Do đó, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về cộng đồng người Việt tại Đức có ý nghĩa thực tiễn góp phần vào việc đề ra chính sách cũng như triển khai chính sách của Đảng và Nhà nước tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ MINH TRANG
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM
Ở CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC GIAI ĐOẠN 1990-2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ MINH TRANG
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM
Ở CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC GIAI ĐOẠN 1990-2015
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS.BÙI HỒNG HẠNH
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS TS Bùi Hồng Hạnh – người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này Qua đây, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, các thầy cô giáo trong khoa Quốc tế học đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình làm khoá luận
Tôi cũng xin cảm ơn các trung tâm thư viện, các viện nghiên cứu đã giúp đỡ tôi về nguồn tài liệu Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tác giả của những bài viết, những công trình nghiên cứu có liên quan mà qua đó đã giúp tôi có được nhiều tài liệu tham khảo để hoàn thành khoá luận này
Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2017
Tác giả luận văn
LÊ MINH TRANG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài: ―Cộng đồng người Việt Nam ở CHLB Đức giai đoạn 1990-2015‖ là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Luận văn có sự kế thừa, tham khảo các công trình nghiên cứu của những người đi trước và có sự bổ sung những tư liệu, kết quả nghiên cứu mới, chưa được công
bố bất cứ công trình nào Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, được sử dụng trung thực
Tác giả luận văn
LÊ MINH TRANG
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 17
4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 17
5 Phương pháp nghiên cứu 18
6 Bố cục của luận văn 19
CHƯƠNG 1: CƠ Sở HÌNH THÀNH VÀ CÁC YếU Tố TÁC ĐộNG TớI CộNG ĐỒNG NGƯờI VIệT NAM ở CộNG HOÀ LIÊN BANG ĐứC 20
1.1 Quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Liên bang Đức 20
1.2 Cộng đồng người Việt ở Đức trước năm 1990 24
1.3 Yếu tố tác động đến cộng đồng người Việt Nam ở CHLB Đức sau năm 199026 1.4 Chính sách của Đức đối với vấn đề nhập cư và Cộng đồng ngoại kiều 32
1.5 Chính sách của Việt Nam đối với người Việt ở nước ngoài và Đức 37
Tiểu kết 40
CHƯƠNG 2: ĐặC ĐIểM CủA CộNG ĐồNG NGƯờI VIệT NAM TạI CộNG HÒA LIÊN BANG ĐứC 41
2.1 Đặc điểm chính trị - xã hội 41
2.1.1 Đặc điểm dân cư 41
2.1.2 Quan điểm chính trị 50
2.2 Đặc điểm kinh tế 54
Trang 62.2.1 Tỉ lệ có việc làm 55
2.2.2 Các hình thức kinh doanh phổ biến 57
2.3 Đặc điểm văn hóa 60
2.3.1 Trình độ học vấn 61
2.3.2 Tôn giáo 62
2.3.3 Mức độ hòa nhập, hội nhập vào xã hội Đức 64
2.3.4 Giữ gìn bản sắc dân tộc 66
2.4 Những vấn đề tồn tại của cộng đồng người Việt tại CHLB Đức 68
Tiểu kết 73
CHƯƠNG 3: THÚC ĐẨY VAI TRÒ CủA CộNG ĐồNG NGƯờI VIệT NAMTạI CộNG HÒA LIÊN BANG ĐứC 74
3.1 Vai trò của của cộng đồng người Việt Nam tại CHLB Đức 74
3.1.1 Đối với CHLB Đức 74
3.1.2 Đối với Việt Nam 76
3.1.3 Đối với quan hệ Việt Nam - Cộng hòa liên bang Đức 79
3.2 Đề xuất giải pháp 85
3.2.1 Xây dựng hành lang pháp lý 87
3.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động 88
3.2.3 Thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước 90
3.2.4 Đẩy mạnh công tác truyền bá văn hóa và các giá trị dân tộc 91
Tiểu kết 92
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AfD Alternative für Deutschland
Sự thay thế cho nước Đức
ASEAN Association of South East Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
ASEM The Asia-Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác Á – Âu
BKA Das Bundeskriminalamt
Cơ quan điều tra hình sự Liên bang Đức
CDU Christlich Demokratische Union Deutschlands
Liên minh Dân chủ Cơ đốc Đức
CHLB
Đức Cộng hoà Liên bang Đức
COLAB Center of overseas Labor
Trung tâm lao động nước ngoài
CSU Christlich-Soziale Union in Bayern
Liên minh Xã hội Cơ đốc Bayern
DAAD Deutscher Akademischer Austauschdienst
Cơ quan trao đổi hàn lâm Đức
Trang 8EU European Union
Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDP Freie Demokratische Partei
Cơ quan Hợp tác phát triển Đức
NVONN Người việt ở nước ngoài
ODA Official Development Assistance
WTO World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
WUS The World University Service
Trang 9Tổ chức hỗ trợ đại học Thế giới
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và ở CHLB Đức nói riêng,
về bản chất là cộng đồng người Việt Nam di cư sang quốc gia khác Cộng đồng này có đặc điểm là những người di cư – về mặt địa lý bên ngoài quốc gia quê hương, nhưng bản thân họ tự nhận thức, văn hóa và truyền thống quê hương là bản sắc của họ Hiện nay, những người di cư đang thách thức các thể chế nhà nước truyền thống về quyền công dân và lòng trung thành, thông qua việc nằm ở giữa trong mối liên hệ của chính trị trong nước và chính sách đối ngoại1 Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi xu thế toàn cầu hóa phát triển, đồng thời các điểm nóng xung đột trên thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, vấn đề người di cư được tất cả các quốc gia ưu tiên quan tâm
Người Việt Nam di cư phân tán khắp thế giới - theo ước tính chính thức của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - khoảng 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài2 Tổng lượng kiều hối năm
2014 đạt 12 tỷ USD, chiếm khoảng 8% GDP của Việt Nam3.Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục tăng về số lượng và mở rộng địa bàn cư trú Trong đó, cộng đồng người Việt Nam ở Đức là cộng đồng có số lượng người Việt lớn trên thế giới Cộng đồng người Việt Nam ở Đức hình thành muộn hơn do
3Thông Tấn Xã Việt Nam (2014), Công bố báo cáo tác động của dòng kiều hối chính thức vào Việt Nam
Trang 10những hoàn cảnh lịch sử nhất định, gắn với sự chia cắt ở cả Việt Nam và Đức Sự hình thành của cộng đồng người Việt ở Đức bắt đầu từ cuối những năm 1950- giai đoạn nước Đức và Việt Nam bị chia cắt, muộn hơn nhiều so với lịch sử từ trước năm 1945 của cộng đồng người Việt ở Pháp Các mốc phát triển của cộng đồng người Việt tại Đức cũng tương đồng với những dấu mốc lịch sử của sự thay đổi chính trị ở cả hai quốc gia Sự xuất hiện của các thành phần dân cư mới trong cộng đồng, tình hình kinh tế, tình trạng cư trú cũng như sự thay đổi trong văn hóa, lối sống của người Việt tại Đứcchuyển biến rõ rệt nhất từ sau năm 1975- sau khi Việt Nam thống nhất và sau năm 1989- sau khi nước Đức thống nhất.Chính bối cảnh lịch sử đặc biệt như vậy đã tạo nên sự đa dạng trong chính cộng đồng người Việt tại Đức, đồng thời tạo nên sự khác biệt so với cộng đồng người Việt tại các quốc gia khác
Tiến trình phát triển của quan hệ Việt Nam - CHLB Đức từ năm 1990 đến nay chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó cộng đồng người Việt Nam tại CHLB Đức có vai trò nhất định Nhân tố người Việt luôn tồn tại trong quan hệ Việt Nam - CHLB Đức là một thực tế khách quan Việt Nam có thể tranh thủ nhân tố người Việt để thúc đẩy các lợi ích của Việt Nam trong quan hệ với Đức; đồng thời cũng đặt ra một số thách thức trong việc hạn chế những tác động tiêu cực của nhân tố này Do đó, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về cộng đồng người Việt tại Đức có ý nghĩa thực tiễn góp phần vào việc đề ra chính sách cũng như triển khai chính sách của Đảng và Nhà nước trong thúc đẩy quan hệ giữa hai nước
Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá về cộng đồng người Việt ở Đức
là hết sức cần thiết, vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn
Trang 112 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tác giả luận văn xin đề cập đến một số đề tài, công trình khoa học tiêu biểu, bài nghiên cứu, báo, tạp chí trong nước và ngoài nước về cácchủ đề liên quan đến
đề tài luận văn như sau:
Cộng đồng người Việt ở nước ngoài
Trong nước, chủ đề này đã có những công trình, tài liệu nghiên cứu đáng kể
đến như sau: “Người Việt Nam ở nước ngoài”, tác giả Trần Trọng Đăng Đàn,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997 Qua 12 chương sách, 662 trang, tác giả đề cập nhiều vấn đề: Từ việc xác định phạm vi đối tượng nghiên cứu đến các mặt, lĩnh vực khác nhau trong đời sống của người Việt Nam ở nước ngoài như đời sống văn hóa, văn nghệ của người Việt ở nước ngoài, vấn đề pháp lý kiều dân và người Việt ở nước ngoài, người Việt Nam ở khu vực Liên Xô cũ và Đông
Âu Tác giả còn có công trình “Người Việt ở nước ngoài không chỉ có Việt
kiều”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005
Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao xuất bản
công trình: “50 năm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
(1959-2009)”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2009 Cuốn sách này gồm
148 trang đề cập đến lịch sử phát triển của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam
ở nước ngoài và công tác đối với NVONN của những nhà quản lý, nghiên cứu nhiều năm kinh nghiệm trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài
Cuốn sách “Cộng đồng và đội ngũ trí thức Việt Nam ở các nước Đông Âu
những năm đầu thế kỷ 21”, chủ biên TS Nguyễn An Hà, Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội, 2011 Cuốn sách nghiên cứu thực trạngcủa cộng đồng người Việt và đội ngũ trí thức Việt Nam tại các nước Đông Âu trong những năm đầu thế kỷ 21 trên
Trang 12các khía cạnh đặc trưng (pháp lý, ngành nghề, môi trường sống và làm việc, hội nhập, vai trò); phân tích bối cảnh và những nhân tố tác động tới cộng đồng người Việt tại Ba Lan, Séc, Hungarycũng như quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về cộng đồng người Việt ở nước ngoài để từ đó đề xuất các giải pháp phát huy vai trò của cộng đồng
Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài TPHCM xuất bản ký sự và tư liệu
“Kiều bào và quê hương”, Nhà xuất bản Trẻ, năm 2006 Cuốn sách 968 trang có
3 phần chính: Nhìn từ cội nguồn lịch sử, Truyền thống phong trào đấu tranh yêu nước của kiều bào 1945-1975; Kiều bào trong thời kỳ đổi mới đề cập đến quá trình hình thành, những cống hiến của kiều bào trên thế giới, khẳng định mối quan hệ huyết mạch không thể chia lìa của Tổ quốc và đồng bào trong nước với những người xa xứ
Sách Hồ sơ di cư Việt Nam 2015 và Hồ sơ di cư Việt Nam 2016 do Cục Lãnh
sự thuộc Bộ Ngoại giao phối hợp với tổ chức Di cư quốc tế công bố Hồ sơ gồm
số liệu cập nhật về các dòng di cư của Việt Nam; phân tích, đánh giá về thực trạng di cư, đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực quản lý di cư và hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lí di cư hiệu quả hơn Trong nội dung của hồ sơ bao gồm cả số liệu về dòng di cư của Việt Nam vào CHLB Đức nói riêng
Một số đề tài nghiên cứu do Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài thực
hiện, có thể kể đến như: “Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài:
thực tiễn và một số cơ sở lý luận” (đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Ủy ban về người
Việt Nam ở nước ngoài, năm 2003); “Áp dụng luật quốc tịch Việt Nam đối với
người Việt Nam định cư ở nước ngoài” (đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Ủy ban về
Trang 13người Việt Nam ở nước ngoài, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005); “Vấn đề dạy
và học tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài: thực trạng và giải pháp” (đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, Ủy ban về người Việt Nam ở nước
ngoài, năm 2002)…
Luận văn thạc sĩ “Chính sách của Việt Nam đối với người Việt Nam ở nước
ngoài trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Nguyễn Bảo Chung, bảo vệ năm 2008
tại Học viện Ngoại Giao và “Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài trong sự nghiệp phát triển Đất nước thời kỳ đổi mới” của tác giả Phạm
Văn Hùng bảo vệ năm 2011 tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phân tích
về chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng NVNONN trong thời kỳ đổi mới, tiềm lực của cộng đồng này và những đóng góp của cộng đồng NVNONN vào sự phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới, từ đó đánh giá vai trò và đề xuất những giải pháp, chính sách cần thiết để tiếp tục tăng cường công tác vận động NVNONN
Ngoài ra cũng có những đầu sách, kỷ yếu, các bài báo, tạp chí đề cập tới cụ thể
cộng đồng người Việt ở từng quốc gia như: Cuốn kỷ yếu hội thảo:“Quan hệ Việt Nam – Ukraine, Lịch sử, hiện trạng và triển vọng”, chủ biên GS.TS Nguyễn
Quang Thuấn, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa, 2011bao gồm các bài tham luận của các nhà khoa học Việt Nam và Ukraine Trong đó có phân tích thực trạng và vai trò của cộng đồng người Việt Nam tại Ucraina trong phát triển quan hệ giữa
hai nước.Bên cạnh đó, có thể kể đến các bài viết: “Tìm hiểu về người Việt Nam ở
nước ngoài trong tương quan với trường hợp Italia”, Bùi Nhật Quang, Tạp chí
Nghiên cứu Châu Âu, 2009, số 5, tr 75-82; “Chính sách nhập cư của EU và của
các nước EU mới tại Trung-Đông Âu và tác động đến cộng đồng người Việt tại Balan, Sec, Hungary”, Hà Hoàng Hải, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, 2009, số 3;
Trang 14tr 43-55; “Hợp tác giữa Nga và Việt Nam trong lĩnh vực di dân lao động”, Ng,
Kunznhexop, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, 2010, số 11; tr 74-80…
Ở nước ngoài, một số nghiên cứu bàn về nguyên nhân lịch sử và quá trình hình
thành cộng đồng người Việt tại nước ngoài như: “Introduction: Epic Directions
for the Study of the Vietnamese Diaspora”, Alexander M Cannon,
“Remembering the Boat People Exodus A Tale of Two Memorials”, Quan Tue
Tran, Journal of Vietnamese Studies, Vol 7, No 3, Fall 2012
Cộng đồng người Việt ở Đức
Về phía Việt Nam, vấn đề này chưa có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu.Một
số công trình khoa học và bài viết của một số tác giả chủ yếu đề cập đến cộng đồng người Việt ở Đức trong một giai đoạn nhất định hay một khía cạnh cụ thể
Tác giả Nguyễn Duy Dũng (2009) trong bài viết “Cộng đồng người Việt Nam
tại Cộng hoà Liên bang Đức: Ghi nhận từ một chuyến đi”, Tạp chí Nghiên cứu
Châu Âu, số 4; tr 79-82 tổng kết chuyến đi khảo sát ở Liên bang Đức, đưa ra những nhận xét cá nhân, khái quát hoá tình hình chung của cộng đồng người Việt tại Đức thời điểm đó về đời sống vật chất (kinh tế) và tinh thần (văn hoá, giáo dục)
Các nghiên cứu nước ngoài nổi bật về cộng đồng người Việt tại Đức bao gồm:
Luận văn “Zwischen zwei Welten: Vietnamesische VertragsarbeiterInnen in
Rostock”, Micha Rehder, 2013, Đại học Eberhard Karls, Tübingen cung cấp một
cái nhìn tổng quan về toàn diện cuộc sống của công nhân hợp tác lao động người Việt tại Rostock qua hai thời kỳ Cộng hoà Dân chủ Đức và nước Đức sau thống nhất dưới các khía cạnh: hoành cảnh, điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc; sự hội nhập (ngôn ngữ, xã hội và văn hoá) tại Đức và đặc biệt là sự kì thị của người dân
Trang 15sở tại (Cuộc bạo độngtấn công người nước ngoài lớn nhấtnước Đức ở thành phố Rostock); khuôn khổ pháp lý về chính sách người nước ngoài tại Đức trước và sau thống nhất
“Return Migration to Vietnam Monitoring the Embeddedness of Returnees”,
Machteld Kuyper, University of Amsterdam, 2008, nghiên cứ vấn đề hồi hương của người Việt trong đó có người Việt tại Đức, giai đoạn sau năm 1989 tập trung vào quá trình hồi hương và các nhân tố tác động đến quá trình này
