1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mô hình câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau của người cao tuổi huyện hà trung, tỉnh thanh hóa

121 284 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam Nghiên cứu “Một số đặc trưng của NCT Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng”, tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh đã đưa ra một

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ỨNG NHẬT LINH

MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ LIÊN THẾ HỆ

TỰ GIÚP NHAU CỦA NGƯỜI CAO TUỔI HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ỨNG NHẬT LINH

MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ LIÊN THẾ HỆ

TỰ GIÚP NHAU CỦA NGƯỜI CAO TUỔI HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THỊ KIM HOA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

1 Những nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS TS Nguyễn Thị Kim Hoa

2 Các nội dung tham khao dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian và địa điểm công bố

3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017

Người thực hiện

Ứng Nhật Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu “Mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau của người cao tuổi huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa” là đề tài nghiên cứu dựa trên kết quả khảo sát tại huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa do học viên Ứng Nhật Linh thực hiện Mặc dù không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, nhưng tôi hy vọng rằng công trình nghiên cứu này sẽ cung cấp những thông tin về mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau Tôi cũng tin tưởng và hy vọng rằng luận văn sẽ đem lại những kết quả hữu ích về mặt xã hội

Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS Nguyễn Thị Kim Hoa - người hướng dẫn trực tiếp luận văn của tôi,

cô đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn tôi suốt quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người đã tham gia vào nghiên cứu, đã dành thời gian và nhiệt tình chia sẻ thông tin

Nghiên cứu vẫn còn nhiều điểm chưa hoàn chỉnh, rất mong nhận được

sự đóng góp ý của thầy cô

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Ứng Nhật Linh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 11

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 12

6 Phạm vi nghiên cứu: 13

7 Phương pháp nghiên cứu 13

PHẦN II NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15

1.1 Khái niệm công cụ 15

1.2 Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của NCT 16

1.3 Lý thuyết vận dụng 20

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ LIÊN THẾ HỆ TỰ GIÚP NHAU 29

2.1 Cấu trúc câu lạc bộ: 29

2.2 Giới thiệu Câu lạc bộ 05 và câu lạc bộ 18 thôn Thái Minh, xã Hà Thái, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa 34

2.3 Các mảng hoạt động của mô hình CLB liên thế hệ 37

Trang 6

2.3.1 Hoạt động chăm sóc sức khỏe 37

2.3.2 Hoạt động sinh kế tăng thu nhập 45

2.3.3 Hoạt động nâng cao đời sống tinh thần 50

2.3.4 Hoạt động tự giúp nhau, hỗ trợ cộng đồng 52

2.3.5 Hoạt động về quyền và lợi ích 54

2.3.6 Hoạt động xây dựng nguồn lực cho CLB 55

2.3.7 Hoạt động nâng cao nhận thức, kiến thức cho mọi mặt cho thành viên CLB 55

CHƯƠNG 3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔ HÌNH CLB LTH TGN VÀ KHẢ NĂNG NHÂN RỘNG MÔ HÌNH CLB LTH TGN 56

3.1 Các yếu tố bên trong 56

3.1.1 Nhu cầu và lợi ích của người tham gia 56

3.1.2 Tính định kỳ, minh bạch 87

3.1.3 Yếu tố lãnh đạo 89

3.2 Yếu tố bên ngoài 91

3.2.1 Sự tham gia của chính quyền địa phương 91

3.2.2 Địa bàn hoạt động 93

3.2.3 Tính cố kết xã hội 95

3.3 Đánh giá khả năng thích ứng của mô hình CLB 95

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101

1 Kết luận 101

2 Kiến nghị 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 110

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CLB LTH TGN Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau BCN CLB Ban chủ nhiệm câu lạc bộ

Trang 8

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ thời ông cha đến nay, NCT luôn là lớp người đóng vai trò to lớn trong việc lãnh đạo, có ảnh hưởng rất lớn đến trên mọi phương diện, vận mệnh chính trị của nước nhà và sự phát triển mạnh của đất nước trên các phương diện khác nhau như kinh tế- xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục… NCT chiếm một số lượng đông đảo, số lượng NCT lao động lớn, NCT có một kho tàng kinh nghiệm quý báu Tuy nhiên, hiện nay sự tăng lên số lượng NCT, hay già hóa dân số lại đi kèm với nhiều vấn đề như thu nhập cuộc sống, sức khỏe, nhu cầu giải tỏa tâm lý… của NCT

Chính vì vậy, người cao tuổi có vai trò vô cung quan trọng trong xã hội hiện nay, vai trò của NCT rất lớn trong việc phát triển nước nhà Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và tri ân với người cao tuổi, đặc biệt trong nền kinh tế- xã hội phát triển không ngừng, cũng như sự tăng nhanh chóng già hóa dân số, các hình thức chăm sóc NCT ngày càng được quan tâm hơn trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cuộc sống NCT còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt ở nông thôn Nhiều NCT và gia đình của họ luôn vất vả đối mặt với vấn đề thu nhập thấp, sức khỏe yếu xuất phát từ nhiều lý do như thiếu kiến thức tự bảo vệ sức khỏe và hạn chế tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Ngoài ra, đời sống nông thôn khó khăn nên nhiều con cháu, người trẻ di cư lên thành phố kiếm việc làm để lại quê nhà ông bà, bố

mẹ là NCT Chính vì vậy, NCT gặp rất nhiều khó khăn trong việc tự chăm sóc bản thân, họ phát sinh nhiều nhu cầu cần được đáp ứng khác, đặc biệt họ mong muốn tiếp cận các dịch vụ xã hội và chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng đang ngày một gia tăng

Hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số và

Trang 9

1 NCT, dự đoán đến năm 2050 cứ 8 người dân có 1 NCT và đến năm 2150 cứ

3 người dân có 1 NCT (HAI, 2016, báo cáo đánh giá tổ chức hỗ trợ NCT

quốc tế tại Việt Nam) Cùng với xu hướng chung của thế giới, Việt Nam cũng

không ngừng tăng lên về cả mặt số lượng cũng như tỷ lệ Hiện nay theo Quốc

tế dự báo tốc độ già hóa ở Việt Nam nhanh hơn so với dự báo của Việt Nam

là Việt nam có tốc độ già hóa dân số cao nhất thế giới và đến năm 2033-2034,

số NCT tử 60 tuổi trở lên sẽ lớn hơn số trẻ em dưới 15 tuổi Trong đó số lượng NCT là nữ lớn hơn nam; năm 2014, nhóm tuổi 60-69 cứ 1 cụ ông có 1.3 cụ bà, nhóm 70- 79 tuổi, cứ 1 cụ ông có 1,5 cụ bà và từ 80 tuổi trở lên cứ

1 cụ ông có 1 cụ bà (theo tổng điều tra dân số và nhà ở, 2009) Tháng 4 năm

2014, tỷ lệ người từ đủ 60 tuổi trở lên chiếm 10,45% tổng dân số (khoảng 9,462,236 người) và dự kiến tăng gấp đôi trong 20 năm tới do tỷ lệ sinh và tử

vong giảm mạnh và tuổi thọ cao (HAI, 2016, báo cáo đánh giá về NCT)

Đặc biệt, tại thành phố Thanh Hóa với số lượng người cao tuổi khá

lớn, Thanh hóa thuộc 10 tỉnh có chỉ số già hóa dân số lớn nhất, 2014 (theo

điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2014) Tại đây, NCT có 40,520 người chiếm

10,1% dân số nói chung, chiếm 11,77% so với dân số thường trú; hội viên chiếm 91,65% nhiều người là Cựu chiến binh, thương binh, nạn nhân chất độc màu da cam dioxin, trong đó có 34% NCT có lương hưu, năng động trong môi trường xã hội phát triển, có 14,36 % hưởng trợ cấp xã hội, còn số còn lại sống chủ yếu nhờ phụ thuộc vào con cái, ít được tiếp xúc giao lưu với bên

ngoài, quanh năm hiu quạnh trong căn nhà khép kín (HAI, 2017, báo cáo kết

quả hoạt động CLB liên thế hệ tự giúp nhau)

Nhiều NCT nông thôn vẫn tiếp tục làm việc, kiếm tiền nuôi bản thân và các thành viên khác Một số NCT có sự hỗ trợ của con cái họ vẫn có nhu cầu được khẳng định vai trò bản thân, họ muốn cống hiến, tham gia các hoạt dộng

xã hội.Vì vậy, NCT đang ngày càng thể hiện rõ vai trò ở gia đình và cộng

Trang 10

đồng Mặc dù vậy, một số NCT vẫn nghèo, khoảng 22,3% NCT sống trong

các hộ nghèo theo chuẩn quốc gia (UBQG NCT, 2014) Khoảng 67,2 % NCT

cho biết sức khỏe của họ yếu và rất yếu Vấn đề sức khỏe cũng làm gia tăng nghèo đói đối với NCT vì làm hạn chế khả năng lao động khiến họ không thể làm các công cần nhiều sức lao động Hiện nay tại các cơ sở y tế chi phí khám chữa bệnh cao, cơ sở y tế xa xôi, cơ sở y tế hạn chế nên NCT có xu hướng ít được khám sức khỏe định kỳ, điều này dẫn đến nguy cơ sớm bị bệnh mãn tính, nếu được phát hiện sớm bệnh có thể phòng tránh được và kiểm soát kịp thời Tỷ lệ bị các bệnh không lây nhiễm tiếp tục tăng đối với NCT, khoảng 77

