1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểu nhân vật cô đơn lác loài trong tiểu thuyết sông của nguyễn ngọc tư và tiểu thuyết sa mạc của le clézio

112 219 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi thấy sự so sánh giữa tiểu thuyết Sa mạc và Sông cũng có những khập khiễng nhất định, mà khập khiễng lớn nhất là tầm vóc của hai nhà văn nhưng chúngtôi vẫn nhìn thấy được sự thố

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THẮM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố.Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn có xuất xứ rõ ràng

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ HUYỀN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài “Kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc

Tư và tiểu thuyết Sa mạc của Le Clezio” là nội dung tôi chọn để nghiên cứu và làm

luận văn tốt nghiệp sau hai năm theo học chương trình cao học chuyên ngành Vănhọc Việt Nam tại khoa Ngữ văn - Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, dưới sựhướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thắm

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Thắm, người đãtrực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn Nhờ sự chỉ bảo tận tình của

cô mà luận văn của tôi mới được hoàn thành và có kết quả như ngày hôm nay

Tiếp đó, tôi xin tỏ lòng cảm ơn chân thành đến tập thể các thầy, cô khoa Ngữvăn - Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên; đặc biệt là các thầy cô trong bộ mônVăn học Việt Nam, ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, phòng quản lí sau Đại học trườngĐại học sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiêncứu Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, lãnh đạo cơ quan, đồng nghiệp đã giúp đỡ, độngviên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, hoàn thành luận văn

Dù đã cố gắng, nỗ lực hết mình để hoàn thành nhưng tôi nhận thấy luận văncủa mình vẫn không tránh khỏi hạn chế, sai sót Vì vậy, tôi rất mong nhận đượcnhững lời góp ý chân thành từ thầy cô và các bạn

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2018

TÁC GIẢ

NGUYỄN THỊ HUYỀN

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc của luận văn 9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10

1.1.Tác giả Nguyễn Ngọc Tư 10

1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 10

1.1.2 Tiểu thuyết Sông 13

1.2 Tác giả Le Clézio 15

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 15

1.2.2 Tiểu thuyết Sa mạc 19

1.3 Nhân vật cô đơn lạc loài và kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong văn học 21

Chương 2 HÀNH TRÌNH KIẾM TÌM HẠNH PHÚC CỦA KIỂU NHÂN VẬT CÔ ĐƠN LẠC LOÀI TRONG SÔNG VÀ SAMẠC 29

2.1 Các kiểu loại nhân vật cô đơn, lạc loài trong Sông và Sa mạc 29

2.1.1 Nhân vật tự cô đơn 29

2.1.2 Nhân vật bị cô đơn 36

2.2 Không gian và thời gian của hành trình 42

2.2.1 Không gian nghệ thuật 42

2.2.2 Thời gian nghệ thuật 49

2.3 Cách phản ứng của các nhân vật trước nỗi cô đơn 58

Trang 6

Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG KIỂU NHÂN VẬT CÔ ĐƠN LẠC

LOÀI TRONG TIỂU THUYẾT SÔNG VÀ SA MẠC 63

3.1 Nghệ thuật xây dựng ngoại hình 63

3.2 Nghệ thuật xây dựng hành động 79

3.3 Ngôn ngữ và tâm lí nhân vật 85

3.3.1 Ngôn ngữ bên ngoài (đối thoại trực tiếp) 86

3.3.2 Ngôn ngữ bên trong (độc thoại và đối thoại nội tâm) 90

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Chi tiết miêu tả hình ảnh đôi mắt, ánh nhìn của một số nhân vật cô đơn, lạc

loài trong Sông 65

Bảng 3.2 Chi tiết miêu tả hình ảnh đôi mắt, ánh nhìn của một số nhân vật cô

đơn, lạc loài trong Sa mạc 70 Bảng 3.3 Hành động của nhân vật Hartani qua tác phẩm Sa mạc 81

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Jean-Marie Gustave Le Clézio, người được Viện Hàn lâm Thụy Điển công

bố trao giải Nobel văn chương 2008 không phải là một cái tên xa lạ đối với nhữngngười yêu văn chương Ông là một trong những nhà văn hiện đại Pháp được dịchnhiều nhất Có thể coi ông là một trong những gương mặt nổi bật, tiêu biểu của tiểuthuyết Pháp từ nửa sau thế kỉ XX cho đến nay Ông thường được kể là một trong cácnhà văn tiên phong

Trong nền văn học Việt Nam thời kì đổi mới, người yêu văn chương cũng nhưgiới phê bình nghiên cứu khoảng mười năm đầu thế kỷ XXI không còn xa lạ với cáitên Nguyễn Ngọc Tư Tên tuổi của chị gắn liền với những tác phẩm có dấu ấn với bạnđọc và giới phê bình

Hai nhà văn thuộc hai quốc gia, hai châu lục khác nhau nhưng đều là nhữngcây bút tài hoa trên văn đàn dân tộc mình Trong sáng tác của họ thế giới nhân vật vôcùng phong phú và đa dạng, tuy nhiên trong một số tác phẩm, cả hai nhà văn đều đềcập đến kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài Kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài giữa hai nhàvăn này có những điểm tương đồng và khác biệt

1.2 Tiểu thuyết Sa mạc là tác phẩm được giải thưởng lớn Paul Morand đồng

thời được đánh giá là tinh hoa trong chặng đường sáng tác thứ hai của nhà văn Le

Clézio Sa mạc là tác phẩm tiêu biểu cho tư tưởng nghệ thuật của Le Clézio Qua tác

phẩm, nhà văn tiếp tục sứ mạng của mình là phản ánh thân phận con người trong thờiđại văn minh tiêu thụ Cuộc tìm kiếm thiên đường của tự do và hạnh phúc, tình yêu

con người và cuộc sống là chủ đề chính trong tiểu thuyết Sa mạc và đó cũng là vấn đề đặt ra cho toàn nhân loại Tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư được đánh giá là

độc đáo, đầy tính thời sự mà cũng giàu chất thơ Một dòng sông hư cấu nhưng lạichảy qua những bãi bồi phù sa, ghềnh thác để chứng kiến bao thân phận con người,những biến động của thời đại nổi nênh trong những giá trị khuất lấp, xói mòn bởinhững giả trá, phù phiếm và cả sự chênh vênh, bất cần trên điểm tựa chung nhất lànỗi đau mà mỗi người phải gồng gánh

Trang 9

1.3 Nhịp sống hối hả của cuộc sống hiện đại kéo theo nhiều hệ lụy Sống gấp,

sống nhanh, sống vội vàng nhưng khi mọi thứ không theo ý muốn người ta lại dễ rơivào trạng thái cô đơn Kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài không phải là một đề tài mới mẻtrong văn học Họ luôn cảm thấy bơ vơ, lạc lõng Họ là nạn nhân của những bi kịch,

éo le, ngang trái, bị số phận xô đẩy đến nỗi cô đơn Quả thật, nỗi cô đơn của nhiềunhân vật trong nhiều tác phẩm ở những quốc gia, châu lục khác nhau nhiều khi khó sẻchia và họ cứ sống chìm đắm rất lâu trong cái vỏ bọc của sự cô đơn ấy Tác phẩm củahai nhà văn đã góp thêm cách cảm nhận về sự cô đơn, lạc loài ấy một cách thấm thía

Chúng tôi thấy sự so sánh giữa tiểu thuyết Sa mạc và Sông cũng có những khập

khiễng nhất định, mà khập khiễng lớn nhất là tầm vóc của hai nhà văn nhưng chúngtôi vẫn nhìn thấy được sự thống nhất là cả hai đều có kiểu nhân vật cô đơn lạc loài và

đó là lí do để chúng tôi chọn hai tác phẩm này Hiện tượng này xứng đáng là một đốitượng cho một đề tài nghiên cứu kĩ càng hơn, hệ thống và đầy đủ hơn Bởi vậy chúng

tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: Kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong tiểu thuyết

Sông của Nguyễn Ngọc Tư và tiểu thuyết Sa mạc của Le Clezio Mặt khác, đề tài này

còn góp phần vào công việc nghiên cứu và học tập văn học Pháp ở Việt Nam Từ đó,tăng cường tình hữu nghị giữa hai nước Việt - Pháp trong bối cảnh giao lưu, hợp tác,cùng phát triển hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

2.1 J.M.G Le Clézio là tác giả thu hút được sự quan tâm, chú ý của đông đảo

giới nghiên cứu, phê bình và độc giả trên thế giới Tác phẩm của ông là đối tượngnghiên cứu của rất nhiều công trình tại Pháp và nhiều nước trên thế giới như Mỹ,Canada, Hàn Quốc, Ý… Luận văn của chúng tôi sẽ giới thiệu khái quát một số tácphẩm và các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước (chủ yếu là các tài liệu

bằng tiếng Việt) trong đó đề cập đến tiểu thuyết Sa mạc của Le Clézio.

Từ trước thời điểm Le Clézio được nhận giải Nobel năm 2008, tác phẩm củaông đã rải rác được giới thiệu ở Việt Nam Khảo sát theo thời gian, chúng tôi nhậnthấy tác phẩm cũng như các công trình nghiên cứu về ông ngày càng tăng lên về sốlượng, cụ thể hơn, chuyên sâu hơn về mặt lý luận, nghệ thuật Trước những năm

Trang 10

2000, tác phẩm cũng như tài liệu về Le Clézio vô cùng ít ỏi Độc giả Việt Nam biếtđến ông trước tiên qua bài viết giới thiệu về J.M.G Le Clézio kèm theo một đoạn

trích từ tiểu thuyết Biên bản của tác giả Hoàng Ngọc Biên trong cuốn Tiểu thuyết của

các nhà văn Pháp hiện đại, in tại Sài Gòn năm 1969.

Từ năm 1992, cuốn Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XX (Đặng Thị Hạnh chủ biên)

đã nhận định như sau về Le Clézio: “lối viết “vỡ tung”, sự xâm nhập các thể loại

trong tác phẩm của Le Clézio là một biểu hiện chấp nhận tất cả mọi lối biểu hiện của

sáng tác văn học hôm nay” [17, tr.153] Về cuốn Sa mạc các tác giả đã khẳng định sự nổi tiếng của nó: “Lối viết trần trụi, chữ nghĩa tẻ nhạt, nhưng số phận của một phụ nữ

da đen sớm thành đàn bà, Lalla, đã gợi biết bao tầng ý nghĩa cho con người hiện đại,người lao động cư trú ở nước ngoài và phụ nữ đối mặt với “văn minh” công nghiệp.Cuốn sách được dư luận đánh giá là “cuốn tiểu thuyết tuyệt nhất lâu lắm mới đượcviết ra bằng tiếng Pháp” [17, tr.153]

Năm 1997, trên báo Lao động số 135 ra ngày 24/8/1997 đăng bài viết của tácgiả Huỳnh Phan Anh giới thiệu khuynh hướng đổi mới kỹ thuật tiểu thuyết và chủ đề

cuộc hành trình trong một số tác phẩm của Le Clézio trong đó có tiểu thuyết Sa mạc.

Vào năm 1999 xuất hiện bài nghiên cứu đầu tiên giới thiệu Le Clézio trong

một số Chuyên san về tiểu thuyết Pháp của Tạp chí văn học, trong đó ông được khẳng

định “đã chứng minh tài năng của mình”, là người được “xếp hạng” trong làng văn

học Pháp đương đại từ khi còn khá trẻ (30 tuổi) với tác phẩm Biên bản (giải thưởng

Renaudot) Tác giả Lộc Phương Thuỷ trong bài viết này đã giới thiệu nhà văn cócông “làm cho bức tranh toàn cảnh của văn học Pháp thế kỉ XX đỡ màu ảm đạm” Bàgiúp người đọc hiểu rõ Le Clézio hơn không chỉ với tư cách một nhà tiểu thuyết màcòn là người viết truyện ngắn, tiểu luận, dịch thuật Hơn thế ông còn là người nghiêncứu và giảng dạy ở Pháp và các nước khác như Mỹ, Mexique, Thái Lan…Tiểu thuyết

Sa mạc cũng được tác giả bài báo giới thiệu như một bằng chứng về một lối viết riêng

của Le Clézio: “điều đó được thể hiện không chỉ ở việc làm “vỡ tung” văn bản, màchủ yếu là việc xâm nhập các thể loại trong tác phẩm của ông Trong tiểu thuyết củaông có cả thơ, có tiểu luận, có sử thi, huyền thoại và cổ tích…” [36, tr 38]

Trang 11

Năm 2001 tác giả Phùng Văn Tửu xuất bản cuốn Tiểu thuyết Pháp bên thềm

thế kỷ XXI trong đó có dành một số trang để giới thiệu về sự chuyển biến tinh thần

của Le Clézio thể hiện trong các tác phẩm ra đời những năm 80 như Sa mạc (1980),

Người tìm vàng (1985) đồng thời tác giả cũng đề cập đến chủ đề đi tìm miền đất hứa

ở thế giới quê hương cội nguồn và thiên nhiên hoang sơ tinh khiết

Bài viết của tác giả Lê Thị Phong Tuyết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học

số 4-2004 với nhan đề Ba nhà tiểu thuyết tiêu biểu cuối thể kỉ XX nhấn mạnh chủ đề

tư tưởng của tiểu thuyết Sa mạc Theo tác giả bài viết Sa mạc “thực sự là bản anh

hùng ca về cuộc đấu tranh của những con người bị giết hại, những con người phải di

cư Nó cũng đồng thời tố cáo sự tàn bạo của chiến tranh, của chủ nghĩa thực dân Đây

là sự chồng chéo hai thế giới: thế giới của sa mạc và thế giới của thành phố, của văn

minh ( ) Đây là bản anh hùng ca về “những người đàn ông, những người phụ nữ

của cát, của gió, của ánh sáng, của buổi đêm” [42].

