1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn vũ điệu cái bô dưới góc nhìn phân tâm học

21 387 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 152 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại thể là, chỉ nhờ vào một cái gì đó như văn học dù là vănhọc truyền miệng trong những kỷ nguyên và những nền văn minh không chữ viết màcon người tự vấn về bản thân mình, về số phận vũ

Trang 1

MỞ ĐẦU

Phê bình phân tâm học ở Việt Nam mặc dù được gieo giống sớm, nhưng khôngđâm cành trổ nhánh lên được Một phần do xã hội còn nặng tư tưởng Nho giáo, coitính dục là chuyện kín nơi góc buồng xó bếp nên ai lại đem phơi bày trên mặt giấy

Có lẽ vì sự “e lệ dậy thì” này mà trong văn học Việt Nam văn chương hoa tình(érotique) vắng mặt Phần khác, do “sợ nhi viễn chi” nên các nhà phê bình chỉ hiểuphân tâm học một cách sơ sơ đại khái như bác sĩ Trực Ngôn trong “số đỏ” Ấy là chưa

kể có thời học thuyết Freud bị coi là phản động, là nhục mạ con người phân tâm học,

vì thế, có cơ hội phục hồi và phát triển.Trong sáng tác văn chương, người đầu tiên vậndụng học thuyết Freud, có lẽ, là Vũ Trọng Phụng trong “làm đĩ”, “giông tố”, “số đỏ”,còn trong phê bình là Trương Tửu và Nguyễn Văn Hanh

Phân tâm học đến với văn học Việt Nam là điều tất yếu, vấn đề là văn học Việt Namtiếp nhận như thế nào để bắt kịp với thế giới và tạo cho mình một diện mạo mới mẻhơn Có thể nói phân tâm học tồn tại trong văn học nước ta từ văn học trung đại chođến văn học hiện đại,ở thời kì văn học trung đại ta thấy rõ yếu tố phân tâm học trongthơ Hồ Xuân Hương với nhiều hình ảnh, từ ngữ thể hiện tính dục rất khéo léo Đếnvăn học hiện đại phân tâm học đến gần với bạn đọc hơn qua những yếu tố mang đậmtính sex của nhiều tác giả khác nhau làm nên một bức tranh văn học vô cùng phongphú Phân tâm học mang lại cho tác giả một lối viết chân thật,mang đậm ý thức cánhân, tác giả không còn sáng tác theo kiểu kể về câu chuyện của ai đó bằng cách nhìncủa mình mà họ viết về cảm xúc của chính bản thân mình, viết về những gì lẩn khuấtsâu trong tâm hồn họ Từ đó người đọc cũng có được cái nhìn sống động hơn, ngườiđọc như nhìn thấy đâu đó trong trang sách bóng dáng tâm hồn mình Chính qua vănhọc mà ta thức nhận được tính người của ta, nó suy nghĩ, nói năng Bởi lẽ, ngôn ngữđược rèn giũa trong các quan hệ thường ngày với cha mẹ và bạn bè chỉ để hành động:hỏi, trả lời, để mà sống Đại thể là, chỉ nhờ vào một cái gì đó như văn học (dù là vănhọc truyền miệng trong những kỷ nguyên và những nền văn minh không chữ viết) màcon người tự vấn về bản thân mình, về số phận vũ trụ của mình, lịch sử của mình,hoạt động xã hội và tinh thần của mình Các nhà văn hiện đại được xem là những conngười mẫn cán với thời đại, tiếp thu nhạy bén những lý thuyết mới sáng tạo nênnhững tác phẩm tinh tế phù hợp với thị hiếu của độc giả, đem lại cho thế giới cái nhìnmới về nền văn học Việt Nam

Gắn với phân tâm học văn học nước ta hiện nay đã có nhiều biến chuyển mới vớihàng loạt tác phẩm nói về vô thức, sex….Trong đó Nguyễn Quang Thân là một trong

Trang 2

những tác giả tiêu biểu đưa yếu tố của phân tâm học vào sáng tác của mình.Và “vũđiệu của cái bô” của Nguyễn Quang Thân là tác phẩm mang đậm chất phân tâm họcđược đánh giá cao Truyện ngắn này đề cập đến phần bản năng tồn tại trong mỗi conngười đó là “dục tính”, nhân vật chính trong truyện là người đàn bà với lối sốngbuông thả thích tìm khoái cảm trong tình dục chấp nhận cặp bồ với vô số đàn ông nhằthỏa mãn dục tính của mình Trong khuôn khổ bài tiểu luận này tôi phân tích truyệnngắn “ vũ điệu của cái bô” dưới góc nhìn phân tâm học để làm rõ thêm vai trò củaphân tâm học đối với văn học Việt Nam.

Vì những hạn chế về thời gian, vốn hiểu biết của bản thân, đề tài sẽ không tránhkhỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của quý thầy cô vàcác bạn để bài tiểu luận này được hoàn thiện hơn

Trang 3

NỘI DUNG Chương I: Lý thuyết chung về phân tâm học

1.1 sơ lượt về phân tâm học

Phân tâm học (viết tắt của Phân tích tâm lý học, tiếng Anh: Psychoanalysis) là tập

hợp những lý thuyết và phương pháp tâm lý học có mục đích tìm hiểu những mốiquan hệ vô thức của con người qua tiến trình liên tưởng Nó được khởi thảobởi Sigmund Freud, một bác sĩ người Áo Phân tâm học chuyên sâu nghiên cứu vềcon người Phân tâm học chia bản năng con người ra làm ba phần: cái ấy (E: id;F:LeCa; G:das Es), cái tôi (E: Ego;F:Le Moi; G:das Ich) và cái siêu tôi (E:Super ego;F: LeSurmoi; G:das Über-Ich) Trong đó nói rõ con người luôn bị chi phối bởi bản năngtính dục và mọi hoạt động của con người đều nhằm thỏa mãn hoặc ức chế nhu cầu đó

Lí thuyết phân tâm đã được nhiều người nghiên cứu tuy nhiên nó vẫn chưa thực sựđược nhận thức đầy đủ Cùng với nhiều công trình nghiên cứa về con người nhưthuyết tiến hóa và khoa học về nhận thức, đã đóng góp vào việc tìm hiểu sau hơn vềnhận thức về văn hóa và văn minh nhân loại Phân tâm học được sáng lập vào khoảngcuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 bởi một nhà thần kinh học người Áo – Sigmund Freud.Thuyết tâm lý học này đã được đánh giá, mở rộng và phát triển theo nhiều hướngkhác nhau, phần lớn nhờ công của một số học trò của Freud như AlfredAdler (với Tâm lý học cá nhân), Carl Gustav Jung (với Tâm lý học phântích), Wilhelm Reich, và sau nữa là những đóng góp từ các nhà phân tâm mớinhư Erich Fromm (với một số cuốn sách rất thú vị: "chạy trốn tự do – escape fromfreedom"; "Phân tâm học và Thiền – Zen Buddhism and Psychoanalysis" ), KarenHorney, Harry Stack Sullivan,Jacques Lacan

Những luận thuyết cơ bản của phân tâm học chủ yếu bao gồm: Hành vi, kinh nghiệm

và nhận thức của con người phần lớn được định hình bởi các xung năng bẩm sinh vàphi lý Những xung năng này mang bản chất vô thức Qúa trình cố đưa những xungnăng này "trồi" lên bề mặt ý thức sẽ gây ra những khángcự tâm lý, được biểu hiện quacác cơ chế phòng vệ Bên cạnh những cấu trúc tâm thần mang tính bẩm sinh đó, sựphát triển của một cá nhân còn được định hình bởi những sự kiện thuở ấu thời

Những xung đột giữa ý thức về thực tại với phần vô thức của hệ tâm thần (tạo nên sựdồn nén) có thể là nguồn gốc của những chứng rối nhiễu tâm trí như chứng nhiễu tâm,

lo âu, trầm uất, v.v Phương thức để giải trừ những ảnh hưởng này từ những nội dung

vô thức là đưa các nội dung đó lên bình diện ý thức Dưới tầm ảnh hưởng rộng lớncủa phân tâm học, đã có ít nhất 22 nhánh lý thuyết nghiên cứu về sự phát triển tâm trí

Trang 4

con người Nhiều phương pháp tiếp cận khác trong trị liệu cũng được gọi là " phântâm lại khác xa so với lý thuyết Thuật ngữ phân tâm học cũng dùng cho một phươngpháp nghiên cứu về sự phát triển ở trẻ em.

1.2 Những khái niệm cơ bản của phân tâm học

1.2.1 Khái niệm phân tâm học

phương pháp chữa bệnh tâm thần và học thuyết tâm lí đề cao vai trò của cái vôthức trong đời sống con người, do bác sĩ người Áo Froiđơ X (S Freud) đưa ra cuốithế kỉ 19 - đầu thế kỉ 20 Về sau, phân tâm học trở thành cơ sở của chủ nghĩa Frơt(Freudism; gọi theo cách phiên tiếng Pháp tên bác sĩ Froiđơ) - một trào lưu tư tưởng

có ảnh hưởng lớn ở Hoa Kì và nhiều nước Tây Âu - được áp dụng phổ biến trong cáclĩnh vực đời sống và văn hoá loài người; được xem là môn triết học - nhân học

Froiđơ cho rằng, hệ thống vô thức trong con người thể hiện những xung năng, dụcvọng, bản năng sống Nội dung chính của chúng là những thèm muốn tình dục mãnhliệt nhưng lại bị ý thức xã hội (biểu hiện bởi những cấm đoán của xã hội) kiềm chế

Vì vậy, con người thường xuyên xuất hiện lo âu, ức chế và các trạng thái loạn tâmthần Có khi chúng được thoả mãn giả vờ thông qua các hình thức mộng mị, nói nhịu,viết nhầm, vv hoặc được thăng hoa dưới các hình thức sáng tác văn học nghệ thuật

Họ chỉ lấy lại được thăng bằng và thoát khỏi các trạng thái bệnh lí một khi có sự canthiệp của các bác sĩ (dùng phương pháp liên tưởng tự do xác định nguyên nhân).Căn cứ chủ yếu của thuyết phân tâm học là hệ thống lí luận về kết cấu tâm lí của conngười mà theo đó, tính cách con người được chia thành ba bộ phận: “bản ngã”, “tựngã” và “siêu ngã” Theo phân tâm học, đời sống tinh thần của con người luôn bị chấnđộng bởi các xung đột, vì vậy cần phải có những cơ chế bảo vệ để con người thíchnghi với thế giới bên ngoài Trong cuộc sống, con người một mặt phải nhận thức được

sự dồn nén những thèm muốn trong mình, mặt khác, phải biết điều chỉnh sự diễn biếncủa các quá trình tâm lí cho phù hợp với yêu cầu của những người xung quanh, tránhnhững biến động xảy ra do không thể đáp ứng trực tiếp và kịp thời những ham muốn

vô thức Lí luận cơ bản của phân tâm học có những cống hiến nhất định cho việcnghiên cứu quá trình tâm lí và chữa trị các trạng thái loạn tâm thần của con người, đặcbiệt là phương pháp liên tưởng, cách giải thích các giấc mộng Nhưng khi giải thíchcác hiện tượng xã hội và lịch sử văn hoá, phân tâm học có những sai lầm nghiêmtrọng bởi đó là quan điểm của quyết định luận sinh vật, đi ngược lại quan điểm lịchsử

1.2.2 Bản năng

Trang 5

S.Freud cho rằng con người được sinh ra với những bản năng thuộc về vô thức Nó bao gồm các bản năng sống và bản năng chết.

- Sự dồn nén: kiềm chế những lo lắng lại, che giấu không để lộ ra ngoài

- Sự phóng chiếu: chuyển những cảm xúc của mình lên người khác.(tâm sự)

- Sự chối bỏ: từ chối, ví dụ không chấp nhận những lo lắng sợ hãi đang tồn tại trong bản thân

- Sự thoái bộ: thoái lui về giai đoạn trước, có những hành vi thuộc lứa tuổi trước đó ( hiện tượng trẻ con hóa)

- Sự tạo lập hành động (phản ứng): chuyển những cảm xúc ví dụ lo âu thành hành động ( Lo về kết quả học tập – học bài)

- Sự phá bỏ: chuyển những cảm xúc lo âu thành sự hung dữ ( Lo về kết quả học tập –

đi uống rượu)

- Sự thăng hoa: chuyển lo âu, sợ hãi thành các sản phẩm có ích cho xã hội ( Ví dụ: nhà thơ Xuân Diệu chuyển cảm xúc thất tình thành thơ)

- Sự mơ mộng: thỏa mãn những mong muốn trong giấc mơ

1.2.4 Tính dục ấu thơ

S Freud cho rằng tâm lý con người phát triển qua các giai đoạn khác nhau sau đây:

- Giai đoạn môi miệng (oral stage): từ khi sinh ra cho đến 1.5 tuổi Sự thỏa mãn đượcthự hiện qua ăn uống, mút, bú mẹ Nếu đứa trẻ trong thời kỳ này không được thoảnmãn nhu cầu này, thì nó sẽ có những cảm giác tiêu cực như tự ti, lo âu về sự an toànvào những giai đoạn sau của cuộc đời

- Giai đoạn hậu môn (anal stage): từ 1.5 – 3 tuổi Sự thỏa mãn được thực hiện qua sự

đi đại tiện, tiểu tiện Thời kỳ này trẻ bắt đầu học cách kiểm soát cơ thể và môi trườngxung quanh qua việc hướng dẫn của cha mẹ, việc quy định vệ sinh và các hoạt độnggiáo dục khác

- Giai đoạn dương vật (phallic stage): từ 3 – 5 tuổi Trong giai đoạn này có 3 mặt pháttriển chính: hứng thú tình dục, phát triển của siêu tôi, mở rộng phạm vi quá trình bảo

vệ cái tôi

- Giai đoạn tiểm ẩn (latance stage): từ 5 tuổi trở lên đến tuổi vị thành niên Khi này trẻhọc cách thăng hoa tình yêu đối với bố mẹ, nó được thể hiện bằng sự tôn kính

Trang 6

- Giai đoạn cơ quan sinh dục ngoài (genital stage): là giai đoạn tuổi thanh niên vàsang tuổi trưởng thành, khi này cá nhân đã có thể nhận thức và ý thức hành vi ở ngườilớn.

1.3 Cấu trúc nhân cách

S Freud cho rằng cấu trúc của nhân cách gồm có 3 cấu thành, đó là cái Nó (Id), cáitôi (Ego) và cái siêu tôi (Super Ego) Các cấu trúc này được hình thành và phát triểndần tới khi con người được 5 tuổi

- Cái ấy (id): Hệ thống này bao gồm các bản năng vô thức và thúc đẩy con ngườithỏa mãn những mong muốn mà không tính tới các nguyên tắc và các quy định của xãhội

- Cái tôi (ego): được hoạt động, điều chỉnh (kiểm soát) bởi thực tiễn thế giới xungquanh

- Cái siêu tôi (superego): bao gồm ý thức và đạo đức

Cả ba cấu thành trên được tập hợp trong một con người và chúng quy định ảnhhưởng lẫn nhau Cái ấy hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn Cái tôi hoạt động theonguyên tắc thực tiễn và cái siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt Sự mâuthuẫn tồn tại giữa cái ấy và cái siêu tôi dễ làm con người rơi vào tình trạng căngthẳng Để giúp cho con người có thể thoát khỏi tình trạng này, S.Freud cho rằng cần

có những cơ chế tự vệ để bảo đảm tạo ra sự cân bằng trong tâm lý của con người

1.3.1 Cái ấy

Trong các yếu tố của nhân cách, "cái ấy" là yếu tố duy nhất có mặt từ lúc mới sinh ra;

nó không được tổchức, và hoàn toàn vô thức "Cái ấy" bao gồm các thôi thúc do bảnnăng vốn dẫn đến ứng xử sơ khai đối với cái đói, cái khát, tình dục và các xung độngcăn bản "Cái ấy" có tính trẻ con, ích kỷ, phi đạo đức, phi logic, và không mang ýniệm thời gian Là nguồn gốc của mọi năng lực tâm linh, "cái ấy" được xem như mộtyếu tố chính của nhân cách và là bể chứa những libido hay "thôi thúc bản năng để tạora" "Cái ấy" được lèo lái bởi nguyên tắc về vui thú nghĩa là cố tránh sự đau đớn,phiền não và cố tìm sự thỏa mãn tức thì cho mọi ao ước, thèm muốn và nhu cầu Cácnhu cầu ấy nếu không được làm vừa lòng sẽ mang đến kết quả một trạng thái lo âuhay căng thẳng Ví dụ, cảm giác đói hay khát sẽ gây ra một cố gắng tức thì để có ănhay uống; như các trẻ sơ sinh nếu bị đói sẽ khóc thét cho đến khi được cho bú Tâmtrí của trẻ sơ sinh có thể xem như hoàn toàn được điều khiển bởi "cái ấy" trong ýnghĩa nó là một khối lớn những thôi thúc và xung động do bản năng Tuy nhiên, việclàm thỏa mãn tức thì các nhu cầu bản năng không luôn luôn thực tế và thậm chí khôngthể thực hiện Nếu được điều khiển hoàn toàn bởi nguyên tắc về vui thú, ta có lẽ giựtnhững thứ ta muốn từ tay người khác để thỏa mãn ao ước của mình Nhưng làm như

Trang 7

thế sẽ gây loạn và không được xã hội chấp nhận Theo Freud, nếu không được thỏamãn với nguyên tắc về vui thú, "cái ấy" sẽ cố gắng giải quyết qua diễn trình sơ cấpvốn tạo ra một hình ảnh tâm trí về sự vật mong muốn để thay thế cho sự thôi thúc vàlàm mờ đi sự lo âu hay căng thẳng Cái ấy chính là biểu hiện của cái di truyền, có xuhướng thỏa mãn những nhu cầu bẩm sinh cá nhân Cái đó chứa đựng những bản năngnhư: ăn uống, tự vệ, tình dục…trong đó bản năng tình dục giữ vai trò quyết định toàn

bộ đời sống tâm lý con người, cái nó hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn Cái ấy vàcái vô thức được ẩn dấu sâu bên trong bộ máy tâm thần cắt nghĩa cho đa số hành vicon người

1.3.2 Cái tôi

Cái Tôi là cái trung gian giữa cái ấy và cái bên ngoài Về mặt nguồn gốc, cái tôiđược xem là một phần của cái nó nhưng đã bị tách khỏi cái nó để tiếp xúc với cái bênngoài Cái tôi con người thường ngày, con người có ý thức Cái tôi có nhiệm vụ kiểmsoát những vận động theo ý mình, đảm bảo sự tồn tại Khi cái tôi chống lại nó bằngcách giành quyền làm chủ nhưng đòi hỏi xung lực và quyết định việc thỏa mãn haychưa thỏa mãn những đòi hỏi của xung lực Công việc cảu cái tôi là làm cho ướcmuốn của cái nó phù hợp với cái thực tại tương ứng với môi trường vật lý Cái tôi bịchi phối bởi nguyên lý thực tế (hoạt động theo nguyên tắc thực tại) vì nó làm thỏamãn nhu cầu nào đó một cách thực sự chứ không phải là tưởng tượng."Cái tôi" là mộtyếu tố được tổ chức của nhân cách và làm công việc đương đầu với hiện thực để thỏamãn "cái ấy" trong đường dài Theo Freud, cái tôi phát triển từ "cái ấy" và cam đoanrằng các xung động của "cái ấy" có thể được biểu lộ theo cách được chấp nhận trongthế giới thực Nó gồm có các chức năng về nhận thức, tri thức, hành động, và tự vệtâm lý Cái tôi vận hành trong cả ba phần: ý thức, tiền thức và vô thức Ý thức nằmtrong cái tôi, nhưng không phải mọi vận hành của cái tôi đều có ý thức Cái tôi hoạtđộng dựa trên nguyên tắc về hiện thực, nghĩa là cố tìm sự thỏa mãn những ước muốncủa "cái ấy" một cách thực tế và thích hợp với xã hội Trước khi quyết định làm hay

bỏ một hành động, nguyên tắc về hiện thực giúp ta cân nhắc giữa điều lợi và cái giáphải trả từ hành động ấy Trong nhiều trường hợp, những xung động của "cái ấy" cóthể được làm vừa lòng qua diễn trình thỏa mãn trễ, nghĩa là sau cùng cái tôi rồi sẽ chophép ứng xử ấy, nhưng chỉ trong thời gian và tình huống thích hợp Sự căng thẳnggiữa "cái ấy" và cái tôi do những thôi thúc vô thức không được thỏa mãn (vì bị cái tôingăn chận) cũng được cái tôi xả bớt qua diễn trình thứ cấp, trong đó cái tôi cố gắngtìm ra một sự vật trong thế giới thực vốn ăn khớp với hình ảnh tâm trí được tạo ra bởidiễn trình sơ cấp của "cái ấy"

Trang 8

Không giống như cái ấy, cái tôi không có sẵn vào lúc sinh ra, nhưng nó sẽ dần dầnhình thành và phát triển khi đứa trẻ tương tác với mội trường sống Chức năng của cáiTôi là thực hiện việc kiểm soát bản thân và hiểu biết thế giới bên ngoài Biểu hiệnnhư: Trong giai đoạn đầu đời, đứa trẻ không thể phân biệt được các sự vật, và đó là lý

do chủ yếu khiến đứa bé con đang đói bụng có thể cho vào miệng tất cả những gì mà

nó có được trong tay Đứa trẻ khi đó vẫn không có được những cảm nhận về thế giớithực tại ở bên ngoài, và rồi trẻ sẽ phải học cách phân biệt giữa thực tế khách quan vànhững hình ảnh bên trong tâm trí của nó Cũng qua quá trình đó, đứa trẻ sớm nhận rarằng việc tạo nên những hình ảnh trong tâm trí không hề giúp thỏa mãn được nhữngnhu cầu của nó, và hệ quả là trẻ bắt đầu phân biệt được giữa bản thân nó và thế giớibên ngoài, bắt đầu học cách tìm kiếm những sự vật bên ngoài để phù hợp với nhữnghình ảnh bên trong tâm trí của nó Quá trình này tạo điều kiện cho cái tôi tách biệt rakhỏi cái ấy và được xem là quá trình đồng nhất hóa Đây là một trong những kháiniệm quan trọng nhất trong lý thuyết phân tâm

1.3.3 cái siêu tôi

Yếu tố chót được phát triển của nhân cách là "cái siêu tôi" vốn được tổ chức đểchứa đựng các tiêu chuẩn và khuôn mẫu được nhập tâm về đạo đức mà ta lãnh hội từbậc cha mẹ và xã hội, nghĩa là tri giác của ta về tội lỗi, về điều cấm kỵ, về đúng vàsai Cái siêu tôi cung cấp những hướng dẫn để phán đoán, và vận hành chủ yếu trong

vô thức nhưng một phần cũng thuộc về ý thức Theo Freud, cái siêu tôi bắt đầu xuấthiện khi trẻ em được khoảng năm tuổi và gồm có hai nhóm: Khuôn mẫu siêu tôi: gồm

có những quy tắc và tiêu chuẩn cho các ứng xử tốt vốn gồm những ứng xử được chophép bởi xã hội và bậc cha mẹ Tuân theo các quy tắc này sẽ mang đến cảm giác tựhào, giá trị và thành đạt Lương tâm: gồm có thông tin về những việc được bậc cha

mẹ và xã hội xem là xấu xa Những ứng xử ấy thường bị chỉ trích hay cấm đoán vàdẫn đến những hậu quả xấu, sự trừng phạt hay cảm giác có tội và hối hận Có sự đốinghịch ở đây: cái siêu tôi cố sức làm cho hành động mang tính thích hợp với xã hội,trong khi "cái ấy" chỉ muốn được thỏa mãn tức thì Cái siêu tôi vận hành để hoànthiện và văn minh hóa các ứng xử của con người, để cầm chân mọi thôi thúc khó đượcchấp nhận của "cái ấy", và khiến cho cái tôi hành động dựa vào các tiêu chuẩn đạođức thay vì dựa vào nguyên tắc về hiện thực Cái siêu tôi có mặt trong cả ba phần: ýthức, tiềm thức và vô thức

Cái siêu tôi là lực lượng đối lập với cái tôi ngăn cản cái tôi trong quá trình phát triển,kìm hãm sự thỏa mãn của cái tôi, đó là “cái Tôi lý tưởng” không bao giờ vươn tớiđược và hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt chèn ép Cái siêu tôi là một dạng thứckiểm soát từ bên trong của mỗi cá nhân Theo quan điểm của Freud, cái Siêu Tôi được

Trang 9

tạo nên bởi hai thành phần, đó là lương tâm và cái Tôi lý tưởng Lương tâm thể hiệnnhững điều mà một con người tin rằng mình không nên làm; còn cái Tôi lý tưởng thìthể hiện những điều mà một con người muốn thực hiện.

Ví dụ: Khi trẻ thực hiện một hành vi phù hợp mà không có ai khác ở tại chỗ để chứngkiến, khi ấy có sự hiện diện của cái siêu tôi Tiến trình đồng nhất hóa cũng quan trọngtrong sự phát triển của cái siêu tôi Những đối tượng đầu tiên trong thế giới bên ngoàigiúp thỏa mãn các nhu cầu của đứa trẻ chính là cha mẹ của nó Ngay từ giai đoạn pháttriển đầu đời, trẻ cũng nhận ra rằng ngay cả những con người quan trọng đó cũng cólúc không chấp nhận những biểu hiện từ các xung năng của nó Cha mẹ hành xử nhưnhững người gìn giữ kỹ cương, thông qua các quá trình thưởng và phạt với nhiều mức

độ khác nhau khiến đứa trẻ dần nhận ra được những hành vi nào của nó là được chấpnhận và những hành vi nào là không chấp nhận được Khi quá trình này tiếp diễn suốtthời thơ ấu, trẻ không những nhận được các giá trị và tập quán của cha mẹ, mà nó cònthống nhập những giá trị, truyền thống và tập quán mà xã hội chấp nhận

1.3.4 Mối quan hệ giữa các thành tố.

Toàn bộ cuộc sống con người là sự mâu thuẫn liên tục giữa 3 khối đó, khối nàychèn ép khối kia Nhưng nổi bật nhất là cái đó và cái siêu tôi(bản năng chèn ép, muốnkhống chế ý thức, ngược lại ý thức muốn chèn ép, khống chế vô thức) S.Freud chorằng sở dĩ dục vọng bị đè nén là do tiêu chuẩn xã hội không cho phép nó được thỏamãn, nhiều khi bản năng dục vọng bị hạn chế Tuy nhiên nó không tự động mất đi màvẫn tiếp tục hoạt động để cố tìm sự thỏa mãn Theo đó thì mọi hành vi của con người

do bản năng dục vọng tri phối và điều hành Ví dụ: xu hướng của bản năng tình dục

đã có ở trẻ con ngay từ lúc mới lọt lòng , cho nên con trai thì thích mẹ hơn ghen bốhơn còn con gái thì ngược lại Những ham muốn đó có tính chất tự nhiên, di truyềntrong tâm lý con người

Với nhiều lực cạnh tranh nhau, rất dễ cho ta nhận thấy sự xung đột sinh ra giữa

"cái ấy", cái tôi, cái siêu tôi và hiện thực Freud cho rằng cái tôi là trung gian giữa cáclực kia, tạo ra sự cân bằng giữa "cái ấy" và hiện thực (cái tôi không có tính đạo đức ởcấp độ này) trong khi làm vừa lòng cái siêu tôi (đạo đức) Mục đích của cái tôi là tạo

an toàn cho con người chủ thể và cho phép một số ước muốn của "cái ấy" được biểu

lộ, nhưng chỉ khi các hậu quả xấu của hành động là không đáng kể Có thể xem cái tôinhư một đầy tớ của ba người chủ khó tính Nó phải làm hết khả năng để phụ vụ cả ba,

vì vậy luôn luôn cảm thấy bị vây quanh bởi sự nguy hiểm do tạo ra bất mãn của cácngười chủ Tuy nhiên, dường như cái tôi trung thành với "cái ấy" hơn, có khuynhhướng bỏ qua các chi tiết nhỏ của hiện thực để giảm thiểu xung đột trong khi giả vờvẫn tôn trọng hiện thực Nhưng cái siêu tôi đang liên tục theo dõi mọi động thái của

Trang 10

cái tôi, khuyến khích cái tôi tránh làm bậy và trừng phạt về việc làm bậy bằng cảmgiác có tội, lo âu và tự ti Để vượt qua sự xung đột này, cái tôi phải dùng đến các cơchế phòng vệ tâm lý Thuật ngữ "sức mạnh của cái tôi" được dùng để chỉ khả năngcủa cái tôi trong việc đương đầu hiệu quả với các đòi hỏi của các lực kia Nhữngngười với sức mạnh của cái tôi đúng mức sẽ có khả năng điều hòa các lực với nhau,duy trì cảm xúc ổn định, và chịu nổi các áp lực bên trong lẫn bên ngoài Những ngườikém sức mạnh của cái tôi sẽ cảm thấy bị xâu xé, giành giựt giữa các lực cạnh tranh;còn những người mạnh quá có thể trở nên cứng cỏi và bất khuất Theo Freud, bí quyết

để dẫn đến một nhân cách lành mạnh là sự cân bằng giữa "cái ấy", cái tôi và cái siêutôi

Trong nhãn quan của Phân tâm học thì nhà sáng tạo trượt đi trong những trò chơi,huyễn tưởng và những giấc mơ không biên giới Người sáng tạo lao vào địa hạt củamình như những đứa trẻ lao vào cuộc chơi của chúng, ở đó những luật lệ riêng đượcthiết lập, kiến thiết nên một thế giới của cái khác kết hợp với sự tri nhận của họ về thếgiới khách quan Cứ thế người sáng tạo thụ hưởng những lạc thú của mình khi thếgiới khác biệt không ngừng được tạo sinh Có những ước muốn ở đời sống trần trụikhông được thỏa mãn đã sinh ra những huyễn tưởng, những mộng mơ và từ đó sinh ranhững giấc mơ ban ngày Phân tâm học cho đó là giấc mơ khi tỉnh, người tỉnh mộng

mơ và hoang tưởng để tác phẩm được sinh ra Tác phẩm văn chương ra đời trong tínhhuyễn tưởng, trong sự chấp chới giữa vô thức, tiềm thức và ý thức, trong sự đấu tranhgiữa những ức chế bị kìm nén và sự khát khao giải phóng những ẩn ức bị kìm nén.Những điều đó đã tạo nên suối nguồn sáng tạo, khiến cho người sáng tạo có thể camchịu những vết thương ở đời để được mộng mơ, để được sáng tạo Phân tâm học đãthực sự làm nền tảng để khai sinh ra nhiều trào lưu nghệ thuật từ khi mới ra đời chođến nay Phân tâm học đã khai mở ra nhiều chiều hướng diễn giải đối với các tácphẩm văn học, mở ra nhiều chiều hướng để đi vào thế giới bên trong của người sángtạo, một thế giới rộng lớn, không rõ hình thù và biên giới, một thế giới chứa nhiều ẩn

ức, thế giới của sự chênh chao giữa ý thức và vô thức, giữa mơ và tỉnh Trước nhữnghiện tượng văn học đương đại mang tính gây hấn với các phương pháp phê bìnhtruyền thống

Ngày đăng: 10/01/2019, 20:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w