“Identities and Inbetweens: The Vietnamese and Assimilation Strategies in Germany”, Andrew C Downs, Georgia Southern University, 2014, nghiên cứu
về thái độ dân tộc Đức với người gốc Việt và thái độ người Việt với các dân tộc nhập cư khác tại Đức
Bài nghiên cứu “The Vietnamese diaspora in Germany”,Dr Ann-Julia
Schaland, the German Federal Ministry for Economic Cooperation and Development (BMZ), 2015, xem xét cấu trúc, tổ chức và hoạt động của cộng đồng người Việt tại Đức từ đó chỉ ra hoạt động cộng đồng của người Việt ở Đức
có đặc điểm hướng về những người mới nhập cư và đồng bào tại Việt Nam Tác
giả Felicitas Hillmann trong bài viết “Riders on the Storm: Vietnamese in
Germany’s Two Migration Systems”, 2005, bàn về thực trạng cộng đồng người
Việt tại Đông Đức và Tây Đức - những người đã trải qua hệ thống nhập cư khác biệt của hai nước Đức trong Chiến tranh Lạnh Cũng về vấn đề này, tác giả Phi
Hong Su trong nghiên cứu “Transforming Refugees into Citizens:
Vietnamese-Origin Germans and the Legality Divide”, đi sâu vào phân tích cách tiếp cận
khác nhau giữa cộng đồng người Việt tại hai miền nước Đức với xã hội Đức Đây
Trang 16là những yếu tố khiến cho cộng đồng người Việt khó thống nhất, bên cạnh các yếu tố nguồn gốc do lịch sử để lại
Quan hệ Việt Nam - CHLB Đức
Cuốn sáchQuan hệ Đức Việt - Kỷ yếu hội thảo kỷ niệm 35 năm quan hệ
Ngoại giao giữa Cộng hoà liên bang Đức và cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm 9 bài viết của các học giả Việt Nam và Đức, chủ yếu phân tích
toàn diện, sâu sắc về quan hệ giữa hai quốc gia từ giai đoạn chiến tranh cho đến ngày nay Nội dung cuốn sách đề cập đến quan hệ phức tạp, đan xen giữa hai quốc gia, nhiều khi nhạy cảm với các nhân tố bối cảnh thế giới và khu vực
Nguyễn Tú Hoa, Nguyễn Thế Lực (2004), “Quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt
Nam - CHLB Đức: Hiện trạng và triển vọng”, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số
4; tr 78-87 phân tích, đánh giá quan điểm và chính sách của Việt Nam đối với CHLB Đức và ngược lại; thực trạng quang hệ hai bên: thuận lợi và hạn chế để đưa ra một số khuyến nghị thúc đẩy mối quan hệ hai bên
Như vậy có thể thấy, đối tượng nghiên cứu của các công trình, đề tài nói trên phần lớn là cộng đồng NVONN nói chung, cộng đồng người Việt hoặc đa phần chỉ tập trung phân tích một khía cạnh nào đó của cộng đồng người Việt Nam tại CHLB Đức, chưa có nghiên cứu nào đi sâu một cách có hệ thống, đầy đủ và toàn diện về cộng đồng người Việt tại Đức cũng như vai trò của cộng đồng này trong quan hệ Việt Nam-Đức Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài luận văn “Cộng đồng người Việt Nam ở CHLB Đức giai đoạn 1990 -2015” sẽ giúp khái quát hoá, phân tích, tổng hợp thông tin về cộng đồng người Việt ở Đức Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan của Đảng, Chính phủ và các Viện nghiên cứu muốn tìm hiểu hoặc nghiên cứu sâu hơn về cộng đồng NVONN
Trang 17nói chung và ở Đức nói riêng Luận văn chắc chắn không tránh khỏi sự thiếu sót
về mặt tư duy, nhìn nhận vấn đề và ngay cả sự hạn chế về tư liệu gây ra, tác giả luận văn mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, bổ sung và sửa chữa nhằm làm cho kết quả nghiên cứu được đầy đủ hơn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích lịch sử hình thành, tình hình cộng đồng người Việt Nam tại CHLB Đức từ năm 1990 đến năm 2015, luận văn hướng tới làm rõ thực trạng vai trò của cộng đồng người Việt tại CHLB Đức và đề xuất những giải pháp đẩy mạnh, phát huy tiềm lực của cộng đồng người Việt tại CHLB Đức
Để thực hiện mục tiêu nói trên, tác giả luận văn đề ra những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá quá trình hình thành và phát triển cộng đồng người Việt ở CHLB Đức
- Phân tích đặc điểm xã hội- chính trị, kinh tế vàvăn hóa của cộng đồng người Việt tại Đức
- Làm rõ vai trò của cộng đồng người Việt tại Đức đối với Việt Nam, nước Đức và quan hệ Việt Nam- Đức đồng thời đưa ra giải pháp nhằm phát huy vai trò của cộng đồng người Việt tại Đức
4 Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cộng đồng người Việt Nam ở Đức, bao gồm hầu hết người Việt với nguồn gốc cư trú, tình trạng kinh tế, học vấn và tư tưởng chính trị, tôn giáo khác khau: thuyền nhân, công nhân hợp đồng, người cư trú hợp pháp, bất hợp pháp; sinh viên, giới kinh doanh, đối tượng phản động, băng nhóm tội phạm…
Trang 18Về thời gian, luận văn nghiên cứu cộng đồng người Việt Nam ở Đức trong quãng thời gian sau khi nước Đức thống nhất năm 1990 đến nay Sở dĩ chọn mốc thời gian này là do đây là giai đoạn cộng đồng người Việt ở Đức đối mặt với những thay đổi cơ bản về kinh tế, chính trị trên nước Đức Giai đoạn này chứng kiến sự chuyển dịch nhanh chóng của cộng đồng về cả số lượng, thành phần, đặc điểm kinh tế, chính trị và văn hóa
5 Phương pháp nghiên cứu
Các vấn đề trong luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời đại và sức mạnh dân tộc
Luận văn bám sát các quan điểm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thể hiện trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đề tài vận dụng một cách tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, tiếp cận với những vấn đề lịch sử của cộng đồng người Việt ở Đức Trong đó, phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu chủ yếu nhất Các phương pháp khác như so sánh đối chiếu, thống kê được sử dụng ở các mức
độ khác nhau hỗ trợ cho hai phương pháp chủ yếu trên
Phương pháp phân tích tài liệu: đọc, tìm hiểu và phân tích các tài liệu khoa học liên quan đến tình hình cộng đồng người Việt ở nước ngoài nói chung và cộng đồng người Việt ở Đức nói riêng cũng như tình hình quốc tế, chính sách của Đức đối với người nước ngoài…
Trang 19Mọi nhận định, đánh giá trong luận văn đều được xây dựng trên cơ sở phân tích, khái quát những dữ kiện thực tế và những công trình khoa học trong và ngoài nước đã được công bố
6 Bố cục của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, phần kết luận,cấu trúc luận văn được chia làm 3 chương
Chương 1: Đưa ra cái nhìn tổng thể về quá trình hình thành và phát triển của
cộng đồng người Việt ở Đức, thông qua việc phân tích cơ sở hình thành của cộng đồng cũng như khái lược về tình hình của cộngđồng trước năm 1990 Bàn về chính sách cho người nước ngoài sống tại Đức của Đức và chính sách của Đảng
và Nhà nước Việt Nam đối với NVONN nói chung qua từng giai đoạn
Chương 2: Nghiên cứu bối cảnh quốc tế và khu vực, những biến động trong
phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của hai nước tác động đến sự hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt Nam ở CHLB Đức sau năm 1990 và khái quát đặc điểm dân cư, kinh tế, văn hóa và chính trị của cộng đồng người Việt ở Đức Từ đó chỉ ra các đặc tính riêng biệt của cộng đồng người Việt tại Đức
Chương 3: Đánh giá khái lược tổng thể về vai trò của cộng đồng người Việt ở
Đức đối với nước Đức, đối với Việt Nam, cũng như đối với quan hệ song phương giữa hai nước, cả ở khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực Đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của cộng đồng người Việt tại Đức
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ Sở HÌNH THÀNH VÀ CÁC YếU Tố TÁC ĐộNG TớI CộNG ĐỒNG NGƯờI VIệT NAMở CộNG HOÀ LIÊN BANG ĐứC 1.1 Quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Liên bang Đức
Việt Nam và CHLB Đức thiết lập quan hệ chính thức ngày 23/09/1975 Trước
đó, Việt Nam đã có mối quan hệ tốt đẹp, khăng khít với Cộng hòa Dân chủ Đức
kể từ năm 1955 Trong thời kì đất nước bị chia cắt, sự giúp đỡ và viện trợ của Cộng hòa Dân chủ Đức đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa hết sức
