lắm, Hoàng Hữu Xứng tuy không ra khỏi thành nhưng không biết cùng sống thác với thành Tôn Thất Bá ra ngoài thành thương thuyết lại cùng với chúng dần dà trốn khéo, quan giữ đất đai gặp khi hoạn nạn há nên như thế Đều phải cách chức tước, trói giải ngay về kinh xét rõ để tỏ rõ phép luật Còn quản xuất giữ thành và quan phủ huyện, thông phán, kinh lịch giao

cả cho đốc phủ mới xét rõ tâu lên (Sau đến năm Tự Đức thứ 36 (1883) tháng 11 nghị chuẩn cho Diệu được bày thờ ở đền Trung Nghĩa Bọn Xứng đều cách chức cho làm việc chuộc tội (sau đều cho khai phục) Tuyển phải cách chức về quê chịu sai dịch".

1 Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, tập XXXV, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974, tr 108-109.

Trang 9

Cử nhân Nguyễn Đồng

Ngày 3 tháng 4 năm 1882, quân Pháp do Hăngri Rivie đổ bộ vào Hà Nội, Tổng đốc Hoàng Diệu

chưa có lệnh của triều đình nên chưa dám đánh ngay, mà chỉ tăng cường củng cố thành trì đợi lệnh Trướccảnh giặc Pháp tràn vào, nhân dân thành Hà Nội không khoanh tay ngồi nhìn Noi gương Bá hộ Trần ChíThiện, Hào mục Nguyễn Văn Hổ cùng hai con trai, tú tài Phạm Lý, trong lần quân Pháp hạ thành Hà Nội lầnthứ nhất đã giương cao ngọn cờ đánh Pháp và đều anh dũng hy sinh

Với truyền thống "Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh" các tầng lớp cư dân Hà Nội từ người buôn bán, làm

nghề thủ công, làm thuê, các thư sinh khắp các phố phường đông tới nghìn người đã tự vũ trang và Cử ôngNguyễn Đồng, cử nhân võ, người ở phường Bích Câu làm tổng chỉ huy lực lượng dân binh

Ông Nguyễn Đồng khi đó tuổi đã ngoài 50, nhưng là người bộc trực nghĩa khí, từ xưa tới nay vẫn nổi tiếng

là bậc: "Anh hùng tiếng đã gọi rằng, ra đường thấy việc bất bình chẳng tha!", đã khẳng khái nhận lời ủy thác

của nhân dân đứng ra tổ chức nghĩa binh Vốn là con nhà võ, từng chỉ huy quân lính đánh trận, ông hiểu rõ,đánh thắng giặc chỉ có lòng dũng khí không chưa đủ mà còn phải là người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, phải có vũkhí, phải biết tiến lui Vì vậy, ông chọn trong số những người tình nguyện trẻ tuổi có vũ khí, mở lớp huấnluyện cấp tốc dạy thế tiến, lui, cách lợi dụng vật cản che khuất và vật cản tránh đạn Ông còn hướng dẫn cácphương pháp hành quân như khi còn cách xa địch có thể chạy, khi gần địch thì cúi lom khom, khi giáp địch thìphải bò, toài để giữ bí mật, bất ngờ xông ra giết giặc Đối với những người già yếu Nguyễn Đồng xếp vào lựclượng trợ chiến Khi đội quân trai tráng xung trận, thì lực lượng này đi theo, nhưng không lộ mặt, chỉ reo hò, gõchiêng trống uy hiếp giặc, cổ vũ tinh thần quân ta Đây cũng là lực lượng hậu cần lo tiếp tế lực lượng tải thương,xây dựng công sự chiến đấu

Vì việc gấp rút nên từ việc tổ chức biên chế, huấn luyện quân sự cho trên 400 nghĩa binh chỉ diễn ratrong vài ngày Song số người không được tuyển chọn cũng hăng hái xin ra luyện tập, đã đưa quân số lêngần 1000 người Cũng vào thời gian đó, Hăngri Rivie ráo riết chuẩn bị đánh thành Cử nhân Nguyễn Đồngtập hợp quân ở đình Quảng Văn1 rồi kéo quân đến cửa Nam thành Hà Nội xin Tổng đốc Hoàng Diệu điềuđộng lực lượng nghĩa binh đi đánh giặc

Khi đó, Tổng đốc Hoàng Diệu đã cho bịt kín các cửa thành, việc đi lại giữa trong và ngoài thành đều dùngthang dây Tổng đốc thân lên mặt thành khen ngợi tinh thần chiến đấu xả thân vì nước của đạo dân binh đôngtới nghìn người do cử nhân Nguyễn Đồng chỉ huy Tổng đốc yêu cầu ông cử về chấn chỉnh đội ngũ, trang bịthêm vũ khí để khi quân Pháp tấn công thành thì đem quân đánh tập hậu, gây rối loạn đội hình giặc, đồng thờingả cây, dựng chướng ngại vật cản đường quân giặc

Tổng đốc cũng tặng đội dân binh một số súng để tăng thêm nhuệ khí cho dân binh Cử Đồng nhận lệnh củaTổng đốc đưa quân về các phố phường, chia quân đóng giữ những nơi hiểm yếu Nhân dân Hà thành đem gạo,thịt ủng hộ đội dân binh Các cụ già cũng đến các đình, chùa, đền, miếu mượn chiêng, trống, mõ phân phátcho dân để khi giặc tấn công thì đánh lên để hư trương thanh thế

Cử Đồng cũng không quên chia quân chủ động tấn công vào số giáo dân quá khích nghe lời xúi giục củamột số gián điệp đội lốt cố đạo tập hợp thành các toán vũ trang đi cướp bóc, đốt phá các phủ huyện, các khuphố sầm uất, cướp đoạt của cải của nhân dân

Ngày 25 tháng 4 năm 1882, quân Pháp tấn công thành Hà Nội thì ông Cử Đồng chỉ huy gần 1.000 dânbinh đánh vào sau lưng quân Pháp, tiêu diệt đám dân làm tay sai cho giặc Nhân dân gõ chiêng, trống, mõ,thổi tù và trợ chiến cho quan quân trong thành Nhân dân Hà Nội bên ngoài ô cửa Nam, cửa Bắc còn tự tayđốt các dãy phố của mình tạo thành bức rào lửa ngăn cản giặc

Sự hỗ trợ của dân binh đã gây phấn khích cho quan quân trong thành và làm cho quân Pháp khiếp đảm Vìchúng đi tới đâu cũng nghe thấy tiếng reo hò, tiếng chiêng, trống, tiếng mõ, tiếng thanh la; Hăngri Rivie phảicho một đội quân quay trở lại bắn như đổ đạn vào lực lượng dân binh chỉ có giáo, mác, gậy gộc trong tay.Song ông Cử Đồng vẫn lợi dụng được sự thông thạo địa hình và sự dũng cảm của dân binh áp sát chân thành

để trợ chiến

Cuộc chiến của quân và dân trong và ngoài thành đang diễn ra quyết liệt thì kho thuốc súng trong thànhbốc cháy Quan quân hoảng sợ, một số vượt tường thành chạy ra ngoài Dân binh do ông Cử chỉ huy cũngnhanh chóng tan vỡ

Thành Hà Nội mất, Tổng đốc Hoàng Diệu tự tử Cử Đồng và nhiều dân binh về tham gia vào các lựclượng chống Pháp khác đang diễn ra trên địa bàn Hà Nội,

Sơn Tây

1 Nay khu vực đình Quảng Văn thuộc phường Cửa Nam, Hà Nội.

Trang 10

Ông Cai Trí, tức Suất đội Đỗ Đăng Lâm được Tổng đốc tin cậy giao cho việc vận chuyển, bảo vệ các hòmgiấy tờ, chiếu chỉ, bằng sắc công văn trên từ trong thành về huyện đường Vì quá cẩn thận, ông Cai Trí chohẳn một đội lính đi bảo vệ các hòm công văn trên Điều đó khiến cho bọn mật vụ của Lãnh sự Pháp ở ĐồnThủy và những giáo dân quá khích được Pháp vũ trang nghi ngờ đó là các hòm vàng bạc, nên chúng báo ngaycho Lãnh sự Pháp Vì vậy Lãnh sự Pháp coi huyện đường Thọ Xương cũng là một mục tiêu cho quân Pháptấn công.

8 giờ sáng ngày 25 tháng 4 năm 1882 tức mồng 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ, ba pháo thuyền của Pháp từ bờsông Hồng đua nhau nã đạn đại bác vào thành đến 10 giờ quân Pháp đổ bộ tấn công thành Hà Nội Cũng vàothời điểm đó Hăngri Rivie cho một cánh quân vài chục tên cùng đám dân quá khích được Pháp vũ trang và bọntrộm cướp đi theo để hôi của kéo đến trước huyện thành Thọ Xương

Trước thế mạnh và sự hung hăng của giặc Pháp cùng bọn tay sai, tri huyện, lục sự, thông phán, nha lạicùng một số lính sợ hãi bỏ nhiệm sở chạy thoát thân Mặc dù giặc cướp đông, trang bị súng bắn nhanh, tronghuyện thành chỉ còn lại hơn 20 lính cơ, ông Cai Trí cùng anh em vẫn quyết tử giữ thành Ông đem hết cơ sốđạn trong kho phân phát cho anh em, đóng chặt cổng, khuân hết bàn ghế, giường tủ ra làm công sự

Tên thông ngôn gọi loa uy hiếp Cai Trí và anh em lính cơ nếu đầu hàng nộp hết các hòm từ trong thànhchuyển ra sẽ được tha mạng Cai Trí biết rõ những hòm đó chứa đựng giấy tờ quan trọng nên dù chết cũng bảo

vệ tới cùng Bọn giặc không khuất phục được ông, liền nổ súng rồi cho bọn trộm cướp phá cổng Ông Cai Tríchỉ huy anh em ngoan cường đánh trả giặc Chỉ trong giờ đầu chiến đấu đã diệt được nhiều giặc, nhưng hơnmột chục anh em đã anh dũng hy sinh, đè lên xác giặc Ông Cai Trí cùng số anh em còn lại lùi vào côngđường giữ từng gian nhà Hết đạn, ông cùng anh em dùng đoản dao, dao găm đánh giáp lá cà và đã dũng cảm

hy sinh đến người cuối cùng

Giặc rút, nhân dân huyện thành Thọ Xương vô cùng thương tiếc ông và anh em quân sĩ đã làm lễ an tángtrọng thể Một nhà nho yêu nước viết văn tế:

"Đất nước chông gai,

Cuộc đời sóng gió

Trang 11

Dốc bầu máu đỏ.

Mệnh long hồng bay

Xác da ngựa bó

Sức cùng thế kiệt, gỗ một cây khôn chống nhà xiêu,

Sống đục, thác trong, đường hai ngả đã theo hướng rõ

Căm giặc giết giặc, hồn ông sống mãi với non sông,

Tiếc người kính người, lòng dân cảm sâu trong xóm ngõ

Lễ bạc kính dâng

Suối vàng chứng tỏ".

Điếu Cai Trí

"Quốc gia đa sự, nhục thực vô mưu, hành khan đại hao hà san, cảo mục quần di khu thiết ky;

Sự thế đáo đầu, trinh chung thủy hiệu, thùy liệu tiễn tri liền dịch, đĩnh thân nhất tử tuẫn cô thành":

Dịch:

Câu đối viếng ông Cai Trí

"Nước nhà lắm việc, bọn ăn thịt 1 vô mưu, buồn nhìn hoa gấm non sông, ngứa mắt quân thù giong ngựa sắt;

Sự thế đáo đầu, lòng tinh trung mới hiện, ai biết tôi đòi thân phận, liều mình một thác với thành côi" 1

Nhân dân huyện Thọ Xương nhớ ơn ông đã hy sinh cả thân mình chỉ huy quân lính đánh giặc, nên lập ngôimiếu nhỏ thờ ông Ngôi miếu nhỏ nhưng không ngày nào ngớt khói hương của nhân dân Hà thành đến thắphương cúng lễ, tưởng nhớ người anh hùng hy sinh vì nước, vì dân

Tự Đức có chỉ dụ truy tặng Suất đội Đỗ Đăng Lâm (ông Cai Trí) chức Phó quản cơ vì đã chống cự quyếtliệt cánh quân Pháp đánh chiếm thành huyện Thọ Xương; cùnglúc Hăngri Rivie hạ thành Hà Nội và ông Cai đã hy sinh anh dũng

Giặc Pháp sợ uy danh của ông, sợ nơi đây trở thành một lễ đài ghi công tích những người hy sinh đánhPháp, nên chúng cho bọn lưu manh đập phá miếu Miếu bị phá, nhưng dân vẫn thắp hương trên nền ngôimiếu cũ vì nhân dân Hà Nội vẫn hướng về ông như hướng về quan Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, quanTổng đốc Hoàng Diệu, ông Chưởng Cơ giữ cửa ô Thanh Hà (nay là ô Quan Chưởng) và biết bao liệt sĩkhác đã hy sinh bảo vệ thành Hà Nội2

Dương Hữu Quang - Đào Nhu

Trong trận quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai, ngày 25 tháng 4 năm 1882, Dương Hữu

Quang người làng Sơn Lộ (tên tục là làng So), tổng Đông Cứu, huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc

xã Tân Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; ông làm Tri huyện Thọ Xương, rồi Thương vụ quân sự

Hà Nội Khi quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, dưới sự chỉ huy của Tổng đốc Hoàng Diệu, ôngchiến đấu tới khi thành bị vỡ, mới thoát ra ngoài Giữa năm 1883, Dương Hữu Quang được cử giữ chứcPhòng binh tỉnh Sơn Tây, dưới quyền chỉ huy của Thống tướng Hoàng Kế Viêm1

Ngày 1 tháng 9 năm 1883, tướng Buê (Bouet) chỉ huy lực lượng quân viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ, đíchthân chỉ huy quân Pháp đánh thành Sơn Tây Hoàng Kế Viêm kết hợp với quân Cờ Đen do tướng Lưu VĩnhPhúc chỉ huy đón đánh quân Pháp ở Cầu Phùng Dương Hữu Quang được giao nhiệm vụ chỉ huy một cánhquân… đánh tạt sườn phía sông Hồng Trận đánh diễn ra ác liệt từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 9 năm 1883,quân Pháp đại bại phải tháo chạy Tướng Buê bị triệu hồi và bị cách chức

Sau chiến thắng ở Phùng, Dương Hữu Quang được lệnh của Thống tướng Hoàng Kế Viêm cùng cáctướng tăng cường phòng thủ tỉnh thành Sơn Tây

Trận đánh diễn ra mười ngày, quân Pháp và nghĩa quân đều bị thiệt hại nặng nề Sau khi thu thập tànquân, Dương Hữu Quang về ẩn náu ở chùa làng So, rồi mượn áo tu hành để chiêu mộ quân đánh Pháp, vìthế nhân dân gọi ông là Từ So Tại đây, Dương Hữu Quang thành lập Hội Tín Nghĩa tập hợp những ngườiyêu nước chống Pháp Chỉ trong một thời gian ngắn, ông thu thập được hơn 40 sĩ tốt là những người chiến

1 Chỉ bọn quan to ươn hèn bất tài.

1 Thơ văn yêu nước cuối thế kỷ XX.

2 Cảnh và người Hà Nội của Quang Đạm.

1 Còn gọi là Hoàng Tá Viêm.

Trang 12

đấu gan dạ ở thành Hà Nội, Cầu Phùng và thành Sơn Tây Song quân ít, vũ khí chỉ mới có hơn một chụckhẩu súng bắn nhanh, còn lại là gươm, giáo nên chưa xuất trận lần nào1.

Người gia nhập Hội Tín Nghĩa ngày càng đông, chẳng bao lâu, đội nghĩa binh lên đến vài trăm DươngHữu Quang trút bỏ áo nhà chùa mặc lại quần áo nhà binh, huấn luyện quân sĩ

Cô Đào Nhu là người làng Gồ, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây Cô là con một nhà nhothanh bạch Khi giặc Pháp hạ thành Sơn Tây, chúng tàn phá làng Gồ Nhà bị đốt cháy, tài sản bị cướp, côNhu phải đi hát rong kiếm tiền nuôi cha mẹ già, nhưng vẫn nung nấu chí căm thù giặc Pháp Đi tới đâuĐào Nhu cũng hát những bài ca yêu nước như bài "Sĩ tử Hà thành viếng Hoàng Diệu":

"Cô thành chống giữ một mình, thôi,

Khẳng khái như ông được mấy người

Sách cũ nghìn năm gương chiếu rọi

Cô thần một chết tấm trung phơi.

Sống thừa ngày nọ tâm còn thẹn

Giặc nghịch năm nào sợ rụng rời

Nghìn thuở núi Nùng nêu chính khí,

Anh hùng đến đấy, lệ tuôn rơi"1

Đào Nhu nghe tin Dương Hữu Quang là viên dũng tướng đã cùng Tổng đốc Hoàng Diệu chiến đấu giữthành Hà Nội Khi thành Hà Nội thất thủ, Dương Hữu Quang lại theo Hoàng Kế Viêm đánh quân Pháp ởPhùng, ở thành Sơn Tây, nay lại về làng So chiêu tập nghĩa binh đánh Pháp Đào Nhu liền đến trước trạicủa Dương Hữu Quang cất tiếng hát:

"Nước non Hồng Lạc còn đây mãi

Mặt mũi anh hùng há chịu ri

Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi

Sinh thời thế, phải xoay nên thời thế

Phùng xuân hội, may ra ừ cũng dễ

… ấy ai gắng sức đua tài

Rẽ mây phẩy gió quạt trời cho quang?"

Nghe tiếng hát du dương trầm bổng có khí phách của cô Đào đó, Dương Hữu Quang hỏi nghĩa quân:Người nào hát những lời ca rực lửa như vậy Quân sĩ trả lời đó là Đào Nhu Ông liền cho mời nàng vào háttrong trại Đào Nhu bước vào trại thấy trại này cũng chỉ bày biện như những nhà dân bình thường, nhưng

từ chủ tướng đến các trai tráng dưới quyền đều quắc thước, dáng đi hiên ngang, đầu ngẩng cao thì tin rằng

họ là những người anh hùng, quả cảm Sở dĩ họ chưa ra chiến trường là còn chờ thời cơ Qua mấy câu xãgiao mời trầu nước, Dương Hữu Quang trân trọng mời nàng hát, Đào Nhu khiêm tốn nhận lời, nàng hátnhưng vẫn không quên quan sát nét mặt người nghe:

"Non sông gió bụi

Khách anh hùng lầm lũi mãi sao?

Tới phen này xin kíp ra tay

Quét cho sạch lũ cáo cầy quấy rối"

Đào Nhu ngừng lại trong giây lát, nhìn thẳng vào Dương Hữu Quang chờ đợi sự phản ứng của người đãmời nàng hát Thật tình nàng và cả những hội viên Hội Tín Nghĩa không thể ngờ một viên dũng tướng, từngxông pha nơi mũi tên hòn đạn lại cất tiếng hát với giọng nam trầm quyến rũ:

"Một năm dễ mấy mùa xuân đổi

Gẫm đời ta mấy hội tao phùng

Non sông rửa mặt anh hùng,

Rút gươm huyết chiến lòng trung nước nhà

Quyết tâm đánh đuổi Lang sa

Cùng nàng hát tiếp bài ca khải hoàn".

1 Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập I (1858-1895) của Dương Kình Quốc, trang 220-221, viết về Dương Hữu Quang như

sau: "Dương Hữu Quang chiêu mộ được vài trăm nghĩa binh, thành lập "Tín Nghĩa Hội "; khởi binh tố cáo thực dân Pháp bội ước.

Khuyên mọi người không nên theo giặc, lãnh đạo nghĩa binh chống đánh giặc Pháp tại các địa phương Hà Nội, ứng Hòa, Thanh Oai

- Dương Hữu Quang nguyên tri huyện ứng Hòa.

