1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tổ chức pha chế, đánh giá chất lượng thuốc tiêm truyền trong điều kiện dã ngoại

173 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 6,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với thực trạng triển khai pha chế tại các đơn vị, đã cho thấy yêu cầucấp thiết hiện nay của NQYVN cần phải nghiên cứu xây dựng để có đượcdanh mục trang bị pha chế, biên soạn tài liệu h

Trang 1

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN MINH TUẤN

NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC PHA CHẾ,

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THUỐC TIÊM TRUYỀN

TRONG ĐIỀU KIỆN DÃ NGOẠI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2019

Trang 2

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN MINH TUẤN

NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC PHA CHẾ, ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THUỐC TIÊM TRUYỀN

TRONG ĐIỀU KIỆN DÃ NGOẠI

Chuyên ngành: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC Mã số: 9720212

LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi và các thầy hướng dẫn Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưađược ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 03 tháng 01năm 2019 NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Minh Tuấn

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận án này, trước hết tôi xin trân trọng cám ơn Đảng ủy,Ban Giám đốc, Phòng Sau đại học, Viện Đào tạo Dược - Học viện Quân y đãtạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu đề tài luận án

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trần ThếTăng và PGS TS Nguyễn Minh Chính, các thầy đã trực tiếp hướng dẫn vàdành nhiều công sức giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án này

Tôi xin chân thành gửi lời cám ơn tới Thủ trưởng Cục Quân y, PhòngDược, Phòng Trang bị y tế, Trung tâm Y học dự phòng Quân đội, Viện Kiểmnghiệm - Nghiên cứu dược và trang bị y tế Quân đội đã nhiệt tình giúp đỡ vàhướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án

Tôi cũng xin chân thành cám ơn Sư đoàn 316 - Quân khu 2, Trung tâmhuấn luyện Y học quân sự, Khoa Tổ chức Chỉ huy Tham mưu Quân y - Họcviện Quân y đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân và bạn bè,đồng đội đã hết lòng giúp đỡ, động viên tôi để tôi hoàn thành luận án này

Hà Nội, ngày 03 tháng 01năm 2019

NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Minh Tuấn

Trang 5

1.1 NHU CẦU VÀ KHẢ NĂNG PHA CHẾ THUỐC TIÊM

TRUYỀN Ở TRẠM QUÂN Y SƯ ĐOÀN TRONG CHIẾN

1.1.1 Sốc do vết thương, dự kiến thương bệnh binh và nhu

cầu thuốc tiêm truyền ở tuyến quân y trung đoàn, sưđoàn trong chiến tranh ……… 31.1.2 Khả năng triển khai pha chế thuốc tiêm truyền trong

1.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHA CHẾ VÀ TRANG BỊ,

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN, NGUỒN NƯỚC PHỤC VỤ PHA

1.2.1 Hoạt động pha chế thuốc tiêm truyền tại các đơn vị

CHẾ THUỐC TIÊM TRUYỀN TRONG ĐIỀU KIỆN DÃ

1.3.1 Tiêu chuẩn chất lượng thuốc tiêm truyền glucose, natri

Trang 6

1.3.2 Các phương pháp sản xuất thuốc tiêm truyền………… 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU……… 35

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu……… 35

2.1.2 Chất liệu nghiên cứu……… 36

2.1.3 Thiết bị nghiên cứu……… 37

2.1.4 Địa điểm nghiên cứu……… 37

2.1.5 Thời gian nghiên cứu……… 38

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 38

2.2.1.Thiết kế nghiên cứu……… 38

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 39

2.2.3 Nội dung nghiên cứu……… 40

2.3 XỬ LÝ SỐ LIỆU……… 49

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50

3.1 KẾT QUẢ HOÀN THIỆN CƠ SỐ, BIÊN SOẠN TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN PHA CHẾ THUỐC TIÊM TRUYỀN TẠI TRẠM QUÂN Y SƯ ĐOÀN TRONG ĐIỀU KIỆN DÃ NGOẠI……… 50

3.1.1 Cơ số thuốc pha chế thuốc tiêm truyền tại trạm quân y sư đoàn……… 50

3.1.2 Cải tiến và đánh giá hiệu quả của thiết bị lọc RO cải tiến 52 3.1.3 Xiết nút nhôm cầm tay……… 58

v 3.1.4 Tài liệu Hướng dẫn pha chế thuốc tiêm truyền tại trạm quân y trong điều kiện dã ngoại……… 60 3.2 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI, CHẤT LƯỢNG

NƯỚC CẤT, THUỐC TIÊM TRUYỀN GLUCOSE 5% VÀ NATRI CLORID 0,9% TẠI TRẠM QUÂN Y SƯ ĐOÀN

Trang 7

3.2.2 Chất lượng nước cất pha tiêm, thuốc tiêm truyền……… 79

Chương 4 BÀN LUẬN……… 116

4.1 HOÀN THIỆN CƠ SỐ, BIÊN SOẠN TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN PHA CHẾ THUỐC TIÊM TRUYỀN TẠI TRẠM QUÂN Y SƯ ĐOÀN……… 79

4.1.1 Danh mục trang bị pha chế thuốc tiêm truyền tại trạm quân y sư đoàn……… 79

4.1.2 Đóng gói trang bị pha chế thuốc tiêm truyền tại trạm quân y sư đoàn……… 83

4.1.3 Về tài liệu hướng dẫn pha chế thuốc tiêm truyền tại trạm quân y sư đoàn trong điều kiện dã ngoại………… 85

4.1.4 Về nghiên cứu cải tiến, chế tạo trang bị pha chế……… 92

4.2 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI, CHẤT LƯỢNG NƯỚC CẤT, THUỐC TIÊM TRUYỀN GLUCOSE 5% VÀ NATRI CLORID 0,9% TẠI TRẠM QUÂN Y SƯ ĐOÀN BẰNG TRANG BỊ, TÀI LIỆU ĐÃ NGHIÊN CỨU………… 99

4.2.1 Khả năng triển khai pha chế……… 99

4.2.2 Chất lượng nước cất, thuốc tiêm truyền pha chế tại trạm quân y sư đoàn trong điều kiện dã ngoại……… 101

KẾT LUẬN……… 111

KIẾN NGHỊ……… 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO………

PHỤ LỤC………

vi DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Phần viết tắt Phần viết đầy đủ

Trang 8

4 CCCB Cứu chữa cơ bản

15 f BB Sư đoàn bộ binh

21 NQYVN Ngành Quân y Việt Nam

22 PCDN Pha chế dã ngoại

27 RO Reverse Osmosis (Thẩm thấu ngược)

28 SD Standar deviation (Độ lêch chuẩn)

30 SSCĐ Sẵn sàng chiến đấu

32 TBBB Thương binh, bệnh binh

33 TLHD Tài liệu hướng dẫn

35 TTT Thuốc tiêm truyền

36 Tr.QYf Trạm quân y sư đoàn bộ binh

Trang 9

39 X Giá trị trung bình

viiiDANH MỤC BẢNG

1.1 Tỷ lệ sốc, mất máu trong tổng số thương binh ở tuyến

quân y trung đoàn, sư đoàn trong các cuộc chiến tranh

trước đây 31.2 Dự kiến tỷ lệ, số lượng thương binh theo mức độ tổn

thương trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc 41.3 Dự kiến nhu cầu thuốc tiêm truyền natri clorid 0,9%,

glucose 5% cho thương binh ở tuyến trung đoàn, sư đoàn

trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc 51.4 Khối lượng thuốc tiêm truyền natri clorid 0,9%, glucose

5% đóng gói sẵn trong cơ số Y, K 61.5 Kết quả thăm dò ý kiến về hoạt động pha chế thuốc tiêm

truyền tại các đơn vị 121.8 Khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm có trong nước của

