sáng kiến kinh nghiệm tiểu học hay và chất lượng từ các trường chuẩn trong cả nước. Với các Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học này quý thầy cô sẽ có nguồn tài liệu tham khảo hay, củng cố xây dựng phương pháp dạy hiệu quả, qua đó giúp các em học sinh tiếp thu bài tốt, nắm vững kiến thức phát triển tư duy trí tuệ. Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học tập hợp các đề tài đa dạng mang tính ứng dụng cao như ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài:
Tiếng việt là một môn học rất quan trọng của bậc học Tiểu học phổ thông
Để nói, viết được một câu đúng ngữ pháp, đúng với nội dung mà mình muốntruyền đạt thì thật không dễ Nói, viết đúng nhưng phải diễn đạt làm sao cho ngườikhác hiểu được ý của mình truyền đạt, đó là một vấn đề hết sức khó khăn khôngnhững đối với học sinh tiểu học mà đối với tất cả người Việt chúng ta Vì thế mỗicon người Việt Nam cần phải rèn luyện cho mình vốn từ vựng và khả năng sử dụngtiếng mẹ đẻ của mình ngay từ khi bắt đầu đi học các lớp ở bậc Tiểu học
Ở trường Tiểu học, phân môn Tập làm văn; Luyện từ và câu (thuộc môntiếng Việt) đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển năng lực trí tuệ, phẩmchất tốt đẹp của học sinh Nó trang bị cho HS tiểu học một khối từ vựng để hìnhthành những khái niệm, cùng với việc nắm vững cấu trúc ngữ pháp để nói và viếtđược một câu hoàn chỉnh, cho phù hợp với ngữ cảnh cụ thể và cho người khác hiểuđược
Hơn nữa, học sinh tiểu học là thế hệ trẻ, là mầm móng tương lai của đấtnước Chính vì vậy mà dạy cho học sinh tiểu học ngay từ ban đầu là việc rất cầnthiết Nếu như ở tiểu học mà học sinh không có vốn từ vựng, viết câu không đúng,thiếu chủ ngữ, vị ngữ, viết câu cụt, câu què, viết sai lỗi chính tả…thì lên các lớptrên, cũng như khi các em ra làm việc lúc đó khó mà sữa được
Chúng ta sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Việt Nam thì chúng ta phải dùngngữ pháp của Việt Nam điều đó là hiển nhiên Nhưng theo người xưa đã nói “phong
ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” vậy ngữ pháp Việt Nam khó như thế
nào? Để hiểu một phần nào đó về câu nói ấy, tôi quyết định chọn đề tài “Lỗi về câu ghép trong bài tập làm văn của học sinh tiểu học”.
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Do vốn kinh nghiệm của các em còn non yếu, trong khi viết câu thườngmắc nhiều lỗi; vì thế mục tiêu của đề tài nghiên cứu thực trạng những kiến thức vềngữ pháp, cấu trúc câu và đặc biệt đi tìm hiểu học sinh thường mắc những lỗi nào,nguyên nhân tại sao các em lại mắc những lỗi đó để tìm cách khắc phục cho họcsinh và tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp nhầm hạn chế học sinh mắc lỗi vềcâu một cách ít nhất
Đề tài này giúp tôi rất nhiều trong việc phát hiện ra nhiều lỗi sai khác nhautrong câu ghép của học sinh tiểu học Qua đề tài này còn giúp tôi nắm rõ, hiểu sâuhơn về cấu trúc ngữ pháp của câu, là điều kiện để giúp tôi giảng dạy tốt hơn cácphân môn thuộc môn Tiếng Việt bậc tiểu học
Trang 23 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này được thực hiện chủ yếu trên những bài tập làm văn của học sinhtiểu học Trên cơ sở những bài tập làm văn đó tôi tìm những câu ghép mà học sinhviết sai để tìm hiểu và nghiên cứu
