1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LATS Y HỌC Nghiên cứu tổ chức pha chế, đánh giá chất lượng thuốc tiêm truyền trong điều kiện dã ngoại (FULL TEXT)

174 369 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 6,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Việc đảm bảo kịp thời, đầy đủ nhu cầu thuốc cứu chữa cho thương binh trong chiến đấu là nhiệm vụ và là yêu cầu bắt buộc của công tác tiếp tế quân y thời chiến. Trạm quân y sư đoàn là phân đội quân y cấp chiến thuật, trong chiến đấu làm nhiệm vụ cứu chữa cơ bản cho thương binh. Để đáp ứng cho nhiệm vụ cứu chữa tại trạm quân y sư đoàn, ngành Quân y đã nghiên cứu đóng gói, cấp phát cơ số K bao gồm các thuốc chiến thương, trong đó có 2 thuốc tối cần thiết để chống sốc và phẫu thuật cho thương binh là thuốc tiêm truyền glucose 5% và natri clorid 0,9%. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, có sự hỗ trợ của công nghệ cao như hiện nay, các phương tiện kỹ thuật càng hiện đại càng dễ bị đối phương phát hiện và tiêu diệt, các cơ sở hậu cần kỹ thuật luôn là mục tiêu đánh phá, hệ thống giao thông bị chia cắt, các khu vực tác chiến bị cô lập. Các phân đội quân y, trong đó có trạm quân y sư đoàn sẽ gặp rất nhiều khó khăn để đảm bảo đủ thuốc đủ thuốc phục vụ cứu chữa thương binh, do đó giải pháp hiệu quả nhất là tổ chức pha chế tại chỗ bằng trang bị phù hợp với điều kiện tác chiến của quân đội nhân dân Việt Nam [1], [2]. Thấy được tầm quan trọng của hoạt động này trong CCBVTQ, ngày 15/6/1994 Chính phủ có Quyết định số 315/QĐ - TTg giao nhiệm vụ cho ngành Y tế tổ chức 53 tổ pha chế lưu động trong cả nước, nhằm đáp ứng đủ thuốc cho việc cứu chữa người bị thương trong các khu vực có chiến sự [3]; năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 129/2014/NĐ - CP ngày 21/12/2014 về việc Giao chỉ tiêu huy động ngành Y tế khi có chiến tranh và tình trạng khẩn cấp, quy định cho các tỉnh, thành phố trong cả nước phải huy động 81 tổ pha chế dịch truyền [4]. Điều lệ Quân y quân đội nhân dân Việt Nam và các văn bản chỉ đạo nghiệp vụ hiện hành của Cục Quân y cũng luôn khẳng định pha chế thuốc là hoạt động chuyên môn bắt buộc tại các tuyến quân y, trong đó trạm quân y sư đoàn phải triển khai pha chế được thuốc tiêm truyền đáp ứng nhu cầu cứu chữa cho thương binh trong chiến đấu [5], [6], [7]. Tuy nhiên, hiện tại việc triển khai pha chế tại trạm quân y sư đoàn hiện nay không thể thực hiện được vì trang bị pha chế ở tuyến sư đoàn hiện tại đã lạc hậu, nhiều trang bị không còn phù hợp nhưng chưa được nâng cấp, bổ sung kịp thời. Lý do thứ hai là cần có một tài liệu có thể áp dụng triển khai pha chế ở tuyến sư đoàn trong điều kiện dã ngoại, nhưng hiện tại chưa được biên soạn. Cuối cùng là vấn đề ô nhiễm môi trường, trong đó có sự ô nhiễm các nguồn nước tự nhiên đang ở mức báo động, rất khó có được nước sạch phục vụ pha chế. Với thực trạng về trang bị, tài liệu hướng dẫn pha chế và ô nhiễm nguồn nước như vậy, các sư đoàn không thể triển khai pha chế nếu không có các biện pháp khắc phục. Do đó, nghiên cứu hoàn thiện danh mục, biên soạn tài liệu hướng dẫn, đánh giá khả năng triển khai và chất lượng thuốc tiêm truyền pha chế trong điều kiện dã ngoại là một yêu cầu cấp thiết đối với công tác tiếp tế quân y trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu tổ chức pha chế, đánh giá chất lượng thuốc tiêm truyền trong điều kiện dã ngoại có các mục tiêu: 1- Hoàn thiện cơ số, biên soạn tài liệu hướng dẫn pha chế thuốc tiêm truyền tại trạm quân y sư đoàn trong điều kiện dã ngoại. 2- Đánh giá khả năng triển khai, chất lượng nước cất, thuốc tiêm truyền glucose 5% và natri clorid 0,9% tại trạm quân y sư đoàn bằng trang bị, tài liệu đã nghiên cứu.

Trang 1

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN MINH TUẤN

NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC PHA CHẾ,

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THUỐC TIÊM TRUYỀN TRONG ĐIỀU KIỆN DÃ NGOẠI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2019

Trang 2

sự hỗ trợ của công nghệ cao như hiện nay, các phương tiện kỹ thuật càng hiệnđại càng dễ bị đối phương phát hiện và tiêu diệt, các cơ sở hậu cần kỹ thuậtluôn là mục tiêu đánh phá, hệ thống giao thông bị chia cắt, các khu vực tácchiến bị cô lập Các phân đội quân y, trong đó có trạm quân y sư đoàn sẽ gặprất nhiều khó khăn để đảm bảo đủ thuốc đủ thuốc phục vụ cứu chữa thươngbinh, do đó giải pháp hiệu quả nhất là tổ chức pha chế tại chỗ bằng trang bịphù hợp với điều kiện tác chiến của quân đội nhân dân Việt Nam [1], [2].

Thấy được tầm quan trọng của hoạt động này trong CCBVTQ, ngày15/6/1994 Chính phủ có Quyết định số 315/QĐ - TTg giao nhiệm vụ chongành Y tế tổ chức 53 tổ pha chế lưu động trong cả nước, nhằm đáp ứng đủthuốc cho việc cứu chữa người bị thương trong các khu vực có chiến sự [3];năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 129/2014/NĐ - CP ngày21/12/2014 về việc Giao chỉ tiêu huy động ngành Y tế khi có chiến tranh vàtình trạng khẩn cấp, quy định cho các tỉnh, thành phố trong cả nước phải huyđộng 81 tổ pha chế dịch truyền [4] Điều lệ Quân y quân đội nhân dân ViệtNam và các văn bản chỉ đạo nghiệp vụ hiện hành của Cục Quân y cũng luônkhẳng định pha chế thuốc là hoạt động chuyên môn bắt buộc tại các tuyếnquân y, trong đó trạm quân y sư đoàn phải triển khai pha chế được thuốc tiêm

Trang 3

truyền đáp ứng nhu cầu cứu chữa cho thương binh trong chiến đấu [5], [6],[7]

Tuy nhiên, hiện tại việc triển khai pha chế tại trạm quân y sư đoàn hiệnnay không thể thực hiện được vì trang bị pha chế ở tuyến sư đoàn hiện tại đãlạc hậu, nhiều trang bị không còn phù hợp nhưng chưa được nâng cấp, bổsung kịp thời Lý do thứ hai là cần có một tài liệu có thể áp dụng triển khaipha chế ở tuyến sư đoàn trong điều kiện dã ngoại, nhưng hiện tại chưa đượcbiên soạn Cuối cùng là vấn đề ô nhiễm môi trường, trong đó có sự ô nhiễmcác nguồn nước tự nhiên đang ở mức báo động, rất khó có được nước sạchphục vụ pha chế

Với thực trạng về trang bị, tài liệu hướng dẫn pha chế và ô nhiễmnguồn nước như vậy, các sư đoàn không thể triển khai pha chế nếu không cócác biện pháp khắc phục Do đó, nghiên cứu hoàn thiện danh mục, biên soạntài liệu hướng dẫn, đánh giá khả năng triển khai và chất lượng thuốc tiêmtruyền pha chế trong điều kiện dã ngoại là một yêu cầu cấp thiết đối với côngtác tiếp tế quân y trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu tổ chức pha

chế, đánh giá chất lượng thuốc tiêm truyền trong điều kiện dã ngoại có các mục tiêu:

1- Hoàn thiện cơ số, biên soạn tài liệu hướng dẫn pha chế thuốc tiêm truyền tại trạm quân y sư đoàn trong điều kiện dã ngoại.

2- Đánh giá khả năng triển khai, chất lượng nước cất, thuốc tiêm truyền glucose 5% và natri clorid 0,9% tại trạm quân y sư đoàn bằng trang

bị, tài liệu đã nghiên cứu.

Trang 4

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 NHU CẦU VÀ KHẢ NĂNG PHA CHẾ THUỐC TIÊM TRUYỀN Ở TRẠM QUÂN Y SƯ ĐOÀN TRONG CHIẾN TRANH 1.1.1 Sốc do vết thương, dự kiến thương binh và nhu cầu thuốc tiêm truyền ở tuyến quân y trung, sư đoàn trong chiến tranh

1.1.1.1 Sốc do vết thương chiến tranh

Sốc do vết thương chiến tranh là một nguyên nhân chính gây tử vongcho thương binh (TB), đặc biệt là ở tuyến trung đoàn (e), sư đoàn (f)

Tỷ lệ sốc, mất máu của TB trong các cuộc chiến tranh ở Việt Nam đượcthống kê ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Tỷ lệ sốc, mất máu trong tổng số thương binh ở tuyến quân y

trung đoàn, sư đoàn trong các cuộc chiến tranh trước đây

Cuộc chiến tranh

Tuyến e (%) Tuyến f (%) Toàn bộ

TB

Sốc, mất máu/TB

Toàn bộ TB

Sốc, mất máu/TB

Biên giới Tây Nam 13,9 8,2 - 24,0 16,6 7,6 - 32,0

* Nguồn: theo Lê Thế Trung (1989) [8]

Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy: Nếu tỷ lệ TB bị sốc mức độ 2 và mức độ 3càng lớn, thì nhu cầu thuốc tiêm truyền (TTT) càng nhiều, nhưng số lượngTTT trong các cơ số có hạn nên luôn bị thiếu so với nhu cầu, cần có giải phápđảm bảo, trong đó triển khai pha chế tại chỗ là phương án chủ động, kịp thời,hiệu quả nhất [9]

Trang 5

1.1.1.2 Dự kiến thương binh và nhu cầu thuốc tiêm truyền ở tuyến quân y trung đoàn, sư đoàn trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

Với quân số trung bình một trung đoàn bộ binh (eBB) là 2750 người,một sư đoàn bộ binh (fBB) là 9000 người Nếu một đợt chiến đấu kéo dài 10 -

15 ngày, tỷ lệ TB được dự kiến như ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Dự kiến tỷ lệ, số lượng thương binh theo mức độ tổn thương

trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở tuyến trung, sư đoàn

Đơn vị tính: Người

Mức độ tổn thương

Tổng cộng

Tiến công

Phòng ngự

Cả đợt

Tiến công

Phòng ngự

Cả đợt

Ghi chú: eBB: Trung đoàn bộ binh; eBB: Sư đoàn bộ binh.

