1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật người phụ nữ mường trong truyện ngắn của hà thị cẩm anh

107 347 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.4 Bản thân tôi là người con của dân tộc Tày, là một giáo viên giảng dạy Ngữvăn của trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc, một trường dân tộc miền núi có nhiệm vụ đào tạo con em các dân tộ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG THỊ THUÝ HƯƠNG

NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ MƯỜNG TRONGTRUYỆN NGẮN CỦA HÀ THỊ CẨM ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨNGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG THỊ THUÝ HƯƠNG

NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ MƯỜNG TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA HÀ THỊ CẨM ANH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 82 20 121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Việt Trung

Thái Nguyên - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dungnêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ mộtcông trình nào khác

Tác giả luận văn

Nông Thị Thuý Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠNBằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơnPGS.TS Trần Thị Việt Trung, người đã tận tình, chu đáo, trách nhiệm hướng dẫn

và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các thầy cô giáo trong khoa Ngữvăn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng Quản lí khoa học trường Đại học sư phạm - Đạihọc Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong cả quá trình học tập vànghiên cứu tại trường

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên,giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018

Tác giả luận văn

Nông Thị Thuý Hương

Trang 5

MỤC LỤC Trang bìa phụ

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii Mục lục iii MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Cấu trúc của luận văn 10

NỘI DUNG 11

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ NỮ NHÀ VĂN DÂN TỘC MƯỜNG HÀ THỊ CẨM ANH 11

1.1 Vài nét khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số thời kỳ hiện đại 11

1.2 Nữ nhà văn dân tộc Mường Hà Thị Cẩm Anh 19

*Tiểu kết chương 1 26

Chương 2 NGƯỜI PHỤ NỮ MƯỜNG - NHÂN VẬT TRUNG TÂM TRONG SÁNG TÁC CỦA HÀ THỊ CẨM ANH 27

2.1 Nhân vật trung tâm trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh 27

2.1.1 Khái niệm “nhân vật” 27

2.1.2 Nhân vật trung tâm – người phụ nữ Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh 27

Trang 6

2.2 Những nhân vật phụ nữ với vẻ đẹp truyền thống mang đậm bản sắc

văn hoá Mường 29

2.2.1 Vẻ đẹp về ngoại hình 29

2.2.2 Vẻ đẹp nội tâm - thứ nhan sắc vững bền của người phụ nữ xứ Mường 35

2.3 Những thân phận, những bi kịch cá nhân của những người phụ nữ Mường trong cuộc sống thời kỳ hiện đại 41

* Tiểu kết chương 2 55

Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ 57

3.1 Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật và ngôn ngữ nhân vật 57

3.1.1 Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật 57

3.1.2 Ngôn ngữ nhân vật 62

3.2 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và tình huống truyện 68

3.2.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 68

3.2.2 Nghệ thuật tạo dựng tình huống truyện 79

* Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học dân tộc thiểu số (DTTS) là một bộ phận quan trọng của văn họcViệt Nam một nền văn học phong phú và giàu bản sắc Trong diện mạo của nền vănxuôi Việt Nam hiện đại thì văn xuôi các DTTS có một vẻ đẹp riêng, sắc thái riêng.Các nhà văn DTTS đã luôn có ý thức tạo nên một tiếng nói văn chương của chính dântộc mình trên cơ sở luôn hướng ngòi bút của mình và việc phản ánh cuộc sống, conngười và hiện thực miền núi một cách say sưa và tự hào Những sáng tác của họ lànhững tấm gương phản chiếu vẻ đẹp bản sắc văn hoá của dân tộc mình, gương mặtcon người và thiên nhiên miền núi của mình Nghiên cứu các tác phẩm của các nhàvăn như: Bàn Tài Đoàn, Nông Minh Châu, Triều Ân, Vi Hồng, Vi Thị Kim Bình, YĐiêng, Mã A Lềnh, La Quán Miên, Inrasara, Y Phương, Lò Ngân Sủn, Cao Duy Sơn,

Hà Lâm Kỳ, Hlinh Niê, Niê Thanh Mai, Bùi Thị Như Lan v.v…chúng ta đều thấyđược vẻ đặc trưng của tâm hồn, tính cách của người miền núi nói chung, của từng dântộc nói riêng Bên cạnh các nhà văn dân tộc thiểu số có tên tuổi thì ta không thểkhông nhắc đến Hà Thị Cẩm Anh - một cây bút văn xuôi tiêu biểu của xứ Mườn - đặcbiệt là trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây

1.2 Những sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh đã góp phần vào sự phát triển củavăn xuôi DTTS trong thời kỳ Đổi Mới - với một phong cách riêng mang đậm bản sắcvăn hóa Mường Bản sắc Mường được thể hiện trong những trang viết của Hà ThịCẩm Anh ở cảm hứng viết về thiên nhiên, con người và những phong tục tập quáncủa dân tộc Mường cùng cuộc sống của cộng đồng Mường thời kỳ hiện đại Nhà văn

đã thổi hồn dân tộc vào trang viết của mình nhờ việc sử dụng ngôn ngữ mang đậmbản sắc Mường, những câu văn mang âm hưởng sử thi, những câu chuyện cổ dân gianMường và một thế giới nhân vật phong phú, đa dạng trong cộng đồng Mường, gópphần tạo nên nét độc đáo riêng cho văn xuôi các DTTS Việt Nam Đặc biệt trong thếgiới nhân vật của nhà văn nổi bật lên là hình tượng nhân vật người phụ nữ dân tộcMường Đây là một hình tượng nghệ thuật tiêu biểu, có vai trò quan trọng trong sángtác của bà, thể hiện rõ tư tưởng nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nữ nhà văn

Do đó, nghiên cứu về nhân vật người phụ nữ Mường trong truyện ngắn của Hà Thị

Trang 8

cứu phần cơ bản nhất trong các tác phẩm của nhà văn; nghiên cứu những mặt sángtạo, mặt thành công (cũng như hạn chế) trong quá trình sáng tác của bà Đồng thời,qua đó cũng thấy được rất rõ những quan niệm rất truyền thống nhưng cũng rất hiệnđại và mới mẻ của bà trong quan niệm về con người, về cuộc sống và việc phản ánhhiện thực một cách đa chiều, đa góc cạnh của bà trong tác phẩm.

1.3 Nghiên cứu về nhân vật người phụ nữ Mường trong các sáng tác của HàThị Cẩm Anh là một việc làm có ý nghĩa thực tiễn Bởi nó sẽ góp phần vào việcnghiên cứu về văn chương các dân tộc thiểu số Việt nam hiện đại nói chung và gópphần nghiên cứu về chân dung con người dân tộc thiểu số nói riêng – thông qua nhânvật người phụ nữ - những người luôn gìn giữ những nét đẹp của bản sắc văn hoá dântộc, nhưng cũng là những người chịu tác động nhiều nhất của những mặt tốt đẹp,thuận lợi cũng như mặt lạc hậu, tiêu cực của xã hội từ xưa cho tới nay Thông qua

đó, chỉ ra những sáng tạo, những cái mới trong việc phản ánh nội dung cũng nhưtrong nghệ thuật viết truyện của nữ nhà văn dân tộc Mường này; cũng như sự thể hiệnquan điểm nghệ thuật của tác giả về việc phản ánh con người và hiện thực vào trongcác sáng tác của mình thời kỳ Đổi Mới

1.4 Bản thân tôi là người con của dân tộc Tày, là một giáo viên giảng dạy Ngữvăn của trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc, một trường dân tộc miền núi có nhiệm

vụ đào tạo con em các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, chúng tôi muốnnghiên cứu về văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và nghiên cứu về hìnhtượng nhân vật người phụ nữ Mường trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh nóiriêng - nhằm góp phần khẳng định những vẻ đẹp truyền thống cũng như vẻ đẹp hiệnđại của con người dân tộc thiểu số ngày nay, cùng những thách thức khó khăn mà họphải đối mặt, nhằm giáo dục các thế hệ học sinh người dân tộc thiểu số luôn biết trântrọng, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình trong thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước

Từ những lý do trên, cùng với niềm yêu thích say mê các sáng tác của Hà ThịCẩm Anh - tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề “Nhân vật người phụ nữ Mường trongtruyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

Trong đội ngũ các nhà văn dân tộc thiểu số với các tên tuổi quen thuộc như:

Trang 9

Nông Minh châu, Vi Hồng, Vi Thị Kim Bình, Ma Trường Nguyên, Cao Duy Sơn,

Mã A Lềnh, Inrasara, La Quán Miên, Đoàn Ngọc Minh…thì Hà Thị Cẩm Anh - nhàvăn dân tộc Mường trong 20 năm trở lại đây đã gặt hái được khá nhiều thành công,nhưng cũng lặng lẽ khiêm nhường như bà - văn chương của bà vẫn còn như là một

“mảnh trời riêng” chưa được nhiều người chú ý nghiên cứu, đánh giá Tên tuổi và

sự nghiệp của bà chủ yếu mới chỉ được một số nhà văn, nhà phê bình đề cập đếntrong một số bài báo, hoặc trong lời giới thiệu, lời tựa các tập truyện ngắn của nhàvăn khi ra mắt hoặc được nhắc tới trong các công trình nghiên cứu chung về vănxuôi DTTS Cho tới nay chúng tôi mới thông kê một số bài viết đề cập trực tiếp đếnsáng tác của Hà Thị Cẩm Anh trong đó có nhắc tới những nhân vật người phụ nữtrong sáng tác của bà

2.1 Những ý kiến chung về sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh

Hà Thị Cẩm Anh được biết đến với cái tên “Nhà văn của thung lũng Si Dồ” bởihầu hết các sáng tác của bà đều gắn với không gian của Mường Dồ, Mường Danh,Mường Phấm Đó là tên đất, tên rừng nơi nhà văn sinh ra và lớn lên Vì thế trong bàiviết Đọc truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh, Đỗ Đức đã khẳng định: “Hà Thị CẩmAnh, chị người Mường Mảnh đất chị chọn cho cho văn chương là Mường Vang, làlàng Chiềng, là thung lũng Si Dồ - Xứ Thanh” [13] Còn tác giả Nguyên Tĩnh trongbài Hà Thị Cẩm Anh và thung lũng Si Dồ thì cho rằng Hà Thị Cẩm Anh đã tìm thấy

“cái Mường trong văn học” rất riêng :“Có một thung lũng Sì Dồ trong tác phẩm của

Hà Thị Cẩm Anh đang rõ nét được khắc họa Nó là hình bóng quê nhà bản Mường

mà nhà văn gửi gắm Là những câu chuyện của trai Mường yêu gái Mường gặp baotrắc trở phản bội nhưng vượt lên số phận để có tình yêu hồn hậu thủy chung củangười Mường Hà Thị Cẩm Anh đã có thung lũng Sì Dổ trong tác phẩm của mình đó

là quê hương không có ở ngoài đời” [44] Từ tình yêu với mảnh đất xứ Mường nhàvăn đã trải lòng: “Tôi buâng khuâng đi giữa đất Mường ở thung lũng Si Dồ với cáctruyện ngắn: Đêm tháng tám Ngôi nhà sàn cũ kỹ Đêm khua luông dành cho ngườichết Cây gội già tàn tật Thằng Chinh ngốc Chuyện xưa cùng với sự phập phồng,niềm vui và nỗi buồn của tác giả với cuộc đời” [13] Từ sự trải lòng ấy nhiều tậptruyện ngắn được ra đời Đọc các tác phẩm của nhà văn và cảm nhận thấy các truyệnngắn được viết nên

Trang 10

thật tự nhiên - như hơi thở - như là chính cuộc sống vậy Như nhận xét về tập truyệnngắn Nước mắt của đá, Lã Thanh Tùng cho rằng: “Trên tay các bạn đang là máu thịtchị, bảy truyện ngắn tròn trịa, ấm nóng, bảy tiếng thở dài và bảy bài ca u buồn…Bảytruyện ngắn trong tập Nước mắt của đá giống như bảy chú lùn siêng năng kết đoàncùng xây đắp một tổ ấm ngăn nắp mời gọi, để mỗi độc giả khi lạc vào có thể tựmình thể nghiệm một vai Bạch Tuyết ê chề mà hạnh phúc” [44].