to lớn Sau khi đất nước được thống nhất, quan hệ giữa hai nước phát triển với nhiều dự án hợp tác có quy mô lớn hơn Các dự án hợp tác chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực lâm nghiệp và xuất khẩu lao động Việt Nam sang làm việc tại Cộng hòa Dân chủ Đức4
Cộng hòa Dân chủ Đức bắt đầu mời sinh viên Việt Nam tham dự các chương trình học tập và đào tạo ở Đông Đức vào đầu những năm 1950; hợp tác mở rộng vào năm 1973 sau khi cam kết đào tạo thêm 10.000 công dân Việt Nam trong 10 năm tiếp theo Năm 1980, Cộng hòa Dân chủ Đức ký một thỏa thuận với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thống nhất cho phép các doanh nghiệp ở Đông Đức đào tạo cho người Việt Nam; từ năm 1987 đến năm 19895 Chính phủ Đông Đức xem các chương trình thực tập này không chỉ là một phương tiện để tăng nguồn cung lao động cho ngành công nghiệp địa phương, mà còn là viện trợ phát triển cho các thành viên nghèo hơn của khối xã hội chủ nghĩa
Đối với CHLB Đức, trên thực tế mối quan hệ giữa hai quốc gia bị đóng băng trong nhiều năm do khác biệt về hệ tư tưởng và việc Việt Nam bị cấm vận Quan
4Phạm Quang Minh (2005), Quan hệ Việt - Đức: Quá khứ và hiện tại, Tạp chí khoa học, Đại học quốc gia Hà Nội,
Khoa học xã hội và nhân văn, T XXI, số 1-2005, tr26-27
5Bui, Pipo (2004), Envisioning Vietnamese Migrants in Germany: Ethnic Stigma, Immigrant Origin Narratives
and Partial Masking, Berlin/Hamburg/Münster: LIT Verlag
Trang 21hê ̣ hai nước cũng căng thẳng trong mô ̣t vài nă m vì những xung đột về hợp đồng xuất khẩu lao đô ̣ng Tuy nhiên, tất cả dần được giải quyết thông qua đàm phán
Kể từ sau khi nước Đức thống nhất đến nay, mối quan hệ giữa Việt Nam và Đức
là mối quan hệ hợp tác cùng phát triển Trên cơ sở đó, tháng 10 năm 2011, hai nước kí tuyên bố Hà Nội, nâng tầm quan hệ lên thành quan hệ đối tác chiến lược Quan hệ đối tác chiến lược là mối quan hệ lâu dài, hợp tác cùng có lợi mà không cần có sự ràng buộc về an ninh - quân sự Khuôn khổ của mối quan hệ này đa dạng phong phú về thành phần, nội dung, hình thức, mức độ, dựa trên mục tiêu cụ thể và sang kiến thông qua các cuộc gặp gỡ, giao lưu cấp cao giữa hai quốc gia6 Năm lĩnh vực hợp tác then chốt được nêu rõ trong Tuyên bố chung Hà Nội gồm: Hợp tác chính trị chiến lược; Thương mại và đầu tư; Tư pháp và pháp luật; Phát triển và bảo vệ môi trường; Giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa, truyền thông và xã hội7
Về hợp tác chính trị, hai nước hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong các cơ chế đa phương như Liên Hợp Quốc, ASEM, EU-ASEAN Đức hỗ trợ Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO Việt Nam và Đức chia sẻ mối quan tâm trong hầu hết các vấn đề quốc tế quan trọng như toàn cầu hóa, chống khủng bố, cải cách Liên Hợp quốc Hợp tác song phương cũng được chú trọng với các cuộc viếng thăm thường xuyên, ở nhiều cấp bậc giữa lãnh đạo hai nước
Quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai quốc gia phát triển nhanh chóng và là động lực chủ yếu thúc đẩy quan hệ song phương Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tại Châu Âu, chiếm khoảng 28% tổng kinh ngạch xuất khẩu
6 Lê Thế Mẫu(2016), Nhận diện quan hệ đối tác chiến lược trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
7 Tuyên bố chung giữa Việt Nam và CHLB Đức ký tại Hà Nội ngày 11/10/2011
Trang 22của Việt Nam sang các nước thuộc EU8 Trong 7 tháng đầu năm 2017 kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Đức đạt 5,44 tỷ USD (tăng 9,9% so với 7 tháng đầu năm 2016)9 Việt Nam được Đức xếp hạng đối tác thương mại thứ 40/144 nước xuất khẩu hàng hoá vào Đức, hạng 55/144 nước nhập khẩu hàng hoá
từ Đức và hạng 47/144 nước đối tác thương mại chính trên kim ngạch hai chiều10
Dù vậy, Đức hiện vẫn áp dụng các rào cản thương mại theo tiêu chuẩn chung của EUvới Việt Nam Mối quan hệ đầu tư giữa hai quốc gia chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn của hai bên Tính đến hết tháng 4/2017, có 285 dự án của Đức tại Việt Nam còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 1,4 tỷ USD, đứng thứ 5 trong Liên minh châu Âu (EU) và thứ 20/116 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam11 Đầu tư của Đức chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ bán lẻ, công nghệ phần mềm, thông tin truyền thông, dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm
Một trọng tâm khác trong quan hệ giữa hai quốc gia là hợp tác giáo dục Điển hình là Trường Đại học Việt - Đức, được thành lập từ tháng 9/2008 tại Tp Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ tích cực của Tổ chức DAAD và Bang Hessen (Đức) Trường hoạt động theo mô hình của đại học Đức và đạt chuẩn quốc tế về chất lượng12 Bên cạnh đó, hợp tác phát triển Việt Nam - Đức được thực hiện chủ yếu bởi hai tổ chức là KFW và GIZ, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: đào tạo nghề
8Chử Thị Nhuần (2012), Quan hệ Việt Nam- CHLB Đức và vai trò của cộng đồng người Việt Nam tại Đức, Tạp
chí Nghiên cứu Châu Âu số 11-2012, tr83-84
9Vinanet (2017), Kim ngạch thương mại song phương Việt – Đức tăng trưởng gần 10%,
http://vinanet.vn/thuong-mai-cha/kim-ngach-thuong-mai-song-phuong-viet-duc-tang-truong-gan-10-678356.html, truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2017
10 Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (2016), Hồ sơ thị trường Đức
11Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (2016), Hồ sơ thị trường Đức
12Dân trí (2013), ĐH công lập Việt - Đức sau 5 năm thành lập và phát triển,
http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/dh-cong-lap-viet-duc-sau-5-nam-thanh-lap-va-phat-trien-1387395279.htm, truy cập ngày 10 tháng 10 năm
2017
Trang 23(đặc biệt mô hình đào tạo nghề kép nổi tiếng của Đức), môi trường (đa dạng sinh học và bảo vệ bờ biển), năng lượng (sử dụng năng lượng hiệu quả và năng lượng tái tạo)
Tóm lại, trong suốt 40 năm qua, quan hệ hai nước không ngừng được củng cố
và phát triển tốt đẹp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Trong thời gian tới, hai nước
sẽ thúc đẩy quan hệ song phương phát triển mạnh mẽ hơn nữa, tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của mỗi quốc gia
Mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Đức là điều kiện nền tảng cho sự phát triển của cộng đồng người Việt ở Đức Cộng đồng người Việt tại đây chịu tác động trực tiếp không chỉ bởi chính sách chính trị nội bộ của Việt Nam hoặc Đức
mà còn chịu tác động từ chính quan hệ song phương giữa hai quốc gia.Khi mối quan hệ này phát triển theo hướng tích cực, cộng đồng người Việt ở Đức sẽ trở thành nhân tố được cả hai nước coi trọng, nhận được sự hỗ trợ và quan tâm của cả hai chính phủ Nếu xem xét ở khía cạnh ngoại giao và kinh tế, có thể dễ dàng nhận thấy số lượng chuyến thăm và tiếp xúc của lãnh đạo hai nước với cộng đồng người Việt ở Đức tăng lên nhanh chóng, tỉ lệ thuận với sự phát triển của quan hệ song phương Việt Nam- Đức Từ đó, cộng đồng người Việt có cơ hội để bày tỏ tâm tư, nguyện vọng và chính kiến với chính quyền của nước sở tại cũng như Việt Nam Ở khía cạnh kinh tế, do hợp tác kinh tế là nền tảng và động lực cho quan hệ giữa hai quốc gia, cộng đồng người Việt có cơ hội và được hỗ trợ để đầu tư ở Việt Nam cũng như kinh doanh buôn bán ở Đức, đồng thời là cầu nối cho doanh nghiệp của hai nước Các ảnh hưởng của quan hệ song phương Việt- Đức tới các khía cạnh khác của cộng đồng người Việt như văn hóa, giáo dục khó có thể đánh giá trong ngắn hạn mà chỉ có thể xem xét trong dài hạn Tuy nhiên, với ảnh hưởng tích cực từ lợi ích chính trị và kinh tế mà cộng đồng người Việt ở Đức có
Trang 24được từ quan hệ song phương phát triển tích cực của hai quốc gia, rõ ràng, điều này kéo theo sự phát triển nhanh chóng của cộng đồng người Việt ở Đức
1.2 Cộng đồng người Việt ở Đức trước năm 1990
Lịch sử của cộng đồng người Việt ở Đức bắt đầu ngay từ năm 1953 khi nhóm lưu học sinh đầu tiên của Việt Nam gồm 5 người đã được cử sang Cộng hòa Dân chủ Đức học tập Khoảng 150 trẻ em người Việt ở độ tuổi từ 9 tới 14 (những đứa trẻ Moritzburg13) tới Đông Đức vào năm 1955 để đi học phổ thông và học nghề14 Những năm sau đó, số lưu học sinh, nghiên cứu sinh đã tăng dần lên Sau thời gian học tập, rất nhiều người trong số họ trở về nước và giữ trọng trách trong bộ máy của Đảng và nhà nước Có người trở thành chính khách, lãnh đạo các viện nghiên cứu hàng đầu hoặc phiên dịch viên
Đầu những năm 80, mỗi năm có hàng ngàn lao động Việt Nam sang làm việc theo thoả thuận của Hiệp ước Tuyển dụng lao động song phương Đây là thời điểm số lao động Việt Nam sang Đức đông nhất, với khoảng 60.000 người15 Với
số lượng người lao động nhập cư tăng lên nhanh chóng, nhà nước Đông Đức áp dụng một chính sách lao động - nhập cư hạn chế, đòi hỏi người xuất khẩu lao động tại Đức phải có một hợp đồng có thời hạn rõ ràng Theo đó, người lao động được kí một hợp đồng lao động kéo dài 5 năm với khả năng gia hạn hợp đồng rất
ít Khi hợp đồng lao động hết hạn, người lao động Việt Nam phải trở lại quê hương Những người lao động Việt Nam chỉ được dạy tiếng Đức trong khoảng 2
13 Năm 1954, 150 trẻ em Việt Nam từ Hà Nội đến Moritzburg, một thành phố nhỏ cạnh Dresden,sống trong ký túc
xá Käthe-Kollwitz và học tập trong vòng 4 năm tại Cộng hòa Dân chủ Đức
14 Dietrich, Alexander (2011), Onkel Ho und seine
Kinder,https://www.welt.de/print/die_welt/politik/article12290170/Onkel-Ho-und-seine-Kinder.html, truy cập
ngày 20 tháng 9 năm 2017
15 Minority Rights Group, Germany- Vietnam, http://minorityrights.org/minorities/vietnamese-2/,truy cập ngày 20
tháng 9 năm 2017
Trang 25tháng và phải sống trong những khu nhà ở riêng biệt dành riêng cho lao động nước ngoài Bên cạnh đó, chính phủ Đông Đức không khuyến khích những thành viên khác trong gia đình nhập cư vào Đức cũng như hôn nhân giữa người Việt và người Đức Những phụ nữ Việt nếu mang thai khi làm việc tại Đông Đức, bị buộc phải lựa chọn giữa việc phá thai hoặc hồi hương Mặc dù vậy, người Việt tại Đông Đức luôn tích cực lao động và làm việc, tạo ra các giá trị kinh tế góp phần vào công cuộc phát triển đất nước Với tiền lương của mình, họ mua các sản phẩm như máy may, xe đạp, đồ điện và đồ gia dụng ở Đông Đức và gửi về Việt Nam Đa số họ là những trí thức, người lao động có tay nghề cao và đồng thời có
sự gắn kết mạnh mẽ với quê hương
Sau sự kiện Việt Nam thống nhất năm 1975, khoảng 40.000 thuyền nhân Việt Nam đã vượt biển, đến Tây Đức xin tị nạn trong giai đoạn 1978-198516 Nguyên nhân Tây Đức tiếp nhận những người tị nạn Việt Nam là do nước này là thành viên của chương trình viện trợ do Cao ủy Liên Hợp Quốc về người nhập cư điều phối, đóng vai trò là nước tái định cư thứ ba Những người này được tàu Cap Anamur17 của Đức vớt ngoài biển hoặc được tiếp nhận từ các trại tị nạn Đông Nam Á Họ được đưa vào các trại tị nạn ở Tây Đức18, nhận các khoản từ thiện từ người dân sở tại và sự hỗ trợ từ các tình nguyện viên19 Thành phần của nhóm người Việt này khá đa dạng, từ những người Việt gốc Hoa đến các nhóm chính
16 Engler, Marcus & Schneider, Jan (2015), German Asylum Policy and EU Refugee Protection: The Prospects of
the Common European Asylum System (CEAS), Policy Brief No.29
17Cap Anamur là tên một tổ chức thiện nguyện của Đức chuyên cứu giúp người tỵ nạn Năm 1979, hưởng ứng lời kêu gọi của Uỷ ban một con tàu cho Việt Nam ở Pháp, một phóng viên người Đức Rupert Neudeck đã đứng ra quyên góp và thiết lập uỷ ban này tại Đức, chỉ sau vài ngày số tiền đã đủ dể Uỷ ban mướn một con tàu, cho ra khơi thi hành công việc cứu vớt thuyền nhân trên Biển Đông Cho đến năm 1987, Uỷ ban đã cho ra khơi ba con tàu với mục đích tương tự
18Bui, Pipo (2003), Envisioning Vietnamese Migrants in Germany: ethic, stigma, immigrant oriin narratives and
partial masking, LIT Verlag Münster
19Bui, Pipo (2003), Envisioning Vietnamese Migrants in Germany: ethic, stigma, immigrant oriin narratives and
partial masking, LIT Verlag Münster
Trang 26quyền miền Nam cũ, nông dân, trí thức, Phật tử hay tín đồ Thiên chúa giáo… Xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau, nhóm người tị nạn này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các nhóm người Việt tại Đức thời gian sau này, tạo nên sự đa dạng của cộng đồng người Việt tại Đức Những người Việt tại Tây Đức được Nhà nước sở tại tạo điều kiện học tiếng Đức, tuy nhiên, họ cũng gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập với xã hội Đức cũng như các quy định ngặt nghèo của Luật nhập cư tại Tây Đức
Sự kiện Bức tường Berlin sụp đổ và sự hợp nhất nước Đức năm 1989 đã gỡ bỏ biên giới nội địa, nhưng nhìn từ nhiều góc độ thì vẫn còn đó những khác biệt về mặt con người, văn hóa, và ý thức hệ giữa hai miền Đông, Tây Điều này cũng diễn ra với những người Việt nhập cư, giốngnhư với người dân Đức
1.3 Yếu tố tác động đến cộng đồng người Việt Nam ở Cộng hoà Liên bang Đức sau năm 1990
Sau năm 1990, cục diện thế giới cũng như chính trị nội bộ của hai quốc gia Việt Nam và CHLB Đức có những xoay chuyển lớn, ít nhiều tác động trực tiếp đến cộng đồng người Việt tại CHLB Đức
Những thay đổi của Thế giới sau Chiến tranh Lạnh
Tiếp nối sau Chiến tranh thế giới thứ II với hệ quả là chênh lệch kinh tế trục Bắc – Nam, Tây - Âu, khi khối xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô và các nước ở Đông Âu tan rã,thế giới không còn bị phân đôi và ngăn cách bởi hàng rào
hệ tư tưởng, quá trình liên kết Châu Âu phát triển không ngừng Thêm vào đó, khủng hoảng kinh tế đầu thế kỷ XXI cùng bối cảnh toàn cầu hiện nay, sự biến đổi khí hậu, môi trường sống ngày một xuống cấp, làm xuất hiện khoảng cách chênh
Trang 27lệch lớn giữa chính các thành viên trong EU Những lí do kể trên đã khiến nhiều quốc gia EU phải đối mặt với một hệ quả lớn là việc khủng hoảng nhập cư
Trong lịch sử châu Âu, chúng ta đã chứng kiến nhiều “bức tường” được xây lên để ngăn chặn việc di chuyển của người dân, điển hình nhất là công sự đồ sộ ở biên giới Pháp – Đức cuối thế kỷ 19 hay bức tường Berlin tồn tại từ 1961-1989 Tuy nhiên, hiện nay trên thực tế đã không còn bức tường nào tại châu Âu nữa, Eu đang nỗ lực hướng tới một chính sách nhập cư chung cho toàn khu vực Các hiệp ước là cơ sở pháp lý quan trọng nhất mang tính hiến định mà các nước thành viên cam kết cùng nhau xây dựng EU từ khi thành lập đến nay và sự phát triển của chính sách nhập cư chung của EU cũng gắn liền với các hiệp ước: Hiệp ước Schengend năm 1985, Hiệp ước Masstricht năm 1993, Hiệp ước Amsterdam năm 1999… Những hiệp ước này được ra đời nhằm đảm bảo an ninh và ổn định khu vực, các lợi ích phát triển cũng như phổ biến các giá trị của EU về dân chủ, nhân quyền với thế giới bao gồm các nội dung20:
- Kiểm soát nhập cư bất hợp pháp: Nghị định của Uỷ ban châu Âu tháng 6/2001 (COM 2001 386) đưa ra những định nghĩa, tiêu chuẩn và thủ tục chung cho công dân các nước thứ ba đang làm việc ở EU với nguyên tắc tôn trọng quyền hạn của các nước thành viên trong việc hạn chế nhập cư kinh tế
- Tăng cường hội nhập: Hiệp ước Amsterdam quy định nguyên tắc không phân biệt đối xử về giới tính, chủng tộc, sắc tộc, tín ngưỡng hoặc tôn giáo Việc đoàn tụ gia đình cũng là chính sách nhập cư thu hút nhiều người nhập
cư tới EU Các quyền của công dân nước thứ ba sinh sống lâu dài ở EU cũng được quy định trong Nghị định 2003/109/EC cùng các biện pháp như
20 Nguyễn An Hà (2009), Chính sách nhập cư của Liên minh châu Âu và của một số nước thành viên mới Đông Âu, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 3, trang 14-23
Trang 28Chiến lược Lao động châu Âu EES năm 2003 nhằm hội nhập người nhập cư toàn diện (lao động, giáo dục, ngoại ngữ, nhà ở, y tế, xã hội….)
- Tăng cường an ninh: EU tăng cường kiểm soát biên giới ở các nước thành viên mới với khu vực phía Đông và phía Nam bằng cách sử dụng các hệ thống xác định vân tay của những người xin cư trú EURODAC và hệ thống
dữ liệu ảnh FADO cũng như hoàn thiện các hệ thống thông tin Schengen SIS I và SIS II cùng hệ thống thông tin thị thực VIS
Sự ra đời của những hiệp ước giữa các nước trong EU vừa thắt chặt việc nhập
cư cũng vừa tạo điều kiện cho những người nhập cư vào các nước châu Âu, việc này cũng ảnh hưởng không ít tới cộng đồng người Việt nhập cư ở châu Âu nói riêng và CHLB Đức nói chung
Cùng với sự ra đời của các hiệp ước kể trên, phải kể đến việc mở rộng EU với các thành viên mới đến từ Trung và Đông Âu dẫn đến sự bùng nổ của những làn sóng di cư từ các nước Đông Âu sang các nước Tây Âu, trong đó không thể không nhắc đến một số lượng không nhỏ người Việt Nam từ các nước Đông Âu đến Đức: di cư lao động sang Tây Âu (Ba Lan sang Đức, Anh, Séc sang Đức, Áo)
Sau khi nước Đức tái thống nhất, Nhà nước CHDC Đức sụp đổ đã khiến cho hàng ngàn người lao động Việt tại Đông Đức đứng trước hai sự lựa chọn: nhận
Trang 29tiền đền bù và vé máy bay về nước hoặc tiếp tục ở lại Đức với tương lai mờ mịt Những người ở lại gặp nhiều bất lợi: không có vị thế hợp pháp tại quốc gia mới, không có tiền và chỉ có vốn tiếng Đức hết sức nghèo nàn Tưởng chừng đây là những rào cản lớn cho họ, nhưng cũng chính bối cảnh rối ren, tình hình chính trị, kinh tế chưa ổn định, quy định luật pháp còn lỏng lẻo lại mang tới nhiều cơ hội cho cộng đồng người Việt tại đây, thậm chí giai đoạn này còn được coi là thời kỳ hoàng kim của người Việt Đầu những năm 1990, người Đức ở Đông Berlin nói riêng và người dân Đức ở Đông Đức nói chung đều có nhu cầu tìm hiểu về xã hội bên ngoài, trong đó có Tây đức và cuộc sống của những người châu Á Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt phát triển nhiều hướng kinh doanh: từ buôn bán thuốc lá, đồ điện tử hay quần áo từ Tây Đức sang Đông Đức cho tới tự trồng trọt, chăn nuôi tại các khu trang trại ngoại ô Đức và bán các loại rau Việt Nam Những công việc nhỏ nhặt này mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho những người Việt ở Đức Nhiều người đã trở nên khá giả trong giai đoạn chuyển giao này Đáng kể đến là sự xuất hiện của Trung tâm thương mại Đồng Xuân đầu tiên được thành lập năm 1997 tại thành phố Leipzig do doanh nhân Việt Nguyễn Văn Hiền làm chủ21 Ý tưởng táo bạo này cũng xuất phát từ chính thực trạng của cộng đồng người Việt khi phải chuyển từ làm việc tại các xí nghiệp kinh doanh sang buôn bán
Cũng trong giai đoạn này, Chính phủ CHLB Đức sửa đổi luật, cho phép người Việt Nam theo diện hợp tác lao động được nhận giấy phép cư trú theo dạng nhân đạo Điều này tạo cơ hội cho người Việt mở rộng phương thức kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực ẩm thực Nhiều cửa hàng ăn nhanh của người Việt với các
21Trí thức trẻ (2016), Kinh doanh kiểu chợ Đồng Xuân, doanh nhân này trở thành tỷ phú người Việt tại Đức,
http://cafef.vn/kinh-doanh-kieu-cho-dong-xuan-doanh-nhan-nay-tro-thanh-ty-phu-nguoi-viet-tai-duc-20160825135454693, truy cập ngày 25 tháng 8
Trang 30món ăn đơn giản như mì xào, phở, nem… cùng với đó là các cửa hàng ăn sang trọng, “đội lốt” quán Tàu (China Restaurant) của các ông chủ người Việt với các món ăn đậm chất Châu Á nổi lên hàng loạt22
Cho đến đầu năm 2002, khi Đức tiến hành chuyển đổi từ đồng Mác Đức sang đồng Euro, cuộc sống của người dân Đức nói chung và của cộng đồng người Việt tại đây nói riêng cũng trở nên khó khăn do tỉ lệ trao đổi tiền khá lớn: 2-1 (2 đồng Mác Đức đổi 1 Euro) trong khi giá cả hàng hoá vẫn vậy, đồng nghĩa với việc đồng lương ít đi nhưng giá trị hàng hoá không đổi Tuy nhiên cuộc sống cũng dần
ổn định
Kể từ sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế năm 2008, tốc độ tăng trưởng của Đức duy trì ổn định Hiện tại kinh tế nước Đức đứng vị trí thứ 4 trong các nền kinh tế mạnh nhất thế giới23 Với vị thế là một trong những nước phát triển, Đức cũng không tránh khỏi thách thức duy trì tăng trưởng năng suất Dù đạt được nhiều thành tựu nhưng nền kinh tế Đức lại phải đối mặt với một thách thức lớn,
đó là sự thay đổi cơ cấu lao động khi gặp phải tình trạng già hoá dân số Tỷ lệ người ở độ tuổi lao động cao (từ 45 đến dưới 60 tuổi) tăng lên và tỷ lệ dân số gia nhập thị trường lao động thì lại có xu hướng giảm dần Trong khi đó, vấn đề nhập
cư luôn luôn vấp phải những tranh cãi và xung đột trong xã hội Đức bất chấp thực
tế nước này đang cần lao động
22Văn Long (2016), Người Việt ở Đức ―bành trướng‖ trên lĩnh vực ẩm thực,
http://dantri.com.vn/kieu-bao/nguoi-viet-o-duc-banh-truong-tren-linh-vuc-am-thuc-2016040610093844.htm, truy cập ngày 06 tháng 04 năm 2016 ê
23 Radcliffe, Brent, Why Germany Is The Economic Powerhouse Of The Eurozone,
https://www.investopedia.com/financial-edge/1212/why-germany-is-the-economic-powerhouse-of-the-eurozone.aspx
Trang 31Những chuyển biến của Việt Nam
Trong những năm cuối 1980 đầu 1990, Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức được các chuyển biến của bối cảnh quốc tế và xu thế toàn cầu hóa Công cuộc đổi mới với mục tiêu sớm vượt qua thế bị bao vây, cấm vận về kinh tế được khởi xướng, Đảng và Nhà nước đã chú trọng cải cách mở cửa, bình thường hoá quan
hệ với các đối tác lớn, tham gia các tổ chức quốc tế quan trọng như Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới năm 1992, nhằm tranh thủ những nguồn lực bên ngoài hỗ trợ có hiệu quả cho các nguồn lực bên trong phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển đất nước Việc này đã mang lại nhiều tác động mạnh đến cộng đồng NVONN nói chung Vấn đề NVONN ngày càng được quan tâm hơn, chính sách đối với cộng đồng NVONN được thiết lập, đổi mới với mong muốn tạo điều kiện tốt nhất cho cộng đồng NVONN ổn định cuộc sống ở nước sở tại, có điều kiện gắn bó với quê hương hay tạo điều kiện để NVONN về nước đầu tư, kinh doanh
và đóng góp trí tuệ cho công cuộc đổi mới của đất nước…
Sự phát triển của đất nước sau 25 năm Đổi mới, cùng với quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế đã thúc đẩy nhu cầu và tạo điều kiện cho công dân Việt Nam đi lao động, học tập, du lịch, làm việc và cư trú ở nước ngoài Sau 5 năm Việt Nam gia nhập WTO, nhu cầu đi lại làm ăn, học tập, lao động, du lịch, chữa bệnh của người dân ngày càng phong phú Quy luật cung - cầu về sức lao động, dịch vụ và chênh lệch về mức sống và thu nhập giữa Việt Nam và các nước trong đã thúc đẩy các luồng di cư Sự phát triển của công nghệ thông tin cho phép người lao động dễ dàng liên hệ với nhau và giao kết việc làm, đồng thời sự phát triển của dịch vụ giao thông quốc tế tạo điều kiện cho việc đi lại với chi phí rẻ hơn và thuận tiện hơn rất nhiều so với trước đây
Trang 32Mặc dù chưa được thống kê đầy đủ nhưng quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng đã trở thành một yếu tố tác động mọi mặt đến cộng đồng NVONN khi cộng đồng này tiếp tục gia tăng cả về số lượng và địa bàn cư trú, có cuộc sống ngày càng ổn định, có tiềm lực về tri thức và kinh tế, có vị trí và ảnh hưởng trong xã hội nước sở tại
1.4Chính sách của Đức đối với vấn đề nhập cƣ và Cộng đồng ngoại kiều
Quá trình nhập cư tại Đức diễn ra chủ yếu sau Thế chiến thứ hai gồm các giai đoạn và hình thức sau:
(i) Di cư lao động chủ yếu từ Đông Đức sang Tây Đức để xây dựng lại nước Đức đổ nát sau chiến tranh Phong trào này bắt đầu từ sau thế chiến thứ hai, kéo dài cho đến khi bức tường Berlin được dựng lên vào năm 1961, cấm người Đức
