Giúp các em học sinh hiểu được sự cần thiết và tầm quan trọng của Tiếng Anh, tạo sự hứng thú, say mê trong mỗi học sinh đối với môn học, đồng thời phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh, giúp các em chủ động chiếm lĩnh, làm chủ kiến thức
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU I.1 Lý do chọn đề tài.
Tiếng Anh ngày nay được coi như một công cụ hỗ trợ đắc lực đối với sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển của một đất nước trong cộng đồng quốc tế
Nó không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là chiếc chìa khoá để có thể mở được cánh cửa lớn của nền khoa học, kỹ thuật và nền văn hoá thế giới Vì thế việc học Anh ngữ đã trở thành một nhu cầu bức thiết, rộng khắp và đó cũng chính là lí
do mà Tiếng Anh trở thành một môn học chính khoá trong hệ thống giáo dục phổ thông, nhằm hình thành và phát triển ở các em học sinh những kiến thức và kỹ năng cơ bản về ngôn ngữ thứ hai ngoài tiếng mẹ đẻ (Tiếng Việt)
Việc dạy học ngoại ngữ thực ra là một quá trình hoạt động nhằm nắm bắt ngôn ngữ lời nói thông qua 4 kĩ năng: Nghe(Listening) - Nói(Speaking) - Đọc(Reading)
- Viết(Writing) Các kỹ năng này luôn bao trùm và hỗ trợ cho nhau trong một tiết học Vì vậy, việc rèn luyện cả bốn kỹ năng là vô cùng cần thiết đối vối người học nói chung và học sinh đầu cấp THCS nói riêng Tuy nhiên, không ít giáo viên dạy Tiếng Anh trong chúng ta có quan điểm rằng đối với học sinh khối lớp 6 thì mục tiêu chủ yếu thông qua các tiết học là giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nghe và nói nên thường ít chú trọng đến vai trò của hoạt động viết trên lớp – đó chính là sự kết hợp tinh tế giữa các kỹ năng nghe – nói – đọc nhằm làm phong phú thêm các hình thức luyện tập củng cố kiến thức, là sự cụ thể hoá các kỹ năng ngôn ngữ khác mà học sinh đạt được qua một tiết học bằng việc làm quen với văn phong, cấu trúc chặt chẽ của văn viết trong Tiếng Anh Qua thực tiễn giảng dạy bộ môn Tiếng Anh tại trường, bản thân tôi luôn trăn trở vì sao đa số học sinh (kể cả học sinh các khối cuối cấp) thường cảm thấy lúng túng trong việc triển khai các nhiệm vụ bài tập về viết câu? Làm thế nào để giúp học sinh tự tin hơn trong việc thể hiện văn phong, cấu trúc của một câu, một bài viết Tiếng Anh? Tôi nghĩ rằng việc hình thành và phát triển kỹ năng viết câu cho học sinh khối đầu cấp cũng vô cùng quan trọng Đó
sẽ là nền móng cho việc phát triển kỹ năng viết ở các khối lớp sau Với lí do đó tôi mạnh dạn đưa ra nội dung về một số phương pháp giúp học sinh khối lớp 6 rèn
Trang 2luyện kỹ năng viết có hiệu quả làm đề tài nghiên cứu để đúc rút kinh nghiệm cho bản thân Hy vọng đây sẽ là một vài kinh nghiệm nhỏ để các bạn tham khảo và cũng rất mong nhận được góp ý chân thành từ các đồng nghiệp
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Giúp các em học sinh hiểu được sự cần thiết và tầm quan trọng của Tiếng Anh, tạo
sự hứng thú, say mê trong mỗi học sinh đối với môn học, đồng thời phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh, giúp các em chủ động chiếm lĩnh, làm chủ kiến thức Qua đó các em có thể khắc phục những hạn chế về kỹ năng viết sau này và tự tin khi thể hiện bài viết của mình
I.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Các tiết học Tiếng Anh chính khoá và tăng buổi (khối 6) tại trường THCS
- Toàn thể học sinh khối 6 trường THCS
I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Đề tài được nghiên cứu và áp dụng trong phạm vi chương trình giảng dạy Tiếng Anh bậc THCS