Đề cập cụ thể về một số yếu tố nghệ thuật trong Sa mạc phải kể đến bài viết

Thời gian, không gian trong tiểu thuyết Sa mạc của Le Clézio đăng trên Tạp chí

Nghiên cứu văn học số 2/2006 của tác giả Nguyễn Thị Bình Tác giả bài viết đã khảo

sát một cách hệ thống cấu trúc và không - thời gian trong tiểu thuyết Sa mạc và từ đó

đưa ra kết luận: “Với cách xử lí thời gian và không gian đặc sắc, Le Clézio đã làm nổibật những vấn đề bức thiết của con người, của xã hội và lịch sử Và đặc biệt là manglại một sắc thái mới cho đề tài viễn du Những cuộc hành trình của các nhân vật chính

là hành trình khám phá thế giới hiện thực của bản thân mình Cái cá thể hoà nhập vàocái chung, cái tôi tồn tại trong lòng cuộc đời sống động với vô vàn sắc thái đa dạng.Mặt khác cuộc viễn du đó chính là quay trở về cội nguồn, để tìm thấy bản sắc của dântộc mình - một trong mối quan tâm của các nhà văn Pháp và chắc chắn cũng là củacác nhà văn Việt Nam” [5]

Tài liệu có liên quan nhiều nhất đến đề tài luận văn của chúng tôi là Luận án

tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bình với đề tài Những cuộc hành trình trong tiểu

thuyết của J.M.G Le Clézio (2006) Trong luận án của mình, tác giả đi sâu khảo sát

các cuộc hành trình trong bốn tiểu thuyết của J.M.G Le Clézio: Cuốn sách của những

cuộc chạy trốn, Sa mạc, Người đi tìm vàng và Con cá vàng Tiểu thuyết Sa mạc được

tác giả luận án đề cập về mặt cấu trúc tác phẩm, nhân vật và không gian như những

Trang 12

chủ thể của các cuộc hành trình Trong đó nhân vật trong Sa mạc được khai thác ở hai

cấp độ đó là nhân vật chính thực hiện cuộc hành trình gồm Lalla, Nour và cộng đồng

du mục và nhân vật phụ tác động, định hướng những cuộc hành trình đó là nhữngnhân vật huyền thoại như Ma el Ainine, Al Azraq còn nhân vật Namman, Hartani lạiđược xếp vào loại nhân vật khai sáng Từ khảo sát, phân tích nhân vật, tác giả đi đếnnhững đánh giá về kỹ thuật xây dựng nhân vật độc đáo của tác giả đó là sự kết hợpbút pháp hiện thực và trữ tình gắn liền với cuộc hành trình về thế giới cội nguồn.Đồng thời tác giả luận án cũng nhận định: kiểu nhân vật độc đáo trong những cuộchành trình đã góp phần biến đổi cốt truyện của tiểu thuyết viễn du theo cách thức củatiểu thuyết phản ánh quan niệm về thế giới, về tư tưởng

Từ luận án này, tác giả Nguyễn Thị Bình đã sửa chữa và bổ sung để cho ra mắt

cuốn Tư tưởng nhân văn trong các tác phẩm của J.M.G Le Clézio (2010).

Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về Le Clézio.Trong công trình này, tác giả đã dành một phần không nhỏ (gần 1/3 số trang) để giớithiệu những cách tân, đổi mới kỹ thuật tiểu thuyết của Le Clézio cùng với tư tưởngnhân văn mà ông gửi gắm trong các tiểu thuyết chủ đề “viễn du” của mình Tác giảkhẳng định: tất cả những cách tân táo bạo về kĩ thuật tiểu thuyết của Le Clézio nhằm

để phản ánh những suy ngẫm về thân phận con người, những cuộc hành trình tìmkiếm tự do và hạnh phúc Những chuyến di mải miết trong không gian vô tận để truytìm tình yêu con người trong xã hội hiện đại được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau

Sự chối bỏ xã hội hiện đại, đi tìm cội nguồn, hướng tới thế giới lí tưởng được tiếnhành bằng những chuyến viễn du trong thế giới hiện thực hoặc trong tưởng tượng.Những chuyến khởi hành đó chứa đựng sự dịch chuyển trong không gian, thời

gian và những biến đổi sâu sắc thế giới tinh thần của nhân vật Tiểu thuyết Sa

mạc được tác giả xếp vào thể loại tiểu thuyết “viễn du” và được khảo cứu như là một

trong số những tiểu thuyết tiêu biểu thể hiện đặc sắc tư tưởng nhân văn của tác giả

Cụ thể là chủ đề tư tưởng, cấu trúc của tác phẩm cũng như trong những cuộc hànhtrình tìm kiếm tự do và hạnh phúc mà cá nhân Lalla và cộng đồng du mục thực hiện

Ngoài ra cũng phải kể đến một số khóa luận tốt nghiệp Đại học nghiên cứu vềtác phẩm của Le Clézio như Khoá luận tốt nghiệp của các sinh viên:

Trang 13

Khúc Thị Hoa Phượng (2003), Nguyễn Thị Mỹ Liên (2006), Nguyễn Thị LanAnh (2009) sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốcgia Hà Nội Các khóa luận trên phần nào đã đề cập đến những khía cạnh thi pháptrong tác phẩm của Le Clézio như: Nghệ thuật xây dựng nhân vật; Người kể chuyện;

Lối viết và bút pháp trong các tập truyện ngắn Người chưa thấy biển, Mondo và

những chuyện khác, Vòng xoáy… Năm 2009, cũng tại trường Đại học này có thêm

khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang với đề tài Yếu tố huyền

thoại trong tiểu thuyết Sa mạc của Jean Marie Gustave Le Clézio Trong khoá luận

của mình, tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang tập trung khai thác các yếu tố huyền thoạithông qua cấu trúc tác phẩm, hệ thống nhân vật, không gian, thời gian cùng một số

mô típ biểu tượng có chứa yếu tố huyền ảo…

Nhìn chung các bài viết cũng như các công trình nghiên cứu trên phần nào đã

đề cập đến các vấn đề thi pháp và Nghệ thuật tự sự của Sa mạc song vẫn chưa được

khai thác cụ thể, chuyên sâu về kiểu nhân vật cô đơn lạc loài

2.2 Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ được nhanh chóng nhìn nhận tài năng.

Chị trở thành cái tên quen thuộc, một gương mặt không xa lạ với độc giả cả nước.Các bài báo viết về Nguyễn Ngọc Tư khá nhiều từ báo mạng đến báo viết,… Các bàibáo có nhiều ý kiến đa dạng, thậm chí là trái chiều và có khi đối lập nhau Điều nàycho thấy Nguyễn Ngọc Tư và sáng tác của chị được dư luận chú ý quan tâm và ítnhiều cũng là một hiện tượng nổi bật của văn học đương đại Bên cạnh đó ta còn bắtgặp một lượng không nhỏ các báo cáo khoa học, khoá luận tốt nghiệp, luận văn thạc

sĩ về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư,

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, có thể thấy, cácbài viết, các công trình nghiên cứu về tác phẩm của tác giả Nguyễn Ngọc Tư kháphong phú, tuy nhiên chủ yếu mới dừng lại ở từng tác phẩm, hoặc đi vào một số khíacạnh trong sáng tác của chị (phần nhiều là truyện ngắn) Tiêu biểu có thể kể đến:

Đoàn Ánh Dương (2007), “Cánh đồng bất tận, nhìn từ mô hình tự sự và ngônngữ trần thuật”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 2, trang 96 - 109

Lê Thị Cúc (2008), Khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tưtrong hai tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” và “Cánh đồng bất tận”

Nguyễn Thành Ngọc Bảo (2012), Nghệ thuật xây dựng tình huống truyệntrong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Trang 14

Với luận văn này, chúng tôi sẽ cố gắng khảo sát một cách hệ thống, thấu đáo

kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong tiểu thuyết đầu tay - Sông của Nguyễn Ngọc Tư,

từ đó đúc rút những nét riêng độc đáo cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật thể hiện

trong sự đối sánh với tiểu thuyết Sa mạc của Le cle’zio, khẳng định những đóng góp

đáng quý của hai tác giả này với nền văn học dân tộc và văn học nhân loại

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn chỉ ra kiểu nhân vật cô đơn lạc loàiđược đề cập đến trong hai tác phẩm, đặc điểm của hành trình kiếm tìm hạnh phúc vànghệ thuật xây dựng kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài của Nguyễn Ngọc Tư và Le Clezio

trong Sông và Sa mạc Qua đó giúp người đọc thấy được nét chung của con người cô

đơn, lạc loài trong văn học hậu hiện đại đồng thời giúp độc giả có được sự nhìn nhậnsâu sắc hơn về sự cô đơn lạc loài của con người trong xã hội hiện nay Hơn thế nữa,khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi cũng muốn mọi người nhìn nhận thấy văn họcViệt Nam đã có những bước tiến rất xa (về tư tưởng) so với giai đoạn trước, đang dầntừng bước vươn tầm khu vực và thế giới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu kiểu nhân vật cô

đơn lạc loài trong Sông và Sa mạc.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi sẽ tìm hiểu và nghiên cứu kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài trong haitiểu thuyết:

+ Sông (2012) Nxb Trẻ- tiểu thuyết đầu tay đã được xuất bản và gây được ấn

tượng sâu sắc đối với độc giả của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

+ Sa mạc(2010) Nxb Văn học, dịch giả Huỳnh Phan Anh - cuốn tiểu thuyết đã

mang về cho Le Clezio giải thưởng lớn Paul-Morand của Viện Hàn lâm Pháp và gópphần quan trọng giúp ông đến với giải Nobel Văn học 2008

Chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu toàn bộ thế giới nhân vật trong tácphẩm của Le Clézio và Nguyễn Ngọc Tư mà chỉ tập trung khai thác kiểu nhân vật côđơn, lạc loài thông qua một số phương diện cơ bản như: Hành trình tìm kiếm hạnh

Trang 15

phúc, nghệ thuật xây dựng nhân vật.Trong quá trình nghiên cứu, để phong phú hơn

cho các luận chứng của luận văn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu Sa mạc kết hợp so sánh Sông và liên hệ thêm đến kiểu nhân vật này trong sáng tác của hai nhà văn.

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp cơ bản sau:

Phương pháp phân tích,tổng hợp: Trên cơ sở thống kê, phân loại, phương

pháp phân tích, tổng hợp giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về nhânvật cô đơn, lạc loài được phản ánh qua hai tác phẩm

Phương pháp khảo sát, thống kê: Để phân tích, lí giải kết quả cần tiến

hành việc thống kê, phân loại Đây chính là phương pháp cần thiết cho việc tìmhiểu và làm rõ nghệ thuật xây dựng kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong tiểu

thuyết Sông và Sa mạc.