*Nguồn: theo Nguyễn Văn Hưng (2008) [10]

Số liệu ở bảng 1.2 cho thấy: tỷ lệ TB ở tuyến e từ 4,5 - 7,5%/ngày/quân

số tham gia chiến đấu, một đợt chiến đấu khoảng 25% quân số bị thương; còn

ở tuyến f tỷ lệ TB từ 2 - 4,5%/ngày/quân số tham gia chiến đấu, một đợtchiến đấu khoảng 15% quân số bị thương Dự kiến sau một đợt chiến đấu,toàn tuyến e,f có trên 950 TB do vũ khí thông thường sát thương ở cả 3 mức

độ nặng, vừa và nhẹ

Bên cạnh dự kiến tỷ lệ TB, còn phải tính đến nhu cầu thuốc cho quânnhân tại các đơn vị do điều kiện chiến tranh sinh hoạt khó khăn, nguy cơ dịchbệnh như sốt rét, tê phù, bệnh ngoài da, các bệnh do virus rất có khả năng xuất

Trang 6

hiện lúc này nhu cầu thuốc cho các quân nhân bị mắc các dịch bệnh có thểcòn lớn hơn nhu cầu cho TB, cần phải có các phương án đảm bảo để có đủthuốc để điều trị cho những quân nhân bị bệnh, trong đó có TTT [11], [12],[13], [14].

Theo số liệu trong các cuộc kháng chiến trước đây của ngành Quân yViệt Nam (NQYVN): cứ 2000 TB chuyển từ tuyến trước về Tr.QYe, Tr.QYfcần phải có 250 - 500 L TTT dùng trong chống sốc, phẫu thuật, cấp cứu, điềutrị cứu chữa bước đầu và cứu chữa cơ bản cho khoảng 12,5% trong tổng số TB,với lượng sử dụng là 1,5 L/TB cho cứu chữa bước đầu, 2,0 L/TB cho cứu chữa

cơ bản tính theo TTT glucose 5% và TTT natri clorid 0,9% [15] (bảng 1.3)

Bảng 1.3 Dự kiến nhu cầu thuốc tiêm truyền natri clorid

0,9%, glucose 5%

cho thương binh ở tuyến trung, sư đoàn trong chiến

tranh bảo vệ Tổ quốc

Phương thức

tác chiến

SL TB

12,5% TB

sử dụng TTT (L)

SL TB

Trang 7

Số liệu ở bảng 1.3 cho thấy: Nhu cầu TTT dự kiến cho một đợt chiếnđấu ở tuyến e là 63 L, tuyến f là 148 L

Với khả năng đảm bảo thuốc, vật tư y tế để cứu chữa của 1 cơ số Y là

25 TB, 1 cơ số K là 50 TB, thì số lượng cơ số được cấp phát và khối lượngTTT natri clorid 0,9% và glucose 5% có sẵn trong cơ số được trình bày ởbảng 1.4

Bảng 1.4 Khối lượng thuốc tiêm truyền natri clorid 0,9%, glucose 5% đóng gói sẵn trong cơ số Y, K

SL

cơ số

TTT (L)

Trong

1 cơ số (L)

SL

cơ số

Cộng (L)

Trang 8

* Nguồn: theo Nguyễn Minh Chính và cs (2014) [15]

Bảng 1.4 cho thấy: Nếu được tiếp tế 13 cơ số Y, số lượng TTT glucose5% và natri clorid 0,9% có trong cơ số là 45,5 L; với 19 cơ số K thì số lượngTTT có trong cơ số là 133 L, số lượng TTT có sẵn là 178,5 L Trong khi nhucầu phải có là 211 L, do đó lượng TTT còn thiếu là: 211 - 178,5 = 32,5 L

Số lượng TTT còn thiếu (32,5 L) phải được triển khai pha chế tạiTr.QYf để chủ động đáp ứng đủ nhu cầu cứu chữa cho TB [15] Chính vì vậy,ngoài khối lượng TTT glucose 5% và natri clorid 0,9% có sẵn, CQY đã đónggói 1000g natri clorid nguyên liệu pha tiêm trong mỗi cơ số K [15] Điều đócho thấy, việc triển khai pha chế TTT tại Tr.QYf đã nằm trong phương án bảođảm của NQYVN, vừa góp phần chủ động đáp ứng nhu cầu thuốc, vừa giảmbớt khối lượng vật tư quân y phải đóng gói, vận chuyển trong điều kiện chiếnđấu cơ động, nhất là điều kiện địa hình rừng núi, chứ không chỉ là nhiệm vụđột xuất trong giai đoạn hiện nay

1.1.2 Khả năng triển khai pha chế thuốc tiêm truyền trong chiến tranh

1.1.2.1 Quân đội nước ngoài

Trong chiến tranh Thế giới lần thứ II (1941 -1945), Hồng quân Liên - Xô(cũ) đã tổ chức được một màng lưới pha chế thuốc rộng khắp, đảm bảo chocông tác cứu chữa thương binh tại các mặt trận [16]

Để chủ động đảm bảo TTT cho TB tại các chiến trường trong thời giannhanh nhất có thể, quân đội nước ngoài vẫn luôn quan tâm đến nghiên cứu phachế TTT với các nội dung: Cải tiến công nghệ, tổ chức pha chế, đánh giá cácyếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước, TTT trong ĐKDN [17] Quân đội Ngađang có cơ số trang bị pha chế TTT tại các đại đội quân y lữ đoàn, sư đoàn[18], [19] Một số công ty của Mỹ đang nghiên cứu chế tạo các thiết bị pha chế

Trang 9

TTT trang bị cho cá nhân binh sĩ hoặc các bộ phận tác chiến trên chiến trường

ở xa căn cứ, có thể chủ động đảm bảo nhu cầu TTT cho TB theo hướng ápdụng công nghệ cao như điều chế nước cất bằng hệ thống lọc RO, sau đó nướccất được lọc qua màng lọc vô khuẩn để loại trừ vi khuẩn rồi đóng gói trực tiếpvào các chai Polyethylen terephthalat (PET) chứa sẵn nguyên liệu hoặc dungdịch mẹ, không cần tiệt khuẩn Nhưng đây cũng mới là các sản phẩm chế thử,chưa được quân đội Mỹ chính thức áp dụng [20], [21], [22]

1.1.2.2 Ngành Quân y Việt Nam

* Trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954)

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi lượng TB tại các trận chiến đấutăng cao nên thiếu thuốc, các phân đội quân y đã triển khai và pha chế hàngnghìn L TTT, góp phần đảm bảo đủ nhu cầu thuốc cứu chữa cho TB ngay tạimặt trận [2], [23]

* Trong kháng chiến chống Mỹ (1965 - 1975)

Đầu những năm 1960 của cuộc kháng chiến chống Mỹ, công tác chiviện vật chất, trong đó có thuốc từ miền Bắc cho miền Nam bị đối phương tìmmọi cách ngăn chặn, việc mua sắm tại chỗ không thuận lợi, dẫn đến thiếu hụtthuốc Nhằm chủ động đáp ứng nhu cầu thuốc cho thương bệnh binh, mặc dùtrong điều kiện khó khăn thiếu thốn về nhân lực và trang bị, nhưng các phânđội quân y từ cấp trung đoàn trở lên trên khắp chiến trường miền Nam đã tíchcực, chủ động triển khai bào chế thuốc với trang bị, nhân lực tại chỗ, trong đóTTT là sản phẩm chủ lực [24], [25], [26]

Tại chiến trường Nam Bộ, có sư đoàn trong 1 năm đã pha chế được1029,3 L thuốc gồm dung dịch natri clorid, glucose, Novocain, vitamin B1, C,B12 Có chiến dịch, sư đoàn đã pha chế hơn 2000 L thuốc các loại [27]

Tại chiến trường Tây Nguyên, từ năm 1961-1975 đã pha chế khoảng100.000 L TTT (chiếm trên 33% nhu cầu) Khối lượng TTT pha chế tại chỗ

Trang 10

(301.633 L) gấp khoảng 6 lần lượng chi viện từ miền Bắc (53.326 L) và gấpgần 265 lần mua ngoài thị trường (1.141 L) [28]

Trên đường mòn Hồ Chí Minh, từ năm 1965 - 1975, Quân y các đơn vịthuộc Bộ tư lệnh 559 đã tổ chức pha chế tại chỗ được khoảng 2.156 L TTTbao gồm natri clorid 0,9%, glucose 5%, nước cất, novocain để cứu chữa cho

TB tại các trạm quân y dọc đường Trường Sơn [29]

Những con số về khả năng triển khai và số lượng TTT pha chế tại chỗ ởcác chiến trường trong kháng chiến chống Mỹ rất có ý nghĩa về mặt thực tiễnđối với công tác tiếp tế quân y, khẳng định vai trò không thể thiếu được củahoạt động này trong chiến tranh, cần được duy trì trong điều kiện hiện nay[1], [23]

Ở miền Bắc, công tác pha chế cũng phát triển rộng khắp tại các bệnhviện trong ngành Y tế Đa số các bệnh viện tuyến huyện tự pha chế được TTTglucose và natri clorid để điều trị cho người bệnh [30]

Sau ngày đất nước thống nhất, NQYVN vẫn thường xuyên quan tâm,chỉ đạo công tác tiếp tế quân y, trong đó có công tác pha chế thuốc thông quacác hội thao kỹ thuật, các đợt tập huấn nhằm duy trì hoạt động chuyên môn ởcác đơn vị và đảm bảo sẵn sàng chiến đấu [31]

* Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1979-1989) và hiện nay

Trong thời kỳ đầu của cuộc CCBVTQ được dự báo là sẽ diễn ra khẩntrương, ác liệt nên sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp nhưng lại rất khẩn trươngtrên một địa bàn rộng, do đó ngoài việc được đảm bảo từ cấp trên thì tạo nguồnvật chất tại chỗ là một yêu cầu bắt buộc đối với các đơn vị, nhất là các đơn vịtuyến trung, sư đoàn [32], [33] Đối với ban dượcTr.QYf, ngoài nhiệm vụ tiếpnhận, bảo quản, cung cấp thuốc, vật tư y tế, còn có nhiệm vụ pha chế TTT để

sử dụng tại trạm và các đơn vị trong sư đoàn [34]

Số liệu sơ kết đợt chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (từ 17/02/1979 18/03/1979) cho thấy: Tuy có một số đơn vị vẫn triển khai pha chế được, nhưng

Trang 11

-đa số các đơn vị không thể triển khai pha chế do nhiều nguyên nhân do trang bịchưa đầy đủ, chưa đồng bộ, xuống cấp; nhân viên chưa quen với PCDN, chưatích cực tổ chức huấn luyện trong thời bình, nên khi chiến tranh xảy ra khôngtriển khai được, phần nào đã ảnh hưởng đến hiệu quả cứu chữa cho TB [35]

Xác định vai trò của công tác pha chế TTT trong ĐKDN là một hoạtđộng không thể thiếu trong công tác tiếp tế quân y thời chiến, từ nhiều nămnay, các chương trình huấn luyện đào tạo về y, dược học quân sự luôn có nộidung này để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu cho các đối tượng họcviên bác sĩ quân y, dược sĩ quân y, sĩ quan dự bị y dược và lực lượng y tế dự

bị động viên [36], [37]

Trong tổ chức huấn luyện, diễn tập lực lượng y tế dự bị động viên,ngoài việc huy động trong các cơ sở y tế, một số trang thiết bị được hỗ trợ từcác cơ sở Quân y Do đó, ngoài nhiệm vụ huấn luyện cho các phân đội quân y,NQYVN còn cần phải có trang bị để hỗ trợ các cơ sở y tế triển khai [38], [39],[40], [41]

Trong tài liệu “Mấy vấn đề cơ bản của công tác đảm bảo quân y trongchiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc” do CQY xuất bản năm 1982 và tài liệu

“Tổ chức và chiến thuật quân y năm 1989” về công tác đảm bảo thuốc vàtrang bị quân y đã nhấn mạnh việc phải tổ chức sản xuất thuốc tại chỗ, tăngcường cải tiến trang bị, bào chế thuốc phù hợp với yêu cầu huấn luyện vàchiến đấu của quân đội với từng loại cơ số cho từng bộ phận hoạt động theochức năng như cơ số pha chế, hóa nghiệm, phẫu thuật… [42], [43]

Ngày 11/11/1997, CQY ban hành Công văn số 721/QY-5 “Qui định vềpha chế thuốc tại c,d quân y, bệnh xá BCHQS tỉnh, bệnh xá tại các đơn vịtương đương e,f, lữ đoàn” đã nêu rõ: Các tiểu đoàn quân y của các sư đoàn đủquân, trên cơ sở trang bị pha chế hiện có, được pha chế một số thuốc (natriclorid, glucose, novocain) để ôn luyện thao tác pha chế nhằm chuẩn bị tốt chothời chiến theo kế hoạch huấn luyện chung của ban quân y được chủ nhiệm

Trang 12

quân y cấp trên phê duyệt Số sản phẩm này cần được kiểm nghiệm về chínhiệt tố, nồng độ để đánh giá chất lượng pha chế hoặc để rút kinh nghiệm vềthao tác kỹ thuật, không dùng cho người Việc pha chế phải tuân thủ theo quiđịnh hiện hành của Bộ Y tế (BYT) và CQY, phải thực hiện kiểm tra, kiểm soát

để đảm bảo chất lượng thuốc và phải được ghi chép vào sổ pha chế của đơn vị[44]

Gần đây nhất, Công văn số 193/CQY - PD ngày 04/02/2013 của CQY

đã hướng dẫn cụ thể về Pha chế dịch tiêm truyền trong đơn vị quân đội:

- Các bệnh viện quân y tiếp tục duy trì bộ phận pha chế TTT, củng cố

cơ sở vật chất hiện có, có thể triển khai khi có tình huống xảy ra

- Đối với các sư đoàn bộ binh đủ quân và tương đương hàng năm ít nhất 1lần, các đơn vị phải tổ chức huấn luyện pha chế dã ngoại TTT natri clorid 0,9%

- Viện Kiểm nghiệm, Nghiên cứu Dược và Trang thiết bị y tế Quân độichịu trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn các sư đoàn bộ binh đủ quân và tươngđương huấn luyện pha chế TTT tại các đơn vị, kiểm tra chất lượng các mẫuthành phẩm; đề xuất phương thức đảm bảo trang thiết bị, vật tư pha chế phục

vụ nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu [45]

Để thống nhất về danh mục trang bị, quy trình triển khai pha chế vàđánh giá chất lượng TTT trong ĐKDN, năm 2008 và 2014, CQY đã 2 lần tổchức tập huấn PCDN cho các sư đoàn đủ quân, các bệnh viện quân khu, quânđoàn đến bệnh viện tuyến cuối trong toàn quân [46], [47], [48], tiếp tục

“Nghiên cứu, đóng gói trang bị pha chế dã ngoại tuyến trung - sư đoàn” [49]

Có thể thấy, những kết quả về hoạt động pha chế TTT tại các tuyếnquân y trong các cuộc chiến tranh trước đây đã góp phần rất quan trọng vàoviệc đảm bảo thuốc tại chỗ, nhất là trong điều kiện các con đường tiếp tế (từhậu phương ra tiền tuyến, mua sắm tại chỗ ) đều không thể thực hiện được.Những chỉ đạo của Chính phủ, của BYT, của NQYVN về công tác pha chếTTT trong CCBVTQ hiện nay vẫn khẳng định, đây là hoạt động không thể

Trang 13

thiếu đối với các phân đội quân y e, f, các cơ sở y tế dự bị động viên, nhằmđảm bảo cứu chữa cho TB và những người bị thương trong khu vực có chiến

sự bằng các sản phẩm thuốc được pha chế tại chỗ, trong đó quan trọng nhất làTTT glucose 5% và natri clorid 0,9% Do đó cần phải nghiên cứu giải quyếtmột cách tổng thể, đồng bộ để có được cơ số trang bị pha chế TTT, phục vụcác sư đoàn chủ động triển khai hoạt động này trong huấn luyện và SSCĐ

1.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHA CHẾ VÀ TRANG BỊ, TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN, NGUỒN NƯỚC PHỤC VỤ PHA CHẾ THUỐC TIÊM TRUYỀN TẠI TRẠM QUÂN Y SƯ ĐOÀN

1.2.1 Hoạt động pha chế thuốc tiêm truyền tại các đơn vị hiện nay

Bảng 1.5 Kết quả thăm dò ý kiến về hoạt động pha chế thuốc tiêm truyền tại các đơn vị

Có triển khai pha chế Số ý kiến

2 Kiểm tra tiểu đoàn quân y đủ quân (2008) 1

Trang 14

Cộng 4 Không triển khai pha chế

3 Chưa biết được trang bị, cách thức triển khai pha chế 5

*Nguồn: theo Cục Quân y (2014) [48]

Kết quả ở bảng 1.5 cho thấy: Với 48 ý kiến trả lời, chỉ có 4 ý kiến(8,3%) cho biết đơn vị có tiến hành pha chế TTT; 36 ý kiến (75%) trả lời làkhông triển khai pha chế vì các lý do: trang bị thiếu hoặc chưa đồng bộ, chưa

có tài liệu hướng dẫn, không nắm được trang bị và cách thức triển khai phachế, không có chỉ lệnh của thủ trưởng có thẩm quyền; 8 ý kiến (16,7%) ngườiđược hỏi không trả lời mà không cho biết lý do

Với thực trạng triển khai pha chế tại các đơn vị, đã cho thấy yêu cầucấp thiết hiện nay của NQYVN cần phải nghiên cứu xây dựng để có đượcdanh mục trang bị pha chế, biên soạn tài liệu hướng dẫn triển khai pha chế vàđánh giá chất lượng TTT trong ĐKDN, nhằm đáp ứng được yêu cầu huấnluyện và SSCĐ trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai

1.2.2 Danh mục trang bị pha chế

1.2.2.1 Sơ lược về trang bị bào chế thuốc của quân đội nước ngoài

Trong những năm chống Mỹ cứu nước, Việt Nam có nhận được một sốtrang bị pha chế thuốc của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây viện trợ nhưtrang bị pha chế của Hungary đóng trong một hòm nhỏ gồm các bình thủytinh 5 L, máy hút bụi đẩy, phễu lọc bằng thủy tinh xốp (G4).Trang bị pha chếvòng kín của CHDC Đức (cũ) có bình pha chế bằng thuỷ tinh (50-60 L), máy

Trang 15

khuấy điện, máy nén khí, máy đóng dịch, phễu thuỷ tinh xốp G3, G4 [3],[50].

