1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những chính sáng phát triển đàn bò lai Sind

17 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 200 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong định hướng này thì Phòng nông nghiệp Huyện kết hợp với ủy ban nhân dân UBND Huyện Vũng Liêm đã xây dựng đề án phát triển đàn bò theo hướng lai Sind trong giai đoạn 2001-2005.. Con

Trang 1

Phần Mở Đầu



I GIỚI THIỆU:

Để đáp ứng nhu cầu phát triển chung của đất nước, trên quan điểm tiếp tục thực hiện Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa (CNH-HĐH) nông nghiệp và nông thôn, đẩy mạnh phát triển toàn diện và bền vững nền kinh tế nước nhà, tỉnh Vĩnh Long đã ban hành kế hoạch phát triển nền kinh tế chung cho từng huyện ở từng giai đoạn năm 2001-2005, nhằm thực hiện phương châm xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và nâng cao đời sống của người dân, góp phần phát triển nền kinh tế tỉnh nhà nói riêng, và tăng cường thúc đẩy toàn nền kinh tế của cả nước nói chung Theo đó huyện Vũng Liêm nằm ở phía đông nam tỉnh Vĩnh Long với diện tích đất tự nhiên là 293,97 km2; trong đó diện tích đất nông nghiệp là 23.663 ha, dân số là 170.937 người, có 38.447 hộ (trong đó hộ nông nghiệp là 31.137 hộ chiếm 81%) đã có định hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2001-2005 Trong định hướng này thì Phòng nông nghiệp Huyện kết hợp với ủy ban nhân dân (UBND) Huyện Vũng Liêm đã xây dựng đề

án phát triển đàn bò theo hướng lai Sind trong giai đoạn 2001-2005

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu chung là phân tích và đánh giá tình hình chăn nuôi và lợi nhuận từ “bò” Con bò đã đưa người nông dân Huyện thoát nghèo như thế nào, vấn đề về quá trình chăn nuôi và bán lại sản phẩm của nông dân Huyện Vũng Liêm Cụ thể ở các mặt sau đây:

- Tầm quan trọng của con bò đối với nông dân Huyện

- Phân tích hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò

- Nhận biết những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chăn nuôi

- Thị trường tiêu thụ cũng như kênh phân phối thịt, sữa, con giống,… của người chăn nuôi bò

- Hiệu quả từ các chinh sách của nhà nước nói chung và UBND Huyện Vũng Liêm nói riêng

- Từ đó đề xuất những giải pháp cho phù hợp trong gian đoạn sau

Trang 2

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Tiếp xúc trực tiếp với các ban ngành đoàn thể có liên quan ở cấp xã, huyện và thị trấn

- Thống kê dữ liệu thu thập từ Phòng nông nghiệp huyện Vũng Liêm

- Theo dõi các thông tin từ nguồn thông tin đài chúng

- Sử dụng chỉ số về đánh giá hiệu quả kinh tế và phương pháp phân tích trong thống kê

IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Đề tài chỉ nghiên cứu trong địa bàn huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long

Số liệu được thu thập từ các xã, còn từng ấp từng hộ gia đình thì chưa được phân tích cụ thể

Trang 3

Phần nội dung:



Chương I: NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ CHĂN NUÔI BÒ Ở

HUYỆN VŨNG LIÊM

I TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐÀN BÒ HUYỆN VŨNG LIÊM:

Theo cơ cấu sản xuất nông nghiệp thì nuôi bò là công việc đơn giản, dễ nuôi, ít tốn công, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có nên không phải tốn chi phí thức ăn…và thu nhập lại rất cao So với các ngành nghề khác trong sản xuất nông nghiệp thì nuôi bò là ngành nghề đạt hiệu quả kinh tế cao, lãi nhiều cho người dân Theo tính toán thì nuôi con bò cái với tổng chi phí bỏ ra là khoảng 4 triệu đồng sau 3 năm thì tổng thu từ bò mẹ lẫn bò con là khoảng 7 triệu đồng với lãi thực là khoảng 3 triệu đồng; đối với bò đực tổng chi phí bỏ ra là khoảng 3 triệu đồng, sau 2 năm thì thu được khoảng 5 triệu đồng với lãi thực là khoảng 2 triệu đồng

