Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố GDDS vô hiệu? Điều 136 BLDS quy định 2 loại thời hiệu yêu cầu Toàn án tuyên bố GDDS vô hiệu: 1, Thời hạn 2 năm kể từ ngày GDDS được xác lập đối với những giao dịch dân sự sau: ● GDDS vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiên.(Điều 130) ● GDDS vô hiệu do bị nhầm lẫn.(Điều 131) ● GDDS vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ. (Điều 132) ● GDDS vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.( Điều 133) ● GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.( Điều 134) Trường hợp: Trong thời hạn 2 năm, có thể xảy ra những sự kiện như : Có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Người có quyền khởi kiện chưa thành niên, đang bị mất năng lực hành vi dân sự, đang bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng chưa có người đại diện. Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện. Þ sẽ làm cản trở người có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố GDDS vô hiệu trong phạm vi thời hiệu. Để bảo vệ quyền và lợi ích của họ, pháp luật quy định : khoảng thời gian xảy ra 1 trong những sự kiện trên không được tính vào thời hạn của thời hiệu khởi kiện.( theo Điều 161 BLDS) 2, Vô thời hạn đối với những GDDS sau: ● GDDS vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội.( Điều 128) ● GDDS vô hiệu do giả tạo. (Điều 129) Vô thời hạn ở đây có nghĩa là: những GDDS nêu trên có thể bị tuyên bố vô hiệu bất cứ lúc nào.
Trang 1Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố GDDS vô hiệu?
Điều 136 BLDS quy định 2 loại thời hiệu yêu cầu Toàn án tuyên
bố GDDS vô hiệu:
1, Thời hạn 2 năm kể từ ngày GDDS được xác lập đối với
những giao dịch dân sự sau:
● GDDS vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiên.(Điều 130)
● GDDS vô hiệu do bị nhầm lẫn.(Điều 131)
● GDDS vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ (Điều 132)
● GDDS vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.( Điều 133)
● GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức ( Điều 134)
Trường hợp: Trong thời hạn 2 năm, có thể xảy ra những sự kiện như :
- Có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan
- Người có quyền khởi kiện chưa thành niên, đang bị mất năng lực hành vi dân sự, đang bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng chưa
có người đại diện
- Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng
mà không thể tiếp tục đại diện
⇒ sẽ làm cản trở người có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên
bố GDDS vô hiệu trong phạm vi thời hiệu Để bảo vệ quyền và lợi ích của họ, pháp luật quy định : khoảng thời gian xảy ra 1 trong những sự kiện trên không được tính vào thời hạn của thời hiệu khởi kiện.( theo Điều 161 BLDS)
2, Vô thời hạn đối với những GDDS sau:
● GDDS vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức
xã hội.( Điều 128)
● GDDS vô hiệu do giả tạo (Điều 129)
Vô thời hạn ở đây có nghĩa là: những GDDS nêu trên có thể bị tuyên bố
vô hiệu bất cứ lúc nào