1 Tập san Văn - Sử - Địa số 29.

Trang 13

Đào Nhu nghe được những lời tỏ bày tâm sự thì hiểu được lòng Dương Hữu Quang, nàng hát tiếp một bàinữa và nhấn mạnh vào hai câu cuối:

Mấy câu ái quốc hẹn hò,

Chữ đồng tâm ấy phải cho một lòng

Sau buổi hát đó, đôi trai tài, gái sắc có cảm tình với nhau, Dương Hữu Quang mời cô đến hát vài lần Haingười hát xướng ngày càng tâm đầu, ý hợp Tuy vậy Đào Nhu vẫn không kể hết gia cảnh của mình cho DươngHữu Quang nghe

Quân Pháp từ trong thành đem quân đánh nống ra ngoại thành Dương Hữu Quang hiểu cô lo cho cha

mẹ và các em, nếu vắng cô thì cuộc sống vô cùng khó khăn Ông liền thu xếp một nơi an toàn, chu cấp tiềnbạc cho gia đình cô sinh sống Sắp tới ngày khởi nghĩa thì Dương Hữu Quang và Đào Nhu làm lễ thànhhôn Quân sĩ và cư dân trong vùng đến chúc mừng đôi trai tài, gái sắc rất đông Lễ cưới còn là ngày hội cahát của nghĩa quân và nhân dân

Sau lễ cưới, nghĩa quân khẩn trương chuẩn bị chiến đấu Hội Tín Nghĩa do Dương Hữu Quang sáng lập cótới 5.000 hội viên, trong đó phần lớn được trang bị vũ khí Trong những ngày này quân sĩ khẩn trương luyệntập võ nghệ Đào Nhu cũng tập cưỡi ngựa, bắn súng, múa gươm Những khi nghỉ ngơi, cô lại cất cao tiếng hátkhích lệ tướng sĩ:

Gió nhanh thì sóng cũng mau

Chữ Tâm một phút đâu đâu cũng đầy.

Cờ độc lập xa trông phấp phới

Kéo nhau ra đòi lại nước nhà

Vào một ngày tại đình làng So, Dương Hữu Quang làm lễ Tế cờ ra quân đánh Pháp Dân làng hết thảy

từ phụ lão, tráng đinh đến trẻ thơ đều tới dự khích lệ đoàn quân, trong đó có con em mình ra trận

Đội quân của Dương Hữu Quang hoạt động mạnh ở nội thành Hà Nội và các huyện Từ Liêm, QuốcOai, Đan Phượng, Tùng Thiện Đội quân của ông trang bị kém xa quân Pháp, nhưng nhờ tinh thần quyếtchiến, quyết thắng, lại được nhân dân hết lòng ủng hộ, tiếp tế quân lương, thông tin các hoạt động củaquân Pháp, tố cáo bọn việt gian nên trận nào nghĩa quân cũng thắng Vì thế cứ mỗi trận chiến xảy ra thìnghĩa quân lại mạnh thêm, sĩ khí thêm hăng, tịch thu được nhiều súng đạn, quân trang của giặc

Đào Nhu do khổ công luyện tập và được Dương Hữu Quang tận tình chỉ bảo, nên nàng trở thành mộtchiến binh xuất sắc, được chủ tướng giao cho chỉ huy một đội quân trên 100 người Cô thường bất ngờ độtkích vào trại giặc giết lính, cướp súng mà toàn đội vẫn trở về an toàn

Cuối năm 1883, Dương Hữu Quang lập căn cứ chống Pháp ở xã Mễ Trì Người Mễ Trì và các xã biếttiếng Dương Hữu Quang và Đào Nhu nên tham gia rất đông Nghĩa quân do Đào Nhu chỉ huy đột kích vàothành Hà Nội bắt con đầm Berơ (Beire) là nữ gián điệp bán quán cà phê ở nội thành, đưa ra ngoài trừngphạt thích đáng, sau đó lại thả về gây nỗi kinh hoàng cho bọn gián điệp, thám báo

Vào một ngày giữa tháng 12 năm 1883, nghĩa quân được tin báo, tên tuần phủ Ninh Bình gửi biếu têncông sứ Pháp ở Hà Nội một con voi Dương Hữu Quang cho trinh sát đi nắm tình hình được biết bọn lính

hộ tống voi sẽ đi qua trạm Hà Mai, xã Thanh Liệt, ông liền đặt quân mai phục Đào Nhu cũng tham giatrận đánh này Nghĩa quân đã đánh tan tác bọn hộ tống voi, bắt được con voi

Bị mất voi, tên công sứ Pháp sai Đặng Văn Tại nguyên là đề đốc đầu hàng giặc về xã Mễ Trì lùng bắtnghĩa quân và đòi lại con voi Tên tay sai Đặng Văn Tại tập hợp dân làng bắt các cụ già phải nộp những ngườitham gia trận đánh bắt voi cho hắn Hắn ra điều kiện nếu Mễ Trì không giao nộp những người dự trận đánh

đó, chúng sẽ cho quân triệt hạ làng Một số cụ già, đàn bà và cả trẻ con xin hắn cho gia hạn để dân kịp thờichạy trốn Đặng Văn Tại không nghe, đánh đập các cụ già và phụ nữ Trước hành động dã man, tàn bạo của

tên việt gian đã cam tâm làm tay sai cho giặc, bức hại dân mình, từ trong đám đông, một tiếng hô lớn: "Đánh

chết lũ việt gian đi…" Lập tức dân làng dùng gậy gộc, dao, cuốc, gạch đá đánh trả bọn lính, khiến cho bọn

chúng không sao chống trả được, đứa nào cũng sứt đầu, mẻ trán, gãy tay, gãy chân, kêu khóc, lạy van xin thamạng Lập tức mấy người dân có võ xông vào lôi cổ tên Đặng Văn Tại xuống, dân làng xúm lại giết chết hắn.Bọn lính đứa bị chết, đứa bị thương nặng chỉ còn chừng một nửa nhưng thương tích đầy mình vội vàng tháochạy vào trong thành

Năm 1885, nghĩa quân đột nhập vào nội thành đánh bọn lính Pháp đua thuyền trên hồ Hoàn Kiếm dogiặc Pháp và tay sai tổ chức kỷ niệm 1 năm ký Hiệp ước 1884

Trang 14

Khi vùng xung quanh Hà Nội bị quân Pháp đóng nhiều đồn binh, lại có các toán quân lưu động liên tụcđánh phá nghĩa quân, triệt hạ những làng có nhiều người tham gia nghĩa quân và cho nghĩa quân đồn trú,Dương Hữu Quang chuyển địa bàn lên hoạt động ở tỉnh Sơn Tây Thanh thế nghĩa quân ngày càng mạnh,Đào Nhu được chủ tướng giao cho chỉ huy hơn 200 nghĩa quân, nàng đã nhiều trận độc lập tác chiến, thắngnhiều trận lớn Quân Pháp cho quân tới càn quét, đánh phá nghĩa quân liên tục, song nghĩa quân vẫn giànhđược nhiều thắng lợi, tiêu biểu là trận Ngãi Cầu.

Không đánh thắng được nghĩa quân Dương Hữu Quang trên chiến trường, giặc Pháp hèn hạ cho tênQuận vùng vốn là bạn với Dương Hữu Quang, đã ra đầu hàng nhận làm tay sai cho giặc Pháp nhưng chưa

lộ mặt Hắn mời Dương Hữu Quang sang nhà chơi rồi đặt quân mai phục ám hại Dương Hữu Quang nhậnđược lời mời, ông định đi thì các tướng khuyên nên cảnh giác đem quân đi hộ tống Dương Hữu Quang nóiQuận vùng là bạn bè đâu nỡ theo giặc hãm hại mình, nhưng vẫn nể các tướng đem theo 15 quân hộ vệ.Dương Hữu Quang đến nhà Quận vùng, hôm đó là ngày 22 tháng 5 năm Quý Mùi (cuối tháng 6-1884),Quận vùng hô phục binh đổ ra đánh Mặc dù lực lượng ít, quân sĩ không đem vũ khí chỉ có đoản đao vàdao găm lại bị bất ngờ, bị bao vây tứ phía, nhưng Dương Hữu Quang và các nghĩa binh đi hộ vệ đã kiêncường đánh trả bọn giặc, giết chết hơn ba mươi tên, nhưng nghĩa quân cũng hy sinh mất tám người DươngHữu Quang và các nghĩa quân còn lại cũng đều bị trọng thương Tuy vậy, anh em vẫn vừa đánh vừa phávòng vây Trên đường rút quân, Quận vùng cho quân đuổi theo, mặc dù thương tích đầy mình, anh em vẫnđánh trả, giết hơn một chục tên lính nữa Anh em đưa được chủ tướng về đại bản doanh thì chủ tướng đã

mê man bất tỉnh Quân sĩ vội vàng băng bó vết thương cho Dương Hữu Quang cùng các nghĩa sĩ và đi cấpbáo cho Đào Nhu biết tin

Đào Nhu đang cùng quân sĩ tập bắn súng mới cướp được của giặc Pháp liền như cơn gió lốc chạy vềđại bản doanh Nàng tới nơi thấy chủ tướng thương tích đầy mình liền nhào tới ôm vào lòng, lay gọi hồilâu nhưng chủ tướng vẫn mê man Nàng vô cùng đau sót vì Dương Hữu Quang vừa là thủ lĩnh lại vừa làngười bạn đời tâm đầu ý hợp, cùng chung ý chí Đào Nhu hỏi mấy nghĩa binh cũng bị thương mới được

đồng đội băng bó: "Chủ tướng đánh trăm trận, trăm thắng, làm sao đến nông nỗi này?" Mấy nghĩa binh

kể lại sự tình việc tên Quận vùng mời thủ lĩnh đến nhà hắn chơi) Thủ lĩnh không biết hắn đã đầu hànggiặc, nên bị phục binh của hắn đổ ra đánh giết Đào Nhu căm giận tên phản bội đến cực độ, nàng muốnđem ngay quân đi hỏi tội phản quốc của hắn Có lẽ được hơi ấm từ người vợ thân thương truyền sang.Dương Hữu Quang hồi tỉnh hé mắt nhìn nàng, miệng mấp máy Đào Nhu phải ghé sát tai vào miệng chồng

mới nghe chồng nói ngắt quãng qua hơi thở hổn hển: "Nàng hãy thay ta chỉ huy nghĩa quân tiếp tục đánh

đuổi giặc Pháp và trả mối thù này!".

Nàng nói trong nước mắt: "Em xin hứa thay chàng chỉ huy nghĩa quân đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi bờ

cõi và lấy đầu tên Quận vùng, trả mối thù này!" Dương Hữu Quang vẫy mấy viên tướng thân cận lại, ủy

thác cho họ giúp Đào Nhu chỉ huy nghĩa quân Các tướng nhất loạt tuân lệnh Dặn dò người vợ yêu quý từnay thay mình chỉ huy nghĩa quân và các tướng xong, Dương Hữu Quang gật đầu mãn nguyện rồi nhắmmắt, xuôi tay Đào Nhu khóc thét lên, ngất lịm bên chồng Các tướng phải dìu nàng đi phục thuốc, rồi tắm

cho chủ tướng Các bô lão và nhân dân Mễ Trì, nhândân làng So và các làng trong vùng nghe tin Thủ lĩnh nghĩa quân Dương Hữu Quang mà họ gọi thân mật là

"Thầy Tự So" hy sinh đều kéo tới doanh trại tỏ lòng thương tiếc và hứa với Đào Nhu vẫn tiếp tục ủng hộ

nghĩa quân đánh Pháp

Tang lễ Thủ lĩnh nghĩa quân Dương Hữu Quang được tổ chức rất trọng thể, toàn thể tướng lĩnh và quân

sĩ đều đội khăn tang, nhân dân trong vùng kéo đến dự rất đông và không cầm được nước mắt Thủ lĩnh cáccuộc khởi nghĩa khác ở tỉnh Hà Nội, Sơn Tây, Hà Đông đều tới phúng viếng và nguyện liên kết với chủtướng mới Đào Nhu đánh Pháp Trước khi phát tang toàn thể tướng lĩnh đã suy tôn Đào Nhu lên giữ chứcchủ tướng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Đào Nhu trân trọng bước đến trước linh cữu chủ tướng cũng là chồng

mình tuốt gươm ra khỏi vỏ chỉ thẳng lên trời cao lồng lộng thề trước anh linh thủ lĩnh và tướng sĩ: " Thủ

lĩnh đã hy sinh vì nước, vì dân, chúng tôi nguyện làm nốt sự nghiệp vẻ vang đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi

bờ cõi, thề tiễu trừ bọn Việt gian phản nghịch trong đó có tên Quận vùng để giành lại non sông, xin thủ lĩnh thanh thản ra đi và phù hộ độ trì cho nghĩa quân ra quân là đánh thắng " Sau lời thề đó các tướng sĩ,

nghĩa quân và nhân dân lần lượt lên thắp hương khấn vái vị thủ lĩnh đã hy sinh vì nước Quân và dân antáng thủ lĩnh trên khu đất cao gần doanh trại, nhưng đến đêm lại chuyển đi nơi khác để phòng giặc Phápđến phá

Trang 15

Sau lễ an táng thủ lĩnh, Đào Nhu cùng các tướng biết chắc quân Pháp và tay sai sẽ đem quân tới đánhhòng tiêu diệt hoàn toàn nghĩa quân, nên đã củng cố công sự, rào thêm mấy lớp rào, khơi sâu hào Quân sĩcũng được luyện tập khẩn trương hơn trước.

Đào Nhu không phụ lòng tin của tướng sĩ, ba quân đã chỉ huy nghĩa quân đánh thắng nhiều trận lớn.Cũng như chồng trước đây, trước khi đánh đồn, Đào Nhu cho quân trinh sát để nắm chắc quân số, vũ khí,

sự bố phòng cũng như những hoạt động của quân giặc Khi ra trận Đào Nhu đều dẫn đầu quân sĩ xông vàođồn giặc Song có một điều khiến Đào Nhu vẫn không vui, vì Quận vùng không dám ra nghênh chiến Bàbiết không phải Quận vùng sợ bà mà tâm địa độc ác của hắn là sắp xếp trận đánh như thế nào đó để bắtsống được bà làm nhục bà vì thế Đào Nhu càng quyết tâm tiêu diệt bằng được tên chó săn trung thành củagiặc Pháp này Đào Nhu cho quân xây dựng đồn lũy kiên cố, trong hào, ngoài lũy Lũy tre bao quanh làng

Mễ Trì vốn đã dày lại được trồng thêm; còn hào được đào sâu hơn, bên dưới cắm chông nhọn, trên thả bèo

để ngụy trang Tất cả các đường làng đều đào hố sâu, trên trải phên nứa rồi rải đất lên trên nguỵ trang.Nhân dân đã được báo trước nên không đi qua, không dắt trâu bò qua những cạm bẫy đó

Xung quanh làng là ruộng ngô đã thu hoạch, bà cho dân phát cây, để cách mặt đất chừng một gang tay, vạt nhọn biến ruộng ngô thành ngàn vạn mũi chông nhọn sắc

Trận địa bố trí xong, Đào Nhu cho quân khiêu chiến rồi giả thua rút vào làng, Quận vùng ra vẻ đắcthắng cho lính tràn vào làng Đào Nhu ngồi ở chính giữa bản doanh, mặc bộ quân phục của chồng, lưngđao trường kiếm, tay cầm giáo dài trông uy nghi lẫm liệt Đào Nhu chỉ mặt Quận vùng mắng nhiếc là đồviệt gian phản quốc, bán nước cầu vinh Quận vùng hô lính xông vào định bắt sống thì Đào Nhu gõ batiếng vào chiếc cồng treo ở bên cạnh, lập tức nghĩa quân và cả nhân dân, những người đàn ông, đàn bàvốn hiền lành chất phác từ các nơi phục kích xông ra chém giết quân giặc Quân ta bịt các đường đibuộc bọn lính phải chạy vào vùng "tử địa" Lập tức chúng bị sa xuống hố chông, đứa chết, đứa giãygiụa kêu la Những tên khác thì bị nghĩa quân, nhân dân chặn bắt, đánh giết không ghê tay Bọn línhchạy thoát khỏi mặt trận thiên la địa võng trong làng, ra cánh đồng lại bị ngàn vạn mũi chông ngô đâmvào, chúng đành chịu chết chém và bắt sống Riêng Quận vùng phóng ngựa chạy khỏi làng không dámquay đầu lại Đào Nhu tay cương, tay giáo đuổi riết Đuổi mãi tới gần núi Ba Vì, Đào Nhu mới phónggiáo giết chết hắn

Trong giây phút hỗn chiến, quân sĩ không thấy chủ tướng chia nhau đi tìm thì thấy chủ tướng đưa đầutên phản bội Tổ quốc về Đào Nhu thiết lập đàn ngay ở giữa quân doanh đem đầu tên phản bội tế chồng.Đào Nhu chỉ huy nghĩa quân hoạt động ở Hà Nội, Sơn Tây được hơn một năm Khi quân Pháp tăngcường các cuộc vây ráp, đóng đồn binh, đàn áp tàn khốc các làng có nghĩa quân đóng, Đào Nhu phải đưaquân lên hoạt động ở vùng rừng núi huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

Một hôm Đào Nhu về làng Sơn Lộ thăm mộ chồng, tên cường hào Vương Hữu Đài báo cho Pháp đưaquân đến vây bắt Quân Pháp vây kín làng, nhưng Đào Nhu cùng mấy nữ quân tránh mũi chủ công củachúng, phá vây ở nơi chúng sơ hở Trước khi rút Đào Nhu còn để lại mấy câu thơ viết đĩnh đạc trên giấyghim ở cổng làng

Ký ngữ Vương Hữu Đài,

Tâm tử châu khả ai!

Bất dục ô ngô nhận,

Lưu đãi quốc dân tài.

(Tập san Văn - Sử - Địa số 35 tháng 12 - 1957)

Dịch nghĩa:

Nhắn bảo Vương Hữu Đài,

Lòng đã chết rồi thật đáng thương!

Không muốn làm bẩn lưỡi kiếm của ta,

Để đó đợi quốc dân xét xử.

Đào Nhu duy trì cuộc khởi nghĩa được hơn 2 năm nữa thì quân Pháp điều động lực lượng lớn quân độiđến bao vây, đánh phá, nghĩa quân tan rã, Đào Nhu phải lánh sang Trung Quốc, về sau không rõ bà mất ởđâu, thời gian nào

Trang 16

Ba giai

Ba Giai tên thật là Nguyễn Văn Giai, còn gọi là Nguyễn Như Giai, sinh khoảng năm 1850,

người làng Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận, sau đổi là huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông, nay thuộc phường

Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Điều này được phả tộc họ Nguyễn ở làng Bưởi xác nhận: " Họ

Nguyễn từ khi ở Liên Châu, Yên Lạc, Vĩnh Phúc đến cư trú ở Hồ Khẩu đến nay là 16 đời Đối chiếu phả

hệ, thì cụ Ba Giai là đời thứ chín Cụ là con trai thứ ba của cụ Nguyễn Đình Báu, tên là Giai, đệm Như, gọi là Nguyễn Như Giai vì cụ là con "giai" thứ ba, nên gọi là Ba Giai".

Tộc phả viết tiếp:

"Vào năm Tự Đức thứ 30 (Đinh Sửu), cụ Nguyễn Đình Lẫm tự là Tuệ Tâm, sinh ngày 29 tháng 10 năm

Nhâm Thân (1812), soạn Tộc phả Cụ Nguyễn Như Giai đề tựa".

Từ thuở nhỏ, Ba Giai đã thông minh, học giỏi, hay chữ, học trường Đại Tập của cụ cử phường Kim Cổcủa cử nhân Tiến Song Ngô Văn Dạng Ba Giai có biệt tài làm thơ Nôm, hầu như xuất khẩu thành thơ, màhầu hết là thơ châm biếm, đả kích từ hồi ông còn để chỏm Ba Giai đả kích không chừa một ai từ quan đếndân Tương truyền khi ông đi qua chùa Quan Thượng, tên chữ là Liên Trì Hải Hội do Nguyễn Đăng Giaihưng công xây dựng Ba Giai tuy còn nhỏ tuổi nhưng cũng được nghe quan Kinh lược Nguyễn Đăng Giai

là kẻ đục khoét, vơ vét của dân, nên nhân chuyện Nguyễn Đăng Giai đứng ra hưng công chùa Liên Trì Hải

Hội 1 liền viết lên tường chùa bài thơ đả kích:

Phúc đức gì mày, bố đĩ Giai

Làm cho tổn Bắc lại hao Đoài!