Trang 10

2.1 Các nguồn nước được sử dụng trong nghiên cứu (tiếp) 362.2 Các nội dung xin ý kiến đóng góp vào tài liệu hướng dẫn

pha chế 412.3 Đánh giá các chỉ tiêu trong nước cất 47

ix

2.3 Đánh giá các chỉ tiêu trong nước cất (tiếp) 473.1 Nội dung Cơ số pha chế F-2106 503.2 Danh mục Cơ số pha chế F-2106 đóng gói theo kiện 523.3 Kích thước, khối lượng thiết bị lọc RO cải tiến 523.4 Lựa chọn lõi lọc cho thiết bị lọc RO cải tiến 533.5 So sánh công suất lọc của thiết bị Kangaroo và RO cải

tiến 533.6 Hiệu suất lọc của thiết bị lọc RO cải tiến với các nguồn

nước lọc nhiều lần 543.9 So sánh sự thay đổi giới hạn amoni, nitrit trong nước

trước và sau khi qua thiết bị lọc RO cải tiến 553.10 So sánh sự thay đổi giới hạn sắt, độ cứng trong nước trước

và sau khi qua thiết bị lọc RO cải tiến 553.11 So sánh sự thay đổi giới hạn clorid, hợp chất hữu cơ trong

nước trước và sau khi qua thiết bị lọc RO cải

3.13 Sự thay đổi màu, mùi vị, độ đục, pH theo khối lượng nước

lọc được qua thiết bị lọc RO cải tiến 563.14 Sự thay đổi giới hạn amoni, nitrit, sắt theo khối lượng

nước lọc được qua thiết bị lọc RO cải

3.15 So sánh sự thay đổi các chỉ tiêu độ cứng, clorid, hợp chất

hữu cơ theo khối lượng nước lọc được qua thiết bị lọc RO

3.16 Đánh giá độ kín của chai sau khi xiết nút nhôm 59

Trang 11

3.20 Kết quả ý kiến đánh giá tài liệu Hướng dẫn pha chế thuốc

tiêm truyền tại trạm quân y sư đoàn trong điều kiện dã ngoại 623.21 Các nhóm công việc khi triển khai pha chế thuốc tiêm

truyền trong điều kiện dã ngoại 633.22 Thứ tự công việc, người thực hiện, người giám sát triển

khai pha chế thuốc tiêm truyền tại trạm quân y sư đoàn 643.23 Tổng hợp số lần pha chế 653.24 Thời gian triển khai pha chế dưới hầm khi chưa có tài liệu

hướng dẫn 653.25 Thời gian triển khai pha chế trong lều bạt khi chưa có tài

liệu hướng dẫn 663.26 Thời gian triển khai pha chế dưới hầm khi có tài liệu hướng

dẫn 663.27 Thời gian triển khai pha chế trong lều bạt khi có tài liệu

hướng dẫn 663.28 So sánh thời gian 1 lần pha chế khi chưa có và có tài liệu

hướng dẫn 673.29 So sánh thời gian triển khai 5 nhóm công việc trong triển

khai pha chế dưới hầm và trong lều bạt……… 683.30 So sánh thời gian triển khai 5 nhóm công việc trong triển

khai pha chế khi chưa có và có tài liệu hướng dẫn 693.31 Kết quả đánh giá chất lượng nước cất xử lý bằng phèn

Trang 12

3.34 Chất lượng nước cất sau khi lọc qua thiết bị RO cải tiến có

3.35 Kết quả kiểm tra tính chất, độ trong của dung dịch glucose

5% 733.36 Kết quả kiểm tra pH, nồng độ của dung dịch glucose 5% 743.37 Kết quả xác định giới hạn 5-HMF trong dung dịch glucose

5% 753.38 Kết quả xác định nội độc tố vi khuẩn trong dung dịch

glucose 5% 763.39 Kết quả kiểm tra tính chất, độ trong của dung dịch natri

clorid 0,9% 763.40 Kết quả đánh giá pH, nồng độ của dung dịch natri clorid

Trang 13

sự hỗ trợ của công nghệ cao như hiện nay, các phương tiện kỹ thuật càng hiệnđại càng dễ bị đối phương phát hiện và tiêu diệt, các cơ sở hậu cần kỹ thuậtluôn là mục tiêu đánh phá, hệ thống giao thông bị chia cắt, các khu vực tácchiến bị cô lập Các phân đội quân y, trong đó có trạm quân y sư đoàn sẽ gặprất nhiều khó khăn để đảm bảo đủ thuốc đủ thuốc phục vụ cứu chữa thươngbinh, do đó giải pháp hiệu quả nhất là tổ chức pha chế tại chỗ bằng trang bịphù hợp với điều kiện tác chiến của quân đội nhân dân Việt Nam [1], [2].

Thấy được tầm quan trọng của hoạt động này trong CCBVTQ, ngày15/6/1994 Chính phủ có Quyết định số 315/QĐ - TTg giao nhiệm vụ chongành Y tế tổ chức 53 tổ pha chế lưu động trong cả nước, nhằm đáp ứng đủthuốc cho việc cứu chữa người bị thương trong các khu vực có chiến sự [3];năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 129/2014/NĐ - CP ngày21/12/2014 về việc Giao chỉ tiêu huy động ngành Y tế khi có chiến tranh vàtình trạng khẩn cấp, quy định cho các tỉnh, thành phố trong cả nước phải huyđộng 81 tổ pha chế dịch truyền [4] Điều lệ Quân y quân đội nhân dân ViệtNam và các văn bản chỉ đạo nghiệp vụ hiện hành của Cục Quân y cũng luônkhẳng định pha chế thuốc là hoạt động chuyên môn bắt buộc tại các tuyếnquân y, trong đó trạm quân y sư đoàn phải triển khai pha chế được thuốc tiêm

Trang 14

truyền đáp ứng nhu cầu cứu chữa cho thương binh trong chiến đấu [5], [6],[7]

Tuy nhiên, hiện tại việc triển khai pha chế tại trạm quân y sư đoàn hiệnnay không thể thực hiện được vì trang bị pha chế ở tuyến sư đoàn hiện tại đãlạc hậu, nhiều trang bị không còn phù hợp nhưng chưa được nâng cấp, bổsung kịp thời Lý do thứ hai là cần có một tài liệu có thể áp dụng triển khaipha chế ở tuyến sư đoàn trong điều kiện dã ngoại, nhưng hiện tại chưa đượcbiên soạn Cuối cùng là vấn đề ô nhiễm môi trường, trong đó có sự ô nhiễmcác nguồn nước tự nhiên đang ở mức báo động, rất khó có được nước sạchphục vụ pha chế

Với thực trạng về trang bị, tài liệu hướng dẫn pha chế và ô nhiễmnguồn nước như vậy, các sư đoàn không thể triển khai pha chế nếu không cócác biện pháp khắc phục Do đó, nghiên cứu hoàn thiện danh mục, biên soạntài liệu hướng dẫn, đánh giá khả năng triển khai và chất lượng thuốc tiêmtruyền pha chế trong điều kiện dã ngoại là một yêu cầu cấp thiết đối với côngtác tiếp tế quân y trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu tổ chức pha

chế, đánh giá chất lượng thuốc tiêm truyền trong điều kiện dã ngoại có các mục tiêu:

1- Hoàn thiện cơ số, biên soạn tài liệu hướng dẫn pha chế thuốc tiêm truyền tại trạm quân y sư đoàn trong điều kiện dã ngoại.

2- Đánh giá khả năng triển khai, chất lượng nước cất, thuốc tiêm truyền glucose 5% và natri clorid 0,9% tại trạm quân y sư đoàn bằng trang bị, tài liệu đã nghiên cứu.

Trang 15

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 NHU CẦU VÀ KHẢ NĂNG PHA CHẾ THUỐC TIÊM TRUYỀN Ở TRẠM QUÂN Y SƯ ĐOÀN TRONG CHIẾN TRANH 1.1.1 Sốc do vết thương, dự kiến thương binh và nhu cầu thuốc tiêm truyền ở tuyến quân y trung, sư đoàn trong chiến tranh

1.1.1.1 Sốc do vết thương chiến tranh

Sốc do vết thương chiến tranh là một nguyên nhân chính gây tử vongcho thương binh (TB), đặc biệt là ở tuyến trung đoàn (e), sư đoàn (f)

Tỷ lệ sốc, mất máu của TB trong các cuộc chiến tranh ở Việt Nam đượcthống kê ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Tỷ lệ sốc, mất máu trong tổng số thương binh ở tuyến quân y

trung đoàn, sư đoàn trong các cuộc chiến tranh trước đây

Cuộc chiến tranh

Toàn bộ TB

Sốc, mất máu/TB

Toàn bộ TB

Sốc, mất máu/TB

Biên giới Tây Nam 13,9 8,2 - 24,0 16,6 7,6 - 32,0

* Nguồn: theo Lê Thế Trung (1989) [8]

Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy: Nếu tỷ lệ TB bị sốc mức độ 2 và mức độ 3càng lớn, thì nhu cầu thuốc tiêm truyền (TTT) càng nhiều, nhưng số lượngTTT trong các cơ số có hạn nên luôn bị thiếu so với nhu cầu, cần có giải phápđảm bảo, trong đó triển khai pha chế tại chỗ là phương án chủ động, kịp thời,hiệu quả nhất [9]

Trang 16

1.1.1.2 Dự kiến thương binh và nhu cầu thuốc tiêm truyền ở tuyến quân y trung đoàn, sư đoàn trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

Với quân số trung bình một trung đoàn bộ binh (eBB) là 2750 người,một sư đoàn bộ binh (fBB) là 9000 người Nếu một đợt chiến đấu kéo dài 10 -

15 ngày, tỷ lệ TB được dự kiến như ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Dự kiến tỷ lệ, số lượng thương binh theo mức độ tổn thương

trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở tuyến trung, sư đoàn

Phòng ngự

Cả đợt

Tiến công

Phòng ngự

Cả đợt

Ghi chú: eBB: Trung đoàn bộ binh; eBB: Sư đoàn bộ binh.

