Nhưng khó mà hiểu hết đặc điểm trong quan niệm về thế giới và con người của một nhà thơ nếu không tìm hiểu không gian nghệ thuật trong các sáng tác của nhà thơ đó.. Việc tìm hiểu không g
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Văn học là nhân học, là khoa học về con người Văn học lấy con người làm đối tượng trung tâm, bởi nhân vật là con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Các nhà văn, nhà thơ sáng tạo ra nhân vật để nhận thức con người và bộc lộ quan niệm nghệ thuật về con người của mình Nhưng khó mà hiểu hết đặc điểm trong quan niệm về thế giới và con người của một nhà thơ nếu không tìm hiểu không gian nghệ thuật trong các sáng tác của nhà thơ đó Bởi vì, nếu như không gian , cũng như thời gian, là hình thức tồn tại của vật chất, thì trong cuộc đời mỗi con người, không gian và thời gian cũng chính là hình thức tồn tại của con người Vì vậy, không thể hiểu hết về con người nếu không hiểu được không gian tồn tại của họ
Việc tìm hiểu không gian nghệ thuật sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn sâu sắc hơn về quan niệm nghệ thuật của chính nhà văn về thế giới và con người Trong những thập niên gần đây, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về không gian nghệ thuật như các công trình nghiên cứu của Trần Đình Sử, Hồ Thế Hà, Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thị Bích Hải, Hồ Gia Long, Nguyễn Quốc Khánh Đối với nhà văn Thạch Lam, cũng có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về không gian nghệ thuật Tuy nhiên, các bài viết và công trình nghiên cứu của họ chỉ mang tính khái quát về không gian nghệ thuật, mà chưa thực sự làm rõ những nét không gian riêng biệt trong các tác phẩm của ông
Qua quá trình tìm hiểu và khảo sát, chúng tôi thấy có hai quan niệm về không gian nổi bật nhất và xuyên suốt hầu hết mọi sáng tác của Thạch Lam là: không gian hiện thực hàng ngày và không gian bi kịch sau bi kịch Ở tiểu luận này, chúng tôi muốn góp một ít công sức của mình vào việc nghiên cứu hai quan niệm về không gian nghệ thuật ấy trong một số sáng tác tiêu biểu của
Trang 2Thạch Lam, để hiểu rõ hơn về thế giới nhân vật, đặc biệt là phong cách nghệ
thuật rất riêng của nhà văn Thạch Lam Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài: Hai quan niệm về không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Thạch Lam.
Bài viết này chỉ dừng lại ở việc bước đầu vận dụng những lý thuyết đã tiếp thu được của Thi pháp học để tìm hiểu không gian nghệ thuật trong sáng tác của Thạch Lam
Trang 3CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG VĂN HỌC 1.1 Khái niệm “không gian nghệ thuật”
Giáo sư Trần Đình Sử đã nói rằng: Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con người thì thời gian, không gian chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người Mọi sự vật, hiện tượng đều được gắn với hệ
tọa độ không - thời gian xác định, nên những cảm nhận của con người về thế giới đều bắt đầu từ sự đổi thay của không gian, thời gian Từ sự đổi thay của không gian - thời gian, con người nhận ra sự đổi thay trong chính mình
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính thì: thời gian và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng hệ thống nghệ thuật.
Để hiểu được khái niệm không gian nghệ thuật một cách cơ bản và khái
quát nhất, tôi xin được viện dẫn cách hiểu của Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình
tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó [1; 160].
Trần Đình Sử lí giải thêm: không gian nghệ thuật là phạm trù cảu hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật
[4; 42] Ông còn khẳng định một cách hết sức chắc chắn rằng không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật nào không nào không có một nền cảnh nào đó và không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định
Trang 4về cuộc sống
Như vậy, không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống, “mang ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật” Và sự miêu tả, trần thuật bên trong tác phẩm văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn Căn cứ vào điểm nhìn mà xác định được vị trí của chủ thể trong không - thời gian, thể hiện
ở phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm của khách thể được nhìn Điểm nhìn không gian được thể hiện qua các từ chỉ phương hướng và vị trí để tạo thành “viễn cảnh nghệ thuật”
1.2 Đặc điểm của không gian nghệ thuật
1.2.1 Không gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với không gian khách thể Bản thân không gian vật chất tồn tại khách quan, nghĩa
là sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào ý thức của con người, mà không gian vật chất chỉ trở thành không gian nghệ thuật khi được tác giả cảm nhận về nó
và qua đó thể hiện cách cảm cách nghĩ của nhà văn về thế giới, là một quan niệm nhân sinh, một thái độ sống trước cuộc đời:
Em đi để lại tiếng cười Tim tôi vỡ một khoảng trời pha lê Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may
(Lời thề Cỏ may - Phạm Công Trứ)
Thật vậy, đêm trăng chỉ là đêm trăng sáng vằng vặc hay hao khuyết như bản thân nó tồn tại không một chút cảm xúc, tâm trạng nếu không được “thẩm thấu” qua tâm hồn tác giả, không mang suy nghĩ chủ quan của người nghệ sĩ Nhà thơ Phạm Công Trứ hồi tưởng lại không gian đêm trăng ở bờ đê mà nuối
Trang 5tiếc cho tình yêu không thành.