Còn trong bài viết Văn học hiện đại dân tộc Mường: những khuôn mặt thìtác giả Nguyễn Thị Thu Hiền lại khẳng định sức sáng tạo bất ngờ và mạnh mẽ, dữ dộicủa Hà Thị Cẩm Anh: “Ở tuổi 16, chị đã có Thím cò khoai gây dư luận văn chươngtỉnh Thanh, có mặt trong nhóm văn học Ngọc Trạo miền Tây Thanh Hóa Bẵng đithời gian dài vì sự vất vả của cuộc sống chị không viết Năm 1998, Hà Thị Cẩm Anhcầm bút trở lại và lần này thì quyết liệt Có ai ngờ người phụ nữ đã bước vào tuổi

“lục thập hoa giáp” lại có một trận maratông trong văn chương và gây bất ngờ nhưvậy Những gì chất chứa trong con người chị đã bung như nham thạch núi lửa tuôntrào Chị viết liên tục, sôi động và trầm lắng những gì đã quan sát, trải nghiệm, đểnhững Đêm Khua Luống dành cho người chết, Ngôi nhà sàn cũ kĩ, Gốc gội xùxì…để lại nhiều dư ba trong bạn đọc” [16]

Có thể thấy bằng tình yêu, sự gắn bó với quê hương, với vùng đất xứ BaMường nhà văn Hà Thi Cẩm Anh đã tạo được tiếng nói riêng cho văn chương củamình một cách đáng tự hào Như tác giả Thy Lan khi đọc tập truyện ngắn Một nửangười đàn bà của Hà Thị Cẩm Anh đã nói rằng :“Văn chương chị trong trẻo, tựnhiên như nước suối, lại phong phú mượt mà như lá rừng, dung dị như nhà sàn, bếplửa, đôi khi cũng dữ dội như suối dâng, thác đổ và trần trụi, hoang dã như cây cổthụ ngàn năm Đọc truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh ta có được cái say của hương rượucần, ta nhìn thấy cái bảng lảng của gió thổi, mây bay, cái trùng điệp và vững trãicủa núi cao, rừng rậm” [23] Đúng là như vậy:“Chín truyện ngắn của Hà Thị CẩmAnh trong tập Một nửa của người đàn bà là chín cung bậc tình yêu núi rừng, yêu conngười Nhà văn đã phóng bút bằng tâm hồn, ký ức và trải nhiệm” [23]

Trong bài viết Hà Thị Cẩm Anh với những chuyện ở thung lũng Si Dồ củaPGS TS Hoả Diệu Thuý đã nhận định: “Người con của xứ sở mụ Dạ Dần của ậu mo,

Trang 11

của Xường của Rang cũng đã gánh vác sứ mệnh mà tổ tiên và cội nguồn giao phó.

Đó là phô diễn vẻ đẹp của sức sống quê hương bằng những tác phẩm văn chương”[47] Ngay từ những tác phẩm đầu tay của mình nhà văn Hà Thị Cẩm Anh đã để lại

ấn tượng sâu sắc về không gian, thời gian, con người vùng đất xứ Mường, để nhữngchất men làm say lòng người cứ thể ngầm dần, ngấm dần vào những ai đang bướcvào nơi ấy Với những dòng chữ, những câu văn giản dị nhưng lại để lại ấn tượngkhó phai trong lòng người đọc

Và trong luận văn Cảm hứng về vẻ đẹp dân tộc Mường trong sáng tác của

Hà Thị Cẩm Anh Nguyễn Thị Bích Dậu đã viết: “Có thể nói các sáng tác của HàThị Cẩm Anh đậm đà bản sắc văn hoá Mường Những trang viết của nhà văn chanchứa nỗi niềm đối với mảnh đất quê hương Tuy bây giờ Hà Thị Cẩm Anh đã sống ởthành phố nhưng mảnh đất xứ Mường vẫn gắn bó máu thịt với nhà văn Hình bóngcủa quê hương bản Mường in dấu trong tuổi thơ của tác giả ngày nào vẫn hiện lêntươi nguyên chất sống Phải nặng tình với quê hương sâu sắc đến mức nào thì trangviết của nhà văn mới đằm sâu tình cảm đến thế khi viết về cuộc sống, con người vàthiên nhiên xứ Mường Thanh Hoá ” [12]

2.2 Những ý kiến về nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh

Từ tình yêu thiết tha, gắn bó với con người, mảnh đất xứ Mường của nhà văn

Hà Thị Cẩm Anh ta thấy trong các sáng tác của bà đều viết về cuộc đời, số phận, củanhững người phụ nữ với bao mảnh đời khác nhau Điều đó khiến cho người đọc phảitrăn trở, suy nghĩ, xót xa, cảm thương khi tìm hiểu về những nhân vật nữ trong sángtác của bà

Với sự xúc động sâu sắc, sự cảm nhận tinh tế cùng thái độ trân trọng, nhữngcâu chuyện, những tác phẩm viết về thân phận người phụ nữ Mường của nhà văn HàThị Cẩm Anh - PGS.TS Trần Thị Việt Trung trong bài viết Đau đáu nỗi niềm vềthân phận người phụ nữ Mường trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh đã bộc lộtình cảm, cảm xúc mạnh mẽ, mãnh liệt của mình: “Trái tim tôi như bị bóp nghẹt, thổnthức và buốt nhói khi đọc những tác phẩm viết về thân phận của những người phụ nữMường ở thung lũng Si Dồ của chị Hiếm có một nữ nhà văn nào lại trung thành đếnthế, thủy chung đến thế, yêu thương, thiết tha và trăn trở, xót xa đến thế với mảnh đất

Trang 12

xứ Mường, với những thân phận của những phụ nữ xứ Mường như chị” [51, tr.253].

Đó chính là sự yêu mến, trân trọng và cảm phục đối với nữ nhà văn dân tộc Mườngviết về mảnh đời bất hạnh, những số phận éo le và nghiệt ngã của những người phụ

nữ của mình Cũng chính vì vậy, trong bài Người phụ nữ trong xã hội hiện đại quanhững trang văn nữ tác giả Đỗ Ngọc Yên đã khẳng định: “Có đọc những trang văn

do chính chị em viết về giới của mình mới tận thấu hiểu hết nỗi cùng cực đến ê chềcủa người phụ nữ Việt Nam, mà nhiều khi cánh mày râu rất khó cảm nhận một cáchvừa tinh tế, vừa sâu sắc đến như vậy” [53] Ta thấy được rất rõ điều này trong cáctruyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh khi viết về hình tượng người phụ nữ Mường vì họ

là những nhân vật chính, nhân vật trung tâm trong các tác phẩm của nhà văn Hìnhảnh người phụ nữ Mường được hiện lên với vẻ đẹp về ngoại hình, nội tâm Đặc biệt

là vẻ đẹp nội tâm của người phụ nữ Mường trong bài viết: Những mạnh nguồn cảmhứng mang đậm bản sắc văn hoá Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anhđược tác giả Đào Thuỷ Nguyên và Nguyễn Thị Bích Dậu ngợi ca, khẳng định: “Vớingười Mường lòng thuỷ chung còn là lẽ sống, niềm tin, là điểm tựa để người phụ nữMường vượt qua bao chông gai, thử thách, tiếp tục sống và vươn lên” [50,tr.432]

Còn tác giả Nguyễn Thị Bích Dậu lại viết : “ Ta không chỉ xót xa cho số phậnbất hạnh của những người phụ nữ mà hơn thế còn cảm phục trước sức sống mãnhliệt, dẻo dai của họ Giống như nước suối rừng không bao giờ cạn, cây rừng khôngthể bị quật ngã trước những cơn bão táp thì người phụ nữ Mường cũng đứng vữngtrước mọi giông tố của cuộc đời” [12] Đó là cách sống của người phụ nữ trong sángtác của Hà Thị Cẩm Anh, họ sống với bề ngoài như chiếc bóng, nhưng thực ra họđang âm thầm hi sinh cho gia đình, cho những người yêu thương xung quanh họ.Vì

họ luôn đứng dậy bằng sức mạnh niềm tin, hy vọng của chính mình

Trong bài viết Mùa xuân trong văn xuôi các dân tộc thiểu số, tác giả Vi Anh

đã khẳng định : “Giải vía nói đến nỗi vất vả của một nữ kiểm lâm viên với những tìnhtiết gây xúc động Truyện kết thúc vào những ngày sắp sang xuân cũng là lúc xua đinhững buồn đau của quá khứ, cô tìm được hạnh phúc của đời mình với người đànông đã nhẫn nại đợi chờ” [9] Mỗi nhân vật nữ trong truyện ngắn của Hà Thị CẩmAnh dù phải trải qua những cảnh ngộ, hoàn cảnh éo leo trong cuộc sống nhưng cuối

Trang 13

cùng hạnh phúc cũng đến với họ “Đọc Cây gội già tàn tật, người đọc không thểkhông xót xa cho hoàn cảnh của người con gái khi sinh ra lại mang một khuôn mặt dịdạng Cả Mường Vang khiếp sợ mỗi khi nhìn thấy cô Vì thế, cô đã bỏ vào rừng vàtìm thấy sự đồng cảm với cây gội già tàn tật Kết thúc truyện có hậu là phần thưởngngọt ngào của cổ tích giữa đời thường khi cô được đón nhận tình yêu của một chàngtrai Mường tốt và có một gia đình hạnh phúc” [12,tr.46].

Trong cuốn sách Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số tác giảTrần Thị Việt Trung đã khẳng định :“Trong tất cả các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anhchị đều viết về người phụ nữ với những mảnh đời, thân phận, hoàn cảnh khác nhau.Dưới ngòi bút của chị hình ảnh người phụ nữ Mường hiện lên với vẻ đẹp tự nhiên,tươi tốt, rực rỡ, đầy tính phồn thực, đầy khả năng làm vợ, làm mẹ, làm chủ các "bếp"trong Mường của những cô gái Mường xinh đẹp, duyên dáng, khỏe mạnh Họkhông những chỉ có vẻ đẹp ở hình thức bên ngoài, mà chủ yếu tác giả luôn nhấnmạnh ở họ là vẻ đẹp bên trong: Cái duyên thầm, sự đảm đang, khéo léo, đặc biệt làđức vị tha, đức hy sinh hết mình của họ đối với những người thân yêu trong gia đình,đối với làng bản, với quê hương, với rừng núi thân thương Họ là những người luônchịu thiệt thòi trong cuộc sống Đặc biệt nhân vật nữ trong sáng tác của Hà Thị CẩmAnh luôn có một sức sống mãnh liệt như loài hoa hướng dương luôn hướng về phíamặt trời - cho dù có bị đè nén, bị vùi dập, bị oan ức, đày ải tới mức nào đi chăngnữa” [51, tr.255] Bài viết này đã khẳng định vẻ đẹp của người phụ nữ Mường –những người phụ nữ đẹp cả về ngoại hình lẫn tính cách được nhà văn Hà Thị CẩmAnh phản ánh một cách cụ thể, sinh động trong các sáng tác của mình

Có thể thấy những ý kiến, đánh giá, phê bình về sáng tác của Hà Thị Cẩm Anhtrên đây là rất chính xác và tinh tế, nhưng dù sao đó mới là những ý kiến, những nhậnđịnh, những bài nghiên cứu lẻ chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu như một chuyên luậnriêng về đặc điểm nhân vật người phụ nữ Mường trong các sáng tác của Hà Thị CẩmAnh Theo khảo sát của chúng tôi thì cho tới nay chưa có công trình nào nghiên cứumột cách chuyên biệt hệ thống về hình tượng người phụ nữ Mường trong văn xuôi HàThị Cẩm Anh Do đó, chúng tôi chọn vấn đề này để làm đề tài của luận văn của mìnhvới mục đích: Chỉ ra những sáng tạo độc đáo của nhà văn trong việc xây dựng hình

Trang 14

tượng người phụ nữ DTTS qua các tác phẩm văn xuôi của nữ nhà văn Hà Thị CẩmAnh Từ đó, khẳng định những đóng góp quan trọng của nhà văn trong việc góp phầnhoàn chỉnh thêm về bức chân dung về người phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng vàngười phụ nữ Việt nam nói chung trong thời hiện đại.

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

và những đóng góp của nữ nhà văn trong nền văn học thời kỳ Đổi Mới

- Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật người phụ nữ Mường trong truyệnngắn Hà Thị Cẩm Anh để thấy được tài năng của nhà văn trong xây dựng nhân vậtngười phụ nữ và trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:

- Những tác phẩm văn xuôi của Hà Thị Cẩm Anh nói chung, đặc biệt đi sâuvào nghiên cứu những vấn đề viết về hình tượng nhân vật người phụ nữ DTTS của

Nghiên cứu về đặc điểm hình tượng người phụ nữ dân tộc thiểu số trong toàn

bộ sáng tác văn xuôi của Hà Thị Cẩm Anh, cụ thể gồm sáu tập truyện ngắn sau:

+ Người con gái Mường Biện (Tập truyện và ký 2002)

+ Bài xường ru từ núi (Tập truyện ngắn, 2004)

+ Nước mắt của đá (Tập truỵên ngắn 2005)

+ Mưa bụi (Tập truyện ngắn 2008)

+ Một nửa của người đàn bà (Tập truyện ngắn 2013)

Trang 15

+ Bình minh xanh (Tập truyện ngắn 2017)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài Nhân vật người phụ nữ Mường trong truyện ngắn HàThị Cẩm Anh, chúng tôi xác định những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu khái quát về văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đạitrong đó có một số nhà văn nữ dân tộc thiểu số - mà Hà Thị Cẩm Anh là một đại diệntiêu biểu trong thời kỳ Đổi Mới

- Làm rõ những đặc điểm của hình tượng nhân vật người phụ nữ dân tộcMường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh (ở các phương diện: Nội dung phản ánh

và hình thức nghệ thuật)

- Chỉ ra những nét riêng mang tính mới, tính sáng tạo cùng những đóng góptiêu biểu của nhà văn trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật người phụ nữmiền núi Qua đó khẳng định những giá trị nhân văn, nhân bản, giá trị hiện thực trongcác sáng tác của nhà văn Hà Thị Cẩm Anh trong đời sống văn học các DTTS Việt Namhiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứunhư sau:

- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành ( văn học với văn hoá học, dân tộc học,nhân chủng học, lịch sử, …)

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp so sánh, đối chiếu; và vận dụng một số thao tác nghiên cứu củathi pháp học

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính chất hệ thống, toàn diện

về hình tượng nhân vật người phụ nữ dân tộc Mường trong sáng tác của Hà Thị CẩmAnh Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần khẳng định những nét độc đáo, sáng tạo trongcách khám phá và thể hiện hình tượng người phụ nữ dân tộc Mường trong các tácphẩm truyện ngắn của nữ nhà văn dân tộc Mường - Hà Thị Cẩm Anh

Trang 16

- Kết quả của luận văn sẽ góp phần vào việc nghiên cứu một cách hệ thốnghình tượng nhân vật phụ nữ dân tộc thiểu nói riêng về hình tượng con người dân tộcthiểu số nói chung trong sáng tác của các nhà văn DTTS Việt Nam hiện đại.

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phầnNội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại và nữ nhàvăn dân tộc Mường - Hà Thị Cẩm Anh

Chương 2: Nhân vật người phụ nữ Mường - nhân vật trung tâm trong sáng táccủa Hà Thị Cẩm Anh

Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật tiểu biểu trong quá trình xây dựnghình tượng nhân vật người phụ nữ

Trang 17

NỘI DUNGChương 1

KHÁI QUÁT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ NỮ NHÀ VĂN DÂN TỘC MƯỜNG HÀ THỊ CẨM ANH

1.1 Vài nét khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số thời kỳ hiện đại

Trong dòng chảy của nền văn học Việt Nam hiện đại thì văn học DTTS hiệnđại là một bộ phận khăng khít cấu thành của nền văn học dân tộc một nền văn họcphong phú đa dạng và giàu bản sắc Văn học các DTTS đã góp phần quan trọng làmnên đặc điểm này Đặc biệt là trong lĩnh vực văn xuôi - do chính các nhà văn DTTStạo dựng và chuyên viết về đề tài dân tộc và miền núi

Vào đầu thế kỷ XX, văn xuôi quốc ngữ đã được hình thành và phát triển khámau chóng trong đời sống văn học nước nhà Văn xuôi dân tộc và miền núi cũng đãđược hình thành và từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình với sự tham gia gópsức của nhiều tác giả thuộc các dân tộc khác nhau trong đó có những tác giả là ngườidân tộc Kinh nhưng lại viết về đề tài dân tộc và miền núi như : Thế Lữ, Lan Khai,Lưu Trọng Lư, Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân ; giai đoạn ngay sau năm 1945 cũng

có những tác phẩm ghi dấu ấn sâu đậm trong bạn đọc viết về cuộc sống và con ngườimiền núi của các tác giả: Nam cao, Tô Hoài, Nguyên Ngọc Và từ năm 1975 đếnnay lại có Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Phạm Duy Nghĩa, Đỗ Bích Thuý,Tống Ngọc Hân Được kế thừa thành tựu văn xuôi của những tác phẩm người Kinhviết về miền núi, và được sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước nên từ sau kháng chiếnchống Pháp các gương mặt nhà văn DTTS đã dần xuất hiện ngày càng nhiều hơn vàngày càng khẳng định sự có mặt của mình trong đời sống văn học nước nhà, đem lạicho độc giả cả nước những hiểu biết chân thực, toàn diện và đầy đủ hơn về hiện thựcđời sống, về con người, về bản sắc văn hoá… của đồng bào các dân tộc ít người ở cácvùng miền trên đất nước Nhiều thế hệ các nhà văn dân tộc thiểu số thuộc các dân tộckhác nhau đã xuất hiện và khẳng định một cách vững chắc sự có mặt của mình trongđời sống văn xuôi DTTS hiện đại Ví dụ như: Vùng Đông Bắc có các nhà văn: Vi

Trang 18

Hồng, Triều Ân, Vi Thị Kim Bình, Cao Duy Sơn, Đoàn Ngọc Minh, Bùi Thị NhưLan ; Vùng Tây Bắc có: Kha Thị Thường, Mã A Lềnh, Hà Lâm Kỳ, Tống NgọcHân, Mã Anh Lâm ; Vùng Tây Nguyên có: Y Điêng, Kim Nhất, Hlinh Niê, NêThanh Mai ; Vùng Nam Bộ có: Lý Lan, Inrasara, Trà Vigia

Theo kết quả nghiên cứu cùng những nhận xét, đánh giá của một số nhànghiên cứu chuyên về văn học DTTS (như nhà nghiên cưu phê bình Lâm Tiến, nhànghiên cứu phê bình Trần Thị Việt Trung ) về sự vận động và phát triển của văn họcDTTS Việt Nam thời kỳ hiện đại thì:

Văn xuôi DTTS chủ yếu hình thành và phát triển sau năm 1945, đây là thời kỳvăn học phát triển theo định hướng đường lối văn nghệ của Đảng nên mảng văn họcdân tộc thiểu số được quan tâm phát triển cả về lực lượng sáng tác, số lượng, chấtlượng tác phẩm và đã đạt được những thành tựu đáng kể Ví dụ như tác giả NôngQuốc Chấn trong bài viết Mấy vấn đề về văn học các dân tộc thiểu số đã đưa ranhững nhận định khái quát về những thành công ban đầu mà văn xuôi dân tộc thiểu số

đã đạt được trong những năm trước đó: “Mười năm qua, trong dân tộc Tày - Nùng,dân tộc Thái, lần lượt xuất hiện một số anh chị em viết bút kí, truyện ngắn, truyệnvừa…, việc này đã chứng minh là nền văn xuôi của các dân tộc thiểu số đã có cơ sở

để xây dựng” [10, tr 40] Như vậy văn xuôi DTTS thực sự được ra đời sau một vàinăm khi miền Bắc được giải phóng Các cây bút văn xuôi là người DTTS dần xuấthiện nhiều hơn Người đi tiên phong trong giai đoạn đầu là Nông Viết Toại với truyệnngắn đầu tay Nước ruộng (1952) Nhưng tác phẩm chỉ được coi như một sự “tậpdượt” của chính tác giả về thể loại văn xuôi Đến 1958, Nông Minh Châu mới chínhthức đưa văn xuôi góp mặt trong dòng chảy của văn học các DTTS với truyện ngắnChé Mèn được đi họp Tác phẩm đã được Giải khuyến khích trong đợt thi sáng táctruyện ngắn của Tạp chí văn nghệ (năm 1958) Đây cũng là tác phẩm văn xuôi đầutiên của một tác giả người dân tộc thiểu số được nhận giải thưởng toàn quốc và là tácphẩm đã mở đầu, đánh dấu sự có mặt của văn xuôi các DTTS ở phương diện sáng tácvăn chương cũng như sử dụng văn xuôi và ngôn ngữ mẹ đẻ để thể hiện hình ảnhnhững con người DTTS mới với những thay đổi sâu sắc trong cách sống, cách nghĩ,cách làm để phá bỏ những tập tục cũ nghèo nàn, lạc hậu, mê tín dị đoan vươn lênxây dựng và

Trang 19

làm chủ cuộc sống mới trên quê hương miền núi Tác phẩm của Nông Minh Châu rađời đã mở đường cho hàng loạt truyện ngắn của các tác giả DTTS xuất hiện và đượcchú ý như : Ngôi sao trên đỉnh núi Phja Hoàng, Cây su su noọng Ỷ, Nước suối tiênđào của nhà văn dân tộc Tày Vi Hồng; Bên bờ suối tiên của Triều Ân, Đêm giaothừa, Đặt tên của Vi Thị Kim Bình; Ké Nàm của Hoàng Hạc; Mương Nà Pàng củaNông Viết Toại, Các tác phẩm văn xuôi thời kỳ này tập trung phản ánh hiện thực vềcuộc sống con người, quê hương miền núi với tình cảm yêu mến, ngợi ca, với niềmtin vào sức sống mãnh liệt trong tâm hồn của những con người vùng cao Với sự cómặt của nhiều tác giả là người DTTS văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đã dần đượckhẳng định - như nhà lý luận phê bình Lâm Tiến đã từng phát biểu một cách tự hào

về vị trí vai trò quan trọng của văn học DTTS:“Góp phần xứng đáng vào công cuộccách mạng, cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng Xã hội Chủ nghĩa,trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền văn học Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.[42, tr 153]

Tuy nhiên, văn xuôi các dân tộc miền núi chỉ có thể được ghi nhận từ nhữngnăm 60 và đặc biệt những năm sau chiến tranh Đây chính là thời kỳ văn xuôi miềnnúi có điều kiện phát triển mạnh mẽ Thời kỳ này các nhà văn DTTS có ý thức dùngvăn học phản ánh hiện thực cuộc sống và phục vụ cho nhiệm vụ chính trị, xã hội củavùng dân tộc và miền núi Vì vậy, văn xuôi DTTS luôn bám sát chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Truyện ngắn và kícủa văn học DTTS ra đời trong khoảng những năm sáu mươi, đến 1989 đã có khánhiều tập truyện ngắn và kí cùng với hàng trăm tác phẩm đã được xuất bản Lựclượng sáng tác là người DTTS đông đảo hơn và thành tựu sáng tác cũng rõ ràng vàrực rỡ hơn Thời kỳ này văn xuôi DTTS phát triển khá mạnh về số lượng cũng nhưchất lượng, giúp chúng ta có thể nhận ra một cách rõ ràng về diện mạo riêng cùngnhững đặc điểm riêng của văn xuôi DTTS Có thể kể tên các tác phẩm văn xuôi tiêubiểu của các tác giả người DTTS như: Tiếng hát rừng xa của Hoàng Hạc; Đoạnđường ngoặt của Nông Viết Toại (1973); Tiếng chim Gô của Nông Minh Châu(1979); Niềm vui của Vi Thị Kim Bình (1979); Tiếng khèn A Pá của Triều Ân(1980); Cột mốc giữa lòng sông của Mã A Lềnh (1981); Những bông Ban tím của

Trang 20

Sa Phong Ba (1981); Hạt giống mới của Hoàng Hạc (1983); Chiếc Vòng bạc của LòNgân Sủn (1987), Đường qua đèo mây của Triều Ân (1988); Đuông thang của ViHồng (1988); Xứ lạ mường trên của Hoàng Hạc (1989)…

Bên cạnh thể loại truyện ngắn và kí còn có thể loại tiểu thuyết, thể loại nàycũng đã đạt được những thành tựu đáng kể Đầu tiên là tác phẩm Muối lên rừng củaNông Minh Châu, sau đó là tác phẩm Hơ Giang của Y Điêng (dân tộc Ê Đê); và đến

Vi Hồng với một loạt các tiểu thuyết như: Đất bằng (1980), Núi cỏ yêu thương (1984),Thung lũng đá rơi (1985) thể loại tiểu thuyết của văn học DTTS đã khẳng định được

sự có mặt của mình trong thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói chung

