Môn vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm ở trường phổ thông. Phương pháp nhận thức khoa học của vật lí là phương pháp thực nghiệm vì vậy đưa phương pháp thực nghiệm vận dụng vào quá trình giảng dạy vật lí là rất phù hợp, rất sáng tạo. Trong đổi mới chương trình vật lí ở trường phổ thông hiện hành thì phương pháp thực nghiệm lại càng được coi trọng hơn, có thể xem là một như là một cách mạng làm thay đổi phương pháp dạy học thuần tuý cổ điển mà trong đó có người thầy đóng vai trò vị trí trung tâm và cũng chính xuất phát từ quan điểm lệch lạc này mà những cuộc cải cách giáo dục ở nhiều nước thất bại
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài:
Môn vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm ở trường phổ thông Phương pháp nhận thức khoa học của vật lí là phương pháp thực nghiệm vì vậy đưa phương pháp thực nghiệm vận dụng vào quá trình giảng dạy vật lí là rất phù hợp, rất sáng tạo Trong đổi mới chương trình vật lí ở trường phổ thông hiện hành thì phương pháp thực nghiệm lại càng được coi trọng hơn, có thể xem là một như là một cách mạng làm thay đổi phương pháp dạy học thuần tuý cổ điển mà trong đó
có người thầy đóng vai trò vị trí trung tâm và cũng chính xuất phát từ quan điểm lệch lạc này mà những cuộc cải cách giáo dục ở nhiều nước thất bại Trong quá trình dạy vật lí, người thầy phải làm cho học sinh hiểu được và từng bước biết vận dụng phương pháp thích hợp để khám phá kiến thức theo chương trình, sách giáo khoa và trong thực tiễn đời sống
Vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của nhiều đối tượng học sinh trong một lớp học, học sinh là chủ thể của việc lĩnh hội kiến thức, còn giáo viên là người chủ đạo trong việc tổ chức, hướng dẫn cho việc lĩnh hội kiến thức đặc biệt là những học sinh yếu kém thì vai trò của người giáo viên càng trở nên quan trọng trong việc chủ động tổ chức, điều khiển một giờ học với nhiều đối tượng học sinh Từ khi thay sách giáo khoa, tôi thấy cần phải có sự đầu tư nghiêm túc để đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy học sinh làm trung tâm Thay đổi cách truyền thụ kiến thức bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau giúp cho người học tiếp thu nhẹ nhàng,
có hiệu quả Đây là một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến trong dạy học bộ môn vật lí này Nhiều người đã vận dụng các phương pháp trong giảng dạy nhưng hiệu quả đạt được chưa cao Bản thân tôi đã thực hiện và đúc kết được kinh nghiệm trong suốt quá trình giảng dạy bộ môn vật lí khá thành công Do đó tôi đã rút ra được một số phương pháp dạy trong dạy vật lí rất cần trao đổi kinh nghiệm với các thầy cô giúp cho công tác giảng dạy trong thời gian tới đạt kết quả cao nhất Đó chính là nội dung của sáng kiến này
“Một số biện pháp giảng dạy tiết vật lí bám sát đối tượng học sinh ở trường THCS” Đây là một đề tài mà có thể áp dụng để làm thế nào giảm tỉ lệ
học sinh yếu kém tăng dần số lượng và chất lượng học sinh khá giỏi khuyến khích được tinh thần học tập của học sinh, từ đó phát triển chất lượng đại trà
II Mục tiêu, nhiệm vụ đề tài.
Trang 2Như ta đã biết, để dạy học có hiệu quả thì giáo viên và học sinh phải có sự chuẩn bị thật chu đáo cả về kiến thức, dụng cụ, đồ dùng dạy học, máy chiếu Một điều quan trọng nhất đối với giáo viên đó là nguồn kiến thức cơ bản và phương pháp dạy học Để hiểu sâu và vận dụng tốt được phương pháp thực nghiệm vật lí trong trường phổ thông bản thân chúng ta cần hiểu và phân tích được các nội dung và các bước thực hiện quan trọng của phương pháp này -Mục têu của đề tài là làm thế nào để thiết kế, giảng dạy một tiết học vật lí THCS bám sát các đối tượng học sinh từ giỏi, khá, trung bình, yếu, kém mà đặc biệt
là đối tượng học sinh yếu, kém vẫn có thể tiếp thu được kiến thức của bài dạy theo chuẩn kiến thức kĩ năng từ đó tạo cho các em tinh thần ham mê học tập Còn học sinh khá giỏi vẫn có thể tiếp nhận kiến thức một cách nhẹ nhàng và hiểu sâu kiến thức và nâng cao kiến thức của bài học Chính vì thế nhiệm vụ đề tài và xây dựng một số biện pháp có tính khả thi nâng cao chất lượng dạy học môn Vật
lý tại trường THCS trong giai đoạn hiện nay
III Đối tượng nghiên cứu đề tài.
Đối tượng nghiên cứu của đề taiò là toàn bộ các em học sinh khối THCS
từ lớp 6 đến lớp 8
IV Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Do thời gian nghiên cứu và kinh nghiệm của bản thân chưa cao nên phạm
vi nghiên cứu của đề tài chit nghiên cứu trong phạm vi trường THCS
V Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp điều tra khảo sát : Tiến hành điều tra, khảo sát thực tế chât lượng dạy học môn Vật lý , huyện , tỉnh để
có cơ sở tiến hành phân tích tình hình
2 Phương pháp phân tích: Tiến hành thu nhập các số liệu trong những điều kiện đã có, phân tích các yếu tố cơ bản của vấn đề nghiên cứu
3 Phương pháp đọc sách và tài liệu: Nắm bắt được vấn đề mà đề tài đề cập
đã được giải quyết đến đâu, cung cấp cho chúng em những cơ sở lý luận của đề tài, các luận chứng để lý giải kết quả của đề tài
4 Phương pháp tổng kết đánh giá :
Dựa trên những số liệu và căn cứ đã nghiên cứu, tiến hành tổng hợp và rút
ra kết luận của đề tài
Ngoài ra tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp khác phục vụ cho qá trình nghiên cứu
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận:
Phương pháp dạy học là một bộ phận hợp thành của quá trình sư phạm nhằm đào tạo thế hệ trẻ có tri thức khoa học, về thế giới quan và nhân sinh quan, thói quen và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tế
Phương pháp dạy học có mối liên hệ biện chứng với các nhân tố khác của quá trình dạy học Những phương pháp dạy học phải thống nhất biện chứng giữa việc giảng dạy của giáo viên với việc học tập của học sinh Đồng thời góp phần có hiệu quả vào việc thực hiện tốt các khâu của quá trình dạy học Xác định
kế hoạch giáo dục, giáo dưỡng, phát triển bộ môn một cách nhịp nhàng, cụ thể hoá nhiệm vụ dạy học trên cơ sở đặc điểm của học sinh, điều chỉnh kế hoạch dạy học cho sát với diễn biến thực tế, tổ chức và hướng dẫn học sinh học tập ở trên lớp cũng như ở nhà phù hợp với dự định sư phạm
Đối với môn vật lý ở trường phổ thông, môn vật lý đóng một vai trò hết sức quan trọng, việc hướng dẫn học sinh học vật lý là một hoạt động dạy học, là một công việc khó khăn, ở đó bộc lộ rõ nhất trình độ của người giáo viên vật lý trong việc hướng dẫn hoạt động trí tuệ của học sinh, vì thế đòi hỏi người giáo viên và cả học sinh phải học tập và lao động không ngừng Những bài tập vật lý
sẽ giúp học sinh hiểu sâu hơn những qui luật vật lý, những hiện tượng vật lý Thông qua các bài tập ở các dạng khác nhau tạo điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạt những kiến thức để tự lực giải quyết thành công những tình huống cụ thể khác nhau thì những kiến thức đó mới trở nên sâu sắc hoàn thiện và trở thành vốn riêng của học sinh Trong quá trình giải quyết các vấn đề, tình huống cụ thể
do bài tập đề ra học sinh phải vận dụng các thao tác tư duy như so sánh phân tích, tổng hợp khái quát hoá để giải quyết vấn đề, từ đó sẽ giúp giải quyết giúp phát triển tư duy và sáng tạo, óc tưởng tượng, tính độc lập trong suy nghĩ, suy luận Nên bài tập vật lý gây hứng thú học tập cho học sinh
Trong quá trình giảng dạy môn vật lý giáo viên thường sử dụng phương pháp chia nhóm để học sinh thảo luận và tìm ra kết quả cho câu hỏi và giáo viên thường kết luận đúng, saivà không hướng dẫn gì thêm, việc giảng dạy vật lý nhất
là bài tập vật lý như thế sẽ không đạt được kết quả cao, vì trong lớp có các đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu, kém nên khả năng tư duy của các em rất khác nhau, đối với học sinh yếu, kém hay trung bình không thể tư duy kịp và
Trang 4nhanh như học sinh khá, giỏi nên khi thảo luận các em chưa thể kịp hiểu ra vấn
đề và nhất là khi thảo luận nhóm, giáo viên lại hạn chế thời gian hoặc thi xem nhóm nào đưa ra kết quả nhanh nhất thì thường các kết quả này là tư duy của các học sinh khá, giỏi trong nhóm Vì thế nếu giáo viên không chú trọng đến việc hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập vật lý thì học sinh sẽ đoán mò không nắm vững được kiến thức trong chương
II Thực trạng tình hình:
* Thuận lợi:
-Công tác giáo dục được sự quan tâm sâu sắc của các cấp lãnh đạo: Phòng giáo dục đào tạo, chính quyền địa phương, nhà trường, hội cha mẹ học sinh
-Đội ngũ giáo viên có trình độ, được đào tạo chuẩn và trên chuẩn, nhiệt tình, có trách nhiệm, tâm huyết với nghề
-Hằng năm Phòng giáo dục và Sở giáo dục đào tạo đều có mở những đợt tập huấn chuyên đề về phương pháp dạy bộ môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học
-Đa số học sinh của trường đều ngoan ngoãn, có đạo đức tốt
- Đề tài xây dựng trong bối cảnh toàn ngành đang hưởng ứng các cuộc vận động, đặc biệt là cuộc vân đông xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực với 5 nội dung mà nội dung thứ hai là thay đổi phương pháp dạy học, cải tiến phương pháp giảng dạy để đạt kết quả là nâng cao chất lượng giáo dục Đặc biệt đề tài này là xây dựng phương pháp thiết kế giảng dạy một tiết học có nhiều đối tượng học sinh để các em chủ động lĩnh hội kiến thức theo năng lực của mình duới sự hướng dẫn của giáo viên mà hiện nay đại đa số một lớp học thì sự phân cấp trình độ nhận thức của học sinh là rất đa dạng
*Khó khăn:
-Chưa có phòng học bộ môn để phục vụ cho các tiết học thực hành
-Nhiều phụ huynh học sinh còn chưa quan tâm đến việc học tập của con
em mình, chưa tạo điều kiện về thời gian để các em học tập
-Chất lượng học sinh trong mỗi lớp không đồng đều
- Đối với giáo viên kinh nghiệm còn non trẻ thì việc áp dụng phương pháp mới, xử lí tình huống sư phạm trong giảng dạy chưa thật linh hoạt thì việc áp dung đề tài có thể còn gặp khó khăn
III Thực trạng tại trường THCS………
Trường THCS …… là đơn vị đóng trên địa bàn …….trường luôn được sự quan tâm của Phòng giáo dục – Đào tạo, lãnh đạo địa phương cũng như các lực
Trang 5lượng tham gia công tác giáo dục trên địa bàn Trường đã có bề dày thành tích giáo dục của huyện nhà, là một trong những lá cờ đầu của ngành giáo dục huyện Chất lượng dạy và học của nhà trường ngày càng đi lên
2.1.3 Tổ chức bộ máy của nhà trường trong năm học 2014 - 2015.
Trường có tổng số CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phânng có t ng s CBGV,CNV l 31 ngổng số CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phân ố CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phân à 31 người, trong đó 21 nữ, được phân ường có tổng số CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phâni, trong ó 21 n , đó 21 nữ, được phân ữ, được phân đó 21 nữ, được phânược phânc phân
b nh sau:ố CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phân ư
lớp
Nhân viên
GV bộ môn
TPT Đội
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy đội ngũ giáo viên của trường đạt tỷ lệ 100% giáo viên trên lớp Tuổi đời, tuổi nghề và trình độ đào tạo của cán bộ, giáo viên, nhân viên như sau
Tu i ổng số CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phân đó 21 nữ, được phânờng có tổng số CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phâni:
Tu i ngh :ổng số CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phân ề:
năm
Trình đó 21 nữ, được phânộ đào tạo: đó 21 nữ, được phânà 31 người, trong đó 21 nữ, được phân ạo:o t o:
Qua các bảng số liệu trên ta thấy đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường có tuổi đời, tuổi nghề và trình độ đào tạo tương đối phù hợp với đặc thù của ngành Số giáo viên có tuổi đời trong giai đoạn cống hiến cho giáo dục tương đối tốt Tuy nhiên vẫn còn một số giáo viên cần phải bồi dưỡng thêm, số giáo viên ít kinh nghiệm trong công tác giảng dạy vẫn còn
Đội ngũ giáo viên nhiệt tình giảng dạy, có tâm huyết với nghề, có ý thức bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề Số lượng giáo viên khá, giỏi đạt
tỷ lệ tương đối cao Trong những năm học qua số lượng giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện 14/20 đồng chí trực tiếp đứng lớp chiếm tỉ lệ 70%, giáo viên giỏi cấp tỉnh 1/20 đồng đứng lớp chiếm tỉ lệ 5%
Cán bộ quản lý nhà trường có uy tín về năng lực lãnh đạo và năng lực chuyên môn, nhiệt tình trong công tác
2.1.4 Cơ sở vật chất nhà trường.
Trang 6C s v t ch t c a nh trơ sở vật chất của nhà trường ngày càng được cải tiến và tăng ở vật chất của nhà trường ngày càng được cải tiến và tăng ật chất của nhà trường ngày càng được cải tiến và tăng ất của nhà trường ngày càng được cải tiến và tăng ủa nhà trường ngày càng được cải tiến và tăng à 31 người, trong đó 21 nữ, được phân ường có tổng số CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phânng ng y c ng à 31 người, trong đó 21 nữ, được phân à 31 người, trong đó 21 nữ, được phân đó 21 nữ, được phânược phânc c i ti n v t ngải tiến và tăng ến và tăng à 31 người, trong đó 21 nữ, được phân ăng
trưở vật chất của nhà trường ngày càng được cải tiến và tăngng không ng ng Trừng Trường có tổng diện tích và cơ sở vật chất như sau: ường có tổng số CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phânng có t ng di n tích v c s v t ch t nh sau:ổng số CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phân ện tích và cơ sở vật chất như sau: à 31 người, trong đó 21 nữ, được phân ơ sở vật chất của nhà trường ngày càng được cải tiến và tăng ở vật chất của nhà trường ngày càng được cải tiến và tăng ật chất của nhà trường ngày càng được cải tiến và tăng ất của nhà trường ngày càng được cải tiến và tăng ư Diện tích TS phòng Số phòng
học
Phòng làm việc Phòng TV
Phòng chức năng
Khuôn viên trường đang được xây dựng, cổng trường bờ rào đang xây dựng, có đủ công trình vệ sinh phục vụ cho giáo viên và học sinh Có hệ thống nước sạch, có nhiều cây xanh bóng mát môi trường nhà trường “xanh – sạch – đẹp”
2.1.5 Kết quả học tập và rèn luyện của học sinh:
Tổng số học sinh: 418 em trong đó nữ: 205 em; Dân tộc