từ phía Đông di chuyển sang phía Tây
(ii) Những người công nhân nước ngoài nhập cư vào Đông Đức, nhằm giảm bớt tình trạng thiếu lao động trầm trọng Giai đoạn di cư lao động này bắt đầu vào những năm 1950 và kết thúc vào năm 1973 với cuộc khủng hoảng dầu mỏ toàn cầu đầu tiên (10/1973)
(iii) Với chính sách hạn chế nhập cư lao động, sau năm 1988, việc nhập cư tại Đức chủ yếu diễn ra dưới dạng đoàn tụ gia đình, người gốc Đức trở về quê hương
(iv)Sự tan vỡ về chính trị - xã hội ở Trung và Đông Âu, khoảng năm 1989 cho đến đầu những năm 2000 cũng là yếu tố tác động đến việc di dân ở Đức những năm 1990
Trang 33(v) Sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, các luồng di cư đến Đức chủ yếu là di cư lao động tạm thời từ các nước Đông Âu
(vi) Cuộc khủng hoảng người tị nạn trong giai đoạn 2015-2016, những người tị nạn từ Bắc Phi và Trung Đông ồ ạt nhập cư vào Đức gây ra bất ổn, chia rẽ cho chính quốc gia này
Bắt đầu từ giữa những năm 1950, lệnh cấm cư trú vĩnh viễn đối với người nước ngoài được thi hành áp dụng với đối tượng người lao động nước ngoài đến Đức làm việc24.Vào thời điểm ấy, lao động nước ngoài chỉ được phép ở lại Đức trong vòng một năm, sau đó phải về nước.Tuy nhiên, mặc cho các chính sách hạn chế cũng như định hướng chính trị của Đức thể hiện qua khẩu hiểu “Đức không phải
là một nước nhập cư” 25do các nhà chính trị Đức đưa ra trong những năm 1990, trên thực tế, số lượng người nhập cư đến Đức ngày một gia tăng và Đức dần trở thành một quốc gia nhập cư
Những nỗ lực ban hành luật đối với vấn đề nhập cư bắt đầu xuất hiện rõ ràng từ cuối năm 1999, trước thực tế nước Đức thiếu hụt trầm trọng đội ngũ nhân công có trình độ cao và khó khăn trong việc chuyển giao, đào tạo lực lượng lao động kế cận, nhất là trước tốc độ phát triển nhanh chóng của lĩnh vực công nghệ thông tin Các đảng lớn của Đức như Liên minh Dân chủ xã hội (SPD) - Đảng Xanh (liên minh cầm quyền tại thời điểm này) và Đảng đối lập Dân chủ Thiên chúa giáo (CDU)- Xã hội Thiên chúa giáo (CSU) đã thay đổi quan điểm theo hướng tích cực hơn về vấn đề người nhập cư
24Gesley, Jenny (2017), Germany: The Development of Migration and Citizenship Law in Postwar Germany,The
Law Library of Congress, Global Legal Research Center
25Chin, Rita (2007), The guest worker question in Postwar Germany
Trang 34Đầu năm 2000, Thủ tướng Đức Gerhard Schroeder phát động chiến dịch “Thẻ xanh” (Green card) nhằm lôi kéo các chuyên gia công nghệ thông tin tới Đức, được sự đồng tình và ủng hộ của dư luận26 Tuy nhiên chiến dịch này đã thất bại
do những hạn chế của Luật ngoại kiều Đức
Sau thất bại của chiến dịch thẻ xanh, hầu hết các Đảng phái chính trị của Đức trừ CSU đều thay đổi cách nhìn về vấn đề nhập cư Thủ tướng Schroeder đã cho thành lập một ủy ban đặc biệt gồm các chuyên gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực, thuộc nhiều đảng phái khác nhau để nghiên cứu, đưa ra giải pháp cho vấn đề này Ngày 03/8/2001, trên cơ sở đề xuất của ủy ban đặc biệt nói trên, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đức Otto Schilly đã công bố dự thảo luật nhập cư với những nội dung mới như chấp nhận mở cửa cho người nước ngoài nhập cư nhưng chỉ nhận người “có lợi” cho Đức27 Chính phủ sẽ kiên quyết hơn với những người bị buộc phải rời khỏi Đức đồng thời tiến hành các biện pháp kiểm soát chặt chẽ việc nhập cư
Từ năm 2000, có thể thấy một sự định hướng lại trong chính sách với vấn đề nhập cư Việc sửa đổi luật quốc tịch năm 2000, nguyên tắc huyết thống (Jus sanguinis) với quốc tịch, đến các yếu tố của quyền thừa kế công dân (Jus soli) đã được mở rộng lần đầu tiên tại Đức Trẻ em của người nước ngoài sinh ra tại Đức được thừa hưởng quốc tịch của cha mẹ và cả quốc tịch Đức, cho đến khi trưởng thành, trẻ bắt buộc lựa chọn một trong hai quốc tịch
26Spiegel (2000), „Green-card“ Initative- Der Wirbel geht
weiter,http://www.spiegel.de/netzwelt/web/green-card-initiative-der-wirbel-geht-weiter-a-66619.html, truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2017
27 Klusmeyer , Douglas & Papademetriou, Demetrios (2009), Immigration Policy in the Federal Republic of
Germany: Negotiating Membership and Remaking the Nation
Trang 35Đến năm 2005, Đức xác định nhiệm vụ quốc gia là ban hành hành Đạo luật di trú, bao gồm luật nhập cư đã được cải cách và hệ thống hoá28 Trong đó, để thúc đẩy việc hội nhập của người nước ngoài, các khóa học hội nhập được đưa ra, dựa trên các mô hình Hà Lan và Thụy Điển Các khóa học này chủ yếu truyền đạt kiến thức cơ bản về nước Đức: lịch sử, văn hóa và pháp luật trong xã hội Đức Hiện nay, Luật nhập cư hiện hành tại Đức là Luật nhập cư 2005, bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2005 Cho đến nay, Bộ luật này gồm có 15 phần, trong từng phần có thay đổi hay bổ sung thêm các điều luật mới Trong bộ luật nhập cư, thì luật cư trú được thay thế cho luật ngoại kiều, trong luật cư trú có gồm nhiều qui định về vấn đề lưu trú và quyền lợi của người nước ngoài đang sống và làm việc ở Đức29.Theo đó, giấy phép lưu trú có giới hạn thời gian dành cho những đối tượng cụ thể:
- Muốn hoàn thành khóa học dạy nghề tại Đức (§16-17)
- Muốn làm việc tại Đức (§18-31)
- Được ở lại Đức vì lý do nhân đạo, chính trị hay theo luật pháp quốc tế 26)
(§22 Di cư tới Đức do nguyên nhân gia đình (§27(§22 36)
- Là người Đức muốn hồi hương (§37,38)
- Công dân của quốc gia thành viên của EU (§38a)
28 Seifert, Wolfgang (2012), Migrations- und Intergrationspolitik, Bundeszentrale für politische
Bildung,http://www.bpb.de/politik/grundfragen/deutsche-verhaeltnisse-eine-sozialkunde/138018/migrations-und-integrationspolitik, truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2017
29 Der bundesweite Koordinierungskreis gegen Menschenhandel,Auswirkungen des AufenthG auf Opfer von
Menschenhandel,https://www.kok-gegen-menschenhandel.de/menschenhandel/rechtsgrundlagen-national/aufenthaltsgesetz/, truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2017
Trang 36Để có thể định cư vĩnh viễn tại Đức, người nước ngoài cần có giấy phép lưu trú trong 5 năm và thỏa mãn thêm các điều kiện khác bao gồm khả năng tài chính, kỹ năng ngôn ngữ, không phạm tội hình sự
Cuối cùng, để có thể nhập quốc tịch Đức, người nước ngoài cần có thời gian cư trú hợp pháp từ 8 năm trở lên với các điều kiện, gồm đủ khả năng tài chính, đủ điều kiện nhà ở, đóng bảo hiểm y tế, đủ trình độ tiếng Đức, thi đỗ kì thi trắc nghiệm, không phạm tội hình sự, thừa nhận luật pháp của Đức và từ bỏ quốc tịch mình đang có30
Hiện nay tỉ lệ sinh tại Đức vẫn không ngừng giảm, bất chấp các chính sách hỗ trợ sinh đẻ và nuôi con của Chính phủ Tỷ lệ sinh thấp đồng nghĩa với đến năm
2030, tỷ lệ người Đức trong độ tuổi lao động (từ 20 đến 65 tuổi) sẽ giảm từ 61% xuống 54%31 Để giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động, vào năm 2013, Đức đãáp dụng hệ thống “thẻ xanh” cho những công dân không thuộc EU nếu họ muốn sống và làm việc tại Đức32
Tuy nhiên, mặc dù Đức hiện là nước tiếp nhận nhiều người nhập cư nhất châu
Âu, nhưng số lượng người nhập cư vẫn không đủ để cung ứng cho thị trường lao động đang thiếu hụt Tình trạng này đã duy trì suốt nhiều thập kỷ, do Luật Nhập
cư của Đức còn nhiều bất cập, chưa theo sát những thay đổi mới trong Cộng đồng người nhập cư ở nước này Cuối năm 2015 đến đầu năm 2016, luật sửa đổi bổ sung cho luật ngoại kiều điều chỉnh theo hướng khó khăn hơn cho người nước
