1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp nhận thơ văn nguyễn công trứ qua nguồn sử liệu và giai thoại

101 242 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai về cơ sở thực tiễn: Với tính hình tư liệu hiện nay, có thể khẳng địnhrằng trong số các tác giả văn học trung đại, Nguyễn Công Trứ là tác giả mà tiểu sửđược phản ánh một cách phon

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

LÊ THỊ PHƯƠNG LAN

TIẾP NHẬN THƠ VĂN NGUYỄN CÔNG TRỨ QUA NGUỒN

SỬ LIỆU VÀ GIAI THOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ HỌC VIỆT NAM

Thái Nguyên – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

LÊ THỊ PHƯƠNG LAN

TIẾP NHẬN THƠ VĂN NGUYỄN CÔNG TRỨ QUA NGUỒN

SỬ LIỆU VÀ GIAI THOẠI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Trần Nho Thìn

Thái Nguyên – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.

Thái Nguyên, tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Thị Phương Lan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm

ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Văn học – Xã hội Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập.

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn Giáo sư, Tiến sĩ Trần Nho Thìn đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.

Thái Nguyên, tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Thị Phương Lan

Trang 5

Nguyễn Công Trứ (1778-1858) là nhân vật kiệt xuất của Việt Nam

thời kỳ cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX

Nguyễn Công Trứ tên tục là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn, sinh ngày 01 tháng 11 năm Mậu Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ

39, tức ngày 19 tháng 12 năm 1778; người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Cuộc đời Nguyễn Công Trứ là cuộc đời của một người say mê hoạt động Trong suốt hành trình sống, nhà thơ luôn canh cánh bên lòng một tâm niệm:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”

Trang 6

Đền thờ Nguyễn Công Trứ tại Nghi Xuân – Hà Tĩnh

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

1.1 Ý nghĩa khoa học 1

1.2 Ý nghĩa thực tiễn 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 13

3.1 Đối tượng nghiên cứu 13

3.2 Mục tiêu nghiên cứu 14

3.3 Những vấn đề cơ bản triển khai 14

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 14

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 14

4.2 Phương pháp nghiên cứu 14

5 Phạm vi nghiên cứu 15

6 Cấu trúc của luận văn 15

7 Đóng góp của luận văn 16

NỘI DUNG 17

CHƯƠNG 1: CHÍ NAM NHI CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ TRONG THƠ VĂN VÀ TRONG NGUỒN SỬ LIỆU, GIAI THOẠI 17

1.1 Chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ trong thơ văn 17

1.1.1 Khảo sát ngôn từ về Chí nam nhi trong thơ, hát nói của Nguyễn Công Trứ 17

1.1.2 Mục tiêu phục vụ của kