LỜI CẢM ƠN Thông qua cuốn Luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các thầy, cô giáo Khoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin tại thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây” là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, được thực hiện nghiêm túc dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2017
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thông qua cuốn Luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các thầy, cô giáo Khoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các giáo viên đang công tác trong và ngoài trường đã tận tình hướng dẫn và dạy bảo tôi trong suốt thời gian học Đại học và Cao học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhânvăn
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo - PGS.TS.Trần Thị Minh Nguyệt - Giáo viên hướng dẫn luận văn và cũng là người thầy đã tận tình chỉ dạy cho tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo cùng toàn thể các cán bộ tại Thư viện Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Cám ơn người dùng tin của thư viện đã ủng hộ, giúp tôi hoàn thành phiếu khảo sát để tôi hoàn thành Luận văn với những số liệu xác thực nhất
Cuối cùng, xin cám ơn gia đình, người thân, bạn bè đã bên cạnh, động viên, ủng hộ và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình học và thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 51
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH 5
LỜI MỞ ĐẦU 7
1.Tính cấp thiết của đề tài 7
2.Tình hình nghiên cứu 9
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4.Giả thuyết nghiên cứu 12
5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
6.Phương pháp nghiên cứu 13
7.Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 13
CHƯƠNG 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHU CẦU TIN VÀ ĐẶC ĐIỂMNGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNGCAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ TÂY 15
1.1.Những vấn đề chung về nhu cầu tin và người dùng tin 15
1.1.1.Khái niệm người dùng tin và nhu cầu tin 15
1.1.2.Những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người dùng tin 18
1.2.Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây với sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học 23
1.2.1.Khái quát về sự ra đời và phát triển của Trường 23
1.2.2.Chức năng, nhiệm vụ của Trường 25
1.2.3.Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây 26
1.3.Thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây với việc đáp ứng thông tin cho người dùng tin 28
1.3.1.Sơ lược về lịch sử hình thành của Thư viện 28
Trang 62
1.3.2.Chức năng, nhiệm vụ 28
1.3.3.Cơ cấu tổ chức và quản lý 29
1.3.4.Cơ sở vật chất – kỹ thuật 29
1.4.Đặc điểm người dùng tin tại trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây 30
1.4.1.Nhóm người dùng tin là cán bộ lãnh đạo, quản lý 30
1.4.2.Nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy 31
1.4.3.Nhóm người dùng tin là sinh viên 32
1.5.Vai trò của việc nghiên cứu nhu cầu tin trong hoạt động thông tin - thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây 33
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG NHU CẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNGTHÔNG TIN TẠI THƯ VIỆNTRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ TÂY 36
2.1.Thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin tại thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây 36
2.1.1 Nhu cầu về nội dung tài liệu 36
2.1.2 Nhu cầu về loại hình tài liệu 38
2.1.3 Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu 39
2.1.4 Nhu cầu về tính thời gian của tài liệu 40
2.1.5 Tập quán khai thác thông tin của người dùng tin 41
2.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin tại thư viện 46
2.2.1 Khả năng đáp ứng về nguồn lực thông tin 46
2.2.2 Khả năng đáp ứng về sản phẩm và dịch vụ thông tin 51
2.2.3 Khả năng đáp ứng về cơ sở vật chất và trang thiết bị 57
2.2.4 Khả năng đáp ứng về nguồn lực con người 61
2.3 Đánh giá chung 62
2.3.1 Điểm mạnh 62
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 64
Trang 73
CHƯƠNG 3.GIẢI PHÁP THỎA MÃN VÀ PHÁT TRIỂN NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNGCAO ĐẲNG
SƯ PHẠM HÀ TÂY 67
3.1 Nhóm giải pháp thỏa mãn nhu cầu tin 67
3.1.1 Củng cố và phát triển nguồn lực thông tin 67
3.1.2 Phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin- thư viện 68
3.1.3 Nâng cao trình độ cán bộ thư viện 72
3.1.4 Tăng cường cơ sở vật chất 73
3.1.5 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin 74
3.2 Nhóm giải pháp phát triển nhu cầu tin 75
3.2.1 Đào tạo người dùng tin 75
3.2.2 Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập 77
3.2.3 Nâng cao tính tích cực học tập của sinh viên 78
3.2.4 Đẩy mạnh phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên 79
3.2.5 Đẩy mạnh hoạt động truyền thông marketing 81
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 89
Trang 84
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 AACR2 Anglo – American Cataloguing Rules, Second Edition
2 CBTV Cán bộ thư viện
3 CĐSP Cao đẳng Sư phạm
4 CNTT Công nghệ thông tin
5 CSDL Cơ sở dữ liệu
6 DDC Dewey Decimal Classification
7 MARC Machine Readable Cataloguing
8 NCKH Nghiên cứu khoa học
9 NCT Nhu cầu tin
Trang 95
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH BẢNG
Bảng 1.1: Bảng thống kê cơ cấu nhân sự của thư viện 29
Bảng 2.1 : Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu của NDT 39
Bảng 2.2: Nhu cầu về tính thời gian của tài liệu của NDT thư viện 40
Bảng 2.3 Thời gian tới sử dụng tài liệu tại thư viện của người dùng tin 42
Bảng 2.4: Nguồn khai thác thông tin khác của người dùng tin 42
Bảng 2.5: Mức độ sử dụng dịch vụ đọc tại chỗ 44
Bảng 2.6: Mức độ sử dụng dịch vụ mượn tài liệu về nhà 45
Bảng 2.7: Mức độ sử dụng dịch vụ sao chụp tài liệu 45
Bảng 2.8: Mức độ sử dụng dịch vụ internet của NDT 46
Bảng 2.9: Ý kiến của NDT mức độ phong phú, đa dạng tài liệu 47
Bảng 2.10: Ý kiến của NDT về tài liệu thư viện cần bổ sung 48
Bảng 2.11: Ý kiến của NDT về thời gian phục vụ phù hợp của thư viện 50
Bảng 2.12: Ý kiến của NDT về hệ thống tra cứu dễ dàng, thuận tiện 50
Bảng 2.13: Ý kiến của NDT về lý do không mượn được tài liệu thư viện 54
Bảng 2.14: Ý kiến của NDT về mức độ sử dụng và chất lượng dịch vụ mượn tài liệu về nhà 54
Bảng 2.15: Ý kiến NDT vê mức độ sử dụng và chất lượng dịch vụ in ấn, 55
sao chụp tài liệu 55
Bảng 2.16: Ý kiến NDT về mức độ sử dụng và chất lượng dịch vụ intenet 56
Bảng 2.17: Ý kiến của NDT sự cần thiết phải phát triển các dịch vụ thư viện 57
Bảng 2.18: NDT đánh giá mức độ đáp ứng của cơ sở vật chất và trang thiết bị 60
Bảng 2.19: NDT đánh giá chất lượng tốc độ đường truyền internet 60
Bảng 2.20: NDT đánh giá thái độ phục vụ của cán bộ thư viện 61
Bảng 2.21: NDT đánh giá mức độ đáp ứng tài liệu nhanh chóng của cán bộ thư viện 62
BIỂU Biểu đồ 2.1: Nhu cầu về nội dung tài liệu của NDT 37
Trang 106
Biểu đồ 2.2: Nhu cầu về loại hình tài liệu của NDT 38
Biểu đồ 2.3: Công cụ tra cứu tin NDT thường sử dụng 43
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu nguồn lực thông tin 47
Biểu đồ 2.5: Mức độ sử dụng và đánh giá chất lượng dịch vụ đọc tại chỗ 52
HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 27
Trang 117
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, những thành tựu vượt bậc về khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch từ một xã hội công nghiệp tiên tiến sang một xã hội thông tin mà trong đó, thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng và có sự ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa và giáo dục Nhiều quốc gia phát triển trên thế giới thành công nhờ dựa vào giáo dục để xây dựng tiềm lực tri thức mạnh, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao và nền khoa học - công nghệ đạt trình độ tiên tiến Vì
lẽ đó, đầu tư phát triển nền giáo dục hàng đầu có khả năng cạnh tranh toàn cầu đã và đang trở thành xu thế của thời đại
Trước tình hình đó, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong
đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt… Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam" Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định đến năm 2020, chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chiến lược cũng khẳng định cần đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển
Trang 128
kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo
an ninh quốc phòng; thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng Bên cạnh đó, giáo dục phải chú trọng hội nhập quốc tế sâu, rộng
Thư viện có vai trò quan trọng , là một trong những yếu tố đảm bảo cho chất lượng của giáo dục đại học Trong bối cảnh nền giáo dục đại học, cao đẳng nước ta đang chuyển mình, đổi mới phương thức đào tạo, từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ thì vai trò của thư viện trường đại học càng đặc biệt quan trọng và cũng phải đổi mới hoạt động của mình để phục vụ mục tiêu này Và nhiệm vụ của các thư viện, trung tâm thông tin đó là phục
vụ NDT một cách tốt nhất NCT của NDT đã và đang ngày càng trở nên phong phú và đa dạng.Nhu cầu này đòi hỏi cần phải được đáp ứng đầy đủ, chính xác và kịp thời Do vậy, việc nghiên cứu NCT của NDT đã trở thành một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp thiết
Thư viện trường Cao đẳng sư phạm Hà Tây (sau đây gọi tắt là thư viện) được nhà trường nhiệm vụ khai thác, thu thập, xử lý và cung cấp thông tin phục
vụ cho hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của toàn bộ học sinh, sinh viên và cán bộ giảng viên, công nhân viên chức của trường
Tuy nhiên, trong thời gian qua hoạt động TT-TV tại thư viện chưa thực
sự đáp ứng được NCT của NDT tại thư viện Tình trạng này tới nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ nên chưa tìm ra được nguyên nhân cũng như giải pháp thích hợp, do vậy đã phần nào ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động chung của thư viện
Xuất phát từ những lý do cơ bản trên, tôi chọn đề tài: “Nhu cầu tin và
khả năng đáp ứng thông tin tại thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà
Tây” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Trang 139
2 Tình hình nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về NCT của NDT đã có nhiều công trình khoa học cũng như các bài báo, luận văn của các tác giả ở các cơ quan TT-TV từ trung ương đến địa phương, các cơ sở đào tạo ngành TT-TV Các công trình nghiên cứu ở nhiều mức độ, khía cạnh và phương pháp khác nhau đã góp phần nâng cao chất lượng phục vụ NDT, thỏa mãn tối đa nhu cầu của NDT đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo cũng như NCKH là tư liệu quý giá cho tác giả nghiên cứu trong đề tài của mình
Đã có một số công trình nghiên cứu của các học viên tại các cơ sở đào tạo sau đại học
Về nghiên cứu NCT, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu: “Nghiên
cứu nhu cầu tin tại Trung tâm Thông tin thư viện Học Viện Hành Chính”
(2011) của tác giả Vũ Thanh Thủy; luận văn “Nghiên cứu nhu cầu tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” (2011) của tác giả Nguyễn Bích Hạnh; “Nhu cầu tin người dùng tin tại thư viện trường Cao đẳng
kỹ thuật Cao Thắng” (2013) của tác giả Trần Thị Huệ; “ Nhu cầu tin của người dùng tin tại trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại” (2013) của Đỗ Thị Tầm Xuân, và gần đây nhất là các đề tài “Nghiên cứu nhu cầu tin tại Thư viện Trường Cao đẳng Kinh tế - kỹ thật Trung ương” (2014) của Vũ Thị Lan Anh; “Nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện Trường Cao đẳng sư phạm Bình Phước” (2014) của Lê Thị Kim Qúy; “Nhu cầu tin của người dùng tin tại trung tâm học liệu - Đại học Thái Nguyên” (2014) tác giả Hoàng Thị Nghĩa
Các công trình kể trên đã nghiên cứu thực trạng NCT ở từng trường cao đẳng, đại học cụ thể đồng thời đã chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và đưa
ra những giải pháp có tính thuyết phục nhằm tăng cường khả năng đáp ứng NCT ở từng đơn vị cụ thể đó
Trang 1410
Về nghiên cứu NCT và khả năng đáp ứng thông tin, NCT cho NDT; một
số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả có thể kể đến như:
“Nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin tại Trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong giai đoạn đổi mới”(2007) của tác giả Đào Thị Thanh Xuân; “Nghiên cứu nhu cầu tin và mức độ đáp ứng tại Trung tâm Thông tin tư liệu trường đại học Hàng Hải” (2011) của tác giả Ngô Văn Anh; luận văn “Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin cho người dùng tin tại Thư viện Đại học Hà Nội”(2011)của Cung Thị Thúy Hằng; luận văn “Nhu cầu tin và mức độ đáp ứng thông tin tại trường cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và du lịch Nha Trang” (2011) của tác giả Bùi Thị Thanh Diệu;
“Nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng tại thư viện trường đại học
Phương Đông” (2013) của tác giả Nguyễn Thị Chi; “ Nhu cầu tin và mức độ đáp ứng thông tin tại thư viện trường Đại học Hà Tĩnh” (2014) của Phan Thị
Dung; “Nhu cầu tin của người dùng tin và khả năng đáp ứng của thư viện các
trường đại học ở Hà Nội” (2014) của tác giả Bùi Thị Ánh Tuyết
Các công trình này đã tập trung nghiên cứu đặc điểm NDT, thực trạng NCT của NDT tại thư viện các trường đại học, cao đẳng đồng thời cũng phân tích đặc điểm hoạt động thông tin và khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của NDT tại và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng đáp ứng NCT và đảm bảo thông tin cho NDT, nâng cao hiệu quả hoạt động của các
ngành thông tin thư viện năm 2008 của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh và
Trang 1511
Nguyễn Minh Nguyệt Bài báo “Nhu cầu thông tin của cán bộ quản lý tại trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh” đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh số 34 năm 2012của tác giả Lê Quỳnh Chi và Lê văn Hiếu Bài báo “Nghiên cứu nhu cầu thông tin của sinh viên Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Kim
Dung đăng trên Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 1/ 2013 Bài báo “Nắm vững
nhu cầu thông tin để phục vụ tốt cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học” (2006)của tác giả Trần Trọng Bảy đăng trên Thư viện cao học Hồ Chí Minh
Những bài báo trên đã tập trung nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến NCT, thông qua việc khảo sát, phân tích, so sánh và đánh giá nhu cầu thông tin của các đối tượng NDT là sinh viên hay cán bộ quản lí – hai đối tượng NDT chính tại các trường cao đẳng, đại học để biết được NCT và mức
độ thỏa mãn NCT của họ Từ đó đưa ra những đề xuất giúp cho việc thỏa mãn nhu cầu thông tin của các đối tượng này nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong nhà trường và giáo dục đại học ở Việt Nam
Có thể nhận thấy rằng, phần lớn các đề tài, bài báo khoa học được tác giả thu thập ở trên cho thấy việc nghiên cứu NCT của NDT, khả năng đáp ứng NCT hầu hết dừng lại ở việc đi sâu vào một cơ quan, đơn vị cụ thể Đó là một thư viện trường đại học hoặc thư viện trường cao đẳng trên một địa bàn nhất định.Tuy nhiên, chưa có đề tàiđề cập tới đối tượng đang xem xét là thư
viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây Vì vậy đề tài “Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin tại thư viện Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây” mà
tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn của mình là hoàn toàn mới và không trùng lặp với các công trình nào đã công bố trước đó
Trang 163.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu đặc điểm NDT, thực trạng NCT của NDT tại TV trường CĐSP Hà Tây
+ Nghiên cứu khả năng đáp ứng NCT của NDT tại TV trường CĐSP
Hà Tây
+ Đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm tăng cường khả năng thoả mãn và phát triển NCT tại TV trường
4 Giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu NCT và khả năng đáp ứng thông tin cho NDT tại TV Trường CĐSP Hà Tây là một vấn đề hết sức mới trong công tác tổ chức và hoạt động thông tin của Nhà trường Nếu thực hiện tốt việc nghiên cứu theo hướng đề tài này sẽ có cơ sở khoa học để đề ra các nhiệm vụ mới cho TV đáp ứng đầy đủ và kích thích NCT của NDT phát triển, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cũng như NCKH của trường Đảm bảo thông tin đến NDT là những thông tin “đúng” và “trúng” với nhu cầu của họ
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
NCT của NDT và các điều kiện đảm bảo đáp ứng và phát triển NCT của họ
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn trong việc nghiên cứu NCT của NDT và khả năng đáp ứng NCT tại TV trường CĐSP Hà Tây từ năm 2013 đến nay (Lý do: Từ năm 2013
Trang 176.2 Phương pháp cụ thể
Trong quá trình nghiên cứu và giải quyết các vấn đề cụ thể của luận văn tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
Để tìm hiểu đặc điểm nhu cầu tin của NDT và mức độ đáp ứng thông tin tại thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây, tác giả đã tiến hành điều tra NDT thông qua phiếu hỏi cho các đối tượng sinh viên, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu và cán bộ quản lý Mẫu được chọn theo nguyên tắc ngẫu nhiên Số phiếu phát ra là 200 phiếu, thu về là 198 phiếu hợp lệ (đạt 99%)
Trang 1814
7.2 Về mặt thực tiễn
Đề xuất các giải pháp thỏa mãn NCT để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong trường đại học, phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục hiện nay
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về nhu cầu tin và đặc điểm người
dùng tin tại thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây
Chương 2: Thực trạng nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin tại
thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây
Chương 3: Giải pháp thỏa mãn và phát triển nhu cầu tin của người
dùng tin tại thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây
Trang 1915
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHU CẦU TIN VÀ ĐẶC ĐIỂM
NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG
CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ TÂY 1.1 Những vấn đề chung về nhu cầu tin và người dùng tin
1.1.1 Khái niệm người dùng tin và nhu cầu tin
Người dùng tin
NDT là một cá nhân, một nhóm, một tập thể, một cơ quan, tổ chức sử dụng tài liệu và các dịch vụ của thư viện nhằm mục đich công tác, học tập, nghiên cứu, giải trí
Mỗi người trong xã hội chỉ có thể trở thành NDT của cơ quan TT – TV khi họ có NCT và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình
NDT là một bộ phận quan trọng, không tách rời của hệ thống thông tin, bởi NDT vừa là đối tượng phục vụ, vừa là người tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng là người sản sinh ra thông tin mới
NDT là chủ thể của NCT, một yếu tố quan trọng duy trì và phát triển hoạt động TT-TV
NDT là một thực thể xã hội NCT của họ nảy sinh và tồn tại trong quá trình họ thực hiện các hoạt động đời sống và các quan hệ xã hội khác Như vậy ngoài các mối quan hệ hiện hữu trong quá trình sử dụng các SP&DV thông tin, NDT còn bị chi phối bởi nhiều mối quan hệ phức tạp khác như: địa
vị chính trị, địa vị kinh tế, địa vị xã hội…,[19, tr.33]
Nhu cầu tin
Theo quan điểm tâm lý học Mác xít: “NCT là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động
Trang 20và phương tiện hoạt động Hoạt động càng phức tạp thì nhu cầu được cung cấp thông tin càng đa dạng và chất lượng thông tin cao hơn
Như vậy, ở mức độ nào đó có thể coi NCT là loại nhu cầu thứ phát của con người Hoạt động của con người càng nhiều và phức tạp thì NCT càng cao và đa dạng Ở cấp độ xã hội, các lĩnh vực hoạt động xã hội càng đa dạng, phức tạp thì NCT và sự đòi hỏi được đáp ứng ở mức độ cao hơn Khi NCT phát triển thì sẽ tác động trở lại tới sự phát triển các hoạt động, góp phần phát triển xã hội
Trong hoạt động TT-TV, NCT là trung tâm trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin của NDT Vì vậy, có thể coi NCT là nguồn gốc tạo ra hoạt động thông tin [24, Tr.15]
Trong thực tiễn hoạt động thông tin có một số thuật ngữ gần gũi với khái niệm NCT, tuy nhiên chúng biểu thị NCT ở những cấp độ và sắc thái khác nhau như: sở thích tin, yêu cầu tin Sở thích tin là NCT được biểu thị dưới sắc thái tình cảm (hứng thú với một loại thông tin nào đó) Sở thích tin
có vai trò quan trọng trong quá trình tiếp nhận và sử dụng thông tin của NDT
Sở thích tin định hướng quá trình tìm kiếm và là chất xúc tác nâng cao hiệu quả lĩnh hội thông tin cho mỗi chủ thể Yêu cầu tin là biểu hiện cụ thể của NCT dưới dạng một loại thông tin nhất định Người có NCT thường hướng tới thỏa mãn nhu cầu bằng hàng loạt các yêu cầu cụ thể Tuy nhiên,
Trang 2117
yêu cầu tin đôi khi cũng chỉ phản ánh một yêu cầu công việc nhất thời mà chủ thể phải thực hiện trong thời gian ngắn [19, Tr.15]
Đặc điểm của nhu cầu tin
NCT với tư cách là một loại nhu cầu tinh thần của con người, vừa có những đặc điểm của nhu cầu nói chung vừa có những nét riêng biệt
* Tính xã hội của nhu cầu tin
NCT nảy sinh trước hết do yêu cầu tìm tòi định hướng trong quá trình thực hiện các hoạt động sống của con người Điều kiện xã hội do đó không chỉ ảnh hưởng đến nội dung thông tin con người hướng tới mà còn tác động đến cả phương thức tìm kiếm thông tin của họ
NCT là đòi hỏi khách quan của con người, nhưng khi được con người nhận thức đã trở thành trạng thái chủ quan, thành thái độ của con người, có xu hướng điều chỉnh hành vi, hoạt động của họ NCT nếu được thoả mãn thúc đẩy con người hoạt động sáng tạo và phát triển sản xuất xã hội Mặt khác, sự phát triển sản xuất làm cho NCT được thoả mãn, phát triển Sự tiêu thụ sẽ “tái sản xuất” ra NCT, sẽ làm biến đổi những NCT cũ và hình thành những NCT mới
* Tính bền vững của nhu cầu tin
NCT cũng như bất kỳ nhu cầu nào của con người khi được hình thành
sẽ trở nên bền vững một cách tương đối Tính bền vững của NCT thể hiện việc NCT xuất hiện theo chu kỳ nhất định Khi mới xuất hiện nhu cầu thường
có cường độ thấp, chưa được chủ thể nhận thức Nhu cầu ngày càng phát triển gay gắt hơn tác động đến nhận thức của con người, đòi hỏi phải được thoả mãn Khi được thoả mãn nhu cần tạm thời lắng dịu, nhưng không mất đi mà
sẽ tái xuất hiện sau một khoảng thời gian nhất định
* Tính cơ động của nhu cầu tin
Trang 2218
Mặc dù có tính bền vững nhưng NCT không tồn tại vĩnh viễn cũng như
nó không tự nhiên sinh ra NCT của con người có thể phát triển hoặc thoái hoá đi tuỳ theo phương tiện và cách thức thoả mãn nó
Các phương tiện thoả mãn NCT thường cơ động và biến đổi không ngừng dưới tác động của các điều kiện xã hội Một NCT cũng có thể được thoả mãn bằng những phương tiện khác nhau Mỗi phương tiện thoả mãn NCT tạo nên một sắc thái riêng trong trạng thái thoả mãn nhu cầu đó Vì vậy, các phương tiện và phương thức thoả mãn nhu cầu khác nhau cũng dẫn tới sự biến đổi dần của nhu cầu đó
Khi NCT được thoả mãn đầy đủ, tính nhạy cảm của chủ thể tăng lên, NCT sẽ tái xuất hiện trở lại dưới dạng đòi hỏi cao hơn cả về nội dung và phương thức thoả mãn
Ngược lại, nếu NCT không được thoả mãn liên tục trong một thời gian kéo dài, nó sẽ thoái hoá dần và dẫn đến triệt tiêu sau một khoảng thời gian nhất định
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người dùng tin
1.1.2.1 Yếu tố chủ quan
Đặc điểm cá nhân
Nhu cầu là một bộ phận cấu thành xu hướng – một thuộc tính quan trọng của nhân cách con người Trong mỗi người luôn tồn tại một hệ thống các nhu cầu có quan hệ tương hỗ với nhau, định hướng cho hệ thống hoạt động của họ trong những thời điểm nhất định, đồng thời lại bị chi phối bởi chính những thuộc tính tâm lý khác của họ NCT nảy sinh trong quá trình hoạt động của con người, cũng nằm trong hệ thống nhu cầu đó và chịu sự ảnh hưởng của nhân cách mỗi người
Những đặc điểm riêng trong nhân cách mỗi con người cũng tạo nên phong cách hành vi đặc trưng trong quá trình tìm kiếm, truy cập thông tin, tạo
Trang 23 Trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống tinh thần của con người NCT với tư cách là bộ phận trong hệ thống nhu cầu tinh thần cũng bị chi phối bởi trình độ văn hóa của NDT
NDT có trình độ văn hóa cao, hiểu biết rộng thường có NCT sâu trong các lĩnh vực, rộng hơn về mặt xã hội bởi có sự hỗ trợ của tư duy khoa học và
hệ thống tri thức làm nền tảng cho sự tiếp nhận và giải mã thông tin Nhu cầu thẩm mỹ của họ cũng cao hơn bởi thị hiếu thẩm mỹ của cao hơn, lành mạnh hơn do có yếu tố tri thức hỗ trợ Họ cũng là những người có khả năng tiếp cận tới các phương tiện tìm kiếm và hỗ trợ thông tin hiện đại
NDT có trình độ văn hóa chưa cao so với mặt bằng chung của xã hội thường có NCT hướng đến các biến cố của đời sống, của môi trường sống nhằm đạt tới một cuộc sống bình an, hạnh phúc Họ cũng hướng tới các phương tiện tìm kiếm thông tin phổ cập đó là phương tiện thông tin đại chúng
Trang 241.1.2.2 Yếu tố khách quan
Môi trường sống
Môi trường sống là môi trường bao quanh con người, bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Môi trường xã hội
NCT nằm trong hệ thống nhu cầu chung rất đa dạng và phong phú của mỗi người nói riêng và xã hội nói chung, do đó nó chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của các điều kiện môi trường xã hội
Đời sống văn hoá tinh thần phong phú là tiền đề cho NCT phát triển Nền văn hoá phát triển sẽ sản sinh ra thông tin đa dạng, sẽ được lưu giữ và chuyển tải bằng nhiều phương tiện khác nhau để có thể bảo quản và lưu truyền lại cho các thế hệ sau NCT được thoả mãn sẽ bền vững và sâu sắc hơn
Tính chất và trình độ lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp tới NCT Trình độ sản xuất càng cao đòi hỏi phải có nhiều thông tin và kiến thức hơn, đồng thời cũng sản sinh ra các phương tiện truyền tin hiện đại hơn Ngày nay, với các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, tài liệu điện tử ngày càng phổ biến, thay thể giấy truyền thống, mạng internet ngày càng phổ biến,… Bên cạnh đó, sản xuất phát triển làm cho đời sống vật chất được nâng cao đã ảnh
Trang 25Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến điều kiện sống của con người Những vùng đất khác nhau thường để lại những dấu ấn khác nhau trong tính cách và xu hướng hoạt động của con người sinh sống tại đó
Trong thực tiễn, để duy trì sự sống của mình, con người luôn có ý thức tìm hiểu tự nhiên, sống hoà hợp với thiên nhiên Ý thức đó có ảnh hưởng nhất định tới sự hình thành và phát triển của một số loại nhu cầu.Ví dụ sống trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt nhu cầu tự bảo vệ sẽ hình thành và phát triển bền vững, chi phối các nhu cầu khác
Hoạt động nghề nghiệp thường đòi hỏi ở mỗi người vốn tri thức và kinh nghiệm nhất định Tri thức và kinh nghiệm như một bộ phận của phương tiện hoạt động ảnh hưởng khá lớn đến năng suất lao động của họ, tức là tới thu nhập và điều kiện sinh tồn của mỗi người Xã hội phát triển càng cao vai trò của tri thức và kinh nghiệm trong hoạt động càng lớn
Tri thức và kinh nghiệm một phần được tích luỹ lại trong quá trình lao động, một phần do trao đổi với những người khác trong xã hội mà có được
Trang 2622
NCT thường xuất hiện trong quá trình con người tham gia hoạt động Nhu cầu
về lĩnh vực nghề nghiệp chi phối các nhu cầu khác trong hệ thống nhu cầu của con người Thậm chí nghề nghiệp còn cho phối cả cách tiếp nhận và đánh giá thông tin của mỗi người, còn gọi là “bệnh nghề nghiệp”
Lứa tuổi
Mỗi giai đoạn lứa tuổi trong cuộc đời con người có những đặc điểm tâm lý riêng do hoạt động chủ đạo chi phối Các đặc điểm tâm lý lứa tuổi có ảnh hưởng khá rõ rệt tới nội dung và phương thức thỏa mãn nhu cầu đọc và NCT
Nội dung NCT bị chi phối bởi các hoạt động chủ đạo của từng giai đoạn lứa tuổi Phương thức thỏa mãn NCT cũng bị chi phối bởi các đặc điểm tâm lý lứa tuổi Lứa tuổi có thể phân theo: người lớn tuổi (từ 60 tuổi trở lên), tuổi trung niên (từ 35-59 tuổi), tuổi thanh niên (từ 18-34 tuổi), tuổi thiếu niên (từ 1-17 tuổi)
Giới tính
Đặc điểm về giới tính được hình thành bởi các yếu tố như: cấu trúc sinh
lý, năng lực, tâm lý Những đặc điểm đó có ảnh hưởng đến NCT của con người NCT của nam giới khác với nữ giới Nam giới có tính cách mạnh mẽ, thích tìm tòi; có nhu cầu cao trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ Họ thường tiếp cận nhanh với các phương tiện tìm tin và các dịch vụ thông tin hiện đại, chất lượng …còn nữ giới có tính cách dịu dàng, mềm mại, thích biểu lộ tình cảm Họ có nhu cầu văn học nghệ thuật cao, ngay cả ở những người hoạt động Có thể thấy, các đặc điểm giới tính cũng được biểu thị trong sắc thái nội
dung và cách thức thỏa mãn NCT của mỗi người
Phương thức thỏa mãn nhu cầu tin
Được thỏa mãn bằng phương thức hiện đại, đầy đủ, (kèm theo cảm xúc, hứng thú) NCT sẽ ngày càng phát triển ở mức độ cao hơn Chu kỳ của NCT
Trang 2723
khi đó được rút ngắn lại, NCT tái xuất hiện đòi hỏi được thỏa mãn với nội dung và cường độ cao hơn, với đòi hỏi cấp bách hơn Nếu không được thỏa mãn đầy đủ trong thời gian, nhu cầu sẽ bị giảm thiểu dần và thoái hóa So với các nhu cầu vật chất, tốc độ thoái hóa của NCT cao hơn
Như vậy chất lượng của hoạt động TT - TV trong xã hội có ảnh hưởng lớn tới sự hình thành và phát triển và biến đổi của NCT trong xã hội
1.2 Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây với sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học
1.2.1 Khái quát về sự ra đời và phát triển của Trường
Trường Cao đẳng Sư phạn Hà Tây được thành lập từ năm 1959 và là một trong những ngôi trường sư phạm đầu tiên ở Đồng bằng Bắc Bộ tính từ sau hòa bình lập lại Hiện nay, đơn vị là trường Cao đẳng Sư phạm duy nhất trực thuộc UBND thành phố Hà Nội Tiền thân của trường là trường Trung cấp Sư phạm liên tỉnh Hà Nội – Hà Đông – Sơn Tây thành lập ngày 12/11/1959 tại khu học xá Đông Phù, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì – Hà Nội Trường là một trong những trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Mầm non, giáo viên Tiểu học, Trung học cơ sở có chất lượng cao của Thủ đô; là cơ
sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp giáo dục và các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội và là một cơ sở đào tạo giáo viên có chất lượng của Thủ đô
Để bắt kịp với yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay, chương trình đào tạo của nhà trường đã được chuyển đổi sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ Nhà trường cũng xác định, nâng cao chất lượng đào tạo được coi là ưu tiên hàng đầu Để thực hiện mục tiêu này, nhà trường đã áp dụng nhiều giải pháp đồng bộ: Một là đổi mới cơ chế quản lý theo hướng quản lý theo mục tiêu, chất lượng Hai là, phát triển chương trình đào tạo theo hướng mềm dẻo, liên thông, cập nhật với định hướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông
Trang 2824
sau năm 2018, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên được học cùng lúc 2 chương trình, học cải thiện điểm Ba là, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo quy định hướng tiếp cận năng lực người học và chuẩn đầu
ra, tiến tới đào tạo theo nhu cầu xã hội Nhà trường cũng đã mạnh dạn thử nghiệm một số mô hình đổi mới trong khâu tổ chức đào tạo như khảo sát chất lượng đầu vào của sinh viên và đánh giá kĩ năng nghề của sinh viên trước khi
đi thực tập; mời giảng viên nước ngoài tham gia giảng dạy ngoại ngữ tại trường, khảo sát tỉ lệ sinh viên có việc làm sau 1 năm ra trường, áp dụng mô hình đào tạo lớp chất lượng cao đối với một số ngành Mầm non, Toán học, Tiểu học,
Cùng với đó, trường CĐSP Hà Tây rất chú trọng tới việc phối hợp với các cơ sở giáo dục trong hoạt động tổ chức thực hành nghề nghiệp cho sinh viên để nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra Trường đã từng bước cải tiến các khâu trong quy trình đào tạo, tích cực ứng dụng các phần mềm quản lý, tiến tới xây dựng quy trình quản lý theo chuẩn ISO… Ngoài ra, nhà trường còn tập trung nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học, có kế hoạch xây dựng những nhóm nghiên cứu trọng điểm; chú trọng nghiên cứu những
đề tài có giá trị ứng dụng thực tiễn vào việc đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường; tìm kiếm cơ hội hợp tác quốc tế trong đào tạo sinh viên và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giảng viên Với mục tiêu giáo dục toàn diện cho sinh viên, nhà trường cũng chú trọng tạo môi trường học tập thân thiện rèn luyện các kĩ năng mềm và triển khai công tác tư vấn hướng nghiệp, giới thiệu việc làm cho học sinh sinh viên bên cạnh các hoạt động tư vấn học đường khác Nhiều hình thức ngoại khóa, câu lạc bộ học thuật, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao đã thu hút được đông đảo học sinh sinh viên tham gia
Trang 2925
Được xác định là nhân tố quyết định trong mục tiêu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, những năm qua, đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường luôn được bổ sung theo hướng đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và từng bước trẻ hóa Đến nay, trường có trên 70% giáo viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ.Nhà trường thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ, tổ chức cho cán bộ giảng viên tham quan học tập kinh nghiệm ở các cơ sở đào tạo uy tín trong và ngoài nước
Với những thành tích đã đạt được, Nhà trường đã được tặng thưởng Huân chương độc lập hạng ba; Huân chương lao động hạng nhất, nhì, ba và nhiều phần thưởng cao quý khác
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trường
Trường CĐSP Hà Tây là trường công lập, nằm trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng của cả nước; trực thuộc Ủy ban Nhân dân thành phố
Hà Nội, chịu sự quản lí Nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chịu sự quản lí của Bộ Giáo dục – Đào tạo về nội dung đào tạo; Trường có tài khoản, có con dấu riêng; thực hiện nhiệm vụ quản
lí quá trình giáo dục theo Điều lệ trường cao đẳng và Luật Giáo dục Trường
có chức năng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Mầm non, giáo viên Tiểu học, Trung học cơ sở có chất lượng cao của Thủ đô; là cơ sở NCKH, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp giáo dục và các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội Trường còn đào tạo, liên kết đào tạo các nguồn nhân lực có trình độ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học các chuyên ngành sư phạm và các chuyên ngành khác theo quy định của pháp luật
Trong những năm tới, hướng phát triển của trường là vẫn đặt trọng tâm là đào tạo giáo viên cho các cấp học từ Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở Song cần có sự nghiên cứu nhu cầu nhân lực của từng cấp học và định hướng
Trang 3026
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo của thành phố, của ngành giáo dục để điều chỉnh quy mô, cơ cấu các ngành đào tạo cho phù hợp nhu cầu sử dụng Song song với đào tạo chính quy tại trường là đa dạng hóa các loại hình đào tạo đáp ứng nhu cầu học tập của nguồn nhân lực trên địa bàn
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây
Quy mô đào tạo của nhà trường hiện có 13 ngành đào tạo cao đẳng và
02 ngành đào tạo trung cấp với khoảng 3500 sinh viên Tính đến tháng 06 năm 2016, tổng số công chức, viên chức và nhân viên của trường là 187 người Đội ngũ giảng viên của nhà trường gồm 136 người trong đó có 05 giảng viên là tiến sĩ và đang làm nghiên cứu sinh; 86 thạc sĩ và 15 giảng viên đang học thạc sĩ, giảng dạy tại 5 khoa đào tạo và 2 tổ trực thuộc Đội ngũ giảng viên thỉnh giảng đều là các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ ở các trường đại học lớn trên địa bàn thành phố Hà Nội, một số ngành đào tạo còn có các chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy Bên cạnh đó, trường còn có đội ngũ viên chức là chuyên viên, kế toán viên, bác sĩ, kỹ thuật viên công tác tại 8 đơn vị phòng ban, đảm bảo về số lượng và có năng lực chuyên môn nghiệp
vụ, phục vụ có hiệu quả cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng viên và học sinh sinh viên
Trang 3127
Hình 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC
PHÒNG - BAN
TỔ CHỨC CÁN
BỘ ĐÀO TẠO
KHOA NGOẠI NGỮ KHOA TIỂU HỌC
KHOA MẦM NON
TỔ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LIÊN TỔ TLGD – GDTC - GDQP
TỔ CHÚC ĐOÀN THỂ
CÔNG DOÀN
ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH HỘI CỰU CHIẾN BINH
HỘI SINH VIÊN
Trang 3228
1.3 Thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây với việc đáp ứng thông tin cho người dùng tin
1.3.1 Sơ lược về lịch sử hình thành của Thư viện
TV trường CĐSP Hà Tây trước đây trực thuộc phòng Đào tạo của trường, được chia ra thành thư viện nhỏ tại 3 cơ sở của trường là Hà Đông, Thường Tín, Xuân Mai nên việc quản lý gặp nhiều khó khăn Đến tháng 9/2010, TV là một đơn vị hoạt động độc lập trực thuộc Ban giám hiệu Đầu năm 2014, khi 3 cơ sở của trường sáp nhập và chuyển toàn bộ cơ sở vật chất
về huyện Thường Tín thì 3 cơ sở của TV cũng được nhập lại thành một đơn vị hoạt động độc lập trực thuộc Ban giám hiệu Từ tháng 8/2015 cho đến nay TV trực thuộc phòng Hành chính – Tổng hợp
- Tổ chức phục vụ cho các đối tượng NDT sử dụng vốn tài liệu của TV;
bố trí thời gian phục vụ phù hợp với điều kiện làm việc và học tập của giảng viên và sinh viên của trường
- Thực hiện công tác nghiệp vụ: xử lý thông tin, tiến hành lưu giữ và bảo quản tài liệu khi được bổ sung về TV
Trang 33- Nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến đặc biệt
là CNTT hiện đại hóa hoạt động TV
1.3.3 Cơ cấu tổ chức và quản lý
Hiện nay, TV là một tổ trực thuộc phòng Hành chính – Tổng hợp có nhiệm vụ hỗ trợ đắc lực cho sự nghiệp đào tạo và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Hiện tại TV có 07 cán bộ, trong đó có 06 cán bộ nữ TV có 02 cán bộ được đào tạo về chính quy về nghiệp vụ TV; số cán bộ còn lại là tốt nghiệp chuyên ngành khác và chưa được đào tạo về nghiệp vụ TV
Bảng 1.1: Bảng thống kê cơ cấu nhân sự của thư viện
Trang 3430
Phòng đọc (Tầng 2): phòng có diện tích 150 m2, có sức chứa 150 chỗ
ngồi phục vụ đọc sách tại chỗ cho cán bộ, giảng viên và sinh viên của trường
Phòng mượn tham khảo (Tầng 2): phòng có diện tích 50 m2, phục vụ cho bạn đọc mượn về nhà các tài liệu là sách tham khảo và các đề tài NCKH
Phòng mượn giáo trình (Tầng 3): phòng có diện tích là 200m2, phục vụ bạn đọc mượn sách giáo trình theo lớp
Phòng Internet (Tầng 3): có gần 200 máy tính nối mạng phục vụ bạn đọc khai thác, sử dụng Internet, đăng kí môn học và một số hoạt động khác của nhà trường
Ngoài ra, TV còn một số phòng chức năng khác như: Phòng Phân loại, Phòng Biên mục, Phòng truyền thống, Phòng Báo - Tạp chí, Phòng Hội thảo, Phòng chiếu phim, Phòng Dịch vụ
1.4 Đặc điểm người dùng tin tại trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây
Hiện nay TV trường CĐSP Hà Tây quản lý khoảng hơn 3.500 NDT là sinh viên và khoảng 180 NDT là các giảng viên và cán bộ công nhân viên của nhà trường
Căn cứ vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của trường CĐSP Hà Tây có thể phân chia đối tượng NDT thành 3 nhóm: cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; sinh viên
1.4.1 Nhóm người dùng tin là cán bộ lãnh đạo, quản lý
Nhóm NDT này bao gồm các thành phần: Ban Giám hiệu, lãnh đạo các khoa, các phòng ban, trung tâm Cán bộ quản lý trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây ngoài công tác quản lý họ còn tham gia công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học Nhóm NDT này tuy không chiếm số lượng lớn nhưng rất quan trọng Đây là đội ngũ nòng cốt, quyết định đến chính sách phát triển sự nghiệp đào tạo, NCKH của Trường; là đội ngũ vừa có chuyên môn vững vàng, vừa có năng lực quản lí, NCKH, và là đội ngũ góp phần quan trọng
Trang 3531
đến việc phát triển NLTT của TV Họ là những người xây dựng chiến lược phát triển và cũng tham giavào các công việc chủ chốt trong công tác giảng dạy, đào tạo, NCKH của trường
Những thông tin họ cần là để tổ chức, điều hành, quản lý tốt các hoạt động mang tính chiến lược của trường Thông tin được coi là công cụ để quản
lý, giúp cho việc ra những quyết định nên thông tin cung cấp cho đối tượng NDT này phải đảm bảo tính bao quát, cô đọng và kịp thời Hình thức cung cấp thông tin là những bản tin tóm tắt….với những phương thức rất phong phú tuỳ theo từng trường hợp cụ thể
Các loại thông tin cung cấp cho đối tượng NDT này là các thông tin về Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, các thông tin về các lĩnh vực chuyên môn bởi vì họ không những cần nắm chắc các thông tin mang tính chất chỉ đạo về đường lối mà còn vững về chuyên môn nghiệp vụ trong hoạt động đào tạo của nhà trường
1.4.2 Nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy
Nhóm cán bộ nghiên cứu, giảng dạy là đối tượng phục vụ quan trọng của TV Đối tượng này thường xuyên phải sử dụng thông tin, đặc biệt là các thông tin mới để phục vụ cho quá trình giảng dạy học tập, NCKH Để đáp ứng nhu cầu về đổi mới phương pháp giảng dạy học tập nhằm nâng cao chất lượng giáo dục như hiện nay - giảng viên là người trọng tài định hướng, tổ chức các hoạt động học tập, sinh viên là đối tượng chủ động nghiên cứu đòi hỏi giảng viên phải không ngừng học tập nghiên cứu, cập nhật những thông tin mới, thông tin chuyên ngành Do đó, sự quan tâm nghiên cứu, nắm bắt các thông tin kịp thời, thường xuyên là nhu cầu cần thiết của giảng viên TV
là nơi quan trọng để họ hướng đến nghiên cứu nhằm thực hiện được các nhiệm vụ đó.Do giảng viên có cường độ làm việc khá cao nên họ rất cần
Trang 36cơ bản…Đây được coi là nguồn tin thể hiện tiềm lực và thành tựu của trường
và cũng là cơ sở để phát triển các SP&DV của TV
1.4.3 Nhóm người dùng tin là sinh viên
Nhóm NDT sinh viên là nhóm NDT chủ yếu của TV và được xem là nhóm NDT tiềm năng, chiếm hơn 90 % trong tổng số NDT của TV Do quy
mô đào tạo lớn và mở với nhiều chuyên ngành và các hệ đào tạo khác nhau: như hệ Đại học, Cao đẳng, trung cấp, tại chức và đào tạo liên thông vì thế nhu cầu của NDT với TV ngày càng lớn Nhóm NDT này không chỉ tiếp thu những kiến thức do giảng viên truyền đạt mà từ những kiến thức nền tảng, những sự gợi mở đó họ phải tích cực khả năng độc lập tư duy, sáng tạo áp dụng những kiến thức vào việc giải quyết các vấn đề cần quan tâm để hoàn thành tốt chương trình đào tạo của ngành học, ngoài ra sinh viên họ còn phải hoàn thành các bài tập lớn, các đề tài nghiên cứu,…để rèn luyện các kỹ năng cần thiết
Thông tin mà họ cần là những thông tin có tính chất chuyên ngành phù hợp với các chương trình đào tạo của ngành học và định hướng nghề nghiệp sau khi họ ra trường Ngoài việc sử dụng thông tin cho mục đích học tập và tự nghiên cứu, nhóm NDT này còn sử dụng thông tin cho mục đích giải trí nhằm nâng cao đời sống tinh thần của mình, rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho công việc sau này của họ
Trang 371.5 Vai trò của việc nghiên cứu nhu cầu tin trong hoạt động thông tin - thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây
NDT là người sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình NDT trước hết phải là người có NCT, là chủ thể của NCT Đồng thời, người có NCT chỉ có thể trở thành NDT khi họ sử dụng thông tin hoặc có điều kiện sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình
NDT là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của bất kỳ hệ thống thông tin nào NDT là yếu tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tin Họ vừa là đối tượng phục vụ, vừa là khách hàng, và là người tiêu thụ các SP&DV của cơ quan thông tin vừa là người tham gia sản sinh ra những thông tin mới
Như vậy, NDT là nguồn gốc nảy sinh hoạt động thông tin Không có NDT thì không tồn tại hoạt động thông tin Chỉ khi tiến hành điều tra, nghiên cứu cụ thể về NCT của NDT thì hoạt động TT-TV mới có điều kiện để phát triển và phục vụ một cách hiệu quả NDT thể hiện cụ thể NCT của mình, những nhu cầu này chính là cơ sở để xây dựng, phát triển NLTT và tổ chức, khai thác NLTT trong hoạt động cơ quan TT-TV Nói cách khác, NDT là nhân tố điều chỉnh, định hướng cho hoạt động thông tin thông qua dòng thông tin phản hồi Ý kiến đánh giá của NDT trong quá trình sử dụng thông tin góp
Trang 38để tạo ra các SP&DV TT-TV phù hợp với nhu cầu của họ
Cũng như bất kỳ loại nhu cầu nào của con người, NCT hình thành và phát triển trong quá trình con người thực hiện các hoạt động nhận thức thực tiễn và bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau như: môi trường sống, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế xã hội, phương tiện thỏa mãn thông tin và trình độ tiếp nhận thông tin của NDT Ở những thời điểm khác nhau, địa bàn khác nhau và ở mỗi cá nhân khác nhau, NCT cũng khác nhau về nội dung và phương thức đáp ứng Nếu hoạt động thông tin nắm bắt được từng loại NCT của từng nhóm NDT khác nhau thì sẽ có cơ sở để quyết định chính sách xây dựng nguồn lực thông tin, tổ chức các SP& DV thông tin, thiết kế hệ thống thông tin phù hợp,… Từ đó, hệ thống thông tin sẽ đạt được hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế và hiệu quả khoa học cao
Điều tra NCT bao giờ cũng là bước cơ bản đầu tiên để xác lập các bước hoạt động tiếp theo trong một dây chuyền TT-TV Đây cũng là cơ sở để có thể nắm bắt được mức độ đáp ứng thông tin trên nhiều phương diện của cơ quan thư viện đối với NDT
Trang 3935
Nghiên cứu, nắm vững NCT có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động TT-TV Tìm hiểu và đánh giá đúng NCT của NDT sẽ giúp cho các cơ quan phục vụ thông tin định hướng chính xác hoạt động của mình, đồng thời cũng là cơ sở để mỗi cơ quan TV xây dựng chính sách, chiến lược
và hoạch định kế hoạch, mục tiêu phát triển lâu dài
Trang 4036
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHU CẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG
THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ TÂY
2.1 Thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin tại thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây
2.1.1 Nhu cầu về nội dung tài liệu
NCT của NDT tại TV tương đối phong phú và đa dạng, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực chuyên môn theo xu hướng đào tạo của trường và theo ngành học Ngoài ra, NDT còn có xu hướng quan tâm đến tài liệu thuộc các lĩnh vực học khoa học cơ bản như: Tâm lý – giáo dục, Ngoại ngữ,
Kết quả khảo sát cho thấy NDT quan tâm chủ yếu đến những tài liệu về khoa học tự nhiên (46,46%) và ngoại ngữ (21,21%); tiếp đến là giáo dục tiểu học (18,69 %); các tài liệu tâm lý - giáo dục và sách khác …chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ Đây là những lĩnh vực gắn bó chặt chẽ với chương trình giảng dạy trong trường
Tuy nhiên NCT của NDT tại trường có sự khác biệt khá lớn giữa 2 nhóm sinh viên và cán bộ giảng viên do có sự khác biệt về trình độ văn hoá và lứa tuổi Nhóm cán bộ quản lý và cán bộ giảng dạy không có nhiều cách biệt
do họ đều tham gia giảng dạy và NCKH