V ch t lề: ất của nhà trường ngày càng được cải tiến và tăng ược phânng hai m t cu i n m h c 2013 – 2014 to n trặt cuối năm học 2013 – 2014 toàn trường: ố CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phân ăng ọc 2013 – 2014 toàn trường: à 31 người, trong đó 21 nữ, được phân ường có tổng số CBGV,CNV là 31 người, trong đó 21 nữ, được phânng:
Tổng
Số
HS
Học lực
Hạnh kiểm
435 104 23.9% 150 34,5% 179 41,1% 2 0,5% 435(100%) 0 Theo bảng báo cáo ở trên thì chất lượng xếp loại hai mặt của học sinh khá cao Tỷ lệ học sinh đạt khá giỏi chiếm 58,4%, không có học sinh xếp loại hạnh kiểm thực hiện chưa đầy đủ
IV Những biện pháp trình bày của đề tài
Việc thiết kế một bài dạy phù hợp cho nhiều đối tượng học sinh thì tối thiểu nhất phải làm được những việc sau:
- Xác định được mục tiêu trọng tâm của bài học về kiến thức, kĩ năng thái
độ tình cảm theo chuẩn kến thức kĩ năng Tìm ra được những kiến thức cơ bản dành cho học sinh yếu kém và kiến thức nâng cao cho học sinh khá giỏi
- Khi đã nắm được trọng tâm được kiến thức và phân chia kiến thức cho từng đối tượng học sinh thì cần tham khảo thêm tài liệu để mở rộng và đi sâu hơn vào bản chất của đơn vị kiến thức, giúp giáo viên nắm một cách tổng thể, để giải thích cho học sinh khi cần thiết
- Nắm được ý đồ của sách giáo khoa để xây dựng và thiết kế một tiến trình
đi trong giờ dạy hợp lý, đồng thời cũng có thể biến ý đồ đó thành ý đồ chủ quan của mình cho phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường, lớp, đối tượng và trình độ học sinh, điều kiện dạy học
- Nêu được các tình huống có vấn đề để kích thích tính tích cực của học sinh
Trang 7- Đưa ra những câu hỏi và thời gian thích hợp để quan tâm đến đối tượng học sinh yếu kém Tạo nhiều cơ hội cho học sinh yếu kém hoạt động để các em lấy được phương pháp học tập
- Đề ra được các phương án giải quyết để đi đến kiến thức cơ bản của bài học với sự hỗ trợ của nhiều đối tượng học sinh mà không chỉ nhờ vào một bộ phận học sinh khá giải
- Cuối cùng làm hoàn chỉnh một tiến trình của một giờ dạy học với đầy đủ các hoạt động và thời gian ấn định phù hợp
Nếu thực hiện tốt những việc này xem như giáo viên đã chuẩn bị tốt tâm thế để bước vào giờ dạy và đã thành công bước đầu
b.2 Chuẩn bị thiết bị đồ dùng, phương tiện dạy học.
- Đây là một khâu không trực tiếp làm ngay trong một tiết học, nhưng nó
là khâu cũng không kém phần quan trong Nhưng quan trọng trong khâu này là khi tiếp xúc và chuẩn bị trước thiết bị thì giáo viên có điều kiện thao tác thành thạo các kỹ năng cần thực hiện trong khi làm thí nghiệm Điều này thực sự rất có ích cho giáo viên, bởi giáo viên có làm thành thạo các thao tác mới có thể hướng dẫn học sinh một cách rành mạch, rõ ràng không còn lúng túng và giảm bớt nhiều động tác thừa và thời gian lãng phí Do đó khi tiếp xúc và chuẩn bị trước thiết bị, giáo viên cần làm được những việc sau:
- Kiểm tra thiết bị (đủ hay thiếu) tình trạng sử dụng tốt hay xấu để đưa ra phương án bổ sung
- Giáo viên phải làm trước thí nghiệm và thực hiện các thao tác một cách
thành thạo
- Phân chia được thiết bị sử dụng theo nhóm cho từng đối tượng học sinh
- Đưa ra dự kiến những công việc cho từng đối tượng học sinh thực hiện như:
HS yếu kém: quan sát, ghi chép và làm các thao tác đơn giản
HS khá giỏi thao tác các thao tác khó…
b.3 Tổ chức hoạt động của học sinh trên lớp.
- Việc thiết kế tốt một bài dạy và phù hợp với từng đối tượng học sinh xem như đã thành công bước đầu nhưng đó chỉ là bước khởi đầu cho một tiết dạy còn khâu quyết định thành công chính là ở khâu tổ chức điều khiển các đối tượng học sinh trên lớp Nhưng để điều hành tốt tất cả các đối tượng học sinh trong một giờ học thì giáo viên cần phải thực hiện như thế nào?