Kìa Lương Vũ đế gương còn đó

Chết đói Đài Thành, Phật cứu ai…?

Bọn lính canh không biết chữ, nên chẳng hiểu ông viết gì, chỉ thấy bôi bẩn lên tường liền xua đuổi cậu đi.Cậu không chịu đi, thế là xảy ra cãi vã ầm ĩ Kinh lược sứ Nguyễn Đăng Giai đương đứng gần đó chạy đếnxem, thấy đứa bé viết như vậy thì tức giận thét:

- Mày là thằng trẻ con, mà dám viết về quan Kinh lược như vậy hay sao?

Ba Giai chống chế:

- Bẩm quan lớn, con tên là Giai, bố đĩ Giai là tên bố con, đây là con viết bố con ở nhà

Quan Thượng biết là Ba Giai chửi xỏ mình, nhưng không có cớ bắt, vả lại đây cũng là cậu bé thôngminh, liền nói:

- Bố mày không có ở đây, chỉ có tao ở đây, mày phải chữa cho phải lẽ, nếu không tao đánh đòn

Ba Giai liền viết ngay ra bên cạnh:

Phúc đức ai bằng cụ Thượng Giai

Làm chùa bên Bắc lại bên Đoài!

Nam mô tế độ nhờ ơn Phật

Lộc thọ song toàn chẳng kém ai ?

Ba Giai thi đỗ sinh đồ (Tú tài), nhưng tính tình ông phóng khoáng, không chịu gò bó nên ông không ralàm quan hoặc học tiếp để thi đỗ cử nhân, phó bảng Ông lập xưởng in sách - đây là một hành động sáng

tạo và táo bạo vào thời đó - với tên là Xưởng in Quảng Văn, in sách Tam tự kinh và một số sách khác tại

nhà để giao du với bạn bè, thưởng thức văn chương và bàn cả chuyện quốc sự, mà vào thời đó nhiều ngườilảng tránh

Ba Giai chơi thân với Nguyễn Đình Xuất là con ông Đốc học Hà Nội, quê ở xã Phương Trung, huyệnThanh Oai, tỉnh Hà Đông xưa Vì ông đỗ tú tài nên còn gọi là Tú Xuất ở Hà Nội có rất nhiều truyền thuyết

về Ba Giai - Tú Xuất làm thơ đả kích bọn quan lại nịnh Tây, tàn bạo, tham nhũng, ức hiếp dân, bọn nhà

1 Còn gọi là chùa Cửu Tỉnh, Sùng Hưng, Liên Hoa ở bờ hồ Hoàn Kiếm, đã bị giặc Pháp phá năm 1889 để xây nhà Bưu điện.

Trang 17

giàu keo kiệt, những cậu ấm, cô chiêu hợm hĩnh, những cô gái bán hàng chua ngoa, bọn thương nhân keo

kiệt cho vay nặng lãi Vì vậy Hà Nội có câu: "Thứ nhất Ba Giai, thứ hai Tú Xuất".

Chuyện về Ba Giai, Tú Xuất đã có nhiều sách in, nhưng chủ yếu là truyện cười, truyện đả kích Điển hình

như các bài: "Quan Bố trụt thành", "Quan án Tây thương", "Quan Đề bất tử", "Quan tuần phát ốm"

Một điều đáng trân trọng hơn nữa là sau sự kiện bi thảm ngày 25 tháng 4 năm 1882, thành Hà Nội thất

thủ vào tay giặc Pháp, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, Ba Giai đã kịp thời sáng tác "Hà Thành chính khí

ca"1 Bài này được sáng tác nhằm đề cao chính khí của Tổng đốc Hoàng Diệu, lên án giặc Pháp xâm lược

và đám quan lại hèn nhát đầu hàng giặc Pháp như Đề đốc Lê Văn Trinh, Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, Bốchánh Phan Văn Tuyển và án sát Tôn Thất Bá

Nếu quan lại nào cũng có tinh thần quyết chiến như Tổng đốc Hoàng Diệu thì Hà Nội đâu có mất vàotay giặc Pháp một cách nhanh chóng và dễ dàng như vậy Tác giả ca ngợi Hoàng Diệu đã vì nước, vì dânchiến đấu ngoan cường, thành mất thì mất theo thành:

"… Có quan tổng đốc Hà Ninh

Hiệu là Quang Viễn 2 trung trinh ai bằng

Lâm nguy 3 , lý hiểm đã từng

Vâng ra trọng trấn mới chừng ba năm

Thôn Hồ 1 ma vốn nhăm nhăm

Ngoài tuy giao tiếp trong căm những là

Vừa năm Nhâm Ngọ tháng ba2

Sáng mai mồng tám bước qua giờ Thìn 3

Biết cơ trước đã giữ gìn

Hơn trăm vũ sĩ, vài nghìn tinh binh".

Cuộc chiến đấu do Hoàng Diệu chỉ huy diễn ra quyết liệt Nhân dân Hà Nội reo hò đánh chiêng, trốnghưởng ứng, hỗ trợ cho quan quân trong thành đánh giặc Quan quân phấn chấn giữ vững cửa Tây, cửa Bắc

là hai nơi quân Pháp tập trung binh lực tấn công Bất chợt kho thuốc đạn cháy4 khiến quan quân hoangmang bỏ chạy Quân Pháp dùng thuốc nổ mở Cửa Bắc và vào thành Song Nguyễn Đình Trọng còn gọi là

Cử Tấn đỗ phó bảng võ, vệ sĩ của Tổng đốc cùng các ông Trần Lộc, người làng Nghè, Bếp Bốn người làng

An Phú đều ở huyện Từ Liêm theo sát Tổng đốc, tả xung, hữu đột đánh giặc Ông Lộc và ông Bốn hy sinh.Thế giặc ngày càng mạnh, quân ta chạy tan tác Tổng đốc Hoàng Diệu vào Võ Miếu tuẫn tiết, đã được tácgiả mô tả là trời đất cũng cảm thương người anh hùng tuẫn tiết vì nước:

Một cơn gió thảm mưa sầu,

Nấu nung gan sắt dãi dầu lòng son

Chữ trung còn chút con con

Quyết đem gửi cái tàn hồn gốc cây

Trời cao biển rộng đất dày

Núi Nùng 1 , sông Nhị chốn này làm ghi 2

Đối với giặc Pháp xâm lược, tác giả gọi chúng là "bạch quỷ":

Lửa phun súng phát bốn bề

Khiến loài bạch quỷ, hồn lìa, phách xiêu

1 Có nhiều cuộc tranh luận, có phải Ba Giai là tác giả không, nhưng đến nay chưa ai chứng minh được là của người khác.

2 Tên hiệu của Hoàng Diệu.

3 Gặp sự nguy nan dẫm lên hiểm nghèo.

1 Nuốt sống kẻ mọi rợ, ngoại xâm.

Trang 18

Đối với đám quan văn, quan võ bỏ thành chạy, bỏ quân lính cho giặc tàn sát để chạy thoát thân như Đềđốc Lê Văn Trinh giữ thành cửa Đông không dám quyết chiến, thấy gian nguy thì bỏ chạy, tác giả mô tảnhư sau:

Võ như Đề đốc Lê Trinh,

Cùng là chánh phó lãnh binh một đoàn

Đang khi giao chiến ngang tàng

Thấy quân hầu đổ 3 vội vàng chạy ngay

Nghĩ coi thật đã ghê thay

Bảo thân 4 chước ấy ai bày sẵn cho

Hoàng Hữu Xứng, hiệu Bình Chi, người xã Bích Khê, huyện Đăng Xương (nay là Triệu Phong) tỉnhQuảng Trị, đậu cử nhân năm 1852 Khi quân Pháp tấn công thành

Hà Nội lúc đầu có tham gia chiến đấu cùng Tổng đốc Hoàng Diệu sau tinh thần bạc nhược, sợ phát ốm LúcPháp tới dụ, cáo ốm, nhịn đói ba ngày Sau nghe lời Tôn Thất Bá ra nhận thành do Pháp giao; tác giả châmbiếm một cách sâu cay:

Văn như tuần phủ nực cười,

Bình Chi là hiệu, năm mươi tuổi già

Biết bao cơm áo nước nhà

Kể trong sĩ tịch cũng là đại viên 1

Chén sen chưa cạn lời nguyền

Nỡ nào bỗng chốc quên liền ngay đi

… Sao không biết xấu với đời?

Sao không biết thẹn với người tử trung 2

Đối với Bố chánh Phan Văn Tuyển hiệu Chương Đài người xã Chính Mông, huyện Chương Nghĩa, tỉnhQuảng Ngãi, quân Pháp đánh được một giờ thì bỏ chạy, tác giả chê:

Lân la kể đến Phiên Đài

Xỉ ban 3 cũng đã tuổi ngoài sáu mươi.

Thác trong thôi cũng nên đời,

Sống thừa chi để kẻ cười, người chê?

Đối với Tôn Thất Bá, án sát Hà Nội, phụ trách việc binh và an ninh, đánh giặc, trừ gian là nhiệm vụ của

án sát Tôn Thất Bá lại là hoàng thân quốc thích Theo Đại Nam thực lục, quyển 97 kỳ thứ tư thì khi Pháp

đưa tối hậu thư, Hoàng Diệu cho thang dây dòng Tôn Thất Bá từ trên thành xuống ra thương thuyết vớigiặc Bá vừa ra khỏi thành thì quân Pháp tấn công Theo nhiều tài liệu khác tin cậy hơn và tài liệu của Phápthì Tôn Thất Bá tư thông với Pháp từ trước, khi ra ngoài thì trốn, nằm ở đền Ngọc Sơn Khi thành vỡ, Tôn

Thất Bá ra nhận thành với cái chiêu bài tìm cách "an dân" Đối với kẻ rắp tâm phản bộ Tổ quốc, phản bội

nhân dân từ trước khi giặc Pháp đánh thành, tác giả đã tỏ ra miệt thị, khinh bỉ:

Kìa Tôn Thất Bá niết công

Kim chi ngọc diệp 1 vốn dòng tôn nhân 2

Đã quốc lộc, lại vương thân 3

Cũng nên hết sức kinh luân mới là

Nước non vẫn nước non nhà

Nỡ nào bán rẻ một tòa Thăng Long

Thế mà liệu đã chẳng xong

3 Hầu đổ: gần tan.

4 Bảo thân: giữ lấy mình.

1 Đại viên: trong số các quan thì là quan to.

2 Chết để trọng lòng trung.

3 Hạng nhiều tuổi.

1 Cành vàng lá ngọc.

2 Người trong họ nhà vua

3 Họ nhà vua và bày tôi của vua.

Trang 19

Mặt nào còn đứng trong vòng lưỡng gian 1

Tự giao rắp những mưu gian 2

Thừa cơ xin dự hội thương 3 ra ngoài

ấy mới khôn, ấy mới tài

Lẩn đi tránh tiếng, giục người nói quanh

Dâng công quyền lĩnh tỉnh thành

Mà toan đổ lỗi một mình quan trên 4

Cuối cùng tác giả kết luận:

Hà thành văn vũ công hầu.

Càng nghe thấy truyện, càng rầu bên tai

Diễn ca chính khí một bài

Để cho thiên hạ đời đời khuyên răn

Sau "Hà Thành chính khí ca", Nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn "Hợp tuyển thơ văn" tập IV, có tuyển hai bài "Hà Thành biểu vọng" và bài "Mẹ Đội Chóp" cũng chú thích là tương truyền của Ba Giai.

Ba Giai còn có các bài Cấm đĩ; Một cuộc chạy lăng nhăng; Nhuốm vện khoanh vằn vô số chó; Chọc

sự, Nịnh sư và nhiều truyện tiếu lâm khác.

thậm chí là quái ác ra thì thơ của Ba Giai là dòng thơ

yêu nước Chỉ với một tác phẩm "Hà Thành chính khí ca", Ba Giai đã có chỗ đứng trong văn đàn các nhà thơ

cận đại yêu nước

Song do thơ ca của ông chống Pháp và bọn bán nước cùng với một số bài thơ, giai thoại mà ông đãcùng Tú Xuất thực hiện đã làm cho nhiều người hiểu lầm Ba Giai, ngay cả gia đình ông cũng xa lánh ông

vì cho ông là một tướng giặc Tình hình đến nỗi cha không dám nhận con, vợ không dám nhận chồng Dânlàng ai cũng xa lánh không nhận ông là người cùng làng vì sợ liên lụy Một số sách viết về ông trước Cáchmạng tháng Tám năm 1945 cũng có nhận xét sai lệch về ông Nguyễn Nam Thông xuất bản sách về ôngnăm 1934 cho Ba Giai là đầu đảng của nhiều tổ chức du côn, trộm cướp Chưa hết, họ còn gán cho Ba Giai

là tổng thanh tra của một số tổ chức do thám chuyên lấy bí mật về quân sự của triều đình cung cấp chonhiều đảng giặc đánh phá quấy rối quanh Hà Nội Thực chất Ba Giai đã cung cấp tin tức tình báo về hoạt

động của quân Pháp và triều đình Huế cho các lực lượng Cần Vương, khởi nghĩa Bãi Sậy, Hội Tín Nghĩa

của Dương Hữu Quang - Đào Nhu tổ chức ở Hà Nội, Sơn Tây, Hà Đông đánh Pháp năm 1883 - 1885

Ba Giai sinh được một người con trai là Nguyễn Đình Liêu Tương truyền ông Liêu sống ở làngXốm và Ba Giai cũng mất ở làng Xốm, Hà Đông nơi cha con ông mai danh ẩn tích1 Cũng có truyềnthuyết cho rằng Ba Giai cùng Tú Xuất đi Thái Lan sống ở đó Đến nay dòng họ Nguyễn ở Hồ Khẩucũng không biết gì về tung tích của ông

1 Khoảng trời đất.

2 Giao thiệp riêng với Pháp.

3 Họp lại để thương lượng với Pháp.

4 ý nói Tôn Thất Bá đổ lỗi cho Hoàng Diệu.

1 Vũ Văn Luân: Một vài phát hiện về Ba Giai, Tạp chí Xưa và Nay số 217 tháng 8-2004.

Trang 20

Quyết tử bảo vệ thành nam định

của nhân dân Nam Định - Thái Bình

án sát Hồ Bá ÔN

Hồ Bá Ôn tự là Công Thúc, hiệu Tùng Viên, sinh năm Giáp Dần (1854) quê ở làng Quỳnh Đôi,

huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An là dòng họ danh tiếng Tổ là Trọng Dư, đỗHương cống triều Lê, cha là Trọng Tuân, đỗ Hương tiến năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) làm quan đến ánsát Ông lập công to được thăng Hàn lâm thị giảng

Hồ Bá Ôn là người thông minh, khẳng khái, lúc trẻ chăm học có tiếng Ông thi Hương khoa Canh Ngọ,

Tự Đức thứ 23 (1870) tại Nghệ An, đỗ cử nhân năm 22 tuổi Ông đỗ ất khoa kỳ thi Hội năm Tự Đức thứ 28(1875) ở tuổi 27 Ông làm đến chức Hàn lâm viện kiểm thảo, sung Biên tu nội các rồi Tri huyện HươngThủy Năm 1877 thăng hàm Trước tác, lĩnh chức Thừa chỉ nội các rồi chuyển lên Thị độc Năm Tự Đứcthứ 34 (1881) lĩnh chức án sát Nam Định

Hồ Bá Ôn ở nội các, từng vì giỏi văn học mà được vua biết đến Mùa Xuân năm Tự Đức thứ 36 (1883)

nhân dịp chúc thọ vua 55 tuổi, tập Thỉnh an của Hồ Bá Ôn có câu:

"Thiên tăng giáp lịch, lục lục hoàn lai vãng chi xuân

Hải ký tiêu trù, ngũ ngũ diễn sinh thành chi số"

Dịch:

Trời sinh tuổi thọ 1 sáu sáu 2 quanh xuân đi, xuân lại.

Biển ghi thẻ tiên, năm năm 3 , dài con số sinh thành.

Hai câu trên được vua phê là câu mới mẻ được thưởng cho một cấp

Ngày 25 tháng 4 năm 1882, quân Pháp hạ thành Hà Nội, các quan tỉnh Nam Định đã tổ chức hội nghị,nhận định sớm muộn quân Pháp sẽ đánh chiếm tỉnh thành Nam Định và các tỉnh thành khác ở Bắc Kỳ, lần nàychúng sẽ chiếm đóng vĩnh viễn chứ không trao trả như lần trước Vì vậy các quan tỉnh, mà hăng hái nhất là ánsát

Hồ Bá Ôn, Đề đốc Lê Duy Điếm đã tích cực chuẩn bị mọi mặt để đối phó với giặc Pháp Các quan tỉnh đã bấtchấp lệnh của triều đình Huế lệnh cho các quân thứ Bắc - Trung Kỳ phải bãi bỏ các hoạt động chống Pháp,song án sát Hồ Bá Ôn cùng các quan tỉnh vẫn điều động quân ở các đồn về phòng thủ thành Nam Định Thànhlũy được củng cố, cửa thành bên trong chất đầy các bao đất cát, chỉ để một lối đi nhỏ Các quan còn họp dânkhi có chiến sự xảy ra nhất thiết không được để người già, trẻ con ở lại, nhưng trai tráng phải ở lại phối hợpvới quan quân đánh giặc Các quan tỉnh nhiều lần cự tuyệt không tiếp xúc với các sĩ quan Pháp Tàu Carabinđậu ở sông Nam Định bị dân phản đối bằng cách ném gạch đá Hồ Bá Ôn còn chuẩn bị các cỗ đại bác đặt trên

bờ sông khi tàu của chúng đến gần thành thì nhất loạt nhả đạn vào tàu giặc, sẵn sàng

Ngày 24 tháng 2 năm 1883, Hăngri Rivie nhận được trên 500 quân từ Sài Gòn ra tiếp viện, Hăngri Riviequyết định đánh chiếm tỉnh thành Nam Định Hắn ngang nhiên điều tàu La átsơ (La Hache) vào hẳn sông Đàokiểm soát thành Nam Định

Trước hành động xâm lược của giặc, quan quân trong thành và nhân dân các phố phường khẩn trươngchuẩn bị tiếp chiến Sáng ngày 25 tháng 3 năm 1883, Hăngri Rivie cho quân đổ bộ lên chiếm Đồn Thủynơi quân ta vừa rút để tăng cường cho thành Nam Định Từ đây Hăngri Rivie gửi tối hậu thư cho Tổng đốc

Vũ Trọng Bình bắt phải giao nộp thành ngay sau khi nhận được tối hậu thư Trước tình hình trên, VũTrọng Bình đã triệu tập các quan họp đột xuất Cũng giống như ở triều đình Huế, quan lại chia làm hai phechủ hòa và chủ chiến Thông thường ở đâu phái chủ hòa cũng chiếm đa số và giữ chức vụ cao, quyết định

số phận của cả một địa phương Tại cuộc họp này đã nổ ra một cuộc đấu tranh gay gắt giữa phái chủ hòa

và Phó Đô đốc Lê Trinh cầm đầu đòi làm theo chỉ dụ của Tự Đức là phải bãi binh, nộp thành cho giặc.Giữa lúc căng thẳng đó thì các quan nhận được tin Nguyễn Hữu Bản, con trai án sát Nguyễn Mậu Kiến vàNguyễn Thành Thà đều đưa lực lượng nghĩa quân đến xin hợp tác cùng quan quân giữ thành Tổng đốc Vũ

1 Chữ Hán là Giáp lịch.

2 Sáu sáu là ba sáu.

3 Năm năm là hai mươi lăm.

Trang 21

Trọng Bình còn do dự thì án sát Hồ Bá Ôn đã ra lệnh mở cửa thành đón hai đoàn nghĩa quân vào NguyễnHữu Bản và Nguyễn Thành Thà vào thành đã làm cho lực lượng phía chủ chiến thắng thế Hội nghị quyếtđịnh bác bỏ tối hậu thư của Hăngri Rivie Tuy vậy khi Vũ Trọng Bình trả lời Hăngri Rivie vẫn giữ ý tứ

mềm mỏng: "Thành do vua ủy thác, không thể giao nộp được!".