30Bundesamt für Migration und Flüchtlinge, Einbürgerung in
Deutschland,http://www.bamf.de/DE/Willkommen/Einbuergerung/InDeutschland/indeutschland-node.html, truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2017
31Federal Statistical Office (2006), Germany´s Population by 2050 — Results of the 11th Coordinated Population
Projection
32Nguyễn Thế Tuyền (2015), Mô hình hệ thống chấm điểm người nhập cư,
http://www.bvd-vn.de/index.php/vn/tin-t-c/tin-nu-c-d-c/287-ma-ha-nh-ha-tha-ng-cha-m-ia-m-ng-a-i-nha-p-c, truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2017
Trang 37ngoài xin cư trú tại Đức, đồng thời thắt chặt luật trục xuất người nhập cư Theo
đó, trên thực tế, Đức thực sự tiến hành các biện pháp kiểm soát hết sức chặt chẽ đối với dòng người nhậpcư, đặc biệt với người tị nạn Ví dụ có thể kể đến như việc 3 năm 1 lần, sở ngoại kiều sẽ tiến hành rà soát lại các trường hợp xin tị nạn mặc dù đã được chấp nhận cư trú tại Đức Hoặc hiện nay, Đức đang tiến hành rà soát lại các trường hợp nhận con nuôi, đặc biệt vấn nạn “mua bố” cho con để được nhập tịch33
1.5 Chính sách của Việt Nam đối với người Việt ở nước ngoài và Đức
Trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975, do đất nước còn trong tình trạng chiến tranh, nhiệm vụ chính yếu của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là vận động kiều bào tham gia công cuộc xây dựng miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Giai đoạn này định hướng cho công tác đối với đồng bào ta ở nước ngoài đa phần nằm trong chính sách ngoại giao nhân dân Việt kiều trở thành lực lượng chủ yếu, thúc đẩy các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh ở Việt Nam
Giai đoạn sau năm 1975, chính sách với người Việt ở nước ngoài tập trung vào việc huy động nguồn lực từ đồng bào nhằm góp phần cho công cuộc kiến thiết đất nước sau chiến tranh Cộng đồng người Việt ở nước ngoài trở thành nhân tố quan trọng trong quá trình chống bao vây, cầm vận Giai đoạn này các hội, nhóm của Việt kiều yêu nước phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên do thế và lực của đất nước còn hạn chế, nhà nước không thể hỗ trợ tối đa cho các hội, nhóm này Mặc dù vậy, nguồn kiều hối, hàng hóa do kiều bào gửi về đã góp phần giảm bớt những khó khăn trong nước
33 Phúc Duy (2017), Đức lo ngại nạn 'mua bố cho con' để nhập
tịch,http://thanhnien.vn/the-gioi/duc-lo-ngai-nan-mua-bo-cho-con-de-nhap-tich-842927.html, truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2017
Trang 38Trong giai đoạn tiến hành mở cửa, từ năm 1986, chính sách với người Việt Nam ở nước ngoài được quan tâm sát sao, nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế Do đó, đây là thời gian mà bộ máy tổ chức cũng như chức năng của Ban Việt kiều Trung ương được kiện toàn Tháng 7/1994, Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài được thành lập thay thế cho Ban Việt kiều Trung ương và tháng 11/1995 Chính phủ đã ra Nghị định số 77/CP đặt Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần đầu tiên ban hành một Nghị quyết riêng về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài (Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 29/11/1993)
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành một Nghị quyết công khai về công tác này (Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004) Nghị quyết số 36-NQ/TW là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử, có giá trị cơ bản, to lớn, toàn diện
và lâu dài, thể hiện sâu sắc tư duy đổi mới của Đảng ta về công tác này Quan điểm “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước” được phản ánh rõ nét trong Nghị quyết, trở thành nhận thức chung của tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị và của toàn dân.Các vấn đề còn tồn đọng sẽ được giải quyết trên tinh thần cởi mở, chân thành, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai Bên cạnh Nghị quyết 36, trong mỗi giai đoạn khác nhau Bộ chính trị đều ban hành các chỉ thị cụ thể, thể hiện các phương hướng và nhiệm vụ chi tiết, phù hợp với tình hình đất nước và tình hình quốc tế
Nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành theo hướng tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho NVONN trên các lĩnh vực: xuất nhập cảnh, cư trú, hồi
Trang 39hương, quốc tịch, hộ tịch, về đầu tư kinh doanh; về quyền được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam Một loạt chính sách đã được ban hành gần đây, như: Quy chế miễn thị thực cho người Việt Nam ở nước ngoài (tháng 9/2007), Luật Quốc tịch sửa đổi tạo điều kiện cho người Việt Nam ở nước ngoài có thể giữ quốc tịch Việt Nam trong khi mang quốc tịch nước khác (tháng 11/2008), Luật sửa đổi điều
121 Luật Đất đai và điều 126 Luật Nhà ở mở rộng thêm đối tượng và quyền cho kiều bào được mua và sở hữu nhà ở trong nước (tháng 6/2009), thu hút các chuyên gia tham gia hoạt động công nghệ tại Việt Nam (Thông tư số 24 của Bộ Lao động và Thương binh xã hội)….Các chính sách này đã tạo một hành lang pháp lý thông thoáng, một môi trường cởi mở nhằm thu hút NVONN gắn kết với quê hương và xây dựng quê hương
Cuối cùng, các hoạt động tập hợp, vận động, gắn kết kiều bào ở trong và ngoài nước ngày càng có nội dung phong phú và hình thức đa dạng hơn như tổ chức các đoàn kiều bào tiêu biểu về thăm đất nước dịp Quốc khánh, Quốc giỗ Vua Hùng, trại hè cho thanh niên, sinh viên kiều bào, đặc biệt mở rộng việc dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng NVONN Các cơ quan đại diện chính thức của Việt Nam ở nước ngoài thúc đẩy quan hệ gắn kết với các hội, nhóm của cộng đồng người Việt, đồng thời tích cực tuyên truyền, kêu gọi NVONN tham gia và sinh hoạt của cộng đồng Đây được cho là một biện pháp hết sức hữu hiệu, phục vụ cho việc tuyên truyền các chính sách của Nhà nước tới đồng bào Việt kiều
Trang 40Tiểu kết
Sự hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt Nam tại Đức gắn liền với sự thay đổi trong chính trị và chính sách đối với người nước ngoài của các hai Nhà nước Việt Nam và CHLB Đức, cũng như những chuyển biến trong mối quan
hệ song phương giữa hai quốc gia
CHLB Đức dần dần hoàn thiện chính sách nhập cư của mình thông qua việc ban hành các đạo luật về di trú, song song với việc kiểm soát chặt chẽ dòng người nhập cư.Về phía Việt Nam, các chính sách đối với kiều bào ở nước ngoài nói chung và ở Đức nói riêng cũng đang dần được kiện toàn và bổ sung theo hướng
có lợi cho kiều bào, tận dụng tối đa nguồn lực từ NVONN cho công cuộc phát triển đất nước Bên cạnh các cơ sở pháp lý cho cộng đồng người Việt được xây dựng từ luật phát giữa hai nước Việt Nam- Đức, mối quan hệ song phương giữa hai nước đang ngày càng phát triển theo cả chiều sâu lẫn bề rộng, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt ở Đức ngày càng mở rộng và phát triển
Lịch sử của cộng đồng người Việt ở Đức bắt đầu từ những năm 1950 và bùng
nổ về số lượng người di cư vào giữa thập niên 70 Người Việt đến Đức với hai nguồn gốc di cư khác nhau là những thuyền nhân đến Tây Đức và những công nhân hợp đồng làm việc tại Đông Đức Những người nhập cư này có quy chế nhập cư khác biệt và sinh sống trong hai cộng đồng tách biệt Tuy nhiên, sau khi nước Đức thống nhất năm 1989, cộng đồng người Việt ở Đức bị đẩy vào tình trạng bất ổn chung về cả tình trạng cư trú lẫn tình hình kinh tế Nhiều người trong
số họ buộc phải vật lộn bằng mọi cách để có thể sinh sống trên nước Đức