Quân đội Trung Quốc đã trang bị cho NQYVN cơ số bào chế thuốcgồm 27 khoản, trong đó có nồi cất nước 5 L/h, máy hút đạp chân, vải lọc,bình lọc Chamberland, chai, nút đựng TTT nhưng để tiến hành pha chế TTTthì cơ số này chưa đáp ứng được Hiện tại CQY vẫn còn dự trữ những cơ sốnày [51], [52]

Các kết quả khảo sát về trang bị bào chế thuốc của quân đội nước ngoàikhông còn phù hợp với yêu cầu của CCBVTQ ở Việt Nam

1.2.2.2 Trang bị pha chế ở tuyến quân y sư đoàn của Việt Nam

Sau ngày hòa bình lập lại ở Miền Bắc (1954), nhằm đáp ứng yêu cầuxây dựng quân đội chính quy, ngày 17/10/1962, CQY ban hành văn bản số1122/P5 về “Dự thảo qui định trang bị quân y thời chiến trong chiến đấu

thông thường” bao gồm thuốc, hóa chất, bông băng, trang bị y tế cho các

tuyến quân y c, d, e, f; trong đó cơ số BC6 trang bị cho tuyến e, cơ số BC7trang bị cho tuyến f trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ để tiếnhành pha chế thuốc [53]

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, để đáp ứng yêucầu của công tác tiếp tế quân y cho CCBVTQ, năm 1982 CQY đã ban hành

“Danh mục trang bị dụng cụ labo - bào chế tiểu đoàn quân y sư đoàn bộ binh”gồm 22 khoản, trong đó có các dụng cụ pha chế như cân, nồi cất nước, nồihấp, phễu, chai pha thanh huyết, giấy lọc, cốc chân, ống đong đáp ứng phachế các thuốc thông thường hoặc thanh huyết rửa, khó có thể triển khai phachế TTT [54]

Nhằm đảm bảo khả năng triển khai hoạt động pha chế thuốc tại tuyến

sư đoàn, tháng 06/2000 CQY ban hành “Biểu trang bị dụng cụ quân y sưđoàn bộ binh” để pha chế một số thuốc uống, dùng ngoài, đông y, thuốc tiêmnovocain, dung dịch chống đông máu ACD, dịch truyền mặn ngọt đẳng

Trang 16

trương đáp ứng nhu cầu cứu chữa TB trong chiến đấu [55] Năm 2002, CQYban hành “Biểu trang bị dụng cụ pha chế tuyến e,f” có bổ sung thêm 3 khoảndụng cụ so với danh mục năm 2000 là: lều bạt, nilon triển khai buồng phachế và quần áo + mũ + mạng cho nhân viên pha chế [56]

Để có căn cứ xây dựng đề tài “Nghiên cứu cải tiến và chế tạo bộ phachế thuốc truyền tĩnh mạch dã ngoại trang bị cho tuyến quân y sư đoàn”(2003 - 2005), Nguyễn Hồng Quân và các thành viên của đề tài (2006) đãtiến hành khảo sát thực trạng trang bị pha chế tại một số sư đoàn đủ quân

Về danh mục, trang bị pha chế đang có tại các sư đoàn gồm 27 khoản,trong đó 23 khoản là danh mục xây dựng từ năm 2000 [55], trong 4 khoảncòn lại, có khoản được bổ sung thêm (nồi hấp điện 10 L/h), có khoản các đơn

vị phải tự đảm bảo (bàn pha chế, màn pha chế) và chiến lợi phẩm thu được từnăm 1975 (xô inox 10 L có nắp) Danh mục này còn thiếu nhiều trang bị cầnthiết để tiến hành pha chế và đánh giá chất lượng TTT như đèn soi kiểm tra độtrong, bộ kiểm nghiệm nước cất, màn pha chế Một số dụng cụ đã có nhưngkhông phù hợp như nồi hấp điện chỉ dùng được trong điều kiện có điện (côngsuất nồi hấp là 3,8 kw/h)

Về chất lượng, các trang bị đều đã xuống cấp do được sản xuất đã lâuvới vật liệu không có độ bền và không đạt theo quy định hiện nay (nồi cấtnước, xô men, hút đạp chân, khúc xạ kế cầm tay), một số trang bị đã hỏng(nylon, dây cao su) Nhiều nhất trong danh mục là dụng cụ thủy tinh (8 khoản),trong đó chai thủy tinh là cần nhất, nhưng hiện tại trên thị trường không cònloại chai có nắp nhựa xoáy mà thay vào đó là chai có nút nhôm bọc bên ngoàinút cao su Các dụng cụ như phễu thủy tinh, ống đong, đũa khuấy trộn rất dễ

vỡ, ít sử dụng, cần loại bỏ bớt Nồi cất than củi kích thước cồng kềnh (57 x65cm), nặng (24kg), tốn nhiên liệu (3,2kg củi/L nước cất), vật liệu chế tạokhông tốt (tôn) và không đạt theo quy định hiện hành của BYT, không đóng gói

Trang 17

thu gọn được Dụng cụ pha chế là xô men không có vòi, khi hòa tan phải mởnắp, vi khuẩn, bụi dễ xâm nhập vào dịch lọc, khó đảm bảo vô khuẩn [57]

Như vậy có thể thấy, trang bị pha chế hiện có tại các sư đoàn đã cũ,thiếu, không còn khả năng đáp ứng yêu cầu huấn luyện và SSCĐ, cần đượctrang bị lại

Trong công tác đảm bảo sẵn sàng chiến đấu, CQY vẫn đang dự trữ cơ

số trang bị pha chế tuyến e,f với danh mục đã được xây dựng từ nhiều nămtrước Danh mục trang bị pha chế gồm 29 khoản, đóng gói trong 4 kiện vàcũng bao gồm các dụng cụ chuyên sâu về bào chế tương tự như danh mụchiện có tại các fBB

Qua thực tế sử dụng trang bị pha chế do CQY bảo đảm (bảng 1.7) phục

vụ diễn tập, danh mục này chưa đáp ứng được yêu cầu triển khai pha chếtrong ĐKDN vì một số tồn tại sau: trang bị có trong danh mục nhưng chưaphù hợp với yêu cầu của công việc như nồi cất nước công suất thiết kế quánhỏ (5L/h), khi sử dụng chỉ đạt hiệu suất 2,5-3 L/h, muốn pha chế 5 L TTT,phải điều chế được 7,5 L nước cất, cần thời gian ít nhất 3 giờ, trong điều kiệnchiến đấu khẩn trương, ác liệt đây là thời gian quá dài cho một lần pha chế[3] Khúc xạ kế dùng chung cho định lượng nồng độ glucose và natri clorid làkhông hợp lý, cần có dụng cụ riêng để định lượng glucose và natri clorid.Danh mục cũng có nhiều các dụng cụ thủy tinh dễ vỡ, tần xuất sử dụng thấp.Một số trang bị chuyên dụng không thể thiếu được như đèn soi kiểm tra độtrong, xiết nút nhôm, thiết bị xử lý nước (RO), bình pha chế thì vẫn chưa có…Danh mục cũng chưa được nghiên cứu đóng gói ở dạng tích hợp các tính năngcủa trang bị và chưa theo các vị trí triển khai pha chế (phòng pha chế, nơi cấtnước, nơi kiểm tra độ trong, đóng nút, nơi rửa tay trước khi vào buồng phachế) để giúp cho nhân viên pha chế dễ dàng tiếp cận các dụng cụ, hóa chất,nguyên liệu trong quá trình triển khai pha chế [58]

Trang 18

Với kết quả khảo sát danh mục tại các sư đoàn và danh mục hiện hànhcủa CQY là không có sự khác biệt Đó chính là lý do đa số các sư đoàn đềukhông thể triển khai pha chế, cần phải nghiên cứu xây dựng một danh mụctrang bị pha chế cho sư đoàn có tính khả thi trong điều kiện hiện nay.

Do đó cần phải nghiên cứu xây dựng một danh mục phù hợp với yêucầu pha chế TTT tại Tr.QYf Ngoài việc xây dựng danh mục tổng thể, đónggói hợp lý, cần nghiên cứu chế tạo cải tiến một số trang bị sẵn có, nhằm nângcao hiệu quả triển khai và đảm bảo chất lượng TTT

1.2.2.3 Nghiên cứu trang bị pha chế dã ngoại

Tại Hội thao Trạm Quân y e toàn quân năm 1985, đã có một số sángkiến cải tiến trang bị pha chế như buồng pha chế dã ngoại tuyến e triển khaitrong hầm đủ diện tích cho 1 nhân viên pha chế, thiết kế theo nguyên tắc 1chiều, bảo đảm vô khuẩn, tháo lắp, di chuyển dễ dàng; bàn gấp dã ngoại 2tầng có thể dùng làm việc, bàn pha chế, bàn điều trị, bàn ăn cơm; bàn pha chế

dã ngoại hình chữ L, khi triển khai vừa làm bàn pha chế, vừa làm bàn cân…[59]

Dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài Tổ chức, biên chế, triển khai đạiđội và tiểu đoàn quân y trung, sư đoàn bộ binh trong CCBVTQ của Bộ môn

Tổ chức chiến thuật quân y [60], năm 1986, Khoa Dược - Tiếp tế quân yHVQY đã nghiên cứu xây dựng “Trang bị dụng cụ ban dược trạm quân y sưđoàn bộ binh” có 86 khoản, gồm 4 nhóm trang bị: Dụng cụ xây dựng và cảitạo địa hình (8 khoản), dụng cụ triển khai cơ sở (19 khoản), dụng cụ chuyênmôn (52 khoản) và sổ sách - nhãn thuốc (7 khoản) Danh mục này đã được sửdụng phục vụ huấn luyện dã ngoại và diễn tập YHQS trong một số năm vàhiện tại không còn được sử dụng, nhưng là cơ sở để tham khảo cho việc xâydựng danh mục mới [61]

Phan Công Thuần (1994) [3 ] đã có nghiên cứu về mặt lý thuyết để dùngđèn soi độ trong bằng nguồn sáng pin thay cho bóng đèn điện 40w đã cho thấy

Trang 19

khả năng phát hiện tiểu phân trong TTT của 2 nguồn sáng là tương đương, cóthể chế tạo để dùng trong ĐKDN.

Về nghiên cứu vật liệu lọc trong TTT, Nguyễn Mạnh Quang (1996)[62] đã nghiên cứu chế tạo màng lọc mềm dùng lọc TTT với ký hiệu là MT Màng MT đã sử dụng tại các bệnh viện quân y và trong diễn tập YHQS tạiHVQY Ngoài các kết quả do tác giả Nguyễn Mạnh Quang công bố, mànglọc MT đã được thử nghiệm tại Công ty B.Brauwn và đạt được yêu cầu vềkhả năng lọc trong [63] Trong ĐKDN, màng lọc MT phù hợp để sử dụng tạituyến sư đoàn khi pha chế TTT

Nguyễn Minh Tuấn (2002) [63] đã nghiên cứu cải tiến nồi cất nước, chếtạo đèn soi kiểm tra độ trong dùng nguồn sáng pin, chế tạo bình pha chế bán kín

để bổ sung vào danh mục trang bị pha chế phục vụ diễn tập YHQS tại HVQY,tập huấn PCDN toàn quân, triển khai đội điều trị dự bị động viên Qua huấnluyện, trang bị đã đáp ứng được yêu cầu về chiến thuật và kỹ thuật để triển khaipha chế TTT, tuy nhiên vẫn cần bổ sung để danh mục hoàn thiện hơn