Sáng ngày 25 tháng 3 năm 1883, quân Pháp định tấn công thành, nhưng sương mù, không nhìn rõ mọi vật,nên không tấn công được Hắn sai quan tư Carô (Carreau) và quan tư Bađăng (Badens) dẫn 25 lính đi trinhsát Hai tên quan tư trở về báo cho Hăngri Rivie kết quả trinh sát được Đến trưa, mặt trời lên cao, sương tan,Hăngri Rivie lệnh cho tàu La Phăngpharơ (La Fanfarơ) bắn đại bác vào cổng thành phía Nam, phá hủy 3 cỗđại bác để thăm dò phản ứng của quan Nam1

Sau khi phá hủy 3 khẩu đại bác ở cổng thành phía Nam của ta, quân Pháp bắn đại bác dồn dập vàothành, rồi cho quân đổ bộ tấn công Cửa Đông là nơi quân Pháp tập trung xung lực và hỏa lực tấn công ácliệt nhất Biết rõ cổng thành phía Đông là mục tiêu đánh phá chủ yếu của giặc, Tổng đốc Vũ Trọng Bìnhthương ủy cho án sát Hồ Bá Ôn cùng Đề đốc Lê Văn Điếm trấn giữ Cùng giữ cổng này với hai ông còn cóNguyễn Hữu Bản chỉ huy dân binh Các ông chiến đấu dũng cảm, đánh bật nhiều đợt xung phong của giặc,giết chết nhiều tên Đến chiều tối chúng phải tháo chạy xuống tàu chiến

Ngay sau khi giặc tháo chạy, Hồ Bá Ôn cùng các tướng chỉ huy quân và dân củng cố thành, bịt hẳn bacổng bằng các bao đất đá chỉ để lại cửa Tây Nhân dân thành phố thổi xôi, gói bánh đưa vào trong thành tiếp

tế Nhân dân cũng tự nguyện chuyển tử sĩ ra ngoài thành chôn cất, đưa thương binh ra các làng ngoại thànhcứu chữa

7 giờ sáng ngày 27 tháng 3 năm 1883, quân Pháp bắn đại bác gắn dưới tàu cấp tập vào thành, mục tiêuđánh phá chính của chúng vẫn là Cửa Đông, song dưới sự chỉ huy của án sát Hồ Bá Ôn và Đề đốc Lê DuyĐiếm lệnh cho hàng trăm khẩu pháo nã đạn vào tàu giặc Nhiều viên đạn trúng tàu khiến bọn giặc phảichui hết xuống khoang tàu Song sức công phá của những quả đạn kém, không gây thiệt hại nặng cho tàucủa giặc ở các phố phía đông thành nhân dân còn tự vũ trang bằng gậy gộc, đao kiếm đánh vào sau lưnggiặc Những người khác thì gõ chiêng, trống, mõ, cả mâm chậu bằng đồng cổ vũ quan quân và uy hiếpgiặc Nhân dân còn tự đốt nhà mình ở các phố dọc theo sông Vị Hoàng tạo thành hàng rào lửa để cản giặc.Một số tên giặc đi lẻ loi một mình bị nhân dân xô lại đánh chết án sát Hồ Bá Ôn, Đề đốc Lê Văn Điếmthân lên mặt thành chỉ huy quân sĩ phản công Chính Hồ Bá Ôn cũng sử dụng khẩu súng hỏa mai như quânlính bắn vào lũ giặc

Quân Pháp đang vô cùng lúng túng vì phía trước phải đối phó với quân trong thành, phía sau thì dânthành phố sử dụng mọi thứ vũ khí để đánh chúng kể cả tự đốt nhà mình tạo thành mặt trận thiên la địavõng Giữa lúc thập phần nguy khốn đó thì quân Pháp liên lạc được với một cố đạo người Nhật tên tiếngViệt là Nghiêm trông coi nhà thờ xứ Nam Định, lấy nhà thờ làm chỗ hội quân tiến đánh thành Nam Định.Hăngri Rivie đánh mạnh vào Cửa Đông, các quan trong thành cũng nhận định hướng tấn công chính củagiặc là Cửa Đông nên đích thân án sát Hồ Bá Ôn, Đề đốc Lê Văn Điếm, Nguyễn Hữu Bản chỉ huy giữ cửanày Tiếp đó là cửa Nam trong đó có Nguyễn Doãn Cử chỉ huy cũng bị quân Pháp tấn công dồn dập Tạicửa Đông, chính án sát Hồ Bá Ôn đã bắn tên quan tư Carô gãy một chân, hắn phải trao quyền chỉ huy chotên quan tư Bađăng Hắn được cố đạo Nghiêm cho con chiên khiêng vào nhà thờ cấp cứu và phải cưa mộtchân (2 tháng sau hắn chết) Hăngri Rivie đến nhà thờ khích lệ hắn rồi đích thân chỉ huy quân Pháp tấncông thành Sau hàng loạt đạn đại bác bắn cấp tập vào thành, quân Pháp liều lĩnh bắc thang lên mặt thành.Cuộc chiến diễn ra quyết liệt, quân ta thả hàng loạt quả nổ, gạch đá từ trên thành xuống, dùng mỏ giật, linh

ba xỉa những tên giặc leo lên gần mặt thành, Hăngri Rivie cho đại úy công binh Duypônie (Duyponier) hailần đặt mìn phá công sự bên ngoài cửa Đông rồi kéo đại bác tới bắn vào cổng thành Cổng thành bị sập, đèlên người Nguyễn Hữu Bản khiến ông hy sinh Đề đốc Lê Duy Điếm bị trọng thương, quân lính liều chếtkhiêng ông theo cửa Tây ra khỏi thành tới Biên Dương thì hy sinh Trong lúc ấy thì Kinh lược NguyễnChính đóng ở Đặng Xá lại án binh bất động không chịu tiếp ứng Giữa lúc cuộc chiến đấu diễn ra gay goquyết liệt thì Tổng đốc Vũ Trọng Bình, án sát Đồng Sỹ Vịnh bỏ thành chạy, Hồ Bá Ôn cùng cha conNguyễn Thành Thà vẫn dũng cảm chỉ huy quân sĩ đánh giết bọn giặc đột nhập vào thành qua cổng Đông bịbắn sập Mặt khác, ông thưởng tiền, bạc cho quân sĩ nào giết được giặc Hồ Bá Ôn trúng đạn bị thương,ông vội buộc vết thương, tiếp tục chỉ huy quân sĩ đánh giặc Ông lại bị trúng đạn lần thứ hai, ngã lăn ra

đất Quân sĩ dìu ông ra phía sau, có người khuyên cho lấy thuốc chữa, Hồ Bá Ôn lắc đầu trả lời: " Đã không

thể vì nước nhà bảo vệ được thành trì, nay thành mất thì mất theo, còn cần gì nữa!".

1 Theo Lịch sử Hà Nam Ninh, Sđd.

Trang 22

Khi quân sĩ đưa Nguyễn Thành Thà cũng bị thương ra khỏi thành, Hồ Bá Ôn không khỏi đau xót vì khó

mà giữ được thành Ông bị ngất lịm, quân sĩ khiêng ra ngoài Khi tỉnh dậy ông biết là thành đã bị lọt vàotay quân Pháp, khí uất xung lên, bệnh càng trầm trọng Quân sĩ đưa ông xuống thuyền, theo đường biển vềquê ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An phục thuốc

Việc tâu lên, vua ban cho 30 lạng bạc để chữa thuốc Song vì vết thương quá nặng, hai tháng sau thì ông

mất Năm ấy ông mới 41 tuổi Vua được tin nói: "Không tránh cái chết mà mất theo thành hơn kẻ tránh cái

chết xa lắm".

Rồi chuẩn cho đặc cách truy tặng Quang Lộc tự khanh và chiếu theo hàm mới mà cấp tiền tuất để khuyếnkhích những người khi lâm sự hết lòng tiết tháo

Bài trướng của các quan tỉnh Nam Định khóc án sát Hồ Bá Ôn mất

Than ôi! Nghĩa nên làm, dẫu tai nạn vẫn khẳng khái làm, đó là tính chân chính của con người Trung với vua, dẫu chết cũng ung dung, đó là hướng đúng của bề tôi Hai tính chất ấy không hại gì đến tính con người,

do đó mà khí tiết nổi, tiếng tăm sinh, chẳng khác gì bầu khí hòa trong không gian lan rộng và bốc cao vô cùng.

Quan án sát Hồ Bá Ôn Chúng tôi là người giỏi đất Hoan Châu, quan tước nhiều đời, lấy trung nghĩa giữ mình, chúng tôi biết rõ Ông làm việc tốt, người thường không thể lường hết Ông đậu Phó bảng năm 1870, đi làm quan nhiều nơi, thăng án sát Nam Định Gặp buổi quân Tây gây loạn, tài chiến sấn vào, đất nước rối ren, ông tỏ thái độ bình thường, không nói năng gì Khi quân ta và quân giặc đánh nhau, thế trận như gió mưa, chỉ thấy ông mặc chiếc áo cừu vào trận, che chiếc lọng xanh trên đầu Đất nước gặp rối ren mà không lúng túng, vì ông đã có chủ kiến, mình ông đeo chiếc gươm trọng, thành tỉnh bị vây Vết thương ông chữa không khỏi, ông mất như một ngôi sao rơi vậy! Qua sông, ông còn có lời kêu gọi cứu nước, quyết chí không thôi.

ôi trời ôi! Chúng tôi chắp tay lạy lòng nhân của người Được tin ông mất, ai cũng buồn Tưởng nhớ đến chí ông kiên quyết, khí ông ung dung, chẳng bao giờ tan, còn mãi bên núi Cao, bên sông Vị.

Ông cùng chung sức với ông Thương (?) làm quỷ mạnh giết giặc, cùng với ông Nhan (?) làm sấm dữ phá thành ước gì được như lời ông Tô Đông Pha nói: "Khí phách chẳng phải sống mới là còn, chẳng phải chết là mất" đó ư? Bút thấm nước mắt có cùng, tấc lòng gửi nghìn dặm đến ông!

Bài trướng của học trò điếu án sát Hồ Bá Ôn

Thầy Hồ chúng tôi làm án sát Nam Định là một người danh tiếng, đậu Phó bảng khoa ất Hợi, làm quan khắp triều quận, chính trị có tiếng giỏi, nhà vua ghi nhận là người tốt.

Mùa Xuân năm 1881 vâng mệnh đến làm quan tỉnh này, mới được 3 năm, ngày 28 tháng 2 năm Quý Mùi, giặc Pháp đến đánh thành Nam Định, thầy liều thân mình chống cự, chết sau Lê tướng quân.

Chúng tôi nghe tin buồn thầy chết, trông về linh hồn thầy mà khóc, nhớ xưa khi dạy học, thầy thường nói với chúng tôi: "Nhân nghĩa là cần thiết để ta giúp đời, đồ tế lễ dầu nhỏ nhưng cũng dùng được việc, con người

đi học cũng thế thôi, cần phải biết điều đó, ấy là phận sự không thể tránh của chúng ta".

Nay sự nghiệp thầy đang gặp dịp, biết đâu chỉ riêng một mình thầy hy sinh? Công đức thầy lớn, phẩm vọng thầy cao, chúng tôi tưởng còn tiến cao hơn nữa Ôi! Thầy chết đi chẳng khác gì núi Thái Sơn lở, khác gì hàng trụ cột gãy, việc tạo hóa sao khó lường! Từ nay đọc điều trung của thầy, cầu mệnh thầy yên nghỉ, đọc đến chính khí của thầy, lòng chúng tôi ngậm ngùi thêm thương tiếc.

Sông Mơ nước chảy, núi Tùng mây bay, tiếng nói hình dáng thầy xa cách biết về đâu? Có lẽ hồn trung của thầy về nơi chín suối kết chặt lại, tinh thần không suy Cây cỏ trên núi Gôi sẽ làm cờ cho thầy phất đánh giặc, hom tranh bờ sông Vị sẽ làm quân để giúp thầy Ngày nào đó, nhà vua sẽ báo thầy biết đã quét sạch giặc, đất nước bình yên, điều đó không ai biết trước Ô hô, i hi!

Đề đốc Lê Văn Điếm

Năm 1880 trở đi, quân Pháp ráo riết chuẩn bị đánh Bắc Kỳ lần thứ hai Ngày 25 tháng 4 năm

1882, chúng đánh chiếm Hà Nội Tiếp đó Thống đốc Nam Kỳ Lơ Myrơ Đờ Vile lại chỉ thị cho trung tá Hảiquân Hăngri Rivie đánh chiếm Nam Định Chúng phái tên đại úy Sanuy (Chanu) về Nam Định thăm dò,điều tra binh lực, sự bố trí phòng thủ cùng thái độ của quan quân Nam Định Nội bộ quan văn, võ NamĐịnh trong đó có Tổng đốc Vũ Trọng Bình, án sát Hồ Bá Ôn1, Đề đốc Lê Văn Điếm, Phó Đề đốc Lê Trinh

nổ ra cuộc tranh luận đánh hay hàng Trong một buổi có cả Nguyễn Doãn Cử, giảng quan phủ Tôn Nhânkiêm biên tu Quốc sử quán đã về trí sĩ, làm gia sư cho Vũ Trọng Bình, Bát phẩm Nguyễn Hữu Bản chỉ huy

1 Hồ Bá Ôn là cha của Hồ Bá Kiện chiến sĩ Việt Nam Quang Phục Hội, hy sinh ở nhà tù Buôn Ma Thuột năm 1916, là ông nội

của đồng chí Hồ Tùng Mậu, là một trong bảy người sáng lập Tâm Tâm Xã.

Trang 23

nghĩa quân vào tham gia giữ thành, thì Vũ Trọng Bình giữa đánh và hàng còn phân vân chưa quyết, Phó

Đề đốc Lê Trinh muốn hàng, chỉ có Đề đốc Lê Văn Điếm quê ở xã Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc, tỉnhThanh Hóa; án sát Hồ Bá Ôn quê ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, Bát phẩm NguyễnHữu Bản quê ở xã Động Trung, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình là kiên quyết đánh

Cuộc họp chưa ngã ngũ thì trong một buổi các ông ngồi đánh tổ tôm, một thư lại trình các ông có chiếuchỉ bãi binh của vua Tự Đức Mọi người vừa nghe đọc xong thì Nguyễn Hữu Bản đứng phắt dậy nói lớn:

"Xin quan tỉnh hủy tờ chiếu chỉ này đi!".

Lê Văn Điếm giật lấy tờ chiếu chỉ từ tay Tổng đốc vo viên lại rồi ném vào ống nhổ

Trong khi Tự Đức ra lệnh cho quân dân Bắc Kỳbãi binh thì giặc Pháp lấn tới Ngày 2 tháng 5 năm 1882, Lơ Myrơ Đờ Vile hạ lệnh cho Hăngri Rivie đánhchiếm Nam Định lần thứ hai Lập tức H Rivie cho đại úy Sanuy về Nam Định, Ninh Bình do thám Tháng 11năm 1882, H Rivie cho tàu La Phangpharơ chiếm sông Đáy, diễu võ dương oai

Đề đốc Lê Văn Điếm và các quan tỉnh phe chủ chiến, các thủ lĩnh nghĩa quân chăm chú theo dõi cáchoạt động khiêu khích của quân Pháp và dân theo đạo Thiên chúa Bất chấp lệnh bãi binh của triều đình,

Lê Văn Điếm vẫn lệnh cho các đồn binh củng cố công sự, sẵn sàng chiến đấu Trong chừng mực có thể,ông còn giúp vũ khí cho nghĩa quân, cử các hiệp quản, suất đội có kinh nghiệm giúp các thủ lĩnh nghĩaquân huấn luyện quân sự cho tân binh

Trước thái độ tích cực chống Pháp của quan quân, nhân dân nhiệt liệt đồng tình ủng hộ Tàu Carabinđậu ở sông Nam Định cứ đêm đến bị ném đá Khi quân Pháp cho tàu chiếm ngã ba Độc Bộ, cửa ngõ củatỉnh thành Nam Định, Lê Văn Điếm phán đoán quân Pháp sắp đánh chiếm Nam Định Đến ngày 24 tháng 2năm 1883 H Rivie tiếp nhận được binh lính và tàu chiến, hắn cho tàu chiến vào chiếm sông Đào khống chếthành Nam Định

Quân dân Nam Định càng khẩn trương chuẩn bị đánh giặc Người già, đàn bà, trẻ con được lệnh rờikhỏi tỉnh thành Ngày 10 tháng 3 năm 1883, Hăngri Riviegửi thư cho Tômxơn (Thomson) Thống đốc mới ở Nam Kỳ xin cho đánh Nam Định Ngày 23 tháng 3 năm

1883, Henri Rivie chỉ huy quân lính đi trên các tàu chiến Carabin, La átsơ, Yatagăng (Hyrtagant),Tôngcanh (Tonkin Kiang Nam) và Oămpoa (Wampois) và một số thuyền theo sông Hồng về đánh NamĐịnh Chúng tới Phủ Lý không bị cản trở, ở qua đêm tại đó rồi hành quân qua sông Đáy, Ninh Bình, không

bị quân triều đình ngăn cản Tới Vĩnh Trụ, thì tàu Pơluyviê (Pluvier) đợi sẵn nhập bọn Ngày 24 tháng 3chúng tới ngã ba Độc Bộ có tàu Suyapơridơ (Surprise) đợi sẵn Sáu giờ sáng ngày 25 tháng 3 năm 1883các tàu chiến Pháp tiến đánh tỉnh thành Nam Định, chiếm Đồn Thủy gần thành phố, Hăngri Rivie gửi thư

cho Tổng đốc Vũ Trọng Bình đòi nộp thành Vũ Trọng Bình trả lời: " Thành này vua giao cho giữ, không

nộp được" Lập tức Hăngri Rivie bắn pháo vào thành dữ dội Đề đốc Lê Văn Điếm cùng các tướng chỉ huy

quan quân đánh bật nhiều đợt tiến công của giặc Nghĩa quân và nhân dân đánh địch ở khắp các phố QuânPháp chết và bị thương nhiều phải tháo chạy về tàu cố thủ Ngày 27 tháng 3, từ sáng sớm, giặc từ tàu chiến

nã đại bác dữ dội vào thành rồi tập trung quân đánh phá cửa Đông Cuộc chiến diễn ra ác liệt đến trưa Đềđốc Lê Văn Điếm chỉ huy vòng ngoài giữa vòng vây của giặc, xông pha trong lửa đạn chỉ huy quân línhđánh tiêu diệt và đẩy lùi nhiều đợt tấn công của chúng; xác giặc nằm ngổn ngang trên đường Ông bị trúngđạn vào bụng, ruột lòi ra ngoài, ông dùng tay ấn vào, lấy khăn chít đầu quấn chặt lại, tiếp tục chỉ huy quanquân đánh giặc Quân sĩ thấy chủ tướng bị trọng thương vẫn không rời trận địa, tất thảy đều hăng hái xônglên đánh giặc Đề đốc Lê Văn Điếm chiến đấu đến khi ngất xỉu, quân lính dìu lên lưng ngựa chạy về cửaTây tới Biên Dương (sau là Vị Dương, Mai Xá) thì hy sinh Quan quân đưa thi hài ông về quê ở BồngTrung (Thanh Hóa) an táng án sát Hồ Bá Ôn cũng bị trọng thương, ông được đưa về quê ở xã Quỳnh Đôi,huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An dưỡng thương, nhưng do vết thương quá nặng, 2 tháng sau thì ông mất1.Quân Pháp tràn vào thành, quan quân rút theo cửa Tây về Mỹ Trang, Cầu Gia, Tiểu Cốc, xây dựng trậntuyến mới Trong khi đó thì Tổng đốc Vũ Trọng Bình, Phó Đề đốc Lê Trinh bỏ thành chạy Kinh lược sứNguyễn Chính đóng quân ở Đặng Xá (huyện Mỹ Lộc) thấy vậy nhưng vẫn để mặc Nam Định, không tiếpứng, thành mất, hắn rút quân về Vụ Bản1

Tin Đề đốc Lê Văn Điếm, người anh hùng của thành Nam Định hy sinh khiến quân sĩ vô cùng thươngcảm, thề quyết chiến trả thù cho ông Phùng Phát, một Hoa kiều buôn bán lớn lại giỏi võ Ông hứa với Tổngđốc mộ quân đánh giặc Pháp, không xin cấp lương Khi quân Pháp đổ bộ vào bến Ngự, ông lăn khiên, dùng

1 Phan Khoang, Việt Pháp bang giao sử lược, Nxb Nguyễn Văn Biên, Huế, 1950

1, 2 Vũ Ngọc Lý, Thành Nam xưa, Sở Văn hóa - Thông tin Nam Định, 1997.