*Nguồn: theo Nguyễn Văn Hưng (2008) [10]

Số liệu ở bảng 1.2 cho thấy: tỷ lệ TB ở tuyến e từ 4,5 - 7,5%/ngày/quânsố tham gia chiến đấu, một đợt chiến đấu khoảng 25% quân số bị thương; còn

ở tuyến f tỷ lệ TB từ 2 - 4,5%/ngày/quân số tham gia chiến đấu, một đợtchiến đấu khoảng 15% quân số bị thương Dự kiến sau một đợt chiến đấu,toàn tuyến e,f có trên 950 TB do vũ khí thông thường sát thương ở cả 3 mức

độ nặng, vừa và nhẹ

Bên cạnh dự kiến tỷ lệ TB, còn phải tính đến nhu cầu thuốc cho quânnhân tại các đơn vị do điều kiện chiến tranh sinh hoạt khó khăn, nguy cơ dịchbệnh như sốt rét, tê phù, bệnh ngoài da, các bệnh do virus rất có khả năng xuất

Trang 17

hiện lúc này nhu cầu thuốc cho các quân nhân bị mắc các dịch bệnh có thểcòn lớn hơn nhu cầu cho TB, cần phải có các phương án đảm bảo để có đủthuốc để điều trị cho những quân nhân bị bệnh, trong đó có TTT [11], [12],[13], [14].

Theo số liệu trong các cuộc kháng chiến trước đây của ngành Quân yViệt Nam (NQYVN): cứ 2000 TB chuyển từ tuyến trước về Tr.QYe, Tr.QYfcần phải có 250 - 500 L TTT dùng trong chống sốc, phẫu thuật, cấp cứu, điềutrị cứu chữa bước đầu và cứu chữa cơ bản cho khoảng 12,5% trong tổng số TB,với lượng sử dụng là 1,5 L/TB cho cứu chữa bước đầu, 2,0 L/TB cho cứu chữa

cơ bản tính theo TTT glucose 5% và TTT natri clorid 0,9% [15] (bảng 1.3)

Bảng 1.3 Dự kiến nhu cầu thuốc tiêm truyền natri clorid

0,9%, glucose 5%

cho thương binh ở tuyến trung, sư đoàn trong chiến

tranh bảo vệ Tổ quốc

Phương thức

tác chiến

SL TB

12,5% TB

sử dụng TTT (L)

SL TB

Trang 18

Số liệu ở bảng 1.3 cho thấy: Nhu cầu TTT dự kiến cho một đợt chiếnđấu ở tuyến e là 63 L, tuyến f là 148 L

Với khả năng đảm bảo thuốc, vật tư y tế để cứu chữa của 1 cơ số Y là

25 TB, 1 cơ số K là 50 TB, thì số lượng cơ số được cấp phát và khối lượngTTT natri clorid 0,9% và glucose 5% có sẵn trong cơ số được trình bày ởbảng 1.4

Bảng 1.4 Khối lượng thuốc tiêm truyền natri clorid 0,9%, glucose 5% đóng gói sẵn trong cơ số Y, K

SL

cơ số

TTT (L)

Trong

1 cơ số (L)

SL

cơ số

Cộng (L)

Trang 19

* Nguồn: theo Nguyễn Minh Chính và cs (2014) [15]

Bảng 1.4 cho thấy: Nếu được tiếp tế 13 cơ số Y, số lượng TTT glucose5% và natri clorid 0,9% có trong cơ số là 45,5 L; với 19 cơ số K thì số lượngTTT có trong cơ số là 133 L, số lượng TTT có sẵn là 178,5 L Trong khi nhucầu phải có là 211 L, do đó lượng TTT còn thiếu là: 211 - 178,5 = 32,5 L

Số lượng TTT còn thiếu (32,5 L) phải được triển khai pha chế tạiTr.QYf để chủ động đáp ứng đủ nhu cầu cứu chữa cho TB [15] Chính vì vậy,ngoài khối lượng TTT glucose 5% và natri clorid 0,9% có sẵn, CQY đã đónggói 1000g natri clorid nguyên liệu pha tiêm trong mỗi cơ số K [15] Điều đócho thấy, việc triển khai pha chế TTT tại Tr.QYf đã nằm trong phương án bảođảm của NQYVN, vừa góp phần chủ động đáp ứng nhu cầu thuốc, vừa giảm

bớt khối lượng vật tư quân y phải đóng gói, vận chuyển trong điều kiện chiếnđấu cơ động, nhất là điều kiện địa hình rừng núi, chứ không chỉ là nhiệm vụđột xuất trong giai đoạn hiện nay

1.1.2 Khả năng triển khai pha chế thuốc tiêm truyền trong chiến tranh

1.1.2.1 Quân đội nước ngoài

Trong chiến tranh Thế giới lần thứ II (1941 -1945), Hồng quân Liên - Xô(cũ) đã tổ chức được một màng lưới pha chế thuốc rộng khắp, đảm bảo chocông tác cứu chữa thương binh tại các mặt trận [16]

Để chủ động đảm bảo TTT cho TB tại các chiến trường trong thời giannhanh nhất có thể, quân đội nước ngoài vẫn luôn quan tâm đến nghiên cứu phachế TTT với các nội dung: Cải tiến công nghệ, tổ chức pha chế, đánh giá cácyếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước, TTT trong ĐKDN [17] Quân đội Ngađang có cơ số trang bị pha chế TTT tại các đại đội quân y lữ đoàn, sư đoàn[18], [19] Một số công ty của Mỹ đang nghiên cứu chế tạo các thiết bị pha chế

Trang 20

TTT trang bị cho cá nhân binh sĩ hoặc các bộ phận tác chiến trên chiến trường

ở xa căn cứ, có thể chủ động đảm bảo nhu cầu TTT cho TB theo hướng ápdụng công nghệ cao như điều chế nước cất bằng hệ thống lọc RO, sau đó nướccất được lọc qua màng lọc vô khuẩn để loại trừ vi khuẩn rồi đóng gói trực tiếpvào các chai Polyethylen terephthalat (PET) chứa sẵn nguyên liệu hoặc dungdịch mẹ, không cần tiệt khuẩn Nhưng đây cũng mới là các sản phẩm chế thử,chưa được quân đội Mỹ chính thức áp dụng [20], [21], [22]

1.1.2.2 Ngành Quân y Việt Nam

* Trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954)

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi lượng TB tại các trận chiến đấutăng cao nên thiếu thuốc, các phân đội quân y đã triển khai và pha chế hàngnghìn L TTT, góp phần đảm bảo đủ nhu cầu thuốc cứu chữa cho TB ngay tạimặt trận [2], [23]

* Trong kháng chiến chống Mỹ (1965 - 1975)

Đầu những năm 1960 của cuộc kháng chiến chống Mỹ, công tác chiviện vật chất, trong đó có thuốc từ miền Bắc cho miền Nam bị đối phương tìmmọi cách ngăn chặn, việc mua sắm tại chỗ không thuận lợi, dẫn đến thiếu hụtthuốc Nhằm chủ động đáp ứng nhu cầu thuốc cho thương bệnh binh, mặc dùtrong điều kiện khó khăn thiếu thốn về nhân lực và trang bị, nhưng các phânđội quân y từ cấp trung đoàn trở lên trên khắp chiến trường miền Nam đã tíchcực, chủ động triển khai bào chế thuốc với trang bị, nhân lực tại chỗ, trong đóTTT là sản phẩm chủ lực [24], [25], [26]

Tại chiến trường Nam Bộ, có sư đoàn trong 1 năm đã pha chế được1029,3 L thuốc gồm dung dịch natri clorid, glucose, Novocain, vitamin B1, C,B12 Có chiến dịch, sư đoàn đã pha chế hơn 2000 L thuốc các loại [27]

Tại chiến trường Tây Nguyên, từ năm 1961-1975 đã pha chế khoảng100.000 L TTT (chiếm trên 33% nhu cầu) Khối lượng TTT pha chế tại chỗ

Trang 21

(301.633 L) gấp khoảng 6 lần lượng chi viện từ miền Bắc (53.326 L) và gấpgần 265 lần mua ngoài thị trường (1.141 L) [28]

Trên đường mòn Hồ Chí Minh, từ năm 1965 - 1975, Quân y các đơn vịthuộc Bộ tư lệnh 559 đã tổ chức pha chế tại chỗ được khoảng 2.156 L TTTbao gồm natri clorid 0,9%, glucose 5%, nước cất, novocain để cứu chữa cho

TB tại các trạm quân y dọc đường Trường Sơn [29]

Những con số về khả năng triển khai và số lượng TTT pha chế tại chỗ ởcác chiến trường trong kháng chiến chống Mỹ rất có ý nghĩa về mặt thực tiễnđối với công tác tiếp tế quân y, khẳng định vai trò không thể thiếu được củahoạt động này trong chiến tranh, cần được duy trì trong điều kiện hiện nay[1], [23]

Ở miền Bắc, công tác pha chế cũng phát triển rộng khắp tại các bệnhviện trong ngành Y tế Đa số các bệnh viện tuyến huyện tự pha chế được TTTglucose và natri clorid để điều trị cho người bệnh [30]

Sau ngày đất nước thống nhất, NQYVN vẫn thường xuyên quan tâm,chỉ đạo công tác tiếp tế quân y, trong đó có công tác pha chế thuốc thông quacác hội thao kỹ thuật, các đợt tập huấn nhằm duy trì hoạt động chuyên môn ởcác đơn vị và đảm bảo sẵn sàng chiến đấu [31]

* Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1979-1989) và hiện nay

Trong thời kỳ đầu của cuộc CCBVTQ được dự báo là sẽ diễn ra khẩntrương, ác liệt nên sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp nhưng lại rất khẩn trươngtrên một địa bàn rộng, do đó ngoài việc được đảm bảo từ cấp trên thì tạo nguồnvật chất tại chỗ là một yêu cầu bắt buộc đối với các đơn vị, nhất là các đơn vịtuyến trung, sư đoàn [32], [33] Đối với ban dượcTr.QYf, ngoài nhiệm vụ tiếpnhận, bảo quản, cung cấp thuốc, vật tư y tế, còn có nhiệm vụ pha chế TTT để

sử dụng tại trạm và các đơn vị trong sư đoàn [34]

Số liệu sơ kết đợt chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (từ 17/02/1979 18/03/1979) cho thấy: Tuy có một số đơn vị vẫn triển khai pha chế được, nhưng

Trang 22

-đa số các đơn vị không thể triển khai pha chế do nhiều nguyên nhân do trang bịchưa đầy đủ, chưa đồng bộ, xuống cấp; nhân viên chưa quen với PCDN, chưatích cực tổ chức huấn luyện trong thời bình, nên khi chiến tranh xảy ra khôngtriển khai được, phần nào đã ảnh hưởng đến hiệu quả cứu chữa cho TB [35]

Xác định vai trò của công tác pha chế TTT trong ĐKDN là một hoạtđộng không thể thiếu trong công tác tiếp tế quân y thời chiến, từ nhiều nămnay, các chương trình huấn luyện đào tạo về y, dược học quân sự luôn có nộidung này để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu cho các đối tượng họcviên bác sĩ quân y, dược sĩ quân y, sĩ quan dự bị y dược và lực lượng y tế dự

bị động viên [36], [37]

Trong tổ chức huấn luyện, diễn tập lực lượng y tế dự bị động viên,ngoài việc huy động trong các cơ sở y tế, một số trang thiết bị được hỗ trợ từcác cơ sở Quân y Do đó, ngoài nhiệm vụ huấn luyện cho các phân đội quân y,NQYVN còn cần phải có trang bị để hỗ trợ các cơ sở y tế triển khai [38], [39],[40], [41]

Trong tài liệu “Mấy vấn đề cơ bản của công tác đảm bảo quân y trongchiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc” do CQY xuất bản năm 1982 và tài liệu

“Tổ chức và chiến thuật quân y năm 1989” về công tác đảm bảo thuốc vàtrang bị quân y đã nhấn mạnh việc phải tổ chức sản xuất thuốc tại chỗ, tăngcường cải tiến trang bị, bào chế thuốc phù hợp với yêu cầu huấn luyện vàchiến đấu của quân đội với từng loại cơ số cho từng bộ phận hoạt động theochức năng như cơ số pha chế, hóa nghiệm, phẫu thuật… [42], [43]

Ngày 11/11/1997, CQY ban hành Công văn số 721/QY-5 “Qui định vềpha chế thuốc tại c,d quân y, bệnh xá BCHQS tỉnh, bệnh xá tại các đơn vịtương đương e,f, lữ đoàn” đã nêu rõ: Các tiểu đoàn quân y của các sư đoàn đủquân, trên cơ sở trang bị pha chế hiện có, được pha chế một số thuốc (natriclorid, glucose, novocain) để ôn luyện thao tác pha chế nhằm chuẩn bị tốt chothời chiến theo kế hoạch huấn luyện chung của ban quân y được chủ nhiệm

Trang 23

quân y cấp trên phê duyệt Số sản phẩm này cần được kiểm nghiệm về chínhiệt tố, nồng độ để đánh giá chất lượng pha chế hoặc để rút kinh nghiệm vềthao tác kỹ thuật, không dùng cho người Việc pha chế phải tuân thủ theo quiđịnh hiện hành của Bộ Y tế (BYT) và CQY, phải thực hiện kiểm tra, kiểm soát

để đảm bảo chất lượng thuốc và phải được ghi chép vào sổ pha chế của đơn vị[44]

Gần đây nhất, Công văn số 193/CQY - PD ngày 04/02/2013 của CQYđã hướng dẫn cụ thể về Pha chế dịch tiêm truyền trong đơn vị quân đội:

- Các bệnh viện quân y tiếp tục duy trì bộ phận pha chế TTT, củng cố

cơ sở vật chất hiện có, có thể triển khai khi có tình huống xảy ra

- Đối với các sư đoàn bộ binh đủ quân và tương đương hàng năm ít nhất 1lần, các đơn vị phải tổ chức huấn luyện pha chế dã ngoại TTT natri clorid 0,9%

- Viện Kiểm nghiệm, Nghiên cứu Dược và Trang thiết bị y tế Quân độichịu trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn các sư đoàn bộ binh đủ quân và tươngđương huấn luyện pha chế TTT tại các đơn vị, kiểm tra chất lượng các mẫuthành phẩm; đề xuất phương thức đảm bảo trang thiết bị, vật tư pha chế phục

vụ nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu [45]

Để thống nhất về danh mục trang bị, quy trình triển khai pha chế vàđánh giá chất lượng TTT trong ĐKDN, năm 2008 và 2014, CQY đã 2 lần tổchức tập huấn PCDN cho các sư đoàn đủ quân, các bệnh viện quân khu, quânđoàn đến bệnh viện tuyến cuối trong toàn quân [46], [47], [48], tiếp tục

“Nghiên cứu, đóng gói trang bị pha chế dã ngoại tuyến trung - sư đoàn” [49]

Có thể thấy, những kết quả về hoạt động pha chế TTT tại các tuyếnquân y trong các cuộc chiến tranh trước đây đã góp phần rất quan trọng vàoviệc đảm bảo thuốc tại chỗ, nhất là trong điều kiện các con đường tiếp tế (từhậu phương ra tiền tuyến, mua sắm tại chỗ ) đều không thể thực hiện được.Những chỉ đạo của Chính phủ, của BYT, của NQYVN về công tác pha chếTTT trong CCBVTQ hiện nay vẫn khẳng định, đây là hoạt động không thể

Trang 24

thiếu đối với các phân đội quân y e, f, các cơ sở y tế dự bị động viên, nhằmđảm bảo cứu chữa cho TB và những người bị thương trong khu vực có chiến

sự bằng các sản phẩm thuốc được pha chế tại chỗ, trong đó quan trọng nhất làTTT glucose 5% và natri clorid 0,9% Do đó cần phải nghiên cứu giải quyếtmột cách tổng thể, đồng bộ để có được cơ số trang bị pha chế TTT, phục vụcác sư đoàn chủ động triển khai hoạt động này trong huấn luyện và SSCĐ

1.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHA CHẾ VÀ TRANG BỊ, TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN, NGUỒN NƯỚC PHỤC VỤ PHA CHẾ THUỐC TIÊM TRUYỀN TẠI TRẠM QUÂN Y SƯ ĐOÀN

1.2.1 Hoạt động pha chế thuốc tiêm truyền tại các đơn vị hiện nay

Bảng 1.5 Kết quả thăm dò ý kiến về hoạt động pha chế thuốc tiêm truyền tại các đơn vị

2 Kiểm tra tiểu đoàn quân y đủ quân (2008) 1

Trang 25

Cộng 4 Không triển khai pha chế

3 Chưa biết được trang bị, cách thức triển khai pha chế 5

*Nguồn: theo Cục Quân y (2014) [48]

Kết quả ở bảng 1.5 cho thấy: Với 48 ý kiến trả lời, chỉ có 4 ý kiến(8,3%) cho biết đơn vị có tiến hành pha chế TTT; 36 ý kiến (75%) trả lời làkhông triển khai pha chế vì các lý do: trang bị thiếu hoặc chưa đồng bộ, chưa

có tài liệu hướng dẫn, không nắm được trang bị và cách thức triển khai phachế, không có chỉ lệnh của thủ trưởng có thẩm quyền; 8 ý kiến (16,7%) ngườiđược hỏi không trả lời mà không cho biết lý do

Với thực trạng triển khai pha chế tại các đơn vị, đã cho thấy yêu cầucấp thiết hiện nay của NQYVN cần phải nghiên cứu xây dựng để có đượcdanh mục trang bị pha chế, biên soạn tài liệu hướng dẫn triển khai pha chế vàđánh giá chất lượng TTT trong ĐKDN, nhằm đáp ứng được yêu cầu huấnluyện và SSCĐ trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai

1.2.2 Danh mục trang bị pha chế

1.2.2.1 Sơ lược về trang bị bào chế thuốc của quân đội nước ngoài

Trong những năm chống Mỹ cứu nước, Việt Nam có nhận được một sốtrang bị pha chế thuốc của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây viện trợ nhưtrang bị pha chế của Hungary đóng trong một hòm nhỏ gồm các bình thủytinh 5 L, máy hút bụi đẩy, phễu lọc bằng thủy tinh xốp (G4).Trang bị pha chếvòng kín của CHDC Đức (cũ) có bình pha chế bằng thuỷ tinh (50-60 L), máy

Trang 26

khuấy điện, máy nén khí, máy đóng dịch, phễu thuỷ tinh xốp G3, G4 [3],[50].

Quân đội Trung Quốc đã trang bị cho NQYVN cơ số bào chế thuốcgồm 27 khoản, trong đó có nồi cất nước 5 L/h, máy hút đạp chân, vải lọc,bình lọc Chamberland, chai, nút đựng TTT nhưng để tiến hành pha chế TTTthì cơ số này chưa đáp ứng được Hiện tại CQY vẫn còn dự trữ những cơ sốnày [51], [52]

Các kết quả khảo sát về trang bị bào chế thuốc của quân đội nước ngoàikhông còn phù hợp với yêu cầu của CCBVTQ ở Việt Nam

1.2.2.2 Trang bị pha chế ở tuyến quân y sư đoàn của Việt Nam

Sau ngày hòa bình lập lại ở Miền Bắc (1954), nhằm đáp ứng yêu cầuxây dựng quân đội chính quy, ngày 17/10/1962, CQY ban hành văn bản số1122/P5 về “Dự thảo qui định trang bị quân y thời chiến trong chiến đấu

thông thường” bao gồm thuốc, hóa chất, bông băng, trang bị y tế cho các

tuyến quân y c, d, e, f; trong đó cơ số BC6 trang bị cho tuyến e, cơ số BC7trang bị cho tuyến f trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ để tiếnhành pha chế thuốc [53]

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, để đáp ứng yêucầu của công tác tiếp tế quân y cho CCBVTQ, năm 1982 CQY đã ban hành

“Danh mục trang bị dụng cụ labo - bào chế tiểu đoàn quân y sư đoàn bộ binh”gồm 22 khoản, trong đó có các dụng cụ pha chế như cân, nồi cất nước, nồihấp, phễu, chai pha thanh huyết, giấy lọc, cốc chân, ống đong đáp ứng phachế các thuốc thông thường hoặc thanh huyết rửa, khó có thể triển khai phachế TTT [54]

Nhằm đảm bảo khả năng triển khai hoạt động pha chế thuốc tại tuyến

sư đoàn, tháng 06/2000 CQY ban hành “Biểu trang bị dụng cụ quân y sưđoàn bộ binh” để pha chế một số thuốc uống, dùng ngoài, đông y, thuốc tiêmnovocain, dung dịch chống đông máu ACD, dịch truyền mặn ngọt đẳng

Trang 27

trương đáp ứng nhu cầu cứu chữa TB trong chiến đấu [55] Năm 2002, CQYban hành “Biểu trang bị dụng cụ pha chế tuyến e,f” có bổ sung thêm 3 khoảndụng cụ so với danh mục năm 2000 là: lều bạt, nilon triển khai buồng phachế và quần áo + mũ + mạng cho nhân viên pha chế [56]

Để có căn cứ xây dựng đề tài “Nghiên cứu cải tiến và chế tạo bộ phachế thuốc truyền tĩnh mạch dã ngoại trang bị cho tuyến quân y sư đoàn”(2003 - 2005), Nguyễn Hồng Quân và các thành viên của đề tài (2006) đãtiến hành khảo sát thực trạng trang bị pha chế tại một số sư đoàn đủ quân

Về danh mục, trang bị pha chế đang có tại các sư đoàn gồm 27 khoản,trong đó 23 khoản là danh mục xây dựng từ năm 2000 [55], trong 4 khoảncòn lại, có khoản được bổ sung thêm (nồi hấp điện 10 L/h), có khoản các đơn

vị phải tự đảm bảo (bàn pha chế, màn pha chế) và chiến lợi phẩm thu được từnăm 1975 (xô inox 10 L có nắp) Danh mục này còn thiếu nhiều trang bị cầnthiết để tiến hành pha chế và đánh giá chất lượng TTT như đèn soi kiểm tra độtrong, bộ kiểm nghiệm nước cất, màn pha chế Một số dụng cụ đã có nhưngkhông phù hợp như nồi hấp điện chỉ dùng được trong điều kiện có điện (côngsuất nồi hấp là 3,8 kw/h)

Về chất lượng, các trang bị đều đã xuống cấp do được sản xuất đã lâuvới vật liệu không có độ bền và không đạt theo quy định hiện nay (nồi cấtnước, xô men, hút đạp chân, khúc xạ kế cầm tay), một số trang bị đã hỏng(nylon, dây cao su) Nhiều nhất trong danh mục là dụng cụ thủy tinh (8 khoản),trong đó chai thủy tinh là cần nhất, nhưng hiện tại trên thị trường không cònloại chai có nắp nhựa xoáy mà thay vào đó là chai có nút nhôm bọc bên ngoàinút cao su Các dụng cụ như phễu thủy tinh, ống đong, đũa khuấy trộn rất dễ

vỡ, ít sử dụng, cần loại bỏ bớt Nồi cất than củi kích thước cồng kềnh (57 x65cm), nặng (24kg), tốn nhiên liệu (3,2kg củi/L nước cất), vật liệu chế tạokhông tốt (tôn) và không đạt theo quy định hiện hành của BYT, không đóng gói

Trang 28

thu gọn được Dụng cụ pha chế là xô men không có vòi, khi hòa tan phải mởnắp, vi khuẩn, bụi dễ xâm nhập vào dịch lọc, khó đảm bảo vô khuẩn [57]

Như vậy có thể thấy, trang bị pha chế hiện có tại các sư đoàn đã cũ,thiếu, không còn khả năng đáp ứng yêu cầu huấn luyện và SSCĐ, cần đượctrang bị lại

Trong công tác đảm bảo sẵn sàng chiến đấu, CQY vẫn đang dự trữ cơsố trang bị pha chế tuyến e,f với danh mục đã được xây dựng từ nhiều nămtrước Danh mục trang bị pha chế gồm 29 khoản, đóng gói trong 4 kiện vàcũng bao gồm các dụng cụ chuyên sâu về bào chế tương tự như danh mụchiện có tại các fBB

Qua thực tế sử dụng trang bị pha chế do CQY bảo đảm (bảng 1.7) phục

vụ diễn tập, danh mục này chưa đáp ứng được yêu cầu triển khai pha chếtrong ĐKDN vì một số tồn tại sau: trang bị có trong danh mục nhưng chưaphù hợp với yêu cầu của công việc như nồi cất nước công suất thiết kế quánhỏ (5L/h), khi sử dụng chỉ đạt hiệu suất 2,5-3 L/h, muốn pha chế 5 L TTT,phải điều chế được 7,5 L nước cất, cần thời gian ít nhất 3 giờ, trong điều kiệnchiến đấu khẩn trương, ác liệt đây là thời gian quá dài cho một lần pha chế[3] Khúc xạ kế dùng chung cho định lượng nồng độ glucose và natri clorid làkhông hợp lý, cần có dụng cụ riêng để định lượng glucose và natri clorid.Danh mục cũng có nhiều các dụng cụ thủy tinh dễ vỡ, tần xuất sử dụng thấp.Một số trang bị chuyên dụng không thể thiếu được như đèn soi kiểm tra độtrong, xiết nút nhôm, thiết bị xử lý nước (RO), bình pha chế thì vẫn chưa có…Danh mục cũng chưa được nghiên cứu đóng gói ở dạng tích hợp các tính năngcủa trang bị và chưa theo các vị trí triển khai pha chế (phòng pha chế, nơi cấtnước, nơi kiểm tra độ trong, đóng nút, nơi rửa tay trước khi vào buồng phachế) để giúp cho nhân viên pha chế dễ dàng tiếp cận các dụng cụ, hóa chất,nguyên liệu trong quá trình triển khai pha chế [58]

Trang 29

Với kết quả khảo sát danh mục tại các sư đoàn và danh mục hiện hànhcủa CQY là không có sự khác biệt Đó chính là lý do đa số các sư đoàn đềukhông thể triển khai pha chế, cần phải nghiên cứu xây dựng một danh mụctrang bị pha chế cho sư đoàn có tính khả thi trong điều kiện hiện nay.