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu đề tài này trong phân môn Tập làm văn; Luyện từ vàcâu (thuộc môn tiếng Việt) của học sinh trường tiểu học , huyện ,
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài này tôi nghiên cứu theo các phương pháp sau:
* Tham khảo tài liệu về lý thuyết câu ghép
* Trực tiếp đọc các bài tập làm văn của học sinh tiểu học từ đó tìm ra các lỗisai về câu ghép mà học sinh thường hay mắc phải
* Phân loại những lỗi sai của câu ghép và đưa ra những ví dụ cụ thể đểminh họa
* Phân tích và tìm ra cách sửa sai
* Rút ra phương pháp dạy học cho học sinh một cách tốt nhất
* Rút ra kết luận chung
B PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận
Trong đời sống hàng ngày thường thường ai cũng có thể biết được thế nào
là một câu, ranh giới một câu Nhưng trong ngôn ngữ cho đến nay người ta chưa cómột định nghĩa nhất trí về câu
Câu không phải là đơn vị có sẵn của ngôn ngữ, nó chỉ là tổ hợp được thànhlập khi con người vận dụng ngôn ngữ để tư duy, giao tiếp hay truyền đạt tư tưởng,tình cảm, cảm giác, ý chí, thái độ Do vậy để diễn đạt một tư tưởng trọn vẹn thì rấtkhó định hạn, có thể dùng một phần của câu, một câu, vài ba câu hay một đoạn, mộtbài nói, một bộ sách… mới giải được một tư tưởng trọn vẹn
Câu là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong vàbên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn haythái độ, sự đánh giá của người nói giúp hình thành và biểu hiện truyền đạt tư tưởngtình cảm, câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ
Trong tiếng việt có 2 loại câu: Câu đơn và câu ghép
- Câu đơn bình thường là câu có đầy đủ một cụm chủ ngữ, vị ngữ và xác
định thường chủ ngữ đứng trước, vị ngữ đứng sau, nhưng cũng có khi ngược lại,
Trang 3câu đơn bình thường có hai cấu trúc về nghĩa và một đối tượng, một nội dung, còncâu đơn đặc biệt là câu có một cấu trúc về nghĩa.
Ví dụ:
+ Câu đơn bình thường: Trời mưa.
+ Câu đơn đặc biệt: Mưa.
- Câu ghép là câu gồm có hai nòng cốt trở lên, mỗi nòng cốt như vậy có
cấu tạo như câu đơn bình thường hoặc hệ câu đơn đặc biệt, thể câu đơn mở rộng Cókhi mỗi nòng cốt như vậy có cấu tạo là thể câu ghép Các nòng cốt có liên kết lạivới nhau theo mối quan hệ ngữ nghĩa và ngữ pháp nhất định nhằm tạo ra một thôngbáo nào đó
- Từ định nghĩa, ta rút ra nhận xét:
+ Khi cả hai vế câu đều là cụm chủ - vị và vô luận cụm chủ - vị ở vế phụđứng trước, đứng sau hay đứng giữa cụm chủ - vị là vế chính
Ví dụ: Vì anh bị đau, anh không đến lớp được.
Nhờ anh can thiệp cho nó, nó khỏi bị thương.
+ Khi vế phụ là cụm chủ - vị còn vế chính là một vị từ (cụm vị từ), hay mộtdạng câu đặc biệt
Ví dụ: Do anh buồn chán mà đi lang thang.
Do anh lười học nên không thi đậu vào đại học.
+ Khi cả hai vế, mỗi vế đều chỉ có một vị từ (cụm vị từ) hay câu đặc biệt
Ví dụ: Vì đông người nên tắc đường.
Vì mưa nên đường trơn.
* Phân loại câu ghép:
- Từ trước đến nay, cách phân loại câu ghép thường gặp là phân loại theocăn cứ vào kiểu mối quan hệ giữa các vế của câu ghép;
Có hai loại câu ghép:
+ Câu ghép liên hợp
+ Câu ghép qua lại
- Câu ghép liên hợp là loại câu ghép gồm 2 nòng cốt trở lên liên kết vớinhau theo mối quan hệ liên hợp nhằm tạo nên một thông báo nào đó
Ví dụ: Chim kêu, vượn hót, thác đổ ầm ầm.