Trang 24

mã tấu chém được một số tên Giặc Pháp phát hiện được, chờ lúc ông sơ ý, chúng bắn chết, lúc đó chúng mớitiến quân lên được2.

Quân Pháp vào thành chiếm được 148 khẩu súng, có cả 2 khẩu đại bác Ruyêlơ (Ruelle) và Rơvê(Revers) do Pháp để lại trước đây, phải để lại theo Điều ước năm 1874 Chúng còn thu được 195.000 quantiền ta giá trị bằng 196.000 frăng, 4.300kg chì, trị giá 12.000 frăng, 300 thùng muối, 900 vại sơn và khoảng

500 tấn gạo, trong khi đó ở Hà Nội chúng chỉ thu được 103.000 frăng và Hải Phòng 17.000 frăng3

3 Tập thể Bộ Tham mưu: Lịch sử quân sự Đông Dương.

Trang 25

Cai Giá

Tháng 3 năm 1882, trung tá Hải quân Hăngri Rivie đem quân ra Bắc Kỳ Ngày 25 tháng 4 năm 1882,

hắn chỉ huy đánh thành Hà Nội Tổng đốc Hoàng Diệu chống trả được nửa ngày thì thành vỡ Hoàng Diệutuẫn tiết

Ngày 27 tháng 3 năm 1883, thành Nam Định lọt vào tay quân Pháp, tiếp đó quan tỉnh Ninh Bình đầuhàng giặc nhưng một số tướng lĩnh phe chủ chiến và nhiều thủ lĩnh nghĩa quân trong đó có Nguyễn XuânGiá vẫn tổ chức lực lượng đánh Pháp

Nguyễn Xuân Giá, còn gọi là Cai Giá sinh năm 1840, quê ở làng Lỗ Xá, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định(nay Lỗ Xá thuộc xã Yên Hưng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định) Khi tỉnh thành Nam Định, Ninh Bình lọtvào tay giặc Pháp Cai Giá đã cùng với Hiệp Đề quê ở làng Mĩ Đồng, huyện Gia Viễn (nay thuộc xã GiaLâm, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) đã chiêu mộ nghĩa quân ở Ninh Bình đánh Pháp Các ông đắp đồnlũy xây dựng căn cứ ở vùng Đề Cốc, huyện Gia Viễn (nay thuộc xã Gia Thụy, huyện Gia Viễn, tỉnh NinhBình)

Trong một số trận đánh lớn, Đinh Công Tráng, Phạm Văn Nghị đã phối hợp với nghĩa quân tại căn cứ

Đề Cốc do Cai Giá, Hiệp Đề chỉ huy tiến đánh quân Pháp ở các phủ huyện thuộc tỉnh Nam Định, Hà Nam.Khi quân Pháp tiến đánh căn cứ Đề Cốc, Đinh Công Tráng đã tấn công các đồn địch ở phủ Lý Tông, thuhút lực lượng quân Pháp về phía mình để Cai Giá phản công, đánh bật quân Pháp ra khỏi căn cứ

Sau trận chiến thắng lừng lẫy đánh bại trên 1.000 quân Pháp ở xã Thanh Tâm và Bưởi, xã Thanh Lưuđều thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, tiêu diệt trên 300 quân Pháp, thu nhiều vũ khí Song khi trậnđánh gần kết thúc, thì Đinh Công Tráng bị trọng thương, ông phải về Cổ Đan, huyện ý Yên, tỉnh NamĐịnh điều trị Tại nơi dưỡng thương, Đinh Công Tráng nhận thấy các căn cứ ở huyện Thanh Liêm trốngtrải dễ dàng bị quân Pháp tiêu diệt đã cử người tin cẩn tới gặp ước hẹn với Nguyễn Xuân Giá, sau khi bìnhphục ông sẽ về Đề Cốc phối hợp chiến đấu

Cai Giá rất mến mộ tài cầm quân của Đinh Công Tráng nên đã nhận lời Ngay sau đó ông cho dựngthêm lán trại, vận chuyển lương thực từ các kho dự trữ về cung ứng cho đội quân của Đinh Công Tráng.Đinh Công Tráng đem quân tới Đề Cốc ít lâu thì Đốc Trạch ở Nam Định cũng đem quân tới Đề Đậphoạt động ở vùng giáp ranh Ninh Bình - Hòa Bình cũng đưa một bộ phận nghĩa quân tới phối hợp Chỉtrong một thời gian ngắn, lực lượng nghĩa quân Đề Cốc đã lên tới 7.000 người Bộ chỉ huy nghĩa quân mớiđược thành lập, trong đó có Cai Giá, Đinh Công Tráng

Nghĩa quân Đề Cốc đã phối hợp với Tán tương quân vụ Nguyễn Tử Tương quê ở thôn Thư Điền, naythuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình và nghĩa quân của ông Tú Điệp đánh tỉnh thành Ninh Bình vào đêm 20tháng 4 năm Bính Tuất (23-5-1886) Do việc chuẩn bị chưa tốt, việc liên lạc với các cánh quân thiếu chặt chẽ,quân Pháp lại tăng cường quân phòng thủ, nên cuộc tấn công không thành

Không đánh được tỉnh thành Thanh Hóa, Cai Giá, Đinh Công Tráng đem quân tấn công các đồn binhPháp ở Quần Mụ, Đèo Cốc, gây cho chúng nhiều tổn thất

Sau các trận đánh trên, Cai Giá, Đinh Công Tráng chuyển hướng hoạt động về vùng Yên Khánh, Yên

Mô, tiến đánh căn cứ thủy quân Pháp ở Cửa Lạch (cửa sông Đáy), cửa Ba Lạt (sông Hồng) để đón đánh tàugiặc từ Nam Kỳ ra Bắc Kỳ Trong một trận đánh, Cai Giá, Đinh Công Tráng đã phóng hỏa đốt cháy 5 tàuđồng, diệt hơn 100 lính Lê dương

Trước những thất bại nặng nề trên hai dòng sông Hồng và sông Đáy quân Pháp tập trung quân đánh phá

dữ dội và các đồn dã ngoại của nghĩa quân, buộc nghĩa quân phải lui về cố thủ ở Đề Cốc Khi hành quântrở lại Đề Cốc thì lực lượng nghĩa quân đã bị tiêu hao nặng nề

Quân Pháp tập trung quân bao vây, đánh phá căn cứ Đề Cốc Căn cứ bị vỡ sau mấy ngày kịch chiến.Nguyễn Xuân Giá bị giặc Pháp bắt, chúng dụ dỗ ông đầu hàng, ông không khuất phục

Giặc Pháp xử tử ông vào ngày 6 tháng 5 năm 1884 Chúng bắt nhân dân vùng xung quanh căn cứ ĐềĐốc ra chứng kiến, để uy hiếp tinh thần Ông buộc chúng phải mở khăn bịt mắt để ông nhìn đồng bào, nhìn

Trang 26

quê hương lần cuối Ông lớn tiếng kêu gọi đồng bào hãy giữ vững tinh thần, tiếp tục đánh Pháp đuổi chúng

ra khỏi quê hương đất nước của vua Đinh Tiên Hoàng Đinh Công Tráng, Phạm Nhân Lý kéo quân vàoThanh Hóa phối hợp với Phạm Bành… xây dựng cứ điểm Ba Đình

Đến nay các cụ già ở Gia Viễn, Ninh Bình vẫn còn thuộc câu ca về sự hợp tác của các ông Cai Giá,Đinh Công Tráng, Hiệp Đề:

"Lãnh Tráng 1 , Cai Giá, Hiệp Đề

Năm trăm binh lính kéo về bình Tây"2

Hàn Lâm Viện Nguyễn Doãn Cử

Nguyễn Doãn Cử, hiệu Bằng Phi sinh ngày 9 tháng 7 năm Tân Tỵ (1821), con cụ Nguyễn Doãn Trung, từng là Hàn lâm viện thị độc học sĩ ở Hàn lâm viện; mẹ là con một tiến sĩ ở làng Hoàng Xá Quê ở thôn Dũng Nghĩa, gần chùa Keo, nay thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

Nguyễn Doãn Cử nổi tiếng thông minh từ nhỏ Cụ Trung dạy con học thấy con học giỏi, chỉ đọc một lần

là thuộc, chữ đẹp liền gửi con theo học tiến sĩ Ngô Thế Vinh - một danh sĩ đương thời quê ở làng BáiDương Ông học giỏi, gương mẫu trong sinh hoạt nên mặc dù ít tuổi vẫn được bầu làm trưởng tràng Songtrong cuộc sống đời thường cũng như trong văn chương Nguyễn Doãn Cử là người phóng khoáng khôngchịu gò mình trong khuôn phép sách vở, nên đi thi mấy năm liền không đỗ Mãi đến khoa thi năm Giáp Tý(1864) khi ông đã 43 tuổi mới đỗ cử nhân Triều đình bổ ông làm huấn đạo huyện Thanh Ba, tỉnh HưngHóa Ba năm sau thăng Tri huyện Lập Thạch, Tri huyện Hải Lăng

Năm 1873, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất Năm 1874, theo Hòa ước quân Pháp rút khỏi Bắc Kỳ.Cũng năm đó các tỉnh biên giới Bắc Kỳ bị thổ phỉ Trung Quốc tràn sang cướp phá, triều đình cử nhiềuquan văn, quan võ lên Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang đánh dẹp thổ phỉ Trung Quốc và xây dựng căn

cứ chống Pháp Nguyễn Doãn Cử được triều đình bổ nhiệm làm tuần phủ Sơn - Hưng - Tuyên cùng cácquan văn võ triều đình cử lên lo việc phòng thủ

Nguyễn Doãn Cử đã cùng các tướng tiễu phỉ, củng cố thành lũy, trang bị vũ khí mới, khai khẩn đồn điền, ổnđịnh đời sống nhân dân và duy trì phép nước nghiêm minh

Tháng Giêng năm Tự Đức thứ 32 (1879), ông được triệu về triều làm giảng quan phủ Tôn Nhân, thăngHàn lâm viện thị giảng, sung chức Biên tu Quốc sử quán Ông giảng dạy cho con cháu của Hoàng gia,trong số đó có Ưng Lịch - con nuôi vua Tự Đức Ông giảng dạy cho học trò truyền thống chống giặc ngoạixâm của tổ tiên, tinh thần yêu nước, thương dân Ưng Lịch rất ham hiểu biết, ưa thực học, có tài ứng đối,tập văn không sao chép sách vở Ưng Lịch còn giỏi cả địa lý, lịch sử, thiên văn, binh pháp Khi Ưng Lịchlên làm vua hiệu là Hàm Nghi đã chịu ảnh hưởng tư tưởng yêu nước sâu sắc của ông

Bất mãn trước việc triều đình đầu hàng giặc Pháp, năm Tân Tỵ (1881), ông 60 tuổi, mượn cớ sức khỏekém xin hưu trí Tự Đức vốn không ưa ông vì ông là người của phe chủ chiến, không muốn lưu ông tạitriều nên chấp thuận Tuy vậy, Tự Đức vẫn ban cho người thầy có công nuôi dạy các con mình 2 tấm SaNam, 10 lạng bạc, 5 thanh quế và chiếc khay trà khảm xà cừ cùng bộ ấm chén Về quê, Tổng đốc NamĐịnh Vũ Trọng Bình mời ông làm gia sư và làm cố vấn công tác hành chính, quân sự trong tỉnh Ông chỉnhận công việc thứ nhất

Ngày 25 tháng 4 năm 1882, quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, sau đó Hăngri Rivie sai đại úySanuy Chanus về Nam Định điều tra thái độ của quan lại địa phương Các quan lại ở Nam Định phân làmhai phe: chủ chiến và chủ hòa Nguyễn Doãn Cử đứng hẳn về phe chủ chiến do Đề đốc Lê Văn Điếm, ánsát Hồ Bá Ôn, Bát phẩm Nguyễn Hữu Bản đứng đầu Thực ra Nguyễn Doãn Cử và Nguyễn Hữu Bản đãtuyển mộ được trên 300 nghĩa sĩ vũ khí đầy đủ, đề phòng thành Nam Định thất thủ thì lập phòng tuyếnchống Pháp Quan điểm của các ông khác với các sĩ phu lúc đó là tỉnh thành mất là mất đất, các ông cho

1 Lãnh Tráng, tức Đinh Công Tráng vì ông quê ở làng Tráng.

2 Tư liệu: Về phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX ở

Hà Nam Ninh - Nghiên cứu Lịch sử số 3 (174) ngày 5-6-1977.

Trang 27

rằng những người chủ trương kháng chiến còn, dân còn thì đất nước vẫn còn Nguyễn Doãn Cử đã đi khảosát vùng đất từ Tả ngạn sông Hồng đến hữu ngạn sông Luộc, tới ven biển vẽ thành bản đồ để bố trí cáctuyến phòng thủ, các đồn binh Đây chính là tiền thân của bản đồ tỉnh Thái Bình ngày nay Các ông đãchọn các huyện Thư Trì, Vũ Tiên, Tiền Hải làm khu giao chiến, ba huyện Tiên Hưng, Thái Ninh, ChânĐịnh (Kiến Xương) làm hậu cứ Các ông chia Thái Bình làm ba tuyến phòng thủ: Tuyến sông Hồng có cácđồn Tuần Vường, Vũ Điện, Mỹ Lộc, Vân Môn, Mộ Đạo, Yên Tú, Ba Lạt Tuyến giữa là các đồn TiểuHoàng, Chân Định, Động Trung, Thương Cẩm, Tống Vũ, Phủ Bo Trung tâm chỉ huy là Phủ Bo Tuyếnsông Trà Lý có các đồn Ngoại Lãng, Bến Giông, đò Phú Dân (cửa Trà).

Nguyễn Doãn Cử có một số môn đệ là các ông Đề, ông Lãnh đã mãn hạn về hưu, nhưng còn sức khỏe

và có lòng yêu nước và một số quan lại đương chức Ông cùng Nguyễn Hữu Bản tổ chức tuyến hậu cầnbằng thuyền từ Động Trung tới thành Nam Định

Đầu năm Quý Mùi (1883), Nguyễn Doãn Cử đề nghị Tổng đốc Vũ Trọng Bình làm sớ tâu với Tự Đức

để Nguyễn Doãn Cử và Nguyễn Hữu Bản đưa hương binh vào giữ thành Nam Định Ông đề nghị chỉ ghitên Nguyễn Hữu Bản, vì ông còn trẻ, khỏe, dễ được Tự Đức chấp nhận, Vũ Trọng Bình đồng ý Kết quả,vua Tự Đức chấp nhận

Ngày 25 tháng 3 năm 1883, trung tá Hải quân Hăngri Rivie chỉ huy thủy quân Pháp từ Hà Nội theosông Hồng tiến vào sông Vị Hoàng và gửi tối hậu thưcho Tổng đốc Nam Định phải giao nộp thành Ngày 26 tháng 3 năm 1883 quân Pháp nổ súng tấn côngthành Quân triều đình và Hương binh do Nguyễn Doãn Cử và Nguyễn Hữu Bản, cùng con trai ông làBang úc chiến đấu quyết liệt, đánh bật các đợt tấn công của chúng, khiến chúng bị thương vong nặng nề,phải tháo chạy về tàu trên sông Vị Hoàng

Sáng ngày 27 tháng 3 năm 1883, quân Pháp từ tàu chiến bắn đại bác dồn dập vào thành Quân ta kiêncường chiến đấu Đề đốc Lê Văn Điếm bị trúng đạn lòi ruột, đưa về đến Biên Dương thì hy sinh, án sát Hồ Bá

Ôn bị trọng thương đưa về quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An 2 tháng thì mất Nguyễn Doãn Cử, Nguyễn Hữu Bảngiữ cửa Đông là cửa quân Pháp tấn công ác liệt nhất Quân Pháp bắn đạn đại bác sập cổng thành, đè lên ngườiNguyễn Hữu Bản, ông hy sinh Nguyễn Doãn Cử động viên quân sĩ quyết tâm tiêu diệt thật nhiều quân Pháptrả thù cho chủ tướng Tổng đốc Vũ Trọng Bình bỏ thành chạy, nhưng trước đó còn cho người tới Cửa Đông

gọi ông về dinh để tránh nguy hiểm cho ông Ông khẳng khái trả lời: "Người về thưa với quan Tổng đốc rằng

ta không thể rời bỏ nơi này và các nghĩa sĩ của ta Xin đa tạ".

Đến trưa ngày 27 tháng 3 năm 1883 thành vỡ, Nguyễn Doãn Cử cùng quân triều đình rút qua cửa Tây,giao quyền chỉ huy cho Bang úc Bang úc phá vây rút về Thái Bình giữ phòng tuyến sông Hồng NguyễnDoãn Cử bị ốm phải nghỉ dưỡng bệnh, cử con trai là Nguyễn Doãn Chí cùng Bang úc giữ tuyến phòng thủsông Hồng

Sau khi thành Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên, Phủ Lý thất thủ, vua Tự Đức chết, Nguyễn Doãn Cửsống trong tâm trạng đau buồn

Tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật, Trần Xuân Soạn chỉ huy Phấn nghĩa quân tấncông tòa Khâm sứ Pháp, đồn binh Pháp ở Mang Cá thất bại, liền hộ giá vua Hàm Nghi ra sơn phòng QuảngTrị, hạ chiếu Cần Vương Nguyễn Doãn Cử khi đó đã 64 tuổi, bị ốm yếu, nhận được tin trên, ông phấn

khởi, bật khỏi giường, lệnh gọi con trai cả là Nguyễn Doãn Chí đến bảo: " Mệnh thầy chưa hết, thầy sẽ

khỏe để cùng mọi người cứu dân, cứu nước theo chiếu Cần Vương Thầy rất mừng vì học trò của thầy là Ưng Lịch - Vua Hàm Nghi đã thoát khỏi sự khống chế của phái chủ hòa, giương cao ngọn cờ cứu nước".

Nguyễn Doãn Cử phấn khởi làm đôi câu đối dán ở đầu giường:

"Nhật hựu tân chi, dãn nguyện hung trừ băng thán đáo;

Tâm nhung tráng dã, hà hiềm mãn vị tuyết sương xâm!".

Dịch nghĩa:

"Ngày một mới ra, chỉ nguyện lòng trừ băng giá đến;

Lòng còn bền lắm, xá chi râu tóc nhuốm màu sương!"

Giữa lúc đó Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, người làng Giao Cù, huyện Nam Trực là bạn chí thiết đến bàn với ông

kế hoạch chiêu tập nghĩa sĩ khôi phục tỉnh thành Hai ông bí mật đi các huyện chiêu tập nghĩa sĩ Nhưngmọi việc làm của hai ông đều bị Tổng đốc Vũ Văn Báo, tên chó săn cho Pháp báo với công sứ Pháp Têncha cố Trần Lục (cha Sáu) cũng mật báo cho công sứ Pháp về hành động của hai ông Công sứ Nam Định

Trang 28

giao cho Tổng đốc Vũ Văn Báo bắt hai ông Trong người Nguyễn Doãn Cử không có chứng cớ, chúng phảithả, còn Vũ Hữu Lợi1 chúng giam vài ngày, đe dọa rồi thả.