Phương pháp so sánh, đối chiếu: giúp chúng tôi nhìn nhận, đánh giá sự giống

và khác nhau của kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong tác phẩm Sông và Sa mạc

Phương pháp tổng phân hợp: Giúp người đọc đánh giá toàn diện và khái quát

được vấn đề đặt ra trong luận văn

Phương pháp nghiên cứu lịch sử: nhằm tìm ra nguồn gốc xuất hiện, quá

trình phát triển và qua đó thấy được những đóng góp mới mẻ của các nhà văn về

đề tài này

6 Đóng góp của luận văn

Tìm hiểu, khám phá những nét đặc sắc trong kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài qua

Sa mạc của Le Clézio và Sông của Nguyễn Ngọc Tư cùng những đóng góp của hai

nhà văn trong quá trình đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết hậu hiện đại, chúng tôi hy vọngluận văn có thể góp phần giới thiệu một cách đầy đủ hơn quan điểm cũng như sự nhìnnhận, đánh giá của các nhà văn về số phận con người, về vấn đề con người cô đơn, lạcloài đang diễn ra ở nhiều nơi trên nhiều nước và sự quan tâm đặc biệt của các nhà văn

về họ thể hiện trong sáng tác của mình với nhiều nỗi băn khoăn, trăn trở vẫn còn đauđáu

Về mặt thực tiễn chúng tôi hy vọng luận văn sẽ là tư liệu tham khảo hữu ích,thiết thực cho việc nghiên cứu, học tập văn học đương đại Việt Nam; văn học nướcngoài, đặc biệt là văn học Pháp đương đại

Trang 16

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1.Tác giả Nguyễn Ngọc Tư

1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

Nếu là một người yêu văn chương và chịu khó theo dõi văn chương Việt Nammấy năm gần đây hẳn bạn không khỏi ấn tượng với cái tên Nguyễn Ngọc Tư NguyễnNgọc Tư sinh năm 1976 tại Bạc Liêu, 4 tuổi theo gia đình về sinh sống tại xã TânDuyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Tuổi thơ của Nguyễn Ngọc Tư khá lam lũ vàvất vả, mới học hết lớp 9 thì gia đình chị đã xảy ra những biến cố, điều kiện kinh tếgia đình lại khó khăn, chị đã buộc phải dừng lại việc học trên ghế nhà trường khi mớimười lăm tuổi Để giúp cha mẹ trang trải trong cuộc sống mưu sinh chị đã hái rau rachợ bán Chính những ngày “vào đời sớm” cùng sự vất vảnhọc nhằn trên vùng đồngbằng sông nước nhiều khó khăn cũng nhưnhững người dân chất phác, thật thà nơi đây

đã tạo nên một nguồn cảm hứng lớn trong sáng tác của chị

Từ nhỏ Nguyễn Ngọc Tư đã có niềm đam mê viết lách, viết để thể hiện, viết

để trải nghiệm bản thân và cuộc sống, nhà văn đã tập tành viết nhật kí Dưới sự độngviên của cha - ông Nguyễn Thái Thuận vốn là người có tấm lòng thương con, hiểu rõcon gái có khiếu văn chương, người cha có vẻ thực tế, trải nghiệm như một người đãtừng cầm bút, thường không bỏ qua bất cứ cơ hội tốt nào để khuyến khích con mình

“Nghĩ gì, viết nấy Viết điều gì con đã trải qua” Cha của Nguyễn Ngọc Tư đã trở

thành người đầu tiên đọc và góp ý cho cô con gái út Năm 1995, truyện ngắn Đổi

thay- một truyện ngắn được trích trong nhật ký của tác giả, đã được đăng trên Tạp chí

văn nghệ Cà Mau như một cơ duyên dẫn dắt Nguyễn Ngọc Tư đến với con đường vănnghiệp Sau ba tác phẩm được đăng trên tạp chí này, Nguyễn Ngọc Tư đã được nhậnlàm văn thư và học làm phóng viên tại đây Ngoài đời, Nguyễn Ngọc Tư được đánhgiá là một người phụ nữ chân chất, hồn nhiên và sống rất bản lĩnh Chị lập gia đìnhvới Quang Hà - một chàng trai hiền lành, kiệm lời làm thợ kim hoàn khi mới 24 tuổi

và đến nay đã có hai cậu con trai Chồng của Nguyễn Ngọc Tư biết vợ đang làm côngviệc sáng tác nhưng anh không có thời gian đọc “những gì cô ấy viết” Mãi đến khi

truyện Cánh đồng bất tận của vợ được báo đăng nhiều kỳ anh mới có dịp đọc hết.

Trang 18

Cảm thông với sự nhọc nhằn trong nghiệp cầm bút của vợ, sau giờ làm việc Quang

Hà sẵn sàng tình nguyện chia sẻ việc nhà với vợ Hiện nay chị cùng gia đình đangsống tại thành phố Cà Mau và chị đang làm việc cho tạp chí bán đảo Cà Mau

Tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự thành công của Nguyễn Ngọc Tư, đưa Ngọc

Tư chính thức bước vào làng văn đó là tập kí sự “Nỗi niềm sau cơn bão”, tác phẩm

được viết trong chuyến đi thực tế ở cửa biển Khánh Hội, sông Đốc sau khi đất Mũiphải trải qua cơn bão số 5 khủng khiếp Tác phẩm này đã đạt giải ba báo chí toànquốc năm 1997 Bằng sự nhạy cảm cùng khả năng cảm thụ cuộc sống và con ngườirất tinh tế, thêm vào đó là tài năng thiên bẩm, Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện năng lực

bứt phá, dồi dào và mạnh mẽ khi đạt giải nhất cuộc thi Văn học tuổi 20 lần thứ II của Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh với tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt (2000).

Năm 2001, tác phẩm này đoạt Giải B của Hội nhà văn Việt Nam rồi giải dành cho tácgiả trẻ nhất của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam

kèm theo nhiều bằng khen và tiền thưởng Tập sách này đã được chọn in lại trong "Tủ

sách Vàng" của NXB Kim Đồng năm 2003, cũng trong năm này chị được tuyên

dương là một trong “Mười nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu năm 2002” Nguyễn Ngọc

Tư được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam khi mới 27 tuổi Trong cuộc thi truyện

ngắn của báo văn nghệ năm 2004-2005 chị đạt giải ba với tác phẩm Đau gì như thể.

Những năm qua, bằng giọng văn tưng tửng mà tình cảm của mình chị tiếp tục gâyngạc nhiên và đem lại nhiều thiện cảm cho bạn đọc Nguyễn Ngọc Tư cũng là tác giảtrẻ nhất có tên trong tuyển tập truyện ngắn Việt Nam được dịch và in ở Mỹ, do đó chị

đã vinh dự được chọn lên hình chương trình Người đương thời năm 2005 Năm 2006,Nguyễn Ngọc Tư lại đạt luôn giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam với Cánh

đồng bất tận- tác phẩm ngay từ khi ra đời đã thực sự gây sóng gió trên văn đàn đương

thời và tạo ra không ít xôn xao trong dư luận Nhưng cũng chính nhờ tác phẩm này

mà Nguyễn Ngọc Tư tiếp tục được nhận thêm giải thưởng Văn học Asean năm 2008.

Cánh đồng bất tận không chỉ đạt doanh số bán ra cao nhất năm 2005 mà năm 2010

được dựng thành phim, đây cũng là tác phẩm điện ảnh ăn khách ở các rạp chiếu phim

trong cả nước lúc đó Có thể nói, thành công ở Cánh đồng bất tận không chỉ khiến

tên tuổi Nguyễn Ngọc Tư trở nên thân thuộc với độc giả yêu văn chương nước nhà

mà nó còn giúp cho Nguyễn Ngọc Tư có được tấm vé thông hành đến với độc giảnhiều nước trên thế giới Hiện tại nhiều truyện ngắn của chị được dịch ra tiếng Nhật,tiếng Anh để giới thiệu với độc giả ở nước ngoài

Trang 19

Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút chắc tay và viết nhiều thể loại như: Truyệnngắn, tạp văn, thơ, tiểu thuyết Nhưng thành công đặc biệt của chị phải kể đến là:Truyện ngắn và tạp văn Với gần hai thập niên cầm bút chị đã cho ra đời và xuất bảnrất nhiều tác phẩm, tiêu biểu có thể kể đến:

1 Đau gì như thể (truyện ngắn-giải ba cuộc thi truyện ngắn của báo văn nghệnăm 2004-2005)

2 Cánh đ ồng bất tận (tập truyện ngắn, 2005)

3 Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (tập truyện ngắn, 2008)

4 Khói trời lộng lẫy (tập truyện ngắn, 2010)

5 Sông (tiểu thuyết, 2012)

6 Không ai qua sông (tập truyện ngắn, 2016)…

Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn có chân tài trong nền văn chương hiện đạiViệt Nam Ngòi bút của chị dung dị mà không kém phần sâu sắc bởi nó là những cảmxúc được thôi thúc từ trong lòng Cảm hứng sáng tác của chị thường được lấy từ cuộcsống và số phận của những nhân vật nhỏ bé, những đứa trẻ tội nghiệp, những ngườiđàn bà đáng thương, những nông dân nghèo quanh năm lam lũ, những nghệ sĩ bấthạnh trong chính vùng quê Nam Bộ của mình Những con người, những kỉ niệm vàcuộc sống vùng Nam Bộ với biết bao lam lũ, vất vả nhưng cũng vô cùng thú vị đãnuôi dưỡng tâm hồn, vun đắp vốn sống, tài năng và khơi dậy nguồn cảm hứng sángtác dồi dào của Nguyễn Ngọc Tư Bởi thế, văn phong của Nguyễn Ngọc Tư mangđậm chất Nam Bộ, làm xúc động biết bao trái tim bạn đọc Nguyễn Ngọc Tư từng vítruyện của mình “như trái sầu riêng” - nhiều người thích nhưng cũng không ít người

dị ứng Mỗi trang văn của Nguyễn Ngọc Tư không đơn giản như một bức tranh đểngắm mà ở mỗi câu, mỗi chữ đều ẩn chứa tiếng lòng, sự thổn thức về cuộc sống củanhững số phận, những mảnh đời Lối viết của Nguyễn Ngọc Tư không màu mè,chẳng bóng bảy nhưng luôn tạo được dấu ấn đậm sâu, có sức hấp dẫn rất riêng, thậmchí có sức ám ảnh lớn trong lòng độc giả

Cầm bút tính đến nay được gần hai thập niên, Nguyễn Ngọc Tư đã liên tiếp đạtđược những thành công và ngày càng khẳng định được tài năng và vị thế của mìnhtrên văn đàn Số lượng và chất lượng tác phẩm ngày càng được khẳng định ở nhiềuthể loại, cho thấy một sự nghiêm túc và nỗ lực không ngừng trong nghiệp viết Chúng

ta hoàn toàn có thể hi vọng và tin tưởng Nguyễn Ngọc Tư sẽ còn mang đến nhiều bấtngờ hơn nữa với những đứa con tinh thần của mình trong thời gian tới

Trang 20

1.1.2 Tiểu thuyết Sông

Từ khi xuất hiện trên văn đàn, độc giả vốn quen với một Nguyễn Ngọc Tư củatruyện ngắn hay của những tản văn ám ảnh lòng người, có lẽ chúng ta sẽ cảm thấythật sự lạ lẫm và thích thú khi được tiếp xúc với một Nguyễn Ngọc Tư ở thể loại tiểu

thuyết Sông chính là tiểu thuyết đầu tay của chị Đọc Sông, ta sẽ được trải qua những

câu chuyện của các nhân vật trong một hành trình rầu rĩ dọc con sông Di - một consông huyền thoại qua sáng tạo của nhà văn Ta đã từng bị hấp dẫn bởi cách cảm, cáchnghĩ, cách nhìn, cách viết và cả cách miêu tả tỉ mỉ, tinh tế của Nguyễn Ngọc Tư qua

các tác phẩm truyện ngắn hay tạp văn thì đến với Sông ta càng bị cuốn hút bởi ở bất

cứ câu chuyện nào của chị cũng đều có nét riêng, rất riêng của Nguyễn Ngọc Tư Thử

nghiệm tiểu thuyết Sông chị đã từng băn khoăn bởi có thể không đạt được kết quả như

mong muốn nhưng bứt phá ở thể loại mới này như chính tác giả ban đầu đã từng chia

sẻ là "Vừa mới bước ra khỏi ngôi nhà ấm cúng kia thôi, gặp vài trận mưa đầu tiên".Thành công nối tiếp thành công đã đến với chị trong chặng đường sáng tạo không có

đích của một nhà văn Nhận xét về Sông, biên tập viên của Nxb Trẻ, cũng là người biên tập bản thảo - Trần Ngọc Sinh cho biết: "Sông là một sự đổi mới toàn diện của

Nguyễn Ngọc Tư Đẹp Đáo để Trần tục và hư ảo Truyện kết thúc bằng dấu chấm hỏi

về số phận một con người - Không hề do dự, cô đã đẩy cái mầm ý tưởng vừa nhú lên sang tay người đọc, để họ nuôi dưỡng chúng bằng trải nghiệm, qua việc đọc cuốn sách này".[44]

Ân là nhân vật chính với danh xưng "cậu" bỏ lại sau lưng mối tình đồng tínhvừa kết thúc do người yêu cưới vợ, bỏ lại công việc ở một công ty truyền thông, đi tìmquên với lý do viết một cuốn sách về sông Di do "sếp" đặt hàng kèm lời nhắn gửi tìmgiúp dấu vết cô người tình tên Ánh, một người đã đi sông Di trước đó rồi không trởvề.Bề ngoài, Ân có đầy đủ những yếu tố để sống một cuộc đời bình lặng, an nhàn: Cócha mẹ, có học thức, một công việc được trọng vọng, và có tiền, ngoài ra, là một cậucon trai thư sinh, dễ gây thiện cảm Chừng đó, đã đủ để Ân có thể sống yên ổn về mặt

xã hội Thế nhưng, nỗi thất vọng với người tình đồng tính, là thời điểm, là cái cớ để

Ân làm một cuộc soi lại toàn bộ diện mạo bản thể mình Hành trình đi ngược sông Dicũng là hành trình đào xới lại tâm thức, lật lại từng kỷ niệm, những “tình tiết” trongcuộc đời Ân Chuyến đi ngược sông Di ấy, song song với những thước phim trongtâm thức Ân ngược về quá khứ Những mảnh đời, những kiếp sống, đời người, đờisông, đời của những khúc sông, đời của những điều huyền bí và li kì dọc con sông dàidặc Dòng sông chảy về xuôi, còn những con người thì ngược lại thượng nguồn Mỗingười đều có những thôi thúc sâu xa mà chính họ cũng không biết chính xác nó là gì

Trang 21

Xu đi để chụp hình hoa dại, thứ hoa không lai lịch, xuất xứnhưng đấy chỉ làcái cớ, gã mồ côi lang thang tưởng đã khinh bạc đến tắt rụi mọi khát khao ấy, thỉnhthoảng vẫn lộ ra nỗi cồn cào đau đáu về gốc gác của mình, mà dần đến đầu nguồn thìnỗi đau đáu ấy càng tràn ra không kiềm giữ nổi.