Anh ra đi còn tôi ở lại.
- Câu ghép qua lại là loại câu ghép gồm hai nòng cốt liên kết với nhau theomối quan hệ qua lại nhằm tạo nên một thông báo nào đó Trong câu ghép qua lại vếnày là điều kiện tồn tại của vế kia và ngược lại
Ví dụ: Giá có anh giúp đỡ một tay thì việc này đã xong rồi.
II Thực trạng:
* Thuận lợi:
Trang 4- Trường Tiểu học luôn nhận được sự quản lý chỉ đạo chuyên môn kịpthời của Phòng Giáo dục Đào tạo Bên cạnh đó, trường còn nhận được sự quantâm tích cực, thường xuyên chỉ đạo của Đảng uỷ, UBND xã
- Đại đa số phụ huynh, học sinh của nhà trường có truyền thống ham, hiếuhọc, quan tâm tạo điều kiện cho con cái học tập tốt
- Đội ngũ cán bộ giáo viên nhân viên cơ bản đầy đủ, trẻ khoẻ nhiệt tìnhcông tác, trình độ chuyên môn được đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn
- Cơ sở vật chất: phòng học, trang thiết bị, đồ dùng dạy học cơ bản đảm bảođầy đủ để phục vụ dạy học hai ca
- Học sinh chăm ngoan, chuyên cần
Tiếng việt là một môn học rất quan trọng của bậc học Tiểu học phổ thông
Để nói, viết được một câu đúng ngữ pháp, đúng với nội dung mà mình muốntruyền đạt thì thật không dễ Nói, viết đúng nhưng phải diễn đạt làm sao cho ngườikhác hiểu được ý của mình truyền đạt, đó là một vấn đề hết sức khó khăn khôngnhững đối với học sinh tiểu học mà đối với tất cả người Việt chúng ta Vì thế mỗicon người Việt Nam cần phải rèn luyện cho mình vốn từ vựng và khả năng sử dụngtiếng mẹ đẻ của mình ngay từ khi bắt đầu đi học các lớp ở bậc Tiểu học
Ở trường Tiểu học, phân môn Tập làm văn; Luyện từ và câu (thuộc môntiếng Việt) đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển năng lực trí tuệ, phẩmchất tốt đẹp của học sinh Nó trang bị cho HS tiểu học một khối từ vựng để hìnhthành những khái niệm, cùng với việc nắm vững cấu trúc ngữ pháp để nói và viếtđược một câu hoàn chỉnh, cho phù hợp với ngữ cảnh cụ thể và cho người khác hiểuđược
- Hạn chế:
Vốn kiến thức và kinh nghiệm của các em còn non yếu trong khi viết câuthường mắc nhiều lỗi; các em chưa nắm vững những kiến thức về ngữ pháp, cấutrúc câu nên học sinh thường mắc những lỗi khi viết hoặc nói câu ghép
3 Mặt mạnh - mặt yếu:
Trang 5Năm học 2013 - 2014 trường có 34 cán bộ giáo viên, nhân viên trong đó có
02 cán bộ quản lí, 5 nhân viên, 26 giáo viên tiểu học Tổng số học sinh toàn trường
là 388 học sinh/16 lớp
Trình độ chuyên môn của giáo viên: 100% các đồng chí giáo viên đạt trình
độ chuẩn và trên chuẩn Trong đó Đại học: 09 ; cao đẳng 12 và 12 trung học sưphạm
Đại đa số giáo viên có tuổi nghề trên 05 năm, có nhiều kinh nghiệm trongcông tác giảng dạy đặc biệt trong công tác dạy tiếng Việt về luyện từ và câu; côngtác chủ nhiệm cũng như quan hệ, trao đổi với phụ huynh; có đội ngũ nòng cốtchuyên môn nhiệt tình, năng nổ
Tuy vậy vẫn còn số ít giáo viên do tuổi cao, nhà ở xa, vẫn còn hạn chế trongcông tác giảng dạy và nghiên cứu chuẩn bị bài nên hiệu quả các tiết dạy về câu ghépđạt hiệu quả chưa cao