% số ca tử vong do các bệnh không lây nhiễm xảy ra ở NCT trên 60 tuổi

(WHO, 2011)

Sự gia tăng nhanh chóng số lượng NCT ở độ tuổi cao với nhiều khó khăn trong cuộc sống hàng ngày do các bệnh mãn tính và tổn thương về xã hội, làm gia tăng nhu cầu cần được chăm sóc cao, cần các dịch vụ xã hội và phúc lợi ở mức cao hơn Bởi vậy, thực tế này đòi hỏi một cách tiếp cận mới phù hợp với một cuộc sống tích cực và năng động cũng như có thể hỗ trợ lâu dài cho NCT nghèo, ốm yếu trong các hoạt động hàng ngày để họ có thể sống tại cộng đồng càng lâu càng tốt Đảm bảo chất lượng cuộc sống NCT, nhà nước cũng như các tổ chức trong và ngoài nước đã có những mô hình, dịch vụ

hỗ trợ người cao tuổi trên toàn các phương diện Mô hình CLB LTH TGN từ năm 2006 là mô hình hỗ trợ NCT trên các phương diện từ tổ chức Helpage International -Tổ chức hỗ trợ NCT quốc tế tại Việt Nam, tổ chức đã làm việc với NCT và phát triển hơn 10 năm và là thành viên của mạng lưới Người cao tuổi Việt Nam Mô hình CLB LTH TGN góp phần giải quyết những thức thách của NCT, giúp NCT có cuộc sống theo phương châm sống vui, khỏe, sống có ích cho gia đình và xã hội Mô hình CLB đã được thành lập tại 850 cộng đồng ở 12 tỉnh nông thôn, ven biển, đô thị và miền núi Các hoạt động

Trang 11

của CLB đã mang lại lợi ích cho khoảng 960.000 người trong các mảng sinh

kế, quyền và lợi ích, chăm sóc sức khỏe NCT, trong đó có huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

Từ thực trạng Mô hình CLB LTH TGN, tôi nhận thấy những yếu tố bên trong và những yêu tố bên ngoài tác động đến mô hình, từ đó xem xét mức độ nhân rộng, thích ứng của mô hình Chính vì vậy, tôi chọn đề tài luận văn “Mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ Tự giúp nhau của người cao tuổi huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa” nhằm làm sáng tỏ những vấn đề trên

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Năm 1800, tác giả M.J.Tenon có công trình nghiên cứu mang tên “Quà

tặng các cụ già, bàn về biện pháp để kéo dài cuộc sống” Năm 1815, tác giả

P.Fluorons có công trình nghiên cứu “Bàn về tuổi thọ loài người và về lượng

sống trên thế giới” Năm 1919, tác giả P.Fluorons có công trình nghiên cứu

“Tuổi già xanh tươi” Trong những nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra thực tế

cuộc sống của NCT và hiên trạng sức khỏe của họ, các tác giả đã đưa ra những biện pháp chăm sóc sức khỏe cho NCT để kéo dài tuổi thọ cũng như giúp NCT có được cuộc sống thoải mái hơn Tuy nhiên, những biện pháp mà tác giả đưa ra mới dừng ở mức độ chăm sóc sức khỏe và tổ chức các hoạt động giải trí cộng đồng nhằm giúp NCT khắc phục những khó khăn về mặt tâm lý nói chung Ngoài ra, NCT xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, lối sống khác nhau nên các mô hình hỗ trợ NCT cần khác nhau Do vậy, khuôn khổ của các đề đề tài trên chưa đề cập cụ thể đến các hình thức chăm sóc người cao tuổi để đem đến hiệu quả nhất

Tác giả Mạc Tuấn Linh có công trình nghiên cứu mang tên “Người già

cô đơn và những vấn đề đặt ra trong chính sách xã hội”, ông đề cập tới hệ

thống an sinh trong nhiều đất nước trên thế giới luôn được quan tâm hàng đầu

Trang 12

và trong số đó là an sinh quan trọng dành cho người cao tuổi Nghiên cứu của ông phân tích người cao tuổi cao tuổi cô đơn- Họ là những người thiệt thòi và thiếu thốn về mọi mặt như kinh tế, sức khỏe,…nhưng hơn cả là họ thiếu đi đời sống tinh thần Sự trợ giúp của xã hội chỉ góp một phần nhỏ giúp đỡ họ giảm đi những khó khăn thể chất trong cuộc sống và khó khăn về tinh thần vẫn chưa được giải quyết và điều này vô hình dung ảnh hướng sâu sắc sức khỏe người cao tuổi Trong nghiên cứu của ông đã nêu lên vấn đề ngoài đáp ứng các nhu cầu chăm sóc sức khỏe, kinh tế, thì nhu cầu tham gia các hoạt động tinh thần tạo niềm vui vô cùng quan trọng Tuy nhiên, đề tài chỉ mới chỉ

ra mà chưa có mô hình củ thể nào hỗ trợ NCT

Nghiên cứu “Developing Model of Health Care management for the

Elderly by Community Participation in Isan” Xây dựng mô hình quản lý

CSSK cho NCT có sự tham gia của cộng đồng tại Isan của Chanitta Soommaht, Songkoon Chantachon và Paiboon Boonchai Nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra các vấn đề trong quản lý CSSK người cao tuổi tại các cộng đồng

ở Isan cả về thể chất lẫn tinh thần Đồng thời các tác giả cũng tiến hành phân tích sự phát triển của việc CSSK cho NCT là do các tổ chức cộng đồng Isan đảm nhiệm Kết quả nghiên cứu cho thấy việc quản lý các tổ chức cộng đồng trong việc CSSK người cao tuổi là phương pháp hiệu quả nhất Tất cả công dân cao tuổi trong cộng đồng đều đồng ý rằng, việc chăm sóc y tế được cung cấp bởi các tổ chức cộng đồng giúp họ thoải mái và ấm áp hơn Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ ra mô hình cụ thể hay những yếu tố cụ thể tác động đến hiệu quả của mô hình

Tại Singapore, theo The Straits Times (New criteria, subsidy cut for

nurseing homes, The Straits Times, June 14, 2004 chính phủ Singapore quan

tâm đến vấn đề già hoá dân số với những chính sách mở rộng chương trình giáo dục cộng đồng về NCT, giao đất cho các tổ chức phi chính phủ để xây

Trang 13

dựng nhà ở cho NCT, nghiên cứu tính khả thi của việc cung cấp các dịch vụ y

tế và chăm sóc sức khoẻ tại gia đình cho NCT ốm yếu, giảm thuế thu nhập cho nhân viên chăm sóc NCT Chính phủ cho rằng hình thành các trung tâm chăm sóc theo ngày là giải pháp tốt hơn cho sự bảo đảm an sinh xã hội cho NCT Trong nghiên cứu này, mô hình chăm sóc sức khỏe tại nhà cho NCT là

mô hình xã hội hóa, nhân viên chăm sóc sức khỏe tại các trung tâm khi đến chăm sóc tại nhà NCT được trả công Mô hình này ứng dụng rất tốt tại các nước phát triển như Hàn Quốc, nhà nước có chủ trương xây nhà dưỡng lão cho NCT từ năm 1981 nhưng đến năm 1985, Hàn Quốc vẫn chưa có nhà dưỡng lão chính thức nào Năm 1989 và năm 1993, Luật phúc lợi của NCT được sửa đổi để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của NCT vốn ngày càng trở nên đa dạng Từ đó, các dịch vụ chăm sóc NCT tại nhà và tại cộng đồng bắt đầu thu hút được sự quan tâm của xã hội dưới các hình thức phong phú theo ngày, trợ giúp các công việc tại nhà, chăm sóc tại nhà trong một thời gian ngắn theo

yêu cầu (Sung-Jae Choi 2002) Nhật Bản có tỉ lệ NCT rất cao, hệ thống dịch

vụ chăm sóc sức khoẻ NCT tại cộng đồng rất phát triển từ dịch vụ tại cơ sở đến dịch vụ tại nhà như nhà dưỡng lão đặc biệt sử dụng cho NCT có mức độ lão hoá cao, khuyết tật, sức khỏe tâm thần Dịch vụ tại nhà gồm các hình thức

đa dạng như hỗ trợ tư vấn hay dịch vụ chăm sóc trực tiếp đáp ứng nhu cầu NCT Tại đây, dịch vụ chăm sóc trực tiếp có hai hình thức là dịch vụ đến cơ

sở để được chăm sóc và dịch vụ chăm sóc tại nhà Tại Trung Quốc nhà nước

và các tổ chức cũng có nhiều loại hình hỗ chăm sóc NCT với nhiều cách thức đầu tư khác nhau Thứ nhất, hình thức viện dưỡng lão 100% vốn nhà nước đầu tư được dành riêng cho cán bộ về hưu Thứ hai, hình thức viện dưỡng lão liên kết giữa nhà nước và nhân dân Hình thức này thu phí cao hơn với thu nhập của người dân Ngoài ra, loại hình 100% vốn tư nhân thì kết hợp như một khu phố dành cho người già, bán hoặc cho thuê phòng, bệnh viện, nhà hàng, chỗ chơi và chỗ học tập, nhiều người sức khoẻ yếu có thể thuê hộ lý riêng

Trang 14

Từ đó, tôi thấy các hình thức chăm sóc người cao tuổi tại các nước phát triển rất hay và hiệu quả Tuy nhiên với đất nước đang phát triển như Việt Nam, mô hình này sẽ gặp những vấn đề khó khăn như chỉ cung cấp cho bộ phận NCT có điều kiện kinh tế khá, khu vực thành phố, đủ kinh tế chi trả cho các dịch vụ xã hội nhưng NCT nông thôn không có khả năng chi trả và tiếp cận những dịch vụ này Ngoài ra, các mô hình này chỉ hướng tới chăm sóc sức khỏe NCT chứ chưa hề sử dụng nguồn lực NCT để họ tham gia hoạt động của xã hội, chăm sóc sức khỏe lẫn nhau và thoải mãn các nhu cầu khác về đời sống kinh tế và tinh thần của NCT Các mô hình trên chưa thúc đẩy chính nguồn lực là người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số hiện nay

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu “Một số đặc trưng của NCT Việt Nam và đánh giá mô

hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng”, tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh đã

đưa ra một số vấn đề liên quan đến người cao tuổi, những yếu tố liên quan đến người cao tuổi và chúng có ảnh hưởng lớn đến đời sống của NCT như vấn đề già hóa dân số đang diễn ra mạnh mẽ và kéo theo nhiều vấn đề khó khăn trong kinh tế, xã hội cần giải quyết trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài vấn đề đó Ông cho rằng có nhiều mô hình chăm sóc người cao tuổi trên thế giới nhưng mô hình chăm sóc người cao tuổi hiện tại ở nước

ta còn ít, hoạt động đơn lẻ, tự phát, nếu có thì mô hình đó chỉ áp dụng cho những gia đình NCT có điều kiện kinh tế, hoặc những mô hình chăm sóc y tế hoặc vui chơi giải trí, những mô hình này luôn xem người cao tuổi là những người yếu thế, không còn khả năng tham gia các hoạt động xã hội Mô hình này đã nêu bật được vai trò của NCT trong cộng đồng, tuy nhiên đề tài vẫn chưa đưa ra mô hình cụ thể

Năm 1996 , tạp chí Xã hội học nghiên cứu tác giả Dương Chí Thiện, kết quả của nghiên cứu cho thấy một số tác động chủ yếu của chính sách ruộng đất

Trang 15

đang tạo ra những điều kiện thuận lợi và hạn chế vào quá trình hình thành an

sinh xã hội mới với NCT ở nông thôn và sự đổi mới trong nền kinh tế- xã hội nước ta Từ đó, tác giả thấy được vai trò của gia đình, các tổ chức xã hội và tổ chức xã hội và hệ thống y tế chăm sóc NCT

Kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Thế Cường về nguồn lực vật chất của NCT dựa trên số liệu cuộc khảo sát năm 1996 tại đồng bằng sông Hồng cho thất, giúp đỡ từ con cái đứng thứ 2 sau nguồn thu từ kinh tế hộ gia đình nông nghiệp Ngoài ra còn có nghiên cứu của Trương Sĩ Ánh và cộng sự năm1997 hay Bùi Thế Cường năm 1999 cho thấy sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình quan trọng hơn sự hỗ trợ từ bên ngoài và việc cung cấp thực phẩm và các mặt hàng tiêu dùng khác là mói liên hệ khác thường xuyên giữa NCT và con cái

Các nghiên cứu liên quan tới đời sống của NCT những năm qua đều cho thấy một kết quả khá thống nhất là hiện có 50 % số người cao tuổi cơ bản đảm bảo được đời sống vật chất từ lao động hoặc chế độ trợ cấp, hưu trí của

mình (Điều tra gia đình Việt Nam, 2006; điều tra của UBQG NCT, 2007)

Nhóm NCT còn lại phải nhờ các nguồn hỗ trợ khác từ gia đình và xã hội để đảm bảo cuộc sống Việc con cháu hỗ trợ vật chất cho NCT đảm bảo cuộc sống ở các mức độ khác nhau là thể hiện đạo lý, trách nhiệm và nghĩa vụ của các thế hệ với ông bà, cha mẹ trong gia đình Ngược lại, với NCT ở các hoàn cảnh khác nhau họ cũng có những hình thức, mức độ hỗ trợ, giúp đỡ con cháu

Một số lượng NCT tại Việt Nam hiện nay trong độ tuồi từ 60-70 vẫn còn tự thân lao động để kiếm sống, hoặc chăm sóc con cái, cháu chắt, tỷ lệ

NCT đóng vai trò chính về kinh tế khá cao ( theo kết quả điều tra của Bộ lao

động- Thương binh và xã hội, 2001) Hiện nay, NCT về hưu được nghỉ ngơi,

hưởng tuổi già chiềm tỷ lệ thấp là 4,32%; trong khi NCT ở nông thôn chiếm 1,13%, thành thị chiếm 11,27% Có tới 51,62% NCT còn giúp đỡ việc nhà; tỷ

Trang 16

lệ lên tới 15,82% NCT trông nom, dạy dỗ con cháu học hành (Theo báo cáo

Kỷ yếu hội thảo về người cao tuổi, 1998) Từ năm 2014, NCT tại Việt Nam

có trên 59% NCT từ 60- 69 tuổi có việc làm và 41% NCT trên 70 đang lao động Từ tỷ lệ này có thể thấy NCT mong muốn có công việc rất cao, đáng chú ý NCT từ 60- 69 tuổi muốn lao động kiếm sống nhưng chưa tìm được công việc nào phù hợp Có nhiều nguyên nhân xuất phát có thể từ do tuổi cao sức khỏe yếu nên khả năng lao động giảm, công việc không phù hợp với chuyên môn, sở trường, có quá nhiều gánh nặng trong gia đình như chăm sóc cháu, công việc nhà Nhiều NCT không có tài sản tích lũy và hoàn cảnh gia đình nghèo khó Hiện nay, nhiều gia đình đông thế hệ, đặc biệt là NCT đang đối mặt với tác động của sự thay đổi cơ cấu gia đình, do con cái đi làm ăn xa nhà, từ 80% (1993) mức sống dân cư xuống còn 69,5% (2011) Nhưng tỷ lệ

số gia đình có ông bà sống và chăm sóc cháu tăng lên đáng kể từ 6,8% lên 7,1%( 2010) Từ những thông số này có thể thấy NCT không chỉ đối mặt với những vấn đề khó khăn về kinh tế mà còn kéo theo những bất ổn trong đời

sống tình cảm của NCT ( Theo Lê Văn Khảm trong nghiên cứu “ Vấn đề

người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay ; Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7 (80)- 2014

Ngoài ra có thể làm nổi bật những vấn đề hỗ trợ đời sống NCT, tôi có

tham khảo một số công trinh nghiên cứu sau “Người cao tuổi và các mô hình

chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam” ( theo Ủy ban dân số, Gia đình và Trẻ

em phối hợp cùng Viện nghiên cứu Truyền thông và phát triển năm 2008 – 2009) Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và Thành

phố Hồ Chí Minh, với các đối tượng là nhóm cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, người sử dụng dịch vụ chăm sóc NCT, cán bộ địa phương và cộng đồng Ngoài ra, Viện Nghiên cứu Truyền thông và Phát triển còn tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu hơn thông qua quá trình khảo sát các mô hình

Trang 17

chăm sóc NCT tại Huế và Hà Nội qua các buổi tổ chức gặp gỡ, trao đổi và tọa đàm với đại diện các nhóm xã hội khác nhau, nhằm hoàn thành tốt nhất cho cuộc nghiên cứu Trong những năm gần đây nhiều loại hình dịch vụ chăm sóc NCT được hình thành và hoạt động, đặc biệt là các mô hình nhà nước, tư nhân, liên kết, nhưng chưa có mô hình hỗ trợ NCT trên toàn khía cạnh