Trang 8Một là: - Việc giáo viên phải xâm nhập giáo án một cách thuần thục, nắm được các nội dung cơ bản trọng tâm của bài học theo chuẩn kiến thức kĩ năng và những nội dung chú ý đối với học sinh yếu kém
Hai là: - Giáo viên tạo tình huống có vấn đề ngay từ đầu để kích thích hứng thú học tập của học sinh trong suốt giờ học
Ba là: - Giáo viên nắm chắc ý đồ SGK và hướng dẫn SGV, mục tiêu bài học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, trình tự thiết kế từ đó giáo viên chủ động đưa
ra phương án cho các đối tượng học sinh hoạt động
Ví dụ:
* Đối với việc thu thập thông tin, tuỳ đối tượng học sinh, thời gian giáo viên có thể cho các cho các phương án:
- Giáo viên thông báo: Đối với học sinh khá giỏi các em tự lĩnh hội kiến thức
* Đối với học sinh Yếu, kém thì giáo viên phải gợi ý để học sinh lĩnh hội kiến thức
* Đối với yêu cầu thực hiện kỹ năng, kiến thức thì cũng tuỳ theo thời gian
và yêu cầu của nội dung bài học hoặc từng phần hay yêu cầu của từng loại thí nghiệm giáo viên có thể tổ chức học sinh thực hiện theo nhóm hay cá nhân như:
Ví dụ: Bài 3: Đo thể tích chất lỏng (Vật lí 6)
- Hình 3.2: Yêu cầu học sinh hoạt động theo cá nhân học sinh khá giỏi có thể tự làm được việc này nhưng đối với học sinh yếu kém thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh thực hiện sau đó cho học sinh trả lời kết quả
- Hình 3.3: Yêu cầu học sinh hoạt động theo nhóm giáo viên nên cho học sinh khá giỏi hướng dẫn và kèm các học sinh yếu kém, sau đó gọi học sinh yếu kém đọc kết quả, rồi cho học sinh khá giỏi nhận xét, giáo viên chốt kiến thức
Ví dụ: Bài 6: Lực - Hai Lực Cân Bằng (Vật lí 6)
- Các thí nghiệm về lực đơn giản giáo viên yêu cầu học sinh yếu kém làm thí nghiệm, quan sát Nhưng để nhận xết kết quả thì giáo viên phải yêu cầu học sinh khá giỏi nêu ra vì ở đây việc nhân xét nêu ra kết quả đòi hỏi việc lập luận khó khăn hơn…
Ví dụ: Bài14: Mặt Phẳng Nghiêng (Vật lí 6)
- Hình 14.2 Yêu cầu học sinh hoạt động theo nhóm giáo viên nên cho học sinh khá giỏi làm thí nghiệm học sinh yếu kém quan sát ghi kết quả dưới sự giám sát của các em học khá giỏi
Trang 9- Nếu học sinh trong lớp yếu nhiều thì giáo viên hướng dẫn mẫu sau đó yêu cầu các nhóm thực hiện giáo theo uốn nắn các nhóm vẫn còn khó khăn…
Chú ý :
* Tuỳ theo đối tượng học sinh trong lớp giáo viên có thể đề ra phương án khác nhau cho linh hoạt phù hợp
+ Đôi với học sinh yếu kém: Thì giáo viên cho học sinh đọc sách giáo khoa sau đó giáo viên hướng dẫn cụ thể và tổ chức cho học sinh thảo luận và thực hiện sau đó rút ra kết quả
+ Đối với học sinh khá giỏi: Giáo viên cho học sinh đọc sách giáo khoa sau đó đề ra phương án thực hiện và từ đó thực hiện rồi trả lời câu hỏi có tính chất khó hơn Sau đó giáo viên chốt kiến thức Sau đó giáo viên gọi học sinh yếu kém nhắc lại một lần để các em ghi nhớ
* Hoặc tuỳ từng loại thí nghiệm hay trả lời câu hỏi hoặc bài tập GV có thể
tổ chức cho học sinh làm ngay ở lớp hoặc cho về nhà tự làm nhưng đối với HS yếu kém thì GV đưa ra yêu cầu nhẹ hơn
* Đối với cách đặt câu hỏi yêu cầu học sinh thực hiện hay trả lời câu hỏi thì giáo viên cũng cần chú ý đến các đối tượng học sinh để đưa ra câu hỏi phù hợp để học sinh dễ hiểu và trả lời đạt kết quả cao như:
+ Đối với học sinh khá giỏi: Giáo viên đưa ra câu hỏi có tính chất nêu vấn
đề hay xuyên suốt để các em suy nghĩ trả lời
+ Đối với học sinh trung bình Giáo viên đưa ra câu hỏi có hướng giải quyết và có tính chất dẫn dắt học sinh
+ Đối với học sinh yếu kém thì giáo viên phải đưa ra được các câu hỏi gợi
ý có tính chất tường minh, cụ thể hoặc các yêu cầu rõ ràng và nhẹ nhàng hơn
Như vậy tuỳ theo yêu cầu kiến thức, kĩ năng, từng loại câu hỏi hay tuỳ vào từng loại đối tượng học sinh giáo viên chủ động đề ra phương án tổ chức điều hành cho linh hoạt và phù hợp
* Trong việc điều hành tổ chức các hoạt động của học sinh trên lớp giáo viên cũng cần quan tâm và chú ý đến việc tổ chức và sắp xếp vị trí chỗ ngồi cho học sinh hoạt động theo nhóm có hiệu quả như: Để học sinh khá giỏi kèm cặp giúp đỡ được các học sinh yếu kém, tránh tình trạng mất nhiều thời gian và lộn xộn tạo được tác phong và phương pháp học tập hợp tác, từ đó giáo viên cũng có được phương pháp tổ chức quản lí hoạt động nhóm một cách phù hợp Cũng nên tạo cho các em học sinh yếu kém có cơ hội làm thủ lĩnh là người nhóm trưởng hoặc nhóm phó, hoặc các em có thể thay nhau giữ cương vị này theo từng tiết
Trang 10học để các em thể hiện quan điểm quyết đoán, kĩ năng tổ chức phân công… dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Vậy: Khâu điều hành tổ chức hoạt động của học sinh trên lớp là khâu rất
quan trọng nó quyết định thành công hay thất bại của giờ học và cũng quyết định đến chất lượng của học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh yếu kém Vì vậy giáo viên cần bám sát thiết kế, thiết bị, tình hình và đối tượng học sinh trong lớp để chủ động và linh hoạt trong điều hành
b.4 Đánh giá và theo dõi kết quả học tập theo từng đối tượng học sinh.
- Việc đánh giá và theo dõi kết quả học tập theo từng đối tượng học sinh phải diễn ra thường xuyên liên tục và quan trọng nhất là đối tượng học sinh yếu kém Như kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra định kỳ Tuy nhiên việc thực hiện đánh giá kết quả học tập của học sinh sau mỗi bài dạy cũng có tầm quan trọng rất đáng kể: Nó vừa cũng cố, khắc sâu kiến thức cũ vừa tiếp thu được kiến thức mới, đồng thời khuyến khích động viên học sinh, kích thích hứng thú cho các em về nhà và làm bài tập cũng như tạo được sự hào hứng cho các em chờ đợi cho tiết học tiếp theo, và giúp đỡ học sinh yếu kém có được tinh thần học tập tốt hơn và ngày càng yêu thích môn học, lấp dần các kiến thức đã hổng của các em Do đó tôi nhận thấy việc đánh giá kết quả học tập của học sinh sau mỗi tiết học và thường xuyên rất quan trọng và cần thiết
Vậy đánh giá kết quả học tập của học sinh như thế nào là tích cực và phát huy được tác dụng của nó đối với học sinh yếu kém, theo tôi giáo viên cần phải thực hiện theo các yêu cầu sau:
- Giáo viên có thể đánh giá thực hiện bằng các hình thức như:
+ Kiếm tra miệng:
Đối với học sinh yếu kém thì giáo viên yêu cầu rõ ràng hơn, chi tiết hơn, gợi mở hơn Nếu học sinh trả lời được thì giáo viên cho điểm cao hơn để động viên, còn học sinh trả lời không được thì giáo viên hướng dẫn, nhắc nhở và quan tâm đến học sinh nhiều hơn trong các câu hỏi của bài học mới
+ Kiểm tra nhanh bằng các câu hỏi ngắn, bài tập ngắn áp dụng cụ thể kiến thức mới học hoặc ghi phiếu học tập hoặc phân nhóm tổ chức trò chơi về kiến thức:
Đối với học sinh yếu kém thì giáo viên đánh giá với mức độ và yêu cầu thấp hơn, và chỉ rõ những thiếu sót của các em một cách rõ ràng hơn, chi tiết hơn