4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Vốn tiếng Việt của học sinh Tiểu học đang còn hạn chế, thậm chí một sốhọc sinh dân tộc chưa thạo tiếng việt Phần lớn các em viết câu thiếu thành phần chủngữ và vị ngữ bởi các em còn nhỏ nên nhiều khi yêu cầu của đề bài như thế nào, các
em tìm những từ ngữ thật sinh động, thật hay để viết mà quên cấu trúc của câu nên
đa số các em viết toàn thành phần phụ bởi trước có quan hệ từ như: qua, vì … Trongcâu chủ ngữ nếu đứng sau quan hệ từ mà không phải câu ghép qua lại, nghĩa là vếsau không có quan hệ từ, nên ở vế trước chủ ngữ cộng với quan hệ từ đó tạo thànhphần phụ của câu
Thường thường các em hay mắc phải lỗi sai về câu ghép trong bài tập làmvăn tiểu học gồm:
- Câu không đủ thành phần như: Câu ghép bị thiếu hẳn chủ ngữ, chủ ngữkhông xác định; lỗi sai về vị ngữ trong câu ghép; câu thừa thành phần, không phânđịnh rõ thành phần, câu sai do sắp xếp sai vị trí các thành phần
- Câu lỗi về nghĩa như: Câu sai nghĩa, câu không rõ nghĩa , câu không có sựtương hợp về nghĩa giữa các thành phần câu giữa các vế câu
- Lỗi dấu câu – lỗi về hình thức như: Lỗi không dùng dấu câu hoặc dùng
dấu câu sai, sai về lỗi chính tả
Mặt khác để nói, viết được một câu đúng ngữ pháp, đúng với nội dung màmình muốn truyền đạt thì thật không dễ Nói, viết đúng nhưng phải diễn đạt làm saocho người khác hiểu được ý của mình truyền đạt, đó là một vấn đề hết sức khó khănkhông những đối với học sinh tiểu học… trong khi đó một số em chưa thành thạotiếng việt, vốn từ còn hạn chế các em chủ yếu được học ở lớp chứ về nhà các bậcphụ huynh chưa quan tâm đúng mức nên các em không chú trọng ôn tập học bàilàm bài ở nhà trước khi đến lớp
Trang 65 Phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra:
Trong thực tế giảng dạy học sinh hàng ngày tôi đã phát hiện các lỗi sai cơbản về câu ghép trong bài tập làm văn tiểu học gồm:
5.1 Lỗi về cấu tạo ngữ pháp:
Bao gồm Câu không đủ thành phần như câu ghép bị thiếu hẳn chủ ngữ, vị
ngữ, hoặc câu không xác định được chủ ngũ vị ngữ; câu thừa thành phần, câu khôngphân định thành phần;
Chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần chính không thể thiếu được trong câughép, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, học sinh tiểu học viết thiếuthành phần chủ ngữ do các nguyên nhân:
- Học sinh hiểu nhầm lẫn tưởng đó là câu có hai vị ngữ Có khi các em chú
ý vào việc dùng từ ngữ như thế nào để diễn tả đối tượng nên không chú ý đến câu vìthế mà các em cứ viết và cứ nghĩ rằng như thế là câu đã trọn vẹn, đúng nghĩa vàđúng ngữ pháp
- Học sinh chưa biết cách đặt ra câu hỏi để phân biệt thành phần chủ ngữ và
vị ngữ, các em thường nghĩ đó là câu đơn bình thường có nhiều vị ngữ, cũng có khicác em dùng thành phần phụ trong câu nhưng không xác định được và cho đó là chủngữ Do đó các thành phần phụ các em thường hay viết thiếu chủ ngữ
5.2 Lỗi về nghĩa:
Câu sai nghĩa sẽ làm nội dung thông báo không được rõ nghĩa, chính xác.Nguyên nhân học sinh tiểu học viết câu ghép sai nghĩa là do học sinh thiếu kiếnthức thực tế trong cuộc sống nên dùng những từ ngữ sai lệch, không đúng với thực
tế Câu không rõ nghĩa tức là câu còn thiếu thông tin đó là những câu đúng về mặtcấu tạo ngữ pháp, nghĩa là: có đầy đủ hai thành phần chính đủ với quan hệ ngữnghĩa nhưng thật ra câu còn thiếu những thành phần phụ như bổ ngữ, định ngữ cầnthiết phải có để phụ cho một động từ, danh từ nào đó trong câu
5.3 Lỗi dấu câu - lỗi về hình thức:
Lỗi do không dùng dấu chấm câu ở học sinh tiểu học nói chung và học sinhtrường TH nói riêng là rất nhiều Trong các bài tập làm văn của học sinh hầu hếtnhư các em đều không sử dụng dấu câu Nguyên nhân là do học sinh vi phạmnguyên tắc sử dụng dấu câu, khi đã kết thúc một ý thì phải ngắt câu Việc không sửdụng dấu câu sẽ gây khó khăn trong giao tiếp, người đọc không thể nắm bắt đượcnội dung cần truyền đạt Thường thường các em để các từ thành hàng chuỗi liềnnhau, dài dằng dặc, không biết đâu là đầu là cuối, quan hệ ngữ pháp không rõ ràng,thường mắc lỗi do không sử dụng dấu chấm kết thúc câu hoặc ngăn cách các thànhphần câu; có những bài viết không hề có một dấu câu nào dẫn đến khi viết làmngười khác không hiểu được
5.4 Thực trạng khảo sát học sinh mắc lỗi về câu ghép:
Trang 7Tổng số học sinh khảo sát: Lớp 5A, 25 em (Đầu năm học 2011 - 2012)
HS mắc lỗi câu ghép về
cấu tạo ngữ pháp
HS mắc lỗi câu ghép về cấu tạo nghĩa
HS mắc lỗi câu ghép về dấu câu, hình thức
III Giải pháp, biện pháp:
1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Từ việc nghiên cứu, phân tích thực trạng những kiến thức về ngữ pháp, cấutrúc câu và đặc biệt đi tìm hiểu học sinh thường mắc những lỗi nào, nguyên nhân tạisao các em lại mắc những lỗi đó mà các giải pháp, biện pháp mà đề tài đặt ra nhầm
để tìm cách khắc phục cho học sinh và tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp gópphần làm hạn chế học sinh mắc lỗi về câu một cách ít nhất
Thông qua các giải pháp, biện pháp giúp cho giáo viên rất nhiều trong việcphát hiện ra nhiều lỗi sai khác nhau trong câu ghép của học sinh tiểu học, giúp giáoviên nắm rõ, hiểu sâu hơn về cấu trúc ngữ pháp của câu, là điều kiện để giúp tôi vàđồng nghiệp giảng dạy tốt hơn các phân môn thuộc môn Tiếng Việt bậc tiểu học
2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
2.1 Lỗi về cấu tạo ngữ pháp:
2.1.1 Đối với câu không đủ thành phần:
Vào đầu năm học mới, chúng em mua rất nhiều đồ dùng học tập, thích nhất
là cái cặp có hình Tiểu Yến Tử.
- Ở câu này học sinh viết đầy đủ thành phần chủ ngữ, vị ngữ ở ý thứ nhất, ở
ý thứ hai viết thiếu hẳn chủ ngữ Vì đã không nêu rõ ai thích nhất cái cặp đó? Có thểhọc sinh cho rằng chủ ngữ ở vế thứ nhất cũng là chủ ngữ luôn cho cả vế thứ hai Do
đó để cho câu ghép đúng chúng ta phải thêm chủ ngữ vào
- Sửa chữa lại:
Vào đầu năm học mới, chúng em mua rất nhiều đồ dùng học tập Em thích nhất là cái cặp có hình Tiểu Yến Tử.