I.5 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp chủ yếu là khảo sát nắm bắt tình hình thực tiễn và đúc rút kinh nghiệm giảng dạy hàng năm để tìm ra giải pháp chung
- Nghiên cứu tài liệu về phương pháp và so sánh với kết quả áp dụng phương pháp
đó trong thực tiễn giảng dạy của bản thân
II PHẦN NỘI DUNG II.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Chương trình cải cách bộ môn Tiếng Anh của bộ Giáo Dục và Đào Tạo nhiều năm qua đã thật sự tạo ra những chuyển biến lớn đối với quá trình dạy và học Tiếng Anh trong nhà trường phổ thông về cả nội dung cũng như phương pháp giảng dạy nhằm phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đặt ra của bộ môn trong chương trình mới đó là làm sao phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
Trang 3sinh và tạo điều kiện tối ưu cho học sinh được rèn luyện, phát triển và nâng cao khả năng, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ vào mục đích giao tiếp
Ngay từ những buổi đầu học Tiếng Anh, các em học sinh đã được tiếp xúc với bốn
kỹ năng cơ bản của ngôn ngữ, đó là: nghe, nói, đọc, và viết Mỗi kỹ năng đều đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ của các em Trong đó kỹ năng nghe và đọc giúp học sinh hình thành và trau dồi khả năng cảm thụ ngôn ngữ thông qua các nội dung luyện tập đã được thiết kế sẵn trong chương trình sách giáo khoa, kỹ năng nói và viết liên quan đến khả năng diễn đạt ngôn ngữ của học sinh nên thường gây khó khăn cũng như áp lực đối với học sinh trong việc luyện tập Đặc biệt kỹ năng viết còn đưa ra yêu cầu cao hơn đối với học sinh trong việc diễn đạt lại những gì mình đã nghe, nói, đọc được bằng ngôn ngữ viết Khi viết, không những đòi hỏi phải chuẩn về cấu trúc ngữ pháp mà còn phải đảm bảo
về ý nghĩa biểu cảm Để các em có thể trình bày được ý kiến của người khác, diễn đạt được suy nghĩ của mình bằng Tiếng Anh không phải là một việc đơn giản Vì thế, mỗi giáo viên chúng ta cần hình thành trong mỗi học sinh một tư duy về ngôn ngữ từ đơn giản đến phức tạp nhằm giảm bớt áp lực và tạo sự tự tin cho học sinh trong việc diễn đạt ngôn ngữ của mình Với lí do đó, việc rèn kỹ năng viết cho học sinh ngay từ khối đầu cấp đóng một vai trò quan trọng trong cả quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ của các em
II.2 THỰC TRẠNG:
a Thuận lợi – Khó khăn:
* Thuận lợi:
- Ban giám hiệu nhà trường có sự quan tâm và tạo điều kiện về cơ sở vật chất và tài liệu chuyên môn phục vụ cho việc giảng dạy như: các loại sách tham khảo, bộ tranh ảnh Tiếng Anh 6-7-8-9, băng đĩa, máy cassette, bảng phụ học nhóm…
- Đa số giáo viên đều được tham gia các lớp tập huấn đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, các lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn… do phòng Giáo Dục triển khai
Trang 4- Chính quyền địa phương, ban đại diện cha mẹ học sinh cũng như các đoàn thể trong và ngoài nhà trường luôn hỗ trợ giáo viên trong quá trình công tác
- Bản thân mỗi giáo viên luôn nhận được sự giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm từ các giáo viên cùng tổ chuyên môn và các đồng nghiệp để từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường
- Đa số các em học sinh đều có ý thức học tập và có niềm say mê đối với môn Tiếng Anh Học sinh được trang bị đầy đủ sách vở, cũng như đồ dùng học tập
* Khó khăn:
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường vẫn còn thiếu thốn như phòng bộ môn, các thiết bị nghe, nhìn, bảng điện tử thông minh…nên chưa đáp ứng nhu cầu học tập cũng như kích thích niềm đam mê, hứng thú của học sinh đối với môn Tiếng Anh
- Phần lớn học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số nên các em bị hạn chế rất nhiều về khả năng ngôn ngữ, việc diễn đạt một câu bằng Tiếng Việt với các em đôi lúc vẫn còn gặp khó khăn cả về lời nói lẫn câu chữ Vì thế đa số học sinh cảm thấy Tiếng Anh là một môn học khó, chưa thật sự đam mê và có hứng thú đối với môn học này Hơn nữa, các em cũng ít nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ của bố mẹ ở nhà bởi Tiếng Anh là môn học đặc thù mà không phải phụ huynh nào cũng biết
- Xã là xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đa số nhân dân làm nông nghiệp, nhiều gia đình (đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số) đời sống vật chất còn thiếu thốn, các em phải giúp bố mẹ làm kinh tế nên không có điều kiện và thời gian đầu tư cho việc học
- Một số học sinh còn xao lãng, chưa nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng Anh nên ít quan tâm đến việc học bộ môn này
- Đa số học sinh rất e dè, ngại nói, ngại giao tiếp bằng Tiếng Anh, từ đó ảnh hưởng nhiều đến khả năng viết của các em
b Thành công – Hạn chế:
* Thành công: Qua nhiều năm liền được phân công giảng dạy bộ môn Tiếng Anh
khối đầu cấp, bản thân tôi được tiếp xúc với rất nhiều học sinh có năng khiếu và
Trang 5cũng không ít học sinh có những hạn chế khác nhau về Tiếng Anh để rồi từ đó tôi từng bước tìm ra cho mình hướng giảng dạy đạt hiệu quả hơn, thích ứng hơn với nhiều đối tượng học sinh Và thành công đối với tôi đó là qua từng niên khoá, tôi nhận thấy học sinh đã cảm thấy hứng thú hơn với tiết học Tiếng Anh, đặc biệt khi triển khai các dạng bài tập viết, phần nào các em đã nắm được nội dung cần viết và
có thể ghép các câu chữ thành câu văn tương đối đạt Các em đã dần dần tự tin hơn trong việc thể hiện ý tưởng của mình bằng Tiếng Anh cả về ngôn từ và câu chữ
* Hạn chế: Tiếng Anh là một môn học khá thú vị tuy nhiên đòi hỏi người học
phải thật sự cần cù, chịu khó đặc biệt là phải luyện tập trau dồi thường xuyên nếu không kiến thức sẽ bị đứt quãng và dễ quên Nhưng thực tế thì môi trường và điều kiện học tập của các em còn nhiều hạn chế, ngoài việc tiếp thu kiến thức trên lớp, các em hầu như không có cơ hội để giao tiếp bằng Tiếng Anh, sống ở vùng có địa hình dân cư thưa thớt, bạn bè không ở gần nhau nên các em ít có điều kiện ôn tập, luyện tập theo nhóm, tổ Nhất là sau 3 tháng nghỉ hè, nhiều em còn phải giúp đỡ gia đình làm kinh tế nên việc tiếp thu, vận dụng kiến thức sau một năm học hoàn toàn bị lãng quên
c Mặt mạnh – Mặt yếu:
* Mặt mạnh:
- Luôn được sự quan tâm của lãnh đạo Phòng Giáo Dục cũng như ban ngành đoàn thể về công tác dạy và học của nhà trường, đặc biệt Ban Giám Hiệu nhà trường luôn đặt nhiệm vụ tăng cường đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng mũi nhọn lên hàng đầu đã góp phần khuyến khích, thúc đẩy thêm quá trình giảng dạy của giáo viên cũng như kích thích hơn nữa niềm đam mê học tập của học sinh nhằm đưa phong trào dạy và học nói chung cũng như phong trào dạy và học ngoại ngữ nói riêng của ngôi trường nhỏ bé đóng trên địa bàn xã có nền kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn lên một tầm cao mới
- Đa số giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ chuyên môn, có lòng nhiệt huyết cao, yêu nghề mến trẻ, yên tâm công tác là yếu tố góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
Trang 6* Mặt yếu:
- Điều kiện kinh tế xã hội của địa phương cũng như hoàn cảnh sống của gia đình
đã ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng giao tiếp, học hỏi cũng như việc rèn luyện vốn ngoại ngữ của các em
- Cơ sở vật chất của nhà trường thực sự chưa đáp ứng nhu cầu học tập, rèn luyện của học sinh (phòng học đặc trưng bộ môn, thiết bị hỗ trợ học tập…) nên các em chưa thực sự phát huy hết khả năng tư duy ngôn ngữ của mình
d Các nguyên nhân và yếu tố tác động:
Việc học ngoại ngữ nói chung cũng như việc rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ của học sinh, đặc biệt là kỹ năng viết ở môn Tiếng Anh đối với hầu hết các khối lớp đều chưa đạt hiệu quả là do một số nguyên nhân và yếu tố khách quan cũng như chủ quan đến từ cả người dạy và người học: cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường chưa đảm bảo nhu cầu học tập, luyện tập của học sinh; học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn chiếm phần đông; môi trường giao tiếp hạn chế ảnh hưởng nhiều đến khả năng thực hành, vận dụng và cải thiện vốn ngoại ngữ của các em; năng lực của học sinh ở mỗi lớp thường không đồng đều dẫn đến các em ngại giao tiếp, trao đổi, học hỏi lẫn nhau, bên cạnh đó một số học sinh vẫn còn lơ là, xao lãng việc học, chưa xây dựng được động cơ học tập cho mình; một số giáo viên thường ít chú trọng đến kỹ năng viết của học sinh ở trên lớp ( đặc biệt là học sinh khối lớp 6 ) nên còn chủ quan trong việc kiểm tra đánh giá về kỹ năng ngôn ngữ của học sinh
e Phân tích đánh giá các vẫn đề thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Qua thời gian giảng dạy bộ môn Tiếng Anh tại trường THCS ( trước đây
là trường THCS – Phân hiệu ) bản tôi nhận thấy đa số học sinh ở hầu hết các khối lớp đều chưa vận dụng và thể hiện tốt kỹ năng viết của mình trong các tiết học, đặc biệt ở những giờ học viết các em thường coi việc thực hiện những nội dung, yêu cầu của bài viết là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, phần lớn các em chưa có khả năng viết hoàn chỉnh một đoạn văn, thậm chí một câu văn có nghĩa
Trang 7Nhiều em có ý tưởng rất hay nhưng do hạn chế về từ vựng, hoặc không nắm được cấu trúc câu cũng như cách sắp xếp các từ loại trong câu dẫn đến thực tế các em thường viết theo cảm tính, đôi khi còn sử dụng từ một cách tùy tiện, thể hiện phong cách viết thuần Việt (theo kiểu dịch từ Việt sang Anh: Vietnamese_ English translation) Một số em còn có thói quen đối phó với các tiết học viết bằng cách chép các câu, bài viết mẫu ở sách học tốt dẫn đến kỹ năng viết của các em ngày càng thui chột dần Bên cạnh đó, sự yếu kém của các em cũng có phần thiếu sót của giáo viên giảng dạy chẳng hạn như truyền đạt máy móc, các bước dạy chưa rõ ràng, các thủ thuật chưa sát thực, gợi mở và không đủ sức lôi cuốn học sinh, chưa lồng ghép các kỹ năng một cách linh hoạt hoặc đặt ra yêu cầu quá cao so với trình
độ của các em dẫn tới khả năng viết của các em gặp nhiều hạn chế Một thực tế được đặt ra hiện nay đó là hầu như tất cả các kỳ thi đối với môn Tiếng Anh ở các cấp, bậc học phổ thông đều thể hiện bằng hình thức thi viết Chính vì thế, yêu cầu đặt ra cho mỗi giáo viên dạy ngoại ngữ khá nặng nề, đặc biệt là trong rèn luyện và phát triển kỹ năng viết cho học sinh Từ những thực trạng nêu trên, vấn đề đặt ra cấp thiết đối với tôi là làm thế nào để định hướng cho các em phương pháp học ngoại ngữ nói chung cũng như việc rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ nói riêng đặc biệt là kỹ năng viết cho những lớp đầu cấp để cải thiện những hạn chế, thiếu sót về
khả năng viết của học sinh chính là lí do mà bản thân tôi đưa ra đề tài “ Một số phương pháp rèn kỹ năng viết cho học sinh khối lớp 6”.
Kết quả khảo sát thực tế trước khi áp dụng đề tài:
Sĩ số
Giỏi Khá TB Yếu Kém
10,4
Trang 8II.3 GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Viết là một trong những kỹ năng ngôn ngữ cơ bản của quá trình dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường phổ thông, mục đích của việc luyện tập kỹ năng này là nhằm củng cố vốn ngữ liệu đã được học Ở chương trình lớp 8, 9 kỹ năng viết được chia theo các tiết dạy riêng biệt, phần lớn là các dạng bài tập viết có hướng dẫn (viết đoạn văn theo chủ đề), được thực hiện theo 3 bước cụ thể: trước khi viết (pre-writing), trong khi viết (while- writing) và sau khi viết (post- writing) nên giáo viên dễ dàng hơn trong việc hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập của học sinh Riêng ở chương trình lớp 6, kỹ năng viết thường được lồng ghép với các kỹ năng nghe, nói, đọc nhằm làm phong phú thêm hình thức luyện tập trên lớp, thường là các dạng viết có hình thức đơn giản (chủ yếu là viết câu dựa trên vốn ngữ liệu mới được giới thiệu trong tiết học) Vì vậy, để có thể cải thiện kỹ năng viết ở mức độ đòi hỏi cao thì trước hết học sinh cần phải hoàn thiện cách trình bày một câu văn cơ bản (câu đơn), bởi lẽ một đoạn văn là sự kết hợp của nhiều câu văn
có ý nghĩa, được sắp xếp một cách lô-gíc, mạch lạc Việc giúp học sinh hiểu thế nào là một câu văn, thành phần và vị trí đúng của các từ loại trong câu theo phong cách của người Anh, để từ đó học sinh có thể tự triển khai một câu văn hoàn chỉnh
và luyện tập dần dần để nâng cao kỹ năng viết của mình chính là mục tiêu của các giải pháp mà giới hạn đề tài đưa ra
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
1/ Cách viết câu cơ bản ( câu đơn) ( How to write a basic sentence )
1.1 Khái niệm : (What is a sentence ?)
- Câu (sentence) là sự kết hợp của một nhóm từ (a group of words) Nó được chia làm 2 phần: chủ ngữ (subject) và vị ngữ (predicate)
- Động từ trong câu (verb) luôn phải hoà hợp với chủ ngữ về giống (gender), số (number), thời/thì (tense), cách (case)…
- Nó phải là một sự thông báo hoàn chỉnh (cả về mặt ý nghĩa và ngôn từ)
- Nó thường được bắt đầu bằng chữ cái in hoa (capital letter) và kết thúc bằng một
Trang 9dấu chấm câu (a full stop)
Về mặt định nghĩa, giúp học sinh nhận biết đó chính là một câu đơn hay câu cơ bản (a basic sentence)
1.2 Các yếu tố / thành phần cơ bản của câu (sentence elements).
Việc giới thiệu và giúp học sinh nắm được các yếu tố / thành phần cơ bản của một câu chính là cốt lõi của việc rèn luyện kỹ năng viết câu cho học sinh Thông thường có 5 yếu tố cơ bản để cấu thành câu, đó là: chủ ngữ (subject), động từ (verb), bổ ngữ ( complement), tân ngữ (object) và trạng ngữ (adverb) Các yếu tố này có thể đồng thời có mặt trong một câu hoặc câu có thể khuyết đi một trong các yếu tố như bổ ngữ, tân ngữ hoặc trạng ngữ
1.3 Trọng tâm của câu (sentence focus).
Tập trung vào cá nhân / chủ thể cụ thể Nó phải là câu trả lời cho các dạng câu hỏi: Who does what? / What does what?
What does what →When/Where/How/Why ?
Who does what → When/Where/How/Why ?
1.4 Câu đơn có bao nhiêu loại ?
Dựa trên sự có mặt của 5 yếu tố cơ bản trong câu có thể giúp học sinh nắm được 7 loại câu đơn, bao gồm:
(1) S + V → It is raining
S V
(2) S + V + A (compulsory) → He is outside
S V A
(3) S + V + Od → Bang likes sports (Od = direct object: tân ngữ trực tiếp)
(4) S + V + OI + Od →My mother buys me a new bike (OI = indirect object: tân ngữ gián tiếp) S V OI Od
(5) S + V + CS → They are beautiful (CS = subject complement: bổ ngữ cho chủ
từ) S V CS
Trang 10(6) S + V + O + A → My father takes me to the zoo
S V O A
(7) S + V + O + CO → We call him a hero (CO = object complement: bổ ngữ cho tân ngữ) S V O CO
Giáo viên cần phân tích rõ vị trí, chức năng của từng thành phần trong mỗi loại câu, đặc biệt lưu ý học sinh về vị trí của các trạng từ tần suất trong câu bởi lẽ phần lớn các trạng từ nằm ở cuối hoặc đầu câu, riêng trạng từ tần suất thường được đặt sau động từ “tobe” và trước động từ thường
1.5 Sự hòa hợp giữa chủ ngữ, động từ và các yếu tố khác trong một câu đơn.
Qua phân tích, nhận định các loại câu cơ bản, chúng ta có thể nhận thấy rằng hai yếu tố chủ ngữ và động từ là thành phần không thể thiếu trong một câu (Ngoại trừ câu mệnh lệnh, hoặc dạng câu tỉnh lược)
Vậy giữa chủ ngữ, động từ và các yếu tố khác trong câu sự hòa hợp như thế nào ?
Có phải cứ có đủ 5 yếu tố cơ bản đã nêu trên là cấu tạo thành 1 câu hoàn chỉnh không ? Có thể xét ví dụ sau:
Ex: He be a doctor
S V CS
→ Đây không phải là 1 câu hoàn chỉnh vì động từ “be” chưa phù hợp với chủ ngữ
“ He”
→ Câu hoàn chỉnh phải là: He is a doctor
Như vậy , từ định nghĩa về câu và sự phân tích cấu tạo của câu thì giữa động từ và chủ ngữ nhất thiết phải có sự hoà hợp về giống, số, thời, thể, cách Ngoài ra, động
từ còn phải phù hợp với các yếu tố khác, đặc biệt là các trạng từ trong câu Dựa vào sự dung hoà này giáo viên có thể thiết kế một số dang bài tập luyện tập cho học sinh như:
Exercise 1: Correct mistake for there sentences(Sửa lỗi câu cho các câu sau)
a/ Ba have two sisters → has (động từ không phù hợp )
b/ This is my father Her name’s Ba → His (giống không phù hợp)