1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động khoa học xã hội trường hợp viện hàn lâm khoa học xã hội việt nam

178 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, cơ chế quản lý Nhà nước về tài chính trong hoạt động KHXH đã có những cải tiến đáng kể, về cả mức độ đầu tư của Nhà nước và các cơ chế, công cụ quản lý tài chính cũn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Đỗ Diệu Hương

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Phương pháp thu thập thông tin 4

4.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 6

5 Đóng góp mới về khoa học 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 7

7 Kết cấu của luận án 7

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI 8

1.1 Nhóm các công trình bàn về lý thuyết quản lý tài chính công 8

1.2 Nhóm các công trình bàn về huy động nguồn lực tài chính cho hoạt động khoa học 10

1.3 Nhóm các công trình bàn về quản lý sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động khoa học 13

1.4 Nhóm các công trình bàn về đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý tài chính trong các tổ chức Khoa học và Công nghệ 15

1.5 Kết quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 17

1.5.1 Kết quả nghiên cứu đạt được 17

1.5.2 Hạn chế và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 18

1.5.3 Khung phân tích của luận án 19

CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI 22

2.1 Một số lý luận cơ bản về hoạt động Khoa học xã hội 22

2.1.1 Khái niệm về hoạt động Khoa học xã hội 22

2.1.2 Đặc thù của Khoa học xã hội 22

2.2 Quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 27

2.2.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 27 2.2.2 Nội dung quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 32

2.2.3 Công cụ quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 43

2.2.4 Các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 45

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 47

Trang 4

2.3.1 Các nhân tố khách quan 47

2.3.2 Các nhân tố chủ quan 49

2.4 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 50

2.4.1 Kinh nghiệm trong phân bổ NSNN cho hoạt động Khoa học xã hội 50

2.4.2 Kinh nghiệm trong quản lý sử dụng ngân sách nhà nước trong hoạt động Khoa học xã hội 59

2.4.3 Một số gợi mở bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 66

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68

CHƯƠNG III THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI 69

3.1 Thực trạng quản lý Nhà nước về tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 69

3.1.1 Thực trạng quản lý phân bổ ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học xã hội 69

3.1.2 Thực trạng quản lý sử dụng nguồn Ngân sách Nhà nước trong hoạt động Khoa học xã hội 75

3.1.3 Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát về quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 81

3.2 Thực trạng quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 82

3.2.1 Khái quát về Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 82

3.2.2 Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 85

3.3 Đánh giá chung về quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội thời gian qua 101

3.3.1 Những kết quả đạt được 101

3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 104

3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội thời gian qua 112

3.4.1 Mô tả mẫu 112

3.4.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha 112

3.4.3 Phân tích nhân tố EFA 116

3.4.4 Kiểm định thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA 117

3.4.5 Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 118

3.4.6 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội thời gian qua 120

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 127

CHƯƠNG IV MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI 128

4.1 Bối cảnh và những cơ hội, thách thức đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 128

4.1.1 Bối cảnh 128

4.1.2 Cơ hội, thách thức 131

Trang 5

4.2 Quan điểm, định hướng đổi mới quản lý tài chính

trong hoạt động Khoa học xã hội 134

4.2.1 Quan điểm 134

4.2.2 Định hướng và yêu cầu đổi mới 135

4.3 Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 137

4.3.1 Nhóm giải pháp tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội của cơ quan quản lý Nhà nước 137

4.3.2 Nhóm giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý tài chính tại các tổ chức Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội 150

4.4 Điều kiện thực hiện 153

KẾT LUẬN 154

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158

Phụ lục số 01 164

PHIẾU KHẢO SÁT NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH 164

Phụ lục số 02 167

PHIẾU PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH 167

Phụ lục số 03 170

KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH 170

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTNB Chi tiêu nội bộ

GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

KH&CN Khoa học và Công nghệ

KHXH&NV Khoa học xã hội và Nhân văn

NC&PT Nghiên cứu và Phát triển

NCKH Nghiên cứu khoa học

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

(Organization for Economic Cooperation and Development) QLTC Quản lý tài chính

Thông tư 27 Thông tư liên tịch số 27/2017/TTLT-BTC-BKHCN

Thông tư 44 Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BKHCN-BTC

Thông tư 55 Thông tư liên tịch số 55/2017/TTLT-BKHCN-BTC

Thông tư 93 Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT-BTC-BKHCN

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Chi cho NC&PT theo lĩnh vực nghiên cứu năm 2013 70 3.2 Đầu tư tài chính cho các Chương trình KH&CN cấp Nhà nước

giai đoạn 2006-2015

72

3.3 Bình quân kinh phí sự nghiệp khoa học từ nguồn NSNN của

Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và Viện Hàn lâm KHXH Việt

Nam giai đoạn 2006-2018

73

3.4 Quy mô kinh phí bình quân cho một đề tài nghiên cứu khoa học

cấp Nhà nước theo lĩnh vực nghiên cứu giai đoạn 2011-2015

74

3.5 Tổng hợp nguồn thu của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giai

đoạn 2011-2017

89

3.6 Tỷ lệ nguồn thu từ NSNN giữa số kế hoạch và số phân bổ của

Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giai đoạn 2011-2017

90

3.7 Phân bổ nguồn lực tài chính theo cơ cấu nguồn kinh phí của

Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giai đoạn 2011-2017

92

3.8 Cơ cấu phân bổ chi thường xuyên của Viện Hàn lâm KHXH

Việt Nam giai đoạn 2011-2017

93

3.9 So sánh giữa số quyết toán và số phân bổ của Viện Hàn lâm

KHXH Việt Nam giai đoạn 2011-2016

98

3.10 Tỷ lệ kinh phí sai phạm bị xuất toán so với kinh phí quyết toán

của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giai đoạn 2011-2016

3.16 Kết quả kiểm định Bartlett’s và tổng phương sai trích 116

3.18 Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm

trong mô hình lý thuyết chính thức

119

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH

2.1 Mô hình quản lý tài chính của Viện Hàn lâm

2.2 Nguồn tài chính cho hoạt động Khoa học xã hội 36 3.1 Cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam 83 3.2 Mô hình hoạt động tài chính của Viện Hàn lâm

3.3 Sơ đồ phân bổ theo kế hoạch NSNN hàng năm

Hình

2.1 Cơ cấu tài trợ cho các lĩnh vực khoa học

3.1 Cơ cấu chi cho NC&PT theo lĩnh vực nghiên cứu năm 2013 71

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế tri thức, sự phát triển của mọi quốc gia dựa trên thành tựu của khoa học công nghệ là một đòi hỏi tất yếu Ở Việt Nam, Khoa học và Công nghệ (KH&CN) được xác định là “quốc sách hàng đầu” trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như trong các văn bản chính sách của Chính phủ Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay, thành tựu về KH&CN của Việt Nam vẫn còn một khoảng cách xa so với thế giới và việc sử dụng kết quả hoạt động KH&CN vào cuộc sống còn nhiều hạn chế Để đạt được mục đích này, đổi mới quản lý và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ đang

là một lựa chọn cần thiết

Việc đổi mới quản lý và hoạt động của các tổ chức KH&CN được thể hiện ở

4 nội dung cơ bản là: tự chủ về hoạt động KH&CN, tự chủ về tài chính, tự chủ về quản lý nhân sự và tự chủ về quan hệ hợp tác quốc tế, trong đó tự chủ về tài chính là nội dung đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến việc phát huy vai trò, thế mạnh và hiệu quả hoạt động của tổ chức KH&CN Chủ trương trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN đã được thể chế hoá tại một số các văn bản nhằm mục đích tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chủ trương trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm này tại các tổ chức KH&CN vẫn gặp nhiều vướng mắc cả từ sự thiếu thống nhất, đồng bộ trong các văn bản quản lý nhà nước, cũng như sự sẵn sàng chuyển đổi mô hình hoạt động, cơ chế quản lý tài chính (QLTC) của các tổ chức KH&CN theo hình thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Quá trình phát triển đất nước theo hướng bền vững và chủ động hội nhập quốc tế ngày càng khẳng định vai trò đóng góp của Khoa học xã hội (KHXH) đối với hoạch định chủ trương, đường lối chính sách của đất nước, trong đó vai trò của các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH là đặc biệt quan trọng Thực

tế trên đang tạo ra một sức ép và thách thức rất lớn đối với các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH nói chung và Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam (Viện Hàn lâm) nói riêng, nhất là đối với đặc thù nghiên cứu cơ bản của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, với các sản phẩm nghiên cứu KHXH ít có yếu tố thị trường

Trang 10

nên khó đa dạng được các nguồn thu - là một trong những điều kiện đảm bảo tính tự chủ về tài chính của tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH

Trong thời gian qua, cơ chế quản lý Nhà nước về tài chính trong hoạt động KHXH đã có những cải tiến đáng kể, về cả mức độ đầu tư của Nhà nước và các cơ chế, công cụ quản lý tài chính cũng đang được từng bước hoàn thiện thông qua việc ban hành các văn bản quy định về quản lý tài chính theo hướng tăng thêm quyền tự chủ cho các tổ chức KH&CN, cho các nhà nghiên cứu, các văn bản ban hành sát với thực tế hơn, điều này bước đầu đã thu được những kết quả nhất định Tuy nhiên, trên thực tế triển khai còn nhiều hạn chế như việc triển khai các cơ chế chính sách còn chậm; Nguồn lực NSNN cấp cho hoạt động KHXH còn hạn chế, cơ chế phân

bổ NSNN cho hoạt động KHXH còn dàn trải, cào bằng, chưa có trọng tâm, trọng điểm, chưa triển khai theo hình thức đấu thầu đề tài mà vẫn dựa vào hình thức giao theo kế hoạch; Cơ chế giao quản lý tài sản công cho tổ chức KH&CN để hợp tác liên kết còn nhiều chồng chéo, khó triển khai trong thực tế, khả năng huy động nguồn lực ngoài NSNN bị hạn chế do đặc thù của lĩnh vực nghiên cứu; Các quy định về định mức và thủ tục thanh toán còn chưa sát thực tiễn, còn gây nhiều phiền

hà nhất là trong việc thực hiện chủ trương khoán chi Đặc biệt, việc hành chính hóa trong quản lý tài chính của hoạt động khoa học đang là một rào cản lớn ảnh hưởng đến tính chủ động của nhà khoa học và tính sáng tạo của hoạt động khoa học Tất cả các hạn chế cơ bản trên đang cản trở việc phát huy tính tự chủ về tài chính và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại đơn vị