Trang 8Ví dụ 3:
Sau giờ ra chơi,các bạn ở trong đội cờ đỏ đánh ba tiếng trống thế là xếp hàng vào lớ.
- Ở câu này học sinh viết chưa đủ thành phần chủ ngữ vì em không trả lời
được câu hỏi: Ai đã xếp hàng vào lớp? có thể sử dụng đại từ “em” hoặc “chúng em”
để trả lời câu hỏi đó
- Sửa chữa lại:
Sau giờ ra chơi,các bạn ở trong đội cờ đỏ đánh ba tiếng trống,thế là chúng
em xếp hàng vào lớp
* Nhận xét chung:
Chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần chính không thể thiếu được trong câughép, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, học sinh tiểu học viết thiếuthành phần chủ ngữ do các nguyên nhân
- Học sinh hiểu nhầm lẫn tưởng đó là câu có hai vị ngữ Có khi các em chú
ý vào việc dùng từ ngữ như thế nào để diễn tả đối tượng nên không chú ý đến câu vìthế mà các em cứ viết và cứ nghĩ rằng như thế là câu đã trọn vẹn, đúng nghĩa vàđúng ngữ pháp
- Học sinh chưa biết cách đặt ra câu hỏi để phân biệt thành phần chủ ngữ và
vị ngữ, các em thường nghĩ đó là câu đơn bình thường có nhiều vị ngữ, cũng có khicác em dùng thành phần phụ trong câu nhưng không xác định được và cho đó là chủngữ Do đó các thành phần phụ các em thường hay viết thiếu chủ ngữ
* Phương pháp giảng dạy của giáo viên để hạn chế lỗi sai cho học sinh:
- Dạy kỹ về phần lý thuyết câu ghép cho học sinh để học sinh nắm rõ cáccấu trúc câu của câu ghép: câu ghép qua lại, câu ghép liên hợp
- Thường xuyên tập luyện thói quen để học sinh viết câu không thiếu thànhphần chủ ngữ
- Đưa ra một số câu ghép cho học sinh tự đặt câu hỏi để các định thành phầnchủ ngữ
- Nhấn mạnh tác hại của việc viết thiếu thành phần chủ ngữ trong câu ghép
để cho học sinh thấy rõ, từ đó học sinh biết được tác hại của chúng Để người đọc,người nghe hiểu được mình viết đến đối tượng nào? Đến ai? Thì chúng ta phải viếtđầy đủ chủ ngữ của câu
b Lỗi sai về chủ ngữ không xác định:
Trang 9này là đôi mắt và bộ lông nhưng nó không xác định rõ ràng Do vậy cần sửa lại đểcho câu có chủ ngữ xác định.
Chiếc cặp là người bạn thân thiết nhất của em, hàng ngày nó cùng em đến trường.
* Nhận xét chung:
Lỗi sai về chủ ngữ không xác định rất thường gặp trong các bài tập làm văncủa học sinh tiểu học Sở dĩ như vậy là vì các em có thể nghĩ trong đầu là một chủngữ xác định nhưng không thể viết được do không biết dùng từ ngữ hay dùng cácđại từ để thay thế Hơn nữa trong câu học sinh viết đã có chủ ngữ nên các em tưởng
đó là chủ ngữ đã được xác định và cho rằng chủ ngữ đó đã đúng nên các em không
để ý đến câu đó mà cứ tiếp tục viết theo những suy nghĩ của mình Các em còn chưaphân biệt được đâu là chủ ngữ đã được xác định và đâu là chủ ngữ chưa được xácđịnh
* Phương pháp giảng đạy của giáo viên để hạn chế những lỗi sai cho học sinh:
+ Cho học sinh tự đặt các ví dụ về câu ghép hoặc giáo viên có thể đưa ramột số câu ghép có thành phần chủ ngữ nhưng chưa được xác định Từ đó cho họcsinh nhận xét các ví dụ đặt ra của giáo viên để học sinh tự phát hiện những chỗ sai
+ Cho học sinh tự đặt các câu hỏi để phân biệt được giữa chủ ngữ khôngxác định và chủ ngữ xác định Giáo viên hướng dẫn để giúp học sinh biết được nhưthế nào là chủ ngữ đã được xác định
+ Khi câu có chủ ngữ mà chủ ngữ đó chưa xác định thì chúng ta có thể dùngcác đại từ, danh từ riêng hoặc danh từ tương ứng với chủ ngữ ở vế trước ta thêmvào cho chủ ngữ được xác định
+ Lỗi sai vế chủ ngữ không xác định thường gặp rất nhiều trong bài vănmiêu tả của học sinh tiểu học Trong bài làm nếu dùng câu không có chủ ngữ hoặc
có chủ ngữ nhưng không xác định thì nó sẽ làm cho câu văn tù mù, không rõ nghĩa,người đọc và người nghe có thể hiểu sai về đối tượng mà người viết muốn diễn đạt
2.1.2 Đối với câu lỗi sai về vị ngữ trong câu ghép:
Ví dụ 1:
Trang 10Thật vậy, cho tới bây giờ em vẫn còn thương mến cô giáo Thủy, người đã dạy dỗ trong những năm học đầu tiên ở lớp 1.
Câu ghép trên, các em dùng câu ghép nhưng thiếu thành phần vị ngữ.Người đã dạy dỗ ai? Không làm rõ được, do đó chúng ta cần phải thêm vị ngữ vào
để cho câu hoàn chỉnh
Sửa chữa lại:
Thật vây, cho tới bây giờ em vẫn còn thương mến cô giáo Thủy người đã dạy dỗ em trong những năm học đầu tiên ở lớp 1.
vế câu trên
Ta sửa lại như sau:
Trước sân trường em, cây phượng đã bắt đầu trổ hoa, vào những ngày hè nắng chói chang những bông hoa đã làm đỏ cả một góc sân.
Ví dụ 3:
Vì mây đen nên trời đổ mưa
+ Mặc dù câu ghép trên rất ngắn nhưng cấu trúc ngữ pháp và nghĩa của câuvẫn được xem là đầy đủ.Tuy nhiên nếu xem xét kĩ thì ở vế đầu (đây là câu ghép qualại ) “vì mây đen” từ “đen” là tính từ làm định ngữ bổ sung cho từ “mây” chứ khôngphải là vị ngữ Do đó ở vế câu này đã thiếu thành phần vị ngữ
Giáo viên sữa lại:
Vì mây đen kéo đến nên trời đổ mưa
* Nhận xét chung:
Phần lớn các em viết câu thiếu thành phần chủ ngữ và vị ngữ bởi các emcòn nhỏ nên nhiều khi yêu cầu của đề bài như thế nào, các em tìm những từ ngữ thậtsinh động, thật hay để viết mà quên cấu trúc của câu nên đa số các em viết toànthành phần phụ bởi trước có quan hệ từ như: qua, vì … Trong câu chủ ngữ nếuđứng sau quan hệ từ mà không phải câu ghép qua lại, nghĩa là vế sau không có quan
hệ từ, nên ở vế trước chủ ngữ cộng với quan hệ từ đó tạo thành phần phụ của câu