Trong đề tài “Nghiên cứu cải tiến và chế tạo bộ pha chế thuốc truyềntĩnh mạch dã ngoại trang bị cho quân y tuyến sư đoàn” (2003-2005), NguyễnHồng Quân và cộng sự đã xây dựng được một danh mục trang bị pha chế TTTrút gọn, trong đó có những dụng cụ đã được thay thế như khúc xạ kế (KXK)dùng đo cả đường và muối đã được thay bằng KXK đo đường và KXK đomuối với độ chính xác và giới hạn phát hiện cao hơn Một số dụng cụ khác cóđược nghiên cứu như bình pha chế, nồi hấp, xiết nút chai, nồi cất nước nhưngchưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật và chiến thuật nên không được CQY

áp dụng [57]

Như vậy ngành Quân y Việt Nam chưa có một cơ số trang bị pha chếTTT đáp ứng yêu cầu huấn luyện và SSCĐ ở Tr.QYf Việc phải có một danhmục trang bị pha chế TTT cho Tr.QYf là một yêu cầu cấp thiết Dựa vàodanh mục trang bị pha chế của CQY, thực trạng trang bị pha chế đang có tại

Trang 20

các đơn vị, dựa vào các kết quả nghiên cứu đã thu được, phải xây dựng đượcmột cơ số trang bị đáp ứng yêu cầu triển khai pha chế và đánh giá chất lượngTTT với những dụng cụ bào chế chuyên sâu như nồi cất nước, đèn soi kiểmtra độ trong, màng lọc MT, KXK cầm tay, bàn pha chế, bình pha chế bán kín,dụng cụ xiết nút chai cầm tay, thiết bị lọc nước RO, dụng cụ và hóa chấtkiểm nghiệm nước cất và chất lượng TTT Nghiên cứu đóng gói trang bị phachế theo hướng cơ số hóa tại các vị trí chuyên môn trong quy trình triển khaipha chế TTT (nơi cất nước và hấp tiệt trùng, kiểm tra chất lượng, đóng nútchai, rửa tay và kiểm tra chất lượng nước cất, phòng pha chế).

1.2.3 Tài liệu hướng dẫn pha chế thuốc tiêm truyền trong điều kiện dã ngoại

Hiện nay, có một số tài liệu của nước ngoài nói về việc pha chế và sửdụng TTT trong ĐKDN, nhưng chỉ là tài liệu tóm tắt mang tính chất giới thiệuvề: Tổ chức và kỹ thuật pha chế TTT trong ĐKDN; Các biện pháp đảm bảochất lượng TTT pha chế trong ĐKDN; Sử dụng TTT pha chế trong ĐKDN[18]

Các tài liệu trên đều khẳng định rằng: những vấn đề về triển khai và ápdụng những công nghệ hiện đại vào pha chế TTT trong ĐKDN là không thể,

mà phụ thuộc vào những kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm và những vấn đềthực tiễn khi triển khai bao gồm bao bì chứa đựng, tiệt khuẩn, điều chế nướccất từ các nguồn nước tự nhiên đòi hỏi phải có sự vận dụng sáng tạo các kỹthuật để đảm bảo chất lượng TTT [19]

Đã có một số tài liệu được NQYVN và BYT biên soạn về hướng dẫnnghiệp vụ công tác dược và pha chế TTT Sau đây là một số tài liệu đã đượcbiên soạn:

* Tài liệu huấn luyện dược tá (Cục Quân y - 1975)

Nội dung PCDN trong tài liệu được biên soạn bao gồm: Nhiệm vụ của

bộ phận dược ở tuyến e,f phải đảm bảo pha chế tại chỗ; phương án triển khai

Trang 21

pha chế thuốc tiêm ở tuyến e, f: biên chế; cơ sở pha chế; trang bị dụng cụ; tiếnhành pha chế.Tuy phần PCDN đầy đủ các nội dung cơ bản liên quan đến phachế TTT, nhưng không có sơ đồ hướng dẫn qui trình pha chế và các kỹ thuật

cụ thể tại các công đoạn pha chế, các trang bị pha chế đều lạc hậu so với điềukiện hiện nay Các nội dung liên quan nằm ở nhiều phần khác nhau trong tàiliệu, khi cần tra cứu không thuận tiện [64]

* Sổ tay cán bộ quân dược (Cục Quân y - 1978)

Tài liệu do Lê Pha (1977) [65] biên soạn gồm 5 phần: các đơn vị đo

lường và phép đo lường; bảo quản; bào chế; bào chế thuốc nam; một số côngthức và kinh nghiệm công tác Trong phần kiến thức bào chế không có chuyênmục PCDN, mà chỉ có những nội dung liên quan đến pha chế như nguyên tắcxây dựng buồng vô trùng, xử lý nút chai thanh huyết, xử lý chai lọ để đựngthuốc tiêm và thanh huyết, điều chế nước cất, màng lọc bằng bông và vải, bếphoàng cầm, màn pha chế, hầm pha chế Đây là một tài liệu hướng dẫn cácnghiệp vụ công tác dược cho các tuyến quân y và cũng được biên soạn đã lâu,không còn phù hợp trong điều kiện hiện nay, nhất là nội dung PCDN

* Pha chế dung dịch tiêm truyền (1985)

Đây là tài liệu do BYT chủ trì, được hai tác giả Phan Bá Hùng vàPhương Đình Thu (1985) [66] biên soạn Tài liệu được trình bày rõ ràng, bàibản để hướng dẫn kỹ thuật pha chế TTT ở các bệnh viện Nội dung trong tài liệuphù hợp với thực tế trang bị các bệnh viện trong và ngoài quân đội trong nhữngnăm 80, nhưng về cơ bản tài liệu đã biên soạn đã hơn 30 năm, nên không cònđáp ứng được nếu áp dụng triển khai pha chế TTT trong điều kiện hiện nay

Trong báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu cải tiến và chế tạo bộ pha chếthuốc truyền tĩnh mạch dã ngoại trang bị cho quân y tuyến sư đoàn”, NguyễnHồng Quân (2006) [57] và nhóm nghiên cứu ngoài việc xây dựng danh mụctrang bị pha chế, cũng đã dự thảo một số quy trình như quy trình xử lý nước,

xử lý chai, nút, pha chế TTT glucose và TTT natri clorid 0,9% dã ngoại Nhưng

Trang 22

đây chỉ là các hướng dẫn đơn thuần để giải quyết các kỹ thuật đơn lẻ tại từngcông đoạn pha chế và chưa được biên soạn thành một tài liệu hoàn chỉnh, nênchưa phải là một liệu hướng dẫn pha chế TTT trong ĐKDN.

Như vậy cho tới thời điểm này, chưa có tài liệu nào đáp ứng được yêucầu là một tài liệu hướng dẫn chuyên ngành về triển khai pha chế và đánh giáchất lượng TTT trong ĐKDN Do đó việc biên soạn một tài liệu Hướng dẫnpha chế TTT tại Tr.QYf để phục vụ huấn luyện và SSCĐ tại các đơn vị là rấtcấp thiết

1.2.4 Nguồn nước và cải thiện chất lượng nước

1.2.4.1.Thực trạng chất lượng nguồn nước

Bên cạnh việc chuẩn bị đầy đủ về nhân lực, trang thiết bị, nguyên liệuhóa chất, thì việc xử lý và điều chế được nước cất đạt tiêu chuẩn pha tiêm làyếu tố quyết định Nước cất pha tiêm phải được xử lý và điều chế nước cất từnước sạch đạt tiêu chuẩn nước ăn uống theo quy định của BYT [67], [68]

Hiện nay ở Việt Nam, sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế - xãhội nhanh, đi cùng với nó là sự gia tăng các chất thải trong quá trình sản xuất

và sinh hoạt đã gây ra nhiều sự biến đổi lớn thậm chí là thiệt hại cho môitrường tự nhiên, trong đó có ô nhiễm nguồn nước Các nguồn nước bị ônhiễm ngày càng chiếm tỷ lệ lớn và mức độ ô nhiễm ngày càng trầm trọng,lượng nước sạch dùng cho sinh hoạt của con người ngày càng bị giảm đi do

sự biến đổi các chất lý, hóa, sinh vật của nước thiên nhiên đến mức gây hại tớisức khỏe và bệnh tật đối với con người

Các chất gây ô nhiễm nước là những chất không được phép có trongnước hoặc được phép có với một giới hạn quy định của tiêu chuẩn nước sạchhoặc nước sinh hoạt, bao gồm độ đục, màu, mùi vị của nước; các hóa chất cóchứa amoni, nitrit, nitrat, clorid, fluorid; các kim loại nặng có độc tính caonhư arsen, chì, thủy ngân; các chất hữu cơ độc hại thuộc các nhóm chất hóahọc như nhóm alkan clo hóa (carbon tetraclorid), nhóm benzen clo hóa

Trang 23

(monoclorobenzen; 1,2 clorobenzen; 1,4 diclorobenzen; triclorobenzen), hóachất bảo vệ thực vật (thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, diệt nấm…)…vv; các visinh vật gây ô nhiễm nước như phẩy khuẩn tả, trực khuẩn lỵ, trực khuẩnthương hàn, virus viêm gan, coliform, feacal coliform [69].

Nước bị ô nhiễm từ các nguồn khác nhau như nước thải sinh hoạt, nướcthải từ các khu công nghiệp, các chất thải của bệnh viện, các váng dầu mỡphủ trên bề mặt nước, các chất thải như phân, rác, nước tiểu của con người;phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật…đã khiến cho nhiều con sông, suối, ao

hồ, mạch nướcc ngầm từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi tới đồng bằng

Trong những năm qua, NQYVN đã tiến hành đánh giá thực trạngnguồn nước tại một số đơn vị trong quân đội đóng quân trên các địa bàn khácnhau, từ đó thấy được thực trạng cũng như đề xuất các biện pháp cải thiệnchất lượng nguồn nước tại các đơn vị quân đội Năm 2001, Viện YHDP Quânđội đã nghiên cứu 22 mẫu nước nước sinh hoạt của 12 đơn vị thuộc quân khuThủ đô (nay là Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội), kết quả đã cho thấy: chỉ có 4/22mẫu đạt tiêu chuẩn chất lượng nước sinh hoạt theo quy định của BYT Cácmẫu còn lại không đạt về độ trong, màu sắc, mùi vị (màu vàng, vị tanh), hàmlượng sắt, nitrit, các chất hữu vượt quá mức qui định 12/22 mẫu nước cócoliform, F.coliform, vi khuẩn kỵ khí cao hơn tiêu chuẩn cho phép, chứng tỏnguồn nước bị ô nhiễm do chất thải sinh hoạt, rác thải từ con người [75]