Nội dung chủ yếu của văn xuôi các dân tộc thiểu số thời kỳ này là phản ánhcông cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và cuộc kháng chiến chống Mĩ ở cả nước và ởmiền núi Đồng thời, phản ánh những vận động, đổi mới trong đời sống các dân tộcthiểu số như: Xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống mới với những việc làm cụ thể:Xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng công trình thủy điện, làm thủy lợi, xâydựng quê hương mới, chống mê tín dị đoan, chống các phong tục cổ hủ lạc hậu, bướcđầu chống nạn tham ô, tham nhũng Bên cạnh đó một số tác giả thì đi sâu khai thácđời sống riêng, cùng thế giới nội tâm các nhân vật với tư cách con người cá nhântrong thời kỳ hiện đại ở miền núi

Bên cạnh sự xuất hiện của tiểu thuyết, truyện ngắn xuất hiện khá nhiều, đặcbiệt từ sau năm 1975 Đây là thời kỳ văn xuôi DTST phát triển với một bước mới,

về cả số lượng cũng như chất lượng Bên cạnh những nhà văn xuất hiện từ trongthời kì chống Pháp (1946- 1954) như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Nông MinhChâu, Nông Viết Toại ; đến giai đoạn kháng chiến chống Mĩ ( 1954 – 1975) như:Triều Ân, Vi Hồng, Hoàng Hạc, Hùng Đình Quý, Mà Thế Vinh, Môlô Yclavi,Vi ThịKim Bình, Vương Trung, Vương Anh, Y Điêng ; và từ sau 1975 đến nay xuất hiệnnhiều các cây bút mới, sung sức như: Mã A Lềnh, Triệu Lam Châu, La Quán Miên,

Lò Cao Nhum, Inrasara, Cao Duy Sơn, Hà Lâm Kì, Ma Trường Nguyên, Hà Lí,Kim Nhất, Hà Thị Cẩm Anh, Kha Thị Thường, Hữu Tiến, Đoàn Lư, Đoàn NgọcMinh, Hoàng Hữu Sang, Sa Phong Ba, H'Linh Niê, Bùi Thị Như lan, Niê Thanh Mai

Vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90 văn xuôi các DTTS rất phát

Trang 21

triển và được độc giải ghi nhận Đây chính là thời kì chuyển từ cơ chế quản lý quanliêu, bao cấp sang cơ chế thị trường (định hướng xã hội chủ nghĩa) Đời sống kinh tế,chính trị của miền núi cũng có những chuyển biến mạnh mẽ, khiến cho đời sống vănhọc nghệ thuật miền núi cũng có một sự chuyển biến lớn Sự thay đổi này có ảnhhưởng và tác động mạnh đến cách phản ánh hiện thực và tư duy nghệ thuật của cácnhà văn DTTS Từ năm 1990 trở đi, đời sống văn nghệ sôi nổi hơn Văn xuôi miềnnúi thời kỳ này có sự mở rộng về đề tài và chủ đề, cùng sự ra đời của những tác phẩm

có dấu hiệu đổi mới trong cách nhìn, trong tư duy nghệ thuật cùng sự phát triển ngàycàng đông đảo hơn về đội ngũ tác giả là người DTTS

Nếu như trước đây, văn học hầu như chỉ tập trung phản ánh những mặt tốtđẹp của hiện thực cuộc sống của con người thì giai đoạn này nhờ có sự đổi mớitrong cách nhìn, cách phản ánh hiện thực - hiện thực được mở ra phong phú hơn, đachiều hơn Những mặt trái, những mảng khuất lấp mà văn học trước đây chưa đi vàophản ánh nay được đề cập đến nhiều hơn Các nhà văn DTTS đã nắm bắt được vấn

đề mang tính “thời sự” này để phản ánh một hiện thực mới trong các sáng tác củamình Các tiểu thuyết: Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Vào hang(1990), Chồng thật vợ giả (1994)…của Vi Hồng được dư luận quan tâm bởi nhữngvấn đề có tính thời sự này Hoàng Thế Sinh với tiểu thuyết Xứ mưa (2000); CaoDuy Sơn trong tiểu thuyết Đàn trời (2006), Ngôi nhà xưa bên suối (2007) ; Triều

Ân với Nắng vàng bản (1992), Nơi ấy biên thùy (1994), Dặm ngàn rong ruổi(2000) Bên cạnh những tác phẩm chú ý đến vấn đề mang tính xã hội còn một sốcác tác phẩm đã đi vào các khía cạnh của đời tư con người ví dụ như: Gióhoang(1992), Bến đời (1995), Mùa hoa hải đường(1998) của Ma Trường Nguyên;tập truyện Số phận đàn bà của Hoàng Thị Cành; các tập truyện Tiếng chim kỷgiàng (2004), Mùa hoa mắc mật (2005), Hoa mía (2006) của Bùi Thị Như Lan;đến các tập truyện Nước mắt của đá (2005), Mưa bụi (2008), Một nửa người đàn

bà (2013) của Hà Thị Cẩm Anh

Có thể thấy, văn học DTTS thời kì này đã có sự phát triển về số lượng, chấtlượng và đã có những dấu hiệu đổi mới trong cách nhìn cách phản ánh và trong tưduy nghệ thuật Ví dụ như cuốn tiểu thuyết Người lang thang của Cao Duy Sơn; các

Trang 22

tiểu thuyết Mùa hoa hải đường, Trăng yêu, Bến đợi của Ma Trường Nguyên; tiểuthuyết Dòng đời của Hữu Tiến; Đất bản quê cha của Vương Trung Với nhữngphong cách khá tiêu biểu như vậy“tiểu thuyết các dân tộc miền núi đã tự khai phámột con đường rộng rãi hòa vào dòng chảy của văn học hiện đại dân tộc” [18,tr.43].

Bên cạnh những thành tựu nổi bật của tiểu thuyết, truyện ngắn cũng đạt đượcnhững thành công đáng ghi nhận Truyện ngắn Hoa bay cuối trời của Cao Duy Sơn có

sự vận dụng và kết hợp độc đáo của văn hóa Tày - Việt, mang lại một vẻ đẹp vừa lạvừa quen, vừa truyền thống vừa hiện đại Tính nhân văn được thể hiện một cách xúcđộng qua các câu chuyện về các hoàn cảnh, các số phận, cùng cách ứng xử văn hoácủa những con người miền núi chân thật, thô mộc nhưng thật giàu tình người, giàulòng vị tha Nhà văn Bùi Thị Như Lan với một loạt những truyện ngắn đã đóng gópcho sự đổi mới mảng văn xuôi DTTS miền núi ở khía cạnh khai khác chiều sâutâm hồn con người nhất là những con người là phụ nữ và các chiến sỹ quân đội làngười DTTS (Lời sli vắt ngang núi, Bồng bềnh sương núi, Mùa hoa gắm); nhà văn

Hà Thị Cẩm Anh với truyện ngắn Gốc gội xù xì, Một nửa người đàn bà, Giải vía

đã phân tích, lí giải diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật (đặc biệt là nhân vật ngườiphụ nữ Mường) một cách hợp lí với lối kể chuyện chân thật, mộc mạc, giản dị, dễ hiểunhưng giàu tính biểu tượng, sâu sắc và cảm động lòng người

Văn xuôi miền núi thời kì Đổi Mới có sự mở rộng đề tài, chủ đề, và có sự thayđổi trong cách nhìn, cách phản ánh hiện thực và tư duy nghệ thuật và có sự đi lên.Bên cạnh các tác giả ở giai đoạn trước vẫn tiếp tục sáng tác như: Vi Hồng, Triều Ân,

Mã A Lềnh, Sa Phong Ba, Cao Duy Sơn còn có thêm nhiều gương mặt mới như: HàThị Cẩm Anh, Hữu Tiến, Hoàng Quảng Uyên, Đoàn Ngọc Minh, Bùi Thị Như Lan,Linh Nga NiêKdam, Niê Thanh Mai Những nhà văn này có ý thức đi sâu vào phảnánh hiện thực cuộc sống thời kỳ hiện đại và hội nhập; đi sâu vào phản ánh số phậncon người với bao vui, buồn, hạnh phúc và bất hạnh

Với sự góp mặt của nhiều cây bút văn xuôi DTTS như đã kể trên đã góp phầntạo nên diện mạo một nền văn xuôi Việt Nam hiện đại phong phú, giàu bản sắc.Trong đội ngũ các nhà văn DTTS ấy đã xuất hiện khá nhiều các cây bút nữ Các câybút văn xuôi nữ DTTS xuất hiện chậm hơn một chút so với các cây bút nam DTTS

Trang 23

Phải đến những năm 1968-1970 mới xuất hiện một số cây bút văn xuôi nữ, và từ sauĐổi Mới đến nay thì các nhà văn nhữ DTTS mới xuất hiện nhiều hơn và đã đạt đượcnhững thành tựu đáng ghi nhận Nhà văn nữ DTTS thuộc thế hệ đầu tiên phải kể đếnnhư: Nhà văn Vi Thị Kim Bình là người dân tộc Tày (tỉnh Lạng Sơn) Bà là một cán

bộ ngành Y và là người luôn tận tụy với công việc, với cái tâm của người thầy thuốc

Bà viết bằng tấm lòng và tình cảm của mình cái tâm của người thầy thuốc miền núiđối với quê hương, con người ở nơi đây Vi Thị Kim Bình là nhà văn nữ dân tộc thiểu

số tiêu biểu lớp đầu tiên viết khá thành công về hình ảnh con người, cuộc sống củađồng bào các dân tộc vùng cao biên giới Việt Nam Hầu hết các tác phẩm của bà đềuviết về người phụ nữ, trong đó phần nhiều là những người phụ nữ dân tộc mang bảntính dịu dàng, mộc mạc, giản dị, dù mỗi cuộc đời ở những hoàn cảnh khác nhau, sốphận khác nhau, nhưng ở họ luôn toát ra vẻ đẹp của sự hi sinh, lòng vị tha của sựvươn lên mạnh mẽ trong cuộc sống thời chiến tranh cũng như thời hoà bình Trong đó

có những tác phẩm tiêu biểu và đạt được nhiều giải thưởng khác nhau của bà như:Đặt tên, Những bông Huệ trắng

Trong đội ngũ các nhà văn nữ DTTS cần phải nhắc đến tên tuổi của một sốnhà văn Tây Nguyên hiếm hoi như: Kim Nhất, Linh Nga Niê Kdam, Niê ThanhMai Đầu tiên là nhà văn Kim Nhất - người dân tộc Ba Na Kim Nhất có giọng điệuriêng, cứ rủ rỉ rù rì, “có gì kể nấy” nên được bạn đọc gọi là: “người kể chuyện buônlàng” Bà đã xuất bản gần 20 đầu sách và là Hội viên Hội Nhà Văn, Hội VHNT cácDTTS Việt Nam

Tiếp đến là nhà văn Linh Nga Niê Kdam - một hiện tượng đáng ghi nhận trongvăn xuôi Tây Nguyên thời kì hiện đại Chị đã có một số lượng tác phẩm văn xuôi đáng

kể, trong đó có những tác phẩm được đánh giá cao như: Con rắn màu xanh da trời,Gió đỏ, Pơ Thi mênh mang mùa gió, Trăng Xí Thoại, Đi tìm hồn chiêng, Nhândanh ai Sáng tác của Hlinh Niê đề cập đến mọi mặt đời sống của nhân dân TâyNguyên thời kỳ hiện đại hoá, bên cạnh đó nhà văn đã rất có ý thức đi sâu vào nhữngnét riêng độc đáo của con người và mảnh đất này qua những phong tục, lễ hội, trangphục của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên

Trang 24

Và nhà văn Kha Thị Thường - nhà văn dân tộc Thái sinh năm 1979 của (tỉnhNghệ An) là một cây bút viết khoẻ, viết chắc Các tác phẩm tiêu biểu của bà là: Kí ứcxanh (1998), Đêm canh ba (2000), Lũ núi (2002), Mùa hoa lù cù ( 2008) Trong đó

có một tác phẩm (Mùa hoa lù cù) là tác phẩm dành cho thiếu nhi dân tộc thiểu số

Tiếp đến là nhà văn Đoàn Ngọc Minh một nữ nhà văn dân tộc Tày của CaoBằng Những năm tháng sáng tác đầu tiên chị thường viết cho thiếu nhi (Dòng sông

kỉ niệm, Phía sau đỉnh Khau Khoang, Cánh chim) Sau đó là một loạt tác phẩm vănxuôi viết về cuộc sống con người miền núi cao như: Lời hẹn (1997); Dòng sông kỉniệm (1997); Cánh chim (1999); Sông ngàn lau (2001); Gió xoáy (2004); Gọi nắng(2004); Núi Bó Phạ trở về (2003); Thằng bạn tôi (1995); Mùa lá rụng (2000);Chuyện của đại tá Thi (2001)… khá thành công trong tác phẩm của mình

Đáng chú ý là nhà văn nữ DTTS Bùi Thị Như Lan - một nhà văn quân độithuộc quân khu I chị hay viết về đề tài cuộc sống con người miền núi phía Bắc, vànhất là những số phận, cảnh ngộ của những người phụ nữ (có chồng tham gia quânđội) và những người lính là người DTTS Là một nhà văn nữ còn khá trẻ, khỏe, BùiThị Như Lan đã đi và lăn lộn trên khắp mọi miền thuộc biên giới phía Bắc nên bà cónhiều vốn sống, có nhiều tư liệu thực tiễn Bà có các tác phẩm truyện ngắn tiêu biểunhư: Tiếng chim kỷ giàng, Mùa hoa mắc mật, Hoa mía, Lời sli bay cao, Bồngbềnh sương núi, Cọn nước đôi, Cọn nước đôi, Mùa hoa Bjoóc phạ, Tiếng kènpílè Bà cũng đã đạt được nhiều Giải thưởng với các tác phẩm: Bố ơi (1999), Núiđợi, Gió hoang (2004), Hoa mía (2006), Tiếng chim kỷ giàng (2007), Mùa hoaBjoóc phạ (2013)

Nhìn vào đội ngũ các nhà văn nữ dân tộc thiểu số như đã nói ở trên có thểthấy: Trong khoảng hơn nửa thế kỉ qua, bên cạnh đội ngũ nhà văn DTTS là nam thìcác nhà văn nữ cũng đã xuất hiện và trưởng thành nhanh chóng cùng với sự phát triển

về số lượng và nâng cao chất lượng về tác phẩm Hàng loạt những tác phẩm được rađời bởi các nữ nhà văn DTTS như: Vi Thị Kim Bình, Kim Nhất, Lý Lan, Linh NgaNiếk Đam, Kha Thường, Hà Thị Cẩm Anh, Đoàn Thị Ngọc Minh, Bùi Thị Như Lan,Niê Thanh Mai Những tác phẩm của họ đã góp phần tạo nên một bộ phận văn xuôigiàu bản sắc trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Trang 25

Nữ nhà văn DTTS Hà Thị Cẩm Anh là một cây bút dân tộc Mường tiêu biểu.Các tác phẩm của chị chủ yếu viết về cuộc sống con người, thiên nhiên xứ Mườngvới một tấm lòng thương mến, trân trọng Trong cuộc sống hiện đại ngày nay – HàThị Cẩm Anh luôn khao khát được lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá truyềnthống của dân tộc Mường, giữ mãi vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ như chính nó vốn cónhư vậy Qua hàng loạt truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh đã giúp người đọc hiểu rõthêm về vẻ đẹp hồn hậu, nhân ái, thuỷ chung, giàu nghị lực và khát vọng vươn lêntrong cuộc sống của đồng bào dân tộc Mường nói chung và người phụ nữ Mường nóiriêng Chị xứng đáng là nhà văn nữ DTTS tiêu biểu xuất sắc có đóng góp nhiều trongthời kì Đổi mới.

1.2 Nữ nhà văn dân tộc Mường Hà Thị Cẩm Anh

Hà Thị Cẩm Anh - cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học DTTS Việt Namthời kỳ Đổi mới Tên thật của bà là Hà Thị Ngọ (sinh ngày 10 tháng 10 năm 1948) làngười dân tộc Mường ở vùng đất Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá Bà công tác tại Hội Vănhọc – Nghệ thuật Thanh Hoá, là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Vănhọc – Nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam…Trong hơn mười năm gần đây nhàvăn đã có sáu tập truyện ngắn và ký Với các tác phẩm đặc sắc của mình bà đã nhậnnhiều Giải thưởng của Trung ương và địa phương như: Giải thưởng của Hội Nhà văn

và Uỷ ban toàn quốc các Hội VHNT Việt Nam Giải nhất cuộc thi truyện ngắn BáoVăn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004- 2005, Giải B cuộc thi viết về môitrường: Qua thơ và truyện: Hành tinh xanh mãi xanh do Hội Nhà văn Việt Namcùng Báo Thiếu niên Tiền Phong tổ chức năm 2001, Giải thưởng đặc biệt của UBTQcác hội Văn học – nghệ thuật Việt Nam tặng cho tác giả là Hội viên Hội Văn học –nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt Nam (đạt giải cao nhất – giải A) cho tập truyệnngắn Một nửa người đàn bà, Giải B cuộc vận động Sáng tác và công bố các tácphẩm Văn học – Nghệ thuật có tư tưởng và chất lượng cao về hai cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giai đoạn 1930 – 1975 do UBTQ các Hội VH –

NT Việt Nam phát động năm 2014 – 2015 Giải thưởng của Hội VHNT các dân tộcthiểu số Việt Nam: Giải B năm 2000, Giải C năm 2002, Giải B năm 2003, Giải Bnăm 2004, Giải B năm 2005, Giải C năm 2007, Giải B năm 2008, Giải A năm 2014.Giải thưởng của bộ ngành Trung ương: Giải C cho kịch bản Phim truyện Tiếng hát

Trang 26

trong hang núi của Bộ Văn hoá thông tin, Giải B cuộc thi viết về: “ Sự hy sinh thầmlặng” của bộ Y tế, năm 2012, Giải B cuộc thi viết về Giao thông vận tải của Bộ Giaothông vận tải, năm 2014 Giải thưởng của Hội Văn học – Nghệ thuật & các ban ngànhtỉnh Thanh Hoá: Giải thưởng 5 năm của UBND tỉnh Thanh Hoá về VHNT năm 2005,Giải thưởng Lê Thánh Tông của Hội VHNT Thanh Hoá năm 2003, 2004, 2007,2008 Với sức sáng tạo dồi dào Hà Thị Cẩm Anh là gương mặt nữ hiếm hoi, tiêubiểu của người dân tộc thiểu số trong làng văn xuôi Việt Nam đương đại Những sángtác của Hà Thị Cẩm Anh chủ yếu viết về cuộc sống của con người xứ Mường - miềnquê Thanh Hoá của bà với biết bao biến động của thời cơ chế thị trường đầy phongphú và phức tạp hôm nay.

Ngay từ khi còn nhỏ Hà Thị Ngọ đã có khiếu văn chương và đã tập sáng tác từ

đó Tác phẩm đầu tay của bà là Thím Cò Khoai (được viết khi ấy bà mới 13 tuổi vàmới chỉ học hết lớp 5 phổ thông) Sau đó bà đã theo học lớp Bổ túc văn hoá CôngNông và được giới thiệu đi học khoá VI Trường Viết văn Nguyễn Du Nhưng sau mộtthời gian, Hà Thị Cẩm Anh không thể tiếp tục theo học Trường Viết văn Nguyễn Dunữa vì hoàn cảnh quá khó khăn Về địa phương bà được giới thiệu vào Ban vận độngthành lập Hội Văn nghệ Thanh Hoá Và bà đã trở thành một trong những người thuộclứa hội viên tham gia sáng lập của Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hoá Sau đó vớiđiều kiện làm việc mới, bà đã có những sáng tác, có những tác phẩm mới mangnhững nét đặc trưng riêng của một cây bút Mường hiện đại Những sáng tác đầu taycủa bà cần phải kể đến là: Thím Cò Khoai, Mùa rẫy đến sớm đây là những tác phẩmviết còn rất mộc mạc nhưng đằm thắm và có duyên của bà

Cuộc sống đầy khó khăn, vất vả của thời kì bao cấp tưởng như nhà vănkhông sáng tác Nhưng đối với Hà Cẩm Anh văn chương như một mỗi lươngduyên không thể dứt bỏ được Từ năm 2000 đến nay, được công tác tại Hội Vănhọc - Nghệ thuật tỉnh Thanh Hoá và bà lại bắt đầu cầm bút trở lại Với một sứcviết dồi dào bao cảm hứng về thiên nhiên, con người quê hương xứ Mường nhưđược tuôn trào trên đầu ngọn bút của Hà Thị Cẩm Anh Năm nào bà cũng ra sách,

bà còn viết cả kịch bản Điện ảnh và nhận được các Giải thưởng văn chương củaTrung ương và địa phương Những tập truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh luônnhận được tình cảm của người đọc và bạn bè gần xa Một loạt các tác phẩm ra đời

Trang 27

đã khẳng định được vị trí của nhà văn trong nền văn học các dân tộc thiểu số hiệnđại Như tác giả Hoả Diệu Thuý đã nhận xét: “ Quả là tình yêu đối với văn chươngcủa cô thôn nữ này rất lớn Tình yêu đã dẫn đường cho chị Tình yêu đã khiến chị

nỗ lực Và chị đã rất nỗ lực để trở thành một nhà văn như bây giờ” [7] Có thểnói, Hà Thị Cẩm Anh là một trong những gương mặt tiêu biểu của xứ Mường đã

có nhiều tác phẩm đề lại ấn tượng cho bạn đọc

Về sự nghiệp sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh, ta có thể kể đến các tác phẩm vănhọc: Thím Cò khoai (Tập truỵên ngắn 1964) Người con gái Mường Biện (Tậptruyện và ký, Nxb Văn hoá dân tộc, năm 2002), Những đứa trẻ mồ côi (Truyện dài,Nxb Kim Đồng, năm 2003), Bài xường ru từtronh hang núi (Tập truyện ngắn, NxbVăn hoá dân tộc, năm 2004), Nước mắt của đá (Tập truyện ngắn, Nxb Văn hoá dântộc, năm 2005), Lão thần rừng nhỏ bé (Truyện dài, Nxb Kim Đồng, năm 2007), Mưabụi (Tập truyện ngắn Nxb Văn hoá dân tộc, năm 2008), Một nửa của người đàn

bà (Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn hoá dân tộc, năm 2014), Chẫu chàng Cóc tía và

Cư dân xóm Bờ Ao ( Truyện thiếu nhi Nxb Kim Đồng, năm 2014), Bình MinhXanh (Tập truyện ngắn Nxb QĐND, 2017) Ngoài ra còn có các tác phẩm Kịch bảnĐiện ảnh: Con đường dài lắm (Kịch bản phim truyện, đề tài thiếu nhi năm 2005), Bàixường ru từ trong hang đá (Kịch bản phim truyện nhựa - Cục điện ảnh Việt Nam đãsản xuất năm

2007), Huyền thoại Hàm rồng (Kịch bản phim truyện nhựa phát sóng ngày 4 tháng 4năm 2015), Ngọc trạo mùa thu 1941 (Kịch bản phim truyện nhựa, đề tài chiến tranh vềhai cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ, sản xuất năm 2017)

Nội dung bao trùm trong các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh là đi sâu phản ánhcuộc sống của con người miền núi, về quê hương xứ Mường Thanh Hoá Với cái nhìncủa một người con quê hương, bà luôn tự hào về những vẻ đẹp văn hoá truyền thống,

về phong tục tập quán của dân tộc Mường Bên cạnh đó tình yêu của nhà văn còndành cho vẻ đẹp tự nhiên của quê hương Khi viết cuộc sống con người nơi xứMường nhà văn đã tập trung xây dựng hình ảnh những con người giàu lòng nhân ái,

vị tha, thuỷ chung son sắt, chân thực, hồn hậu và giàu nghị lực Họ là những nhân vậtchính trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh Ta luôn thấy được một tấm lòng ưu ái,

Trang 28

trân trọng và tràn đầy yêu thương cảm thông con người của tác giả Như trong lời tựaKhi đá cũng được giải oan, Lã Thanh Tùng có nhận xét về những niềm vui và nỗi

Trang 29

đau cũng mang nét riêng biệt trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh: “Cây bút của chịcũng gió mưa, hoa lá sâu rầy ong bướm như hàng nghìn nhà văn trên trái đất này,nhưng cái niềm vui và nỗi đau của chị thì lại đặc trưng cho bản thể chị, chúng

“ngún” lên từ từng tế bào, giọng nói, cái lối hành xử của chị, về cuộc sống đangngổn ngang bề bộn nơi cái xứ Mường Vang, Mường Dồ âm u đại ngàn Bắc Trung BộViệt Nam” [44] Có thể thấy trên mỗi trang văn của Hà Thị Cẩm Anh là tấm lòngđôn hậu và đầy sự cảm thông cho từng hoàn cảnh, từng số phận của những con ngườibất hạnh nhưng lúc nào cũng giàu nghị lực sống Nhà văn viết nhiều về hình tượngngười phụ nữ Mường những người luôn phải chịu nhiều nỗi buồn, nỗi khổ đau cùngbao oan khuất trong cuộc đời (Bài xường ru từ núi, Cuộc đời bị đánh cắp, Một nửacủa người đàn bà, Quả còn, Suối lạnh, Cha mẹ và tôi, Của hồi môn, Giải vía,Chuyện xưa…) Đọc những tác phẩm này, người đọc vừa cảm thông cho số phận củabao người phụ nữ phải chịu bao khó khăn, bất hạnh, lại vừa trân trọng vẻ đẹp tâm hồncủa họ Bởi rơi vào bất cứ tình cảnh bi đát như thế nào nhưng người phụ nữ Mườngvẫn một lòng thuỷ chung, hy sinh, thương yêu chồng con hết mực Không những thế,

họ còn chủ động để xoá tan mọi hận thù luôn sẵn sàng tha thứ lỗi lầm, tội ác củangười khác với lòng vị tha nhân ái Nhưng nhiều khi vì quá chân thật, đôn hậu mà họphải chịu thiệt thòi, bị lừa gạt, bị oan trái Nhưng niềm tin và lòng can đảm đã khiếncho những người phụ nữ ấy vượt lên nỗi đau, nỗi oan để tiếp tục sống một cách kiêncường Những số phận bất hạnh ấy không phải chỉ thấy ở hình tượng người phụ nữ

mà còn thể hiện ở nhân vật những đứa trẻ Đó là những đứa trẻ sống vất vưởng trongNhững đứa trẻ mồ côi, Con đường dài lắm, Đứa con trai Tuy các em còn ít tuổinhưng đã phải lăn lộn với cuộc sống thậm chí trở thành chỗ dựa cho mế khi mế của

em bị bệnh Cùng với sự từng trải, cùng những chiêm nghiệm về cuộc đời nhà văn

Hà Thị Cẩm Anh đã gửi gắm bao suy ngẫm, bao bài học mang ý nghĩa nhân văn: Khicon người biết hy sinh cho người khác, biết sống vì người khác, biết tha thứ chongười khác thì con người sẽ có được niềm vui hạnh phúc hay ít nhất là sự thanh thảncủa tâm hồn Đây là điều mà nhà văn muốn gửi tới bạn đọc vì trong cuộc sống hiệntại đầy phức tạp hôm nay những điều tốt đẹp, nhân văn, nhân ái đó càng có giá trị đốivới con người

Bên cạnh đề tài viết về cuộc sống của những con người nơi xứ Mường, Hà

Trang 30

Thị Cẩm Anh còn viết về những phong tục tập quán mang đậm bản sắc văn hoá dântộc Đó là niềm tự hào về những phong tục tập quán đẹp của dân tộc như: tục ăn hỏi,cưới xin, ở rể, cúng ma, giải vía, lễ hội Khua Luống, lễ hội Pồn Pôông, lễ hội mùaxuân với cảnh trai gái ném còn, hát Xường giao duyên, trong âm thanh ấm áp, vangdội của tiếng cồng chiêng Tuy nhiên, rải rác trong các sáng tác của nhà văn cònđượm nỗi lo lắng về sự phai nhạt, thậm chí bị mất đi các phong tục tập quán đẹp củadân tộc Bởi: “Tác giả vẫn đi về cùng quê hương, quan sát lắng nghe, chia sẻ Tráitim của tác gải thấp thỏm quặn thắt mỗi lần chứng kiến một phong tục, một tập quán– một nét văn hoá của dân tộc mình đang dần dần bị mai một, bị biến dạng đi” [7].

Đó là hiện tượng người ta phá đi các ngôi nhà sàn truyền thống để thay vào đó lànhững ngôi nhà cao tầng (Khá Chồi), là sự đánh mất nét đẹp, cùng phẩm chất cao quícủa con người, trong đó có người phụ nữ Mường (Ngược chiều mở cửa, Của hồimôn, Chuyện xưa, Suối lạnh) Trong các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh không chỉtái hiện cái hay, cái đẹp về phong tục tập của dân tộc mình mà còn nhận ra mặt trái và

sự hạn chế của những thói quen tập quán xấu trong cuộc sống của người Mường Ví

dụ như: Tục ném rể trong truyện ngắn Quả còn, nhà văn đã phê phán tục lệ lạc hậucũng như phê phán cách ứng xử thiếu nhân văn của những con người Mường cổ hủ,kém hiểu biết Cái quí của nhà văn là đã dám nhìn thẳng vào sự thật để phê phánnhững hủ tục trong đời sống của người Mường Cụ thể là: Việc tổ chức những lễ ănhỏi, cưới xin rườm rà, tốn kém; là tục ép người phụ nữ phải ở vậy làm “vợ ma” suốtđời mà không được phá vỡ hôn ước (Trong truyện ngắn Cưới chạy phê phán hủ tụctảo hôn, rồi tục buộc vía qua truyện ngắn Giải vía) Có thể thấy, nhà văn Hà Thị CẩmAnh đã rất trung thực, thẳng thắn trong việc phê phán những hủ tục, tập quán xấutrong đời sống của người Mường còn tồn tại đến tận ngày nay

Có thể thấy, dù viết về đề tài gì, nhà văn vẫn giữ được tấm lòng ưu ái, trântrọng, yêu thương con người: “Ta gặp một niềm tự hào Một tình yêu sâu đậm đối với

xứ Mường là quê hương của chị Đói no mặc lòng nhưng chị vẫn tha thiết với ngôilàng ấy, bãi sông ấy và những con người thật thà chất phác biết bao nhiêu?” [47]

Về đặc điểm nghệ thuật trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh, có thể nhận thấyrằng, bà có một cách viết rõ ràng, giản dị, dễ hiểu Từ tác phẩm đầu tay như Thím cò

Trang 31

Khoai và tập truyện Người con gái Mường Biện là cách viết dung dị, hồn nhiên,(chưa có bàn tay của một người “ thợ”) với các câu văn còn rườm rà ở dạng câu trầnthuật Nhưng đến những tập truyện sau này, nhà văn đã có những câu văn uyểnchuyển, tinh tế và giàu hình ảnh so sánh, liên tưởng cùng cách viết mộc mạc, chânthành và sống động về quê hương, về cuộc sống sinh hoạt của bà con dân bản; bằngviệc sử dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt, khéo léo cùng cách diễn đạt của dân tộcmình tác giả đã tạo nên một không gian miền núi Đó là không gian của ngườiMường với những tên gọi, địa danh hay cách xưng hô tạo ra một không gia văn hoáMường rất đặc trưng để lại nhiều ấn trong lòng bạn đọc Trong thế giới nghệ thuật của

Hà Thị Cẩm Anh người đọc còn được ngắm nhìn, thưởng ngoạn một thiên nhiên tươiđẹp, thơ mộng và trữ tình, nhiều khi tác giả như hoá thân vào thiên nhiên để đối thoại:

“ Thiên nhiên trong trang viết của nữ sĩ có một gương mặt riêng, mang đậm dấu

ấn của cuộc sống dân tộc Mường xứ Thanh này” [12] Truyện ngắn của Hà ThịCẩm Anh có lời văn tự nhiên giàu hình ảnh, giàu chất thơ như tác giả Thy Lan đãnhận xét cách viết của nhà văn : “Văn chương chị trong trẻo, tự nhiên như nướcsuối, lại phong phú mượt mà như lá rừng, dung dị như nhà sàn, bếp lửa, đôi khicũng dữ dội như suối dâng, thác đổ và trần trụi, hoang dã như cây cổ thụ ngàn năm.Đọc truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh ta có được cái say của hương rượu cần, tanhìn thấy cái bảng lảng của gió thổi, mây bay, cái điệp trùng và vững chãi của núicao rừng rậm” [23]

Bên cạnh việc sử dụng ngôn ngữ theo lối diễn đạt của dân tộc mình khi nói đếnnghệ thuật xây dựng cốt truyện và khắc hoạ nhân vật, nhà văn vừa kể thừa những yếu

tố truyền thống của văn học các DTTS, vừa có sự bứt phá để sáng tạo Đó là trongcách xây dựng cốt truyện, phần lớn truyện ngắn của nhà văn là kiểu cốt truyện hiệnđại Đọc truyện ngắn của nữ nhà văn Mường này, ta bắt gặp rất nhiều cốt truyệnđược sắp xếp theo lối kết cấu thời gian đảo ngược, (kết thúc có hậu hoặc không

có hậu) Nhiều truyện ngắn dựa trên các tình huống xác thực nên cốt truyện của nhàvăn thường rõ ràng và lôi cuốn người đọc vì: “Những truyện ngắn viết gần đây tácgiả đã linh hoạt trong dựng truyện Thay cho cách kể chầm chậm bằng bằng; bằngnhững lát cắt nhanh mà những truyện trước kia của chị ta không hề thấy Các truyệntrước đây yếu

Trang 32

tố vạm vỡ làm đầy đủ thì càng về sau tốc độ hành động của nhân vật được đẩy nhanhchất thơ mộng được sử dụng người đọc có cảm hứng khi theo dõi câu chuyện” [43].

Đọc truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh, ta thấy có sự phân cực rõ ràng giữa cáithiện và cái ác Điều đó đòi hỏi nhà văn phải có lối viết mạnh bạo, bản lĩnh, khai tháchiện thực ở cả hai mảng sáng – tối, bộc lộ thẳng thắn quan điểm của mình Tác giả

Đỗ Đức trong lời tựa Đọc truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh viết cho tập truyện Bàixường ru từ núi đã nhận xét về phong cách viết của nhà văn: “Chị viết dữ dội, khôngmập mờ và luôn rạch ròi giữa thiện và ác Thái độ của chị là thẳng băng rõ ràng.Trong truyện ngắn của chị, cái ác không ít lần thắng thế, nhưng chỉ là thắng thế nhấtthời Cái thiện nhỏ nhoi nhiều khi bị lép vế, bị bóp nghẹt nhưng cái thiện luôn làmầm sống bất diệt” [13] Điều này thể hiện trong cách xây dựng nhân vật của nhàvăn Hầu như những nhân vật trong các truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh đều đượcxây dựng theo sự phân tuyến đối lập giữa tốt và xấu Nhưng trong các sáng tác củanhà văn, ta thấy những nhân vật chính đều là những con người giàu lòng nhân ái, vịtha, đức hy sinh và một sức sống mãnh liệt giàu nghị lực Những nhân vật tốt, thiệnđều trải qua một quá trình đầy thử thách, khó khăn nhưng qua đó thì phẩm chất tốtđẹp của họ lại càng toả sáng Trong cách xây dựng nhân vật của Hà Thị Cẩm Anhcũng thể hiện rõ có một sự ảnh hưởng của thi pháp xây dựng nhân vật của các cây bútvăn xuôi DTTS giai đoạn trước đổi mới Khi xây dựng nhân vậy của mình nhà văn đãchú ý khắc hoạ miêu tả nội tâm nhân vật vừa chân thực vừa sinh động Đồng thờikhắc hoạ nhiều nét tính cách nổi bật và phẩm chất tốt đẹp của nhân vật Điều này chothấy sự trưởng thành và tính hiện đại trong ngòi bút của bà

Trong cách dựng truyện và xây dựng tình huống truyện nhà văn Hà Thị CẩmAnh cũng có những dấu ấn sáng tạo riêng Đó là những tình huống truyện hấp dẫn, ly

kỳ, lôi cuốn người đọc với nhiều cảm xúc cung bậc khi đi theo tiến trình, diễn biếncủa câu chuyện Qua tình huống truyện cũng góp phần khắc hoạ tính cách, phẩm chấtcủa nhân vật Không chỉ có dấu ấn sáng tạo trong cách dựng truyện và xây dựng tìnhhuống truyện mà còn có dấu ấn riêng trong nghệ thuật ngôn từ của nhà văn xứMường này chính là ngôn ngữ nghệ thuật mang dáng dấp các ngôn ngữ sử thi dângian Đó là việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh, phóng đại và câu văn trùng điệp,

Trang 33

sóng đôi trong nghệ thuật sử thi Cùng với đó là sự sử dụng khai thác hợp lý nhữngnét đặc trưng của ngôn ngữ dân tộc và cách tư duy, cách diễn đạt của dân tộc mìnhnên tác giả đã tạo nên sự duyên dáng hấp dẫn nhất định cho những trang văn Ngônngữ dân tộc Mường đã được bà phát huy với việc đặt đúng chỗ, đúng nơi và đúng lúc(ví dụ như việc sử dụng những câu thành ngữ, tục ngữ, những câu hát dân ca (xường)trong lời văn) Như tác giả Thanh Tùng đánh giá một nét phong cách nổi bật trongsáng tác của Hà Thị Cẩm Anh đó là: “một “bản lĩnh lãng mạn” riêng, tinh tế màvạm vỡ, thô tháp mà dịu mát, ngỗ ngược mà nhân tình ấm áp ?” [44].

Có thể thấy: Sự sáng tạo và hiệu quả trong nghệ thuật viết truyện ngắn của HàThị Cẩm Anh đã góp phần khẳng định vị trí của nhà văn trong nền văn học các dântộc thiểu số Việt Nam hiện đại

*Tiểu kết chương 1

Văn xuôi DTTS trải qua các giai đoạn phát triển đã có những bước tiến đáng

kể và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Đó là sự gia tăng nhanh chóng về độingũ tác giả, về số lượng và chất lượng tác phẩm; chủ đề, đề tài được mở rộng và ngàycàng phong phú hơn; nghệ thuật ngày càng được nâng cao nên đã đủ điều kiện để hoàmình vào dòng chảy của văn xuôi hiện đại cả nước Trong đội ngũ các nhà văn thuộcnhiều dân tộc ở nhiều vùng miền khác nhau có những đóng góp đáng khẳng định cónhà văn Hà Thị Cẩm Anh - một nhà văn nữ dân tộc thiểu số tiêu biểu xuất sắc thời kỳĐổi mới người đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với nền văn học dân tộc thiểu sốnói chung, với văn xuôi dân tộc thiểu số nói riêng, nhất là ở phương diện: khắc hoạ,xây dựng nhân vật người phụ nữ Mường với những nét đẹp mang đậm bản sắcMường cũng như thân phận, những bi kịch cuộc sống mà người phụ nữ Mường đãphải hứng chịu và đối diện trong cuộc sống thời kỳ hiện đại Với những tác phẩmđược viết bằng cả trái tim của mình và đầy nhân hậu, với lối viết vừa truyền thốngvừa hiện đại (rất chân thực nhưng cũng đầy sắc sảo) về những người phụ nữ Mường

Hà Thị Cẩm Anh rất xứng đáng, là một nhà văn của những người phụ nữ DTTS thời

kỳ hiện đại hôm nay

Trang 34

Chương 2

NGƯỜI PHỤ NỮ MƯỜNG - NHÂN VẬT TRUNG TÂM

TRONG SÁNG TÁC CỦA HÀ THỊ CẨM ANH

2.1 Nhân vật trung tâm trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh

2.1.1 Khái niệm “nhân vật”

Nhà văn Tô Hoài đã cho rằng "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy,giải quyết hết thảy trong một sáng tác” Đúng là như vậy, vì nhân vật không chỉ lànơi thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm mà còn tập trung các giá trị nghệ thuật củatác phẩm Một tác phẩm được xem là thành công hay không chính là nhờ vào quátrình xây dựng nhân vật Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trongtác phẩm bằng phương tiện văn học Những con người này có thể được miêu tả kỹhay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyênhay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối vớitác phẩm Có những nhân vật có tên như Thạch Sanh,Thuý Kiều, Từ Hải, Chí Phèo

Có những nhân vật không tên (như “gã bán tơ”, “chú tiểu đồng” ), có những nhânvật có khi chỉ hiện ra qua đại từ nhân xưng (như “tôi”, “chàng”, “thiếp”, “mình”,

“ta”) Trong một số trường hợp thì nhân vật lại không phải là con người mà lànhững con vật (ví dụ như: Con cóc, con cáo, con sói, con sư tử thậm chí là ma, làquỷ, là thần tiên); những sự vật, đồ vật trở thành nhân vật “người hoá” mang tâm hồntính cách như con người Như vậy nhà văn tạo ra nhân vật để nhận thức con người,nhận thức xã hội và để thể hiện tư tưởng, thái độ của mình đối với con người và xãhội

2.1.2 Nhân vật trung tâm – người phụ nữ Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm

AnhĐọc truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh người ta như được bước vào mộtkhông gian đặc biệt, đó là cái không gian Ba Mường (Mường Vang, MườngChiềng, Mường Dồ) ở thung lũng Si Dồ mảnh đất quê hương của nhà văn Trong

đó hình ảnh người phụ nữ Mường được hiện lên với tất cả những vẻ đẹp đặc trưngcủa người phụ nữ DTTS Và phần lớn họ là nhân vật chính, nhân vật trung tâm củatác phẩm Đó là nơi tác giả thể hiện thành công nghệ thuật xây dựng nhân vật,cũng là nơi tác giả gửi gắm những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của mình về con

Trang 35

Trong 10 tập truyện ngắn và truyện vừa của Hà Thị Cẩm Anh thì có đến 7 tậptruyện bà viết về người phụ nữ Trong các tập truyện đó thì có tới 90% số truyện nhânvật chính, nhân vật trung tâm trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh là những ngườiphụ nữ Mường Đó là hình tượng người phụ nữ Mường với vẻ đẹp truyền thống mangđậm bản sắc văn hoá Mường, là những người phụ nữ với những hoàn cảnh thân phậnkhác nhau trong cuộc sống thời kỳ hiện đại Đọc truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anhngười đọc sẽ ấn tượng sâu sắc về hình ảnh người phụ nữ Mường - nhân vật trung tâm,nhân vật chính trong các tác phẩm viết về miền núi xứ Thanh của bà Nhà văn đã xâydựng một không gian riêng cho các nhân vật của mình (không gian văn hoá, khônggian tự nhiên) Đó là tiếng Xường ru ngọt ngào, thiết tha của mẹ, của bà; là ngôi nhàsàn lúc nào cũng ấm nồng bếp lửa; là thiên nhiên trong trẻo, rực rỡ, tươi đẹp, lãngmạn, hoang dã và dữ dội của núi rừng, sông, suối, cỏ cây với muôn loài vật hiền lành

và hung dữ ở trong thung lũng Si Dồ - xứ xở của người Mường đã có từ xa xưa vớinhững huyền thoại, những câu chuyện cổ, những tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếngchày khua luống rộn rã trong những ngày hội, ngày lễ trong năm Nơi ấy có nhữngngười phụ nữ với váy áo rực rỡ của ngày hội, của những đôi trai gái yêu nhau; nơi

ấy có những phong tục tập quán vừa tốt đẹp, vừa lạc hậu nặng nề tất cả được thểhiện rõ nét qua việc miêu tả các nhân vật chính - người phụ nữ Mường trong tácphẩm của bà Nhưng có thể thấy đây đó trong thế giới nhân vật của nhà văn vẫn cómột vài nhân vật đàn ông chiếm chỗ, “định” trở thành nhân vật chính, nhân vậttrung tâm của truyện (Chuyện xưa, Đêm tháng tám, Giải vía, Bình Minh xanh .)nhưng chẳng mấy chốc, lại có một nhân vật phụ nữ xuất hiện và can thiệp vào rồitrở thành nhân vật chính, nhân vật trung tâm trong câu chuyện Vậy là cuối cùng,các nhân vật người phụ nữ Mường, tưởng là vai phụ, bỗng nhiên có mặt ở giữatrung tâm của câu chuyện, để khi tác phẩm khép lại, người đọc nhớ họ hơn là nhớnhân vật đàn ông vốn ban đầu là nhân vật chính kia Có thể khẳng định rằng, sốlượng truyện ngắn mà nhân vật người phụ nữ Mường là nhân vật chính chiếm đại đa

số trong sáng tác của nhà văn Ví dụ như trong các truyện ngắn: Suối lạnh (hìnhtượng mế), Chuyện xưa (Vạ Cát), Đêm tháng tám (Mẹ), Chỗ ngoặt của con đường(Hảo), Mưa bụi (Niên), Bản xường ru từ núi ( Cầm), Cha mẹ và tôi và (Bà lời),

Trang 36

Mẹ tôi (Nàng Sam), Gốc gội gạo xù xì (Tôi, chị Sun), Trăng Rằm, Một nửa củangười đàn bà (hai chị em), Cuộc đời bị đánh cắp (Bà Cúc, Xuyến cô con dâu), Giảivía (Chị), Của hồi môn (Mẹ), Ngược chiều mở cửa (Hai mẹ con), Vợ liệt sỹ (BàXanh), Bình minh xanh (Cô giáo Hân), Bà Ngoại (Bà lão) Hàng loạt truyện ngắnvới nhân vật nữ ở các lứa tuổi, có các hoàn cảnh số phận khác nhau đã được nhà vănxây dựng thành hình tượng trung tâm trong tác phẩm của mình (Chúng tôi xin đưa

ra bảng thông kê các nhân vật nữ là nhân vật chính, trung tâm trong truyện ngắn HàThị Cẩm Anh ở phần Phụ lục)

2.2 Những nhân vật phụ nữ với vẻ đẹp truyền thống mang đậm bản sắc vănhoá Mường

2.2.1 Vẻ đẹp về ngoại hình

Phụ nữ luôn là biểu tượng cho cái Đẹp, phải chăng vì thế người nghệ sĩ nóichung, các nhà thơ, nhà văn nói riêng là những người đắm say và thường có cảmhứng mãnh liệt trước cái Đẹp đó Nhà văn Hà Thị Cẩm Anh của chúng ta cũng vậy, bà

đã viết về những người phụ nữ Mường với cả một niềm say sưa, cả một tấm lòng yêuthương tha thiết, tự hào và trân trọng Hình tượng người phụ nữ Mường hiện lêntrong những trang văn của bà thật đẹp đẽ, hấp dẫn, sinh động và đáng yêu, đáng trântrọng

Truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh đã để lại trong lòng người đọc những ấntượng sâu sắc về vẻ đẹp của người phụ nữ DTTS – vẻ đẹp ngoại hình và vẻ đẹpnội tâm Nhân vật người phụ nữ Mường trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anhhầu hết đều là những người có vẻ đẹp ngoại hình Người phụ nữ được miêu tả với

vẻ đẹp tự nhiên, khỏe khoắn, phồn thực Vẻ đẹp ngoại hình đó hiện ra trong lờimiêu tả trực tiếp của nhà văn, có lúc lại được thể hiện thông qua cái nhìn gián tiếp

từ nhân vật khác Dù trực tiếp hay gián tiếp, người phụ nữ trong các truyện ngắncủa bà đều được miêu tả có vẻ đẹp ngoại hình một cách rõ nét, sinh động Đó là vẻđẹp tự nhiên đầy sức sống, mạnh mẽ, tươi tốt, rực rỡ, đầy tính phồn thực củanhững cô gái xứ Mường

Ta bắt gặp vẻ đẹp của Niên trong truyện ngắn Mưa bụi qua cái nhìn của anhthanh niên Đán: “ Người thiếu nữ Mường Dồ nhỏ nhắn, xinh đẹp, có mùi thơm da

Trang 37

thịt nồng nàn, thân thể mượt mà và trắng tinh Đôi vú đầy đặn, với hai núm vú đỏhồng

Trang 38

ngập trong cánh hoa mầu nắng sáng Chỗ eo bụng thon nhỏ với những đường congthánh thiện của người thiếu nữ” [7, tr.195] Vẻ đẹp khoẻ mạnh, đầy hấp dẫn bởi sựthánh thiện đó đã khiến cho“Đán yêu Niên, yêu Mường Dồ, yêu bãi sông nơi có Niêncủa anh biết mấy! Hình bóng người con gái vùng sơn cước này sẽ theo anh vàonhững trận đánh, sẽ tiếp sức cho anh và khiến cho anh phải một đời đau đáu nhớthương”[7, tr.196] Người đọc cũng sẽ hình dung rõ nét về vẻ đẹp của Niên khi nhàvăn tập trung miêu tả những chi tiết về khuôn mặt và đặc biệt là đôi mắt – “cửa sổtâm hồn” của người thiếu nữ ấy: “Khuôn mặt trái xoan trắng hồng Nhất là đôi mắt!Đôi mắt của cô nàng như hút mất hồn chàng trai trẻ Đôi mắt đen sáng ngời ngợicủa người thiếu nữ Mường Dồ cụp xuống, hai má đỏ lửng” [7, tr.198] Cũng giốngnhư nhà văn Cao Duy sơn miêu tả đôi mắt của Dình (trong Hoa bay cuối trời) Nó đãphản ánh được tất cả tình cảm, tâm hồn của người con gái ấy sau bao nhiêu năm gặplại người mình yêu Đôi mắt ấy nói lên tất cả những điều mà Dình muốn nói trongthời khắc thật đặc biệt: “Khơ nhìn vào mắt nàng Ở đó nườm nượp những người đang

đổ về lễ hội pháo hoa Pác Gà Rừng đào nở hoa thắm đỏ, co suối xuân trong vắt vàgiá buốt, chiếc vòng đỏ đeo vào cổ tay trắng tròn của nàng Ngày xưa, ngày xưa nhưhiện về trong đôi mắt nàng cười” [36, tr.30] Khắc hoạ nhân vật qua những chi tiếtđặc biệt về ngoại hình là một thủ pháp quen thuộc được nhà văn Hà Thị Cẩm Anhcũng như nhiều tác giả DTTS đã sử dụng để làm nổi bật lên tính cách của nhân vậttrong tác phẩm của mình

Khi miêu tả vẻ đẹp của những người con gái Mường nhà văn Hà Thị CẩmAnh thường ví họ với hình ảnh của loài hoa Có lẽ vì nhà văn nhìn bông hoa nàocủa núi rừng cũng mang một vẻ đẹp của chính người phụ nữ Mường mà bà yêu quý

Vì vậy người đọc dễ hình dung về một vẻ đẹp hoang sơ, khoẻ khoắn không kémphần rực rỡ như vẻ đẹp của nàng Sam (Mẹ tôi) ở Mường Đủ sang làm dâu ở Mường

Ca Da: "Nàng đẹp như bông hoa Xảnh Canh trên núi cao Nàng đẹp như Nàng Ngatrong truyện thơ cổ của người Mường" Nàng đẹp đến nỗi: "Xuống hón tắm thì cá cờquên lội, nàng đi ra bãi thì chim Chẻo Pheo thôi hát Nàng vào rừng lên núi thìvượn thôi kêu Con trai Mường Ca Da nhìn thấy nàng thì tiếc ngẩn, tiếc ngơ Congái Mường Ca Da nhìn thấy nàng thì buồn day, buồn dứt" [7,tr.331] Hay đó là vẻ

Trang 39

đẹp của nhân vật Chị trong Quả còn, Chị là một cô gái đẹp,vẻ đẹp của chị được sosánh với những bông hoa, một vẻ đẹp thanh khiết, trong lành như buổi sớm mai ởvùng sơn cước: “Chị xinh đẹp như một bông hoa rừng.Tự nhiên, hoang dã và óng ảnhư ánh mặt trời buổi sớm Môi chị đỏ thắm Da trắng Đôi mắt sáng long lanh.Răng trắng như ngà, tóc dài chấm đất ” [7,tr.273] Bên cạnh việc miêu tả người phụ

nữ Mường trong những nét đẹp tự nhiên nhà văn còn chú ý nhấn mạnh đến vẻ đẹptruyền thống của người con gái Mường, một vẻ đẹp đằm thắm, duyên dáng, mặn mà

mà thời gian cũng không thể làm mất đi - qua lời kể của bà mẹ chồng (Bài xường rucủa núi) : “Cái nhà cô này đẹp quá! Rõ là mắt phượng lưng ong môi cắn chỉ Ngườinhà gác mà thuần khiết, mềm mại óng ánh như mặt trời buổi sớm Đàn bà như thếnày đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con” [7,tr.240] Qua mấy chi tiết miêu tả về

vẻ đẹp của cô Cầm khiến ta nhớ đến câu ca của các cụ xưa “Những người thắt đáylưng ong/ Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con” Câu ca chỉ vẻ đẹp đảm đangcủa người phụ nữ Phải chăng đó cũng là vẻ đẹp của cô Cầm một người phụ nữMường xinh đẹp, khoẻ mạnh, giàu nghị lực, chăm chỉ, chịu thương, chịu khó, hysinh tất cả để nuôi con nên người và gây dựng cho mình một cuộc sống tốt đẹp dùngười chồng đã phụ bạc cô Còn cô Xuyến (Cuộc đời bị đánh cắp) lại có một vẻ đẹpthanh thoát, đáng yêu, dáng người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, mái tóc dài, thẳng tắp,luôn óng mượt “Tóc dài, da trắng, môi cắn chỉ và đặc biệt hai hàm răng trắng ngàngọc và đều tăm tắp” Hay nhân vật Sun có vẻ đẹp thanh tú, tươi tắn, hồng hào vớimái tóc dài chấm sàn khi đã qua cái thì con gái: “Nhưng nét mặt nhẹ nhõm, thanh tú.Sống mũi thẳng Cái miệng tươi Đôi môi đỏ thắm của chị không theo năm tháng mànhạt nhoà đi Da chị vẫn trắng Nhất là mỗi khi chải đầu, tóc chị xoã xuống dài tớichấm sàn nhà” [7,tr.372] Khi miêu tả vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ Mườngnhà văn rất hay dùng các câu văn miêu tả trực tiếp và thủ pháp so sánh ví von vẻ đẹpcủa họ với những bông hoa của núi rừng vừa rực rỡ, vừa ngát hương Vẻ đẹp ấyđược biểu hiện một cách đa dạng, sinh động trong từng truyện ngắn của Hà Thị CẩmAnh Mỗi người được miêu tả với một nét đẹp riêng, tạo nên ấn tượng riêng khiếncho người đọc khó quên được

Trang 40

Khắc hoạ vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ Mường nhà văn không chỉ miêu

tả qua khuôn mặt, đôi mắt, làn da, mái tóc mà còn là vẻ đẹp của người phụ nữ đầybản năng yêu, bản năng sống, khả năng tồn tại trong bất cứ môi trường hoàn cảnhnào Nhân vật Mế trong truyện ngắn Suối lạnh chị mang vẻ đẹp tính cách của mộtngười phụ nữ chân chất, mộc mạc, vừa thể hiện bản năng sống dồi dào mãnh liệt, vừamang vẻ đẹp ngoại hình vừa có tính cách tự chủ, năng động trước cảnh ngộ của cuộcđời mà chị phải đối mặt, phải gánh chịu

Nhưng bên cạnh những nhân vật người phụ nữ Mường có ngoại hình đẹp nhàvăn cũng đi vào miêu tả ngoại hình của người đàn bà gian xảo, thủ đoạn và ghê gớm

ví dụ như trong Của hồi môn với hình ảnh : “Đôi vú chảy xệ Da bụng bầy nhầy Mặt

bự phấn son nhưng cặp giò và đôi tay thì vẫn còn rất đẹp” [7, tr.183] Qua những chitiết đó đã thể hiện rõ bộ mặt và bản chất của người phụ nữ chuyên sống bằng nghềkinh doanh thân xác người khác, thậm chí là của chính mình để kiếm những đồng tiềnbẩn thỉu mà trở nên giàu có Ta thấy rùng mình trước dáng vẻ của người đàn bà đãtừng lang chạ với bao gã đàn ông nhưng vẫn muốn lấy một nhà thơ tử tế làm chồng

để che mắt, để “oai”, làm sang với thiên hạ Cũng như bao nhà văn dân tộc thiểu sốkhác, Hà Thị Cẩm Anh cũng có quan niệm về mối tương quan thống nhất giữa ngoạihình và tính cách con người Từ dáng vẻ bề ngoài thì tính cách tốt - xấu, thiện - ác,ngay thẳng - gian xảo, thật thà - dối trá sẽ được lộ diện Tuy nhiên, bên cạnh nhữngnhân vật có ngoại hình và tính cách thống nhất (như các nhân vật: nàng Sam, cô Cầm,Niên, Sun thì trong sáng tác của nhà văn vẫn có những kiểu nhân vật được miêu tảkhông có vẻ đẹp ngoại hình nhưng lại có tấm lòng thơm thảo, có tâm hồn vị tha, nhân

ái Đó là cô gái có khuôn mặt dị thường trong Gốc gội xù xì Cô xuất hiện với khuônmặt dị dạng, xấu xí: “Không có môi trên, mũi chỉ là hai cái lỗ rộng hoác, đen ngòmđược đục thủng cho thành một lỗ thở giữa một khối thịt dày mà người ta vẫn quen gọi

là mặt” [7, tr.376] Ta đã thấy trong các câu truyện cổ tích xưa những nhân vật xấu

xí đều là nhân vật đội lốt và cuối cùng đều được hoá thân để trở thành những chàngtrai tuấn tú, những cô gái xinh đẹp thì nhân vật người con gái xấu xí trong sáng táccủa Hà Thị Cẩm Anh không hề có yếu tố “kì ảo” để biến đổi ngoại hình như thế.Nhân vật cô gái có vẻ ngoài xấu xí đó lại có những phẩm chất tốt đẹp (hay nói khác

Ngày đăng: 10/01/2019, 13:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Thị Cẩm Anh (2002), Người con gái Mường Biện, Nxb Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người con gái Mường Biện
Tác giả: Hà Thị Cẩm Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2002
2. Hà Thị Cẩm Anh (2004), Bài xường ru từ núi, Nxb Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài xường ru từ núi
Tác giả: Hà Thị Cẩm Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2004
3. Hà Thị Cẩm Anh (2005), Nước mắt của đá, Nxb Văn hoá dân tộc . 4. Hà Thị Cẩm Anh (2008), Mưa bụi, Nxb Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước mắt của đá
Tác giả: Hà Thị Cẩm Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2005
5. Hà Thị Cẩm Anh (2013), Một nửa của người đàn bà, Nxb Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nửa của người đàn bà
Tác giả: Hà Thị Cẩm Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2013
6. Hà Thị Cẩm Anh (2017), Bình Minh Xanh, Nxb Quân đội nhân nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình Minh Xanh
Tác giả: Hà Thị Cẩm Anh
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2017
7. Hà Thị Cẩm Anh - Trần Thị Vân Trung (2016), Tuyển tập văn xuôi Hà Thị Cẩm Anh, Nxb Đại Học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn xuôi Hà Thị Cẩm Anh
Tác giả: Hà Thị Cẩm Anh, Trần Thị Vân Trung
Nhà XB: Nxb Đại Học Thái Nguyên
Năm: 2016
8. Hà Thị Cẩm Anh (2013), “Niềm tin”, Báo Văn nghệ trẻ, số 13, 31 / 3 / 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niềm tin
Tác giả: Hà Thị Cẩm Anh
Nhà XB: Báo Văn nghệ trẻ
Năm: 2013
9. Vi Anh (2018), “Mùa xuân trong văn xuôi dân tộc thiểu số”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội thứ 5 ngày 5/4/ 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa xuân trong văn xuôi dân tộc thiểu số
Tác giả: Vi Anh
Nhà XB: Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Năm: 2018
10. Nông Quốc Chấn (1964), “Mấy vấn đề về văn học các dân tộc thiểu số”, Tạp chí Văn học, Số 10, tr. 36 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về văn học các dân tộc thiểu số
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Năm: 1964
11. Nông Quốc Chấn, (1998), Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1998
12. Nguyễn Thị Bích Dậu (2014), Bản sắc văn hoá Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Dậu
Nhà XB: Đại học Thái Nguyên
Năm: 2014
13. Đỗ Đức (2016), “ Đọc truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh”, in trong cuốn Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số, Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số
Tác giả: Đỗ Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2016
14. Hà Minh Đức (chủ biên) (2001), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
16. Nguyễn Thị Thu Hiền, (2006), “Văn học hiện đại dân tộc Mường: những khuôn mặt”, Vănchươngviet.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại dân tộc Mường: những khuôn mặt
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Nhà XB: Vanchuongviet.org
Năm: 2006
17. Cao Thu Hoài, (2015), Nửa thể kỷ phát triển văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam (khoảng từ 1960 đến nay), luận án tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thể kỷ phát triển văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam (khoảng từ 1960 đến nay)
Tác giả: Cao Thu Hoài
Nhà XB: Đại học Thái Nguyên
Năm: 2015
19. Hội văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, (2007), Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số thời kỳ đổi mới, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số thời kỳ đổi mới
Tác giả: Hội văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2007
20. Hội văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, (2007), Từ Đại hội đến Đại hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Đại hội đến Đại hội
Tác giả: Hội văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
Năm: 2007
21. Phong Lê (1985), Bốn mươi năm văn hóa nghệ thuật các DTTS Việt Nam 1945 - 1985, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn mươi năm văn hóa nghệ thuật các DTTS Việt Nam 1945 - 1985
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1985
23. Thy Lan (2016), “Hồn Mường trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh”, in trong cuốn Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số, Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số
Tác giả: Thy Lan
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2016
24. Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w