Với truyền thống nuôi bò trước đây chủ yếu là để bán bò thịt cung cấp cho người tiêu dùng trong các ngày lễ tiệc, ngoài ra còn có một số hộ nuôi bò dùng làm sức kéo Năm 1996 tổng đàn bò là 3.090 con, đến năm 2000 tổng đàn bò là 4.371 con tăng 41% so với năm 1996 trong đó bò cái là 3.000 con, bò lấy thịt là 1.021 con, số lượng đàn bò phát triển điều khắp trên toàn huyện Việc phát triển đàn bò chủ yếu là ở qui mô gia đình nhằm tận dụng ngày công nhàn rỗi, những phụ phẫm từ trồng trọt, từ đó góp phần giải quyết tạo việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập, góp phần cho chương trình xóa đói giảm nghèo

Mặc khác phải trãi qua thời gian dài mới có thu nhập, nhưng nuôi bò là

“ăn chắc” so với các hoạt động chăn nuôi khác Cho nên nuôi bò là công việc ham muốn của người dân huyện Vũng Liêm và các cơ quan ban ngành huyện đã khuyến khích, hỗ trợ vốn và chuyển giao kỹ thuật cho người dân để đẩy mạnh việc nuôi bò

II ĐIỀU KIỆN, ĐỊA BÀN CHĂN NUÔI:

II.1- Điều kiện chăn nuôi:

Được thiên nhiên ưu đãi cho huyện Vũng Liêm có đất đai màu mỡ, sông

Trang 4

nơi sản xuất 3 vụ Khai thác nguồn thức ăn sẵn có trong nông nghiệp như rơm

ra, cỏ cây tươi, thân cây màu như cây họ đậu bắp mía…với điệu kiện sản xuất như trên rất phù hợp cho việc phát triển đàn bò theo hướng lai Sind có tầm vóc lớn và chất lượng thịt tốt

II.2- Địa bàn nghiên cứu:

Huyện Vũng Liêm nằm ở phía đông nam tỉnh Vĩnh Long có tổng diện tích đất tự nhiên là 293,97 km2, về đường lộ có quốc lộ 53 xuyên qua dài 23 km với tỉnh lộ 31; 39 chiều dài khoản 24 km.Về đường thủy địa bàn huyện được bao bọc bởi các trục sông lớn : Cổ Chiên, Măng thít, Mây Tức, …trong nội đồng có

hệ thống kênh rạch chằn chịt, hệ thống thủy lợi kết hợp với giao thông rất thuận lợi để phát triển xã hội

Về mặt hành chánh: toàn huyện có 19 xã và 1 thị trấn chia thành 168 ấp, khóm, dân số 170.937 người, mật độ bình quân 582 người/km2, tổng số có 38.447 hộ ( trong đó hộ nông nghiệp là 31.137 hộ, chiếm 81% )

Về đất đai: diện tích đất nông nghiệp toàn huyện có 23.663 ha, trong đó diện tích đất trồng lúa khoảng 15.000 ha, đất trồng lát hiện có 636 ha, đất trồng cây lâu năm 7.717 ha

Về địa hình: nhìn chung địa hình đất đai của huyện tương đối bằng phẳng, vùng có công trình cao nằm ở các xã giáp sông Măng Thít và sông Cổ Chiên, thấp dần về phía nam và phía tây Do đó rất thuận lợi cho việc thủy triều để tưới tiêu tự chảy phục vụ sản xuất nông nghiệp

Về tình hình sản xuất nông nghiệp: các năm qua đã đạt được những kết quả đáng kể nhất định, góp phần năng cao đời sống nhân dân và chuyển dịch cơ cấu của huyện

III MÔ HÌNH CHĂN NUÔI:

Nghề chăn nuôi bò ở Huyện Vũng Liêm chủ yếu là chăn nuôi theo qui mô

hộ gia đình nhằm tận dụng lao động nhàn rỗi, những phụ phẩm từ trồng trọt từ

đó góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo

Bên cạnh chăn nuôi hộ gia đình, huyện còn có hình thức chăn nuôi theo

mô hình trang trại Đó là những trang trại được hình thành từ những hộ nông dân biết tận dụng vốn đầu tư, mở rộng qui mô; biết kết hợp hổ trợ nhau; tận dụng tối

đa nguồn vốn hổ trợ để mở rộng qui mô chăn nuôi từ cấp hộ lên cấp trang trại

Ngoài ra còn có nhiều hộ nuôi với số lượng nhiều và phát triển với qui mô

lớn và nuôi bò được người dân xem như là sản xuất hàng hóa xuất khẩu

Trang 5

III.1- Cung :

* Về qui mô:

Cho đến 6/2006 thì toàn huyện có 4.009 hộ tham gia nuôi bò, trong đó có một số hộ chăn nuôi với số lượng nhiều:

- 40 hộ nuôi từ 8-10 con

- 8 hộ nuôi từ 11-14 con

- 17 hộ nuôi từ 15-20 con

- 5 hộ nuôi từ 22-27 con

- 3 hộ nuôi từ 44-45 con

Cho đến cuối năm 2005 thì có 10 hộ nuôi bò theo qui mô trang trại, cụ thể như sau:

Bảng : Các hộ chăn nuôi bò qui mô trang trại năm 2005.

10 Nguyễn Văn Sương Trường Hội, Trung Nghĩa 17

Nguồn: Phòng nông nghiệp Huyện Vũng Liêm

* Lao động:

Hầu hết các hộ chăn nuôi bò điều sử dụng lao động gia đình là chủ yếu, còn đối với các hộ chăn nuôi theo qui mô lớn thì có sự thuê mướn lao động bên ngoài Họ thực hiện một số các công việc như: cắt, trồng cỏ, dọn chuồng, cho bò

ăn, …là chủ yếu

Trang 6

* Đất trồng cỏ làm thức ăn cho bò:

Để đáp ứng nhu cầu thức ăn cho bò thì ngoài rơm rạ thì cỏ là nguồn thức

ăn chủ yếu của bò Đến nay thì diện tích đất cỏ là 47,19 ha, năng suất bình quân

từ 200-250 tấn/ha/năm,đặt biệt là tập trung ở một số hộ nuôi lớn, nuôi theo qui

mô trang trại; còn các hộ nuôi với số lượng ít thì đa số là sử dụng lượng cỏ tự nhiên có sẵn trên bờ kinh, đê, mẫu ruộng…Để đáp ứng được nhu cầu thức ăn cho đàn bò với số lượng đang tăng nhanh thì dự kiến đến tháng 3 năm 2006 diện tích đất trồng cỏ tăng lên đến 110 ha, kết quả cụ thể ở một số xã như sau:

Bảng: Diện tích đất trồng cỏ ở các xã ĐVT: ha

Nguồn: Phòng nông nghiệp Huyện Vũng Liêm

III.2- Cầu:

Sản phẩm chính của chăn nuôi bò là lấy thịt, làm con giống còn về phần sữa thì trên địa bàn huyện chưa áp dụng nuôi bò để lấy sữa Thịt bò còn là nguồn đông lạnh tại các cơ sở chế biến nhỏ của Huyện Vũng Liêm và tỉnh Vĩnh Long, sản phẩm đông lạnh chủ yếu nhằm vận chuyển lên các siêu thị, khách sạn, các

STT Tên Xã Năm 2004 Năm 2005

Trang 7

nhà hàng, quầy bán thịt lớn ở các Thành Phố; phần ít là tiêu thụ trong dân chúng vùng nông thôn, làng quê…

Trong những năm gần đây vì thu nhập của người dân cũng như nhu cầu dinh dưỡng, tiêu dùng trong gia đình tăng nên nhu cầu về thịt bò cũng như số lượng thịt được tiêu thụ tại các thành phố, thành thị cũng tăng đáng kể hơn so với trước Trong các đám tiệc: cưới hỏi, tân gia, ăn mừng…thì thịt heo dần dần được thay thế bằng thịt bò

Bò được nuôi trong các hộ chăn nuôi, sau đó được họ bán dưới nhiều hình thức như:

- Thịt mua trực tiếp tại nhà dân hay tại các khu giết mổ của huyện

- Con giống là do dân huyện tuyển chọn từ những con bò “cha mẹ” tốt, được người mua đến trực tiếp tại nhà hay trang trại mua

- Ngoài việc bán lại cho người khác dưới hình thức thịt và con giống thì người dân còn bán lại cho thương lái (là những người thu mua bò dưới hình thức đến tận nhà trang trại thu mua trực tiếp bò sau đó chuyển đi nơi khác bán lại cho người có nhu cầu)

Thương lái không cần nhiều vốn, họ đến tận nơi khi bò ở các hộ có thể thu mua được; sau khi thỏa thuận giá cả với chủ nuôi, họ đưa xe ( hay ghe) tới chở bò về nơi họ sẽ bán lại ( thành phố, chợ, tiệc tùng, khách sạn…)

Thương lái đóng vai trò rất quan trọng trong kênh marketing của con bò huyện Họ là người dân huyện, hay các huyện khác đến, trên địa bàn huyện thì đến cuối năm 2005 thì chỉ có 2 thương lái là đăng ký kinh doanh với hình thức

là doanh nghiệp tư nhân

Nhìn chung nông dân huyện Vũng Liêm qua số liệu thống kê của Phòng nông nghiệp huyện thì họ bán lại bò cho người dân, bà con, người cùng huyện mua chiếm số lượng nhiều hơn so với bán lại cho thương lái Người mua, giá mua thường thấp hơn giá của thương lái vì họ còn phải gánh thêm phần chi phí vận chuyển bò Hầu hết nông dân được phỏng vấn cho rằng họ bán bò cho thương lái chiếm đến 77% sản lượng bán ra Và bán cho thương lái đến từ tỉnh khác chiếm khoảng 23%, họ mua với mức giá thấp hơn giá của thương lái địa phương bởi họ phải trang trải chi phí vận chuyển cho việc mua bán này Tuy nhiên, họ thỉnh thoảng cũng mua đồng giá với giá mua của thương lái địa phương, nhưng họ sẽ có quyền lựa chọn sản phẩm kỷ hơn Điều này có thể dẫn đến nông dân bị thua lỗ

Trang 8

Chương II: NHỮNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VÀ HIỆU

QUẢ KINH TẾ TỪ MÔ HÌNH CHĂN NUÔI BÒ Ở

VŨNG LIÊM – VĨNH LONG

I NHỮNG CHÍNH SÁCH CỦA TỈNH VĨNH LONG NÓI CHUNG VÀ HUYỆN VŨNG LIÊM NÓI RIÊNG ĐỐI VỚI NÔNG HỘ:

I.1- Về vốn:

Vốn là 1 yếu tố rất quan trọng trong việc đầu tư phát triển đàn bò

Nguồn vốn đầu tư phát triển chăn nuôi được thu hút từ các nguồn như sau:

 Vốn nhà nước + các chương trình khác 10%

Vốn nhà nước tập trung hỗ trợ công tác nhân giống, đầu tư xây dựng mô hình, tập huấn chuyển giao kỹ thuật

Nguồn vốn huy động để đầu tư phát triển chăn nuôi chủ yếu trong dân là chính Nhưng thực tế, để chăn nuôi phát triển có hiệu quả thì phải sử dụng nguồn vốn với lãi xuất ưu đãi ( vốn nhà nước ) và vận động nguồn vốn trong dân

Về nguồn vốn đầu tư: hướng phát triển đàn bò tập trung cho những hộ nghèo để thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo của huyện Do đó mỗi xã, mỗi thị trấn có dự án cho vay vốn từ nguồn quỹ quốc gia để cho hộ nghèo có điều kiện chăn nuôi bò thuận lợi, mỗi dự án khoảng 100.000.000 đồng

I.2- Giải pháp đầu tư khoa học kỹ thuật và hướng phát triển mô hình trong tương lai:

Nâng cao trình độ nhận thức và chuyên môn, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học cho người chăn nuôi, đào tạo nhân lực, mở các lớp tập huấn ngăn hạn, cập nhật nhanh những thông tin cho người chăn nuôi để

có hướng chăn nuôi phù hợp

Ban chỉ đạo huyện tăng cường việc liên kết với các trường Đại Học và Viện nghiên cứu để tạo điều kiện cho nông dân áp dụng khoa học kỹ thuật mới Chú trọng nâng cao dân trí, đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý, chủ trang trại… phấn đấu đến cuối 2006 có 90% hộ nông dân nắm chắc qui trình kỹ thuật trong chăn nuôi

Trang 9

Phát động nông dân sử dụng đất để trồng cỏ, đến cuối năm 2006 đạt trên

100 ha diện tích đất trồng cỏ (năng suất từ 200-300 tấn/ha), phát động các nông

hộ chăn nuôi tăng cường trữ rơm rạ (1ha rơm/con/năm) nhất là vào đông xuân

Hướng dẫn và tư vấn về thị trường tiêu thụ thịt bò cũng như con giống cho nông hộ, hỗ trợ thông tin nhằm giúp nông dân được lợi cao nhất Thực hiện phân công cụ thể từng thành viên trong Ban chỉ đạo Huyện, mỗi thành viên chỉ đạo 1 xã, nhằm gắn kết trách nhiệm và kịp thời phản ảnh kịp thời những khó khăn, bức xúc trong chăn nuôi của người dân