Xét về tổng thể, để đảm bảo thực sự tự chủ về tài chính của các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH, cần có đổi mới đồng bộ và toàn diện cả

về nội dung và công cụ quản lý tài chính Việc đổi mới và hoàn thiện quản lý tài chính, nếu làm tốt, sẽ là một khâu đột phá trong việc đổi mới quản lý hoạt động KHXH Yêu cầu tự chủ về tài chính là một trong những yêu cầu cấp thiết và quan trọng để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, cơ sở hạ tầng, chất lượng của các công trình nghiên cứu khoa học v.v… Giải quyết được những bất cập trong mô hình quản lý tài chính sẽ giúp các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH phá vỡ được vòng tròn luẩn quẩn về chất lượng nghiên cứu chưa tương xứng với yêu cầu của thực tế đất nước

Trang 11

Với những lý do trên, việc lựa chọn đề tài: “Đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động khoa học xã hội: Trường hợp Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế có ý nghĩa cả về mặt lý luận

và thực tiễn

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án: Từ nghiên cứu cơ sở lý luận và tổng kết thực tiễn quản lý tài chính trong hoạt động KHXH, đánh giá thực trạng QLTC trong hoạt động KHXH, đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động KHXH ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030

Để đạt được mục tiêu trên, nghiên cứu có nhiệm vụ:

- Tổng quan các công nghiên cứu nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố liên quan đến quản lý tài chính trong hoạt động KHXH để kế thừa các kết quả nghiên cứu phù hợp, tìm ra khoảng trống nghiên cứu đề tài cần giải quyết xác định khung phân tích của luận án

- Hệ thống hóa những lý luận chung về QLTC trong hoạt động KHXH; Xây dựng khung chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá quản lý tài chính trong hoạt động KHXH

- Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tài chính của một số quốc gia trên thế giới

để rút ra một số gợi mở cho đổi mới QLTC trong hoạt động KHXH ở Việt Nam

- Phân tích thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động KHXH, từ góc độ quản lý Nhà nước về tài chính trong hoạt động KHXH và quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân thời gian qua

- Đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động khoa học

xã hội ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học

xã hội, bao gồm quản lý Nhà nước về tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội và quản lý tài chính tại tổ chức Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội

Trong đó:

- Chủ thể quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động KHXH được giới

Trang 12

hạn ở hai bộ chuyên ngành là Bộ Khoa học& Công nghệ và Bộ Tài chính, là cơ quan quản lý và ban hành cơ chế chính sách chung cho hoạt động KH&CN

- Chủ thể là đối tượng quản lý tài chính đồng thời là cơ quan ban hành các văn bản quy định cụ thể hóa cơ chế chính sách của Nhà nước và thực hiện QLTC là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung:

+ Quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động KHXH bao gồm quản lý phân bổ và sử dụng nguồn NSNN cho hoạt động KHXH, trong đó luận án chỉ tập trung vào chủ thể quản lý nhà nước và công cụ quản lý về mặt cơ chế chính sách; nguồn tài chính cho hoạt động KHXH trong luận án chỉ giới hạn là nguồn NSNN

+ Quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam bao gồm quản lý huy động, phân bổ và sử dụng (quản lý thu, quản lý chi) tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, do đặc thù của hoạt động KHXH chủ yếu được đầu tư từ NSNN nên trong quản lý thu luận án chỉ tập trung phân tích hoạt động nguồn thu để xác định mức độ tự chủ, mà không đi sâu vào phân tích quản lý nguồn thu và trong nguồn thu cũng không bao gồm chi đầu tư phát triển

- Phạm vi không gian: Để so sánh làm rõ bức tranh thực trạng đầu tư cho KHXH trong mối tương quan với KHCN, Luận án tập trung vào hai Chương trình trọng điểm cấp nhà nước (KC, KX) Trong phân tích thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động KHXH sẽ tập trung vào phân tích thực trạng cơ chế chính sách quản

lý tài chính trong hoạt động KHXH của cơ quan quản lý Nhà nước và thực trạng quản

lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động KHXH trong khoảng thời gian 2006-2017, là giai đoạn các tổ chức KH&CN thực hiện triển khai theo Nghị định 115 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm Đối với phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, nghiên cứu chỉ phân tích số liệu trong khoảng thời gian 2011-2017, giai đoạn Viện Hàn lâm thực hiện việc chuyển đổi các tổ chức KH&CN sang thực hiện theo Nghị định 115

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập thông tin

(1) Phương pháp tổng hợp, phân tích, kế thừa

Trang 13

Luân án sử dụng phương pháp tổng hợp, kế thừa để thu thập các tài liệu, dữ liệu thứ cấp liên quan tới quản lý tài chính nói chung và quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội nói riêng nhằm phục vụ cho việc tổng quan vấn đề nghiên cứu

ở Chương 1 và hệ thống hóa những lý luận cơ bản về quản lý lý tài chính trong hoạt động KHXH ở chương 2, đồng thời sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích nhằm mục đích phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam ở chương 3 Các tài liệu, dữ liệu thứ cấp được tham khảo từ các nguồn như: các nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học, các đề tài khoa học, các luận án, báo cáo của Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, và các báo cáo chuyên ngành khác

(2) Phương pháp so sánh:

Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh mức đầu tư từ NSNN giữa KHXH và KHCN, đánh giá mức độ biến động số liệu theo chuỗi thời gian và theo các yếu tố cấu phần để phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu và quản lý chi tài chính trong hoạt động KHXH ở chương 3

(3) Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để xác định các nhóm nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài chính tại các tổ chức Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội ở Việt Nam trong chương 3

Đối tượng khảo sát trong luận án là những nhà quản lý, kế toán trưởng và cá nhân một số nhà khoa học là các chủ nhiệm đề tài, dự án nghiên cứu trong các tổ chức KH&CN trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam nhằm tìm hiểu khó khăn

và thuận lợi trong quá trình sử dụng ngân sách nhà nước cho hoạt động nghiên cứu trong thời gian qua; mặt được và chưa được trong quá trình sử dụng ngân sách, tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại, cũng như các biện pháp can thiệp, cải thiện tình hình khi đang đổi mới mạnh mẽ trong quản lý hoạt động KH&CN trong đó đặc biệt

là hướng đến quản lý tài chính theo đầu ra và nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN

Cỡ mẫu được sử dụng trong nghiên cứu là 151 Phương pháp chọn mẫu trong luận án là chọn mẫu thuận tiện, một trong các hình thức chọn mẫu phi xác suất Mẫu được gửi và nhận online trên trình duyệt website tới những đối tượng có chủ đích cho từng đơn vị Theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, đối tượng được chọn

Trang 14

những phần tử (đối tượng nghiên cứu) có thể tiếp cận được (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) [44]

4.2 Phương pháp phân tích dữ liệu

(1) Phân tích thống kê mô tả

Luận án sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả nhằm phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam ở chương 3

(2) Phân tích nhân tố

Dựa trên tổng quan tài liệu và kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài chính, thang đo được sử dụng cho khảo sát đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài chính tại các tổ chức Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội ở Việt Nam gồm: thang đo cơ chế chính sách của nhà nước về quản lý tài chính (CCCS), thang đo hỗ trợ của các cơ quan thực thi chính sách (HTTTCS), thang đo năng lực của cán bộ quản lý tài chính (NLCB), thang đo chất lượng hoạt động quản

lý tài chính (CLQLTC), và thang đo hiệu quả quản lý tài chính (HQQLTC) Các thang đo được đánh giá thông qua 2 công cụ chính là hệ số tin cậy Cronbach Alpha

và phân tích yếu tố khám phá (EFA) Hệ số Cronbach Alpha được sử dụng trước để loại các biến không phù hợp trước Các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.30 sẽ bị loại và tiêu chuẩn chọn thang đo khi nó có độ tin cậy Alpha từ 0.60 trở lên (Nunnallly và Berntein, 1994) Tiếp theo, phương pháp EFA được sử dụng Trong phần này, các biến có trọng số (factor loading) nhỏ hơn 0.40 trong EFA sẽ tiếp tục

bị loại Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích bàng hoặc lớn hơn 50% (Gerbing và Anderson, 1988) Kết quả thu được từ phân tích EFA tiếp tục được phân tích sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để xem xét mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu với dữ liệu tế Sau cùng, phương pháp phân tích đường dẫn được sử dụng để đánh giá sự tác động của các thang đo (biến tiềm ẩn) tới hiệu quả quản lý tài chính Phương pháp này được sử dụng ở chương 3 trong phân tích các nhân tố ảnh hưởng và là cơ sở khoa học để đưa ra giải pháp kiến nghị ở chương 4

5 Đóng góp mới về khoa học

- Về mặt lý luận, luận án góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong hoạt động KHXH, đưa ra được khung phân tích quản lý tài

Trang 15

chính trong hoạt động Khoa học xã hội Xây dựng được hệ thống chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội

- Về mặt thực tiễn, từ đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động KHXH và quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, luận án đề xuất một số giải pháp đổi mới QLTC trong hoạt động Khoa học xã hội, chỉ ra được một số tồn tại, hạn chế, cùng với tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn làm căn cứ và cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội

- Về mặt chính sách, từ kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất một số giải pháp góp phần đổi mới cơ chế chính sách quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội ở nước ta thời gian tới

- Về mặt học thuật, luận án là tài liệu tham khảo cho các cơ quan QLNN, tổ chức KH&CN, cơ sở đào tạo và những người quan tâm đến chủ đề quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Về lý luận: Cung cấp cơ sở khoa học nhằm đổi mới lý luận về quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới

- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể áp dụng trong đổi mới quản lý nhà nước về tài chính đối với các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy được tiềm năng thế mạnh của mỗi tổ chức

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý tài chính

trong hoạt động Khoa học xã hội

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội

Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội Chương 4: Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động Khoa

học xã hội

Trang 16

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI 1.1 Nhóm các công trình bàn về lý thuyết quản lý tài chính công

Tài chính công là lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới tập trung

nghiên cứu Trong số các công trình bàn về lĩnh vực này, công trình Public Finance

in Theory and Practice của Prest và Barr xuất bản năm 1979 [65] được nhắc đến

nhiều nhất Ông đã cho tái bản lần thứ sáu cuốn sách của mình về tài chính công Trong công trình này, những nội dung cơ bản nhất về lý thuyết tài chính công đã được tác giả giới thiệu; đồng thời, một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở Anh đã được đưa ra phân tích và lồng ghép vào các nội dung lý thuyết Nửa thế kỷ sau, với

cùng tên sách Public Finance in Theory and Practice (2011), tác giả H H Ulbrich

[72] đã đưa ra những vấn đề thực tiễn mới về tài chính công ở Mỹ Rất nhiều tác giả cũng đã xuất bản cùng tên sách và những cuốn sách như vậy (A.R Prest, 1960; S

K Singh, 1982; Richard Musgrave, 2004; A J Auerbach, 2009) luôn là những sách bán chạy và được tái bản nhiều lần

Theo học thuyết của Solomon [69], quản lý tài chính không chỉ quản lý thu - chi mà còn quản lý cho cả giai đoạn lập dự toán và quyết toán, phân tích kế hoạch triển khai, quản lý các mối quan hệ phát sinh giữa chủ thể trong nền kinh tế, trong các mối quan hệ tiền tệ Đây cũng chính là lý thuyết được sử dụng trong luận án để phân tích những vấn đề liên quan đến quản lý tài chính

Cũng về lĩnh vực tài chính công, công trình của nhóm tác giả Rajaram, Le, Biletska, và Brumby [66] đã cung cấp một cách tiếp cận thực dụng và khách quan quá trình chẩn đoán để đánh giá hệ thống quản lý đầu tư công cho các chính phủ

Từ những yếu kém trong quản lý đầu tư công có thể phủ nhận lập luận cốt lõi là mở rộng không gian tài khoá bổ sung cho đầu tư công có thể nâng cao triển vọng kinh

tế trong tương lai, vì vậy, các quy trình phối hợp lựa chọn và quản lý đầu tư công là rất quan trọng Bài viết đã chỉ ra 8 đặc trưng cơ bản của một hệ thống đầu tư công tốt: (1) hướng dẫn đầu tư, phát triển dự án và sàng lọc sơ bộ; (2) thẩm định dự án chính thức; (3) đánh giá độc lập thẩm định; (4) lựa chọn và ngân sách của dự án; (5) thực hiện dự án; (6) điều chỉnh dự án; (7) hoạt động cơ sở; và (8) đánh giá dự án

Trang 17

Các tác giả nhấn mạnh vai trò của các quá trình lập và điều hành ngân sách (liên kết

ở giai đoạn thích hợp để mở rộng nguồn lực ngân sách) có khả năng mang lại hiệu quả lớn nhất cho các quyết định đầu tư công, là giải pháp cơ bản nhằm cải cách những thiếu sót trong chi tiêu đầu tư công, hướng tới hoàn thiện quản lý chi đầu tư

từ NSNN Tuy nhiên các tác giả không đưa ra một phương pháp cụ thể cho quá trình đánh giá hay quản lý tổ chức thực hiện, mà chỉ đưa ra những khung định hướng để đánh giá các giai đoạn chính của quá trình thực hiện đầu tư công

Nghiên cứu của Streeck và Mertens [70], đã đề cập đến cơ cấu chi đầu tư công trong điều kiện ngân sách hạn chế, thông qua khảo sát thực tế đầu tư công của

ba nước: Mỹ, Đức và Thụy Điển từ năm 1981 đến năm 2007 Chi đầu tư công của các quốc gia này xu hướng tăng cao trong cả giai đoạn 1981-2007 và chủ yếu tăng đầu tư về giáo dục, nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ cho gia đình, chính sách thị trường lao động Các tác giả đánh giá năng lực của Chính phủ trong điều kiện thắt lưng buộc bụng tài chính để chuyển các nguồn lực tài chính vốn đã hạn hẹp sang tài trợ cho cho các chương trình định hướng tương lai nhằm thực hiện mục tiêu xã hội công bằng và hiệu quả hơn Những dữ liệu tại Đức, Thụy Điển và Mỹ trong những năm 1981-2007 là cơ sở để để khám phá những động lực cho chính sách chi tiêu với

sự kỳ vọng rằng những nỗ lực củng cố mục tiêu công bằng và hiệu quả hơn sẽ được thực hiện trong thập kỷ tới

Ở trong nước, việc nghiên cứu về tài chính công mới được chú ý trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI với hàng loạt các công trình nghiên cứu, điển hình với những công trình sau:

Tác giả Dương Đăng Chinh [16], đã nêu khái niệm, đặc điểm, nội dung của quản lý tài chính công, những công cụ quản lý của tài chính công

Tác giả Phạm Ngọc Hiến [28], đã tập trung nghiên cứu các lý luận cơ bản về

tài chính công và vai trò, chức năng của tài chính công, đồng thời phân tích thực trạng tài chính công ở nước ta, bao gồm hoạt động đánh thuế, hoạt động, chi tiêu ngân sách trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; Phân tích thực trạng quản lý tài chính công ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI và đề xuất các giải pháp để tăng cường quản lý tài chính công trong giai

Trang 18

đoạn tiếp theo Các nghiên cứu này mới chỉ đưa ra những giải pháp chung mang tính định hướng, chưa có được những giải pháp cụ thể

Tác giả Bạch Thị Minh Huyền [30] đã có phân tích khá toàn diện về quản lý chi tiêu công, về các chính sách quản lý chi tiêu công, những công cụ quản lý của nhà nước đối với chi tiêu công

Những công trình nghiên cứu đã đề cập chi tiết đến lý thuyết quản lý tài chính công nhưng một công trình đề cập cụ thể đến lý thuyết quản lý tài chính cho hoạt động KHXH thì hiện chưa có

1.2 Nhóm các công trình bàn về huy động nguồn lực tài chính cho hoạt động khoa học

Tiếp cận khía cạnh huy động nguồn lực tài chính cho hoạt động khoa học đã được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm nghiên cứu

Nghiên cứu của Mai Ngọc Cường [24], phân tích các số liệu tài chính dành

cho KH&CN, nêu ra các hạn chế trong công tác phân bổ Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra một số vấn đề về đầu tư cho hoạt động KH&CN, đó là: Tỷ lệ đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động KH&CN còn thấp và việc phân bổ nguồn kinh phí này cho các nhiệm vụ của ngành KH&CN còn chưa hợp lý; Việc phân bổ kinh phí sự nghiệp KH&CN còn dàn trải làm cho hiệu quả sử dụng vốn chưa cao Nghiên cứu chỉ

ra những bất cập cả về phương thức đầu tư tài chính Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa

ra được kiến nghị gì mới mà vẫn chỉ là những đề xuất mang tính định hướng chung Bên cạnh đó, tổ chức khoa học và công nghệ trong trường đại học không phải là mô hình tổ chức khoa học và công nghệ có tính phổ quát, đại diện cao, có những đặc thù hạn chế do nhiệm vụ chính của tổ chức là đào tạo chứ không phải nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu của nhóm tác giả Phạm Văn Đức, Nguyễn Đình Hòa [25], đã chỉ

ra những bất cập trong đầu tư cho KHXH so với nguồn đầu tư cho KH&CN, nghiên cứu chỉ ra những đặc thù của KHXH và đề xuất những hạn chế trong đầu tư cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong khoa học xã hội thời gian qua Nghiên cứu chỉ đưa ra những định hướng căn bản liên quan đến quản lí nhà nước, chưa đề cập đến quản lí tài chính

Trang 19

Nghiên cứu của tác giả Đỗ Diệu Hương [31], chỉ rõ thực trạng đầu tư tài chính cho hoạt động Khoa học và công nghệ ở nước ta giai đoạn 2006-2010 còn thấp, đặc biệt là đầu tư tài chính cho hoạt động KHXH do nguồn đầu tư còn hạn chế, hầu như 100% là từ NSNN Dựa trên so sánh tỷ trọng đầu tư tài chính cho hai đơn vị hàng đầu

là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam nghiên cứu cho thấy việc đánh giá chưa thỏa đáng và đúng với giá trị về vai trò của KHXH Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp về cơ chế phân bổ ngân sách cho hoạt động KHXH như: Đổi mới cơ chế phân bổ, giao dự toán; hướng đến giao dự toán theo đầu ra của sản phẩm khoa học; khuyến khích và tạo điều kiện để nâng cao tính

tự chủ cho tổ chức khoa học và công nghệ cũng như cá nhân các chủ nhiệm đề tài Với luận văn thạc sĩ nên nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào đánh giá cơ chế phân

bổ ngân sách cho KHXH, chưa có đánh giá sâu và tầm bao quát cao hơn cả về lý luận

và thực tiễn đối với mô hình tổ chức khoa học và công nghệ nên cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu rộng và sâu hơn để có những kiến nghị giải pháp mang tính ứng dụng cao hơn trong điều kiện mở rộng tính tự chủ cho các tổ chức KH&CN

Nghiên cứu của Nguyễn Công Nghiệp [33], trên cơ sở nghiên cứu lí luận, thực tiễn tại Việt Nam (giai đoạn 2005-2010) và kinh nghiệm nước ngoài, đề tài đã chỉ ra 7 điểm hạn chế và 2 nhóm nguyên nhân về cơ chế và chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động nghiên cứu KHXH, đồng thời đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính vĩ mô như: (1) Đổi mới về quy mô cơ cấu, phương thức để nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư; (2) Đổi mới định mức chi tiêu tài chính cho Hoạt động KHXH; (2) Đổi mới quy trình lập dự toán, giải ngân và quyết toán kinh phí đối với hoạt động nghiên cứu khoa học; (4) Có cơ chế tài chính riêng nhằm khuyến khích lao động sáng tạo phát huy tài năng

Nghiên cứu của Bùi Thiên Sơn [38], [40] nhận định “công tác tài chính có vai trò quan trọng để tạo đột phá cho phát triển Khoa học và công nghệ quốc gia” Những đánh giá cụ thể về mặt thu và chi ngân sách cho hoạt động KH&CN giai đoạn 2010 còn nhiều bất cập Tác giả đã chỉ ra một số thực trạng trong quản lý tài chính và có dẫn chứng bằng số liệu điều tra “năm 2008, có nhiều nơi các nhà khoa học mất đến 60% quỹ thời gian nghiên cứu để giải trình thuyết minh và giải ngân kinh phí đề tài đã được phê duyệt” Điều này cho thấy chính sách quản lý tài chính

Trang 20

trong hoạt động khoa học và công nghệ còn nhiều hạn chế, cần có các giải pháp phù hợp hơn cho sự phát triển KH&CN

Nghiên cứu của Lê Đình Tiến [42], qua nghiên cứu của mình để luận giải về vai trò quan trọng của KHXH đối với sự nghiệp phát triển đất nước, để nâng cao hiệu quả hoạt động trong KHXH cần có những đổi mới căn bản, từ đó đưa ra 8 khuyến nghị trong đó có khuyến nghị về sửa đổi, bổ sung những quy định liên quan đến cơ chế tài chính và đầu tư cho KHXH Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đề cập đến quản lí tài chính trong hoạt động KHXH

Nghiên cứu của Nguyễn Mậu Trung [50], qua nghiên cứu của mình đã tổng kết lại các nguồn vốn cơ bản từ NSNN cho KH&CN, thực trạng sử dụng vốn từ NSNN, một số cơ chế tạo vốn đầu tư cho KH&CN trong các doanh nghiệp và nêu

ra một số giải pháp để tăng cường hiệu quả hoạt động KH&CN… Bài viết đã đưa một số trường hợp cu thể như: ngân sách nhà nước bố trí cho KH&CN 2% tổng chi ngân sách, nhưng việc phân bổ tồn tại nhiều bất cập, ách tắc dẫn đến tỷ lê thực chi cho KH&CN thấp, việc giải ngân chậm, thậm chí tồn không tiêu hết; Hoạt động KH&CN vẫn hình thức và không hiệu quả, với trên 1200 tổ chức KH&CN, nhưng các tổ chức KH&CN và các nhà khoa học chủ yếu nghiên cứu KH&CN theo sự chỉ đạo của nhà nước, dùng kinh phí của nhà nước và nộp sản phẩm cho nhà nước để hưởng tiền lương, tiền công; Bên cạnh đó nhà nước cho phép hình thành các quỹ để

hỗ trợ đầu tư cho KH&CN, ưu đãi về thuế đối với hoạt động KH&CN; ra chủ trương chuyển đổi về tổ chức và hoạt động trong KH&CN (theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP) Tác giả đã đề xuất một số giải pháp: (1) Nâng cao nhận thức cho toàn dân; (2) Có quy chế phân bổ và sử dụng đúng đủ và triệt để kinh phí được phân bổ; (3) Có chính sách khuyến khích chuyển đổi các tổ chức KH&CN sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm; (4) Mở rộng xã hội hóa thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách cho hoạt động KH&CN; (5) Tổ chức kiểm điểm thực hiện nghi quyết TW 2 và kết quả thực hiện luật KH&CN cũng như các văn bản khác liên quan

Nghiên cứu của Hồ Thị Hải Yến [57], phân tích thực trạng cơ chế tài chính

đối với hoạt động KH&CN trong các trường đại học Việt Nam và chỉ ra những hạn chế của cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN, bao gồm: (1) Nguồn tài chính đầu tư cho KH&CN đầu tư từ NSNN còn thấp; (2) Cơ cấu đầu tư từ NSNN cho các lĩnh vực KH&CN còn chưa toàn diện, thể hiện là chưa chú ý đến đầu tư cho nghiên

Trang 21

cứu cơ bản trong lĩnh vực KHXH Nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất một số giải pháp tăng cường huy động nguồn tài chính đối với hoạt động KH&CN như: (1) Tăng tỷ lệ đầu tư từ NSNN cho KH&CN; (2) Mở rộng nguồn tài chính cho KH&CN thông qua mở rộng hình thức đầu tư, thành lập quỹ phát triển hoạt động KHCN và quỹ hỗ trợ phát triển KHCN Công trình này cũng có hạn chế tương tự như công trình của Mai Ngọc Cường về tính đại diện của tổ chức khoa học và công nghệ trong các trường đại học đối với mô hình các tổ chức khoa học và công nghệ trong cả nước

Những nghiên cứu vừa điểm ở trên chủ yếu đưa ra những định hướng về cơ chế quản lí tài chính nói chung, chưa đưa ra giải pháp cụ thể về quản lí tài chính trong hoạt động KHXH

1.3 Nhóm các công trình bàn về quản lý sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động khoa học

Nghiên cứu của Mai Ngọc Cường [24], phân tích các số liệu tài chính dành cho KH&CN, nêu ra các hạn chế trong công tác phân bổ, quản lý sử dụng và thanh quyết toán NSNN cho KH&CN Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra một số vấn đề thực trạng của tài chính cho KH&CN gồm: Thứ nhất, việc quản lý, phân bổ sử dụng kinh phí sự nghiệp KH&CN còn dàn trải làm cho hiệu quả sử dụng vốn chưa cao; Thứ hai, thanh quyết toán kinh phí sự nghiệp KH&CN còn nhiều bất cập Nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích thực trạng phân bổ và sử dụng ngân sách cho hoạt động khoa học trong các trường đại học với nhiều bất cập cả về cơ chế quản lý và thủ tục hành chính trong quá trình triển khai thực hiện, chưa đưa ra được kiến nghị gì mới

mà vẫn chỉ là những đề xuất mang tính định hướng chung Bên cạnh đó, tổ chức khoa học và công nghệ trong trường đại học không phải là mô hình tổ chức khoa học và công nghệ có tính phổ quát, đại diện cao, có những đặc thù hạn chế do nhiệm vụ chính của tổ chức là đào tạo chứ không phải nghiên cứu

Nghiên cứu của Nguyễn Trường Giang [26], đã nêu được thực trạng về cơ chế quản lý tài chính cho hoạt động KH&CN ở nước ta hiện nay, chỉ rõ giải pháp quan trọng nhất là đổi mới đồng bộ cách thức tổ chức quản lý hoạt động KH&CN trong đó có đổi mới trong cơ chế quản lý tài chính, từ việc ưu tiên nguồn lực, nâng cao hiệu quả đầu tư ngân sách nhà nước cho KH&CN, có giải pháp huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước đến việc cải thiện khung hành lang pháp lý, hệ

Trang 22

thống chính sách, cơ chế quản lý tài chính v.v… Tuy nhiên, nghiên cứu này mới dừng ở việc đưa ra những khuyến nghị mang tính định hướng, chưa chỉ ra các giải pháp cụ thể, chi tiết cách làm và lộ trình triển khai Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu

để triển khai các ý tưởng được nêu trong nghiên cứu này

Nghiên cứu của Đỗ Diệu Hương [31], nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thực trạng sử dụng nguồn NSNN đầu tư cho hoạt động Khoa học và công nghệ về cơ chế chính sách, thủ tục hành chính, cơ chế quản lý Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp

về cơ chế quản lý sử dụng tài chính cho hoạt động KHXH, trong đó nổi bật là cơ chế quản lý kinh phí theo kết quả đầu ra của sản phẩm khoa học; tạo điều kiện để nâng cao tính tự chủ cho tổ chức khoa học và công nghệ cũng như cá nhân các chủ nhiệm

đề tài Nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở đánh giá cơ chế quản lý sử dụng ngân sách cho KHXH, chưa có đánh giá sâu và tầm bao quát cao hơn cả về lý luận và thực tiễn đối với mô hình tổ chức khoa học và công nghệ nên cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu

Nghiên cứu của Nguyễn Mậu Trung [50] qua nghiên cứu đã tổng kết lại các nguồn vốn cơ bản từ NSNN cho KH&CN, thực trạng sử dụng vốn từ NSNN và nêu

ra một số giải pháp để tăng cường hiệu quả hoạt động KH&CN… Bài viết đã đưa một số trường hợp cu thể như: ngân sách nhà nước bố trí cho KH&CN 2% tổng chi ngân sách, nhưng việc giải ngân chậm, thậm chí tồn không tiêu hết

Nghiên cứu của Lê Xuân Trường [53], cho rằng khi bàn về đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với KH&CN không thể không đề cập đến các nội dung cơ bản của cơ chế quản lý tài chính là: Nguồn tài chính, đối tượng sử dụng nguồn tài chính, cách thức phân bổ và kiểm soát nguồn tài chính cho KH&CN Từ tìm hiểu kinh nghiệm những nước tiên tiến nghiên cứu đã đề xuất ở Việt Nam nên chuyển dần việc phân bổ ngân sách cho nghiên cứu khoa học theo đầu ra, điều này có nghĩa là khi các nhà khoa học tham gia thực hiện một chương trình, đề án, công trình hay dự án nghiên cứu được giao ngân sách theo đầu ra với chỉ tiêu kết quả cụ thể thì cơ quan quản lý nhà nước không cần kiểm soát chi tiêu đầu vào, chỉ cần quan tâm đến kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu của Hồ Thị Hải Yến [57], từ đánh giá thực trạng quản lý sử dụng nguồn tài chính từ NSNN cho hoạt động KH&CN cho thấy những bất cập trong cơ chế quản lý, như: cơ chế phân bổ không phù hợp, định mức chi tiêu không sát thực

tế, thủ tục thanh quyết toán còn rườm rà phức tạp,…Nghiên cứu đưa ra đề xuất

Trang 23

nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính từ NSNN cho hoạt động KH&CN, trong

đó nhấn mạnh đến: (1) Đổi mới cơ chế phân bổ nguồn đầu tư tài chính từ NSNN; (2) Xây dựng quỹ phát triển hoạt động KH&CN; (3) Áp dụng cơ chế tài chính nhằm nâng cao quyền tự chủ tài chính cho các tổ chức nghiên cứu và phát triển

1.4 Nhóm các công trình bàn về đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế quản

lý tài chính trong các tổ chức Khoa học và Công nghệ

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Bảo [2], đã nêu ra những vấn đề lý luận về quản lý tài chính trong ngành giáo dục đào tạo và chính sách đổi mới cơ chế quản lý tài chính của các tổ chức KH&CN công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm

và phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính và từ đó đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi và tăng cường tính tự chủ tài chính

Nghiên cứu của Nguyễn Trường Giang [26], đã nêu được thực trạng về cơ chế quản lý tài chính cho hoạt động KH&CN ở nước ta hiện nay, tham khảo kinh nghiệm của các nước để đưa ra kiến nghị, giải pháp trong cơ chế quản lý tài chính đối với KH&CN ở Việt Nam, chỉ rõ giải pháp quan trọng nhất là đổi mới đồng bộ cách thức

tổ chức quản lý hoạt động KH&CN trong đó có đổi mới trong cơ chế quản lý tài chính, từ việc ưu tiên nguồn lực, nâng cao hiệu quả đầu tư ngân sách nhà nước cho KH&CN, có giải pháp huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước đến việc cải thiện khung hành lang pháp lý, hệ thống chính sách, cơ chế quản lý tài chính v.v… Tuy nhiên, nghiên cứu này mới dừng ở việc đưa ra những khuyến nghị mang tính định hướng, chưa chỉ ra các giải pháp cụ thể, chi tiết cách làm và lộ trình triển khai Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu để triển khai các ý tưởng được nêu trong nghiên cứu này

Nghiên cứu của Lê Sơn Hải [27], tập trung vào đánh giá chính sách tài chính cho hoạt động KHXH nằm trong hoạt động KH&CN, đưa ra được những kiến nghị giải pháp mang tính vĩ mô, tuy nhiên chưa đi sâu vào những kiến nghị cụ thể

Nghiên cứu của Trần Ngọc Hoa [29], đã đề cập đến cơ chế tự chủ về ngân

sách trong hoạt động nghiên cứu và phát triển tự chủ của tổ chức KH&CN về vấn

đề tài chính chi là một nội dung đó, do vậy nghiên cứu mới chi đề cập đến một khía cạnh trong công tác quản lý và sử dụng nguồn ngân sách của Nhà nước trong các tổ

Trang 24

chức R&D Bài viết chưa nêu ra được những vấn đề về nguồn vốn đầu tư cho KH&CN và các thủ tục gây khó khăn cho các nhà khoa học

Nghiên cứu của Đinh Thị Nga [32], đã nêu lên những bất cập trong quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ trong đó có đề cập đến những hạn chế của công tác lập ngân sách đầu tư, phân bổ ngân sách và thanh quyết toán ngân sách Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra các khuyến nghị đổi mới cơ chế quản lý chi ngân sách nhằm thúc đẩy phát triển KH&CN cho các nhà trường, doanh nghiệp, Viện nghiên cứu Các giải pháp này xoay quanh bài toán thị trường KH&CN nhìn chung phù hợp với các tổ chức nghiên cứu sản xuất những sản phẩm

có thị trường, còn đối với các Viện nghiên cứu đặc thù như trong lĩnh vực KHXH khó có khách hàng trên thị trường KH&CN thì khó áp dụng được các giải pháp này