Tác giả Hoàng Mai Hương có công trình mang tên “ Nhu cầu trợ giúp

của người cao tuổi tại cộng đồng” nghiên cứu vấn đề nhu cầu của người cao

tuổi tại quận Hoàng Mai và quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, nghiên cứu hướng về quyền sống, lợi ích của con người, truyền thống tôn trọng NCT của toàn xã hội và hệ thống lý thuyết nhu cầu của Maslow Nghiên cứu đi sâu tìm hiểu 5 nhu cầu chính trong rất nhiều các nhu cầu khác nhau của NCT Từ nghiên cứu tác giả thấy rằng NCT đều có nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, nhu cầu tình cảm, nhu cầu vật chất, nhu cầu giao lưu và mở rộng hiểu biết Trong

đó nhu cầu chăm sóc sức khỏe và tình cảm là hai nhu cầu quan trọng nhất Những nhu cầu còn lại đều được NCT quan tâm nhưng chưa phải là nhu cầu cấp thiết Đối với Nhà nước, NCT luôn mong muốn có chính sách bảo hiểm y

tế và tăng lương hưu, các khoản trợ cấp, an sinh phúc lợi khi về già Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ ra được nhu cầu của người cao tuổi trên các khía cạnh, tuy nhiên, chưa có biện pháp cụ thể để xây dựng hướng huy động kết nối nguồn lực, tăng cường năng lực thì việc vận động hoàn thiện chính sách

và nghiên cứu đã khẳng định nhu cầu trợ giúp của NCT là vấn đề chính đáng hiện nay

Tất cả các nghiên cứu trên, những lĩnh vực, khía cạnh đã được làm sáng

tỏ, việc thực trạng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi còn thấp; NCT còn đối mặt với nhiều nguy cơ về nghèo đói, bệnh tật và suy giảm tinh thần; mức

độ học vấn của NCT còn thấp, cần có các công cụ để kiểm tra sức khỏe tinh thần cho NCT; Tất cả NCT đều cần có đời sống tinh thần tốt qua sự tôn

Trang 18

trọng, sự quan tâm, chăm sóc, việc làm và thu nhập có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống tinh thần; và quan trọng hơn là chăm sóc sức khỏe

và tham gia hoạt động xã hội Tuy đã có nhiều các công trình nghiên cứu NCT và trợ giúp NCT nhưng các nghiên cứu mới về thực trạng trợ giúp diễn

ra như thế nào, làm được ở mức độ như thế nào, hoặc các mô hình nghiên cứu đã có nhưng chưa làm nổi bật và hoàn thiện tất cả các khía cạnh, nhu cầu NCT … Ngoài ra, các nghiên cứu về người cao tuổi gần đây đều chỉ ra rằng quá trình già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ cao ở Việt Nam Đi kèm đó là một số đặc điểm nổi bật của NCT hiện nay như học vấn thấp, tỷ lệ đang làm việc cao, thiếu thốn nguồn lực hỗ trợ Từ quá trình tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tôi thấy mặc dù đã có nhiều hoạt động nghiên cứu tìm hiểu, phân tích và đánh giá về Người cao tuổi, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về mô hình hỗ trợ NCT và chỉ ra những yếu tố tác động đến mô hình và khả năng, mức độ nhân rộng mô hình Chính vì vậy,

tôi chọn đề tài “Mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau của NCT tại

huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa khoa học:

Qua đề tài nghiên cứu này sẽ làm sáng rõ hơn về mô hình xã hội, khả năng ứng dụng các cấu trúc công tác xã hội vào thực tiễn Việt Nam

Ngoài ra kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vận dụng và làm sáng rõ một

số khái niệm và lý thuyết như thuyết nhu cầu Maslow, lý thuyết vai trò, thuyết

hệ thống và các phương pháp như phương pháp quan sát và phương pháp phỏng vấn sâu

Ý nghĩa thực tiễn:

Đánh giá thực trạng vận hành của khả năng phát triển mô hình trong tương quan với môi trường xã hội Qua đó, đánh giá mô hình CLB LTH TGN mức độ nhân rộng mô hình CLB LTH TGN ở các tình thành khác

Trang 19

Ngoài ra, nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn dưới cái nhìn cộng đồng rằng người cao tuổi là người già yếu không còn khả năng lao động và nhu cầu của người cao tuổi cần được đáp ứng đầy đủ

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Phân tích thực trạng và các yếu tố tác động đến mô hình CLB LTH TGN Trên cơ sở đó đánh giá khả năng thích ứng, nhân rộng của mô hình CLB LTH TGN

Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn

Thực trạng hoạt động mô hình CLB LTH TGN

Tìm hiểu các yếu tố tác động đến mô hình CLB LTH TGN như các yếu

tố bên trong và các yếu tố bên ngoài

Từ đó đánh giá khả năng thích ứng, nhân rộng mô hình CLB LTH TGN

5 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Mô hình Câu lạc bộ Liên Thế hệ tự giúp nhau tại huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

Trang 20

6 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: nghiên cứu được tiến hành tại câu lạc bộ số 05 và

câu lạc bộ 18 thôn Thái Minh, xã Hà Thái, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

Phạm vi thời gian: nghiên cứu từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016

7 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp quan sát tham dự

Tôi tham gia vào tổ chức hỗ trợ người cao tuổi quốc tế tại Việt Nam với vai trò là tình nguyện viên Trong thời gian này tôi có xuống cộng đồng

xã Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa để tìm hiểu, tham dự cuộc họp cùng NCT với vai trò là người quan sát và ghi chép chính xác những gì đã thấy và phỏng vấn lại Khi thực hiện nghiên cứu tôi tiến hành quan sát thực trạng mô hình CLB người cao tuổi đang hoạt động, quan sát buổi sinh hoạt của các tại CLB và để hiểu hơn về đời sống của NCT Quan sát cuộc sống sinh hoạt của NCT khi tham gia vào mô hình này, quan sát khả năng tương tác của các thành viên CLB với nhau, quan sát các hoạt động sinh kế…

Thông qua các nội dung quan sát trên, nghiên cứu có thể đánh giá được mức độ đáp ứng nhu cầu của mô hình CLB người cao tuổi Những quan sát này góp phần vào sáng tỏ các kết quả nghiên cứu định tính đã thu thập được

Tình nguyện viên: 4 người

Người thân của NCT : 3 người

Cán bộ địa phương, cán bộ tổ chức HAI và hàng xóm: 4 người

Trang 21

Phương pháp phân tích tài liệu:

Thực hiê ̣n viê ̣c phân tích các tài liê ̣u v ề mô CLB LTH TGN từ nhiều nguồn tài liê ̣u khác nhau như sách báo , trang web , báo cáo quý , báo cáo thường niên Từ đó, tôi nhìn nhâ ̣n tổng quan về mô hình CLB , và đánh giá những yếu tố tác động đến mô hình

Trang 22

PHẦN II NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Khái niệm công cụ

Khái niệm Người Cao tuổi

NCT là một nhóm xã hội đặc biệt được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức trên thế giới cũng như Việt Nam quan tâm Một số khái niệm tiêu biểu như sau:

Theo quy ước quốc tế của Liên Hiệp Quốc “ Những người tử đủ 60

tuổi trở lên không phân biệt giới tính là người già Trong đó, chia thành hai nhóm tuổi, nhóm tuổi từ 60 đến 74 tuổi là người cao tuổi và tử 75 tuổi trở lên

là người già”

Theo Đại hội Thế giới và người già tại Viên (thủ đô nước Áo) năm

1982 đã thống nhất quy định những người từ 60 tuổi trở lên ( không phân biệt giới tính) được xếp vào nhóm người già Mặc dù hiện nay nhiều quốc gia ở Châu Âu, Châu Mỹ, một số nước Châu Á và một số tổ chức quốc tế vẫn dùng mốc 65 tuổi để xét người già

Tại Việt Nam, theo Luật Người cao tuổi được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XII kỳ họp thứ 6 thông qua và có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2010 thì “Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ

60 tuổi trở lên”

Để làm rõ hơn về vấn đề người cao tuổi, ngoài ra tôi còn đưa đưa ra thêm những khái niệm liên quan đến người cao tuổi như:

Tuổi già sinh học

Là tuổi già mà con người ta xuất hiện những biểu hiện suy giảm chức năng tâm sinh lý, lao động và sinh hoạt.Tuổi già sinh học là khi các hoạt động sống của con người bị ảnh hưởng bởi các quá trình diễn biến sinh lý tự

nhiên trong cơ thể con người

Trang 23

Tuổi già pháp định

Là tuổi mà pháp luật quy định đối với người lao động ở từng quốc gia, theo quy định này, những người đạt đến độ tuổi nào đó được chấm dứt các hoạt động lao động và được quyền nghỉ ngơi Cá nhân hoặc tổ chức nào vi phạm quy định này thì bị coi như trái pháp luật, vi phạm pháp luật

Mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau:

Mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau là một tổ chức xã hội tự nguyện tại cộng đồng, tập hợp nhiều đối tượng, nhiều lứa tuổi ở cộng đồng, trong đó phần lớn là người cao tuổi, người thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, là phụ nữ, với tinh thần tương trợ, giúp

đỡ lẫn nhau nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống Thông qua mô hình câu lạc

bộ liên thế hệ tự giúp nhau nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, gia đình và cộng đồng của họ, tập trung nhiều hơn vào người cao tuổi thuộc nhóm dễ bị tổn thương hơn (nghèo, cận nghèo, người có hoàn cảnh

khó khăn, phụ nữ đơn thân)

1.2 Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của NCT

Đặc điểm tâm lý

Tính ổn định: NCT thường có tính nhất quán trong suy nghĩ, vấn đề này là một phần do kinh nghiệm tích lũy, nếu không hiểu đầy đủ, lớp trẻ sẽ cho NCT là cố chấp, bảo thủ

Nhu cầu tinh thần cao: NCT thường coi nhẹ yếu tố vật chất, coi trọng yếu tố tinh thần, trong một số gia đình, khi con cháu có biểu hiện coi trọng vật chất hoặc khi có sự tranh chấp về quyền lợi, NCT thường suy nghĩ và đôi khi làm tổn thương tâm lý tuổi già

Tính tự ti: do về già, vị trí xã hội giảm sút, nên họ có cảm giác tự ti và phó mặc cho số phận

Trang 24

và thường lặp đi lặp lại một câu chuyện

Họ suy nghĩ khá nhiều, tư duy kém năng động, kém linh hoạt Hoạt động tư duy kém hơn những người trẻ tuổi Nhưng do tuổi cao, tích lũy nhiều kinh nghiệm sống nên quyết định của họ cương quyết hơn, nhanh hơn và chắc chắn hơn Tuy nhiên, họ có hạn chế trong việc tiếp nhận cái mới, đôi khi còn bảo thủ, lạc hậu

Đời sống tình cảm

NCT thường hay tủi thân, dễ xúc động, phản ứng tâm lý nhạy bén, vui buồn dễ dàng, dễ mủi lòng, hờn dỗi, dễ vui, trở về tuổi thơ, bởi NCT sống thiên về cảm xúc nên họ dễ xúc động khi gặp tình huống lạNgười già thường phải dựa dẫm rất nhiều vào con cái từ việc ăn uống, đi lại, chăm sóc cơ thể…Tình trạng này sẽ làm các cụ cảm thấy tự ti, mặc cảm và hay gắt gỏng

nếu chẳng may con cái chăm sóc không kỹ hoặc có thái độ bỏ bê NCT rất sợ

sự cô đơn, NCT rất dễ thấy cảm thấy rằng mình bị bỏ rơi và quên lãng vì sự cách biệt giữa các sinh hoạt thời còn trẻ và tuổi già Do đó, người già rất dễ bị thất vọng, thích lệ thuộc vào con cái của mình Vì vậy, chúng ta cần cư xử một cách tế nhị, tránh làm cho các cụ có cảm giác bị hắt hủi hay ngược đãi

NCT hay lo xa: Đây là đặc tính về tâm lý của người cao tuổi, do sự chậm chạp về tư duy và cảm giác bị lệ thuộc, nhờ vả người khác mà các cụ luôn trăn trở, đôi khi lo lắng đến những chuyện chẳng cần thiết Các cụ thường lặp đi lặp lại những yêu cầu, những đòi hỏi, những câu hỏi và từ đó có

Trang 25

thể làm con cháu hay người gần cận bực dọc và cau có với các cụ nếu không hiểu được tâm lý

Đặc điểm sinh lý

Đặc điểm bệnh tật liên quan đến tuổi già:

Già không phải là bệnh nhưng già tạo điều kiện cho bệnh tật phát sinh

Bệnh ở NCT tuy ở một bộ phận nhưng dễ ảnh hướng đến toàn thân dẫn đến suy kiệt nhanh chóng, dễ chuyển thành nặng nếu không điều trị đúng hướng kịp thời Bệnh NCT dễ có biến bất thường khó lường trước

Khả năng phục hồi bệnh ở NCT thường kém hơn so với tuổi trẻ, người trẻ Do cơ thể vốn suy yếu, đồng thời lại mắc nhiều bệnh, trong đó có bệnh mãn tính, nên cả khi đã qua giai đoạn cấp tính, sức khỏe thương phục hồi

Trang 26

chậm hơn Vì vậy, điều trị cho NCT thường phải lâu ngày hơn người trẻ và sau khi điều trị vẫn phải có một giai đoạn điều dưỡng Việc phục hồi chức năng một cách kiên trì, phù hợp với tâm sinh lý của từng người là rất quan trọng đối với NCT bị bênh mãn tính

Các bệnh thường gặp ở NCT:

Về tim mạch: hay gặp suy mạch vành, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch Ngoài ra, NCT hay gặp tâm phế mạn, rối loạn nhịp tin và dẫn truyền suy tim, tắc nghẽn động mạch

Về hô hấp hay gặp viêm phế quản mạn, giãn phế nang, ung thư phế quản, phổi, phế viêm

Về tiêu hóa hay gặp ung thư gan, xơ gan, viêm đại tràng mạn, viêm túi mật, sỏi mật, viêm loét dạ dày tá tràng, viêm đại trạng mạn, ung thư đại trực tràng, táo bón

Về nội tiết chuyển hóa, hay gặp đái tháo đường, suy tuyến giáp, suy dinh dục, rối loạn thời kỳ mãn kinh, tăng cholesterol máu, tăng acid uric máu

Về xương khớp hay gặp loãng xương, thoái hóa khớp, gãy xương do loãng xương, gút, hội chứng vai tay, bệnh paget

Về máu và cơ quan tạo máu, phổ biến là thiếu máu do thiếu sắt, hội chứng tăng đông máu, thiếu máu acid folic hoặc vitamin B12, bệnh bạch cầu,

đa u tủy xương Trong bệnh tự miễn có các loại bệnh có tự thể kháng globulin, tự kháng thể kháng nhân, tự kháng thể đặc hiệu (kháng hồng cầu, kháng giáp, kháng niêm mạc dạ dày)

Về mắt hay gặp đục thể thủy tinh, thoái hóa võng mạc và mạch mạc, xơ cứng tuần tiến các mạch võng mạc, mù lòa do nhiều nguyên nhân

Trong tai mũi họng có giảm thính lực (kiểu các giác quan thần kinh hoặc chuyển hóa cơ học) rối loạn tiền đình ung thư xoang hàm, xoang sàng, tai, amidan, u át tính khoang miệng, viêm khớp thái dương hàm

Trang 27

Trong bệnh ngoài da hay gặp ngứa tuổi già, dày sừng tuổi già, u tuyến

mồ hôi, rụng tóc, tổn thương tiền ung thư và ung thư hắc tố, ung thư biểu mô, teo niêm mạc sinh dục nữ

Về bệnh tâm thần hay gặp loạn tâm thần trước tuổi già, trạng thái trầm cảm, hoang tưởng, sa sút tâm thần Trong các bệnh về thần kinh hay gặp là rối loạn tuần hoàn não, u não, hội chứng ngoài bó tháp, bệnh Parkinson, bệnh mạch máu tủy sống, viêm da dây thần kinh Ngoài ra, người cao tuổi còn gặp rất nhiều bệnh khác nữa

1.3 Lý thuyết vận dụng

Lý thuyết nhu cầu Maslow

Lý thuyết nhu cầu của Maslow cho rằng mỗi nhu cầu của con người trong hệ thống thứ bậc nhu cầu phải được thỏa mãn mối tương quan với môi trường để con người phát triển khả năng của mình

Thuyết nhu cầu của Maslow sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước Maslow đưa ra năm nhu cầu cơ bản là:

Nhu cầu cơ bản: bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục…Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Thiếu nhu cầu này con người không tồn tại được

Nhu cầu về an toàn: Nhu cầu an toàn thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Đây là nhu cầu khá cơ bản của con người để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu an toàn

Nhu cầu về xã hội: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh

Trang 28

Nhu cầu về được tôn trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân

Nhu cầu về sự phát triển cá nhân: Đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội

Từ đó, sử dụng thuyết nhu cầu Maslow để tìm hiểu nhu cầu của người cao tuổi khi tham gia vào câu lạc bộ và đánh giá những yếu tố nào tác động đến NCT

Lý thuyết hệ thống

Thuyết hệ thống CTXH bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalaffy Lý thuyết này dựa trên quan điểm sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Người có công đưa lý thuyết áp dụng vào thực tiễn công tác xã hội phải kể đến công lao của Pincus và Minahan cùng một số đồng sự khác Tiếp đến là Germain và Giterman Những nhà khoa học trên đã góp phần phát triển hoàn thiện thuyết

hệ thống thực hành công tác xã hội trên thế giới

“ Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên

hệ với nhau để hoạt động thống nhất” Một hệ thống gồm nhiều tiểu hệ thống trong đó tiểu hệ thống là hệ thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi các ranh giới đồng thời hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ thống lớn hơn

Bản thân mỗi cá nhân cũng là một hệ thống và hệ thống (các nhân) đó bao gồm nhiều hệ thống như hệ thống sinh lý, hệ thống nhận thức, hệ thống

Trang 29

tình cảm, hệ thống hành động và các hệ thống phản ứng Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu về hệ thống hoạt động của trung tâm, cơ cấu tổ chức, hệ thống cung cấp dịch vụ cho trung tâm Có hai loại hệ thống trong công tác xã hội đó là hệ thống tổng quát và hệ thống sinh thái Thuyết nhấn mạnh đến việc giải quyết vấn đề tổng thể nhiều hơn là những bộ phận hành vi Bất kỳ hệ thống nào cũng gồm ba thành tố: vật thể, thuộc tính và mối quan hệ các phần tử trong môi trường hệ thống Ông cho rằng hệ thống là hệ thống mở nên các thành viên tưởng tượng với nhau và với môi trường xã hội

Thuyết hệ thống quan tâm đến tương tác con người với môi trường sinh thái của mình, phụ thuộc vào môi trường sống của mình, chịu tác động như thế nào từ môi trường Tuy nhiên hệ thống được phân thành 3 hình thức chính sau đây:

Hệ thống phi chính thức: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp …

Hệ thống chính thức: Nhóm cộng đồng, tổ chức đoàn thể, cơ quan…

Hệ thống xã hội: các tổ chức xã hội, bệnh viện, trường học …

Trong lý thuyết hệ thống cần lưu ý đến một số khái niệm cơ bản, cũng

là cơ chế hoạt động của hệ thống:

Tương tác: Sự tác động qua lại giữa các thành phần tạo nên các nhân hay giữa các cá nhân và các thành phần khác trong hệ thống Tác động qua lại này có thể tiêu cực hoặc tích cực và ảnh hưởng đến an sinh của cá nhân Đây cũng là một trong những nhiệm vụ chính mà NVXH cần lưu ý khi làm việc

Các hệ thống luôn có sự tác động lên các cá nhân Có thể đó là sự tác động tiêu cực hoặc tích cực Bên cạnh đó không phải tất cả mọi người đều có khả năng tiếp cận sự hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hệ thống tồn tại xung quanh Như vậy, mỗi cá nhân chịu sự tác động khác nhau từ các hệ thống mà họ tồn tại

Trang 30

Với lý thuyết này, tôi vân dụng để xác định loại hình của hệ thống mà tôi đang nghiên cứu- hệ thống các mảng hoạt động đối với người cao tuổi tại CLB và xác định được trung tâm là một hệ thống mở là hệ thống có sự tương tác với môi trường bên ngoài hệ thống, đó là mối quan hệ giữ NCT đối với gia đình, CLB, chính quyền địa phương, các cơ sở an sinh xã hội Mỗi cá nhân trong quá trình phát triển của mình chịu ảnh hưởng của nhiều hệ thống khác nhau, mức độ ảnh hưởng của chúng đến các cá nhân cũng khác nhau

Là một hệ thống mở, khi các thành viên trong CLB sinh hoạt và thực hiện các công việc tại CLB rất cần thiết có các hoạt động tương tác từ phía môi trường xung quanh tác động đến hoạt động mô hình Do vậy, khi đánh giá về mô hình tôi phải lồng ghép các đánh giá lại với nhau và chú ý đến những tác động, đánh giá của các yếu tố tác động bên ngoài này để có cái nhìn chung nhất, toàn diện nhất về CLB, đi đúng hướng mục tiêu nghiên cứu

đã đề ra

Lý thuyết vai trò

Vai trò là một khái niệm then chốt trong lý thuyết xã hội học Thuyết nhấn mạnh đến kỳ vọng xã hội gắn liền với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và phân tích sự vận hành của những kỳ vọng ấy, lý thuyết vai trò đặc biệt phổ biến trong suốt khoảng giữa thế kỷ XX, sau khi chủ nghĩa phê phán được coi là sai lầm Có hai cách tiếp cận tương đối khác nhau trong lý thuyết vai trò Một cách tiếp cận nhân học xã hội của Ralph Linton đưa ra một cách giải thích cấu trúc về vai trò trong hệ thống xã hội Một các tiếp cận thay thế thiên về tâm lý học xã hội và tập trung vào các quá trình chủ động tạo dựng, tiếp nhận và đóng vai trò

Cách giải thích cấu trúc vai trò tìm cách xác định vị thế trong xã hội chẳng hạn như vai trò một người giáo viên và sau đó cố gắng mô tả một loạt quyền lợi và trách nhiệm chuẩn mực gắn với một kiểu loại ý tưởng của vị trí

Trang 31

này, bất cứ ai cũng giữ một loạt vị thế như làm mẹ, làm giáo viên, làm đội trưởng…và chúng tạo nên một loạt vị thế, mỗi vị thế chứa đựng một vai trò riêng của nó Trong hệ thống lý thuyết vai trò của Parsons, những khuôn mẫu vai trò được xác định thông qua các biến số khuôn mẫu hay những lựa chọn giữa các cặp chuẩn mực loại trừ nhau Trong thực tế xã hội, mỗi người có một

vị trí và vai trò xã hội nhất định Ví dụ vai trò xã hội của một giáo viên là giảng dạy, vai trò một học sinh là học tập Do đó, có thể nói vai trò xã hội của một cá nhân là khái niệm xã hội học xác định những gì cá nhân ấy phải làm ở một không gian và thời gian nhất định theo những quy tắc chuẩn mực

mà xã hội đã đặt ra

“Vai trò xã hội của một người là kiểu mẫu hay cách cư xử có liên hệ đến địa vị trong nhóm xã hội mà người ấy tùy thuộc” Như thế, có các vai trò người cha, người mẹ, người chồng, người vợ, con trai, con gái, anh em trai, chị em gái trong gia đình Ở trường thì có các vai trò người thầy, sinh viên, hiệu trưởng Một vai trò nào đó luôn luôn có quan hệ đến một người khác hay những người khác và mối quan hệ tạo ra những cặp vai trò Như thế, cha

và con là những cặp vai trò gắn liền với mối quan hệ cha con Mỗi vai trò bao hàm chức năng và những quyền nhất định, nói cách khác người mang vai trò

có những nghĩa vụ và quyền hạn nhất định.Về những chức năng của người mang vai trò, có những mong đợi về các chức năng quy định bởi truyền thống văn hóa và phong tục Những lĩnh vực cụ thể qua đó có thể thấy được vai trò

là những nhiệm vụ mà người đóng vai trò đó thực hiện Thí dụ, một phụ nữ trong vai trò người mẹ có nhiệm vụ nuôi dưỡng con cái cùng với các công việc khác trong nhà liên quan đến việc quản lý gia đình Theo truyền thống, vai trò kiếm tiền được giao cho người đàn ông, người có nhiệm vụ kiếm sống cho anh ta và gia đình

Trang 32

Thuyết vai trò nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của xã hội và cho rằng mỗi cá nhân có một vị thế vai trò nhất định, được thừa nhận trong cơ cấu

xã hội, gắn liền với quyền lợi hay nghĩa vụ, kì vọng để định hướng cho hành

vi của xã hội đó Nó được xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí khác Do vị thế xã hội luôn gắn bó với những quyền và trách nhiệm kèm theo nên nó luôn rằng buộc con người Có thể hiểu vai trò là hệ thống những kì vọng hoặc những hành vi gắn với các vị trí đó trong cấu trúc xã hội mà xã hội gắn cho mỗi cá nhân trong xã hội

Quan điểm tâm lý học xã hội đối lập thì tập trung nhiều hơn vào những khía cạnh chức năng của vai trò, nó xem xét những tương tác mà đó con người đóng vai trò của mình chứ không phải mô tả vị trí của những vai trò ấy trong cơ cấu xã hội Ở đây nó nhấn mạnh đến những cách thức mà một người thực hiện những vai trò của người khác là thực hiện vai trò, dự kiến những phản ứng của người khác đối với vai trò của mình và cuối cùng là đóng vai trò của mình

Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những quyền lợi và trách nhiệm tương ứng với vị trí đó, vai trò chính là sự mong đợi của xã hội (gia đình) về những hành vi đặc thù, điển hình tương ứng với vị thế xã hội mà mỗi cá nhân đảm nhận Vai trò xã hội của mỗi cá nhân được xác định trên cơ sở vị thế xã hội tương ứng và để đáp ứng tốt vai trò xã hôi của mình, mỗi cá nhân, nhóm

xã hội phải thực hiện một số chức năng nhất định

Như vậy, vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội, những đòi hỏi thường được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội, các chuẩn mực xã hội lại không giống nhau giữa các hình thái, các giai đoạn

xã hội khác nhau Nó vừa như là kết quả của một quá trình tương tác vừa như

là những khuôn mẫu ứng xử đã được quy định sẵn và áp đặt tương ứng với những vị trí cụ thể nhất định

Trang 33

Có thể nói, nhiều nghiên cứu về người cao tuổi trước đây thường tiếp cận dưới góc độ chăm sóc, bảo trợ hoặc đánh giá chính sách đối với người cao tuổi Từ quan điểm nhìn nhận mới về vai trò và những đóng góp của người cao tuổi trên các mặt của đời sống xã hội, tiếp cận nghiên cứu người cao tuổi

từ góc độ này sẽ cho thấy những khả năng và đóng góp rõ ràng hơn của lớp người cao tuổi vẫn có vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội Trong gia đình, một tỷ lệ lớn người cao tuổi vẫn có đóng góp về kinh tế chính cho thu nhập của gia đình dưới nhiều hình thức khác nhau; họ có nhiều tri thức , kinh nghiệm do đó giữ vai trò lớn trong giáo dục, truyền thụ kinh nghiệm sống cho các thế hệ con cháu

Do vậy, nghiên cứu người cao tuổi từ góc độ vai trò sẽ giúp nhận diện được những đóng góp của họ cho gia đình và xã hội ở các thời kỳ, các lĩnh vực và giúp trả lời câu hỏi làm thế nào người cao tuổi phát huy được vai trò của mình cho gia đình và xã hội trong thời kỳ mới Bên cạnh đó, để tiếp cận

từ góc độ lý thuyết về vị thế vai trò cũng là cơ sở để phân tích, đánh giá thực hiện các trách nhiệm của thế hệ con cháu với cha mẹ, ông bà cao tuổi trong gia đình, trong cộng đồng, trong xã hội mới, người cao tuổi ngoài vai trò trong gia đình, họ đặc biệt muốn thể hiện vai trò của mình trong cộng đồng như đảm nhiệm các công việc xã hội như tổ trưởng, tổ phó, giữ chức vụ trong câu lạc bộ, tham gia xung phong Bên cạnh đó, tiếp cận từ góc độ lý thuyết vị thế và trò cũng là cơ sở để phân tích, đánh giá việc thực hiện các trách nhiệm của thế hệ con cháu với cha mẹ, ông bà cao tuổi trong gia đình trên từng khía cạnh quan hệ với vị thế là người con, người cháu, trong cộng đồng đóng góp

về lao động của người cao tuổi cho gia đình, cộng đồng là vô cùng to lớn như trong một câu lạc bộ, người cao tuổi luôn là lực lượng đông đảo giữ các vị trí quan trọng để truyền đạt tri thức, kinh nghiệm cho thế hệ trẻ Người cao tuổi sau khi về hưu, hoặc hết tuổi lao động nhưng họ vẫn luôn muốn đóng góp sức

Trang 34

lực cho cộng đồng Từ đó, các chức vụ tại địa phương đa số được người cao tuổi tham gia và giữ chức vụ chủ đạo

Có hai loại vai trò như chức năng hiện hữu và chức năng tiềm tàng Thứ nhất, chức năng hiện hữu là vai trò mọi người có thể nhìn thấy được.Ví

dụ như vai trò của người cao tuổi là người ông, người bố trong gia đình.Thứ hai, chức năng tiềm tàng không biểu lộ ra bên ngoài có khi chính người đóng vai trò đó không biết như trong gia đình, ngoài việc NCT đóng vai trò ông bà,

bố mẹ, ngoài cộng đồng NCT còn đóng vai trò là chủ nhiệm CLB, bí thư, hàng xóm… hoặc những mâu thuẫn nhiều khi NCT được huấn luyện để đóng vai trò hòa giải mà con cái không biết không biết Chính vì một người đóng nhiều vai trò khác nhau, những khuân mẫu ứng xử do xã hội áp đặt có thể mâu thuẫn với nhau tạo ra khó khăn

Vâ ̣n du ̣ng lý thuyết vai trò vào nghiên cứu này , ta có thể đặt người cao tuổi trong tổng thể mối quan hệ xã hội với con cái, họ hàng, chính quyền, tổ chức pháp luật Người cao tuổi đóng vai trò là người truyền đạt kinh nghiệm sống cho con cháu Đồng thời họ luôn giữ vững vai trò thành viên trong câu lạc bộ, hay chủ nhiệm câu lạc bộ và thành viên hội NCT

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Thuận lợi

Huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa là vùng miền núi nhưng có thuận lợi đất đai màu mỡ thích hợp với làm nương Ngoài ra, huyện Hà Trung còn phát triển các nghề truyền thống như đan lát, làm mật ong, đóng bàn tủ…Tài nguyên rừng và khoáng sản phong phú rất thích hợp phát triển du lịch sinh thái Huyện

Hà Trung thích hợp cho người dân phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp Nguồn lao động khá dồi dào, chăm chỉ chịu khó, có kiến thức văn hóa

và tinh thần sáng tạo để tiếp thu các ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tiên tiến

Trang 35

Hạn chế

Huyện Hà Trung thiếu nguồn nhân lực trẻ bởi vùng đất này làm nông nghiệp, công nghiệp là chủ yếu, cuộc sống khó khăn triền miên nên nguồn nhân lực trẻ tuổi có xu hướng kéo lên trung tâm để làm ăn, kiếm tiền để lại quê hương ông bà, cha mẹ già

Hạn chế về cơ sở hạ tầng, cơ sở y tế, thiết bị lao động công nghệ tiên tiến nên người cao tuổi thường xuyên sử dụng toàn bộ sức lực của mình trong lao động, họ thường xuyên đối mặt với bệnh tật, ốm đau dai dẳng Cơ sở y tế

xa nhà nên họ thường xuyên để bệnh tật tự khỏi, họ không đến cơ sở y tế để khám chữa bệnh định kỳ

Ở vị trí khá xa trung tâm nên các hoạt động giải trí, tinh thần của người dân còn hạn chế Đặc biệt là NCT họ thiếu các hoạt động giải trí tinh thần, tập thể dục thường ngày

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ

LIÊN THẾ HỆ TỰ GIÚP NHAU

2.1 Cấu trúc câu lạc bộ:

Ban chủ nhiệm CLB:

Mỗi thành viên CLB họp và bầu ra Ban chủ nhiệm để giúp CLB Ban chủ nhiệm gồm năm thành viên 01 chủ nhiệm, 01 phó chủ nhiệm và 03 ủy viên, đóng vai trò điều phối giữa CLB với các cơ quan ban ngành, đoàn thể

và các tổ chức khác ở địa phương

Thành phần

Người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên, NCT vẫn có khả năng, sức khỏe, còn minh mẫn, khỏe mạnh để có thể cống hiến; CLB có 2-3 phụ nữ, người có hoàn cảnh khó khăn ít nhất 1 người

Tiêu chí lựa chọn ban chủ nhiệm

BCN luôn là người cởi mở, biết lắng nghe, sẵn sàng tiếp thu, học tập cái mới, luôn luôn nhiệt tình trách nhiệm, năng động, BCN có sức khỏe, thời gian, điều kiện để họ làm cho CLB mà không cần trả công Ngoài ra, khả năng quản lý, điều hành rất quan trọng, họ cần có tín nhiệm, uy tín trong cộng đồng, CLB luôn ưu tiên người có kinh nghiệm hoạt động trong cộng đồng

Hơn thế, BCN có ít nhất 1 người biết cách làm ăn giỏi để phụ trách mảng tăng thu nhập, 1 người có chuyên môn y tế ví dụ như bác sĩ, y tá, y sỹ

đã về hưu hoặc đang làm công tác y tế thôn/ bản để phụ trách mảng chăm sóc sức khỏe, ít nhất 1 người có khả năng tính toán, viết lách để giúp mảng kế toán hay thư ký, ít nhất một người có năng khiếu văn hóa văn nghệ để phụ trách mảng này

Phân công trong ban chủ nhiệm

CLB phân công hợp lý, phù hợp giữa các thành viên, tránh dồn trách nhiệm vào 1- 2 người Kế toán và thủ quỹ nên là người trẻ tuổi, không quá 60 tuổi Tùy thuộc vào năng lực từng người để phân công trách nhiệm cho phù hợp

Trang 37

Thành viên câu lạc bộ

Mỗi CLB có từ 50- 70 thành viên, mỗi tháng đều đóng phí thành viên, Câu lạc bộ sinh hoạt ít nhất một lần một tháng và phụ thuộc vào hoàn cảnh mỗi cá nhân, thành viên thuộc hộ nghèo, cận nghèo, hoặc có hoàn cảnh khó khăn được xét duyệt miễn đóng sinh hoạt phí CLB TV CLB gồm nhiều lứa tuổi, giới tính và điều kiện kinh tế khác nhau như NCT từ 60 tuổi trở lên chiếm 70%, người trẻ chiếm 30%, phụ nữ chiếm khoảng 70, nam giới chiếm 30%, người giàu, người khá giả chiếm khoảng 30 %, còn lại người nghèo, người cận nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn chiếm khoảng 70%