Vũ Hữu Lợi tiếp tục đi vận động nghĩa sĩ đánh Pháp thì bị Vũ Văn Báo bắt, xử chém ông vào tháng 2 năm1887

Đốc Nhưỡng1 ở Đô Kỳ là học trò Vũ Hữu Lợi đã bắt Vũ Văn Báo, tẩm dầu đốt, làm cây đuốc sống tếthầy Nguyễn Doãn Cử làm bài thơ mừng:

"Triều đình khoa giáp khởi hư danh,

Điểu tắc y nhiên tại lão thành

Lũy trúc Tam Đình gia hữu đệ

Tiên quyên vạn tính quốc giai binh

Trì lô thùy thúc tâm vô Tốn

Tróc Báo nhân tri thủ giả Đinh

Địa hữu Hoa Đồng chung tú khí,

Trung hồn dạ dạ hiển dư linh"

Tạm dịch thơ:

"Triều đình khoa giáp há hư danh,

Mẫu mực nêu gương bậc lão thành

Em ở Ba Đình mưu giết giặc,

Tiền nguyên trăm họ việc nhung binh

Theo Tây lang sói kìa tên Tốn

Bắt Báo đòi khen có Đốc Đinh

Đất ấy Hoa Đồng ngời dũng khí,

Hồn trung còn mãi với non xanh"

(Nguyễn Tiến Đoàn dịch)

Nguyễn Doãn Cử qua đời ngày 12 tháng 2 năm Canh Dần (1890) Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng lo việc lễ tang.Đám tang của ông có rất nhiều câu đối phúng viếng

Nguyễn Doãn Cử được phụ tế vào bậc tiền hiền trong văn chỉ hàng xã, văn từ hàng huyện và được

nhiều gia đình ở Giao Thủy, Thư Trì, Vũ Tiên thờ phụng Có người đã nói: " Ông sống nghiệp văn, chết

được đưa tiễn bằng văn và lưu danh sử sách".

1 Vũ Hữu Lợi có em ruột đậu tú tài, tham gia cuộc khởi nghĩa ở Ba Đình, Thanh Hóa.

Vũ Hữu Lợi.

Trang 29

Nguyễn Hữu bản

Nguyễn Hữu Bản tự là Vũ Đức, hiệu là Động Nguyên, sinh năm 1841 Ông là con trai án sát

Nguyễn Mậu Kiến, quê ở làng Động Trung, phủ Kiến Xương, nay là xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnhThái Bình

Gia đình Nguyễn Mậu Kiến là một gia đình giàu có ở huyện Kiến Xương Song gia đình ông thường xuyênquyên tiền, thóc, tổ chức cứu tế cho nhân dân vùng Sơn Nam

Khi còn ở tuổi thiếu niên, ông học thông minh, thi Hương đỗ nhất trường Năm ông 20 tuổi, cha là án sátLạng Sơn lo dẹp phỉ Cờ vàng Hoàng Sùng Anh, không có điều kiện lo việc nhà, ông phải thay cha quán xuyếncông việc gia đình Ông cùng em trai là Nguyễn Hữu Khai

đi khai khẩn vùng biển Tiền Hải, chiêu dân lập ra làng Đức Cơ

Tuy không theo học, nhưng tuân theo lời dạy của cha, ông mở rộng nhà học, mời thầy giỏi về dạy chocon em hàng tổng hàng xã học tập Ông còn củng cố, phát triển nhà in Chiêm Bái đường, khắc in các tácphẩm văn học, lịch sử, binh pháp, thiên văn1

Ông chẳng những tổ chức khai hoang, đắp đường bắc cầu, xây cống, tiêu nước cho vùng trũng tronghuyện Ngày nay làng Đức Cơ, huyện Tiền Hải còn có văn bia ghi lại công lao của Nguyễn Hữu Bản,

Nguyễn Hữu Khai: "Dân làng nhiều phen bị bão lụt, thủy triều, nhiều người chiêu mộ trước bỏ đi … 1 có một giáp Vũ Đức đem nhượng lại cho quan Hàn Lâm tu soạn tên là Bản để cùng hợp sức với ông nguyên

mộ trước, tiếp tục mộ dân, sửa sang điền tễ, khẩn vị hoang vụ, làng ấp lại được trù mật, dân chúng tưởng nhớ công ơn suy tôn hai vị làm thành hoàng".

ở huyện Tiền Hải, còn truyền tụng bài ca:

"… Hai vị ấy gia công điều động,

Đem sức tài mà chống lại nhà siêu,

Khai hoang phế, đắp đê điều

Dân từ đấy, không xiêu liêu nữa,

Nhờ công đức các ngài sửa chữa,

Dân ngày nay nhà cửa vui đông

Rõ ràng nhân thắng đứng long

Mừng được chữ khải phong tị ốc" 2

Ông có uy tín với dân đã chiêu mộ dân binh đánh phỉ và giặc biển tàn phá, cướp bóc quê hương

Năm 1871 sau khi quân Pháp ổn định bộ máy cai trị ở Nam Kỳ, nhòm ngó ra Bắc Kỳ, Trung Kỳ,Nguyễn Mậu Kiến đã cùng hai con trai là Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Bản chiêu mộ quân chuẩn bịđánh Pháp

Đúng như dự đoán của ông, cuối năm 1873 Phrăngxít Gácniê (Francis Garnier) kéo quân ra Bắc, ngày

20 tháng 11 năm 1873, chúng hạ thành Hà Nội Ngày 12 tháng 12 năm 1873, chúng đánh chiếm tỉnh thànhNam Định Nguyễn Mậu Kiến và Nguyễn Hữu Cương đưa quân lên Nam Định bảo vệ thành Thành mấtcha con ông về xây dựng căn cứ kháng chiến tại huyện Kiến Xương Lực lượng nghĩa quân đông tới 2.000người

Nguyễn Hữu Bản cùng con trai là Bang úc phối hợp với các lực lượng nghĩa quân khác bao vây chặt quânPháp ở tỉnh thành Nam Định Hácmăng và quân chiếm đóng hoang mang đến cực độ Khi nhận được tin

Gácniê chết ở trận Cầu Giấy, Hácmăng đã viết thư báo cáo: "Tình hình chúng tôi vô cùng khó khăn Ông

1 Thư viện Khoa học xã hội còn lưu giữ một số sách của nhà in Chiêm Bái đường như "Độc thư lạc thú" (thơ văn) "Đăng đàn bái

tướng" (Binh pháp).

1 Trước đó Doanh điền chánh sứ tiến sĩ Doãn Khuê tổ chức khai khẩn, ổn định dân cư lưu tán một số làng Thư Điền, Nguyệt

Lũ… nhưng sau lại bỏ hoang dân lại lưu tán

Thái Bình, tập III, Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình xuất bản.

Trang 30

Phrăngxít Gácniê (Francis Garnier), để lại cho chúng tôi 20 người ở giữa một tỉnh 20 vạn dân có khí giới.

Có cần phải cố thủ ở đây hay chuyển ra Hải Dương hoặc Hà Nội? ý kiến dứt khoát của tôi là bỏ tất cả các tỉnh về Hà Nội để thương lượng" 1

Năm Quý Dậu (1873) vì cha ông là Nguyễn Mậu Kiến dâng sớ vạch tội bọn quan lại đầu hàng Pháp, bị

Tự Đức cách chức, vì chính Tự Đức là kẻ chủ trương đầu hàng giặc Nguyễn Mậu Kiến liền về quê cùngcác con chiêu mộ quân đánh Pháp Nghĩa quân do cha con ông chỉ huy dũng cảm, giàu lòng yêu nước,đánh nhiều trận lớn, gây thương vong nặng nề cho quân Pháp Giặc Pháp phải thừa nhận là sợ cha con ông

Sự kiện trên được giáo sư Trần Văn Giàu viết: "Địch sợ nhất cha con Nguyễn Mậu Kiến - người dân thường

(F Gácniê) đã hứa trọng thưởng những ai cắt được đầu nhà thân hào ấy Ông và hai con là Nguyễn Bản, Nguyễn Cương tụ họp ở Trực Định (Kiến Xương ngày nay) hàng nghìn nghĩa quân mà bản thân ông cung cấp lúa gạo, tiền bạc, quần áo và vũ khí Hácmăng (Harmand) đem quân đến đánh nhưng không được".

Lẽ ra triều đình Huế phải nhân đó tập trung quân phản công, đánh đuổi giặc Pháp thì từ ngày 15 tháng

1 năm 1874, triều đình đã cử Nguyễn Văn Tường, Trần Đình Túc ra ký với Philát quy định quân Pháp phảicam kết rút khỏi các tỉnh đã chiếm ở Bắc Kỳ Để đổi lại, triều đình Huế không được tập trung quân đội ởcác tỉnh bị quân Pháp chiếm; không cản trở giao thông thủy bộ của người Pháp ở Bắc Kỳ, không được trảthù những người đã cộng tác với Pháp Pháp được tự do truyền đạo, Pháp đặt Lãnh sự quán ở Hà Nội, HảiPhòng

Năm Đinh Sửu (1877) Pháp đặt lãnh sự quán ở Nam Định, Ninh Bình Pháp còn sử dụng cố đạo Puyghinêở

Sở Kiện (Hà Nam) cố đạo người Nhật, tên Việt là Nghiêm ở nhà thờ Nam Định trang bị vũ khí cho dân đạochống lại Tổ quốc của họ

Phán đoán thế nào giặc Pháp cũng trở lại đánh chiếm Nam Định, Nguyễn Hữu Bản cùng con trai là Bang

úc và các lực lượng nghĩa quân khác, tiếp tục chiêu mộ quân, xây dựng căn cứ sẵn sàng đánh Pháp Nhằm đàn

áp nghĩa quân cuối năm 1879, Tự Đức còn nhờ lãnh sự Pháp mang tàu chiến Duycuơđích đến vùng biển Trà

Lý và tàu Hanlơ Bácđơ (Hall Barde) đi Nam Định để đàn áp quần chúng1 Khi Nam Định và Ninh Bình tâuxin cho đắp lũy và đặt súng bảo vệ đường sông thì vua tôi Tự Đức sợ Pháp nghi ngờ nên không dám chuẩn yviệc đối phó

Trong khi đó thì thực dân Pháp rắp tâm đánh chiếm Bắc Kỳ Chúng coi Nam Định là trọng điểm khốngchế con đường từ Hà Nội ra biển bằng sông Hồng Nam Định lại là trọng điểm công giáo, thế lực giáo hội ở

đó mạnh "sẽ có lợi nếu mở được cảng Nam Định cho người Âu giao thương, cảng này sẽ cạnh tranh dữ dộivới cảng Hải Phòng"2

Tháng 3 năm 1882, Thống đốc Nam kỳ Lơ Myrơ Đờ Vile chỉ thị cho quan 5 Hăngri Rivie, mang 200 quâncùng 2 pháo thuyền ra Bắc

Ngày 25 tháng 4 năm 1882, Hăngri Rivie đánh thành Hà Nội lần thứ hai, thành Hà Nội thất thủ Tổngđốc Hoàng Diệu tuẫn tiết

Trước tình hình nguy cấp đó, Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Doãn Cử khẩn trương chiêu mộ quân, mua khígiới, xây dựng chiến lũy, sẵn sàng đánh giặc Pháp, trong khi đó thì các quan tỉnh Nam Định giữa hai phehòa và chủ chiến vẫn tranh luận nên hòa hay nên chiến Sự kiện này được gia phả họ Nguyễn Doãn ở thônTrung Nghĩa, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư chép:

Vũ Trọng Bình, có mặt đông đủ các ông án sát Hồ Bá Ôn, Đề đốc Lê Văn Điếm, thày Bằng Phi của ta (Nguyễn Doãn Cử), ông Nguyễn Hữu Bản, ông Vũ Công Trị, nhân lúc rỗi, ngồi đánh tổ tôm trên sập, chợt

có viên thư lại trên sảnh đường mang chiếu chỉ của vua Tự Đức lệnh cho các tỉnh thần bãi binh…

… Nghe xong số cử tọa có mặt này: người đập tay xuống sập, người vỗ vào đùi Ông Nguyễn Hữu Bản

đứng phắt dậy nói:

- Xin quan tỉnh cho hủy tờ chiếu chỉ này đi Chúng tôi nghe mà hổ thẹn? Là phần sĩ tử, chúng tôi cũng xin nguyện một đường sống mái phen này!".

1 Những người Pháp ở Bắc Kỳ và việc can thiệp của người Pháp (1876-1885).

1 Trần Văn Giàu: Chống xâm lăng, quyển 2, Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1956,

tr 118, 141.

2 Thư tín chính trị (Corrter pondences politques) thư của Đờ Vile gửi cho Hăngri Rivie.

Trang 31

Đề đốc Lê Văn Điếm đứng lên đỡ tờ chiếu chỉ trên tay Tổng đốc vò nát ném vào chậu ống nhổ bằng đồng to cao ngay bên sập ngồi.

Đề đốc hỏi ông Bản:

- Thày có bao nhiêu quân sĩ rồi?

Ông Bản thưa:

- Đã có hơn 300 hương dũng, khí giới đầy đủ.

Ngài nói luôn:

- Tình hình đã gấp, các ngài về chuẩn bị ngay Thày Bản về chiêu mộ thêm quân ở các hạt Giao Thủy, Trực Ninh Quan Cử giúp sức cùng thày Bản lo liệu các mặt Nếu thiếu khí giới, Tỉnh đường sẽ cấp, còn lương thực thì các ngài tự lo".

Thực ra Nguyễn Hữu Bản và Nguyễn Doãn Cử đã chuẩn bị lực lượng, khí giới, quân lương từ lâu, vìcác ông biết thế nào giặc Pháp cũng đánh Bắc Kỳ lần thứ hai

Quan điểm của các ông là: "Nhiều người hiện nay coi việc mất kinh đô là mất nước Điều đó không đúng.

Tháng 11 năm 1882, tàu La Phăngpharơ kiểm soát sông Đáy và hắn ở lại đó Các quan ta nhận rõ bộmặt xâm lược của giặc Pháp nên bất cộng tàu Tàu Carabin đậu ở sông Nam Định bị ném đá Giặc Pháp rútkinh nghiệm trận đánh năm 1873, đồn Độc Bộ kháng cự ác liệt lần này chúng cho quân chiếm đóng trước.Quân triều đình đóng ở trong thành Nam Định cùng nghĩa quân quyết tâm giữ thành Quan quân huy độngnhân công củng cố thành, đào đường, dựng chướng ngại vật

Ngày 24 tháng 2 năm 1883, Hăngri Rivie nhận được trên 500 quân tiếp viện quyết định đánh thànhNam Định Ngày 25 tháng 3 năm 1883, Hăngri Rivie gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Vũ Trọng Bình bắt nộpthành Vũ Trọng Bình không trả lời Thực ra trước đó các quan trong thành đã nổ ra cuộc tranh luận nênđánh hay nên hàng án sát Hồ Bá Ôn, Đề đốc Lê Văn Điếm nêu quyết tâm thà chết chứ không đầu hàng.Tổng đốc Vũ Trọng Bình và Phó Đề đốc Lê Trinh nói phải tuân thủ chỉ dụ của Tự Đức Giữa lúc đó thìNguyễn Hữu Bản đưa 300 quân đến thành trợ chiến và xin lãnh ấn tiên phong

6 giờ sáng ngày 25 tháng 3, Hăngri Rivie định tấn công, nhưng sương mù, hắn không nhận rõ mọi vậtnên không đánh được Hắn sai quan tư Carô và quan tư Bađăng đem quân đi trinh sát Đến trưa, khi mặttrời lên cao, sương tan, Hăngri Rivie mới lệnh bắn pháo vào thành

Sau loạt pháo dữ dội, quân Pháp đổ bộ tấn công thành Quân thứ của tỉnh do Đề đốc Lê Văn Điếm, án sát Hồ

Bá Ôn chỉ huy, nghĩa quân do Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Doãn Cử chỉ huy chiến đấu hết sức dũng cảm, đánhbật các đợt tấn công của quân Pháp Nhân dân trong thành cũng gõ trống mõ, thau chậu, hò la trợ chiến QuânPháp không tiến được sát chân thành phải tháo chạy về tàu chiến trên sông Vị Hoàng

7 giờ sáng ngày 27 tháng 3 năm 1883, Hăngri Rivie cho các khẩu đại bác đặt trên tàu chiến nã đạn dồn dậpvào thành Tên quan tư Carô liên lạc được với cố đạo người Nhật (tên Việt Nam là Nghiêm) coi nhà thờ NamĐịnh, lấy nhà thờ làm nơi hộ quân tấn công vào cửa Đông Đề đốc

Lê Văn Điếm, án sát Hồ Bá Ôn trực tiếp chỉ huy quân thứ, Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Doãn Cử chỉ huy nghĩaquân đánh trả quân Pháp quyết liệt Chính Hồ Bá Ôn bắn gãy chân tên quan tư Carô Chúng phải khiêng Carôvào nhà thờ cấp cứu và cưa một chân, hắn trao quyền chỉ huy cho Bađăng (hai tháng sau thì chết) HăngriRivie trực tiếp chỉ huy quân đội tấn công thành

Để cản đường quân Pháp, nhân dân đã tự động đốt những khu nhà lá suốt một dải từ phố Hàng Thao tớibến đò Quan dọc theo sông Vị Hoàng làm thành bức tường lửa ngăn chặn các mũi tấn công của giặc Pháp.Dọc theo đường phố cháy rực có một hàng rào xương rồng và cọc tre vạt nhọn ken sát nhau ngăn giặc tiếpcận thành Giặc Pháp phải vất vả, đổ nhiều xương máu mới vượt qua được lưới lửa và hàng rào tự nhiên đểvào sát chân thành, nhưng phải bỏ lại nhiều xác chết trên đường phố

Quân Pháp tập trung hỏa lực bắn dữ dội vào cửa Đông Đạn đại bác không phá được cổng, Hăngri Riviesai đại úy công binh Duypôniê (Duponier) đặt mìn phá công sự bên ngoài thành và phá cổng thành Quân ta từtrên mặt thành ném hàng loạt quả nổ xuống, dùng linh ba, mỏ giật xỉa xuống Quân Pháp bị thương vong nặng

Trang 32

nề nhưng vẫn liều chết xông vào Nguyễn Hữu Bản tình nguyện làm tướng tiên phong giữ cổng Đông, chỉ huyquân đánh giáp lá cà với giặc Đề đốc Lê Văn Điếm bị thương nặng ở bụng, ruột lòi ra, ông lấy tay ấn vào, lấykhăn chít đầu buộc lại tiếp tục chỉ huy quân sĩ chiến đấu cho tới khi kiệt sức Sau đó ông được quân sĩ dìu lênngựa chạy về cổng Tây rút ra ngoài án sát Hồ Bá Ôn bị trọng thương, quân sĩ đưa về làng An Duyên cấp cứurồi dùng thuyền đưa về quê nhà ở Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An phục thuốc, được 2 tháng thìchết.

Cổng thành phía Đông bị đại bác bắn sập đè lên người Nguyễn Hữu Bản và một số quân lính Thi thểông bị khói thuốc pháo cháy đen sạm Các phó tướng có mặt ở đây là Nguyễn Hữu Phu, Lãnh Hoan, HiệpVỡi, Nguyễn Năng Giản chỉ nhận ra ông bởi vóc dáng người cao to, chùm chìa khóa đồng và chiếc thắtlưng nhiều mầu cháy dở thắt bên hông

Nguyễn Hữu Cử được chứng kiến sự hy sinh oanh liệt của Nguyễn Hữu Bản và tinh thần chiến đấu tớicùng của các ông Lê Văn Điếm, Hồ Bá Ôn đã dũng cảm xông lên hô hào quân sĩ giết giặc trả thù cho cácông

Cổng Đông bị vỡ, quân Pháp ùn ùn kéo vào, Nguyễn Doãn Cử cùng Bang úc đã ở lại chặn giặc choquan quân rút về cửa Tây trước Khi hai ông rút đến cửa Tây, quân Pháp đuổi sát phía sau, Bang úc tìnhnguyện ở lại chặn giặc, để Nguyễn Doãn Cử rút trước rồi phá vây trở về phòng tuyến sông Hồng

Nhận được tin thành Nam Định thất thủ, Nguyễn Hữu Bản hy sinh, thượng thư trí sĩ Nguyễn Tư Giản

từ Bắc Ninh xuống tận nhà ông viếng đôi câu đối:

"Phương thư ngã do khai kính vọng,

Khả lân tử diệc dữ thành vong!