Đẩy mạnh công tác nuôi bò phát triển thành mô hình kinh tế trang trại đối với những hộ chăn nuôi với số lượng lớn, phấn đấu đến cuối năm 2006 có từ 20

- 25 trang trại nuôi bò

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ vốn cho những hộ chưa có điều kiện chăn nuôi bò được nuôi bò Phấn đấu đến cuối 2006 có trên 5.000 hộ chăn nuôi

Quản lý nghiêm ngặt tình hình thị trường tiêu thụ của tỉnh Vĩng Long nói chung và huyện nhà nói riêng Theo dõi để kịp thời thông tin cho nông dân về tình hình biến động của giá thịt cũng như giá con giống, nhằm tránh tình trạng bán “hớ” gây thua lỗ nghiêm trọng trong nông hộ

II HIỆU QUẢ KINH TẾ TỪ MÔ HÌNH CHĂN NUÔI BÒ Ở HUYỆN VŨNG LIÊM – VĨNH LONG:

II.1- Kết quả phát triển đàn bò giai đoạn 2003 – 2005:

Qua 3 năm 2003-2005, số lượng đàn bò phát triển khá nhanh Đến cuối năm 2004 tổng đàn là 14.813 con, trong đó có 2.782 con bò lai Sind và 39 con

bò sữa, số lượng bò cáo chiếm 60% tổng đàn, dự kiến năm 2006 đạt số lượng 19.500 con trong đó có 6.700 con bò lai Sind Với qui mô mỗi hộ nuối ít nhất là

từ 2 – 3 con, trung bình là 8 – 10 con và nhiều nhất là 51 con

Trang 10

Bảng: Kết quả phát triển đàn bò năm 2003_2005 (ĐVT: con)

Trang 11

T Tên Xã T.hiệnNăm 2003Đạt Năm 2004 Năm 2005

(%)

Lai sind T.hiện

Đạt (%)

Lai sind T.hiện

Lai sind

11 Trung Thành Đông 387 64.5 40 582 83.1 39 800 240

12 Trung Thanh Tây 580 96.7 13 769 96.1 162 950 285

Tổng cộng: 10470 87.3 1427 14813 98753 2782 18000 5400

Nguồn: Phòng nông nghiệp Huyện Vũng Liêm.

II.2- Lợi nhuận mang lại từ mô hình:

Qua số lượng thống kê cho ta thấy được hiệu quả kinh tế của người dân đạt được như sau:

Trang 12

- Vốn ban đầu mua con bò: 2.500.000

- Lãi suất trong 3 năm (2.000.000 đ x 0.87% x 36 t): 626.400

- Gieo tinh nhân tạo (100.000 đ x 2 lần): 200.000

- Trồng cỏ + mua thức ăn bổ sung: 300.000

Phần Thu (bò mẹ + bò con): 7.000.000

* Đầu Tư 1 Con Bò Đực Thường:

- Lãi suất trong 2 năm (2.000.000 x 0.87% x 24 t): 417.600

- Trồng cỏ + mua thức ăn bổ sung: 300.000

* Đầu Tư 1 Con Bò Lai Sind:

Phần Chi:

- Lãi suất trong 3 năm (2.000.000 đ x 0.87% x 36 t): 939.600

Trang 13

- Trồng cỏ mua thức ăn bổ sung: 300.000

Phần thu (bò mẹ + bò con): 11.500.000

* Đầu Tư 1 Con Bò Đực Lai Sind:

- Vốn ban đầu mua một con bò: 3.000.000

- Lãi suất trong 2 năm (2.000.000 x 0.87% x 24 t): 417.600

- Trồng cỏ + mua thức ăn bổ sung: 300.000

Qua thực tế các nơi thì bình quân hàng tháng người dân đạt được lợi nhuận từ một con bò như sau:

Bò đực thường đạt lợi nhuận: 100.000đ/tháng

Mô hình đã góp phần giải quyết việc làm cho gần 1.500 lao động nhàn rỗi

ở nông thôn, tăng thu nhập, đời sống sinh hoạt, trình độ nông dân từng bước được cải thiện và nâng cao rõ rệt, góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện hiện nay còn 4,24% so với năm 2000 giảm 2,13%

Nguồn rơm rạ sản xuất lúa được tận dụng dự trữ làm thức ăn cho bò rất nhiều nên diện tích đất sạ chay giảm so với giai đoạn trước, nhất là mùa vụ đông xuân Ngược lại thì phân bò được một số người dân tận dụng lại để phục vụ cho trồng trọt

Ngày đăng: 11/01/2019, 08:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w