Nghiên cứu của Dương Bá Phượng [35], đã chỉ ra những bất cập trong cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN nói chung và trong KHXH nói riêng Từ thực tế đó, nhóm nghiên cứu đưa ra nhóm đề xuất nhằm đổi mới cơ chế quản lý tài chính bao gồm: cấp phát, sử dụng, điều chỉnh và quản lý kinh phí; có những kiến nghị liên quan đến chế độ chính sách của nhà nước, của bộ ngành chủ quản và có kiến nghị liên quan trực tiếp đến đơn vị sử dụng ngân sách Tác giả cũng chỉ đưa ra những

đề xuất mang tính định hướng chung liên quan đến quản lí nhà nước, và một số kiến nghị đã được điều chỉnh ở các văn bản quản lí nhà nước sau đó

Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn [39], đã chỉ ra một số hạn chế của cơ chế tài chính hiện hành như: cơ chế huy động; cơ chế phân bổ và vấn đề sử dụng các nguồn lực tài chính Tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân của cơ chế tài chính hiện hành cho hoạt động KH&CN và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính cho các hoạt động KH&CN theo 2 hướng đó là: Tái cấu trúc lĩnh vực đầu tư công, và duy trì các khuyến khích hiện tại đối với việc nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN Bài viết đã phân tích khá rõ nét thực trạng cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN ở nước ta hiện nay, đồng thời cũng đóng góp một số giải pháp nhằm tăng hiệu quả trong quản lý cũng như trong hoạt động nghiên cứu Tuy nhiên, đó là những giải pháp mang tính vĩ mô mà tác giả muốn hướng tới một cơ chế chung

Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Thiều [43], trên cơ sở nghiên cứu lý luận và qua đánh giá thực tiễn quá trình đổi mới cơ chế hoạt động các tổ chức KH&CN giai

Trang 25

đoạn vừa qua, tác giả đưa ra 5 khuyến nghị cơ bản nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế hoạt động của các tổ chức KH&CN ở Việt Nam trong giai đoạn từ nay tới năm

2020, trong đó có kiến nghị đổi mới cơ chế tài chính đối với tổ chức KH&CN

Tuy nhiên, các nghiên cứu này, do độ lùi thời gian, đã bộc lộ nhiều hạn chế về tính cập nhật đối với các quy định quản lý nhà nước về quản lý tài chính hiện nay Mặc

dù vậy, các công trình trên đã có nhiều gợi ý quý báu cho việc triển khai đề tài luận án

1.5 Kết quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

1.5.1 Kết quả nghiên cứu đạt được

Trong các công trình nghiên cứu của nước ngoài, khi nói đến tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học thì gắn liền với quản lý công, đầu tư cho nghiên cứu khoa học được coi là khoản đầu tư công, thông thường khoản tài trợ này không có tính hoàn lại nên mọi khoản đầu tư này được quản lý như đầu tư tài chính công, và

cơ sở lý luận cho quản lý tài chính công xuất hiện rất sớm và có khung cơ sở lý luận rất rõ Các nghiên cứu trường hợp tài chính cho KH&CN ở các nước, tựu trung lại, tập trung vào hai vấn đề cốt lõi: giảm khoán chi theo tổ chức và tăng chi theo khuôn khổ dự án; Quản lý kinh phí hoạt động khoa học theo kết quả đầu ra; Hài hòa theo chiều hướng tăng nghiên cứu ứng dụng so với nghiên cứu cơ bản

Ở trong nước, với mục đích nghiên cứu khác nhau, các tác giả tiếp cận vấn

đề quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN theo những cách khác nhau, nhưng tựu chung lại cũng dựa trên nền tảng quản lý tài chính công Các nghiên cứu đã có nhiều đóng góp có ý nghĩa về mặt khoa học, nêu lên được thực trạng về quản lý tài chính hiện nay và khẳng định đổi mới quản lý tài chính là yêu cầu hết sức cần thiết trong bối cảnh cơ chế quản lý nhà nước có nhiều thay đổi Trong các công trình trên, có những nghiên cứu khá tổng quan nhằm đóng góp cho cơ chế hiện hành, có những nghiên cứu, bài viết với phân tích khá chi tiết và cụ thể về quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN Một số kiến nghị, giải pháp đến nay đã được thực thi, được cụ thể hóa bằng những văn bản nhà nước

Các công trình nghiên cứu trong nước cũng đã chỉ ra sự thiếu hụt nguồn thu,

sự chưa hiệu quả trong cách thức đầu tư cho nghiên cứu khoa học (cụ thể ở tính thiếu đồng bộ; Ở tính hành chính trong cơ chế phân bổ và quản lý sử dụng); Ở các rào cản, thiếu khuyến khích tính tự chủ trong quản lý tài chính công ở các cơ quan

Trang 26

nghiên cứu khoa học; Ở tình trạng thiếu hiệu quả trong quản lý và sử dụng tài sản công ở các cơ quan nghiên cứu khoa học

1.5.2 Hạn chế và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Kết quả tổng quan nghiên cứu ở trên cho thấy còn những khoảng trống nghiên cứu sau:

Về cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu lý thuyết đã luận giải rõ lý thuyết quản lý tài chính công, từ nhiều phương diện (huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính ) và tập trung vào quản lý sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính công Trên

cơ sở lý thuyết, nhiều nghiên cứu đã tập trung luận giải quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học và Công nghệ như cách quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập Tuy nhiên, cách luận giải này chưa phù hợp với hoạt động KHXH Vì vậy, quản lý tài chính trong điều kiện đặc thù của hoạt động KHXH là chưa có

Liên quan đến chủ đề quản lý tài chính cho KH&CN đã thu hút được sự chú

ý của giới nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách, cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN bước đầu đã được làm rõ Mặc dù vậy, những nghiên cứu liên quan đến quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội còn hạn chế, đã có một số nghiên cứu đề cập đến chủ đề liên quan đến quản lý tài chính trong hoạt động KHXH Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ mới tiếp cận ở một khía cạnh nào đó của quản lý tài chính trong hoạt động KHXH

Vì vậy, một công trình tổng hợp, kết hợp cả lý luận học thuật và thực tiễn tác nghiệp về quản lý tài chính trong hoạt động KHXH (qua thực tiễn triển khai tại một

tổ chức khoa học và công nghệ cụ thể và hàng đầu về nghiên cứu khoa học xã hội) với nhiều đặc thù riêng trong bối cảnh có rất nhiều thay đổi về cơ chế chính sách như hiện nay là chưa có và hết sức cần thiết Đây là một khoảng trống trong nghiên cứu mà luận án hướng tới

Một khoảng trống nghiên cứu nữa sẽ được giải quyết trong luận án là trong bối cảnh đổi mới nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN, nhất là tự chủ tài chính thì cơ chế quản lý tài chính của các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH sẽ thế nào? Việc phân cấp mức độ tự chủ đến đâu, tự chủ như thế nào và mô hình triển khai và cơ chế quản lý tài chính như thế nào đối với từng tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH thì cũng cần phải nghiên cứu và làm rõ trong nghiên cứu này

Trang 27

Về vấn đề đổi mới cơ chế quản lý quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN

đã được bàn đến qua các thời kỳ Tuy nhiên, đổi mới cơ chế quản lý tài chính cho các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH trong bối cảnh và yêu cầu về nâng cao hiệu quả của các tổ chức KH&CN công lập bằng việc trao thêm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nhất là tự chủ về tài chính cho các tổ chức này cũng chưa được luận bàn sâu trong các nghiên cứu đi trước

Từ việc chỉ ra khoảng trống nói trên, luận án sẽ tập trung vào việc phân tích thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động KHXH, bao gồm quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động KHXH và quản lý tài chính tại tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH, trong nghiên cứu này là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam; từ đó, đánh giá về những mặt được và chỉ ra được những bất cấp trong cả cơ chế chính sách quản lý của nhà nước, cũng như nội tại của các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH Đồng thời, tìm kiếm những giải pháp nhằm góp phần đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động KHXH ở nước ta trong bối cảnh mới của nền kinh tế tri thức, của sự phát triển nhanh của KH&CN hiện nay

1.5.3 Khung phân tích của luận án

Câu hỏi nghiên cứu:

Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chủ đề của luận án, Luận án tập trung nghiên cứu trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Nội dung quản lý tài chính trong khoa học xã hội gồm những nội dung gì? Những công cụ nào sử dụng quản lý tài chính trong khoa học xã hội?

- Các chỉ tiêu, tiêu chí nào dùng để đánh giá quản lý tài chính trong hoạt động KHXH?

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính trong hoạt động KHXH?

- Những bài học kinh nghiệm nào phù hợp cho Việt Nam từ nghiên cứu về quản lý tài chính trong hoạt động KHXH của các nước?

- Thực trạng quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động KHXH tại Việt Nam và quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam có những tồn tại, hạn chế gì và nguyên nhân vì sao?

Trang 28

- Các giải pháp nào có thể đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động KHXH theo hướng nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của các tổ chức KH&CN trong lĩnh vực KHXH trong thời gian tới?

Giả thuyết nghiên cứu

Công tác quản lý tài chính trong hoạt động KHXH thời gian qua đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa phát huy hết tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nhất là tự chủ về tài chính, điều này chủ yếu do: Cơ chế chính sách quản lý nhà nước; thực tiễn triển khai thực hiện tại các tổ chức Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội,

Hiệu quả quản lý tài chính trong hoạt động KHXH thời gian qua ảnh hưởng bởi các nhân tố: Cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước; Hệ thống hỗ trợ thực thi chính sách; trình độ và năng lực quản lý tài chính của các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH

Khung phân tích luận án:

Sơ đồ 1.1: Khung phân tích của luận án

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QLTC TRONG HOẠT ĐỘNG KHXH

KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QLTC TRONG HOẠT ĐỘNG KHXH

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QLTC TRONG HOẠT ĐỘNG KHXH

TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

VỀ QLTC TRONG HOẠT ĐỘNG KHXH

BỘ CHỈ TIÊU ĐÁNH

GIÁ VỀ QLTC

TRONG HOẠT

ĐỘNG KHXH

Trang 29

- Cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong hoạt động KHXH về cơ bản tuân theo những quy định chung về quản lý tài chính công

- Với nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau và những thảo luận xung quanh các quan điểm về quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN, cũng như quản

lý tài chính trong hoạt động KHXH đã gợi mở cho tác giả lựa chọn cách tiếp cận đúng đắn trong giải quyết vấn đề của luận án, đó là dựa trên nền tảng quản lý tài chính công nhưng phải gắn với đặc thù hoạt động ngiên cứu KHXH, và đó chính là khoảng trống nghiên cứu mà luận án sẽ phải giải quyết

- Rút ra được mục tiêu của luận án cần giải quyết là làm những gì (đổi mới gì) để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong hoạt động KHXH trong bối cảnh đổi mới tổ chức KH&CN theo hướng nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đặc biệt là tự chủ về tài chính trong thời gian tới

Các nội dung được trình bày trong chương 1 là cơ sở để xây dựng khung phân tích của luận án

Trang 30

CHƯƠNG II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI 2.1 Một số lý luận cơ bản về hoạt động Khoa học xã hội

2.1.1 Khái niệm về hoạt động Khoa học xã hội

Theo quan niệm phổ biến hiện nay, khoa học là tri thức nhận được qua nghiên cứu và thực nghiệm Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013[36, tr.1] Khoa

học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện

tượng tự nhiên, xã hội và tư duy Khoa học xã hội là một bộ phận cấu thành của Khoa

học và Công nghệ, mục đích của Khoa học xã hội là nghiên cứu, tìm tòi khám phá để nhận thức ra quy luật vận động, những mối liên hệ phổ biến, phát triển của những mối liên hệ con người trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội

Hoạt động Khoa học xã hội là một dạng của Khoa học và Công nghệ Theo

Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013[36, tr.1] Hoạt động khoa học và công nghệ

là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến

và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ

Như vậy, hoạt động KHXH là một phần của hoạt động KH&CN, nó bao gồm hoạt động nghiên cứu, triển khai thực nghiệm và dịch vụ trong lĩnh vực KHXH Hướng đích cuối cùng của hoạt động nghiên cứu KHXH là giúp cho con

người và xã hội được phát triển một cách toàn diện, thích ứng với mọi thay đổi trong môi trường tự nhiên, xã hội và tư duy

2.1.2 Đặc thù của Khoa học xã hội

Thứ nhất, Khoa học xã hội gắn với thể chế chính trị

Khoa học và Chính trị có mối quan hệ tương tác với nhau nhưng không phải lệ thuộc nhau Tuy nhiên, khác với KHCN, lợi ích của KHXH gắn liền với lợi ích chính trị và lợi ích giai cấp thông qua người sử dụng và mục đích sử dụng Nội dung nghiên cứu về KHXH gồm các vấn đề lý luận, lý thuyết, trong đó bao hàm những vấn đề lý luận chính trị cơ bản trực tiếp phục vụ quan điểm chính trị, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nội dung lý thuyết khoa học của từng chuyên ngành khoa học

Trang 31

xã hội; các vấn đề gắn với nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội, phục vụ việc thực hiện chức năng của các ngành và địa phương trong chỉ đạo và quản lý phát triển kinh tế - xã hội Nội dung nghiên cứu gì, ứng dụng ra sao… trong KHXH bao giờ cũng cần có định hướng chính trị, bản thân chính trị luôn đặt ra cho KHXH

Tuy KHXH gắn với thể chế chính trị nhưng không có nghĩa đồng nhất với chính trị và không được trái với quan điểm chính trị Nếu KHXH luôn đồng nhất với chính trị sẽ mất vai trò phản biện của nó và suy cho cùng không tạo ra cơ sở khoa học và thực tiễn khách quan cho phát triển đất nước

Vì vậy KHXH chỉ có tác động đến hạ tầng cơ sở để trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thông qua những thiết chế xã hội, hay nói cách khác là thông qua kiến trúc thượng tầng, tức là thông qua hệ thống quan điểm, liên quan trực tiếp đến ý thức giai cấp, ý thức xã hội; những quan điểm khác nhau về cuộc sống, về giá trị, đạo đức cũng như nhân cách, lối sống… của con người [54, tr.40] Cho nên, không có lĩnh vực nào của KHXH có thể đứng ngoài chính trị Ngược lại, chính trị có thể thâm nhập vào các hoạt động của khoa học xã hội và khó có thể phân biệt được Do đó lợi ích của hoạt động khoa học xã hội gắn liền với lợi ích chính trị và lợi ích giai cấp thông qua người

sử dụng và mục đích sử dụng Điều đó chứng tỏ KHXH có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển của mỗi quốc gia Nó có nhiệm vụ cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là hình thành chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, hoạch định hệ thống chính sách phát triển thích ứng với từng thời kỳ của các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau [54, tr.38]

Thứ hai, đóng góp của KHXH đối với xã hội thường có độ trễ trong ứng dụng

Khác với KHCN sản phẩm nghiên cứu là các phát minh, sáng chế hay những ứng dụng KH&CN được áp dụng ngay trong thực tiễn và mang lại lợi ích trước mắt, còn sản phẩm của KHXH thường mang lại lợi ích lâu dài, với hiệu quả tổng hợp nhưng rất khó lượng hóa, đo đếm, đặc biệt là hiệu quả chính trị - xã hội Trên thực tế, sản phẩm của khoa học xã hội không đem lại tác dụng ngay đối với đời sống xã hội như các ngành thuộc lĩnh vực KHCN Với tư cách là lực lượng sản xuất trực tiếp, KHXH chỉ dẫn đến sản xuất thông qua con người, mà con người ý thức được một cách tự giác những kiến thức xã hội, những lý giải về các phương án

Trang 32

của các nhà khoa học xã hội, mà điều đó chỉ có thể có được khi những kiến thức, hoặc phương án được xã hội chấp nhận hoặc ít ra cũng được kiểm nghiệm trong đời sống thực tiễn, do đó phải có thời gian, cần một quá trình

Mặt khác, mục tiêu của KHXH là xây dựng con người, phát triển toàn diện mọi khả năng của con người vì lợi ích của chính con người và xã hội loài người Nhờ khả năng tác động đến phạm vi ý thức tư tưởng cũng như tâm hồn, nhân cách con người, KHXH có vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ dân trí, nhất là văn hóa, văn minh xã hội Mọi tiến bộ của KHXH đều tác động trực tiếp đến việc xây dựng nền văn hóa mới và con người mới, và nên văn hóa phát triển sẽ chắp cánh cho sự phát triển xã hội cũng như KHXH Chính KHXH đã tạo nên sự chuyển biến từ đời sống thực tiễn đến năng lực văn hóa và từ văn hóa đến yêu cầu tiến bộ

xã hội Tất cả những biến đổi đó đều phải có quá trình và thông qua quá trình nên không thể đòi hỏi KHXH đem lại những lợi ích thực tiễn trước mắt cho xã hội

Hơn nữa, tác động của các kết quả nghiên cứu của KHXH còn rộng lớn và toàn diện hơn, nhất là khi được sử dụng các kết quả đó làm căn cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách, tạo ra những nguyên lý phát triển xã hội Mỗi một kết quả nghiên cứu của khoa học xã hội được thể hiện ở các mặt hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả chính trị - tư tưởng, hiệu quả khoa học, trong đó những kết quả trực tiếp rất khó lượng hóa, đo đếm và những tác động gián tiếp lại rất lớn và quan trọng Các mặt hiệu quả này khó có thể nhận thấy trong thời gian ngắn, ngay sau khi kết quả nghiên cứu KHXH được hoàn thành hay vừa áp dụng vào thực tiễn,

mà nhiều khi phải tới năm, mười năm, thậm chí hàng chục năm mới thấy rõ hiệu quả đem lại Mặt khác, có những kết quả nghiên cứu của KHXH tuy được nghiệm thu đánh giá ở mức xuất sắc, song không dễ được áp dụng ngay vào thực tiễn, bởi còn phụ thuộc vào các điều kiện như cơ chế, chính sách, nguyên tắc tổ chức quản lý

và yêu cầu đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội,… Vì vậy không thể thuần túy nhìn vào khía cạnh hiệu quả trước mắt hoặc chỉ đơn thuần xét trên bình diện hiệu quả kinh tế để cân nhắc mức độ đầu tư hoặc nhận xét đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động KHXH đem lại, mà phải đứng trên quan điểm hiệu quả tổng hợp, lâu dài

và toàn diện, trong đó đặc biệt chú ý tới hiệu quả chính trị - xã hội [35, tr.13]

Trang 33

Thứ ba, việc ứng dụng kết quả của KHXH thường mang tính chủ quan

KHXH cơ bản dựa trên tư duy sáng tạo và chủ yếu mang lại kết quả có tính phát hiện và sáng tạo Khác với các ngành KHCN, KHXH không tiến hành nghiên cứu dựa trên các thí nghiệm, thực nghiệm ở phòng thí nghiệm, mà dựa trên các tài liệu đã có, đồng thời tiến hành điều tra, khảo sát để lấy số liệu, tài liệu, học hỏi kinh nghiệm, nghiên cứu thực tiễn để tổng kết, khái quát, phát hiện các hiện tượng và quy luật hoặc trên cơ sở đó xác định bản chất, nêu lên những luận điểm và kết luận khoa học Vì thế, kết quả nghiên cứu của KHXH ít mang tính phát minh, sáng chế,

mà chủ yếu mang tính phát hiện và sáng tạo Tư duy sáng tạo trong nghiên cứu KHXH được thể hiện cả trong quá trình nghiên cứu tư liệu, kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, khảo sát thực tiễn, tìm phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận thích hợp, trao đổi học thuật, tranh luận khoa học, lập luận trình bày, phân tích các quan điểm cũng như trình bày kết quả nghiên cứu [54, tr.10]

Việc sử dụng các ý tưởng đề xuất xã hội từ kết quả nghiên cứu cũng bị phụ thuộc vào chính khách, các nhà quản lý mà động cơ sử dụng do nhiều yếu tố quyết định như: sự đồng thuận trong xã hội; sự thỏa thuận, thỏa hiệp của các cộng đồng trong xã hội,…

Thứ tư, sản phẩm KHXH khó thống nhất trong đánh giá

Sản phẩm của KHXH thường là các trang tác giả thể hiện ý tưởng, sự kiến giải và các đề xuất về lý luận và thực tiễn của tác giả Các kết quả nghiên cứu của KHXH có tính chính xác không cao, một phần là do trong KHXH rất khó, thậm chí không thể, thực hiện các thí nghiệm có kiểm soát do các chi phí rất lớn Các thử nghiệm xã hội nhiều lúc cũng không thể thực hiện Cũng do tính chính xác không cao của các kết quả nghiên cứu, trong nghiên cứu KHXH thường phải sử dụng phương pháp chuyên gia để đánh giá, dự báo tình hình

Về cơ bản, đánh giá chất lượng trong KHXH khác xa với KHCN Nó được giới chuyên môn đánh giá cao, thấp thể hiện ở thang điểm trên cơ sở các tiêu chí: ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, những đề xuất có tính khả thi cho công tác hoạch định chính sách kinh tế, xã hội… Tuy vậy, đó vẫn chỉ là những đánh giá mang tính