Trang 24

Trong tài liệu “Địa lý y tế quân sự Thủ đô Hà Nội” (2009) có đánh giá: cácnguồn nước ở khu vực thành phố Hà Nội đều bị ô nhiễm, có thể phải khaithác cả nước sông Hồng để phục vụ sinh hoạt [76] Trong báo cáo kết quảkiểm tra 15 mẫu nước sinh hoạt tại một số đơn vị quân đội thuộc Quân khu 7,Quân khu 3, Quân khu 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 2, Quân đoàn 1 của ViệnYHDP (2009) cũng cho thấy: 6 mẫu nước khi kiểm tra đạt tiêu chuẩn nướcsạch đều là các mẫu nước máy, 9 mẫu không đạt đều là các mẫu nước giếngkhoan tại các bệnh xá sư đoàn, nơi chưa có nước máy [77], [78], [79], [80],[81], [82]

Ở phía Nam, nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuyên, Bùi Xuân Phách(2017) với các nguồn nước giếng khoan tại một số khu vực ở TP Hồ Chí Minhcũng cho thấy đang bị ô nhiễm nghiêm trọng [83]

Qua các số liệu về chất lượng nước hiện nay ở Việt Nam, có thể nhậnthấy hầu hết các nguồn nước đều đang ô nhiễm, nhất là các nguồn nước tựnhiên, do đó rất cần một giải pháp hữu hiệu để cải thiện chất lượng nước phục

vụ sinh hoạt và hoạt động chuyên môn

1.2.4.2 Các biện pháp đảm bảo chất lượng nước

a Bằng kỹ thuật thường qui

- Làm trong nước bằng phương pháp để lắng tự nhiên hoặc lọc qua than cát sỏi

Là phương pháp làm sạch nước theo cảm quan vì nó chỉ loại trừ được cáctạp chất cơ học mà mắt chúng ta nhìn thấy (bùn, rong rêu), còn các chất hòa tannhư NH3, Na2CO3, MgCO3, CaCO3 và một số kim loại nặng như thủy ngân,arsen…thì chưa loại trừ được Nếu trong nước có các tiểu phân nhỏ ở dạnghuyền phù thì khó có thể lắng hoàn toàn xuống phía dưới, luôn lơ lửng ở giữalớp nước, hạn chế hiệu suất làm trong nước Quá trình lắng tự nhiên xảy rachậm và thụ động, cần kết hợp với các yếu tố khác để cải thiện chất lượng nước[84]

Trang 25

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuyên, Bùi Xuân Bách (2017) [83] cũngcho thấy: với phương pháp lọc bằng than cát sỏi, nước chỉ giảm về độ đục vàhàm lượng sắt, còn các chỉ tiêu về màu sắc, pH, amoni, clorid, nitrit, nitrat,HCHC, độ cứng, coliform, E.co li hầu như ít thay đổi Do đó kể cả trongĐKDN thì kỹ thuật lọc này cũng không nên áp dụng nữa, vì không thể làmsạch nước như yêu cầu hiện nay để phục vụ pha chế thuốc

- Làm trong, sạch và mềm nước bằng phương pháp lắng cưỡng bức

Làm trong, sạch và mềm nước bằng phương pháp lắng cưỡng bức là việc

sử dụng các hoá chất như phèn chua, thuốc tím, natri carbonat,

Khi hòa phèn chua vào nước sẽ tạo ra Al(OH)3 ở dạng huyền phù vàlắng xuống cuốn theo các tạp chất cơ học, để lại lớp nước trong phía trên, gạnlấy phần nước trong để sử dụng Phèn chua còn có tác dụng giữ lại các muốiamoni không bay hơi khi nước sôi (phản ứng 1)

KAl(SO4)2 + NH4+ → K2SO4 + Al(OH)3 ↓ + (NH4)2SO4 (1)Tuy nhiên nếu dùng nhiều phèn chua thì có thể tạo môi trường acid,ảnh hưởng chất lượng nước cất (phản ứng 2 và 3):

KAl(SO4)2 + Cl- → K2SO4 + Na2SO4+ AlCl3 (2)AlCl3 + 3H2O→ Al(OH)3 + 3HCl (3)

Để loại trừ các tạp chất hữu cơ có trong nước, người ta thường sử dụngthuốc tím (kali permanganat) hòa vào nước, thuốc tím giải phóng Oxy phân

tử vừa mới tạo ra có tác dụng phá hủy các tạp chất hữu cơ có trong nước (4):

KMnO4 + H2O → HOH + MnO2 + O↑ (4)

Có thể sử dụng Natri carbonat (Na2CO3), một hóa chất không có tácdụng làm trong nước, nhưng có tác dụng làm mềm nước khi nguồn nước cứng

có các muối calci, magnesi hòa tan cần phải loại bỏ [84]

b Làm trong, sạch và mềm nước bằng hệ thống trao đổi ion

Trang 26

Hệ thống làm trong nước bằng trao đổi ion gồm có 2 cột, một cột cóchứa các hạt có khả năng giữ lại các cation (cationit), còn cột kia chứa các hạt

có khả năng giữ lại các anion (anionit) trong nước Nước được điều chế bằng

hệ thống trao đổi ion có độ tinh khiết khá cao Nhược điểm chính của hệthống trao đổi ion là nếu lâu không sử dụng, các hạt ionit bị lão hoá, mất khảnăng trao đổi, mặt khác sau một thời gian hoạt động các ionit bị giữ lại trên bềmặt các hạt nhựa làm mất khả năng trao đổi ion, phải tiến hành xúc rửa đểlàm sạch các hạt nhựa, tái tạo lại khả năng trao đổi ion Phương pháp trao đổiion làm sạch nước khó có thể áp dụng trong ĐKDN, do các yêu cầu phức tạp

về mặt kỹ thuật [63], [66]

Như vậy có thể thấy: Phương pháp làm trong, làm mềm nước nướcbằng biện pháp cơ học, bằng hoá chất không thể tạo ra nước sạch theo quyđịnh hiện hành của BYT và nếu có đáp ứng được về chất lượng nước thì cũngkhông phù hợp với quy mô sử dụng Cần áp dụng phương pháp làm sạchnước bằng cách áp dụng một công nghệ hiện đại khác có ưu điểm vượt trội sovới các phương pháp trên

c.Tạo nước sạch bằng thiết bị lọc thẩm thấu ngược (RO)

Thẩm thấu ngược là quá trình lọc dung dịch qua màng bán thấm dướimột áp suất cao hơn áp suất thẩm thấu [85]

Phần cốt lõi của thiết bị RO là màng RO làm từ vật liệu Celluloseacetat, Polyamid hoặc màng composite có lỗ nhỏ tới 0,005 µm (hình 1.1)

Trang 27

Hình 1.1 Các loại màng thẩm thấu ngược

Nguồn: Theo Trần Văn Nhân và Ngô Thị Nga (2006) [85]

a Lọc ép với tấm lọc song song

b Lọc ống: 1 Ống; 2 Giá đỡ; 3 Màng

c Lọc màng bán thấm xếp thành cuộn: 1 Lớp đỡ; 2 Màng; 3 Ống dẫnnước sạch ra; 4 Lưới phân cách; 5

d Màng ở dạng xơ trống rỗng: 1.Tấm đỡ; 2 Vòng đệm vải sợi; 3 Thânthiết bị; 4 Xơ trống rỗng

Trên thị trường Việt Nam, màng làm bằng vật liệu Cellulose acetat(hình 1.3.c) đang được sử dụng phổ biến

Thiết bị lọc RO hoạt động dựa trên nguyên lý của hiện tượng thẩm thấungược, nhờ áp lực nén của máy bơm cao áp, khi gặp màng lọc RO, các phân

tử nước và một số chất hòa tan có phân tử lượng thấp qua được màng, cònhầu hết các thành phần khác như hóa chất, ion kim loại, các loại vi khuẩn bịthải ra ngoài theo dòng nước thải

Màng lọc RO có khả năng loại được các chất bẩn và các tiểu phân cókích thước nhỏ hơn 0,001 micromet, các chất độc hại, mùi vị khó chịu củanước, các chất ô nhiễm có trong nước [86], [87]

Bảng 1.8 Khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm có trong nước của màng RO

Trang 28

Nguồn: Theo Nguyễn Minh Tuấn ( 2015) [88]

Bảng 1.9 Các sản phẩm màng lọc RO đang có trên thị trường Việt Nam

Nguồn: Theo Nguyễn Minh Tuấn ( 2015) [88]

Bảng 1.10 Chức năng của các lõi lọc trong hệ thống lọc nước RO

Lõi lọc Vật liệu chế tạo Chức năng

Số 1 Sợi PP khe hở Ngăn chặn bẩn, bùn đất, rỉ sét có kích

Trang 29

Số 4

(RO)

Màng mỏng ROkhe hở Φ = 0,1 nm

Loại bỏ hoàn toàn chất rắn, khí hòa tan,kim loại nặng, vi sinh vật, vi khuẩn, chấthữu cơ

Số 5 Công nghệ NANO Loại bỏ hết mùi clor, chất độc, vi sinh vật

Số 6 Bóng gốm Tách các phân tử nước, tăng hoà tan oxy,

ngăn ngừa khô cơ thể, giảm lão hoá

Số 7 Vật liệu kiềm tính Tạo kiềm tính, trung hoà acid dư thừa

trong tế bào, giảm trừ các bệnh ngoài da

Nguồn: Theo Nguyễn Minh Tuấn ( 2015) [88]

+ Bình chứa nước là dụng cụ chứa nước sau khi lọc, trong ĐKDN bìnhnày không cần thiết, có thể dùng các dụng cụ hứng nước chảy trực tiếp vàocan, thùng, chậu đều được

- Về công suất lọc và tiêu thụ năng lượng:

+ Công suất lọc: tùy theo nhu cầu sử dụng, có thể lựa chọn các thiết bị

RO với công suất lọc khác nhau Dưới đây là một số thiết bị lọc nước ROcông suất 20L/h đang có trên thị trường, những thiết bị này phù hợp vớinghiên cứu cải tiến để có thể áp dụng ở Tr.QYf (bảng 1.11)

Bảng 1.11 Một số thiết bị lọc RO công suất 20L/h trên thị trường Việt

Nam

T

T Thiết bị

Kích thước (cm)

Khối lượng (kg)

Tiêu thụ điện (W/h)

Trang 30

Trung bình 34,0 x 45,1x 96,7 24,0 24,0

Nguồn: Theo Nguyễn Minh Tuấn ( 2015) [88]