Bối - kẻ nổi loạn không chịu được bầu không khí “thiếu kịch tính” trong giađình thì đi để tìm khoái thú trong những cơn giông với những tia sét kinh hồn Ônggià đồng hành đi để tẩy rửa ký ức chết chóc Cô gái trẻ đi để giải phóng mình khỏi sựphụ thuộc với một bản thể khác không phải là mình…

Có những người không đủ bứt phá để đi, nhưng gửi theo những tín hiệu đauđáu: ông sếp giám đốc xuất bản khắc khoải về Ánh cũng là nỗi khắc khoải về cuộcsống thực sự mà ông ta tự đánh mất; Tú (người tình đồng tính của Ân) hướng về Ânnhư nỗi cồn cào về cái mà anh ta đã quyết định từ bỏ trong thẳm sâu con người mình.Chị San không đi nữa vì con người nổi loạn “điển hình” ấy đã tuyệt vọng, đã đầuhàng

Dòng sông Di trở thành nơi bấu víu cho những kẻ không còn hy vọng gì ởchính mình Nhưng chính sông Di cũng mang trong mình những vết thương Vếtthương của sông Di cũng là vết thương của những kiếp người nhỏ bé sống bám dọccon sông ấy Soi vào dòng tự sự của Ân suốt cuộc hành trình là cuộc sống của nhữngcon người ven sông, mang hình bóng của những con người Nam Bộ vốn bao đời sốngdựa vào sông Nghèo khổ, tăm tối, hận thù, yêu đương, phản bội, đĩ điếm, chếtchóc…Đó là thân phận những con người nhỏ bé sống bám lay lắt vào sông, vô tìnhlàm tổn thương sông và phải hứng chịu những trả thù tàn khốc của sông.Nhưng có lẽ

số phận của nhân vật chính Ân sau cùng mới để lại nhiều day dứt nhất Phía cuốihành trình, cậu cũng biến mất giữa dòng sông như thể chưa từng hiện hữu Một cuộctìm lại hình hài khắc nghiệt khi cậu không có quyền thay đổi giới tính, không cóquyền lựa chọn hạnh phúc và nhen nhóm trong trái tim yêu thương ấy là sự ghen tị,

ích kỷ cũng nằm ở đỉnh điểm không thể tách rời Sông chứng kiến tất cả và cũng cuốn

đi tất cả Mạch truyện cứ chậm rãi như những dòng chảy nhưng lại có một sức thu hút

kỳ lạ, hành trình khám phá Sông không còn là của riêng các nhân vật Hành trình đi

tìm lại con người thật của Ân, khao khát hạnh phúc của Xu, sự nổi loạn của San, vẻbuông xuôi của Tú và niềm riêng của biết bao nhiêu con người trong tác phẩm cũng

có thể là của chung cho những thân phận trong thế giới phẳng này

Trang 22

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, một trong số ít người tiếp cận bản thảo

Sông sớm nhất, nhận xét: "Với việc cho nhân vật ra đi men theo dòng sông, Tư đã

làm được hai việc: vừa phản ánh hiện thực, kể, tả về những vùng đất dọc hành trình vừa men theo dòng chảy tâm trạng để nhân vật bộc lộ mình”.[44]

Điểm hấp dẫn của Sông có lẽ là cái duyên riêng của Nguyễn Ngọc Tư Sự mộc

mạc, chân chất hiện rõ trong từng câu chữ Dù có cố gắng nổ lực bứt phá để thoát

khỏi cái bóng quá lớn của Cánh đồng bất tận, song chất đặc sản của cô vẫn còn đó.

Dù rằng nó không còn là đặc sản của chỉ miền Nam, mà là đặc sản của một thế hệ nhàvăn mới, tìm tòi và thử nghiệm, nhưng không phiêu lưu vô lối, bởi cô luôn lấy cộinguồn hồn quê của mình làm nơi bấu víu

1.2 Tác giả Le Clézio

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

Jean-Marie Gustave Le Clézio sinh ngày 13/4/1940 ở thành phố biển Nice,miền Nam nước Pháp.Bố của Le Clézio là một bác sĩ người Anh còn mẹ là ngườiPháp, bà là một nghệ sĩ piano, bà thích chơi những bản nhạc của Ravel Trong thếchiến II, gia đình phải ly tán vì người cha ông phải chuyển đến Nigeria làm bác sĩphẫu thuật cho quân đội Anh quốc Vào lúc 7 tuổi, Le Clézio đến châu Phi để gặpngười cha của mình Trong thời gian hai tháng lênh đênh trên biển, chuyến đi mà ông

gọi là chuyến đi khai tâm, ông viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên (Một chuyến đi dài, rất

tiếc là đã bị thất lạc) trong buồng tàu Ông ở lại lục địa đen một năm Cha của ông,một con người tỉ mỉ cần mẫn, năng động và hay dậy sớm, thường chăm sóc bệnhnhân hủi và dẫn đường cho ông trong chốn rừng sâu Ông đã tưởng nhớ đến người

cha của mình trong cuốn Người Châu phi.

Le Clézio thường viết những tiểu thuyết phiêu lưu Cảm hứng để viết nhữngtiểu thuyết này ông lấy từ những cuốn sách mình đọc của Verne, Loti, Kipling,Conrad, London và Stevenson Ông kể mình đã viết trước khi biết đọc và mỗi nămông viết hai cuốn: “Mẹ tôi đóng lại và tôi đóng bìa các tông, có đề tên nhà xuất bản:

Nhà xuất bản Sói đen.” Ông rất mê tủ sách nhà mình, thích nhất cuốn Từ điển hội

thoại hai mươi tập: “thời nhỏ tôi có những mối xúc cảm lớn lao là nhờ bà tôi, bà cho

tôi đọc cuốn sách kỳ diệu này”, ông nói với người viết tiểu sử cho mình, Gérard deCortanze Ông ước mơ trở thành hoạ sĩ và viết truyện tranh Hình như ông cũng thử

Trang 23

sức với thể loại tiểu thuyết trinh thám Sau này, ơng tìm xem những bộ phim giúpmình khám phá thế giới, những bộ phim của Ozu, Mizoguchi, Bergman, Pasolini Bộ

phim thích nhất của ơng: Cuộc phiêu lưu của Antonioni, một bộ phim về tình yêu, về

sự cơ đơn và về sự im lặng

Mười bảy tuổi, Le Clézio đạt hai bằng tú tài Cử nhân văn chương, ơng bảo vệ

một khố luận về chủ đề Sự cơ đơn trong tác phẩm của Henri Michaux, tác giả mà

ơng rất cĩ cảm tình Năm 1960, tại Luân đơn, ơng lấy Marie-Rosalie, con gái sĩ quanquân đội, sinh tại Varsovie, người đã sinh cho ơng một đứa con gái một năm sau đĩ

Năm 1963, Le Clézio viết Biên bản và gửi bản thảo cho Gallimard qua

đường bưu điện Ơng tuyên bố rằng cuốn sách này là “một kiểu trình bày cách nhìn

nhận cuộc sống của tơi” Một số người tìm thấy trong đĩ hồi ức về Kẻ xa lạ của

Camus “Người phát hiện” ra thần đồng văn chương này, đĩ là Georges Lambrichs,trước đây làm cho NXB Minuit Jean Giono và Raymond Queneau nhận lời ủng hộtác giả 23 tuổi này trước hội đồng chấm giải Goncourt Năm đĩ, Le Clézio đã đượctrao giải thưởng văn học danh giá Renaudot, được xếp hạng thứ hai sau giải thưởngGoncuort Kể từ đĩ nhà văn trẻ Le Clézio được lọt vào đội ngũ hàng đầu của làng vănhọc Pháp

Ơng tốt nghiệp Tr ư ờng Văn h ọ c Nice (Collège littéraire universitaire de Nice)sau đĩ cịn tiếp tục học tại Lu â n Đ ơ n và Br i st o l trước khi bắt đầu sự nghiệp giảng dạytại Hoa K ỳ Năm 1 967 Le Clézio nhập ngũ và làm việc tại Thái L a n một thời gianngắn Ơng nghĩ đến việc ẩn dật trong một nhà tu Phật giáo và tạo ra một vụ xì căngđan khi lên tiếng tố cáo nạn bĩc lột tình dục trẻ em trong một cuộc phỏng vấn trên

báo Figaro Bị đuổi khỏi đất nước, ơng doạ sẽ đào ngũ khỏi quân đội rồi quay lại hi-cơ Bổ dụng: xếp phiếu tại thư viện của Viện Pháp Châu Mĩ La Tinh Trong Biên

Mê-bản, người kể chuyện hình dung trước tương lai của mình: “Tơi cũng cĩ thể đi du

lịch; tơi sẽ đi thăm nhiều thành phố mà tơi chưa biết, tơi sẽ kết bạn với ai đĩ trongmỗi thành phố.” Nĩi thêm: “Cĩ rất nhiều khơng gian nguyên thuỷ rộng lớn cần khámphá.” Năm 19 7 0 nhà văn sống cùng với những người thổ dân ở Pan a m a Nhữngngười da đỏ Mỹ đã dạy cho ơng đạo lý ở đời Ơng đã cố chuyển tải điều đĩ trong tácphẩm của mình Và trước tiên là cảnh báo về những mối nguy của chủ nghĩa vật chất

Vào năm 1971, ơng cho xuất bản một tiểu luận về nghệ thuật tuyệt vời, Hạ, tại nhà

xuất bản Skira ở Genève Từ năm 1973 lúc thì sống ở Pháp, lúc ở Mĩ hay quần đảoMauritius, nơi cĩ gốc gác của gia đình mình Năm 1977, Le Clézio bảo vệ luận ántiến sĩ về đề tài văn học dân gian Mich o ac á n ( miền Trung Mehico) tại Viện nghiên

Trang 24

cứu Mehico ở Perp i g n a n , Pháp Sau đó ông tham gia giảng dạy văn học Pháp tại Đ ạ ihọ

c A l b u q u e r q u e Hoa Kỳ trước khi trở thành nghiên cứu viên của T ru n g t â mN

g hi ê n c ứ u K h o a h ọ c P h á p (CNRS) Ông chuyển đến ở bang Mehicoở Michoacán,đắm chìm trong những cuốn sách thiêng của người Mayas, là người đầu tiên dịch

cuốn Quan hệ của Michoacán và Những lời tiên tri của Chilam Balam Ông gặp gỡ các nhà thơ sử dụng ngôn ngữ nahuatl (ngôn ngữ của những người Aztèques) và say

sưa nhân học Vào năm 1980, ông là nhà văn đầu tiên đoạn giải Paul-Morand của Viện

Hàn Lâm Pháp, sau khi đã thành công với cuốn Mondo và những câu chuyện khác (700 000 bản) Tiểu thuyết Sa mạc (Désert) đánh dấu một trục địa lý mới: Sa mạc

Sahara - Phương Tây, quê gốc của Jemia, vợ của ông từ năm 1975, ông đã lý tưởnghoá câu chuyện về vợ mình qua một bức chân dung rất đẹp của một cô gái nhập cư trẻtuổi Người ta tìm thấy Le Clézio trên những hòn đảo ở Ấn Độ Dương, đi tìm bóng ma

của người ông mình (Người đi tìm vàng, Chuyến du hành về Rodrigues, Cách ly) Từ Châu Phi này đến Châu Phi khác, trong cuốn Onitsha (1991) gợi cảm Vào năm

2005, ông lên chiếc tàu mang tên La Boudeuse, một con tàu ba buồm của Patrice

Franceschi để đi tìm gặp một bộ lạc bị lãng quên trong lòng Thái Bình Dương Trở

về, ông cho xuất bản cuốn Tiếp cận lục địa vô hình (NXB Seuil), miêu tả những suy

nghĩ về những tác hại của sự di dân, từ Gauguin đến động Ouvéa Tuy nhiên, ông nói

rõ, “mục đích của văn chương không phải là đấu tranh” Ông không thực sự tin vàokhả năng của các nhà văn trong việc thay đổi thế giới

Năm 19 8 0 , Le Clézio trở thành người đầu tiên được V iệ n H à n lâ mP

h á p (Académie française) trao G i ả i Pa u l M o r a n d Năm 1 9 9 4 trong một cuộc thăm

dò, Le Clézio đã được bầu là nhà văn Pháp còn sống vĩ đại nhất

Năm 2008 ông được V iện Hàn lâ m T h ụ y Đi ể n traoGiải Nobel Văn họ c , ông làngười Pháp thứ hai được trao giải thưởng cao quý này trong t h ập ni ê n 2000 (sau CaoHành Kiện vào năm 2 0 00). Với giải Nobel này Le Clézio được đánh giá là: "Tác giả

của những xu hướng mới, những phiêu lưu đầy chất thơ và hứng khởi cảm tính, nhà nghiên cứu bản thể con người ở bên ngoài nền văn minh đang hoành hành và ở bên trong nó" [44] Trong bất luận trường hợp nào, chủ đề căn bản trong sáng tác của Le

Clézio vẫn là tư tưởng, các bộ lạc da đỏ hoặc ở châu Phi có quyền ở mức độ cao hơnhẳn được gọi là con người đích thực so với các cư dân ở các đô thị lớn: “Họ là nhữngngười tự do cuối cùng vì chúng ta chỉ là nô lệ, điều này đã quá rõ ràng rồi Chúng tađang sống một cuộc đời nô lệ trong thế giới của những nô lệ Còn bộ lạc người da đỏ

ở Panama cho tới nay vẫn gìn giữ được sự tự do và họ biết được những gì có thể cócủa những người tự do Ai đó đang định cố gắng tước bỏ của họ sự hiểu biết đó” [44]

Trang 25

Và mặc dầu bị buộc tội là theo khuynh hướng thoát ly hay cổ suý cho huyền thoại về

“người hoang dã cao quý” nhưng Le Clézio vẫn luôn được người Pháp bình chọn làm

nhà văn vĩ đại nhất viết bằng tiếng Pháp còn sống.

Le Clézio không bao giờ giới hạn ở một thể loại: Ngoài tiểu thuyết và tiểuluận, ông đã cho xuất bản chuyện kể, chuyện dài và tiểu sử (Diego và Frida, NXB

Stock), truyện ngắn, sách cho trẻ em (Du hành đến xứ sở các loài cây), sách in đẹp (Người mây, NXB Stock), các bài báo và đề tựa, trong đó có lời đề tựa cuốn Hướng

dẫn xanh về Mehico Đối với ông, “không có thể loại văn học” Ông vẽ đầy ký hoạ

trong những cuốn sổ ghi chép của mình, ông còn vẽ tranh thuỷ mạc cho tác

phẩm Sirandanes Nếu như một trong những vở kịch của ông đã được diễn ở Mehico,

ông đã khước từ tạm thời việc viết kịch: “Tôi không thể nào làm cho người ta nói”.Mặc dù thường xuyên di chuyển và sống ở nhiều nơi trên thế giới, Jean-MarieGustave Le Clézio vẫn liên tục sáng tác Tính đến nay Le Clézio đã cho xuất bản trên

30 tác phẩm thuộc nhiều thể loại, từ tiểu thuyết, truyện kể, bài luận, dịch thuật đếncác sách nghiên cứu khác, tiêu biểu có thể kể đến:

Vòng xoáy, Nguyễn Văn Qua - Lộc Phương Thủy dịch, NXB Văn học, 2008 Người chưa bao giờ thấy biển, NXB Hội nhà văn, 2000

Sa mạc, Huỳnh Phan Anh dịch, NXB Văn học, 2009.

Những nẻo đường đời và những bản tình ca(Tập truyện), Hồ Thanh Vân dịch,

NXB Hội nhà văn - Nhã Nam, 2010

Điệp khúc cơn đói, Bằng Quang dịch, NXB Phụ nữ liên kết công ty sách Nhã

Nam xuất bản 2012

Qua những tác phẩm thuộc nhiều thể loại của mình, Le Clézio đã miêu tả sựtìm tòi của ông về những thế giới rất nguyên sơ và rất dễ bị thương tổn của chúng đốivới hành vi tàn sát và điên rồ của những kẻ xâm nhập từ thế giới công nghiệp Là mộtnhà văn phiêu du, những thiên truyện của ông có thể lấy bối cảnh từ Mehico, sa mạcSahara hay Paris hoặc London, và đề cập đến những chủ để rất đa dạng Ông hiện làmột trong những nhà văn Pháp rất nổi tiếng ngoài đất nước mình Như một nhà biênniên sử thầm lặng, Le Clézio đã vạch ra những thảm họa của đời sống hiện đại, đặcbiệt là ở đô thị

Đánh giá về ông, nhà phê bình Pháp Franz Olivier Giesbert nói: “Jean

-Marie Le Clézio là một tượng đài lớn của Pháp ngự trị trên nền văn học chúng tôi Bạn cần phải đến gần bức tượng ấy để khám phá một nhà văn đa tài đầy nhiệt huyết,

Trang 26

người khám phá hầu như mọi thể loại, từ cái khiêm tốn nhất đến cái táo bạo nhất”

[45]

Trang 27

1.2.2.Tiểu thuyết Sa mạc

Ra đời năm 1980 và đạt giải lớn Paul Morand của Viện hàn lâm Pháp năm

1981, Sa mạc được đánh giá là đỉnh cao trong sáng tác của Le Clézio Tác phẩm là

bản nhạc thiên nhiên đầy quyến rũ Rời xa thế giới vật chất phù hoa, hư ảo, ngôn ngữcủa Le Clézio giản dị và hồn nhiên như trong thế giới các câu chuyện cổ tích Nó mờigọi mọi người chìm đắm trong sự yên tĩnh, sự mơ mộng và thi vị, trong sự trầm ngâm

đắm say Tác phẩm Sa mạc chính là sự đột phá văn học của Le Clézio Trong lễ tuyên

bố trao giải nhận xét rằng Sa mạc “chứa đựng những hình ảnh kỳ diệu về một nền văn

hóa đã tiêu vong ở sa mạc Bắc Phi đối nghịch với hình ảnh châu Âu được miêu tả qua cặp mắt của những kẻ nhập cư không mong muốn” [49].

Sa mạc Sahara, quê hương của những “người đàn ông xanh”,những năm đầuthế kỷ 20: hoang sơ, kỳ bí, đầy hiểm nguy với những con người sinh ra trong cát, lớnlên trong cát và chết đi vùi trong cát Tiêu biểu cho những người Đàn Ông Xanh ấy

phải nhắc đến Al Azraq và Ma el Ainine Al Azraq xuất hiện trong Sa mạc thông qua

những câu chuyện truyền miệng và trong ký ức của các nhân vật trong tác phẩm, tácgiả đã mượn lời nhân vật để khẳng định: Đó là vị thánh - người Đàn Ông Xanh xuấtthân từ một chiến binh của sa mạc, trải qua bao nhiêu khổ ải, đau thương, chịu cảnhđói rét cơ hàn như bao chiến binh khác ông được thượng đế gọi và trở thành vị thánhluôn cứu giúp mọi người

Ma el Ainine là huyền thoại về một tù trưởng vĩ đại, nhà tiên tri, người dẫnđường, người che chở…với trọng trách đưa dân tộc của mình đến miền đất hứa, tự

do, hạnh phúc.Là truyền nhân của người Đàn Ông Xanh - Al Azraq: Ma el Aininecũng rất tài trí, am hiểu giáo lí đạo Hồi Ngay từ lúc bảy tuổi ông đã đọc thuộc kinhCoran không sai một chữ Ông cũng có những khả năng siêu nhiên, có phép lạchữalành vết thương người chiến binh, chữa sáng mắt cho người mù Ma el Ainine khôngchỉ giành tình yêu thương, sựnhân ái cho các cư dân của bộ tộc mình mà lòng nhân áicủa ông thể hiện ngay cả với kẻ thù, điều này làm cho kẻ thù của ông khiếp sợ, hoangmang.Ma el Ainine không thích chiến tranh bởi ông biết nó chỉ đem lại đau thương,mất mát cho con người Song ông không thể khoanh tay nhìn kẻ thù xâm lược màđứng lên lãnh đạo nhân dân chiến đấu giành lại độc lập, tự do Do không đủ điều kiện

để chống lại kẻ thù, Ma el Ainine phải dẫn các bộ tộc của mình hành hương trênnhững chặng đường sa mạc đầy gian nan, nếm đủ khổ ải với hy vọng cầu cứu sự giúp

đỡ của chính quyền Ma Rốc Chính quyền thù địch đã ngăn cản họ, từ chối không

Trang 28

giúp đỡ bất kỳ điều gì vì thực chất họđã cấu kết với kẻ thù bán rẻ đất nước Vì khôngnhận được sự chi viện, giúp đỡ và không muốn để bộ lạc chìm trong bạo lực, lầmthan Ma el Ainine quay về với niềm tin tâm linh nơi kinh thánh, cầu nguyện để tìm ragiải pháp siêu thoát, giải pháp cứu độ chúng sinh lầm than Đây là nguồn sức mạnhduy nhất tiếp sức để cho bộ tộc của ông tiếp tục bước đi trên sa mạc.

Cậu bé Nour đã chứng kiến cơn khốn khó của bộ lạc mình trên mảnh đất khôcằn và trưởng thành từ đó Nour là nhân vật trung tâm, tiêu biểu cho đoàn người khốnkhổ, dật dờ đi trên sa mạc Nour là con trai của một chiến binh - người có sứ mạngdẫn dắt cuộc hành hương đếnthành phố Thánh Smara còn mẹ cậu là “Chérifa”, concháu của Al Azraq - Người Đàn Ông xanh hiển hách chính vì vậy Nour luôn cảmthấy sứ mệnh đặc biệt của mình Nour có nguồn sức mạnh tiềm ẩn để có thể vượt quamọi khốn khổ suốt cuộc hành hương trên sa mạc Nour là nhân vật có trái tim nhânhậu và dịu dàng, biết cảm thông chia sẻ và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người Trongkhoảnh khắc tận cùng của sự thất vọng, đoàn người đói khát, kiệt sức tới mức “khôngcòn hơi sức để thương yêu nhau nữa” thì Nour vẫn ân cần, động viên và sẵn lòng giúp

đỡ mọi người với hy vọng làm dịu đi nỗi đau đớn của họ Mặc dù trong thâm tâmNour không biết đâu là đích, thậm chí cậu biết sẽ không có vùng đất “không thiếu thứgì” như mơ ước, nhưng cậu vẫn luôn động viên mọi người nuôi hy vọng để gắng sứcđứng lên đi tiếp “chúng ta sắp tới những vùng đất mà tù trưởng đã hứa, nơi chúng ta

sẽ không thiếu thứ gì cả, nơi giống như thiên đường vậy” Nour và cộng đồng củamình đã hoàn toàn thất bại trong hành trình tìm kiếm hạnh phúc nhưng cậu và mọingười đã thực sự hiểu được thế nào là thiên đường hạnh phúc, đâu là thiên đườngthực sự giành cho họ, cuộc sống với những mơ ước nhỏ nhoi là chỉ tìm một nơi trúngụ, tìm một mảnh đất để yên bình sinh sống nhưng đó lại là không tưởng

Cùng với câu chuyện về Nour và cộng đồng du mục, câu chuyện về cô béLalla cũng được nhà văn kể lại đầy dụng ý Lalla là mộtcô gái hồn nhiên, quyết đoán.Trải qua bao thăng trầm trong cuộc đời cũng không thể nguôi được niềm đam mêhướng về sa mạc cội rễ và những truyền thuyết về các vị tổ tiên chiến binh samạc.Lalla xuất hiện trong câu chuyện kể về cuộc hành trình tìm kiếm thiên đường tự

do, hạnh phúc của mình Do xuất thân cao quý nên dù mồ côi cha mẹ phải sống cùng

cô ruột tại cư xá nghèo, Lalla vẫn tỏ ra khác hẳn so với những đứa trẻ khác Lallahiện lên với hình ảnh một cô bé hồn nhiên, đắm mình với thiên nhiên, cỏ cây, các loàicôn trùng và sóng biển Chính những trải nghiệm ở thành phố Marseille đã giúp cô

Trang 29

nhận ra bản chất của xã hội tiêu thụvà cô cũng ý thức một cách sâu sắc về thân phậncủa những người nhập cư, những kẻ phải sống “ngoài lề” xã hội.Từ thân phận của kẻnhập cư khốn khổ Lalla trở thành một người mẫu ảnh nổi tiếng được nhiều ngườimến mộ Trên đỉnh cao của sự nổi tiếng, được nhiều người mến mộ, Lalla vẫn cảmthấy cô đơn, lạc lõng, cô luôn cảm thấy buồn chán và thiếu vắng điều gì đó, đặc biệt

cô luôn nhớ về sa mạc mảnh đất cội nguồn, nhớ tới huyền thoại về những người ĐànÔng Xanh và nhớ về cái nhìn của Es Ser - Người bí mật cũng như nhớ tới chàng chăncừu Hartani Chính vì vậy mà tiền bạc, sự nổi tiếng cũng không thể níu chân Lalla lưulại thành phố Lalla quyết định rời bỏ thành phố mãi mãi, từ bỏ danh tiếng, giàu sang

ở nơi đây để về với sa bởi cô thực sự nhận ra “thiên đường hạnh phúc nơi trần gian”

nó không phải ở đâu xa lạ mà ở chính nơi cô sinh ra và lớn lên; ở mảnh đất mà cáinắng, gió, cát và đá sa mạc luôn ngự trị cùng với những huyền thoại về nguồn cội

Cuốn tiểu thuyết đầu tay của nhà văn đã “thức tỉnh” người đọc bởi ý nghĩanhân văn mà các nhân vật này đem lại đó là: Mỗi người chúng ta hãy là chính mình,hãy sống với bản chất con người tự nhiên của mình đấy mới là thiên đường hạnh phúc

thực sự Sa mạc được xem là hình tượng nhân vật tiêu biểu thể hiện rõ nhất quan điểm

của Le Clézio về con người và cuộc sống, đồng thời cũng bộc lộ tài năng, sự nhạy béncủa nhà văn trong việc nắm bắt và diễn tả tài tình số phận con người ở xã hội hiện đại

1.3 Nhân vật cô đơn lạc loài và kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong văn học.

Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng

phương tiện văn học Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinhđộng hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữvai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm

Nhân vật văn học có thể là con người có tên (như Thúy Vân, Thúy Kiều, TừHải, Kim Trọng ), có thể là những người không có tên (như thằng bán tơ, viên quan,

mụ quản gia ) hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân vật xưngtôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình- ta trong ca dao ) Kháiniệm con người này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi trên 2 phương diện: sốlượng: hầu hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trungmiêu tả số phận của con người Về chất lượng: Dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ,

đồ vật nhưng lại gán cho nó những phẩm chất của con người

Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người

Và nó đóng một vị trí vô cùng quan trọng trong tác phẩm văn học “Văn học không

Trang 30

thể thiếu nhân vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thựcmột cách hình tượng Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình vềmột cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực.Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trongmột thời kỳ lịch sử nhất định Cho nên, mỗi nhà văn khi sáng tác ra tác phẩm đều có ýthức xây dựng nhân vật của mình cho sinh động và đặc sắc Pautopxki nhận xét:

“Nhân vật sinh động chính là tấm huân chương cao quý của nhà văn”[29].

Nhân vật trong tác phẩm văn học là người truyền tải tư tưởng của nhà văn.Trong mỗi tác phẩm, tùy cách tiếp cận nghiên cứu của người viết mà người ta phânloại ra các loại hình nhân vật khác nhau như: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vậttrung tâm; hoặc nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vật lí tưởng, nhân vật tưtưởng…

Từ khái niệm nhân vật, ta có khái niệm về tính cách và tính cách điển hình.Trong nghiên cứu văn học, theo nghĩa rộng nhất của nó, khái niệm nhân vật mới làhình ảnh về con người, khái niệm về tính cách đã là hình tượng về con người, cònkhái niệm về tính cách điển hình chính là điển hình về con người Cả ba khái niệmnày tuy có sự khác nhau nhưng tựu chung lại đều nghiên cứu về đối tượng và đánhgiá về chất lượng của đối tượng được nói đến

Trong tiểu thuyết, nhân vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Darwin từng khẳng

định: “Không có một cuốn tiểu thuyết nào được coi là kiệt tác nếu trong đó không có

nhân vật nào mà ta yêu thích” [29].

Như vậy, trong văn học, nhân vật đóng vai trò quan trọng Nhân vật văn học làhình thức thể hiện định hướng giá trị đời sống Đọc tác phẩm, cần khám phá các nộidung từ đời sống và giá trị tư tưởng thể hiện trong nhân vật

Cô đơn - trạng thái tâm lý bản thể của con người

Từ điển tiếng Việt định nghĩa cô đơn là “chỉ có một mình, không có người

thân, không nơi nương tựa (cảnh cô đơn, con người cô đơn)”[31] Thực ra, Cô đơn làmột trạng th á i t â m lý c ủa con ng ư ời theo đó một người không chủ động hoặc từ chốihoặc tự cô lập, cách ly trong mối quan h ệ xã h ội và thiếu tiếp xúc với người khác cho

dù đó là gia đình, bạn bè thân thiết, vợ chồng, con cái

Trong cuốn Từ điển tâm lý học, cô đơn được định nghĩa là “một trong những

yếu tố căn nguyên tâm lý ảnh hưởng đến trạng thái cảm xúc của con người khi ở vàotình huống không quen thuộc (bị thay đổi) hoặc hoàn cảnh bị cách ly với người khác

Trang 31

Khi rơi vào trạng thái cô đơn do sự cách ly thực nghiệm, địa lý, xã hội hay do bị tù,các mối quan hệ trực tiếp với những người khác bị cắt đứt gây ra những phản ứng cảmxúc cấp tính trong một loạt các trường hợp xuất hiện sự sốc tâm lý với các biểu hiệnchính: lo âu, trầm cảm và rối loạn thần kinh thực vật…”[43] Cô đơn có những cảmxúc tương ứng của chủ thể: xa lánh “Xa lánh biểu hiện trong những mối quan hệ sốngcủa chủ thể với thế giới xung quanh Trong đó cá nhân tự tách mình ra khỏi những cánhân khác, coi họ đối lập với bản thân mình Xa lánh thể hiện trong những cảm xúctương ứng của chủ thể: cảm giác bị tách biệt, cô đơn, bị ruồng rẫy, mất cái tôi”[43].

Còn nhà văn Octavio Paztrong chuyên luận Thơ văn và tiểu luận của mình cho

rằng: “Cái cô đơn là đặc trưng cuối cùng của thân phận con người.” Nỗi cô đơn, vốn

là chính bản thể của cuộc sống chúng ta, xuất hiện trước chúng ta như một thử thách,như một sự gột rửa với mục đích cuối cùng là mất đi mọi đau đớn và thất thường Sựhoàn thiện, sự tụ hội vốn là sự nghỉ ngơi và hạnh phúc, sự hòa hợp với thế giới chờđón chúng ta ở điểm nút ở mê lộ cô đơn

Con người là sinh vật duy nhất cảm thấy mình đơn côi và cũng là sinh vật duynhất biết tìm đến người khác Bản thể của nó - nếu có thể nói về bản thể khi đề cậpđến con người, sinh vật tự sáng tạo ra mình khi nói “không” với thế giới tự nhiên -nằm ở một khát vọng mình sẽ được thực hiện trong kẻ khác Con người là nỗi luyếnnhớ và sự tìm kiếm mối giao lưu Bởi thế, cứ mỗi lần con người cảm thấy chính mìnhthì khi ấy nó lại cảm thấy như thiếu vắng kẻ khác, như mình đơn côi

Theo từ điển tiếng Việt, Lạc loài nghĩa là bị tách, bị lạc khỏi đồng loại, bơ

vơ Cảm thức lạc loài cũng đã xuất hiện từ lâu trong văn học nhân loại Những thậpniên 50, 60 của thế kỉ XX, kiểu người này trở nên phổ biến trong văn học phi lý Tây

Âu với những kiệt tác như:“Người xa lạ”, “Huyền thoại Sisyphe” của A Camus;

“Hóa thân”, “Vụ án” của F.Kapka; “Buồn nôn” của J.P Sartre… Đó là những conngười thuộc “thế hệ bỏ đi”, bị ném vào lò lửa của hai cuộc thế chiến trở ra là nhữngcon người lầm lì, sống không hy vọng, không niềm tin và trở nên xa lạ với tất cả ỞViệt Nam, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khai thác nhiều về kiểu người này đểphản ánh một sự thật rằng khi kinh tế thị trường, văn minh công nghiệp mở ra, lốisống thực dụng như một cơn gió lốc tràn vào từng ngóc ngách của cuộc sống Conngười trở nên bơ vơ, lạc loài vì không thể thích ứng được với nó Nhân vật lạc loàitrở thành phổ biến, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, màu da, giới tính, quốc

Trang 32

gia: một thế giới lạc loài không biên giới Xã hội dư thừa thông tin bao nhiêu lạitước đi khả năng thông hiểu giữa người và người bấy nhiêu, nền văn minh vật chấtcàng vượt trội bao nhiêu thì con người càng lọt thỏm giữa thế giới đồ vật bấy nhiêu.

Đó là nỗi bất toàn đến tột độ của con người trước sự vây bọc của sự tiêu dùng và tựtiêu dùng chính nó

Kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài trong văn học

Kiểu là một danh từ, có nghĩa là “toàn bộ nói chung những đặc trưng riêngcủa một loại, một lớp sự vật nào đó, phân biệt nó với các loại, các lớp khác” [31]Kiểu là cách gọi để đánh giá một sản phẩm hay một tính chất nào đó, tùy thuộc vàochất lượng sản phẩm và vào cả thẩm mĩ, tiêu chí của người đánh giá Kiểu thườngđược tự quy ước nên chỉ mang tính chất tương đối, không có những căn cứ rõ ràng

Theo cách hiểu trên thì kiểu nhân vật cũng vậy, đó là kiểu người có những nétđặc trưng mang tính chuẩn mực được miêu tả, được thể hiện trong các tác phẩm nghệthuật và kiểu nhân vật thường chịu sự quy định bởi phong cách sáng tác của các nhàvăn.Ví dụ, khi nhắc đến Chu Lai ta có thể có kiểu nhân vật lạc thời, kiểu nhân vật nổiloạn hay kiểu nhân vật bản năng Nói đến Nam Cao ta thường bắt gặp kiểu nhân vậttrí thức tiểu tư sản và kiểu nhân vật nông dân bị bần cùng hóa Haykiểu nhân

vật kiếm tìm trong tiểu thuyết Rừng Na-uy của Haruki Murakami Trong truyện cổ

tích cũng có các kiểu nhân vật như Kiểu nhân vật quan lại, người giàu; Kiểu nhân vậtngười anh; Kiểu nhân vật người mẹ ghẻ; Kiểu nhân vật xấu xí…

Kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài trong văn học là chỉ một loại hình nhân vật màtrong đó nhân vật thể hiện những đặc tính của con người cô đơn, lạc loài Đó có thể là

sự buồn bã, sự cô độc ngay trong bản thân mình, hay là sự xa lánh, bị bỏ rơi với thựctại bên ngoài, với con người và xã hội…Trong văn học phương Tây cái cô đơn, lạcloài là một đề tài văn học có tính chất triết học truyền thống Đề tài này xuất hiện ở

nhiều nhân vật, trong nhiều tác phẩm Có thể kể đến chàng Ham Let (Hamlet William Shakespeare), nhân vật Jean Valjean (Những người khốn khổ - Victor Hugo) haynàng Anna Karenina (Anna Karenina - Lev Nikolayevich Tolstoy), dòng họ nhà Buendía (Trăm năm cô đơn -Gabriel José García Márquez)…Chính sự cô đơn, lạc

-loài đã dẫn đến cái chết của nhân vật trong nhiều tác phẩm Các nhà văn phương Tâyhiện đại cũng đã xây dựng được những nhân vật cô đơn, lạc loài điển hình trong sángtác của mình Nếu thống kê ta có thể thấy hàng loạt tác phẩm đề cập đến đề tài, nhan

đề và nhân vật cô đơn như: Jane Eyre củaCharlotte Bronte: Ngay khi ra mắt vào năm

Trang 33

1847, quyển tiểu thuyết này ngay lập tức làm chấn động văn đàn nước Anh và nhanhchóng được yêu thích trên toàn thế giới Tâm điểm khiến tác phẩm nhận được sựđồng cảm của nhiều độc giả chính là số phận cô đơn, nghiệt ngã của nữ nhân vật

chính Jane Eyre Một trong những kiệt tác văn học về đề tài này phải kể đến The

Solitude of Prime Numbers(Nỗi cô đơn của các số nguyên tố)- Paolo Giordano: Đây là

quyển sách đầu tay của nam nhà văn người Ý - Paolo Giordano, phát hành năm 2008.Việc khắc hoạ nỗi cô đơn của hai nhân vật chính Mattia và Alice một cách tinh tế, côđọng, súc tích của Paolo Giordano mang đến sự đồng cảm ở nhiều khán giả Thế giớinội tâm của những người lạc loài về tính cách trong xã hội được phản ánh rất chân

thực, độc đáo và cũng đầy khắc nghiệt trong tiểu thuyết Ngay sau khi phát hành, The

Solitude of Prime Numbers thắng giải thưởng lớn Strega Prize Cuốn sách được đạo

diễn Saverio Costanzo chuyển thể thành phim vào năm 2010 Tác phẩm A Single

Man (Người cô độc) củaChristopher Isherwood là câu chuyện khá ngắn gọn về

George, một giáo sư người Anh George đồng tính Khi người bạn tri kỷ từng 16 nămchung sống với ông qua đời, George không còn tha thiết sống và có ý định tự sát Nộidung cuốn sách chỉ xoay quanh thời gian trong vòng 1 ngày, nhưng lại khắc họathành công và vô cùng chân xác nỗi cô đơn của người đàn ông vừa mất đi bạn đời

Với văn phong giản dị, hàm súc, A Single Man khiến bất cứ trái tim sắt đá nào cũng phải rơi nước mắt Nếu thiếu đi One Hundred Years of Solitude, tức Trăm năm cô

đơn, danh sách những kiệt tác về chủ đề này chắc hẳn sẽ không thể nào trọn vẹn Nhà

văn Gabriel Garcia Marquez thành công vượt bậc khi không chỉ miêu tả nỗi cô đơn cánhân qua các nhân vật phi thường, dị thường, quái dị mà còn khái quát được sự côđơn của cả gia tộc, cả ngôi làng trong suốt một thời gian dài… Hơn 60 nhân vật cả

chính lẫn phụ trong Trăm năm cô đơn đều có cá tính và những nỗi trăn trở riêng,

khiến bất cứ ai đọc được kiệt tác này đều có thể soi chiếu vào và thấy được hình ảnhcủa riêng mình Sự cô đơn trong tiểu thuyết này giống như một thứ tài sản thừa kếđược lưu truyền từ đời này sang đời khác Từ việc thống kê các tác phẩm trên, ta thấyđược vấn đề về cái cô đơn, lạc loài đã được các nhà văn khai thác từ nhiều thế kỷtrước Có thể khi viết các tác phẩm này, các nhà văn không có ý thức thể hiện ở nhânvật cái cô đơn, lạc loài nhưng nhìn chung khi đọc các tác phẩm trên đều thấy cái bóngdáng của sự cô đơn, lạc loài trong mỗi nhân vật Vì cô đơn là bản thể trong mỗi cánhân con người

Trang 34

Cũng như các nhà văn phương Tây, các nhà văn phương Đông xây dựng nênnhững tác phẩm viết về nỗi cô đơn và nhờ nhân vật của mình truyền tải Có thể thống

kê những tác phẩm viết về cái cô đơn như: Hồng lâu mộng (tiểu thuyết của Tào Tuyết

Cần) tác phẩm đã khiến nhiều người phải ôm trong lòng những nỗi buồn khôngdứt Đó là sự bế tắc của những con người trẻ tuổi, khát khao lý tưởng sống mới nhưngcuối cùng đành bị khuất phục bởi họ đang ở trong bóng đêm suy tàn của ngày cũ,chưa thể đứng trong ánh sáng ban mai của ngày mới, đó là yếu tố bi kịch của lịch

sử trùm lên bi kịch cuộc đời của tất cả các nhân vật.Chủ đề về nỗi cô đơn của người

trẻ cũng luôn hiện diện trong văn chương của Haruki Murakami, và Norwegian Wood

(Rừng Na Uy) là một ví dụ điển hình Trong tiểu thuyết này, ngoài việc chống chọi

với nỗi cô đơn, nhân vật chính Toru Watanabe còn phải đương đầu với nhiều vấn đềkhác của tuổi trẻ Tất cả đều gợi lên sự hoang mang, u buồn, và đôi khi bế tắc đếntuyệt vọng… Cái hay của Haruki Murakami là đã đẩy nỗi cô đơn lên đến tận cùngkhiến nhân vật của mình phải hành động để dập tắt nó, hoặc bị chìm xuống đáy củanhững đau khổ Và cho dù lựa chọn của nhân vật có là gì, nó vẫn để lại những nỗi ám

ảnh khôn xiết cho người xem Tác phẩm Sống đọa thác đày của Mạc Ngôn lại dạy

cho người ta những bài học lịch sử qua những mảnh đời rất nhỏ Tây Môn Lừa đã gõmóng qua những năm cải cách ruộng đất rồi kháng Mỹ viện Triều và nhà nhà luyệnthép, Tây Môn Chó thì sủa vang trong khung cảnh phố huyện thời mở cửa đầu tư rồi

xử tử hình quan chức tham nhũng… Trong truyện Mạc Ngôn, chẳng có một cá nhânnào thoát khỏi những rung động phát ra từ vòng quay của bánh xe lịch sử Họ chỉ cóthể sống bám vào bánh xe ấy, rồi khi mỏi mệt thì sẽ tự động buông thân xác già nuaxuống chiếc huyệt đã đào sẵn, như Mặt Xanh và Tây Môn Chó đã làm Nhà văn đãlấy hiện thực cuộc sống phản ánh vào trang viết của mình, do vậy hình bóng của nhânvật trong tác phẩm này mang nặng nỗi cô đơn

Ở Việt Nam, nỗi cô đơn, lạc loài từ lâu đã được các nhà văn, các thi sĩ khaithác và đưa vào trong sáng tác của mình Nỗi cô đơn ấy được sinh ra từ sự bất mãnvới hiện thực của cuộc sống và lí tưởng sống của họ Nỗi niềm ấy được gửi gắm vàonhững trang sách Hồ Xuân Hương thể hiện cái cô đơn trong thơ của mình khi conngười bị lạc lõng giữa những trói buộc lề thói của xã hội phong kiến, rồi đơn độcphản kháng.Trong truyện thơ Nôm hay nhất thế kỉ XVIII, Nguyễn Du đã từng viết:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Trang 35

Đến thời kì Thơ mới, cảm thức về nỗi cô đơn, sự lạc loài càng được thể hiệnmãnh liệt hơn qua cái Tôi trữ tình Cái tôi trữ tình trong Thơ mới là cái tôi cá thể côđơn Cái buồn, cái cô đơn là một trạng thái cảm xúc không được ai chia sẻ và cũngkhông thể chia sẻ cùng ai Thơ mới ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt của đất nước,những biến động của lịch sử tác động mạnh mẽ đến tâm hồn nhà thơ Cái buồn củacác nhà Thơ mới là cái buồn do thiếu hòa hợp giữa đời người và hồn tôi Đó là sự bấtđồng gữa cái tôi lãng mạn của người nghệ sỹ và thực tại Cái Tôi cá thể trong Thơmới luôn gắn với cộng đồng, gắn với ngoại giới, tha thiết với cuộc đời khi bị đờiruồng bỏ, bị tách ra khỏi cộng động, không tìm được tiếng nói chung

Ấy là trong thơ, còn trong văn xuôi, sự cô đơn lạc loài cũng được thể hiện kháđậm nét Trong văn học Việt Nam từ sau 1975 và đặc biệt từ 1986 khi đất nước bướcvào công cuộc đổi mới, kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài mới có dịp được thể hiện rõ nét

và chân thực với nhiều dáng vẻ khác nhau Tiêu biểu có thể kể đến: Bước qua lời

nguyền (Tạ Duy Anh), Thời xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Tân cảng, Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ), Tướng về hưu, Chảy đi sông ơi,

… (Nguyễn Huy Thiệp), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư)… Các nhà văn đã lấy

ngay chính hiện thực của cuộc sống để phản ánh trong trang viết của mình, bởi thếcác nhân vật của họ thường mang nỗi cô đơn

Điểm lại sơ lược các tác phẩm bàn đến đề tài cô đơn, lạc loài như trên ta thấyrằng con người cô đơn, lạc loài trong văn học đã trải qua một quãng đường dài: Từ cổchí kim, từ Tây sang Đông với những cách nhận thức và phản ánh khác nhau, mỗi tácphẩm ấy đều mang theo những thông điệp riêng của nhà văn muốn truyền đạt đến độcgiả về con người và thế giới

Trong thời đại ngày nay, chúng ta cứ mải miết và tất bật với sự lo toan mưusinh trong cuộc sống, có lẽ thứ chúng ta dễ dàng chạm nhất mỗi lần bước ra khỏi nhàchính là nỗi cô đơn Cô đơn tại nơi làm việc, cô đơn trong cuộc sống lứa đôi, cô đơntrong chính tâm hồn mình…Nhiều nỗi cô đơn không tên, không lý do, khiến tâm hồn

ta trống rỗng tưởng chừng như mình bị đẩy ra ngoài cuộc sống, lạc lõng giữa dòngđời Sự cô đơn, cảm giác lạc loài mỗi ngày như đang thường trực quanh ta, chỉ cần ta

sơ sảy nó sẽ nhảy vào để xâu xé hoặc chí ít nó cũng gặm nhấm, bào mòn linh hồn ta

Có lẽ nhiều người cũng cảm nhận rõ và thấm thía những điều này

Trang 36

* Tiểu kết:

Mặc dù hai nhà văn sinh ra và trưởng thành ở những quốc gia và châu lục khác

nhau Mỗi người có một số phận riêng nhưng trong Sông và Sa mạc ta thấy có những

điểm tương đồng thú vị Hai tác phẩm trên đều có một hệ thống những nhân vật biểuthị sự cô đơn Trong số những nhân vật mang theo bên mình nỗi cô đơn ấy, khóa luậnnày chúng tôi chỉ xin đề cập đến những nhân vật tiêu biểu nhất để làm nổi bật nỗi cô

đơn và sự lạc loài của các nhân vật qua hai tác phẩm như: Ân; Xu; Bối trong Sông hay Lalla; Radicz; Hartani trong Sa mạc Các nhân vật này được chúng tôi phân làm hai

kiểu nhân vật chính đó là: Nhân vật rơi vào sự tự cô đơn và nhân vật bị cô đơn trướcđời sống xã hội Trong những chương tiếp theo, chúng tôi sẽ làm rõ sự giống và khácnhau của hai nhà văn qua việc so sánh hai kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài điển hình này

Trang 37

Chương 2 HÀNH TRÌNH KIẾM TÌM HẠNH PHÚC CỦA KIỂU NHÂN VẬT CÔ ĐƠN

LẠC LOÀI TRONG SÔNG VÀ SAMẠC 2.1 Các kiểu loại nhân vật cô đơn, lạc loài trong Sông và Sa mạc

Khảo sát qua tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư và Sa mạc của Le Clézio

chúng tôi nhận thấy cả hai tác phẩm đều có một hệ thống nhân vật biểu thị sự cô đơnnhưng khóa luận chỉ xin được lựa chọn những nhân vật tiêu biểu nhất, những nhânvật mang trong mình sự cô đơn sâu sắc nhất so với hệ thống các nhân vật khác trongmỗi tác phẩm để làm nổi bật nỗi cô đơn, sự lạc loài của nhân vật Chúng tôi nhận thấytrong hai tác phẩm, có hai kiểu dạng nhân vật cô đơn tiêu biểu đó là: Kiểu nhân vật tự

cô đơn và kiểu nhân vật bị cô đơn

2.1.1 Nhân vật tự cô đơn

Trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư ta bắt gặp nhiều nhân vật rơi vào sự cô

đơn, lạc loài nhưng trong Sông, cảm giác cô đơn, lạc loài đến với họ đầy ám ảnh.

Những nhân vật của chị Tư sống giữa nhiều người, giữa cộng đồng với biển ngườimênh mông nhưng luôn có cảm giác cô đơn Đó không hẳn là nỗi cô đơn bởi mìnhthiếu vắng bạn bè, cũng không phải sự cô đơn vì đơn thân lẻ bóng không có người đểnhớ thương hay bị cô lập trong công việc Đó là nỗi cô đơn trong chính tâm hồn mỗingười, cô đơn vì tự cảm thấy mình cô đơn, lạc lõng giữa dòng đời và cái cô đơn, sựlạc loài ấy cũng là một căn bệnh của những người hiện đại

Ba người bạn đồng hành nhờ sự gặp gỡ trên mạng là Ân, Xu và Bối Thếgiới ảo ấy không khiến họ khó chịu hay bỡ ngỡ mà chính sự xa lạ khiến họ cảm

thấy dễ chịu “Có chút nhẹ nhõm khi người ta không mang quá khứ để đến với nhau”

[38, tr.22] Cả ba không quá bỡ ngỡ khi nhập vào nhóm lạ để cùng lang thang người đề xướng cuộc đi chính là nhóm trưởng Trong nhóm bạn đồng hành ấy thì Ân

Ân-là người tưởng như có cuộc sống an nhàn, bình yên bởi vừa có cha, có mẹ, có mộtcông việc ổn định là phóng viên Nhưng sự thật thì Ân lại phải sống cuộc sống côđơn, lạc loài khi mang thân phận là người đồng tính Tim Ân tan nát khi Tú - ngườitình đồng giới của mình bỏ lại tất cả yêu thương đi lấy vợ theo ý gia đình Đau khổ,tuyệt vọng Ân bỏ lại tất cả để đi, đi ngược sông Di hay Ân lội ngược trong kí ức củamình.Bỏ lại mọi thứ cám dỗ nơi thị thành Ân đi Đi để quên Chuyến đi của Ân ngoài

Trang 38

lí do kể trên thì còn có thêm nhiệm vụ được ông giám đốc sản xuất yêu cầu là đi để

viết và đi để tìm Ánh.“Thất tình thì đi sông Di viết cho anh cuốn sách Di chuyển vẫn

mau nguôi hơn là ngồi một chỗ” Tại sao ông ta lại giao cho Ân thêm nhiệm vụ tìm

Ánh? “vì cả cơ quan chỉ cậu còn sót vài hồi ức về con người này” [38, tr.63].

Ân rời Sài Gòn khói bụi để đến với sông Di học cách quên, nhưng càng đi Âncàng nhận thức rõ mình là ai, mình thuộc giới nào mặc dù vậy Ân lại không đủ dũngcảm để đối mặt với những định kiến để sống thật với chính mình - Một người phụ nữ

Ân là đứa con tinh thần nên mang suy tư và cảm xúc của chị Tư Ân được nhắc đến

với những nét rất nữ tính: “Cậu thường tắm rất lâu, miết da đến đỏ ửng lên, đến tấm

kính trong phòng nhòe hơi nước Tắm như là được thở Đó là lúc ở nhà Đó là lúc biết có một người đang nằm khẩy trên giường, chờ bạn tình bước ra khỏi căn phòng đầy hơi nước để hít hà da dẻ” [38, tr.18 - 19].Cậu khéo léo hơn mẹ: “Hồi còn ở nhà, đường chỉ cậu may còn thẳng hơn của mẹ Chưa có thời gian khoe tài may vá” [46,

tr.188] Mối tình đồng tính của Ân và Tú hiện lên dưới ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tưvới cái nhìn sâu sắc, mới mẻ nhưng cũng rất nhân văn Trong chuyến đi sông Di ấykhông có Tú nhưng nhân vật Tú lại xuất hiện khá nhiều qua dòng hồi ức của Ân và

qua cả những dòng tin nhắn của Tú “Năm phút trước khi xe lăn bánh, khi đứng tè

trong nhà vệ sinh, cậu nhắn Tú “đám cưới vui không?” mà không hi vọng nhận được hồi đáp” Khi nhận được tin nhắn của Tú cũng là lúc Ân đã ở hạ nguồn sông

Di:“Báo nói Ân đi sông Di Không ngờ Ân quyết liệt vậy Chúng mình đâu phải

chấm dứt ở đây” [38, tr.14] “Ăn ngủ có vất vả lắm không?” [38, tr.21] Với tâm

trạng đang hụt hẫng và như giận như hờn trách Ân nhắn: “Đám cưới vui không?”,

“Đám cưới vui hả?” [38, tr.21] Khi có tình cảm thật sự với một người mà phải cách

xa nhau, tâm trạng chung của con người là luôn nhớ đến cử chỉ, điệu bộ và đặc biệt lànhững lời nói giành cho nhau khi còn ở bên Trong hồi ức của Ân vì thế cũng luôn

chập chờn hình bóng và kỉ niệm giữa hai người “Tú mà không cưới thì cậu cũng sẽ

bận nấu nướng, bận lấy đùi làm gối, vít đầu Tú xuống để nhá tai Tú giữa hai hàm răng sực mùi ổi chín của mình, vờn lưỡi mình trên khóe môi Tú, nơi mà cậu cho rằng hàng vạn lời hay ho nương náu ở đó trước khi thành tiếng nói” [38, tr.77] Giá như

Tú không cưới vợ …Cảm xúc trong Ân luôn trực trào, Ân nhớ da diết những kỉ niệm

khi bên bạn tình: “Bên kia là thị xã Xuân Lộc, ở đó có cái khách sạn coi mặt thì sang,

mà giường lại ọp ẹp chân ngắn chân dài, nhờ vậy Tú đã thử một tư thế mới Cả hai đều thích đến vài ba lần” [38, tr.85 - 86] Nhưng rất tiếc vì đó là “năm ngoái” mất rồi.

Giữa bộn

Trang 39

bề kỉ niệm ấy, có lúc Ân lại nhớ: “Giữa những câu chuyện rôm rả gần như suốt đêm,

là bàn tay day diết miết vào giữa hai đùi cậu, và ở quãng đường không có ánh đèn hắt vào xe, Tú lén lút thả lưỡi vào miệng cậu Đầu lưỡi Tú nhọn, mỗi lần vậy cậu lại cảm giác có một giọt lưỡi rơi vào cổ họng mình Ngọt Lử Vội vã nhưng vẫn thích vì cảm giác vụng trộm Ăn vụng thường ngon.” [38, tr.123 - 124] Tú đã trở thành một

phần cuộc sống và không thể thiếu trong cuộc đời của Ân Ngoài Tú thì hình như

không có điều gì khiến Ân phải bận tâm hơn “Tình yêu là thứ khiến người ta thấy cả

thiên hạ đã biến mất, chỉ còn mỗi một người, mỗi một thứ đáng để sống cho nó và vì nó” [38, tr.77] Cảm xúc của người này cũng chính là tâm trạng của người kia: “Cậu đứng ngoài gió bão vì cậu toàn chăm chú vào mẹ, sau này là Tú Họ vui, cậu vui, họ buồn cậu buồn” [38, tr.77] “Phải gắn bó đến độ nào thì mới có thể linh cảm về nhau Tại sao lúc mẹ vật vã đau mà cậu vẫn tóm lấy cúc cu Tú ngủ ngon lành?” [38, tr.105].

“Sinh nhật công ty năm ngoái cậu tới rồi ra về sớm, T ú kêu vừa cãi nhau với ban

biên tập, đang chán”; “Cậu thường hăm hở bỏ lại những cuộc vui chỉ vì Tú than đau răng, mỏi vai Việc này cho Tú thấy Tú quan trọng với mình còn quan trọng hơn những thứ quan trọng khác Hít hà người Tú thích thú hơn mọi cuộc vui nào”

[38, tr.107 - 108] Ân vốn là một con người luôn nhạy cảm, dễ mềm lòng nhưngkhông vì thế mà Ân cả tin Khi niềm tin vụn vỡ, người yêu kết hôn Ân suy sụp vàtrốn chạy để tìm quên Giữa lúc ấy Ân nhận được những tin nhắn níu kéo từ Tú:

“Ngoái lại đi Ân”, “Chỉ một cơ hội nhỏ nhoi thôi cũng không thể cho Tú sao?” [38, tr.167].“Mình tuyệt vọng và sắp mất hết kiên nhẫn Về đi, Tú sẽ quăng bỏ hết mọi thứ

chạy tới với Ân” Nhớ lại cơ hội cậu đã cho Tú khi hẹn ở biển nhưng tú không tới.

“Nếu hôm đó Tú đến có lẽ Ân đã chấp nhận tiếp tục náu mình trong bóng tối, bất

chấp một hay đến mười đám cưới” [38, tr167] Bởi vậy lúc này nhận được những tin

nhắn rên rẩm của Tú: “Tú ớn ói việc phải sống như con người khác Ân giúp Tú nhận

lại chính mình đi” [38, tr.191] Ân cảm thấy tức giận, thậm chí anh ta làm mất độ

rung cảm trong cậu.Ân đã từng tin yêu và “thần tượng” Tú bao nhiêu thì giờ đây chánnản, vỡ vụn và sụp đổ bấy nhiêu Cậu có thể vì Tú làm tất cả còn Tú thì không, anh ta

đã đến với cậu nhưng rồi anh ta lại bỏ cuộc Điều này khiến Ân nhớ đến lúc hai ngườiđến dự đám cưới của Chit - Pi (một tình yêu đồng giới), họ cũng từng ước được nhưChit - Pi khi chứng kiến đôi trẻ trao nhẫn cho nhau, để đạt được điều đó Chit - Pi đã

phải đánh đổi bằng máu, hai lần tự sát để gây áp lực với gia đình “Chit đã ghi trên

blog của mình: “Tự sát mà không chết là cả một nghệ thuật Cuối cùng người ta đã

Trang 40

nhận ra chúng tôi yêu nhau Một tình yêu không khác thường” Sau dòng trạng thái

ấy có “tám mươi sáu lời nhắn bảo hai đứa bệnh hoạn” và họ rủa “chúng mày sao

không chết đi để cho trái đất sạch sẽ” nhưng có đến “Bảy trăm mười chin người để lại lời chúc mừng Nhiều người trong họ đã đến cái đám cưới đó dù chẳng nhận được thiệp mời Đến để thêm dũng khí và hi vọng” Vậy mà Tú của cậu thì sao?Anh ta đã

bỏ rơi cậu, kết hôn với người con gái để vừa lòng bố mẹ Tình yêu của họ không đủlớn đề cùng nhau vượt qua sóng gió nên Tú quyết tâm để mình đau một lần Đau rồithôi còn hơn cứ cố chấp quay lại, biết đâu sau này nỗi đau ấy lớn gấp trăm ngàn lầnnỗi đau hiện tại Ân đã không cho Tú có quyền hay có cơ hội làm mình tổn thươngthêm lần nữa Nỗi đau này Ân gánh chịu đủ rồi

Mục đích chuyến đi để tìm quên thì Ân đã dứt khoát rồi, cậu đã kìm nén mọicảm xúc nhớ nhung với Tú lại nhưng còn mục đích nữa của chuyến đi này cậu chưathực hiện được Đó là viết một cuốn sách về sông Di và tìm tin tức về Ánh cho vịgiám đốc sản xuất Trong lúc sách thì chưa viết xong, người thì chưa tìm được thì

Ân nhận được tin từ trưởng phòng hành chánh công ty sau khi ra khỏi vùng không

có sóng điện thoại: “Sếp chết hồi 9 giờ 30 sáng qua, thứ hai Sao gọi không được?” [38, tr.185] Và cùng thời điểm đó là tin nhắn của sếp “Chắc không phải vì tôi mà

Ánh biến mất đâu, đúng không?” [38, tr.185] Lời phó thác của sếp dường như không

muốn cậu quay trở về mặc dù cậu đã bước vào bến xe: “Người đàn ông vừa qua đời

kia, chắc là cũng đâu muốn cậu về Ông phó thác cho cậu đi tìm câu trả lời, mà đến chết ông vẫn chưa nhận được” [38, tr.188] Chuyến du khảo sông Di của cậu chẳng

thể trọn vẹn được khiến cậu luôn cảm thấy ngột ngạt, cậu chưa tìm được lối thoát chomình Trong tâm trí Ân chập chờn những hồi tưởng về chị San về cuộc đời và cái

chết của chị San đã ra đi rất lâu nhưng lòng Ân vẫn khắc khoải khi nhớ về chị: “San

im lặng, Chín năm qua, chị vẫn không dậy Lúc cậu làm tình với Tú lần đầu, cậu hơi tức mình, sao không thể yêu chị bằng cách này, lên đỉnh cùng nhau, một lần thôi cũng được” [38, tr.199] Chị San là người khiến cậu bắt đầu nghĩ đến chuyện viết văn

“Cậu ngờ rằng sức mạnh trong người mình là sức mạnh của chị San cho Sức mạnh

của một người đàn bà viết nổi tiếng thản nhiên lặn ngụp giữa những khen chê Người đàn bà lội ngược dòng” [38, tr.203] Hồi ấy Ân mới 20 tuổi và vừa rời khỏi mẹ lên

thành phố học đại học “Nó coi rẻ bạn gái cùng trang lứa, thấy chúng sao mà kém cỏi,

trẻ nít Cả cái vẻ nũng nịu, ngây ngô cũng gây khó chịu Chị San thì trải đời, bạt mạng Như mẹ cậu” [38, tr.204] Hôm nay là hai chín tháng chín, ngày chị San đi ngủ.

Ngày đăng: 10/01/2019, 13:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Phan Anh (1997), Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Sa mạc J.M.G. Le Clezio , báo Lao động số 135 ra ngày 24/8/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Sa mạc J.M.G. LeClezio
Tác giả: Huỳnh Phan Anh
Năm: 1997
2. Lê Huy Bắc (2009), Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo & Gabriel Garcia Marquez, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo & Gabriel Garcia Marquez
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
3. Phan Quý Bích (2006), Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, Văn nghệ trẻ, số 64 ra ngày 12/11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Phan Quý Bích
Năm: 2006
5. Nguyễn Thị Bình (2006), Thời gian và không gian trong Sa mạc của J.M.G Le Clézio, Nghiên cứu Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian và không gian trong Sa mạc của J.M.G LeClézio
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2006
6. Nguyễn Thị Bình (2010), Tư tưởng nhân văn trong các tác phẩm của J.M.G. Le Clézio, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân văn trong các tác phẩm của J.M.G. LeClézio
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
7. Nguyễn Thị Bình (dịch) (2010), J.M.G. Le Clézio; nhân vật của tôi là những người qua đường, Nghiên cứu Văn học, tháng 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J.M.G. Le Clézio; nhân vật của tôi là nhữngngười qua đường
Tác giả: Nguyễn Thị Bình (dịch)
Năm: 2010
8. Nguyên Cẩn, Jean - Marie Gustave Le Clézio: Không có những biên giới, Tạp chí Văn hóa Phật giáo. số ra ngày 7/11/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jean - Marie Gustave Le Clézio: Không có những biên giới
9. Hà Kim Chi, Nguyễn Huỳnh Tố Quyên (2016), “Trôi đi” để tìm lại chính mình trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư, Hội thảo khoa học sinh viên lần IX Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trôi đi” để tìm lại chínhmình trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Hà Kim Chi, Nguyễn Huỳnh Tố Quyên
Năm: 2016
10. Nguyễn Văn Dân (2001), Giáo trình văn học so sánh, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
11. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương tây hiện đại, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2001
12. Đặng Anh Đào (2007), Việt Nam và phương Tây tiếp nhận và giao thoa trong văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và phương Tây tiếp nhận và giao thoa trongvăn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
13. Hà Minh Đức (Chủ biên) (2003), Lí luận văn học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2003
15. Vũ Thị Thu Hà (2006), Khám phá nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, Khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám phá nhân vật trong truyện ngắn của NguyễnNgọc Tư
Tác giả: Vũ Thị Thu Hà
Năm: 2006
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnthuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
17. Đặng Thị Hạnh (chủ biên) (1993), Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XX. Nxb Ngoại văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XX
Tác giả: Đặng Thị Hạnh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Ngoại văn
Năm: 1993
18. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2000
21. J.M.G Le Clézio (1997), Sa mạc, NXB. Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sa mạc
Tác giả: J.M.G Le Clézio
Nhà XB: NXB. Hội Nhà văn
Năm: 1997
22. Cẩm Lệ (2006), Nguyễn Ngọc Tư - Hạnh Phúc phía sau trang viết, Phụ nữ TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư - Hạnh Phúc phía sau trang viết
Tác giả: Cẩm Lệ
Năm: 2006
23. Le Clézio, Ra mắt Sa mạc - tuyệt tác, https:/ / bao m oi.c o m Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ra mắt Sa mạc - tuyệt tác
24. Hoàng Thị Hiền Lê (2008), Kiểu nhân vật cô đơn trong một số tiểu thuyết của Banana Yoshimoto và Haruki Murakami, Khóa luận tốt nghiệp Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểu nhân vật cô đơn trong một số tiểu thuyết củaBanana Yoshimoto và Haruki Murakami
Tác giả: Hoàng Thị Hiền Lê
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w