Trang 34

chủ quan, tùy thuộc vào nhãn quang của người đánh giá và thời điểm lịch sử của những điều kiện chính trị - xã hội quy định

Thứ năm, hoạt động KHXH đòi hỏi quá trình tự đào tạo, tích lũy kinh

nghiệm kiến thức khá dài

Khoa học xã hội là đòi hỏi người nghiên cứu phải có quá trình tự đào tạo, tích lũy kinh nghiệm, kiến thức khoa học liên ngành rộng, chuyên ngành sâu mới đủ điều kiện làm công tác nghiên cứu và phát triển lâu dài Đặc trưng này chính do đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội quy định Hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội còn mang tính chất tổng kết, đúc rút, phân tích, khái quát lý luận từ thực tiễn nên vốn tích lũy kiến thức (bao gồm kiến thức sách báo và kiến thức thực tiễn) cũng như kinh nghiệm nghiên cứu của khoa học đóng vai trò hết sức quan trọng Những người làm công tác nghiên cứu khoa học xã hội không thể chỉ sau khi đạt được các học vị khoa học là đủ điều kiện làm tốt công tác nghiên cứu khoa học,

mà trái lại, đòi hỏi phải học tập, tự đào tạo liên tục, tích lũy kinh nghiệm và kiến thức khoa học suốt đời; đồng thời phải coi đó là tiêu chuẩn và điều kiện quan trọng nhất để các nhà nghiên cứu khoa học xã hội có thể cống hiến ngày một nhiều hơn sức sáng tạo vì sự phát triển của khoa học Thế giới đã rút ra những kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu như các nhà KHTN, KHCN có thể có các bằng phát minh, sáng chế từ lứa tuổi 23, thậm chí thấp hơn, và thời kỳ cống hiến rực rỡ nhất là ở tuổi 35-45, thì các nhà khoa học xã hội có được những cống hiến sáng tạo có giá trị đòi hỏi ít nhất phải

ở tuổi 30 và thời kỳ cống hiến rực rỡ nhất là ở tuổi từ 45 đến 55, thậm chí có người sau khi nghỉ hưu mới có đóng góp khoa học có giá trị Vì thế việc áp dụng chế độ tài chính đối với KHXH như: tiền lương, định mức khoán chi thường xuyên, khoán chi theo đề tài nghiên cứu… không thể giống như KHCN, càng không thể giống như các cơ quan hành chính; đồng thời cũng không thể thù lao như nhau ngay trong giới KHXH giữa các thế hệ Tuy rằng, thế hệ trẻ do có điều kiện học hành đầy đủ và thông minh, có thể táo bạo nêu ý tưởng, song độ chín về chính trị (rất đặc thù trong khoa học xã hội) và chiều sâu trong nghiên cứu, tư vấn chính sách sẽ còn gặp nhiều khó khăn Đây là vấn đề cần lưu ý khi xây dựng các chính sách phát triển cũng như đãi ngộ đối với các nhà nghiên cứu KHXH

Trang 35

Thứ sáu, hoạt động nghiên cứu KHXH mang tính liên ngành cao

Khoa học xã hội nghiên cứu các hiện tượng xã hội, các hiện tượng xã hội là một tổng thể Nhiều vấn đề xã hội không thể giải quyết được nếu chỉ đóng khung trong một chuyên ngành khoa học Các phương pháp sử dụng trong một nghiên cứu KHXH cũng rất đa dạng, không chỉ bó hẹp trong các phương pháp của KHXH mà còn có cả các phương pháp thường áp dụng cho KHCN Đồng thời, cũng có nhiều vấn đề KHXH khi nêu mục tiêu nghiên cứu nhưng có thể có nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau, trong điều kiện cụ thể khác nhau thì trong những trường hợp này cũng cần tổ chức thành nhiều hơn 1 nhiệm vụ về chủ đề đó để rồi có thể tập hợp các kết quả nghiên cứu so sánh, đối chiếu

Tóm lại, với các nét đặc thù như trên, cơ chế quản lý tài chính trong hoạt

động KHXH vừa đáp ứng những yêu cầu chung của quản lý tài chính công, nhưng vừa phải bao quát được tính đặc thù của hoạt động KHXH Việc áp dụng các công

cụ và phương thức quản lý phù hợp sẽ thúc đẩy khả năng sáng tạo trong nghiên cứu của nhà khoa học Ngược lại, nếu cơ chế và chính sách quản lý lạc hậu, chậm thay đổi, không tính đến đặc thù của KHXH sẽ gây những ách tắc, hạn chế khả năng sáng tạo của nhà khoa học và cản trở sự phát triển của KHXH, cũng như những

đóng góp cho xã hội

2.2 Quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội

2.2.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội

2.2.1.1 Khái niệm quản lý tài chính

Có nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về quản lý tài chính trong lĩnh vực công

Theo cách tiếp cận của Hough, J.R [62], quản lý tài chính là một phương thức hỗ trợ để đạt mục tiêu tổng thể của tổ chức thông qua cung cấp tài chính Với cách tiếp cận này thì quản lý tài chính liên quan đến câu hỏi là làm thế nào lựa chọn được các khoản đầu tư hợp lý để có lợi nhuận từ khoản đầu tư đó Theo học thuyết

có thể tóm tắt các chức năng quản lý tài chính và vai trò của người quản lý tài chính

là ra các quyết định và kiểm soát các vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng nguồn lực tài chính

Trang 36

Theo học thuyết quản lý tài chính của Solomon, E [69] cho rằng: “Quản lý

tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh điểm yếu của nó và lập các kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lại nhằm đạt được mục tiêu cụ thể tăng giá trị cho đơn vị đó”

Hay nói cách khác, Quản lý tài chính là quá trình mà chủ thể quản lý, thông

qua việc sử dụng có chủ đính các phương pháp và các công cụ quản lý, tác động và điều khiển hoạt động tài chính nhằm đạt được các mục tiêu đã định Trong quản lý tài chính, các vấn đề về: chủ thể quản lý, các nguồn tài chính được quản lý, công cụ

và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải được xác định đúng đắn

Từ những quan điểm trên có thể khẳng định bản chất của quản lý tài chính trong mọi tổ chức nói chung là giống nhau, tuy nhiên do đặc thù của mỗi ngành nên

nó có những nét cơ bản riêng Trong lĩnh vực sự nghiệp thì cũng có nhiều loại sự nghiệp khác nhau như sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề; sự nghiệp y tế; sự nghiệp văn hóa thông tin; sự nghiệp khoa học và công nghệ; và sự nghiệp khác nên không thể đánh đồng khái niệm quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp với quản lý tài chính trong hoạt động KHXH, đặc biệt không thể áp dụng toàn bộ mô hình quản lý tài chính trong doanh nghiệp cho quản lý tài chính trong hoạt động KHXH được Quản lý tài chính trong hoạt động KHXH có những yêu cầu tương tự như các tổ chức kinh doanh như sử dụng công quỹ và thực hiện kiểm soát Tuy nhiên, các tổ chức Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội chủ yếu được ngân sách nhà nước tài trợ nên để có kinh phí chi tiêu cho hoạt động nghiên cứu khoa học phải lập kế hoạch ngân sách, quản lý chi tiêu ngân sách theo quy định khá nghiêm ngặt về quản lý nguồn tài chính có sự tài trợ của NSNN Như vậy, có thể đưa ra khái niệm quản lý tài chính trong hoạt động KHXH như sau:

Quản lý tài chính trong hoạt động KHXH là quản lý quá trình tạo lập và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính để đạt được các mục tiêu đã định Hay

nói cách khác, Quản lý tài chính trong hoạt động KHXH là quá trình mà chủ thể

quản lý thông qua việc sử dụng các phương pháp, công cụ quản lý tác động lên đối

Trang 37

tượng quản lý bằng việc quản lý việc tạo lập và sử dụng các nguồn tài chính một cách chặt chẽ, hợp lý có hiệu quả theo mục đích đã định

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án tác giả tiếp cận Quản lý tài chính trong hoạt động KHXH, xét về khía cạnh quản lý nhà nước là quá trình tác động

của Nhà nước tới hệ thống quản lý của các tổ chức Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội thông qua việc sử dụng các công cụ của Nhà nước để thực hiện các chức năng cơ bản từ lập kế hoạch tài chính, tổ chức phân bổ

và sử dụng nguồn tài chính đến kiểm tra, giám sát nhằm đạt được mục tiêu đã định

Xét về khía cạnh quản lý tài chính tại các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH là quá trình tổ chức KH&CN được nhà nước giao quản lý nguồn tài chính do

NSNN cấp để thực hiện các nhiệm vụ được nhà nước giao, thông qua các công cụ của Nhà nước và các quy định riêng phù hợp với đặc thù của lĩnh vực về quản lý thu, quản lý chi, quản lý quá trình sử dụng và giám sát việc quản lý nguồn NSNN cấp một cách hiệu quả phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao

Mục tiêu quản lý tài chính có thể thay đổi theo từng thời kỳ và chiến lược phát triển của từng tổ chức, tuy nhiên khác với quản lý tài chính tại các doanh nghiệp (chủ yếu nhằm mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận), mục tiêu của quản lý tài chính trong hoạt động KHXH không vì mục đích lợi nhuận mà phục vụ cho cộng đồng xã hội Vì vậy, quản lý tài chính trong hoạt động KHXH là quản lý sử dụng có hiệu quả, đúng định hướng các nguồn kinh phí NSNN cấp và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật

Quan điểm quản lý tài chính trên cho phép nhìn nhận đầy đủ, toàn diện về tài chính trong hoạt động KHXH, vừa chỉ ra mặt cụ thể - hình thức biểu hiện bên ngoài

“vật chất” của tài chính (các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ); vừa vạch rõ mặt trừu tượng - bản chất bên trong của tài chính (các quan hệ kinh tế trong phân phối của cải dưới hình thức giá trị) Từ đó cho nhận thức rằng, quản lý tài chính trước hết là quản lý các nguồn tài chính, quản lý các quỹ tiền tệ, quản lý việc phân phối các nguồn tài chính, quản lý việc tạo lập, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ một cách chặt chẽ, hợp lý có hiệu quả theo mục đích đã định

Trang 38

2.2.1.2 Đặc điểm quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội

Từ khái niệm trên cụ thể hóa về quản lý tài chính trong hoạt động KHXH bằng mô hình sau:

Sơ đồ 2.1: Mô hình quản lý tài chính trong hoạt động KHXH

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Theo mô hình trên, cho thấy:

Chủ thể quản lý tài chính trong hoạt động KHXH mà luận án khảo sát gồm:

a) Cơ quan quản lý Nhà nước, cụ thể là hai Bộ chủ quản trực tiếp là Bộ Khoa học

và Công nghệ và Bộ Tài chính, là cơ quan nhà nước ban hành các chính sách quản

lý đối với các tổ chức KH&CN; b) Tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực

KHXH được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động quản lý quá trình tạo lập, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của Nhà nước theo chức năng nhiệm vụ được giao

Như vậy, để đạt được mục tiêu cuối cùng của quản lý tài chính trong hoạt động KHXH cần hiểu rõ đặc thù về quản lý tài chính trong hoạt động KHXH như sau:

Cơ quan

quản lý

Nhà nước

Tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH

Lập kế hoạch tài chính

Tổ chức thực hiện

Quản lý điều hành

Kiểm tra giám sát tài chính

- Mục tiêu quản lý của Nhà nước

- Mục tiêu kế hoạch của tổ chức

KH&CN

Trang 39

Thứ nhất, nguồn tài chính cho hoạt động khoa học xã hội chủ yếu từ NSNN

Nghiên cứu KHXH chủ yếu là nghiên cứu cơ bản, ít có tính thị trường, vì vậy để KHXH phát triển thì rất cần thiết phải có sự đầu tư nguồn lực, bao gồm nhân

lực (con người), cơ sở vật chất từ ngân sách nhà nước (NSNN) Nguồn đầu tư từ

NSNN cho hoạt động KHXH cung cấp tiềm lực tài chính không chỉ duy trì, củng cố các hoạt động nghiên cứu mà còn có tác dụng định hướng điều chỉnh các hoạt động nghiên cứu phát triển theo đường lối chủ trương của Nhà nước và theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động KHXH rất đa dạng Ở các nước có nền kinh tế thị trường, nguồn tài chính đầu

tư cho nghiên cứu khoa học được hình thành từ ngân sách nhà nước, từ nội tại của

tổ chức nghiên cứu, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và từ sự tài trợ của các tổ chức quốc tế Nhưng nhìn chung lại đầu tư cho hoạt động KHXH vẫn chủ yếu từ nguồn NSNN

Thứ hai, cơ chế quản lý phản ánh mối quan hệ tài chính giữa tổ chức KH&CN

hoạt động trong lĩnh vực KHXH với Nhà nước

Hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực KHXH là hoạt động trí tuệ, có tính đặc thù cao và được tiến hành một cách rất đa dạng do một cá nhân hoặc một nhóm các nhà khoa học thực hiện Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu phải do một tổ chức đặt hàng hoặc nhận đặt hàng để tổ chức triển khai nghiên cứu Với đặc điểm này, ở nước ta hiện nay, tổ chức đặt hàng thường là Nhà nước, tổ chức nghiên cứu có thể là một viện nghiên cứu chuyên ngành, một trung tâm nghiên cứu triển khai ứng dụng và dịch vụ khoa học, hoặc một trường đại học được giao để tổ chức thực hiện đề tài Trong thuật ngữ hiện hành ở nước ta gọi đó là tổ chức chủ trì đề tài Thông qua tổ chức chủ trì đề tài, các nhà nghiên cứu nhận công trình nghiên cứu, triển khai thực hiện và được nghiệm thu, đánh giá, đưa vào ứng dụng trong thực tiễn

Nhà nước bảo đảm sự phát triển ổn định, liên tục cho nghiên cứu khoa học, nhất

là lĩnh vực khoa học xã hội; Đẩy mạnh ứng dụng kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học vào thực tiễn, phổ biến kiến thức, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực; phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và kinh nghiệm thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức

Trang 40

KH&CN trong lĩnh vực KHXH thực hiện tốt trách nhiệm của mình Tổ chức, động viên các thành viên tham gia tư vấn, phản biện, giám định xã hội và tiến hành các hoạt động khoa học

Với nhà khoa học, nhiệm vụ của họ là cung cấp cho xã hội những sản phẩm nghiên cứu có chất lượng Sản phẩm nghiên cứu của họ đáp ứng nhu cầu của sự phát triển xã hội, của dân cư và của nhà nước thì công trình đó được ứng dụng trong thực tiễn, nhiệm vụ của họ hoàn thành, họ được trả chi phí cho các sản phẩm nghiên cứu và ngược lại

2.2.2 Nội dung quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội

2.2.2.1 Quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội

(1) Quản lý phân bổ ngân sách nhà nước trong hoạt động Khoa học xã hội

Quản lý phân bổ ngân sách nhà nước cho hoạt động KHXH là phải xác định đúng, đủ các nguồn tài chính theo quy định của Nhà nước, đảm bảo ngân sách cho hoạt động KHXH Phân bổ ngân sách cho hoạt động KHXH dựa trên các nguyên tắc sau:

- Phù hợp với định hướng phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà nước, phù hợp với chiến lược phát triển ngành KH&CN được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến việc ưu tiên phân bổ kinh phí ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học

- Dựa trên kết quả thực hiện dự toán năm trước làm thước đo đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, theo đó ngân sách nhà nước ưu tiên bố trí kinh phí thực hiện các Chương trình trọng điểm có tính chất quan trọng, cấp bách; các Chương trình theo chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; hạn chế thực hiện các Chương trình, dự án, nhiệm vụ kém hiệu quả, đảm bảo tiết kiệm

- Dựa trên số kiểm tra được giao để đảm bảo cân đối ngân sách cho KH&CN trong năm kế hoạch Số kiểm tra hằng năm là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện phân bổ chi tiết kinh phí triển khai các nhiệm vụ được giao

- Các nội dung chi được lập trong kế hoạch dự toán ngân sách phải đúng chế

độ tiêu chuẩn, định mức quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Các tiêu chuẩn định mức kinh tế-kỹ thuật, tài chính trong lĩnh vực KH&CN do các

Bộ, ngành, cơ quan chuyên môn ban hành

Nguồn kinh phí NSNN cấp cho hoạt động KHXH bao gồm: (1) Kinh phí

Ngày đăng: 11/01/2019, 16:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Văn Bảo (2012), Hoàn thiện công tác quản lý tài chính theo hướng tự chủ các tổ chức khoa học công nghệ trong các trường đại học khối kỹ thuật trực thuộc Bộ GD &ĐT, Tạp chí khoa học công nghệ xây dựng, số 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác quản lý tài chính theo hướng tự chủ các tổ chức khoa học công nghệ trong các trường đại học khối kỹ thuật trực thuộc Bộ GD &ĐT
Tác giả: Nguyễn Văn Bảo
Năm: 2012
12. Bộ Tài chính (3-2015), Tài liệu Hội nghị toàn quốc về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KHCN công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị toàn quốc về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KHCN công lập
13. Bộ Tài chính (6-2015), Tài liệu báo cáo giám sát của Quốc hội về chính sách pháp luật của nhà nước đối với khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu báo cáo giám sát của Quốc hội về chính sách pháp luật của nhà nước đối với khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2015
16. Dương Đăng Chinh (2006), Giáo trình Quản lý Tài chính công, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý Tài chính công
Tác giả: Dương Đăng Chinh
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2006
17. Dương Đăng Chinh, Phạm Văn Khoan (2009), Giáo trình Quản lý Tài chính công, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý Tài chính công
Tác giả: Dương Đăng Chinh, Phạm Văn Khoan
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2009
24. Mai Ngọc Cường (2004), Đề tài: “Hoàn thiện cơ chế chính sách tài chính cho KH&CN trong các trường Đại học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: 24. Mai Ngọc Cường (2004), Đề tài: “Hoàn thiện cơ chế chính sách tài chính cho KH&CN trong các trường Đại học Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Năm: 2004
25. Phạm Văn Đức, Nguyễn Đình Hòa (2007), Vấn đề đầu tư cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đầu tư cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong khoa học xã hội
Tác giả: Phạm Văn Đức, Nguyễn Đình Hòa
Năm: 2007
28. Phạm Ngọc Hiến (2003), Quản lý tài chính công ở Việt Nam, Đề tài khoa học mã số 2000-98-083, Học viện Hành chính chủ trì, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính công ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Hiến
Năm: 2003
29. Trần Ngọc Hoa (2012), Hoàn thiện thiết chế tự chủ của tổ chức KH&CN, Tạp chí Chính sách và quản lý khoa học và công nghệ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện thiết chế tự chủ của tổ chức KH&CN
Tác giả: Trần Ngọc Hoa
Năm: 2012
30. Bạch Thị Minh Huyền (2003), “Một số vấn đề cơ bản về tài chính công và cải cách tài chính công”, Tài chính, (3), tr.35-36; 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về tài chính công và cải cách tài chính công
Tác giả: Bạch Thị Minh Huyền
Năm: 2003
31. Đỗ Diệu Hương (2012), Đổi mới cơ chế phân bổ và sử dụng ngân sách Nhà nước cho hoạt động khoa học xã hội, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế phân bổ và sử dụng ngân sách Nhà nước cho hoạt động khoa học xã hội
Tác giả: Đỗ Diệu Hương
Năm: 2012
32. Đinh Thị Nga (2013), “Đổi mới cơ chế quản lý chi tiêu ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ”, Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam, số 14, tr.30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế quản lý chi tiêu ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ”
Tác giả: Đinh Thị Nga
Năm: 2013
34. Trịnh Thị Kim Ngọc (2008), Thực trạng và xu hướng đầu tư cho khoa học và công nghệ của một số quốc gia trên thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và xu hướng đầu tư cho khoa học và công nghệ của một số quốc gia trên thế giới
Tác giả: Trịnh Thị Kim Ngọc
Năm: 2008
35. Dương Bá Phượng (2004), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu xây dựng Đề án: Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu xây dựng Đề án: Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với khoa học xã hội và nhân văn
Tác giả: Dương Bá Phượng
Năm: 2004
37. Vĩnh Sang (2005), “Mở rộng quyền chủ động tài chính cho các đơn vị sử dụng ngân sách”, Tài chính, (8), tr.34-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng quyền chủ động tài chính cho các đơn vị sử dụng ngân sách
Tác giả: Vĩnh Sang
Năm: 2005
38. Bùi Thiên Sơn (2010), Tổng quan về định hướng chi tiêu nguồn tài chính cho quá trình phát triển khoa học và công nghệ quốc gia đến năm 2020 và một số khuyến nghị, Tạp chí nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệ, số 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệ
Tác giả: Bùi Thiên Sơn
Năm: 2010
39. Nguyễn Hồng Sơn (2012), Cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam: Một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế& Chính trị thế giới, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam: Một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Nguyễn Hồng Sơn
Năm: 2012
40. Bùi Thiên Sơn (2013) Tổng quan về định hướng chi tiêu nguồn tài chính cho quá trình phát triển khoa học và công nghệ quốc gia đến năm 2020 và một số khuyến nghị, tạp chí nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệ, số 17, tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về định hướng chi tiêu nguồn tài chính cho quá trình phát triển khoa học và công nghệ quốc gia đến năm 2020 và một số khuyến nghị
41. Tài liệu Hội thảo “Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015-2035” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015-2035
68. Second Science and Technology Policy, http://www8.cao.go.jp/cstp/english/s&tmain-e.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm