- Chế độ dinh dưỡng của người mẹ kém, làm việc và nghỉ ngơi không hợp lí hoặc bị ốm đau bệnh tật, căng thẳng sẽ khiến trẻ bị suy dinh dưỡng ngay khicòn ở bào thai và người
Trang 1Bài 1: GIAI ĐOẠN THAI NHI
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THAI NHI
Sự phát triển trước khi sinh bắt đầu khi tinh trùng và trứng thụ tinh thành công để tạothành một sinh vật mới kết hợp một số đặc điểm của bố mẹ Theo Rogers Taun Annissa(2010), thai nhi phát triển qua ba giai đoạn:
1 Quý Thứ Nhất (Ba tháng đầu)
Từ tuần lễ 0 đến 13 được xem là quan trọng nhất trong việc chăm sóc thai nhi vàlây nhiễm những độc tố từ mẹ và môi trường
Cơ quan bên trong trở nên phức tạp hơn
Mắt, mũi, miệng được thành hình
Có thể dò được tim thai (nhịp tim)Trước đó bé được gọi là phôi thai, giờ thì cho đến 8 tuần, bé được gọi là bàothai
- Tháng thứ 3
Hình thành cánh tay, bàn tay, chân, bàn chân, móng, tóc và mí mắt
Chỉ tay xuất hiện
Giới tính bắt đầu rõ ràng (mặc dù tuần thứ 14 mới thấy qua siêu âm được)
Phát triển hệ xương
Có thể cười, cau mày, bú và nuốtCuối quý thứ nhất, bé dài khoảng 7.5cm và cân nặng 28 gram
2 Quý Thứ Hai
Tuần thứ 14 đến tuần 27 đánh dấu sự tiếp tục tăng trưởng và phát triểnTất cả các bộ phận đều tiếp tục phát triển, cơ quan và các hệ thống rõ ràng và hoànchỉnh hơn
- Ngón chân và ngón tay tách rời nhau
- Móng tay và móng chân hoàn thiện
- Có sự chuyển động phối hợp
- Tóc, lông mi, lông mày xuất hiện
- Tim đập đều
- Chu kỳ thức - ngủ được thiết lập
Cuối quý thứ hai, bé dài 28 đến 35cm và cân nặng từ 1 đến 700gr
Chân thành cảm ơn Tổ chức Dịch vụ Gia đình và Cộng đồng Quốc tế (CFSI) đã hỗ trợ Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở TP.HCM” ấn hành tập tài liệu này.
Trang 23 Quý Thứ Ba
Tuần 18 đến 40 hay 38 đánh dấu những giai đoạn phát triển sau cùng
- Phát triển toàn diện, các cơ quan hoạt động
- Mô mỡ xuất hiện dưới da
- Bào thai ngọ ngoạy nhiều cho đến khi được sinh ra
- Phản ứng lại với âm thanh
Cuối quý thứ 3, bé dài khoảng 40cm và cân nặng trên dưới 2,7 kg
Ta có thể nhận thấy rằng sự phát triển phức tạp và quan trọng nhất của bào thaixảy ra trong ba tháng đầu Vì lý do đó trong ba tháng này, cần phải chăm sóc thainhi cẩn thận và tránh những chất độc do bà mẹ và môi trường đem lại Vì các cơquan và các hệ thống quan trọng như tim, mắt, tứ chi, tai, răng và hệ thần kinhtrung ương phát triển trong 9 tuần đầu nên những tổn thương thể lý và cấu trúc cóthể xuất hiện trong suốt giai đoạn này Sau 9 tuần, tổn thương vẫn có thể xuất hiện
nhưng ít nghiêm trọng hơn
II CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ TRƯỚC KHI SINH VÀ SAU NÀY
- Nhân viên công tác xã hội phải đối phó với những vấn đề tâm sinh xã hội khi
làm việc với phụ nữ mang thai Trước hết và trên hết, một số thân chủ phảiquyết định tiếp tục hay ngưng mang thai Để giúp thân chủ có quyết định vềvấn đề này, nhân viên công tác xã hội có thể giúp thân chủ khám phá niềm tintôn giáo và tâm linh của mình, những trạng thái cảm xúc khác nhau dẫn đếnnhững quyết định khác nhau Bên cạnh đó, nhân viên công tác xã hội cũng giúpcho thân chủ chuẩn bị vai trò làm cha mẹ, nhận con nuôi hay phá thai
- Nếu thân chủ quyết định tiếp tục mang thai, nhân viên công tác xã hội phải
đánh giá sức khỏe thể chất của cả bố lẫn mẹ để giúp người mẹ có sức khỏe tốt
và dưỡng thai tốt để tránh vấn đề hậu sản Tiến trình này bao gồm khám phánhững yếu tố như tuổi tác chế độ dinh dưỡng, bệnh tật, stress, thể dục, và việcsử dụng các hóa chất của thân chủ
- Độ tuổi sinh con của người phụ nữ là 20 đến đầu 30 tuổi, các bà mẹ vị thành
niên hoặc các bà mẹ tuổi trung niên, có nhiều khả năng sinh con khuyết tật Độtuổi của bố 30 - 40 Tinh trùng làm trứng thụ tinh gia tăng Nam giới lớn tuổicó nhiều khả năng sinh con thừa 1 nhiễm sắc thể 21 dẫn đến hội chứng Down
- Chế độ dinh dưỡng của người mẹ kém, làm việc và nghỉ ngơi không hợp lí
hoặc bị ốm đau bệnh tật, căng thẳng sẽ khiến trẻ bị suy dinh dưỡng ngay khicòn ở bào thai và người mẹ có nhiều khả năng sinh non, sinh con không đủtháng, ảnh hưỏng đến sự phát triển của hệ thần kinh trung ương của trẻ.Thường các bà mẹ có mức tăng cân ở cuối thai kì thấp, dưới 6kg, chắc chắn làbào thai đã bị suy dinh dưỡng, khi sinh ra cân nặng của trẻ sẽ rất thấp Lý tưởng
là cuối thai kỳ (tức sau 9 tháng 10 ngày), bà mẹ phải tăng cân được 12kg trở lên(3 tháng đầu chỉ tăng 1kg, 3 tháng thứ hai tăng 5kg, 3 tháng cuối mỗi thángtăng 2kg) Số cân nặng này chia cho bào thai, rau thai, nước ối, và máu hết7,5kg, 5kg còn lại được chuyển vào mô mỡ dự trữ để tiết sữa nuôi con
- Suy dinh dưỡng xảy ra ở 3 tháng cuối của thai kì làm cho bộ não trẻ chậm phát
triển, sau này trẻ sẽ kém thông minh Trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai khi chàođời dễ bị hạ thân nhiệt, hạ đường máu gây rối loạn nhịp thở, hạ canxi máu gây
Trang 3co giật Nếu được nuôi dưỡng đúng, trẻ sẽ phát triển bình thường và đạt mứccân nặng như những trẻ khác sau 2-3 tháng Ngược lại, nuôi dưỡng không tốt,trẻ tiếp tục bị suy dinh dưỡng, trẻ ốm đau, quặt quẹo, còi cọc, chậm phát triểntrí tuệ, kém thông minh.
- Thêm nữa, một số thân chủ có lịch sử gia đình có bệnh hay có vấn đề về di
truyền cũng cần được đi kiểm tra tính di truyền Nhân viên công tác xã hội hỗtrợ thân chủ bằng cách dạy cho họ biết tiến trình phát triển của thai nhi vànhững hành vi nào thân chủ cần có để bảo vệ sức khỏe bà mẹ và con trẻ
- Những yếu tố khác cần xem xét bao gồm mức độ phát triển, mức độ cảm xúc,
chức năng nhận thức, tâm lý sẵn sàng làm cha mẹ, niềm tin tôn giáo, hoàn cảnhkinh tế, những vấn đề về tương quan gia đình (cụ thể là nếu có bạo lực gia đìnhthì đó là một vấn đề), tiếp cận các nguồn hỗ trợ và các tài nguyên khác, và sựchuẩn bị làm cha làm mẹ
thai
Vì có nhiều vấn đề có thể xảy ra với bào thai, cho nên việc chăm sóc tiền sinh sản
và sức khỏe bà mẹ hết sức quan trọng khi làm việc với thân chủ đang mang thai.Nhân viên công tác xã hội có thể giúp thân chủ ngăn ngừa được những hiểm nguy và
hỗ trợ thân chủ trong việc đối phó các vấn đề
Một số hiểm nguy đối với sự phát triển của bào thai gồm có:
- CÁC CHẤT KÍCH THÍCH
Rượu
Nicotine
Các chất bất hợp pháp như cocaine, thuốc phiện, heroin
- CHẤT ĐỘC HẠI TRONG MÔI TRƯỜNG
Chất phóng xạ
Thuốc trừ sâu
Hóa chất như chì, thủy ngân, pcb (polycholorinated biphenyls) có trongmáy biến thế và hội hoạ
Tia X
- CÁC YẾU TÔ LIÊN QUAN ĐẾN CHA MẸ
Bệnh tật ví dụ như rubella, giang mai, mồng gà, AIDS, vi rút cự bào
Chế độ dinh dưỡng kém
Stress
Tuổi tác (quá trẻ hoặc quá lớn tuổi)
Gien bất thường
Nhìn chung, thời kỳ mang thai đầy đủ kéo dài từ 38 đến 40 tuần Bé sinh trước 36tuần gọi là sinh non Dù trẻ được 21 tuần trở xuống trong bụng mẹ có thể sống sótnhưng trẻ sinh sớm sẽ có nhiều vấn đề về lâu về dài Trẻ sinh non thường có trọnglượng thấp, 2.500gr trở xuống Trong 1 năm đầu trẻ sinh non phát triển chậm hơn trẻsinh đủ tháng Khi trẻ 2 - 3 tuổi, sự khác biệt với trẻ bình thường biến mất nếu đượcchăm sóc tốt về y tế và điều kiện gia đình hỗ trợ tốt
- Trẻ sinh thiếu cân hay sinh non là do nhiều yếu tố như mẹ hút thuốc, bệnh tật
hay mang thai khi quá trẻ hay quá lớn tuổi, lạm dụng ma túy, suy dinh dưỡng,
Trang 4stress trầm trọng Chúng có thể bị các vấn đề như tổn thương não bộ, bại não.Hậu quả lâu dài của thiếu cân là khả năng nguy cơ tử vong cao, hen suyễn, tiểuđường, suy dinh dưỡng, đau tim, có vấn đề học tập, khuyết tật, rối loạn vànhược cơ
- Cũng cần lưu ý rằng, khi trẻ lọt lòng mẹ, thở là điều quan trọng nhất Trong
khoảnh khắc sau khi sinh trẻ sơ sinh phải lấy oxy từ chính phổi của mình Nếuthiếu oxy (do rối nhau, dây rốn nối với nhau bị kẹp hoặc phổi của bé không phảnứng tốt) tế bào bắt đầu chết, nhất là tế bào não gây giảm thiểu trí năng và liệt não
Tóm lại: Nhân viên công tác xã hội cần có những kiến thức nhất định về bào thai,
sinh con và hậu sản Thân chủ thường dựa vào những hiểu biết của nhân viên côngtác xã hội để quyết định Nhân viên công tác xã hội có thể hỗ trợ và giáo dục thânchủ nhiều trong giai đoạn mang thai Mặc dù hầu hết các kiến thức về phát triển củathai nhi được trình bày trên đây lấy từ mô hình y tế và tâm sinh xã hội, nhân viêncông tác xã hội có thể phối hợp các thông tin từ nhiều lý thuyết khác trong tiến trìnhcan thiệp để giúp hiểu rõ hơn việc mang thai và sự phát triển của bào thai ảnh hưởngthế nào đến thân chủ, và các mối tương quan xã hội của họ
III PHÂN TÍCH TRƯỜNG HỢP
H là một nữ sinh 18 tuổi vừa mới phát hiện có thai hai tháng tuổi Cha của đứa bé là bạn trai
19 tuổi của H Họ quen nhau được một năm Cả hai đang học đại học, có nhiều bạn bè và học hành tốt Cha mẹ của H có cái nhìn bảo thủ về gia đình, hẹn hò, hôn nhân, tôn giáo và vai trò của các thành viên trong gia đình Vì lý do đó, H sợ, không biết cha mẹ sẽ phản ứng ra sao nếu họ phát hiện em đang mang thai Thật ra cha mẹ của em còn không biết là em đang hẹn hò nữa Khi không thể chế ngự được những triệu chứng có vẻ như bệnh cảm, H mua que thử và biết mình có thai Em rất hoảng loạn, nửa muốn giữ lại thai nhi, nửa sợ rằng giữ lại thì cha mẹ sẽ chối bỏ mình
và không hỗ trợ gì Bạn trai của H nói với em rằng nó sẽ không giúp gì cho em nếu em quyết định giữ đứa bé lại H cũng không muốn bỏ học, vì thế em đang cố gắng khám phá mọi chọn lựa với bạn là nhân viên công tác xã hội
Tóm tắt ý chính: GIAI ĐOẠN THAI NHI
- Quá trình hình thành và phát triển của thai nhi theo từng quý trong đó quý thứ nhất đóng
vai trò quan trọng bậc nhất
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ trước khi sinh và sau này: sức khỏe thể
chất, tâm lý của cha mẹ, môi trường không an toàn và các biến chứng khi sinh là nhữngđiều cần lưu ý trong giai đoạn này
- Thực hành phân tích trường hợp một em gái 18 tuổi có thai được hai tháng nhằm nêu bật
nhu cầu bảo đảm sức khỏe thể chất, tâm lý và cảm xúc của thân chủ này
Trang 5Bài 2: GIAI ĐOẠN TỪ 0 ĐẾN 6 TUỔI
I THỜI KỲ SƠ SINH (0-2 THÁNG TUỔI)
Từ 0 - 2 tháng, trẻ rất yếu ớt, nếu tách khỏi người lớn thì không thể tồn tại được Não
bộ của trẻ nặng khoảng 400gram, lượng tế bào thần kinh khá đầy đủ nhưng các sợi dâythần kinh hoạt động còn rất hạn chế Trong thời gian này, trẻ có một số đặc điểm sau:
- Bộ máy thị giác và thính giác của trẻ sơ sinh trong thời gian đầu hoạt động
chưa hoàn thiện, chỉ khi ở khoảng cách gần nhất mới gây ra phản ứng nhìn vànhững âm thanh chói tai mới gây ra phản ứng nghe nơi trẻ Tuy nhiên hai bộmáy này cùng với sự phản ứng đối với các vật kích thích bên ngoài sẽ đượchoàn thiện nhanh chóng trong những tuần lễ và những tháng đầu tiên dựa trên
cơ sở trưởng thành của hệ thần kinh Trọng lượng của não tăng lên nhanhchóng, các dây thần kinh lớn lên và hoàn thiện hơn giúp các giác quan và khảnăng vận động phát triển
- Sự phát triển này còn diễn ra dưới ảnh hưởng của những ấn tượng bên ngoài mà
đứa trẻ tiếp nhận được Điều kiện cần thiết cho sự trưởng thành của não trongthời kì sơ sinh là luyện tập các giác quan cho trẻ bằng cách tạo nhiều cơ hội đểcác tín hiệu muôn hình muôn vẻ bên ngoài xâm nhập vào não bộ của trẻ thôngqua các giác quan đó Nếu đứa trẻ bị rơi vào tình trạng “biệt lập cảm tính”(không có đủ số lượng ấn tượng kích thích bên ngoài) thì sự phát triển của nó bịchậm lại một cách rõ rệt
Hầu hết trẻ sơ sinh được chuẩn bị tốt để tương tác với thế giới xung quanh thôngqua một tập hợp các phản xạ không điều kiện đa dạng như:
Phản xạ Babinski Ngón chân xòe ra khi bàn chân bị cù từ gót đếnngón chân (Trẻ bị tổn thương cột sống không có
phản xạ này)
Có thể là tàn dư của
sự tiến hóa
Phản xạ Moro Bé duỗi thẳng cánh tay ra ngoài rồi sau đó hướngvào bên trong (như ôm) để phản ứng với tiếng ồn Giúp bé bám chặt mẹLòng bàn tay Bé nắm chặt đồ vật khi người khác đặt vào lòngbàn tay Dấu hiệu nắm bắt tự ýPhản xạ cơ bản
(Phản xạ tìm kiếm)
Khi khều má bé, bé ngoảnh mặt sang bên má bị
Phản xạ bú Bé bú khi người khác đưa đồ vật vào miệng Cho phép nuôi ăn
Phản xạ rút chân Bé rút bàn chân khi lòng bàn chân bị người khácdùng kim gút cù nhẹ (Trẻ bị tổn thương dây thần
kinh hông không có phản xạ này)
Bảo vệ bé tránh kích thích khó chịu
Trang 6Nếu bé không có được những phản xạ cơ bản trên, người chăm sóc phải để ý vàtìm hiểu nguyên nhân để có hướng can thiệp càng sớm càng tốt
Trong tháng đầu tiên, trẻ dành 80% thời gian để ngủ Trẻ ngủ từ 18 - 20 giờ mỗingày Chu kỳ thức ngủ của trẻ sơ sinh khoảng mỗi 4 tiếng (ngủ 3 tiếng, thức 1tiếng), sau đó lại bắt đầu một chu kỳ mới Trong giai đoạn này, trẻ có 6 trạng tháicần phải quan tâm:
- Ngủ ngon, say, hơi thở đều, mắt nhắm nghiền tốt
- Ngủ không sâu, người co giật, hơi thở mạnh không đều cần dỗ dành
- Ngủ lơ mơ, chập chờn không tốt, cần để ý nguyên nhân
- Thức tỉnh táo, nằm yên không ngọ nguậy nhiều tốt
- Thức và cử động nhiều, ngọ nguậy khó chịu có thể chậm tăng cân và ảnh
hưởng đến tâm lý
- Kêu khóc, gào thét cao độ, gồng người trẻ gặp vấn đề bất an, khó chịu
Tiếng khóc là biểu hiện sự giao tiếp đầu tiên của trẻ với người lớn Có ba loạitiếng khóc dễ phân biệt (Holden, 1988):
- Tiếng khóc cơ bản bắt đầu thật khẽ sau đó dần dần mãnh liệt hơn diễn ra khi
trẻ đói hoặc mệt
- Tiếng khóc bực bội mãnh liệt hơn tiếng khóc cơ bản
- Tiếng khóc đau đớn bắt đầu bằng một loạt tiếng khóc đột ngột, kéo dài, tiếp
theo là sự tạm ngưng và thở hổn hển
Qua tiếng khóc, trẻ cho người lớn biết nó đói hoặc mệt, giận dữ hoặc đau
- Nhu cầu gắn bó
Đối tượng đầu tiên mà trẻ chú ý tới trong môi trường xung quanh là gươngmặt người lớn Ở trẻ hình thành phức cảm hớn hở Đây là phản xạ xúc cảm cókèm theo sự vận động và âm thanh phát ra từ đứa trẻ Khi phát hiện ra ngườilớn, trẻ chủ động dùng loại phản xạ này để tác động đến họ Đặc biệt, đối với
mẹ, trẻ có nhu cầu gắn bó đặc biệt Ngay từ khi lọt lòng mẹ, trẻ đã bắt được tínhiệu sự gắn bó giữa mẹ - con qua xúc giác Trẻ mút, bám, khóc, mỉm cười, rúcđầu vào ngực mẹ, tìm vú và muốn được áp sát vào mẹ được ôm ấp vỗ về.Thông qua những tín hiệu phát ra từ mẹ và con, nhiều công trình đã tổng kếtđược 4 kiểu quan hệ mẹ con:
Kiểu thứ nhất: Tín hiệu phát ra ở cả mẹ và con đều mạnh, nghĩa là nhu cầu
gắn bó mẹ con điều tỏ ra bức thiết, mối quan hệ gắn bó mẹ con được thiết
lập dễ dàng (kiểu này phổ biến ở những cặp mẹ con sinh nở bình thường, xuất phát từ lòng ước ao mong đợi của người mẹ đón chờ sự ra đời của đứa con) Kiểu này thuận lợi cho sự phát triển tâm lí của trẻ sau này.
Kiểu thứ hai: Tín hiệu phát ra từ mẹ thì mạnh, nhưng từ con lại yếu Thường
đây là những trẻ thiếu tháng hoặc khuyết tật bẩm sinh Người mẹ không nêngiao tiếp với con quá mạnh mẽ hoặc hối hả, mà nên nhẹ nhàng, từ tốn, nênthường xuyên trò chuyện với trẻ, kiên trì chờ tín hiệu con đáp lại
Kiểu thứ ba: Tín hiệu của con mạnh, nhưng của mẹ lại yếu Kiểu này
thường xẩy ra ở những người mẹ mang tâm trạng riêng tư, phiền muộnchán chường dẫn đến thái độ thờ ơ với con, không muốn âu yếm vỗ về nó
Trang 7Theo đó tín hiệu của đứa con phát ra cũng yếu dần đi, có khi mất hẳn, trẻrơi vào trạng thái ủ ê mệt mỏi, thu mình lại.
Kiểu thứ tư: Tín hiệu phát ra đều yếu ở mẹ và con Đây thực sự là tai họa,
cần có sự tác động của thầy thuốc và những người xung quanh
Tạo được sự gắn bó mẹ con ngay từ những ngày đầu trẻ mới ra đời là cáchphòng ngừa tốt nhất, tránh cho trẻ nguy cơ chậm phát triển và những lệch lạcvề sinh lí cũng như tâm lý sau này Nhu cầu gắn bó mẹ - con là cơ sở cho nhucầu giao tiếp về sau của trẻ với những người xung quanh Mẹ là nguồn gây ấntượng và là người tổ chức ấn tượng bên ngoài cần thiết cho sự phát triển thầnkinh và các giác quan tâm lí cho trẻ Nhiều nghiên cứu cho thấy những đứa trẻthiếu sự yêu thương của người mẹ từ nhỏ thường sống trong tình cảnh cô đơn,
lo lắng và sợ hãi sẽ mặc cảm trong giao tiếp với người khác
- Nhu cầu tiếp nhận ấn tượng thế giới bên ngoài
Nhu cầu tiếp thu ấn tượng từ thế giới bên ngoài là cơ sở của các nhu cầu xãhội khác như nhu cầu giao tiếp và nhu cầu nhận thức sau này của trẻ Nhucầu này gắn liền với phản xạ định hướng Trẻ nhìn theo các vật sáng diđộng, nó phản ứng với âm thanh, đặc biệt giọng nói của người mẹ Trẻ cóthể nín khóc để lắng nghe tiếng hát ru, giọng dịu dàng của người lớn Trẻtập trung nghe âm thanh, nhìn ánh sáng, màu sắc Trẻ sơ sinh tháng thứ haiđã bắt đầu chú ý đến khuôn mặt người lớn, trẻ thường mỉm cười khi ngườilớn cúi xuống trò chuyện với nó Người lớn cần đưa các ấn tượng bên ngoàiđến trẻ Nếu đứa trẻ bị "đói ấn tượng" nó sẽ chậm phát triển một cáchnghiêm trọng (hội chứng "nằm viện")
- Khủng hoảng tuổi sơ sinh là một bước chuyển biến giữa hình thức sống kí sinh
trong bụng mẹ - một môi trường tương đối ổn định, sang hình thức sống bênngoài trong môi trường với vô số kích thích Đối với trẻ, ra đời là một cú sốc,mặc dù chúng không có một ý thức nào về việc này Các nhà phân tâm học gọiđó là tổn thương đầu tiên mà trẻ phải chịu đựng và nó có tác động rất mạnh đếncả cuộc đời sau này của con người Đó là một sự đảo lộn hoàn toàn sự cânbằng, kéo theo sự biến đổi sâu sắc Không chỉ chịu mọi sức ép và những nhữngcơn co thắt, mà trẻ còn chịu một trạng thái nặng nề đột ngột từ một môi trườngchất lỏng qua môi trường không khí, cũng như đột ngột bị nhiễm lạnh Nhu cầuoxy làm cho hoạt động hô hấp bắt đầu, việc hít không khí lần đầu có lẽ là đauđớn, kèm theo tiếng khóc đầu tiên
- Vì thế sau khi ra đời, trẻ cần một giai đoạn thích nghi, cần được ở trong bầu
không khí tâm lí bình yên, được bảo vệ, che chở ấm áp tình cảm của người mẹ.Thiếu sự an toàn, cảm xúc của trẻ sẽ bị rối loạn Cần lưu ý, trong tháng đầu tiên,nên hạn chế cho trẻ tiếp xúc với người lạ để tránh bất an và vi khuẩn cho trẻ
II THỜI KỲ HÀI NHI (3 - 12/15 THÁNG)
1 Sự phát triển vận động
- Sự phát triển vận động thô
Sự vận động thô ở trẻ được diễn tiến như sau:
Trang 8các vận động
3 tháng tuổi Với tay về phía đồ vật như là vẫy
8 tháng tuổi Tự ngồi, không cần sự trợ giúp
10 tháng tuổi Bò bằng bàn tay và đầu gối, đi được nhờ người lớn giữ hai tay
là bước ngoặt trong sự phát triển của trẻ năm đầu đời Hành động cầm nắmcó vai trò quan trọng trong sự phát triển tâm lí của trẻ: Bàn tay trở thành cơquan xúc giác, bàn tay biết "khám phá" Sự cầm nắm được thực hiện dưới
sự kiểm tra của mắt: Trẻ nhìn theo tay, theo dõi tay chuyển động về phía đồvật Khi tác nhân kích thích lọt vào mắt trẻ, hình ảnh chưa có Hình ảnh chỉxuất hiện khi có sự tiếp xúc giữa sự sờ mó bằng tay lên chính đồ vật Cầmnắm đồ vật cũng là sự phối hợp hoạt động của tay và mắt Nhờ động táccầm nắm mà đôi tay phát triển, bắt đầu có sự đặt ngón cái đối diện với cácngón còn lại
Trẻ 4 - 7 tháng, xuất hiện hành động dịch chuyển, lay động đồ vật, gõ lắctạo ra âm thanh Khoảng 7 - 10 tháng, hình thành các động tác phối hợp:cầm nắm hai vật cùng một lúc, đẩy chúng ra xa Cuối thời kỳ hài nhi (10 -
11 tháng đến 14 tháng) xuất hiện hành động chức năng: đặt cạnh, xếpchồng, lồng hộp, xâu chuỗi, xỏ các vật Cầm nắm, hướng tới đồ vật, lànhững hành động kích thích tư thế ngồi của trẻ Khi trẻ ngồi được, trướcmắt trẻ xuất hiện nhiều đồ vật khác nhau Trẻ bị lôi cuốn, nó với tới đồ vật,nhưng để chạm đến đồ vật được, nó phải nhờ sự giúp đỡ của người lớn.Nhờ vậy, giao tiếp có được sắc thái mới, nó trở thành sự giao tiếp có chủđích (vì đồ vật)
2 Sự phát triển hoạt động giao tiếp
- Giao tiếp xúc cảm trực tiếp (2 - 6 tháng): Trẻ tìm kiếm sự quan tâm, âu yếm của
người lớn (biểu hiện của nhu cầu giao tiếp) bằng cách nhìn chằm chằm vàongười lớn, cử động chân tay, phát ra những âm thanh nho nhỏ, vui vẻ khi ngườilớn đến gần nói chuyện (hóng chuyện)… Người lớn ở bên trẻ cần trò chuyện,mỉm cười, kể chuyện cho trẻ nghe, đừng băn khoăn về việc trẻ không hiểu hếtnhững điều người lớn nói
Trang 9- Giao tiếp tình huống công việc (bắt đầu từ nửa sau của năm thứ nhất): trẻ
không chỉ thỏa mãn bởi giao tiếp với người lớn bằng những cái vuốt ve mà còncần người lớn hợp tác với nó trong công việc Trẻ tìm kiếm người lớn, đòi hỏimột sự quan tâm từ phía họ Trẻ mong chờ người lớn tỏ thái độ với những gì nólàm, và chủ động tham gia vào công việc của nó (làm/chơi cùng nó)
- Trong thời kì hài nhi, giao tiếp cảm xúc trực tiếp với người lớn được coi là điều
kiện tiên quyết để trẻ trở thành người Nhờ hoạt động chủ đạo này trẻ có nhữngcảm xúc tích cực, có đời sống tâm lí ổn định Qua giao tiếp với người lớn, sựphát triển ngôn ngữ cũng dần được hình thành Bên cạnh đó, trong quá trìnhgiao tiếp, người lớn luôn hướng dẫn, uốn nắn, đánh giá hành vi của trẻ (bằng nụcười bằng lòng hay vẻ mặt không đồng ý) và trẻ nhận ra hành vi của mình đúnghay không đúng để từ đó học được thói quen tốt và cách ứng xử phù hợp
3 Cấu trúc tâm lý mới của tuổi hài nhi
- Một loạt các hành động ở tuổi hài nhi thúc đẩy sự phát triển tâm lý nơi trẻ Việc
cầm nắm đồ vật cho phép trẻ thực sự làm chủ thế giới ngay bên cạnh, đem lạinhững vận động cho bàn tay, những kinh nghiệm (tự ăn/bị bỏng, bị kẹp), và ýmuốn vận động Có hành động với đồ vật mới giúp trẻ tìm hiểu các đối tượng,các thuộc tính của chúng và có được những ấn tượng mới Các hoạt động ngồi,đứng, bò rồi đi có giá trị phá vỡ tình huống phát triển cũ Khi trẻ biết đi, cáichính không phải là sự mở rộng không gian tiếp xúc của trẻ, mà là trẻ đã táchmình khỏi người lớn, thể hiện sự di chuyển độc lập đầu tiên Bây giờ không phải
mẹ dẫn dắt trẻ, mà là trẻ dẫn mẹ đến nơi nó muốn Hoạt động này giúp trẻ mởrộng tầm nhìn, gia tăng khả năng hành động, và có được những kinh nghiệm đủloại Tuy nhiên cần lưu ý để xa những vật nguy hại khỏi tầm tay của trẻ
- Việc phát ra các từ vựng đầu tiên cũng có một ý nghĩa đặc biệt Đó là thứ ngôn
ngữ tự cảm và chỉ có những người thân mới hiểu, ngôn ngữ này đặc thù ở cấutrúc, nó hình thành từ những âm của từ Các nhà tâm lý học gọi nó là "tiếng vúem" Ngôn ngữ này là tiêu chí chứng tỏ tình huống xã hội của sự phát triển cũđã bị phá vỡ
III THỜI KỲ ẤU NHI (1 - 3 TUỔI)
- Khi trẻ em 3 tuổi, não của nó cân nặng 1.200 gram, gần bằng não người lớn
(1300 - 1400 gram) Tư thế đứng thẳng người và những bước đi ban đầu từcuối năm thứ nhất bây giờ đã vững chãi hơn Trẻ không chỉ đi được mà cònchạy nhảy trong một không gian ngày càng mở rộng Khả năng di chuyển có ýnghĩa quan trọng đối với sự phát triển tâm lý, dẫn tới khả năng giao tiếp với thếgiới bên ngoài rộng rãi hơn, độc lập hơn, tự chủ hơn Trẻ 3 tuổi đã bắt đầu cókhả năng tự phục vụ và tham gia vào các mối quan hệ qua lại với những ngườilớn xung quanh
- Sự phát triển ngôn ngữ
Giai đoạn ấu nhi là giai đoạn ngôn ngữ ở trẻ phát triển rất nhanh theo hướngtăng vốn từ, và hiểu cấu trúc ngữ pháp qua giao tiếp với người lớn và qua cáchoạt động với đồ vật Từ vựng của trẻ vừa có ý nghĩa chỉ đối tượng cụ thể vừacó ý nghĩa khái quát hóa Tạo hình và đồ chơi có vai trò lớn trong quá trìnhnày Trong tạo hình, trẻ chỉ hình vẽ thay cho đồ vật thật, trong vui chơi trẻ gọighế là ngựa Ngôn ngữ làm phát triển trí tuệ, giải phóng trẻ khỏi sự phụ thuộc
Trang 10vào tri giác Ngôn ngữ tham gia vào quá trình trí nhớ, tư duy và tưởng tượngcủa trẻ
- Sự phát triển tư duy
Ở trẻ ấu nhi tư duy chủ yếu là tư duy trực quan hành động Những biểu hiện
tư duy gắn rất chặt với hành động trong những tình huống cụ thể Trẻ biết sửdụng mối liên hệ giữa đối tượng để đạt tới mục đích Chẳng hạn trẻ kéo cáirổ để lấy quả cam đựng trong đó, kéo cái khăn trải bàn để lấy cái ly Trẻcũng khám phá ra rằng những đối tượng khác nhau có thể được sử dụng bằngcách thức giống nhau Ví dụ có thể dùng cây gậy để khều quả cam ở gầmgiường, chọc quả chuối ở trên cao, hoặc hích trái banh từ góc này sang góckhác v.v Tính khái quát ban đầu của công cụ, và của kinh nghiệm hành độngxuất hiện từ đây, làm nền tảng quan trọng cho sự phát triển tư duy sau này
- Quá trình xuất hiện "Cái tôi" và tiền đề của sự hình thành nhân cách của trẻ
Cùng với sự hình thành của "cái tôi", tính tự ý thức cũng manh nha ở thờikỳ này Trẻ thường tự cố gắng trong hành động để được người lớn khenthưởng Trẻ mong muốn người lớn thừa nhận, khen ngợi những nỗ lực củanó Lời ngợi khen và tán thưởng của những người xung quanh là nguồn cổvũ quan trọng giúp trẻ hình thành tình cảm tự hào, sự tự khẳng định mình.Chúng còn giúp trẻ tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với nhữngchuẩn mực mà người lớn qui định Từ đó, trẻ phát triển cái tốt, cái đúng vàhạn chế cái xấu, cái sai Đây là điều kiện góp phần hình thành nhân cáchsau này của trẻ
Ở độ tuổi này, hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động với đồ vật Hoạt động nàygiúp trẻ học biết được đặc điểm và phương thức sử dụng đồ vật Hoạt động với đồvật gồm hai loại hành động:
- Hành động thiết lập mối tương quan: Là hành động đưa hai hoặc nhiều đối
tượng (hoặc các bộ phận của chúng) vào mối tương quan nhất định trong khônggian Ví dụ trẻ có thể xếp chồng được các khối gỗ thành hình tháp Khi xếp trẻphải tính đến những thuộc tính của các đối tượng và thiết lập mối tương quancủa chúng sao cho khối gỗ to nhất ở dưới cùng và khối gỗ nhỏ dần ở phía trên.Trẻ có thể xâu chuỗi hạt theo thứ tự các màu xanh - đỏ - vàng Đây là nhữnghoạt động khá phức tạp đối với trẻ Ban đầu chúng thường xếp lung tung và
Trang 11nhờ người lớn giúp bằng cách làm mẫu Về sau, trẻ tự làm theo lối thử – phạmlỗi rồi dần làm được Nhờ thế, các chức năng tâm lý như trí nhớ, tư duy, trítưởng tượng phát triển mạnh
- Hành động công cụ: Là hành động trong đó một đồ vật nào đó được sử dụng
như một công cụ để tác động lên đồ vật khác Ví dụ trẻ dùng muỗng để xúccơm, dùng que để khều banh Việc sử dụng công cụ đòi hỏi bàn tay thao táckhéo léo và giúp trẻ biết được mục đích của hành động và chức năng của công
cụ Ví dụ sau khi trẻ uống nước trong ly, trẻ mới hiểu mục đích sử dụng ly là đểuống nước
Trong khi học biết cách thức sử dụng các đồ vật sinh hoạt hằng ngày, trẻ cũng họcđược những qui tắc hành vi xã hội Một đứa trẻ khi giận dỗi có thể ném cái ly nướcxuống sàn, nhưng bằng kinh nghiệm của mình (thông qua thái độ của người lớn) dầndần nó nhận ra đó là một hành vi không đúng, không phù hợp với qui tắc sử dụng đồvật và lần sau, "lỡ" có làm như vậy, nó tỏ ra sợ hãi khi nhìn vào mặt người lớn.Những qui tắc ứng xử xã hội sẽ được hình thành dần dần như vậy
Khủng hoảng 3 tuổi là khủng hoảng về quan hệ xã hội Mọi khủng hoảng quan hệxã hội đều là khủng hoảng đề cao "cái tôi" của bản thân Trong tác phẩm "Về nhâncách trẻ 3 tuổi", V.Keler mô tả sự khủng hoảng tuổi lên 3 với các hiện tượng cơ bảnsau:
- Bướng bỉnh: trẻ kiên quyết tìm cách thỏa mãn đòi hỏi của bản thân, khăng
khăng giữ quyết định của mình
- Ngang ngạnh: Gần giống với sự bướng bỉnh nhưng nó có đặc điểm đặc trưng
là tính công khai và tính thiếu cá tính Trẻ phản kháng lại trật tự trong gia đình,lăn ra ăn vạ, đập đầu, đạp tứ tung để đạt được mục đích
- Tự tiện: đây là xu hướng giải thoát khỏi người lớn Trẻ muốn tự làm mọi thứ
giống người lớn Trước mặt người lớn trẻ tỏ ra ngoan ngoãn, sau lưng ngườilớn trẻ lén làm mọi thứ
- Vô lễ với người lớn: Trẻ có thể nói người lớn “Đồ ngu” hay xưng “mày, tao”
với người lớn
- Chống đối: Tất cả hành vi của trẻ đều thể hiện sự chống đối, dường như trẻ
luôn nằm trong trạng thái chiến tranh với người xung quanh, ẩu đả với ngườilớn Có trẻ sẵn sàng cắn lại người lớn để không phải làm theo mệnh lệnh của họ
- Chuyên quyền: ở những gia đình có độc nhất một trẻ, chúng ta sẽ gặp phải xu
hướng chuyên quyền ở trẻ Trẻ tỏ ra có áp lực chuyên quyền trong quan hệ vớitất cả mọi cái xung quanh và nó đưa ra hàng loạt các phương thức chuyênquyền Trẻ có thể khóc ré lên, hoặc khóc tỉ tê, hoặc làm bộ mếu, hoặc dãy đànhđạch để điều khiển người lớn theo ý mình Những lúc như vậy, trẻ thườngliếc trộm người lớn xem phản ứng của người lớn để điều chỉnh phương thứcchuyên quyền của mình
Trang 12IV TUỔI MẪU GIÁO (3 - 6 TUỔI)
Ở trẻ từ 3 đến 6 tuổi có sự phát triển nhanh chóng về mặt sinh học Trọng lượngcủa não tăng nhanh chóng (từ 1.100 gram lên 1.300 gram), xương chắc chắn hơn, cơquan hô hấp và tuần hoàn, và các bộ máy nhận cảm phát triển mạnh
Đây là giai đoạn phát triển của cảm giác, tri giác, tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữmạnh mẽ
- Theo Piaget, khi trẻ lên 4 tuổi, có một sự chuyển biến trong tư duy Tư duy
của trẻ lúc này có mang màu sắc của sự suy luận dựa trên những biểu tượng cụthể về thế giới khách quan Những suy luận này gắn chặt với hành động, bị chiphối bởi những ý nghĩ chủ quan, còn chưa xác đáng Ví dụ: nước biển mặn vìngười ta bỏ muối vào, những người mặc áo bơ-lu trắng đều là bác sĩ… Tuynhiên đây là công cụ mạnh mẽ giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, tích lũyphong phú các biểu tượng bảo đảm cho việc chuyển sang loại tư duy tiền thaotác ở giai đoạn sau
- Vào 5 - 6 tuổi ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo phát triển mạnh, đạt chất lượng cao cả
về mặt phát âm, vốn từ và những hình thức ngữ pháp Điều cần lưu ý là quátrình tưởng tượng phát triển rất mạnh ở lứa tuổi này, thể hiện trong trò chơi,trong các bức vẽ, trong các câu chuyện "bịa" của trẻ Các trò chơi phân vai theochủ đề giúp trẻ tưởng tượng ra nhiều nhân vật đặc sắc
- Trí tưởng tượng của trẻ đầu tuổi mẫu giáo chủ yếu là không chủ định Những gì
làm trẻ xúc động mạnh sẽ trở thành đối tượng của tưởng tượng Do ảnh hướngcủa trò chơi, trẻ "sáng tác" những truyện cổ tích, nhiều trẻ khi "sáng tác" màchưa biết câu truyện của mình sẽ nói về cái gì Trí tưởng tượng có chủ địnhhình thành ở trẻ mẫu giáo lớn trong quá trình phát triển các dạng hoạt độngsáng tạo (vẽ, nặn, thiết kế trong xây dựng và kể chuyện) Trong các hoạt độngnày có sự điều chỉnh hành vi của trẻ bằng ngôn ngữ (Trẻ tự nghĩ ra khúc cuốicủa một câu chuyện, sáng tác truyện theo chủ đề, vẽ tranh theo mục đích đặt ratừ trước)
hội
Trẻ mẫu giáo bắt đầu đi học nên mối liên hệ xã hội của trẻ có những thay đổi quantrọng Hoạt động cùng nhau ở giai đoạn trước được thay thế bằng việc thực hiệnnhững nhiệm vụ độc lập theo những lời chỉ dẫn của người lớn Trẻ phải hoàn thànhmột số nghĩa vụ sơ đẳng đối với bản thân và những người xung quanh Trẻ một mặtngày càng tách mình ra khỏi người lớn, mặt khác muốn bắt chước để xử sự nhưngười lớn Trẻ phân biệt được đồ vật của mình, việc làm của mình với đồ vật, việclàm của người khác: "Cái này của con, cái đó của mẹ", "Mình làm việc này, bạn làmviệc khác” Như vậy, trong suốt tuổi mẫu giáo "cái tôi" phát triển mạnh và dần dầntrở thành ý thức về bản thân
Nhân cách là tổ hợp các thuộc tính tâm lý ổn định và tuổi mẫu giáo là tuổi xây nềnnhân cách Nhìn vào trẻ, người ta có thể biết được cá tính của nó ra sao Nhân cáchcủa trẻ được hình thành qua bắt chước và qua sự giáo dục của người lớn Nếu người
Trang 13lớn chuẩn mực, trẻ bắt chước được điều hay Nếu người lớn giáo dục đúng cách, trẻsẽ có nhiều đức tính tốt
Tính cách của trẻ mẫu giáo thể hiện qua:
- Hành động hợp đích: Trẻ ráng ăn để được đi chơi
- Các loại tình cảm cấp cao khác với con vật ở cấp thấp:
Tình cảm đạo đức : những rung cảm, xúc cảm của con người trên nhữnghành vi đạo đức Trẻ có thái độ tương ứng đối với hành vi - tốt thì khenngợi, tự hào; xấu thì chê bai, căm ghét Trẻ bắt đầu có tiếng nói lương tâm,lương tri (trẻ ghét các nhân vật ác trong phim, trong kịch) Nếu bị hạn chế,
sự phát triển nhân cách về sau sẽ tệ hại Ví dụ trẻ dỗ dành bạn bằng cáchcho đồ chơi và bị bố mẹ mắng là ngu thì tình cảm đạo đức bị giập tắt Vềsau, trẻ có thể vô cảm, không có tình người
Tình cảm trí tuệ : Trẻ thích tìm hiểu thế giới xung quanh, tự khám phá, đặtnhiều câu hỏi (búp bê có mỏi mắt không, tại sao con gà lại chỉ có hai chântrong khi con chó lại có bốn chân!?!)
Tình cảm thẩm mỹ : Trẻ đều cảm nhận được và có thái độ trước cái đẹp, cáixấu, cái bi, cái hài, cái hào hùng Đẹp - trầm trồ, xấu - gớm, anh hùng -ngưỡng mộ, làm theo, hài - cười, bi - buồn
Vui chơi là hoạt động chủ đạo ở tuổi mẫu giáo Trong trò chơi, trẻ thể hiện ướcvọng làm người lớn Chúng phân vai theo chủ đề (ví dụ trò bác sĩ - bệnh nhân, côgiáo - học trò, ba - mẹ - con…) và mô phỏng theo đời sống lao động của người lớncùng với những mối quan hệ xã hội của họ Chính trong khi vui chơi, trẻ nhận ranhững nghĩa vụ, quyền hạn của con người trong xã hội, học các đức tính tốt và các
kỹ năng (ví dụ sự đồng cảm, lòng nhân ái, tính tự lập, hợp tác, chủ động, lãnhđạo….) Các hoạt động mang tính mỹ thuật, tạo ra sản phẩm nhất định (ví dụ như vẽ,nặn, ghép hình, xây dựng….) cũng rất quan trọng, góp phần hình thành và phát triểntrí tuệ, năng lực sáng tạo, óc thẩm mỹ và nhân cách ở giai đoạn này
- Ở lứa tuổi mẫu giáo, hoạt động học tập đang ở thời kì sơ khai Trẻ được tiếp thu
một lượng tri thức chung về thế giới xung quang do trực tiếp nhìn, nghe, quatranh ảnh, chuyện kể… Những tri thức này làm nảy sinh tính ham hiểu biết,hứng thú nhận thức nơi trẻ mà biểu hiện của nó là việc trẻ không ngừng đặt câuhỏi Tuy nhiên cần chú ý rằng hoạt động học tập của trẻ ở giai đoạn này chưađặt nặng vấn đề cung cấp kiến thức và mà chỉ chuẩn bị cho trẻ các kỹ năng họctập về sau (lắng nghe, chú ý, giữ trật tự….) Vì thế không nên thúc giục trẻ họcquá sớm
- Trẻ mẫu giáo thực hiện các nhiệm vụ lao động đơn giản: lao động tự phục vụ
(để dép lên kệ, xếp ghế, lau mặt, đánh răng, ), lao động phụ giúp người lớn (bêthức ăn, dọn bàn…), chăm sóc cây cối, vật nuôi, làm các đồ vật và đồ chơi đơngiản (bằng giấy, vải vụn, hột hạt…) Lao động có những ý nghĩa nhất định cho
sự phát triển nhân cách về sau Qua lao động trẻ học cách hợp tác, quan tâm vàchia sẻ trách nhiệm Trẻ ham làm thì chừa thói xấu, lười biếng, ỷ lại và biếtđược giá trị sức lao động
Trang 14Tóm tắt ý chính: GIAI ĐOẠN TỪ 0 ĐẾN 6 TUỔI
Ngoài việc lưu ý đến những sự phát triển thể chất ở từng độ tuổi, cần quan tâm đếnnhững điểm sau:
- Thời kỳ sơ sinh (0 - 2 tháng tuổi): trẻ cần một giai đoạn thích nghi, cần được ở trong bầu
không khí tâm lí bình yên, được bảo vệ, che chở ấm áp tình cảm của người mẹ Thiếu sự
an toàn, cảm xúc của trẻ sẽ bị rối loạn
- Thời kỳ hài nhi (3 - 12/15 tháng): giao tiếp cảm xúc trực tiếp với người lớn được coi là
điều kiện tiên quyết để trẻ trở thành người - phát triển những cảm xúc tích cực, có đờisống tâm lí ổn định, hình thành ngôn ngữ, học được thói quen tốt và cách ứng xử đúng
- Thời kỳ ấu nhi (1 - 3 tuổi): Trẻ thường tự cố gắng trong hành động để được người lớn
khen thưởng, thừa nhận Lời ngợi khen và tán thưởng của những người xung quanh lànguồn cổ vũ quan trọng giúp trẻ hình thành tình cảm tự hào, sự tự khẳng định mình vàgiúp trẻ tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức
- Tuổi mẫu giáo (3 - 6 tuổi): Vui chơi là hoạt động chủ đạo góp phần hình thành và phát
triển trí tuệ, năng lực sáng tạo, óc thẩm mỹ và nhân cách ở giai đoạn này
Trang 15Bài 3: GIAI ĐOẠN NHI ĐỒNG (TUỔI HỌC SINH CẤP I)
Tuổi nhi đồng là ở độ tuổi 7 đến 12 tuổi Đây là lúc sự trưởng thành và phát triển của thểchất, nhận thức và kỹ năng vận động tiếp tục hình thành và ổn định Trong suốt giai đoạnnày, trẻ tham gia vào thế giới bên ngoài với chúng bạn càng lúc càng nhiều và trẻ quan tâmđến sự thành đạt và tự kiểm soát mình
I SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT
- Trẻ cấp 1 gia tăng chiều cao, trọng lượng, cơ bắp và các kỹ năng phối hợp Bộ
xương vẫn tiếp tục phát triển, trong đó cột sống có những thay đổi lớn: độ cong ởcổ, ở ngực, ở thắt lưng hình thành tạo ra độ mềm dẻo, linh hoạt hơn trong cử động.Các dây chằng, cơ bắp được tăng cường Các đốt ngón tay được hoàn thiện Cơ timphát triển mạnh và được cung cấp đủ máu nên trong não trẻ có sẵn năng lượng hoạtđộng khá hơn tuổi mẫu giáo Trọng lượng của não tăng gần bằng người lớn với cấutrúc hoàn thiện, đặc biệt thùy trán rất phát triển, tạo điều kiện cho việc hình thànhnhững chức năng tâm lý bậc cao Răng cố định và xương trở nên cứng cáp hơn Cầnlưu ý rằng vệ sinh răng miệng và thói quen dinh dưỡng trong thời gian này sẽ ảnhhưởng rất lớn đến cuộc sống sau này của trẻ
- Trẻ tiếp tục phát triển các kỹ năng vận động như chạy, nhảy, leo trèo và các hoạt
động khác sử dụng ngón tay và bàn tay Mặc dù trẻ có thể ngồi yên và tham giacông việc, chúng cần các hoạt động thể chất để tiếp tục phát triển các kỹ năng vậnđộng Vi tính, ti vi và các phương tiện điện tử khác làm giảm đi sự phát triển các kỹnăng tinh xảo của trẻ và làm cho trẻ béo phì và sinh ra những vấn đề khác sau này.Đây là lúc trẻ cần có sự quân bình giữa hoạt động thể chất và trí tuệ cũng như cóchế độ dinh dưỡng và những thói quen tích cực để gia tăng sức khỏe về lâu về dài
II SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ
- Về mặt nhận thức, trẻ tiếp tục phát triển kỹ năng phản hồi và khả năng suy nghĩ
linh hoạt và phức tạp hơn trước Trẻ nhớ lâu, tập trung và có khả năng suy đoánđược chi tiết của công việc được giao Khả năng nối kết thông tin mới với nhữngkiến thức có sẵn có khuynh hướng gia tăng trong giai đoạn này Trẻ cũng có khảnăng hiểu sự việc ở mức độ sâu xa hơn và so sánh, đánh giá thông tin ở nhiều khíacạnh khác nhau Tuy nhiên khả năng chú ý ở trẻ còn kém, dễ bị cuốn hút điều mới
lạ, dễ phân tán, hay liên tưởng nên hay hỏi chuyện khác trong khi học
- Đời sống xúc cảm, tình cảm của học sinh nhỏ khá phong phú, đa dạng và cơ bản là
mang tính tích cực Trẻ sống hồn nhiên, hướng thiện Trẻ rất vui mừng vì có bạn, tựhào vì được gia nhập Đội, hãnh diện vì được giáo viên giao cho những công việc cụthể Trẻ tiếp tục phát triển khả năng tự đánh giá bản thân và cảm xúc Ban đầu, trẻđánh giá bản thân dựa vào những đặc điểm bên ngoài như tuổi tác, màu mắt, màutóc Về sau, trẻ nhìn vào những đặc điểm bên trong để đánh giá bản thân Ví dụ trẻ
mô tả mình là tử tế, thông minh, rộng rãi, hay được yêu mến Khả năng hiểu và bàytỏ những cảm xúc phức tạp như tự hào, tội lỗi, ganh tị gia tăng không ngừng Thêmvào đó, những trạng thái cảm xúc này có khuynh hướng trở thành một phần bảnthân trẻ Trẻ cũng nhận ra trách nhiệm của bản thân trong việc tạo ra và kiểm soátnhững cảm xúc khác nhau Trẻ hiểu hơn rằng cảm xúc liên quan với sự kiện và
Trang 16hành động và chúng tìm cách che giấu một số cảm xúc hay bày tỏ cảm xúc theophương cách được xã hội chấp nhận
- Sự phát triển nhân cách của học sinh nhỏ chủ yếu diễn ra và bị chi phối bởi hoạt
động chủ đạo là hoạt động học tập Qua học tập, tập dần với việc tự điều khiểnmình tuân theo những qui định của trường lớp Tuy nhiên, ý chí của trẻ còn nonnớt Trẻ thiếu tính độc lập, dễ bắt chước, làm theo người khác, khả năng tự chủkém, dễ phạm lỗi, kiên trì yếu, dễ bỏ cuộc (chỉ nhìn những gì trước mắt) Trẻ nhậnthức bản thân theo ý kiến của người khác (biết nhà mình giàu hay nghèo, biết thânphận), trẻ hình dung bản thân mình theo nhận xét của những người xung quanh.Đối với trẻ, ý kiến của người lớn, đặc biệt của giáo viên là cơ bản nhất, quan trọngnhất và không thể chống đối lại Vì thế, trẻ sẽ gặp khó khăn và hoang mang khiđứng trước những ý kiến khác biệt hoặc mâu thuẫn về chính bản thân mình
III HOẠT ĐỘNG CHỦ ĐẠO
- Học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh nhỏ So với lứa tuổi mẫu giáo, hoạt động
học tập giai đoạn này vừa đòi hỏi trí tuệ tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảovừa cần nơi trẻ một năng lực, một ý chí nhất định để tự kiềm chế bản thân, vượtkhó khăn, cố gắng thực hiện những yêu cầu của giáo viên Do những qui định chặtchẽ về mục đích, mục tiêu của giáo dục, trẻ không thể thích thì làm, không thích thìthôi như thời mẫu giáo nữa Ngược lại, nó phải biết thích ứng với những tình huốngxã hội mới ở lớp học, và trong giao tiếp với thầy cô và bạn bè
- Qua học tập, trí tuệ của trẻ phát triển, trẻ gia tăng óc quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng
tượng Tuy nhiên, trong năm đầu khả năng trí tuệ này chưa thật tinh tế Trẻ dễ viếtthiếu nét, đọc nuốt chữ, nhầm lẫn những chi tiết gần giống nhau như oa - ao Cấutrúc lớp học, tương quan với thầy cô cũng đổi khác rất nhiều, do đó, trẻ cần cha mẹ
hỗ trợ trong khoảng một học kỳ đến 1 - 5 năm để có thể thích nghi và đáp ứngnhiệm vụ học tập
IV NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHI ĐỒNG
Đây là một phần của môi trường gần gũi với trẻ có những ảnh hưởng lâu dài đến
sự phát triển của trẻ Qua những tương quan đồng đẳng tích cực, trẻ phát triển nhữngtương quan thân thiết và nảy sinh sự đồng cảm và thuận thảo Trái lại, những tươngquan bạn cùng lứa có thể để lại những hậu quả tiêu cực trên sự phát triển của trẻ.Cảm giác bị gạt bỏ, thù địch, đơn độc và trầm uất là kết quả của những tương quanxấu với bạn bè có thể ảnh hưởng đến quan hệ sau này của trẻ với người khác
Khi trẻ càng ngày càng lớn thì cha mẹ càng phải đương đầu với những vấn đề mớixung quanh việc kỷ luật và nuôi dạy con cái Về mặt thể chất, nhận thức, và cảmxúc, trẻ trở nên có khả năng thực hiện những công việc mới và nhận lãnh nhữngthách đố mới Theo Piaget, chúng hiểu lý lẽ hơn và biết suy nghĩ đến hành động củamình và của người khác Erikson thì cho rằng trẻ từ 5 - 6 tuổi trở lên làm việc rấtchăm chỉ, chúng tò mò, nhiệt tình và muốn hiểu rõ môi trường Đối với cha mẹ, kỷluật ở giai đoạn này xem ra có vẻ dễ dàng hơn giai đoạn trước vì khả năng nhận thứccủa trẻ cho phép trẻ hiểu được những quy định và hậu quả Công việc chính của cha
mẹ trong giai đoạn này là giúp trẻ phát triển những kỹ năng cần thiết để cư xử cótrách nhiệm và độc lập đồng thời hướng dẫn hỗ trợ trẻ đối phó với hoàn cảnh hiểm
Trang 17nguy mà trẻ không thể thấy trước Việc đánh đập trẻ hay những hình phạt thể chất sẽ
để lại những hậu quả xấu Trẻ có khuynh hướng có những hành vi gây hấn, và bạolực do học hỏi hành vi của người khác
- Những cảnh bạo lực trên tivi và việc sử dụng các phương tiện khác như video
games, internet cùng với những nội dung không lành mạnh tác động lên hành vicủa trẻ Nhiều nghiên cứu cho thấy trẻ xem những cảnh bạo lực nhiều sẽ dễ cónhững hành vi gây hấn, chống đối xã hội hay cảm giác sợ hãi, bất an Trẻ cókhuynh hướng cho rằng bạo lực không phải là vấn đề nghiêm trọng Ở tuổi này,trẻ chưa có khả năng phân biệt giữa thực và ảo nên dễ bắt chước những hành vitrong phim ảnh Chúng không hiểu rằng diễn viên trên tivi đang sắm vai vànhững cảnh trong phim là để giải trí mà lại cho rằng những hành vi bạo lực nhưthế là rất phổ biến và được xã hội chấp nhận
- Chứng béo phì và tiểu đường có liên quan đến số giờ trẻ xem tivi, chơi video
hoặc lướt web Gia đình và các nhà giáo dục cần giúp trẻ dung hòa giữa việc sửdụng phương tiện truyền thông và các dạng giải trí khác cùng với các hoạt độngthể chất và những tương tác với nhóm bạn cùng trang lứa
V PHÂN TÍCH TRƯỜNG HỢP
S là một bé gái 8 tuổi, con nuôi của đôi vợ chồng không có khả năng sinh con Cha
mẹ S đem em đến bạn là nhân viên công tác xã hội vì thấy em có vấn đề về hành vi Họphàn nàn rằng em không chịu làm những gì họ bảo, không theo kịp chúng bạn trong lớp
và không chơi với bạn cùng lứa Cha mẹ S cũng cho biết em không có bạn thân và dànhnhiều thời gian chơi một mình S không quan tâm mấy đến các hoạt động phù hợp với lứatuổi mình và em thường thu mình lại và không tham gia các gì Họ lo rằng em sẽ chậmphát triển và sẽ ở lại lớp nếu cứ tiếp tục như thế
Tóm tắt ý chính: GIAI ĐOẠN NHI ĐỒNG (TUỔI HỌC SINH CẤP 1)
- Sự phát triển thể chất: Não gần bằng người lớn, gia tăng chiều cao, trọng lượng, cơ bắp
và các kỹ năng phối hợp cần các hoạt động thể chất để tiếp tục phát triển các kỹ năngvận động
- Sự phát triển tâm lý: có khả năng suy đoán, hiểu sự việc ở mức độ sâu xa hơn; so sánh,
đánh giá thông tin ở nhiều khía cạnh khác nhau Đời sống xúc cảm, tình cảm khá phongphú, đa dạng và cơ bản là mang tính tích cực
- Học tập là hoạt động chủ đạo, giúp trẻ tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, rèn
luyện ý chí nhất định để tự kiềm chế bản thân, vượt khó khăn
- Những yếu tố tác động: nhóm bạn cùng trang lứa, hình thức kỷ luật của cha mẹ, các
phương tiện truyền thông đại chúng
Trang 18Bài 4: GIAI ĐOẠN THIẾU NIÊN (TUỔI HỌC SINH CẤP 2)
I SỰ PHÁT TRIỂN SINH LÝ VÀ THỂ CHẤT
- Đây là giai đoạn đặc trưng với các dấu hiệu của tuổi dậy thì ở nam (từ 13 -15 tuổi)
và nữ (khoảng 11 - 13 tuổi) Ở em gái, ngực, lông ở nách và ở bộ phận sinh dụcphát triển, kinh nguyệt cũng bắt đầu xuất hiện Ở các em trai, ngực bắt đầu nở nang,những dấu hiệu phụ của bộ phận sinh dục phát triển và xuất hiện sự xuất tinh.Những thay đổi rất cơ bản ở trên làm cho các em nhận ra rằng mình không còn làtrẻ con nữa
- Ngoài ra, ở thiếu niên còn có những thay đổi thể chất có ảnh hưởng, hoặc thậm chí
gây ra sự mất căn bằng, những khó khăn tạm thời trong cuộc sống và hoạt động củacác em Các em ở tuổi này phát triển mạnh về chiều cao, người ta thường gọi là "sựnhảy vọt về tầm vóc" Cuối tuổi thiếu niên, tỉ lệ cơ thể xấp xỉ tỉ lệ đặc trưng củangười lớn Tuy nhiên sự phát triển cơ bắp không theo kịp với chiều cao nên tronggiai đoạn đầu, ở các em có sự mất cân đối về chiều cao và chiều ngang của cơ thể
- Tim phát triển nhanh hơn các mạch máu nên gây ra sự mất cân bằng và các rối loạn
chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch, biểu hiện dưới dạng tim đập nhanh,huyết áp cao, thường chóng mặt, nhức đầu, sức làm việc giảm Các em làm việc rấthăng say, nhiệt tình nhưng sức chưa bền, chưa dẻo dai Tuyến nội tiết hoạt độngmạnh (đặc biệt là tuyến giáp trạng và tuyến sinh dục), gây sự mất cân bằng của hệthần kinh trung ương, dễ gây nên những cơn xúc động mạnh, gây những phản ứng
vô cớ, những hành vi bất thường Ở tuổi thiếu niên, các quá trình thần kinh hưngphấn của vỏ não mạnh và chiếm ưu thế, nên nhiều khi các em không làm chủ đượcbản thân, không kiềm chế được xúc động mạnh Nhìn chung, các em dễ bị kíchthích, dễ nổi nóng, gây gổ, khi hiếu động khi lại uể oải, thờ ơ Bị lôi kéo, các em cóthể sa vào các "nhóm tự phát", các "băng đảng" có những hoạt động không lànhmạnh, thậm chí vi phạm pháp luật vì những hành vi thiếu suy nghĩ Vào những lúcnhư vậy, cách xử sự thiếu khéo léo thiếu phù hợp của người lớn có thể gây tổnthương về mặt tâm lý, gây những "cơn sốc" (Stress) dễ dẫn trẻ đến chỗ tuyệt vọng
và hành động thiếu suy nghĩ ở tuổi thiếu niên
II ĐỜI SỐNG CẢM XÚC – Ý CHÍ
- Như ở trên đã trình bày, tuổi thiếu niên là lứa tuổi của dậy thì và phát dục Sự dậy
thì đã kích thích chúng quan tâm đến người khác giới, và nảy sinh những rung cảmgiới tính mới lạ Quan hệ với bạn khác giới ở tuổi thiếu niên không "hồn nhiên",
"vô tư" như các học sinh nhỏ Những rung động giới tính thông thường được trẻ 13
- 15 tuổi biểu hiện một cách thẹn thùng, kín đáo, tế nhị với nhau Nhìn chungnhững rung cảm giới tính ban đầu ở tuổi thiếu niên là trong sáng Các em chỉ mongthỏa mãn tâm trạng này bằng một mối thiện cảm nho nhỏ, một lời nói dịu dàng, mộtcử chỉ quan tâm, một nụ cười trìu mến Tâm trạng này sẽ qua đi nhanh chóng nếuchúng được sống trong một môi trường lành mạnh, người lớn biết hướng sự chú ýcủa các em vào hoạt động học tập, lao động có ích, những mối quan hệ bạn bè vô
tư, trong sáng Những sự can thiệp thô bạo của người lớn sẽ làm cho thiếu niên cảmthấy bị chế giễu, xúc phạm và thường dẫn đến hậu quả không tốt đẹp thậm chí taihại cho nó
Trang 19- Đối với người lớn, thiếu niên thường tỏ ra bướng bỉnh chống đối nếu người lớn vẫn
tiếp tục cư xử với chúng như một đứa trẻ Những biểu hiện thường gặp là chúng xalánh phủ định người lớn, và cho rằng người lớn không thể hiểu được mình Sự xungđột có thể kéo dài cho đến khi nào người lớn thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá vềthiếu niên, tôn trọng sự độc lập, ý thức vươn lên làm người lớn của chúng, có quanhệ bạn bè, bình đẳng, hợp tác với tư cách là người đi trước có kinh nghiệm hơn dẫndắt cho chúng
- Ý chí của học sinh thiếu niên có những thay đổi và mang màu sắc mới Chúng
thường cố gắng bắt chước người mẫu lý tưởng mà mình chọn làm thần tượng Sựphấn đấu vươn lên theo hình mẫu lý tưởng giúp thiếu niên hình thành những phẩmchất ý chí như sức mạnh, tính can đảm, lòng dũng cảm, sức chịu đựng gian khổ,tinh thần vượt khó khăn để đạt mục đích
III HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
- Tuy đã mang những sắc thái mới và có sự phân hóa đáng kể, hoạt động học tập vẫn
chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển tâm lý, và nhân cách ở thiếu niên Đốivới nhiều em, sự hấp dẫn của nhà trường tăng lên vì nơi đây trẻ có thể giao tiếprộng rãi với các bạn cùng tuổi Giờ học không chỉ đơn thuần là học tập, mà còn làmột tình huống tương tác với bạn bè, với giáo viên bằng những cử chỉ, những đánhgiá và những rung cảm có ý nghĩa Do đó, đối với không ít em, sự say mê học tập bịgiảm sút, có chút xao lãng trong việc học và chuẩn bị bài
- Việc học tập ở các lớp THCS đòi hỏi các em phải nắm vững một khối lượng tri thức
lớn, phải có nhận thức và tư duy cao hơn Những tri thức mang tính khái niệm, tínhkhái quát, tính lôgíc đòi hỏi ở thiếu niên động não, tập trung chú ý, ghi nhớ và tưởngtượng Tuy nhiên, nội dung học tập ở tuổi thiếu niên mở rộng hơn ở tuổi học sinhnhỏ Chúng tiếp thu kiến thức mang tính độc lập và có mục đích hơn, không chỉ ởtrong nhà trường, mà còn bằng nhiều kiểu nhiều cách, nhiều nguồn khác nhau Động
cơ hoạt động học tập của chúng có liên quan đến dự định nghề nghiệp tương lai
- Tương quan với giáo viên cũng khác hơn trước rất nhiều Không giống thời tiểu
học, giờ đây mỗi giáo viên dạy một môn học với phong cách, trình độ tri thức, cáchgiao tiếp riêng Học sinh so sánh và đánh giá các giáo viên theo những thông sốkhác nhau và có mức độ hứng thú học tập cũng khác tùy theo từng môn học, và tùytừng giáo viên
IV SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
- Đây là thời kỳ “cái tôi" hình thành và phát triển mạnh mẽ Tự ý thức là một trong
những phẩm chất nhân cách nổi bật ở tuổi thiếu niên Khác với học sinh nhỏ, thiếuniên có nhu cầu hiểu biết những đặc điểm của bản thân, suy nghĩ về chính mình và
tự đánh giá về mình để đi đến chỗ hài lòng hay bất mãn với chính mình Chúngthường tự phân tích bản thân và xem đó như là một phương tiện cần thiết để điềuchỉnh, tổ chức những mối quan hệ đối với hoạt động, với bạn bè, với người lớn
- Ngoài khả năng tự đánh giá, thiếu niên phát triển khả năng đánh giá người khác.
Chúng thường đánh giá bạn bè, thầy cô, cha mẹ và những người xung quanh cả vềhình thức lẫn nội dung Những sự đánh giá này nói chung khá chính xác và hơi khắtkhe Nó thường biểu lộ không phải trên lời nói mà chủ yếu ở cách ứng xử, ở nghĩa
vụ đối với chính những người mà các em đánh giá: các em thường hài lòng, sungsướng hoàn thành tốt những nhiệm vụ khi được những người các em đánh giá caotrao đổi hoặc giao nhiệm vụ Ngược lại, miễn cưỡng, hoàn thành tắc trách nhữngviệc mà những người các em đánh giá là thiếu uy tín giao cho Nhiều khi chính sự
Trang 20đánh giá này giúp các em tìm được mẫu người lý tưởng trong thực tế cuộc sống đểnoi theo.
- Trong sự phát triển nhân cách của mình, thiếu niên bắt đầu suy nghĩ đến nghề
nghiệp tương lai trong đó các em tính đến khả năng của bản thân và hoàn cảnh sốngcủa gia đình Các em thu thập những thông tin, bàn luận về những nghề nghiệpkhác nhau và thử ướm khả năng, hoàn cảnh của mình vào các nghề mình thích thú
- Do khả năng đánh giá và tự đánh giá, thiếu niên hình thành và phát triển một phẩm
chất nhân cách quan trọng là sự tự giáo dục Các em quan tâm và tự kiểm tra sự tiến
bộ của mình Chúng có thể buồn hay lên án bản thân vì chưa thực hiện được nhiệm
vụ, kế hoạch đề ra Chúng tự tác động bản thân, tự sáng tạo nhằm đạt được nhữngnhiệm vụ, những mục đích có ý nghĩa
- Trong giai đoạn chuyển tiếp thành người lớn, trong quá trình hình thành và khẳng
định cái "tôi" có ý nghĩa xã hội, thiếu niên gặp không ít những khó khăn Chúngcần sự hỗ trợ tích cực của người lớn và xã hội Chúng cần môi trường giáo dụcthuận lợi khích lệ và hướng dẫn chúng dần dần vượt qua những trở ngại, giải quyếtmâu thuẫn để trưởng thành và chuyển sang giai đoạn phát triển mới
V NHỮNG ĐIỂM KHÁC CẦN LƯU Ý Ở TUỔI THIẾU NIÊN
- Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy rằng phát triển sớm hay trễ đều có những
ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực lên trẻ Đối với em trai, phát triển sớm thườnglàm gia tăng khả năng thể chất là làm cho trẻ được sự kính trọng và khâm phụccủa các bạn đồng lứa Trẻ phát triển sớm sẽ thích nghi tốt hơn và tự tin hơn sovới trẻ chậm phát triển Trái lại, trẻ nam phát triển chậm với thân hình nhỏ conthường dễ có những hành vi gây sự chú ý cho người khác và bị cho là thiếutrưởng thành và không phù hợp Mặt khác, trẻ phát triển sớm cũng có thể cảmnhận nhiều áp lực hơn so với trẻ nam phát triển chậm vì người khác mong đợichúng cư xử có trách nhiệm và làm gương cho những trẻ khác
- Đối với nữ, hậu quả của phát triển sớm hay chậm không rõ lắm Tuy nhiên
một số nghiên cứu cho thấy trẻ nữ phát triển sớm gặp một số vấn đề ở trường,chúng nổi tiếng trong đám con trai và tỏ ra độc lập hơn so với trẻ nữ chậmphát triển Trẻ nữ phát triển sớm cũng có nguy cơ cao về vấn đề lo lắng, trầmcảm, sử dụng chất gây nghiện, khám phá tình dục và có những rối loạn chứcnăng trong việc đối phó với stress và các vấn đề ở trường hơn các trẻ chậmphát triển khác
Các công trình nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý ở tuổi dậy thì đều cho thấyhiện nay lớp trẻ vị thành niên có sự phát dục ngày càng sớm và mạnh hơn so với cácthế hệ trước đây Nhu cầu sinh lý, tò mò, thích khám phá muốn khẳng định mình, và
do những ảnh hưởng của môi trường sống… đã khiến cho nhiều thiếu niên quan hệtình dục từ rất sớm Tác hại của việc quan hệ tình dục ở tuổi này thật vô lường: sứckhỏe suy giảm hoặc các bệnh lây qua đường tình dục, học tập sa sút, mang thaingoài ý muốn, phá thai, vô sinh, khủng hoảng tâm lý…
Ở tuổi này, trẻ thiếu niên thường gặp rối loạn chuyện ăn uống, được thể hiện ởmột trong hai hình thức, đó là chứng háu ăn hoặc biếng ăn