Ngoài ra, CLB còn có đội ngũ tình nguyện viên chăm sóc tại nhà và phát triển kinh tế mỗi CLB có 10- 15 tình nguyện viên

Câu lạc bộ tự quản lý, điều này được thể hiện rõ qua CLB LTH TGN là một tổ chức do thành viên tự làm chủ, từ việc lập kế hoạch, thực hiện đến giám sát và đánh giá Thêm vào đó, CLB quản lý tài chính thông qua hệ thống

sổ sách ghi chép và quản lý riêng chi tiêu của CLB, và số tiền hàng tháng của CLB Điều này nhằm theo dõi chi tiêu và các sáng kiến gây quỹ của CLB Cuối cùng CLB báo cáo thành văn bản, mỗi Câu lạc bộ đều có kế hoạch hoạt động, báo cáo hoạt động và báo cáo tài chính tháng

Nguồn quỹ của CLB LTH TGN tự tạo thu nhập từ bốn nguồn thu chính là lãi vốn vay, phí thành viên, gây quỹ ở địa phương, và các hoạt động tăng thu nhập chung của CLB

Mục đích và mục tiêu CLB

Mục đích CLB:

Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT, gia đình và cộng đồng của họ, chú ý đặc biệt dành cho các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, bao gồm các hộ nghèo, cận nghèo, người khó khăn, phụ nữ thông qua cách tiếp cận liên thế hệ và tự giúp nhau

Trang 38

Mục tiêu CLB

CLB tạo cơ hội cho NCT cải thiện đời sống của bản thân và gia đình Ngoài ra, CLB tạo điều kiện để NCT phát huy được vai trò và đóng góp trong việc cải thiện sức khỏe, kinh tế và phát triển địa phương nhằm cải thiện sự hợp tác giữa NCT với chính quyền địa phương, nhà cung cấp dịch vụ và các

tổ chức khác, thúc đẩy việc thực thi quyền lợi của NCT

Đối tượng chính của mô hình những người cao tuổi tại cộng đồng, đặc biệt là NCT nghèo khó, cận nghèo, hoặc NCT có hàn cảnh khó khăn họ sống chinh với con nhưng con cũng có hoàn cảnh khó khăn, sống một mình, sống với vợ hoặc chồng cũng là NCT, là người chăm sóc chính cho các cháu do bố

mẹ đi làm ăn xa, trong hộ gia đình có người bị nhiễm chất độc da cam, khuyết tật, đau ốm dài ngày, nghiện ma túy, nhiễm HIV… với phần lớn là phụ nữ

Đặc điểm nổi bật của câu lạc bộ

Tính tự giúp nhau: tinh thần tự giúp nhau là đặc điểm nổi bật của mô

hình, nhằm phát huy vai trò và sự đóng góp của các thành viên CLB Mỗi thành viên CLB cần thấm nhuần tinh thần này ngay từ đầu, phần lớn các vấn

đề của cộng đồng đều có thể được giải quyết hoặc cải thiện bởi chính các thành viên trong cộng đồng, kể cả đó là cộng đồng khó khăn, nếu các thành viên trong cộng đồng đoàn kết, quyết tâm giải quyết các vấn đề của mình, không chờ đợi, ỷ lại sự giúp đỡ từ bên ngoài

Tính hòa nhập: mặc dù hướng đến NCT nghèo, cận nghèo, có hoàn

cảnh khó khăn, là phụ nữ nhưng CLB có cả người trẻ, người giàu hoặc người khá giả, nam giới chiếm 30% Tính “hòa nhập” này giúp họ tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các thế hệ, các thành phàn, các giới, từ đó có sự thông cảm, thấu hiểu, chia sẻ, bổ sung cho nhau, giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao tinh thần đoàn kết, tương trợ trong CLB, trong gia đình và cộng đồng Cách tiếp cận mang tính “hòa nhập” như vậy giúp CLB hoạt động hiệu quả và bền

vững hơn

Trang 39

Tính toàn diện: với 8 mảng hoạt động tôi sẽ trình bày ở phần 2 dưới

đây, CLB đáp ứng nhu cầu đa dạng của NCT, vừa chăm sóc vừa phát huy vai trò của NCT

Tính bền vững: Được nâng cao năng lực, được đầu tư nguồn quỹ để

làm Quỹ vốn vay quay vòng khoảng 100 triệu để có lãi quay lại phục vụ các hoạt động của CLB lâu dài, hoặc đặc biệt được bản thân NCT, cộng đồng, chính quyền các ban ngành, đoàn thể địa phương đón nhận và ủng hộ CLB thực sự bền vững sau 2 năm hoạt động Thành viên CLB cùng BCN rất tâm huyết kiếm tìm nhà tài trợ hảo tâm tại cộng đồng và sử dụng nguồn lãi từ các thành viên CLB để duy trì tính bên vững trong hoạt động cho vay của CLB

Quyền và trách nhiệm của thành viên CLB

Thành viên CLB được chia sẻ thông tin, kiến thức, được nâng cao nhận thức về mọi mặt Họ được các thành viên khác trong CLB chia sẻ hỗ trợ khi gặp khó khăn Ngoài ra, mỗi năm hai lần thành viên được khám sức khỏe định

kỳ Vào thời gian sinh hoạt nhóm, thành viên CLB được hướng dẫn tập các bài thể dục như dưỡng sinh, cầu lông, đá bóng…Đặc biệt, TV CLB được vay vốn để đầu tư cho các hoạt động tăng thu nhập nếu có nhu cầu và đáp ứng các tiêu chí của tổ vay vốn, được tư vấn, tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm và học tập các mô hình về các hoạt động tăng thu nhập phù hợp Ngoài ra, câu lạc bộ rất quan tâm đến đời sống tinh thần của người dân, chính vì vậy các hoạt động giải trí, văn hóa nghệ thuật, giao lưu được đẩy mạnh trong các câu lạc bộ Họ được tiếp cận và bảo vệ quyền lợi khi cần thiết, được tham gia tổ chức các hoạt động

xã hội tại cộng đồng, được giúp đỡ người khác trong và ngoài CLB, nêu lên tâm tư nguyện vọng đến BCN để phản ánh đến chính quyền địa phương

Khi tham gia vào câu lạc bộ họ được nhận những quyền lợi trên, tuy nhiên bên cạnh đó thành viên cũng cần có các trách nhiệm như

Trang 40

Thành viên câu lạc bộ phải tham gia các buổi sinh hoạt CLB và các hoạt động khác của CLB thường xuyên, đầy đủ, đúng giờ, nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm xây dựng cao

Tuân thủ quy chế hoạt động của CLB, và sẵn sàng đóng phí thành viên CLB từ 2-5 nghìn/ tháng Họ tích cực học tập nhằm trang bị những thông tin kiến thức, những kỹ năng mới, thiết thực với bản thân, gia đình và xã hội

Đối với những thành viên vay vốn của CLB, phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của tổ vay vốn và CLB Họ sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong câu lạc bộ và cộng đồng trong sản xuất và cuộc sống Họ sẵn sàng chia sẻ lẫn nhau các kiến thức, kinh nghiệm học được ở CLB hàng tháng cho ít nhất 2 người khác ở gia đình hoặc cộng đồng

Bên cạnh quyền lợi và trách nhiệm của TV CLB thì BCN CLB cũng có quyền và trách nhiệm riêng

Ban chủ nhiệm CLB tham gia quyết định phát triển thành viên CLB theo cơ cấu và thành phần đã quy định trên cơ sở lấy ý kiến dân chủ của các thành viên Họ đại diện cho câu lạc bộ tham gia các hoạt động của CLB tại địa phương, hoặc các hoạt động do dự án tổ chức như họp quý, hội nghị… Ban chủ nhiệm đại diện cho CLB đề xuất cho Ban quản lý dự án và chính quyền địa phương về các vấn đề quan tâm của CLB

Bên cạnh những quyền lợi và trách nhiệm như BCN CLB chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của CLB Thứ hai, xây dựng dự thảo quy chế hoạt động của thành viên CLB để thành viên thông qua, chủ trì xây dựng kế hoạch hoạt động của CLB, BCN tổ chức các hoạt động cho CLB Thứ năm,

họ là người vận động nguồn lực cho CLB Ngoài ra, BCN xây dựng hồ sơ quản lý thành viên và tình nguyện viên Thêm vào đó, BCN thường xuyên báo cáo các hoạt động và tài chính hàng tháng Thứ tám, BCN quản lý quỹ của CLB Thứ chín, họ thường xuyên đề xuất các hoạt động phù hợp với nhu

Ngày đăng: 11/01/2019, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w