1.2.2 Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có một ranh giới phân biệt với không gian vật chất bên ngoài, nhưng không dễ thấy như cái khung của một bức tranh, cái sân khấu của một vở diễn Nó thể hiện tính chất của một thế giới tinh thần:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim
(Từ ấy - Tố Hữu)
Không gian trong văn học chia thành những ranh giới giá trị thể hiện quan niệm về trật tự thế giới và sự lựa chọn của con người Đó là sự tách biệt
về ranh giới của không gian, giữa không gian bên trong và không gian bên ngoài, giữa ranh giới bất biến và khả biến:
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt
(Lời kĩ nữ - Xuân Diệu)
1.2.3 Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ, mang ý nghĩa cảm xúc Không gian của “bãi bể nương dâu” luôn gợi tới sự trôi chảy của thời gian, sự đổi thay của không gian của kiếp người Vì thế, không gian bãi bể, nương dâu luôn được chọn làm nền cảnh cho các cuộc chia li, nó dự báo trước
sự biến đổi lớn lao trong đời người Chẳng thế mà :
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Trang 6Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai
(Chinh phụ ngâm - Đoàn Thị Điểm)
Không gian trong văn học được biểu hiện bằng không gian điểm mang tính ước lệ tượng trưng: Thiên đình, thượng giới, làng quê, trong nhà, ngoài vườn, bến sông, tha hương, thành phố, biển khơi… Ví như mỗi khi nhắc đến nỗi nhớ quê hương của khách lữ thứ, người ta lại mượn không gian sông nước mênh mông với làn khói lam chiều:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu (Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
(Hoàng Hạc lâu - Thôi Hiệu)
Không gian biểu thị bằng các từ chỉ không gian vốn đã mã hoá sẵn về ý nghĩa trong đời sống, như: trên cao, dưới thấp, nghiêng Về tính chất thì có thể là: rộng - hẹp, dài - ngắn, phóng khoáng…:
Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu
(Tràng giang - Huy Cận)
Không gian nghệ thuật thể hiện tập trung vào cái nhìn, điểm nhìn, điểm quan sát Điểm nhìn là vị trí của chủ thể trong không thời gian, thể hiện ở
Trang 7phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm của khách thể được nhìn.
Trong nguyên tác thi phẩm Tân xuất ngục học đăng sơn, Hồ Chí Minh viết:
Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân
Thế nhưng bản dịch thơ đã dịch là:
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
Nếu hiểu rõ về điểm nhìn ta có thể thấy sự khác biệt về ý nghĩa giữa bản dịch thơ với nguyên tác Hiểu theo bản dịch thơ thì nhà thơ đứng ở vị trí dưới thấp mà nhìn lên cao hơn mới thấy núi trước rồi thấy mây sau Bởi thế trình tự mây đến núi không phải là sự sắp xếp ngẫu nhiên mà nó chịu sự chi phối bởi điểm nhìn của chủ thể, nhà thơ đứng ở vị trí cao hơn nhìn xuống thấy mây tầng tầng lớp lớp bao phủ lấy núi
Tóm lại, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật Không gian nghệ không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ
sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật Vì vậy không thể tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại
Trang 8CHƯƠNG 2 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM 2.1 Không gian hiện thực hằng ngày
Người đọc đến với Thạch Lam, họ quên và hầu như không cần thiết xem ông là nhà văn lãng mạn hay hiện thực mà điều hấp dẫn đối với họ là toàn bộ bức tranh nhân gian của ông với sự hiện diện của đủ mọi hạng người, đặc biệt