Dịch:

"Đương lúc tôi còn mở đường ngóng trông

Khá thương cái chết của ông cùng với thành mất!"

Vua Tự Đức mặc dù là người chủ trương cầu hòa, thực chất là đầu hàng giặc, nhưng trước cái chết anh

hùng của Nguyễn Hữu Bản, cũng viết trong "Châu phê":

"Nguyễn Hữu Bản vốn là sĩ tử trong hạt Trước đây đã có công lạc quyên giúp nước được thưởng chánh bát phẩm văn giai Nay tỉnh thành có giặc, lại mộ quân nghĩa dũng cùng với quan quân phòng thủ cửa Đông, chiến đấu chống giặc, tả xung hữu đột, bị địch bắn chết Ông thực là người có tấm lòng hiếu nghĩa nên truy tặng tước Hàn Lâm tu soạn để khích lệ đời sau Nguyễn Hữu Bản và Đề đốc Lê Văn Điếm đều bị chết trận Hai viên này quyết định thờ ở đình làng và được cấp tuất, con cái họ được phong ấm nhiêu án sát Hồ Bá Ôn chống chọi với giặc ở cửa Đông bị giặc bắn bị thương nên cấp cho 10 lạng bạc để điều trị thuốc men đến khi nào khỏi sẽ xét dùng Riêng Tổng đốc Vũ Trọng Bình vốn là chủ tướng bỏ thành chạy trước, chịu thua lại nói rằng đã gắng sức già quên khó nhọc, không sót hơi thở tàn, định coi cửa vua là muôn dặm chăng" 1

Vũ Công Tự người làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định cảm kích trước sự hy sinh của quândân Nam Định, trong trận bảo vệ thành Nam Định Ông có nhiều bài thơ ca ngợi các chí sĩ hy sinh vì nước

Sau đây là bài Khóc Nguyễn Hữu Bản:

Sái lệ thành Đông trọng ức quận,

Bán giang tà nguyệt, chiếu cô phần.

Thùy giao hắc dạ thành hư kế,

Bất hướng Hoàng Giang ẩm nghĩa quân,

Phủ kiếm khả lân không ách uyển,

Đàn quan dung dị phú đình vân.

Cửu nguyên ức phủ đăng tiền thoại,

Vị trợ phàm phong tẩy ế phân.

Dịch nghĩa:

I

Gạt nước mắt ở thành Cửa Đông lại càng thêm nhớ anh,

cô quạnh,

Ai khiến đang đêm mù mịt mưu kế trở thành hư không,

1 Dịch theo nguyên văn chữ Hán trong gia phả nhà Nguyễn Hữu Bản ở xã Vũ Trung - Kiến Xương Trần Việt Phương dẫn

trong bài Nguyễn Hữu Bản trong sách "Danh nhân Thái Bình".

Trang 33

Không được cùng nghĩa quân uống nước sông Hoàng để làm rượu.

Vỗ gươm thương nỗi bùi ngùi xuông,

Khí giận xông lên mũ, há dễ cầu hòa với giặc.

Khi ở suối vàng nhớ chăng câu chuyện trước đèn,

Mong gió thổi xuôi buồm để đi đánh giặc tẩy sạch cái khí hôi tanh mù mịt.

II

Khái nhiên phó địch xuất thành Đông,

Dụng vũ chân như địa dĩ cùng.

Giải giáp cách kham thù túc tích

Chiến trường dung dị khấp anh hùng

Tráng tâm khởi phụ Tây dương pháo,

Thiên ý không quai dạ tạc phong.

Thiên cổ năm châu nhân vật luận,

Khẳng giao thốn thổ nhượng Lê Công

Dịch nghĩa:

II

Khẳng khái xông ra đánh giặc ở thành Đông,

Dụng võ thực như đất đã cùng.

Cởi giáp lại đã đều chuyện cũ,

Chiến trường dễ dàng khóc anh hùng

Lòng băng sợ gì đại bác của Tây dương,

ý trời thổi mạnh luồng gió đền nọ chỉ uổng công

Nghìn năm ở nước Nam bàn về nhân vật,

Há chịu nhường cụ Lê nổi tiếng ở đất nhà.

(Tài liệu do Đinh Xuân Lâm, bản dịch của Hoa Bằng, in trong "Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX",Nxb Văn học Hà Nội, 1975)

Nguyễn Hữu Bản hy sinh nhưng con ông là Bang úc vẫn cùng Nguyễn Doãn Cử và các tướng khác tiếptục cuộc chiến đấu chống Pháp

Trang 34

Nguyễn Bơn

Sau khi quân Pháp ổn định tình hình chính trị ở Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 1883 (17 tháng 3

năm Quý Mùi), đích thân trung tá Hải quân Hăngri Rivie chỉ huy theo đường sông Vị Hoàng tiến đánh tỉnhthành Nam Định Hắn ngang ngược gửi tối hậu thư cho Tổng đốc

Vũ Trọng Bình, đòi ông phải giao nộp thành Tổng đốc cự tuyệt cùng các tướng và các thủ lĩnh nghĩa quânđược điều vào giữ thành tích cực chuẩn bị chiến đấu

Ngày 26 tháng 3 năm 1883 quân Pháp bắn đại bác vào cửa Nam rồi cho quân đổ bộ đánh chiếm Chúng đã

bị chặn lại bởi hỏa lực của quân triều đình do Đề đốc Lê Văn Điếm, án sát Hồ Bá Ôn chỉ huy Các thủ lĩnhnghĩa quân Nguyễn Bản, Nguyễn Doãn Cử, Nguyễn Thành Thà cũng vào trong thành phối hợp với quân thứNam Định chiến đấu Quân Pháp núng thế, phải rút về tàu chiến

7 giờ sáng ngày 27 tháng 3 sau hàng loạt đạn đại bác bắn vào Cửa Đông, quân Pháp đổ bộ lên bờ Từtrong thành, hàng trăm khẩu pháo1 bắn trả bọn giặc

Một tình huống không ngờ đối với quân Pháp là ngoài lực lượng quân trong thành đánh chúng thì ở cácphố phía Đông thành, nghĩa quân và nhân dân, từ các căn nhà, các góc phố đánh vào sau lưng chúng.Quyết liệt hơn là nhân dân tự đốt những căn nhà, dãy phố của mình từ phố Hàng Thao tới Đò Quan làmthành bức tường lửa ngăn chặn các mũi tấn công của quân Pháp

Lê Văn Điếm, Hồ Bá Ôn đứng trên mặt thành chỉ huy thấy hậu quân Pháp rối loạn, rồi cả mấy dãy phốbốc cháy lúc đầu tưởng quân của Kinh lược Nguyễn Chính đóng ở Đặng Xá (huyện Mỹ Lộc) đến phối hợp

Đề đốc Lê Văn Điếm cho một toán quân theo cửa Tây ra ngoài thành xem xét, thì được biết lực lượng đánhvào sau lưng quân Pháp là do thủ lĩnh Nguyễn Bơn chỉ huy Nguyễn Bơn, người Nam Định tự mộ quânđánh vào sau lưng quân Pháp Ông được nhân dân các phố ủng hộ một cách tích cực bằng hành động tự đốtnhà mình, phố mình tạo thành bức thành lửa cản đường quân giặc Các gia đình còn tự động nấu cơm, giếtlợn tiếp tế cho nghĩa quân, cứu chữa thương binh và gõ thanh la, trống mõ, thau chậu để cổ vũ nghĩa quân,

uy hiếp tinh thần quân giặc

Nhận được báo cáo trên, Đề đốc Lê Văn Điếm liềnxuất kho tiếp tế cho Nguyễn Bơn vài chục khẩu súng, thuốc đạn

Cuộc chiến đấu trong thành diễn ra quyết liệt khi giặc Pháp bắn đại bác và nổ mìn phá được cửa thànhphía Đông Thủ lĩnh nghĩa quân Nguyễn Bản hy sinh, Đề đốc Lê Văn Điếm bị trọng thương vào bụng vẫn

tự băng bó, tiếp tục chỉ huy chiến đấu án sát Hồ Bá Ôn cũng bị trọng thương Quân sĩ vội vực hai ông theocửa Tây thoát ra ngoài

13 giờ ngày 27 tháng 3 năm 1883 thành Nam Định lọt vào tay quân Pháp Quan quân rút theo cửa Tây,tập trung ở Mỹ Trọng, Cầu Gia, Tiểu Cốc xây dựng trận địa mới chống quân Pháp Nguyễn Bơn cũng đemquân đến phối hợp Nghĩa quân thắt chặt vòng vây, liên tục bắn đại bác vào thành, chặn đánh quân Pháp đicàn quét Lực lượng bao vây thành còn có cả người dân tộc Mường từ Ninh Bình tới phối hợp

Ngay khi chiếm được thành Hăngri Rivie đã giao cho Linh mục Puyghinê và cố đạo tên Nghiêm ở nhàthờ Nam Định 50 súng để hai tên gián điệp đội lốt cha cố thành lập một đơn vị ngụy quân người ThiênChúa giáo

Nguyễn Bơn và đội quân của ông thông thạo đường phố đã tập kích vào đội quân đạo này Tiếc rằng trongmột trận đánh diễn ra đêm 28 tháng 3 năm 1883, Nguyễn Bơn trúng đạn hy sinh

1 Sau khi quân Pháp chiếm được thành, chúng chiếm được 148 khẩu súng trong đó có cả 2 đại bác Ruyêlơ (Ruelle) và Rơvê

(Revers) do Pháp phải để lại cho ta theo Điều ước 1874.

Trang 35

Đinh Văn Chất

Đinh Văn Chất sinh năm Đinh Mùi (1847), người làng Kim Khê, tổng Kim Nguyên, huyện Chân

Lộc, tỉnh Nghệ An, nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Năm Mậu Thìn (1868) ông 22 tuổi

đỗ cử nhân, năm Ất Hợi (1875) ông 29 tuổi, đỗ tiến sĩ

Khi mới đỗ tiến sĩ, ông được bổ làm Tri phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Ngày 25 tháng 3 năm 1883,quân Pháp đưa tầu chiến vào tấn công thành Nam Định Khi đó ông làm tri phủ Nghĩa Hưng, ông đã chỉ huyquân lính và hô hào nhân dân trong huyện tham gia vào lực lượng vũ trang chống Pháp Đông đảo nhân dânhưởng ứng bằng cách cho con em tòng quân, tiếp tế lương thực tiền bạc để ông chi vào việc quân

Đinh Văn Chất chia quân đóng giữ các nơi hiểm yếu, các bến đò, ngã ba đường Ngày 27 tháng 3 năm

1883, thành Nam Định vỡ, Đề đốc Lê Duy Điếm, Nguyễn Bản hy sinh, án sát Hồ Bá Ôn bị trọng thương đượcquân sĩ cứu ra khỏi thành Thành vỡ quân sĩ chạy tán loạn, Đinh Văn Chất thu thập tàn quân ở thành NamĐịnh vào đội ngũ của mình Ông chỉ huy quân sĩ và nhân dân xây dựng các công sự chiến đấu để cản giặc.Mấy ngày sau quân Pháp tràn đến, ông đưa quân ra chống cự, nhưng vũ khí thô sơ không chống được súngtrường bắn nhanh, đạn đại bác từ tàu chiến bắn lên Ông đánh được vài trận, nghĩa quân tan rã, giặc Phápchiếm được trụ sở huyện Nghĩa Hưng, ông bỏ về vùng nông thôn

Sau đó Đinh Văn Chất thấy triều đình đầu hàng giặc, ông bỏ quan về quê ở làng Kim Khê mộ quân chốngPháp Cuộc khởi nghĩa do ông chỉ huy thất bại, ông bị thực dân Pháp bắt và xử chém vào cuối năm Quý Mùi(1883) Sĩ phu và nhân dân Nghệ An, Nam Định vô cùng thương tiếc

Tác phẩm của ông còn lại là Cảm tác 1, Cảm tác 2 bằng văn Nôm.

(Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa - Lịch sử 80 năm chống Pháp).

Trang 36

đinh gia quế giương cao cờ

"nam đạo cần vương - bình tây phạt tội"

Đổng quân vụ Đinh Gia Quế

Ngày 27 tháng 3 năm 1883 quân Pháp do trung tá Hải quân Hăngri Rivie chỉ huy từ Hà Nội

theo sông Hồng hạ thành Nam Định rồi cho viên thiếu úy Trentini (Trentini) đưa một toán bộ binh đi mộtchiếc tàu nhẹ tới đánh thành Hưng Yên Tuần phủ Nguyễn Đức Đạt, án sát Tôn Thất Phiên sợ hãi khôngdám chống cự, bỏ thành chạy Ngày 28 tháng 3 năm 1883 quân Pháp chiếm thành Hưng Yên không mấtmột viên đạn1

Căm thù giặc Pháp xâm lược và bọn vua quan triều đình hèn nhát đầu hàng giặc Pháp, Đinh Gia Quếphất cờ khởi nghĩa

Đinh Gia Quế sinh ngày 1 tháng 11 năm 1825, là con cụ Đinh Quý Công hiệu Gia Phúc và cụ bà Nguyễn

Ông học đến Khóa sinh thì chuyển đến làng Thọ Bình, tổng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châutỉnh Hưng Yên dạy học sau làm Chánh tổng rồi thăng Chánh tuần huyện Đông Yên1

Khi giặc Pháp chiếm tỉnh thành Hưng Yên, Đinh Gia Quế từ quan về quê, chiêu mộ nghĩa quân đánh

Pháp Để có danh nghĩa, ông tự xưng là "Đổng Quân vụ", giương cao cờ nền đỏ thêu tám chữ: "Nam đạo

Cần Vương - Bình Tây phạt tội".

Đinh Gia Quế lập căn cứ ngay tại ấp Thọ Bình, giữa các làng Yên Vĩnh, Đức Nhuận, Dương Trạchtrung tâm của vùng bãi sậy rộng mênh mông

Xa xưa sông Hồng chưa có đê thì từ Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ ngày nay đến cửabiển, chỉ là đầm lầy và một số gò đống, cồn cát nổi lên ở hai bờ Tả và Hữu ngạn sông Hồng Một số cư dân

đã đến cư trú trên các gò đống cao dọc theo bờ sông Hồng

Những người ở lại đều sống nghèo khổ bằng nghề gieo trồng rau màu vụ đông - xuân trên bãi và cấymột ít lúa chiêm Còn nghề chính của đồng bào là chài lưới, người không có vốn sắm thuyền, lưới thì đánhdậm, kéo vó, tát vét, kiếm cá…

Dân vùng Bãi Sậy vốn có truyền thống đánh giặc giữ nước từ thuở các Vua Hùng dựng nước, thời Hai

Bà Trưng, thời Triệu Quang Phục đóng quân ở đầm Dạ Trạch, thời Trần ba lần lui quân về hạ lưu sôngHồng mà vùng Khoái Châu là căn cứ lớn… đã từng giúp quan quân đánh giặc, giải phóng đất nước, nênkhi Đinh Gia Quế phất cờ khởi nghĩa mọi người đều hưởng ứng

Để có danh nghĩa tập hợp lực lượng, ông tự xưng là "Đổng Quân vụ"1 vì vậy nhân dân và quân sĩ gọi

ông là Đổng Quế Ông cũng giương cao lá cờ đỏ hình vuông có tám chữ là " Nam đạo Cần Vương - Bình

Tây phạt tội"2

1 Trịnh Như Tấu trích dịch trong quyển Notreo của A đơ Miriben và quyển Notic sur la Gardière du Tonkin dẫn trong quyển

Hưng Yên địa chí, xuất bản năm 1934.

1 Anh Nguyễn Văn ứng cháu bốn đời cụ Đinh Gia Quế cung cấp theo gia phả (con cháu của Đinh Gia Quế đổi từ họ Đinh sang

họ Nguyễn từ khi cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy thất bại, nay vẫn mang họ Nguyễn) và tham khảo gia phả họ Nguyễn Lê - họ cụ bà

Nguyễn Thị Duyên ở làng Thọ Bình.

Đinh Gia Quế có ba người vợ, bà chính thất là Nguyễn Thị Duyên, bà kế là Nguyễn Thị Hương, bà thứ ba là Nguyễn Thị Thao.

Bà chính thất sinh ra Nguyễn Thị Duyến, bà thứ hai sinh ra Nguyễn Thị Hương, bà thứ ba sinh ra Nguyễn Văn Vinh (Đông Yên

nay là huyện Khoái Châu).

1 Các tài liệu của Pháp như Les provinces du Tonkin Hưng Yên của De Miribel bản đánh máy viết tháng 12-1904 Notice sur

la province de Hưng Yên của Tòa sứ Hưng Yên, bản đánh máy tháng 1-1933 và sau đó là của các nhà sử học Việt Nam đều viết

Đinh Gia Quế tự xưng là Đông Nguyên nhưng nay chúng tôi căn cứ vào gia phả của dòng họ Đinh (con cháu vẫn mang họ Nguyễn

và lời kể của các bô lão ở làng Thọ Bình và con cháu cụ đến nơi cụ xưng là Đổng Quân vụ.

Trang 37

Cờ nghĩa phất lên, nhân dân trong vùng mến mộ ông từ khi ông ngồi dạy học, làm chánh tổng rồi tuầnhuyện vẫn giữ được lòng nhân nghĩa, tính cương trực của nhà nho luôn luôn đứng về phía dân nghèo, bảo

vệ quyền lợi cho họ, nên theo về rất đông Các tướng lĩnh của triều Tự Đức chống lệnh bãi binh của triềuđình như Tạ Hiện, Đốc Chính, Đề Dần ở Nam Định, Thái Bình cũng đến Bãi Sậy bàn kế hoạch phối hợptác chiến

Lực lượng nhân dân theo Đổng Quế rất đông, chính tên công sứ Hưng Yên Miribel đã phải thú nhận:

"Tất cả những người nông dân ở vùng Bãi Sậy đều theo Đinh Gia Quế chống người Pháp".

Đinh Gia Quế lấy vùng Bãi Sậy làm căn cứ Bãi Sậy là một vùng rộng lớn mênh mông, bát ngát thuộccác huyện Đông Yên, một phần các huyện Kim Động, Ân Thi của Hưng Yên, một phần huyện Văn Giangcủa tỉnh Bắc Ninh, một nửa huyện Mỹ Hào thuộc tỉnh Hải Dương mà trung tâm là đầm Dạ Trạch một vùngđất đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc từ năm 547, Triệu Quang Phục đã về xây căn cứ thực hiện chiếnthuật "Trì cửu chiến" đánh du kích mà làm nên nghiệp lớn, đánh đuổi được giặc Lương, giành độc lập chodân tộc Trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê vùng này được đắp đê đào sông tiêu nước, mở mangđồng ruộng, làng xóm đông vui, trù phú Nhưng từ năm 1802 Gia Long lên cầm quyền không coi trọng đêđiều, khuyến khích nông trang, nên vùng này thường bị lũ lụt, hạn hán Đặc biệt, dưới triều Tự Đức chỉriêng đê Phi Liệt ở Văn Giang vỡ 18 năm liền, dân chết đói, chết rét, tha phương cầu thực; cả một vùngrộng lớn trên trở thành bãi sậy, sậy mọc chồng chất lên nhau, có chỗ cao tới ba mét, đây cũng là nơi rắn rếtsinh sôi nảy nở

Đinh Gia Quế xây dựng tại ấp Thọ Bình một cái thành bằng gạch, chu vi năm mẫu Bắc Bộ có tườnggạch vây quanh; có một số nhà kho, trường tập bắn, sân luyện tập võ nghệ Đồn xây dựng không kiên cốlắm và thực sự nó chỉ là nơi làm việc của Đổng Quế, nơi hội họp của các thủ lĩnh và là nơi đóng quân củađội quân thường trực Trong đồn có đường địa đạo, nhiều đoạn được xây bằng gạch từ trong thành luồn ra

đê sông Hồng, đến đền Hóa Dạ Trạch, tỏa ra bãi sậy xung quanh Đường hầm rộng, có các ngã tư, haingười tránh nhau dễ dàng Trong địa đạo có kho lương, kho vũ khí, nơi làm việc, hội họp của bộ chỉ huy,nơi ăn ngủ của nghĩa quân Hầm có các lỗ thông hơi rất bí mật, các cửa hầm cũng bí mật có dấu riêng, chỉnghĩa quân thân tín mới được biết và cũng chỉ được biết một cửa Muốn vào được thành rất khó khăn vìphải vượt qua đầm lầy qua nhiều trạm gác công khai và bí mật và các bãi sậy nối tiếp nhau cao tới 3-4 métlớp nọ mọc đè lên lớp kia

Đặc điểm của nghĩa quân Bãi Sậy là trừ đội quân cơ động còn không tập trung, không ở trong thành lũynhư các cuộc khởi nghĩa đương thời khác Quân ở làng xã nào biên chế cơ đội theo từng xóm, làng, xã; chỉhuy cũng là người ở địa phương đó Nghĩa quân vẫn ở nhà làm lụng sinh hoạt như những nông dân bìnhthường khác, giặc tới thì đánh, hoặc có lệnh đi đánh nơi khác mới tập trung, đánh xong lại về làng Tuykhông thoát ly, nhưng nghĩa quân được huấn luyện sử dụng vũ khí kể cả súng bắn nhanh, học võ thuật, họctác chiến theo lối du kích Nghĩa quân còn có các lò rèn sản xuất súng kíp và làm theo mẫu súng 1874 củaPháp, riêng thợ rèn ở làng Hoàng Vân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu còn chế tạo được cả súng thầncông bắn đạn ghém, trong trận giếng Vàng (Bô Thời) bắn một phát loại khỏi vòng chiến đấu một phân độilính khố xanh đang tập hợp trên đường 39 Rất nhiều làng xây dựng làng chiến đấu trồng tre, đắp lũy kínxung quanh làng, chỉ để hai cổng ra vào và đường rút lui bí mật

Với phương châm "bất biến vi dân, biến vi binh" nên làng nào cũng có người gia nhập nghĩa quân kể cả

các xã gần thị trấn, dọc đường 39

Ngày 6 tháng 3 năm Quý Mùi (ngày 8-4-1883)1 Đổng Quế tế cờ khởi nghĩa ở Văn Chỉ Bình Dân2 Tới

dự lễ Tế cờ có đông đủ các tướng lĩnh, đội danh dự nghĩa quân và còn có Tán tương quân vụ NguyễnThiện Thuật, Đốc binh Tạ Hiện, Đốc Chính, Đề Dần từ Hải Dương, Nam Định, Thái Bình đến dự

Ngay sau lễ Tế cờ, nghĩa quân Bãi Sậy do Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế chỉ huy đã tiến đánh quân Pháp

ở nhiều nơi nay ta còn biết được một số trận như sau:

2 Từ trước tới nay các tài liệu của Pháp cũng như của Việt Nam đều viết: “Cờ của ông có bốn chữ "Bình Tây phạt tội” không nói rõ

cờ màu gì Thực ra cụm từ này chỉ là động từ, đứng trước nó phải là cụm từ danh từ Cũng

theo gia phả họ Đinh (nay con cháu vẫn mang họ Nguyễn thì là cờ của

Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế màu đỏ có tám chữ "Nam đạo Cần Vương -

Bình Tây phạt tội”.

1 Theo gia phả họ Đinh (Nguyễn) ở Thọ Bình.

2 Piglowski Histoire de la Garde Indigene du Tonkin.

Trang 38

- Dân theo đạo Thiên chúa thôn Sài Quất, tổng Đại Quan thường đi do thám các hoạt động của nghĩaquân báo cho quân Pháp, Đổng Quế cho đội tuyên truyền đến giải thích thì chúng vũ trang đánh giết nghĩaquân, Đổng Quế giao cho Lãnh Điển đưa quân tấn công đám dân công giáo phản động ở làng này.

- Trong một trận đánh lớn ở làng Đức Nhuận, cạnh xã Yên Vĩnh gần đền Hóa Dạ Trạch, nghĩa quânmặc quần áo như nông dân, bọn Pháp chỉ nhận ra người chỉ huy là Lãnh Sậy (Nguyễn Đình Mai) vì ôngchít khăn xanh và thắt lưng đỏ1

- Những tên chỉ huy quân Pháp ở Bắc Kỳ quyết định thành lập một binh đoàn mạnh tiến từ Hải Phònglên nhằm đánh bật quân của Đổng Quế ra sông Hồng để tiêu diệt Đại tá Đônniê (Donnier) thuộc Lữ đoànNigriê (Négrier) chỉ huy binh đoàn này Đại tá Đônniê với đội quân hùng hậu, trang bị mạnh, nhưng tấn

công vào Bãi Sậy đã bị thiệt hại nặng nề, phải rút quân, và cay đắng thú nhận: " Vì những lý do tôi nói ở

trên cuộc hành quân này cũng không đạt được kết quả, mà chỉ làm cho dân chúng nghèo đói thêm"2

quân đội Pháp ở Trung - Bắc Kỳ liền giao cho Hoàng Cao Khải khi đó đang làm án sát Hưng Yên phối hợpvới quân Pháp đánh Đổng Quế Hoàng Cao Khải được quân Pháp hỗ trợ bằng công binh, pháo binh, tàuchiến trang bị đại bác diễu võ dương oai dưới sông Hồng hỗ trợ Hoàng Cao Khải hung hăng ra trận vớimưu đồ chỉ trong một trận dồn nghĩa quân vào chỗ chết Khải ra lệnh cho quân lính phải vượt bãi sậy màtiến vào Điều làm chúng hoảng sợ là rất nhiều hầm hào luồn dưới những thân sậy lớp nọ chồng lên lớpkia Rắn độc cũng rất nhiều, nhiều tên bò vào trinh sát bị rắn cắn chết Đại tá Đônniê cho một toán quânliều chết thọc sâu vào căn cứ thì cả toán không một tên nào sống sót trở về mà không hề có một tiếng súng

nổ Cay cú, Hoàng Cao Khải cho lính dàn hàng ngang tiến vào Bọn lính phải vượt qua những đám sậy caotới ba mét cùng những gai mỏ quạ, cà gai leo, gai dứa và những cây lá han đụng vào là sưng tấy, nhức buốtđến tận xương Khi chúng phải lội qua đầm lầy, kênh rạch thì vô vàn những con đỉa đói bám lấy chúng màhút máu Quân giặc dò dẫm như đi vào mê hồn trận, đang lúc bàng hoàng chưa biết đi về hướng nào thì cờ

đỏ phất lên, lập tức nghĩa quân nấp trong các hầm hào, địa đạo bí mật nổ súng

Hơn ba chục tên đổ vật xuống giãy giụa trong vũng máu, bọn sống sót vừa nằm dán mình xuống đầmlầy tránh đạn thì nghĩa quân cầm kiếm, mã tấu, đoản đao xông ra đánh giáp lá cà Trong trận hỗn chiến đóhàng chục tên lính Pháp, lính Nam bị giết chết bởi thứ vũ khí thô sơ mà chúng rất coi thường Bọn còn lại

bỏ những tên bị thương đang rên la cùng toàn bộ súng đạn để thoát thân Bọn giặc nhìn thấy một hướngtrống trải liền chạy xô cả về phía đó, chúng kinh hoàng khi đất lở dưới chân, cả bọn sa vào hố chông Bịthiệt hại lớn, Hoàng Cao Khải điên khùng cho đốt bãi sậy thì chính lửa lại bao vây lấy chúng, khiến chúngkhông có đường ra Quá khiếp đảm bọn lính Pháp, lính Nam không chờ lệnh chỉ huy đã tháo chạy như vịt.Trận này quân Pháp chết và bị thương cùng với súng ống hầu như mất gần hết Nhưng thất bại lớn hơn cả

là lính Pháp, lính Nam khiếp sợ nghĩa quân Bãi Sậy, mỗi lần bị bắt đi đánh Bãi Sậy nhiều tên khiếp sợ bỏtrốn1

Quân Pháp rút về đóng ở phủ lỵ Khoái Châu và nhiều lần xua quân đi đánh Bãi Sậy nhưng không dámvào sâu mà vẫn bị phục kích, tập kích

Nghĩa quân Bãi Sậy do Đổng Quế chỉ huy bị quân Pháp tấn công liên tục nhưng không bị tiêu diệt màquân số ngày càng phát triển, được trang bị thêm nhiều súng bắn nhanh và dày dạn kinh nghiệm chiến đấu.Ban ngày nghĩa quân ở trong căn cứ, ban đêm đi tập kích các đồn địch Nhân dân đã tự động làm công táctrinh sát, phát hiện các cuộc càn quét của giặc báo cho nghĩa quân, nên nghĩa quân đã kịp thời đón đánhchúng Nghĩa quân không chỉ đánh giặc khi chúng xâm phạm vào căn cứ, mà còn tấn công các đồn binhBình Phú, Lực Điền, Thụy Lân (Yên Mỹ) đồn Bần, đồn Thứa (Mỹ Hào), đồn phủ Ân Thi, đồn Thụy Lôi(Tiên Lữ) các đồn ở huyện Văn Giang và phục kích quân Pháp trên đường số 5, đường 392

Bọn cầm đầu quân sự Pháp ở Trung - Bắc Kỳ phải thú nhận: "Nghĩa quân vẫn thật sự cai trị các làng,

còn bọn quan cai trị Pháp đặt ở các phủ huyện để cai trị dân thì tỏ ra bất lực và hoảng sợ trước sự phát

1 Piglowski Histoire de la Garde Indigene du Tonkin.

2 A đơ Miriben: La Pronme de Hưng Yên (Lịch sử cuộc chiếm đóng Hưng Yên).

A đơ Miriben - Theo Cuộc chiến đấu của nghĩa quân Bãi Sậy Lịch sử Quân sự số 46 tháng 12-1989.

2 Đuyơmăng nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc.

Trang 39

triển của nghĩa quân, chúng bỏ trốn vào các tỉnh lỵ Phần đông các tổng lý lại có cảm tình hoặc ủng hộ quân khởi nghĩa"1.

Vì vậy quân Pháp phải rút khỏi Bãi Sậy, nhưng vẫn luôn luôn chú ý đến vùng này

Từ đó quân Pháp, quân Nam chỉ nghe tiếng Bãi Sậy là đã sợ hãi trốn tránh không dám liều mạng vào

chỗ chết Chính Đuyơmăng (Dulleman) cũng phải thú nhận: "Khu vực Bãi Sậy bọn phản nghịch đương đầu

với lực lượng của chúng ta và né tránh được các cuộc truy lùng Tướng Đờ Cuốcxi (De Courcy) đích thân

đi tuần tiễu thành công một phần"2

Cuối năm 1883, đầu năm 1884 trên toàn mặt trận, thế lực của Đổng Quế ngày càng lớn mạnh Nhưngkhi quân Pháp đưa quân từ Hải Dương, Hải Phòng đến uy hiếp căn cứ Bãi Sậy thì Nguyễn Thiện Thuật đưaquân về đóng ở huyện Mỹ Hào để chi viện cho Đổng Quế, quân Pháp e ngại không dám tấn công Bãi Sậy

vì sợ Nguyễn Thiện Thuật đánh tập hậu3

Nhận xét về cuộc chiến đấu của Đinh Gia Quế, một quan chức Pháp viết trong quyển Lịch sử cuộcchiếm đóng Hưng Yên "La Pravince de Hưng Yên" viết xong tháng 1 năm 1933 bằng tiếng Pháp, không ký

tên tác giả, có đoạn như sau: "Từ năm 1883 đến năm 1885 giặc cướp nổi lên khắp nơi dưới sự chỉ huy của

Đổng Quế; lau sậy giúp họ có chỗ để ẩn nấp, lính tráng không vào được Từ ngoài nhìn vào không thấy,

họ như đàn hổ náu sau bụi rậm Bất thình lình nhảy ra vồ mồi Điều đó giải thích tại sao các cuộc cố đánh dẹp, quân giặc thắng và đại nhân Hoàng Cao Khải lại thua"1

Khoảng cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 1885 (cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm ất Dậu) sau khi đánh thắngcuộc càn quét lớn của quân Pháp - Nam do Hoàng Cao Khải chỉ huy vào căn cứ Bãi Sậy, Đinh Gia Quế,Lãnh binh Nguyễn Đình Mai chỉ huy một cánh quân vượt sông Hồng đuổi theo quân Hoàng Cao Khải quahuyện Thường Tín đến làng Thanh Trì, huyện Thanh Trì (gần cảng Phà Đen, Hà Nội) Hoàng Cao Khải sắp

bị bắt thì có kẻ đưa đi trốn, các ông liền dẫn quân quay về Vì không phòng bị nên đến bến đò Vạn Phúcthì bị quân Pháp phục kích, nghĩa quân thua to, tan rã Đổng Quế phải chạy lên một làng ở gần bến đò Hồ(Thuận Thành, Bắc Ninh) Khoảng một tháng sau ông trở về phải bắt một em bé khoảng bốn tuổi giả làmhai ông cháu về quê2 Quân Pháp truy sát ráo riết, ông phải lánh lên ấp Dương Trạch cũng ở trong tổngBình Dân, huyện Đông Yên, trong căn cứ Bãi Sậy dưỡng bệnh Khi đó ông đã tròn 60 tuổi sức yếu nênbệnh ngày càng nguy kịch Biết mình không cầm quân được, khó lòng qua khỏi, ông giao binh quyền choChánh Đề đốc Nguyễn Đình Tinh làm Tổng chỉ huy nghĩa quân Bãi Sậy Đổng Quế mất ngày 21 tháng 11năm ất Dậu (khoảng cuối tháng 12-1885)1

1 Đuyơmăng nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc.

2 Hưng Yên địa chí, nhà in Ngô Tử Hạ, Hà Nội, 1934.

3 Trịnh Như Tấu: Hưng Yên địa chí và Chống xâm lăng của Trần Văn Giàu.

1 Chúng tôi cho rằng tháng 7-1885 Đổng Quế vẫn rất mạnh đánh bắt Hoàng Cao Khải ra khỏi căn cứ Bãi Sậy còn vượt sông

Hồng truy kích chúng đến tận làng Thanh Trì, huyện Thanh Trì, Hà Đông, điều này phù hợp với gia phả họ Đinh (Gia Quế) họ

Nguyễn Xuân Mai ở Thọ Bình.

2 Người đó sau trở thành con nuôi Đổng Quế, thành một chi họ ở Thọ Bình, nay cháu bốn đời mới tìm thấy quê quán ở Thuận

Thành.

1 Tư liệu trên là do anh Nguyễn Văn ứng cháu bốn đời cụ Đinh Gia Quế cung cấp theo gia phả với tác giả.

Tháng 7-1885 Nguyễn Thiện Thuật ở Long Châu về nước, tháng 8 ông đến căn cứ Bãi Sậy, tháng 9 ông làm lễ Tế cờ khởi

nghĩa ở Văn Chi xã Bình Dân, chắc chắn trước đó hai người đã gặp nhau bàn bạc công việc VTS.

Trang 40

Tán tương quân vụ

Nguyễn Hữu Đức

Nguyễn Hữu Đức còn gọi là Nguyễn Đức, người làng Mễ Xá, tổng Nhân Vũ, huyện Ân Thi1.Ông đậu cử nhân nhưng không ra làm quan ở nhà dạy học, ngấm ngầm nuôi chí đánh Pháp Vợ ông làNguyễn Thị Âu, người thôn Đệu (Xuân Dục) cùng quê với Nguyễn Thiện Thuật Con trai ông là NguyễnHữu Hạnh lấy con gái ông Nguyễn Thiện Thuật là Nguyễn Thị Trúc

Ông Hạnh cũng có chí hướng chống Pháp như cha

Ngày 28 tháng 3 năm 1883 thành Hưng Yên bị quân Pháp hạ một cách dễ dàng vì quan quân ươn hènkhông dám đánh chúng Đinh Gia Quế đang làm Chánh tuần huyện Đông Yên căm thù giặc Pháp và quanlại triều đình Huế, bỏ quan chuẩn bị khởi nghĩa, đã đến bàn với ông, được ông nhất trí và tham gia ngay từđầu Con trai ông cũng tham gia cuộc khởi nghĩa của Đinh Gia Quế Nguyễn Hữu Đức đã vận động concháu, môn sinh và trai tráng trong vùng gia nhập nghĩa quân Tiêu biểu như tại Mễ Xá có các ông Cù VănHiên là Đốc vận quân lương, Trần Văn Biền, Quản Lâu, Quản Nhân (Trần Văn Nhân), Trần Văn Vừng.Các ông Nhân, ông Lâu đánh trận Bãi Sậy được Đổng Quế phong chức quản ở xã Gạo Bắc1 có Lê CôngTrứ được phong là Lãnh binh làm phó cho Nguyễn Đình Tiêm ở Mão Cầu Nhà ông Trứ rất giàu, ông ủng

hộ nghĩa quân rất nhiều thóc gạo, tiền bạc Ông là người phụ trách quân lương, mẹ và vợ ông cùng nhữngngười trong gia đình ông lo lương thực, thực phẩm cho nghĩa quân Mẹ ông mua tới 50 cái chum lớn đểmuối cà, nhiều lần gia đình ông nắm tới 300 nắm cơm chở xuống thuyền tiếp tế cho nghĩa quân Xã ĐanTràng có Quản giáp Dương Văn Vũ, Lãnh Tài (sau Lãnh Tài đánh trận Hương Quan bị Pháp giết) Xã TràPhương2 có Đội Bản, Đội Khao, Quản Báu, Quản Tháp, Quản Vòi Tại Mão Cầu có Chánh tổng NguyễnĐình Tiêm được phong là Hành tả tướng quân thường gọi là Lãnh Tiêm

Toàn dân các xã Mễ Xá, Nhân Vũ, Nhân Lý, ấp Nhân Lý (nay đều thuộc xã Nguyễn Trãi huyện ÂnThi) đã rào làng thành lập "liên làng chiến đấu" trồng tre, đắp lũy, đào hào cố thủ Tất cả dân làng đều lànghĩa quân, phục vụ chiến đấu, giặc nhiều lần đem hàng trăm quân không lọt được vào các làng suốt từ

Tháng 7 năm 1885, Nguyễn Thiện Thuật đang ở Long Châu (Trung Quốc) nhận được chiếu Cần Vươngcủa vua Hàm Nghi đã trở về nước gặp Lễ bộ thượng thư Nguyễn Quang Bích nhận chiếu Cần Vương vàsắc vua Hàm Nghi phong cho là Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật trở về vùnggiáp ranh Hải Dương - Hưng Yên - Bắc Ninh, mời ông Nguyễn Đức và cử nhân Ngô Quang Huy đến bàncách khôi phục cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy Ông được Nguyễn Thiện Thuật giao cho phụ trách miền NamHưng Yên và làm sớ dâng vua Hàm Nghi phong ông là Tán tương quân vụ Vì thế nghĩa quân và nhân dân

1 Mễ Xá nay thuộc xã Nguyễn Trãi, Ân Thi Theo gia phả họ Nguyễn Hữu ở Mễ Xá do chắt ngoại cụ Cử Đức là Văn Quang

cung cấp.

1 Gạo Bắc nay thuộc xã Hồ Tùng Mậu (Ân Thi).

2 Trà Phương nay thuộc xã Hồng Vân (Ân Thi).

1 Cụ Nguyễn Văn Độ, cán bộ tiền khởi nghĩa thôn Mễ Xá, xã Nguyễn Trãi, huyện Ân Thi cung cấp cho tác giả tháng 6 năm

1999.

Ngày đăng: 12/01/2019, 19:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w