Cách sửa chữa câu thiếu thành phần chủ ngữ vị ngữ mà chỉ có thành phầnphụ trạng ngữ là: Để những thành phần phụ đó trở thành câu có cụm chủ vị hoặc cóthể thêm những quan hệ từ khác tương ứng để trở thành câu ghép qua lại hoặc vẫngiữ nguyên thành phần phụ và lược bỏ những quan hệ từ để câu đó trở thành câughép
* Phương pháp dạy của giáo viên để hạn chế lỗi sai cho học sinh:
Trang 11- Để hạn chế học sinh tiểu học viết sai hoặc thiếu thành phần chủ ngữ vịngữ thì giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết rõ những quan hệ từ những cặpquan hệ từ như: nếu…thì…, tuy … nhưng …; ở học sinh tiểu học những câu viếtthiếu thành phần chủ ngữ, vị ngữ thường là những câu hay Nhưng giữa chúngthường rời rạc, nội dung câu tưởng đúng nhưng là câu sai vì không có nòng cốt câu
rõ ràng do đó giáo viên phải giúp học sinh biết phân biệt được câu ghép có đầy đủthành phần chủ ngữ, và câu ghép thiếu hẳn thành phần chủ vị
- Giáo viên nhắc nhở học sinh không được dùng quan hệ từ trước cụm từlàm chủ ngữ mà câu đó không phải là câu ghép qua lại
- Giáo viên phải rèn luyện cho học sinh, tập cho học sinh tự đặt câu, sau đógiáo viên cùng học sinh sửa chữa để học sinh biết rõ chúng sai chỗ nào và sai nhưthế nào để khi viết câu hoặc làm bài văn học sinh viết đúng các câu
2.1.3 Đối với câu thừa thành phần:
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh sửa chữa lại như sau:
Nhà em có nuôi một chú gà trống, chú có bộ lông rất đẹp, mỗi sáng nó dậy rất sớm, tiếng gáy của nó làm vang cả xóm làng.
Vì dụ 2:
Cái cặp đối với em là người bạn thân thiết nhất của em, ngày nào nó cũng cùng em đến trường.
Câu trên đã sử dụng thừa thành phần “đối với em” Do đó để câu hoàn
chỉnh thì chúng ta phải lược bỏ thành phần trên
+ Sửa chữa lại:
Cái cặp là người bạn thân thiết nhất của em, ngày nào nó cũng cùng em đến trường.
ta phải lược bỏ từ “đó”
+ Sửa chữa lại:
Trang 12Bạn em là người rất chăm học nên bạn đã đạt được kết quả cao trong học
đó không bổ sung gì cho câu văn, từ những điểm trên mà các em thường viết câuthừa thành phần
* Phương pháp giảng dạy của giáo viên để hạn chế lỗi sai cho học sinh.
- Giáo viên cần phải giảng dạy cho học sinh những đại từ thay thế, hướngdẫn học sinh biết cách sử dụng những đại từ đó Bằng cách cho học sinh tự đặt câuhỏi có nhiều từ lặp lại, giáo viên hỏi học sinh dùng những đại từ nào để thay thế cho
từ lặp lại đó cho thích hợp
- Giáo viên đưa ra một số ví dụ về trường hợp thừa những từ ngữ thườngxuất hiện ở giữa chủ ngữ và vị ngữ hay những từ có vỏ âm khác nhau nhưng cùngnghĩa để cho học sinh thấy (vì phần này khó hơn) từ đó giáo viên hướng dẫn và giảithích cho học sinh vì sao sai để học sinh rút kinh nghiệm
Chẳng hạn như ví dụ: Em biết rõ hơn nhất công ơn của mẹ Câu này thì
thừa thành phần nào? Cho học sinh trả lời sau đó giáo viên giải thích cho các emhiểu
2.1.4 Đối với Câu không phân định rõ thành phần: (còn gọi là câu có
Đây là loại lỗi nặng rất khó chữa cũng đáng buồn vì loại câu sai này chiếm
tỷ lệ lớn trong lỗi câu
a Lỗi sai không xác định được thành phần:
Ví dụ 1:
Em phải giữ gìn bút chì đặt vào hộp, em lau chùi nó từng bộ phận.
+ Phân tích: Ở câu này khó xác định được các thành phần của câu, về mặtngữ nghĩa thì câu không rõ ràng, không chặt chẽ Về mặt cấu trúc thì lộn xộn không