là những con người nghèo khổ
Thạch Lam có một số truyện ngắn được xếp vào những truyện hay của văn
học Việt Nam đầu thế kỷ XX như: Gió lạnh đầu mùa, Cô hàng xén, Hai đứa trẻ, Hai lần chết, Tối ba mươi, Sợi tóc
Xuyên suốt hầu hết các sáng tác của mình, Thạch Lam quan tâm hàng đầu đến không gian hiện thực hằng ngày Ông ít tô vẽ và cách điệu nó, bởi vì, như
ông nói: Cái đẹp man mác trong vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường Công việc của nhà văn là phát biểu cái đẹp kín đáo
và che lấp của sự vật Chính vì thế, không gian hiện thực hằng ngày trong tác
phẩm Thạch Lam là một xóm chợ, một ngõ hẻm, một ga xép, một phố huyện nghèo nàn hoặc một con đường làng vùng nông thôn nào đó Ở đây, các nhân vật của ông bị tù túng, luẩn quẩn với những đói nghèo, lo âu, dằn vặt thường nhật Họ luôn bị ám ảnh bởi miếng cơm, manh áo hoặc day dứt với những bi kịch tinh thần
Hình ảnh người nông dân nghèo quanh năm suốt tháng phải vật lộn với
miếng cơm manh áo hiện lên khá chân thực trong truyện ngắn Nhà mẹ Lê Câu
chuyện xoáy sâu vào số phận của một bà mẹ nghèo phải nuôi đàn con mười một đứa Hoàn cảnh của nhà mẹ Lê thật khốn khổ Nếu như ta bắt gặp hình ảnh ngôi nhà chị Dậu xiêu vẹo mà trông xa người ta cứ ngỡ là chuồng lợn hay nơi
Trang 9chứa phân… thì Thạch Lam miêu tả nhà mẹ Lê sống cũng tương tự như thế:
một căn nhà lụp xụp, chừng ấy người chen chúc trong khoảng rộng độ bằng hai cái chiếu ,có mỗi chiếc giường nan bị gãy nát ,mùa rét thì rãi ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng ngủ trên đó trông như một cái ổ chó, chó mẹ chó con lúc nhúc [2; 245]
Hiện thực khắc nghiệt khiến cho con người trong cảnh đói rét có được một căn nhà như vậy cũng là sung sướng lắm Không gian hiện thực tù túng bủa vây lấy con người, cái gì cũng rách nát, cái gì cũng ngột ngạt, cả phố chợ đều
nghèo khổ, hai dãy nhà lụp xụp đã mục nát
Trong Đói: Chỗ chàng thuê là một căn nhà hẹp và dài, chia làm nhiều
phòng, mỗi gian phòng là một gia đình chen chúc ở, tòn những người nghèo buôn bán nhỏ ở khắp nơi [2; 251] Con người trong toàn bộ truyện ngắn của
Thạch Lam đều hiện diện trong khoảng không gian như thế
Dường như, truyện ngắn của Thạch Lam tái hiện toàn bộ những cảnh đời ông đã sống, đã chứng kiến Ông có một tuổi thơ ở quê ngoại - phố huyện Cẩm giàng và tuổi thanh niên, ông lập nghiệp ở Hà Nội ba sáu phố phường Vì vậy, văn ông như sự thu nhỏ của xã hội Việt Nam trong sự giao lưu đông tây, sự giao thoa giữa cái mới và cái cũ Tất cả dấu vết của tuổi thơ, của đời sống đều trải đều vào văn ông làm thành những mảng sống vừa u buồn, vừa phủ một chất thơ, hiu hiu, đạm đạm, không có sự chói gắt, những vang động mạnh, nhưng lại gợi bao ám ảnh về số phận của kiếp người
Các nhân vật của Thạch Lam thường bị đặt trong cái không gian “nửa màu thôn ổ, nửa đã thị thành” Nếu Thanh Tịnh chọn không gian nghiêng về phía
“làng”, thì Thạch Lam nghiêng về “phố”: phố huyện, chợ huyện, nhà ga Không gian phố huyện là không gian tiêu biểu ở truyện ngắn Thạch Lam Một mặt, nó hơi hướng thị thành những cô gái răng trắng, môi đỏ, vui vẻ đi mau hàng ở một phiên chợ huyện, với sự xuất hiện của vài thức hàng mới như
Trang 10phấn xoa mặt, dầu bôi tóc, son thoa môi (Cô hàng xén).