Kết quả thống kê ở bảng 1.11 cho thấy: Kích thước bên ngoài của cácthiết bị từ 33,0 - 35,0 x 44,0 - 46,5 x 92,0 -100 cm, khối lượng từ 23,8 - 24,5

kg Với kích thước và khối lượng này, thiết bị rất phù hợp với các gia đình hoặc

ở các văn phòng, công sở, nhưng chưa phù hợp với yêu cầu triển khai, đónggói, vận chuyển trong ĐKDN

+ Tiêu thụ năng lượng: thiết bị lọc nước RO tiêu thụ điện rất thấp (15

-35 W/h) với nguồn điện 1 chiều và 2 chiều đều có thể dùng được (A/C 220V,

DC 24V) Đây cũng là ưu điểm khi trang bị ở nơi không có nguồn điện caothế vẫn có thể hoạt động bình thường

Thiết bị lọc RO hiện đang được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực để

tạo nước sạch Do đó, việc trang bị một thiết bị RO cho Tr.QYf với công suất

phù hợp phục vụ pha chế thuốc trong ĐKDN hiện nay là rất cần thiết

đ Tạo nước tinh khiết bằng máy lọc nước Nano

Trong một vài năm gần đây, máy lọc nước Nano đã xuất hiện tại Việt

Nam, chủ yếu là nhập khẩu nguyên chiếc hoặc được sản xuất theo công nghệcủa CHLB Nga Công nghệ Nano có ưu việt: không cần điện năng, không cónước thải

Tuy nhiên muốn thiết bị hoạt động được, cột nước phải có chiều cao tốithiểu 3m tính từ máy

Công nghệ nano được hiểu là ứng dụng khả năng tiệt khuẩn nước của

nano bạc, không phải là khả năng lọc được các chất có kích thước phân tửnano Thiết bị lọc nano chỉ lọc được các chất có kích thước phân tử nhỏ nhất 5mcm, lớn hơn nhiều kích thước của virus, vi khuẩn (0,1 - 1 µm) Đây là điểmkhác biệt về công nghệ giữa màng lọc RO và lọc nano

Máy lọc công nghệ nano không làm mềm nước đối với các nguồn nước

có các muối magnesi và calci hoà tan, dễ tạo cặn calci dưới đáy thiết bị, cản

Trang 31

trở quá trình truyền nhiệt, giảm khả năng sôi của nước, ảnh hưởng hiệu suấtđiều chế nước cất

Máy lọc nước nano cũng không thể lọc được nước mặn, nước lợ thànhnước ngọt như thiết bị RO [88]

Với thực trạng về trang bị, tài liệu hướng dẫn pha chế, ô nhiễm nguồnnước như hiện nay thì không thể triển khai pha chế TTT tại Tr.QYf Do đócần có một nghiên cứu để đề xuất được một danh mục trang bị pha chế, có tàiliệu hướng dẫn triển khai pha chế và đánh giá chất lượng nước cất pha tiêm,TTT glucose 5%, natri clorid 0,9% là một yêu cầu cấp thiết của công tác tiếp

tế quân y trọng giai đoạn hiện nay

1.3 TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHA CHẾ THUỐC TIÊM TRUYỀN TRONG ĐIỀU KIỆN DÃ NGOẠI

1.3.1 Tiêu chuẩn chất lượng thuốc tiêm truyền glucose, natri clorid

1.3.1.1 Tính chất

- Dung dịch (DD) glucose: trong, không màu hoặc màu hơi vàng nhưng

không đậm hơn màu vàng nhạt [89], [90], [91]

- DD natri clorid: trong, không màu [89], [90], [91].

Có thể dùng mắt thường để quan sát tính chất của dung dịch glucose vàdung dịch natri clorid dưới ánh sáng tự nhiên

để đảm bảo thời gian và nhiệt độ và cần phải nghiên cứu phương pháp hóa học

để kiểm tra giới hạn 5-HMF trong ĐKDN

Trang 32

1.3.1.3 Giới hạn pH

DD glucose, giới hạn pH từ 3,5 - 6,5 [89], [90], [91].

DD natri clorid, giới hạn pH từ 4,5 - 7,0 [89], [90], [91].

Vì giới hạn pH của DD có khoảng dao động khá lớn, trong ĐKDNthường kiểm tra pH của DD natri clorid, glucose bằng giấy đo pH vạn nănghoặc thiết bị đo pH tự động cầm tay

1.3.1.4 Độ trong của dung dịch

TTT natri clorid, glucose đẳng trương phải trong suốt và không có cáctiểu phân không tan khi kiểm tra bằng mắt thường (phương pháp A) với đènchiếu sáng đạt độ rọi theo quy định của DĐVN [89], [90], [91]

Trong ĐKDN có thể kiểm tra độ trong của TTT natri clorid, glucose đẳngtrương bằng đèn soi dùng nguồn sáng pin hoặc ắc quy (hiệu điện thế 6 v) [3],[63]

Như vậy TTT natri clorid, glucose pha chế tại Tr.QYf có thể kiểm tra chấtlượng ngay tại chỗ các chỉ tiêu là tính chất, độ trong, pH, nồng độ DD Với các

Trang 33

chỉ tiêu không thể kiểm tra được như giới hạn nội độc tố, 5- HMF trong TTT chỉ

có thể kiểm soát được nếu nhân viên pha chế chủ động ngăn ngừa khả năngnhiễm khuẩn ở tất cả các khâu của quy trình pha chế, nắm vững và thực hiệnđúng quy trình kỹ thuật, trang bị có khả năng hạn chế tối đa vi khuẩn xâm nhậpvào thuốc [3]

1.3.2 Các phương pháp sản xuất thuốc tiêm truyền

1.3.2.1 Phương pháp sản xuất sau đó tiệt khuẩn

Hình 1.2 Sơ đồ quy trình pha chế thuốc tiêm truyền tiệt

khuẩn bằng nhiệt ẩm

* Nguồn: theo Kỹ thuật bào chế và sinh dược học các dạng thuốc (2013) [89]

PP pha chế TTT có tiệt khuẩn bằng nhiệt ẩm đã được áp dụng ở hầu hếtcác cơ sở pha chế Tuy nhiên trong ĐKDN rất khó khống chế các yếu tố bấtlợi, nên về nguyên tắc, người pha chế phải tuân thủ các bước của quy trìnhpha chế một cách chặt chẽ, không được coi nhẹ khâu nào Ví dụ: Để đảm bảohạn chế nhiễm khuẩn thành phẩm thuốc thì phòng pha chế chỉ được tiệt khuẩn

30 phút trước khi pha chế bằng cloramin, ethanol hoặc đèn UV, nhân viên trực

Đóng dung dịch, hàn hoặc nắp kín

Phòng pha chế vô trùng

Đóng dung dịch, hàn hoặc nắp kín

Pha dung dịch

Lọc dung dịch

Glucose/natri clorid

pha tiêm, nước cất

Bao bì vô khuẩn

Trang 34

tiếp pha chế phải vệ sinh vô khuẩn, phải thực hiện chính xác, nhanh gọn quátrình hòa tan, lọc, đóng chai để hạn chế thuốc tiếp xúc trực tiếp với môi trườngkhông khí Để có nước cất đạt chất lượng, ngoài việc kiểm tra các chỉ tiêu vật

lý, hóa học, cần có các dụng cụ chứa vừa giữ nhiệt, vừa ngăn bụi, ngăn vikhuẩn xâm nhập (bình có 2 lớp vỏ) và thời gian điều chế nước cất phù hợp để

có đủ lượng nước cất cần cho một lần pha chế, kéo dài thời gian điều chế hoặcsau khi cất đủ nước cất mà không pha ngay sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâmnhập vào nước cất và thành phẩm thuốc [3]

1.3.2.2 Phương pháp sản xuất vô khuẩn

Quá trình sản xuất vô khuẩn được thực hiện trong môi trường vô khuẩn,

sử dụng các nguyên liệu và thiết bị vô khuẩn, thường qua các bước sau:

+ Sử dụng thiết bị vô khuẩn

+ Dụng cụ chứa vô khuẩn

+ Pha chế dung dịch

+ Lọc loại vi khuẩn trong dung dịch

+ Nạp dung dịch vào bao bì vô trùng trong điều kiện vô khuẩn

+ Tiếp tục tiệt khuẩn nếu có thể [91]

1.3.2.3 Thực hành tốt sản xuất và đảm bảo chất lượng thuốc

Thực hành tốt sản xuất (GMP) là một phần của đảm bảo chất lượng,giúp đảm bảo rằng sản phẩm được sản xuất một cách đồng nhất và được kiểmsoát theo đúng các tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với mục đích sử dụng củachúng cũng như theo đúng các quy định của giấy phép lưu hành [92]

Hiện nay các TTT sản xuất tại các nhà máy được phẩm đạt tiêu chuẩnGMP - WHO với các điều kiện về thiết kế dây chuyền một chiều; điều kiệnsản xuất trong môi trường vô khuẩn cấp độ A, B, C, D tùy thuộc từng dạngthuốc; các tài liệu hướng dẫn sản xuất phải được biên soạn theo các qui trìnhthao tác chuẩn (SOP)…[92] để đảm bảo chất lượng sản phẩm

Những yếu tố cơ bản trong quản lý chất lượng gồm có:

- Một cơ sở hạ tầng hay một hệ thống chất lượng phù hợp, bao gồm cơcấu tổ chức, các quy trình thao tác, quy trình chế biến và nguồn lực [92]

- Các hoạt động có tính hệ thống cần thiết để đảm bảo có đủ tin cậy

Trang 35

rằng một sản phẩm sẽ đáp ứng các yêu cầu nhất định về chất lượng [92].

Đây là các quy định chuẩn mực, khó có thể áp dụng tất cả các tiêuchuẩn nếu phải tiến hành pha chế trong ĐKDN, nhưng phải nghiên cứu để cóthể áp dụng cho các cơ sở y tế trong và ngoài quân đội khi triển khai pha chếTTT trong điều kiện chiến tranh, nhất là việc đảm bảo vô khuẩn cho thuốctrong quá trình pha chế, ví dụ thời gian 1 lần pha chế kể từ khi điều chế nướccất đến khi hấp tiệt khuẩn chỉ tiến hành trong khoảng thời gian 3 h; nước cấtsau khi điều chế đủ phải tiến hành pha ngay; sau khi đóng chai, đậy nút xongphải hấp tiệt khuẩn ngay

Đây cũng là những yêu cầu đặt ra để đề tài định hướng nghiên cứu xâydựng danh mục trang bị, đóng gói trang bị, nguyên liệu pha chế cho Tr.QYf ởdạng cơ số hóa; nghiên cứu biên soạn tài liệu hướng dẫn pha chế cho nhânviên pha chế thực hiện được tất cả các công đoạn trong quy trình pha chế,đánh giá chất lượng nước cất và TTT đảm bảo chính xác với các phương phápthường quy, dễ triển khai về mặt kỹ thuật trong ĐKDN

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Thăm dò xin ý kiến các cán bộ, nhân viên đang công tác tại các đơn vịtrong toàn quân và thông qua đợt tập huấn PCDN toàn quân năm 2014

Trang 36

- Nguồn nước tự nhiên tại một số khu vực thuộc Trung tâm huấn luyệnYHQS HVQY (Lương Sơn - Hòa Bình), quận Hà Đông, quận Thanh Xuân(Hà Nội) và f 316 Quân khu 2 (Đoan Hùng - Phú Thọ) (bảng 2.1)

Bảng 2.1 Các nguồn nước được sử dụng trong nghiên cứu

Mẫu

nước

3 Giếng dã ngoại 1 Lương Sơn - Hòa Bình M 3

5 Giếng dã ngoại 2 Lương Sơn - Hòa Bình M 5

10 Nước ao bơi sư đoàn 316 Đoan Hùng - Phú Thọ M 10

11 Ao thả cá sư đoàn 316 Đoan Hùng - Phú Thọ M 11

12 Nước bể bệnh xá sư đoàn 316 Đoan Hùng - Phú Thọ M 12

17 Nước hồ thủy lợi Đoan Hùng - Phú Thọ M 17

18 Nước giếng nhà dân Đoan Hùng - Phú Thọ M 18

19 Nước mương thủy lợi Đoan Hùng - Phú Thọ M 19

Trong số 21 mẫu nước nghiên cứu, có 3 mẫu lấy tại khu vực Hà Đông

-Hà Nội; 12 mẫu lấy tại f 316 - QK2 và xung quanh khu vực đóng quân của sưđoàn tại huyện Đoan Hùng - Phú Thọ, 6 mẫu lấy tại Trung tâm huấn luyệnYHQS HVQY (Lương Sơn - Hòa Bình)

Trang 37

- 25 mẫu nước cất, 19 mẫu TTT glucose 5%, 12 mẫu TTT natri clorid0,9% pha chế trong các đợt diễn tập tại Trung tâm huấn luyện YHQS HVQY

và f316 Quân khu 2

2.1.2 Chất liệu nghiên cứu

- Phèn chua, thuốc tím, thuốc thử, chỉ thị màu đạt tiêu chuẩn thínghiệm; glucose, natri clorid đạt tiêu chuẩn pha tiêm do Khoa Dược Bệnhviện Quân y 103 cung cấp; chai lọ, nút cao su, nút nhôm đạt tiêu chuẩn y tế

- Môi trường nuôi cấy vi khuẩn đạt tiêu chuẩn DĐVN IV

- Nguồn nước: các nguồn nước được lấy tại các khu vực có diễn tậptriển khai pha chế Kỹ thuật lấy mẫu nước theo tài liệu “Thường quy kỹ thuật”của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường BYT (bảng 2.1) [93]

2.1.3 Thiết bị nghiên cứu

- Máy quang phổ UV - Vis Jasco V-530 (Nhật Bản)

- Phân cực kế KrÜss optronic P1000 (Đức), khoảng đo 0 -1800, độ chia

10, độ chính xác ± 0,50, nguồn sáng LEP 589 mm

- Máy đo pH vạn năng HI 2550 (Mỹ), giới hạn đo: 0 -14; độ chính xác

± 0,002 với DD chuẩn pH là 4,01; 7,41 và 10,01

- Cân phân tích điện tử Mettler AE240 (Thụy Sĩ), độ chính xác ± 10-4g

- Thiết bị đo độ đục Nephel (Đức), có độ chính xác ± 0,01 NTU

- Khúc xạ kế đo đường cầm tay Milwaukee MR -32 (Roumani), khoảng

đo 0-32%; độ phân giải 0,1%; độ chính xác ± 0,2%

- Khúc xạ kế đo muối cầm tay Milwaukee MR -100 (Roumani), khoảng

đo 0-10%; độ phân giải 0,1%; độ chính xác ± 0,01%

- Giấy chỉ thị màu vạn năng pH - Indikatorpapier pH 1- 14 (Đức)

- Màng lọc MT sản xuất tại Viện Kiểm nghiệm, Nghiên cứu Dược vàTrang thiết bị y tế quân đội, đóng trong túi đã vô khuẩn, dán kín [62]: Chấtliệu là hỗn hợp polyeste và polyethylen, độ dày 3,5 ± 0,2 cm; đường kínhmàng 12 cm; kích thước lỗ màng lọc từ 0,1 - 0,5 mcm:

Trang 38

- Chai thủy tinh 500 ML đã dùng đựng thuốc tiêm truyền Vitaplex, nútcao su, nút nhôm do BVQY 103 đặt hàng đạt tiêu chuẩn bao bì cấp 1 dùngđựng thuốc.

2.1.4 Địa điểm nghiên cứu

- Viện Đào tạo Dược; Trung tâm huấn luyện YHQS HVQY

- Khoa Vệ sinh phòng dịch - Viện Y học dự phòng Quân đội (CQY)

- Viện Kiểm nghiệm, Nghiên cứu Dược và Trang thiết bị y tế Quân đội

- Tr.QYf 316 - Quân khu 2 và một số địa điểm xung quanh vị trí đóngquân của sư đoàn

2.1.5 Thời gian nghiên cứu

- Giai đoạn 1: Tiến hành khảo sát thu thập số liệu, nghiên cứu các tàiliệu quân sự, hậu cần, quân y có liên quan Xây dựng danh mục và đóng góitrang bị pha chế, chế tạo xiết nút nhôm cầm tay, cải tiến máy lọc nước RO,biên soạn tài liệu Hướng dẫn pha chế TTT trong ĐKDN

- Giai đoạn 2: Tổ chức triển khai pha chế và đánh giá chất lượng TTTnatri clorid 0,9%, glucose 5% tại Tr.QYf trong các cuộc diễn tập

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Tham khảo tài liệu về nhu

cầu thuốc tiêm truyền

và hoạt động pha chế

trong các cuộc chiến

tranh trước đây

Phân tích thực trạng trang bị pha chế, tài liệu hướng dẫn, nguồn nước

Sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu

Trang 39

Xây dựng danh mục trang bị pha chế, biên soạn tài liệu hướng dẫn quy trình pha chế thuốc tiêm truyền tại trạm quân y sư đoàn trong điều kiện dã ngoại

Triển khai pha chế và đánh giá chất lượng nước cất, thuốc tiêm truyền trong điều kiện dã ngoại

Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt trình tự nghiên cứu của đề tài

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.2.1 Thống kê phân tích

Tiến hành thu thập và phân tích các tài liệu và số liệu liên quan đến tỷ

lệ thương binh, nhu cầu TTT và khả năng pha chế TTT trong các cuộc chiếntranh trước đây, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ Quốc phòng vàcủa ngành Quân y về công tác PCDN Từ đó thấy được tính cấp thiết của hoạtđộng pha chế TTT tại Tr.QYf trong điều kiện hiện nay

Phân tích thực trạng trang bị pha chế, tài liệu hướng dẫn quy trình phachế TTT trong ĐKDN, thực trạng các nguồn nước tự nhiên Từ đó xác địnhcác nội dung cần nghiên cứu

2.2.2.2 Phương pháp xin ý kiến trả lời

Lập phiếu thăm dò xin ý kiến các cán bộ, nhân viên tham gia hội nghịtập huấn pha chế dã ngoại toàn quân Phiếu thăm dò gồm 2 phần:

- Phần 1 Các thông tin chung của các đối tượng được xin ý kiến: họ vàtên, trình độ chuyên môn, nơi đang công tác, chức vụ đang đảm nhiệm

Thu thập và xử lý kết quả

Trang 40

- Phần 2 Các câu hỏi liên quan đến tài liệu hướng dẫn pha chế TTT vàtrang bị pha chế TTT trong ĐKDN Trong mỗi câu hỏi đều có các phương ántrả lời sẵn để người được thăm dò ý kiến cho biết ý kiến của mình về vấn đề đó.

2.2.2.3 Phương pháp lựa chọn đóng gói cơ số và biên soạn tài liệu

Hoàn thiện xây dựng cơ số pha chế TTT tại Tr.QYf bao gồm nghiêncứu đưa ra danh mục các nhóm trang bị, số lượng trang bị trong mỗi nhóm,đóng gói cơ số theo nguyên tắc phù hợp với khả năng triển khai, năng suấtpha chế và yêu cầu chất lượng TTT trong ĐKDN

Biên soạn tài liệu Hướng dẫn quy trình pha chế TTT tại Tr.QYf trongĐKDN

2.2.2.4 Phương pháp thực nghiệm

Triển khai pha chế và đánh giá chất lượng nước cất, TTT glucose 5%

và natri clorid 0,9% pha chế trong các cuộc diễn tập YHQS triển khai Tr.QYftrong chiến đấu tiến công và phòng ngự bằng trang bị pha chế và tài liệuhướng dẫn

2.2.3 Nội dung nghiên cứu

2.2.3.1 Xây dựng cơ số trang bị pha chế thuốc tiêm truyền tại Trạm quân y

sư đoàn

- Cơ sở đề xuất: Dựa trên danh mục trang bị pha chế hiện có của CQY,

nghiên cứu bổ sung các dụng cụ còn thiếu, loại bỏ các trang bị không cầnthiết hoặc ít có hiệu quả; đảm bảo khả năng triển khai pha chế và đánh giáchất lượng TTT trong ĐKDN; nghiên cứu cách đóng gói trang bị pha chế theocác vị trí triển khai các hoạt động chuyên môn, có kích thước, khối lượng cơ

số gọn nhẹ

- Nội dung đề xuất:

+ Xây dựng danh mục cơ số pha chế gồm 4 nhóm: các trang bị dụng cụbào chế chuyên sâu để thực hiện các kỹ thuật trong pha chế; hóa chất và dụng

cụ kiểm nghiệm để thực hiện kiểm nghiệm nước cất và chất lượng TTT;

Ngày đăng: 10/01/2019, 09:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w