Do đó cần phải nghiên cứu xây dựng một danh mục phù hợp với yêucầu pha chế TTT tại Tr.QYf Ngoài việc xây dựng danh mục tổng thể, đónggói hợp lý, cần nghiên cứu chế tạo cải tiến một số trang bị sẵn có, nhằm nângcao hiệu quả triển khai và đảm bảo chất lượng TTT

1.2.2.3 Nghiên cứu trang bị pha chế dã ngoại

Tại Hội thao Trạm Quân y e toàn quân năm 1985, đã có một số sángkiến cải tiến trang bị pha chế như buồng pha chế dã ngoại tuyến e triển khaitrong hầm đủ diện tích cho 1 nhân viên pha chế, thiết kế theo nguyên tắc 1chiều, bảo đảm vô khuẩn, tháo lắp, di chuyển dễ dàng; bàn gấp dã ngoại 2tầng có thể dùng làm việc, bàn pha chế, bàn điều trị, bàn ăn cơm; bàn pha chếdã ngoại hình chữ L, khi triển khai vừa làm bàn pha chế, vừa làm bàn cân…[59]

Dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài Tổ chức, biên chế, triển khai đạiđội và tiểu đoàn quân y trung, sư đoàn bộ binh trong CCBVTQ của Bộ môn

Tổ chức chiến thuật quân y [60], năm 1986, Khoa Dược - Tiếp tế quân yHVQY đã nghiên cứu xây dựng “Trang bị dụng cụ ban dược trạm quân y sưđoàn bộ binh” có 86 khoản, gồm 4 nhóm trang bị: Dụng cụ xây dựng và cảitạo địa hình (8 khoản), dụng cụ triển khai cơ sở (19 khoản), dụng cụ chuyênmôn (52 khoản) và sổ sách - nhãn thuốc (7 khoản) Danh mục này đã được sửdụng phục vụ huấn luyện dã ngoại và diễn tập YHQS trong một số năm vàhiện tại không còn được sử dụng, nhưng là cơ sở để tham khảo cho việc xâydựng danh mục mới [61]

Phan Công Thuần (1994) [3 ] đã có nghiên cứu về mặt lý thuyết để dùngđèn soi độ trong bằng nguồn sáng pin thay cho bóng đèn điện 40w đã cho thấy

Trang 30

khả năng phát hiện tiểu phân trong TTT của 2 nguồn sáng là tương đương, cóthể chế tạo để dùng trong ĐKDN.

Về nghiên cứu vật liệu lọc trong TTT, Nguyễn Mạnh Quang (1996)[62] đã nghiên cứu chế tạo màng lọc mềm dùng lọc TTT với ký hiệu là MT Màng MT đã sử dụng tại các bệnh viện quân y và trong diễn tập YHQS tạiHVQY Ngoài các kết quả do tác giả Nguyễn Mạnh Quang công bố, mànglọc MT đã được thử nghiệm tại Công ty B.Brauwn và đạt được yêu cầu vềkhả năng lọc trong [63] Trong ĐKDN, màng lọc MT phù hợp để sử dụng tạituyến sư đoàn khi pha chế TTT

Nguyễn Minh Tuấn (2002) [63] đã nghiên cứu cải tiến nồi cất nước, chếtạo đèn soi kiểm tra độ trong dùng nguồn sáng pin, chế tạo bình pha chế bán kín

để bổ sung vào danh mục trang bị pha chế phục vụ diễn tập YHQS tại HVQY,tập huấn PCDN toàn quân, triển khai đội điều trị dự bị động viên Qua huấnluyện, trang bị đã đáp ứng được yêu cầu về chiến thuật và kỹ thuật để triển khaipha chế TTT, tuy nhiên vẫn cần bổ sung để danh mục hoàn thiện hơn

Trong đề tài “Nghiên cứu cải tiến và chế tạo bộ pha chế thuốc truyềntĩnh mạch dã ngoại trang bị cho quân y tuyến sư đoàn” (2003-2005), NguyễnHồng Quân và cộng sự đã xây dựng được một danh mục trang bị pha chế TTTrút gọn, trong đó có những dụng cụ đã được thay thế như khúc xạ kế (KXK)dùng đo cả đường và muối đã được thay bằng KXK đo đường và KXK đomuối với độ chính xác và giới hạn phát hiện cao hơn Một số dụng cụ khác cóđược nghiên cứu như bình pha chế, nồi hấp, xiết nút chai, nồi cất nước nhưngchưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật và chiến thuật nên không được CQY

áp dụng [57]

Như vậy ngành Quân y Việt Nam chưa có một cơ số trang bị pha chếTTT đáp ứng yêu cầu huấn luyện và SSCĐ ở Tr.QYf Việc phải có một danhmục trang bị pha chế TTT cho Tr.QYf là một yêu cầu cấp thiết Dựa vàodanh mục trang bị pha chế của CQY, thực trạng trang bị pha chế đang có tại

Trang 31

các đơn vị, dựa vào các kết quả nghiên cứu đã thu được, phải xây dựng đượcmột cơ số trang bị đáp ứng yêu cầu triển khai pha chế và đánh giá chất lượngTTT với những dụng cụ bào chế chuyên sâu như nồi cất nước, đèn soi kiểmtra độ trong, màng lọc MT, KXK cầm tay, bàn pha chế, bình pha chế bán kín,dụng cụ xiết nút chai cầm tay, thiết bị lọc nước RO, dụng cụ và hóa chấtkiểm nghiệm nước cất và chất lượng TTT Nghiên cứu đóng gói trang bị phachế theo hướng cơ số hóa tại các vị trí chuyên môn trong quy trình triển khaipha chế TTT (nơi cất nước và hấp tiệt trùng, kiểm tra chất lượng, đóng nútchai, rửa tay và kiểm tra chất lượng nước cất, phòng pha chế).

1.2.3 Tài liệu hướng dẫn pha chế thuốc tiêm truyền trong điều kiện dã ngoại

Hiện nay, có một số tài liệu của nước ngoài nói về việc pha chế và sửdụng TTT trong ĐKDN, nhưng chỉ là tài liệu tóm tắt mang tính chất giới thiệuvề: Tổ chức và kỹ thuật pha chế TTT trong ĐKDN; Các biện pháp đảm bảochất lượng TTT pha chế trong ĐKDN; Sử dụng TTT pha chế trong ĐKDN[18]

Các tài liệu trên đều khẳng định rằng: những vấn đề về triển khai và ápdụng những công nghệ hiện đại vào pha chế TTT trong ĐKDN là không thể,mà phụ thuộc vào những kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm và những vấn đềthực tiễn khi triển khai bao gồm bao bì chứa đựng, tiệt khuẩn, điều chế nướccất từ các nguồn nước tự nhiên đòi hỏi phải có sự vận dụng sáng tạo các kỹthuật để đảm bảo chất lượng TTT [19]

Đã có một số tài liệu được NQYVN và BYT biên soạn về hướng dẫnnghiệp vụ công tác dược và pha chế TTT Sau đây là một số tài liệu đã đượcbiên soạn:

* Tài liệu huấn luyện dược tá (Cục Quân y - 1975)

Nội dung PCDN trong tài liệu được biên soạn bao gồm: Nhiệm vụ của

bộ phận dược ở tuyến e,f phải đảm bảo pha chế tại chỗ; phương án triển khai

Trang 32

pha chế thuốc tiêm ở tuyến e, f: biên chế; cơ sở pha chế; trang bị dụng cụ; tiếnhành pha chế.Tuy phần PCDN đầy đủ các nội dung cơ bản liên quan đến phachế TTT, nhưng không có sơ đồ hướng dẫn qui trình pha chế và các kỹ thuật

cụ thể tại các công đoạn pha chế, các trang bị pha chế đều lạc hậu so với điềukiện hiện nay Các nội dung liên quan nằm ở nhiều phần khác nhau trong tàiliệu, khi cần tra cứu không thuận tiện [64]

* Sổ tay cán bộ quân dược (Cục Quân y - 1978)

Tài liệu do Lê Pha (1977) [65] biên soạn gồm 5 phần: các đơn vị đo

lường và phép đo lường; bảo quản; bào chế; bào chế thuốc nam; một số côngthức và kinh nghiệm công tác Trong phần kiến thức bào chế không có chuyênmục PCDN, mà chỉ có những nội dung liên quan đến pha chế như nguyên tắcxây dựng buồng vô trùng, xử lý nút chai thanh huyết, xử lý chai lọ để đựngthuốc tiêm và thanh huyết, điều chế nước cất, màng lọc bằng bông và vải, bếphoàng cầm, màn pha chế, hầm pha chế Đây là một tài liệu hướng dẫn cácnghiệp vụ công tác dược cho các tuyến quân y và cũng được biên soạn đã lâu,không còn phù hợp trong điều kiện hiện nay, nhất là nội dung PCDN

* Pha chế dung dịch tiêm truyền (1985)

Đây là tài liệu do BYT chủ trì, được hai tác giả Phan Bá Hùng vàPhương Đình Thu (1985) [66] biên soạn Tài liệu được trình bày rõ ràng, bàibản để hướng dẫn kỹ thuật pha chế TTT ở các bệnh viện Nội dung trong tài liệuphù hợp với thực tế trang bị các bệnh viện trong và ngoài quân đội trong nhữngnăm 80, nhưng về cơ bản tài liệu đã biên soạn đã hơn 30 năm, nên không cònđáp ứng được nếu áp dụng triển khai pha chế TTT trong điều kiện hiện nay

Trong báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu cải tiến và chế tạo bộ pha chếthuốc truyền tĩnh mạch dã ngoại trang bị cho quân y tuyến sư đoàn”, NguyễnHồng Quân (2006) [57] và nhóm nghiên cứu ngoài việc xây dựng danh mụctrang bị pha chế, cũng đã dự thảo một số quy trình như quy trình xử lý nước,

xử lý chai, nút, pha chế TTT glucose và TTT natri clorid 0,9% dã ngoại Nhưng

Trang 33

đây chỉ là các hướng dẫn đơn thuần để giải quyết các kỹ thuật đơn lẻ tại từngcông đoạn pha chế và chưa được biên soạn thành một tài liệu hoàn chỉnh, nênchưa phải là một liệu hướng dẫn pha chế TTT trong ĐKDN.

Như vậy cho tới thời điểm này, chưa có tài liệu nào đáp ứng được yêucầu là một tài liệu hướng dẫn chuyên ngành về triển khai pha chế và đánh giáchất lượng TTT trong ĐKDN Do đó việc biên soạn một tài liệu Hướng dẫnpha chế TTT tại Tr.QYf để phục vụ huấn luyện và SSCĐ tại các đơn vị là rấtcấp thiết

1.2.4 Nguồn nước và cải thiện chất lượng nước

1.2.4.1.Thực trạng chất lượng nguồn nước

Bên cạnh việc chuẩn bị đầy đủ về nhân lực, trang thiết bị, nguyên liệuhóa chất, thì việc xử lý và điều chế được nước cất đạt tiêu chuẩn pha tiêm làyếu tố quyết định Nước cất pha tiêm phải được xử lý và điều chế nước cất từnước sạch đạt tiêu chuẩn nước ăn uống theo quy định của BYT [67], [68]

Hiện nay ở Việt Nam, sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế - xãhội nhanh, đi cùng với nó là sự gia tăng các chất thải trong quá trình sản xuấtvà sinh hoạt đã gây ra nhiều sự biến đổi lớn thậm chí là thiệt hại cho môitrường tự nhiên, trong đó có ô nhiễm nguồn nước Các nguồn nước bị ônhiễm ngày càng chiếm tỷ lệ lớn và mức độ ô nhiễm ngày càng trầm trọng,lượng nước sạch dùng cho sinh hoạt của con người ngày càng bị giảm đi do

sự biến đổi các chất lý, hóa, sinh vật của nước thiên nhiên đến mức gây hại tớisức khỏe và bệnh tật đối với con người

Các chất gây ô nhiễm nước là những chất không được phép có trongnước hoặc được phép có với một giới hạn quy định của tiêu chuẩn nước sạchhoặc nước sinh hoạt, bao gồm độ đục, màu, mùi vị của nước; các hóa chất cóchứa amoni, nitrit, nitrat, clorid, fluorid; các kim loại nặng có độc tính caonhư arsen, chì, thủy ngân; các chất hữu cơ độc hại thuộc các nhóm chất hóahọc như nhóm alkan clo hóa (carbon tetraclorid), nhóm benzen clo hóa

Trang 34

(monoclorobenzen; 1,2 clorobenzen; 1,4 diclorobenzen; triclorobenzen), hóachất bảo vệ thực vật (thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, diệt nấm…)…vv; các visinh vật gây ô nhiễm nước như phẩy khuẩn tả, trực khuẩn lỵ, trực khuẩnthương hàn, virus viêm gan, coliform, feacal coliform [69].

Nước bị ô nhiễm từ các nguồn khác nhau như nước thải sinh hoạt, nướcthải từ các khu công nghiệp, các chất thải của bệnh viện, các váng dầu mỡphủ trên bề mặt nước, các chất thải như phân, rác, nước tiểu của con người;phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật…đã khiến cho nhiều con sông, suối, ao

hồ, mạch nướcc ngầm từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi tới đồng bằng

Trong những năm qua, NQYVN đã tiến hành đánh giá thực trạngnguồn nước tại một số đơn vị trong quân đội đóng quân trên các địa bàn khácnhau, từ đó thấy được thực trạng cũng như đề xuất các biện pháp cải thiệnchất lượng nguồn nước tại các đơn vị quân đội Năm 2001, Viện YHDP Quânđội đã nghiên cứu 22 mẫu nước nước sinh hoạt của 12 đơn vị thuộc quân khuThủ đô (nay là Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội), kết quả đã cho thấy: chỉ có 4/22mẫu đạt tiêu chuẩn chất lượng nước sinh hoạt theo quy định của BYT Cácmẫu còn lại không đạt về độ trong, màu sắc, mùi vị (màu vàng, vị tanh), hàmlượng sắt, nitrit, các chất hữu vượt quá mức qui định 12/22 mẫu nước cócoliform, F.coliform, vi khuẩn kỵ khí cao hơn tiêu chuẩn cho phép, chứng tỏnguồn nước bị ô nhiễm do chất thải sinh hoạt, rác thải từ con người [75]

Trang 35

Trong tài liệu “Địa lý y tế quân sự Thủ đô Hà Nội” (2009) có đánh giá: cácnguồn nước ở khu vực thành phố Hà Nội đều bị ô nhiễm, có thể phải khaithác cả nước sông Hồng để phục vụ sinh hoạt [76] Trong báo cáo kết quảkiểm tra 15 mẫu nước sinh hoạt tại một số đơn vị quân đội thuộc Quân khu 7,Quân khu 3, Quân khu 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 2, Quân đoàn 1 của ViệnYHDP (2009) cũng cho thấy: 6 mẫu nước khi kiểm tra đạt tiêu chuẩn nướcsạch đều là các mẫu nước máy, 9 mẫu không đạt đều là các mẫu nước giếngkhoan tại các bệnh xá sư đoàn, nơi chưa có nước máy [77], [78], [79], [80],[81], [82]

Ở phía Nam, nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuyên, Bùi Xuân Phách(2017) với các nguồn nước giếng khoan tại một số khu vực ở TP Hồ Chí Minhcũng cho thấy đang bị ô nhiễm nghiêm trọng [83]

Qua các số liệu về chất lượng nước hiện nay ở Việt Nam, có thể nhậnthấy hầu hết các nguồn nước đều đang ô nhiễm, nhất là các nguồn nước tựnhiên, do đó rất cần một giải pháp hữu hiệu để cải thiện chất lượng nước phục

vụ sinh hoạt và hoạt động chuyên môn

1.2.4.2 Các biện pháp đảm bảo chất lượng nước

a Bằng kỹ thuật thường qui

- Làm trong nước bằng phương pháp để lắng tự nhiên hoặc lọc qua than cát sỏi

Là phương pháp làm sạch nước theo cảm quan vì nó chỉ loại trừ được cáctạp chất cơ học mà mắt chúng ta nhìn thấy (bùn, rong rêu), còn các chất hòa tannhư NH3, Na2CO3, MgCO3, CaCO3 và một số kim loại nặng như thủy ngân,arsen…thì chưa loại trừ được Nếu trong nước có các tiểu phân nhỏ ở dạnghuyền phù thì khó có thể lắng hoàn toàn xuống phía dưới, luôn lơ lửng ở giữalớp nước, hạn chế hiệu suất làm trong nước Quá trình lắng tự nhiên xảy rachậm và thụ động, cần kết hợp với các yếu tố khác để cải thiện chất lượng nước[84]

Trang 36

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuyên, Bùi Xuân Bách (2017) [83] cũngcho thấy: với phương pháp lọc bằng than cát sỏi, nước chỉ giảm về độ đục vàhàm lượng sắt, còn các chỉ tiêu về màu sắc, pH, amoni, clorid, nitrit, nitrat,HCHC, độ cứng, coliform, E.co li hầu như ít thay đổi Do đó kể cả trongĐKDN thì kỹ thuật lọc này cũng không nên áp dụng nữa, vì không thể làmsạch nước như yêu cầu hiện nay để phục vụ pha chế thuốc

- Làm trong, sạch và mềm nước bằng phương pháp lắng cưỡng bức

Làm trong, sạch và mềm nước bằng phương pháp lắng cưỡng bức là việc

sử dụng các hoá chất như phèn chua, thuốc tím, natri carbonat,

Khi hòa phèn chua vào nước sẽ tạo ra Al(OH)3 ở dạng huyền phù vàlắng xuống cuốn theo các tạp chất cơ học, để lại lớp nước trong phía trên, gạnlấy phần nước trong để sử dụng Phèn chua còn có tác dụng giữ lại các muốiamoni không bay hơi khi nước sôi (phản ứng 1)

KAl(SO4)2 + NH4+  K2SO4 + Al(OH)3  + (NH4)2SO4 (1)Tuy nhiên nếu dùng nhiều phèn chua thì có thể tạo môi trường acid,ảnh hưởng chất lượng nước cất (phản ứng 2 và 3):

KAl(SO4)2 + Cl-  K2SO4 + Na2SO4+ AlCl3 (2)AlCl3 + 3H2O Al(OH)3 + 3HCl (3)

Để loại trừ các tạp chất hữu cơ có trong nước, người ta thường sử dụngthuốc tím (kali permanganat) hòa vào nước, thuốc tím giải phóng Oxy phân

tử vừa mới tạo ra có tác dụng phá hủy các tạp chất hữu cơ có trong nước (4):

KMnO4 + H2O  HOH + MnO2 + O (4)

Có thể sử dụng Natri carbonat (Na2CO3), một hóa chất không có tácdụng làm trong nước, nhưng có tác dụng làm mềm nước khi nguồn nước cứng

có các muối calci, magnesi hòa tan cần phải loại bỏ [84]

b Làm trong, sạch và mềm nước bằng hệ thống trao đổi ion

Trang 37

Hệ thống làm trong nước bằng trao đổi ion gồm có 2 cột, một cột cóchứa các hạt có khả năng giữ lại các cation (cationit), còn cột kia chứa các hạt

có khả năng giữ lại các anion (anionit) trong nước Nước được điều chế bằng

hệ thống trao đổi ion có độ tinh khiết khá cao Nhược điểm chính của hệthống trao đổi ion là nếu lâu không sử dụng, các hạt ionit bị lão hoá, mất khảnăng trao đổi, mặt khác sau một thời gian hoạt động các ionit bị giữ lại trên bềmặt các hạt nhựa làm mất khả năng trao đổi ion, phải tiến hành xúc rửa đểlàm sạch các hạt nhựa, tái tạo lại khả năng trao đổi ion Phương pháp trao đổiion làm sạch nước khó có thể áp dụng trong ĐKDN, do các yêu cầu phức tạp

về mặt kỹ thuật [63], [66]

Như vậy có thể thấy: Phương pháp làm trong, làm mềm nước nướcbằng biện pháp cơ học, bằng hoá chất không thể tạo ra nước sạch theo quyđịnh hiện hành của BYT và nếu có đáp ứng được về chất lượng nước thì cũngkhông phù hợp với quy mô sử dụng Cần áp dụng phương pháp làm sạchnước bằng cách áp dụng một công nghệ hiện đại khác có ưu điểm vượt trội sovới các phương pháp trên

c.Tạo nước sạch bằng thiết bị lọc thẩm thấu ngược (RO)

Thẩm thấu ngược là quá trình lọc dung dịch qua màng bán thấm dướimột áp suất cao hơn áp suất thẩm thấu [85]

Phần cốt lõi của thiết bị RO là màng RO làm từ vật liệu Celluloseacetat, Polyamid hoặc màng composite có lỗ nhỏ tới 0,005 µm (hình 1.1)

Trang 38

Hình 1.1 Các loại màng thẩm thấu ngược

Nguồn: Theo Trần Văn Nhân và Ngô Thị Nga (2006) [85]

a Lọc ép với tấm lọc song song

b Lọc ống: 1 Ống; 2 Giá đỡ; 3 Màng

c Lọc màng bán thấm xếp thành cuộn: 1 Lớp đỡ; 2 Màng; 3 Ống dẫnnước sạch ra; 4 Lưới phân cách; 5

d Màng ở dạng xơ trống rỗng: 1.Tấm đỡ; 2 Vòng đệm vải sợi; 3 Thânthiết bị; 4 Xơ trống rỗng

Trên thị trường Việt Nam, màng làm bằng vật liệu Cellulose acetat(hình 1.3.c) đang được sử dụng phổ biến

Thiết bị lọc RO hoạt động dựa trên nguyên lý của hiện tượng thẩm thấungược, nhờ áp lực nén của máy bơm cao áp, khi gặp màng lọc RO, các phân

tử nước và một số chất hòa tan có phân tử lượng thấp qua được màng, cònhầu hết các thành phần khác như hóa chất, ion kim loại, các loại vi khuẩn bịthải ra ngoài theo dòng nước thải

Màng lọc RO có khả năng loại được các chất bẩn và các tiểu phân cókích thước nhỏ hơn 0,001 micromet, các chất độc hại, mùi vị khó chịu củanước, các chất ô nhiễm có trong nước [86], [87]

Bảng 1.8 Khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm có trong nước của màng RO

Trang 39

Nguồn: Theo Nguyễn Minh Tuấn ( 2015) [88]

Bảng 1.9 Các sản phẩm màng lọc RO đang có trên thị trường Việt Nam

Nguồn: Theo Nguyễn Minh Tuấn ( 2015) [88]

Bảng 1.10 Chức năng của các lõi lọc trong hệ thống lọc nước RO

Số 1 Sợi PP khe hở Ngăn chặn bẩn, bùn đất, rỉ sét có kích

Trang 40

Sợi PP khe hở

 =1mcm

Lọc cặn, bùn đất, khử mầu, khử mùi, khửclo dư, rỉ sét kích thước ≥ 1 mcm

Số 4

(RO)

Màng mỏng ROkhe hở  = 0,1 nm

Loại bỏ hoàn toàn chất rắn, khí hòa tan,kim loại nặng, vi sinh vật, vi khuẩn, chấthữu cơ

Số 5 Công nghệ NANO Loại bỏ hết mùi clor, chất độc, vi sinh vật

Số 6 Bóng gốm Tách các phân tử nước, tăng hoà tan oxy,

ngăn ngừa khô cơ thể, giảm lão hoá

Số 7 Vật liệu kiềm tính Tạo kiềm tính, trung hoà acid dư thừa

trong tế bào, giảm trừ các bệnh ngoài da

Nguồn: Theo Nguyễn Minh Tuấn ( 2015) [88]

+ Bình chứa nước là dụng cụ chứa nước sau khi lọc, trong ĐKDN bìnhnày không cần thiết, có thể dùng các dụng cụ hứng nước chảy trực tiếp vàocan, thùng, chậu đều được

- Về công suất lọc và tiêu thụ năng lượng:

+ Công suất lọc: tùy theo nhu cầu sử dụng, có thể lựa chọn các thiết bị

RO với công suất lọc khác nhau Dưới đây là một số thiết bị lọc nước ROcông suất 20L/h đang có trên thị trường, những thiết bị này phù hợp vớinghiên cứu cải tiến để có thể áp dụng ở Tr.QYf (bảng 1.11)

Bảng 1.11 Một số thiết bị lọc RO công suất 20L/h trên thị trường Việt

Nam

T

Kích thước (cm)

Khối lượng (kg)

Tiêu thụ điện (W/h)

Ngày đăng: 10/01/2019, 10:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Phan Công Thuần (1995). Nghiên cứu tổ chức triển khai, phương pháp công tác của ban dược và pha chế đảm bảo dung dịch tiêm truyền ở tuyến quân y sư đoàn bộ binh trong chiến đấu . Luận văn thạc sĩ Dược, Học viện Quân y, 1, 7-13, 17-19, 34 - 35, 38, 42 - 44, 51 - 52, 59 - 60, 64 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổ chức triển khai, phươngpháp công tác của ban dược và pha chế đảm bảo dung dịch tiêmtruyền ở tuyến quân y sư đoàn bộ binh trong chiến đấu
Tác giả: Phan Công Thuần
Năm: 1995
4. Chính phủ (2014). Nghị định giao chỉ tiêu huy động ngành Y tế khi có chiến tranh và tình trạng khẩn cấp. Nghị định số 129/2014/NĐ - CP ngày 21/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định giao chỉ tiêu huy động ngành Y tế khicó chiến tranh và tình trạng khẩn cấp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
5. Bộ Quốc phòng (2001). Điều lệ công tác quân y quân đội nhân dân Việt Nam. Quyết định số 56/2001 ngày 11/01/2001 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, 1, 25 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ công tác quân y quân đội nhân dânViệt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2001
6. Tổng cục Hậu cần, Cục Quân y (2009). Tổ chức và Chỉ huy Quân y, tập II. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 24 - 25, 48, 58 - 59, 133, 151, 164, 181 - 182, 187, 191, 203, 207, 209, 220 - 221, 244, 250, 271, 303 - 304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Hậu cần, Cục Quân y (2009). "Tổ chức và Chỉ huy Quân y,tập II
Tác giả: Tổng cục Hậu cần, Cục Quân y
Năm: 2009
7. Tổng cục Hậu cần, Cục Quân y (2001). Một số nội dung trọng tâm của công tác dược quân đội năm 2001, 1-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung trọng tâmcủa công tác dược quân đội năm 2001
Tác giả: Tổng cục Hậu cần, Cục Quân y
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w