Hay những con tàu chở đầy ánh sáng từ Hà Nội về và đi qua giây lát trong
Hai đứa trẻ: Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới Liên dắt em đứng dậy để
nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt Hai chị em còn nhìn theo cái chấm đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
Có thể nói, tác giả đã lựa chọn và tô đậm một không gian đầy bóng tối, xen
kẽ với những luồng ánh sáng le lói, vụt sáng rồi vụt tắt hoặc ở mãi trên cao, ở
xa tít tắp Không gian ở đây không chỉ làm “phông” cho tác phẩm Chính không gian là một yếu tố vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính nội dung, biểu đạt chủ đề tư tưởng của tác phẩm
Bóng tối và ánh sáng ở đây không phải được miêu tả một cách khách quan
Nó hiện lên qua cái nhìn, dõi theo của nhân vật chính Nó thâm nhập vào thé giới tâm hồn của hai đứa trẻ Ta bắt gặp trong tác phẩm một ần số khá cao
những động từ diễn tả hành động như nhìn, thấy, quan sát, tìm kiếm
“Hai chị em ngồi nhìn ra phố Liên trông thấy mấy đứa nhỏ con nhà nghèo cuối lom khom Bây giờ Liên mới thấy thằng cu bé xách điếu đóm Hai chị em đưa mắt dõi theo những người về muộn Liên và An ngước mắt lên nhìn vòm trời ngàn sao lấp lánh để tìm sông Ngân Hà Chúng còn nhìn theo
các chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng càng xa xa mãi ”
Ở đây, có sự chuyển dịch điểm nhìn của nhà văn sang điểm nhìn của nhân vật Đằng sau nhân vật là cái nhìn chăm chú theo dõi của nhà văn vào từng cử chỉ, ánh mắt của chúng, cảm nhận nỗi sợ hãi bóng tối và niềm khát khao ánh sáng từ mọi phía Mọi chi tiết trong truyện rất chân thực và bình dị như đời
Trang 11sống thực Nhưng trong cái tĩnh lặng của không gian chiều phố huyện, ta nhận
ra sự vận động có bề sâu, trong đó ánh sáng tồn tại bên cạnh bóng tối; cái đẹp
đẽ nằm ngay trong cái bình thường; cái khao khát, ước mơ nằm ngay trong cá nhẫn nhục, cam chịu; cái xôn xao, biến động nằm ngay trong lặng lẽ đời thường
Hay hai nhân vật Huệ và Liên trong Tối ba mươi đã tìm đến chính mình
trong những giá trị tinh thần bền vững và thiên liêng nhất là gia đình, quê hương, làng xóm - chỗ dựa tinh thần duy nhất còn lại, nhưng rồi vẫn phải chịu giam hãm trong cái đêm ba mươi đầy sương mù, gió lạnh, ngõ tối để chờ tiếng giao thừa vang lên, nhằm xua đi một năm cũ nặng nề, u ám
Mặt khác, phía sau phố huyện ấy là những cánh đồng, những con đường mấp mô vết chân trâu, những lối cỏ ướt đẫm sương sớm, là tiếng ếch kêu ran mỗi khi chiều về Không gian này khiến cho người ta thấy đó là một hiện thực khắc nghiệt và nhân vật của Thạch Lam là những con người nhỏ bé cứ “sống mòn” một cách đáng thương ở những phố huyện này
Có thể thấy hầu hết truyện ngắn của Thạch Lam đều sử dụng không gian hiện thực hằng ngày làm môi trường cho nhân vật hoạt động Nhưng không gian hiện thực ở đây được bó hẹp lại trong không gian đời tư, không gian cá nhân chứ không phải trong không gian xã hội rộng lớn, nên không gian càng dồn nén, thu nhỏ, đông lại, càng hiu hắt hơn Chính không gian hẹp đó, nhân vật bộc lộ bản chất, hành vi, suy nghĩ của mình một cách cụ thể, chân thật nhất
- và khi họ thấy bất lực trước hoàn cảnh thì lập tức ngôn ngữ độc thoại, ngôn ngữ giấc mơ hiện ra, khi ấy không gian hồi tưởng xuất hiện Không gian hẹp
mà Thạch Lam quan tâm miêu tả giúp cho nhân vật tự vấn, tự ý thức để đối chiếu, so sánh niềm vui, nỗi buồn của mình trong từng thời gian một cách cụ thể
Nhân vật Dung trong truyện ngắn Hai lần chết hiểu rõ nỗi bất hạnh của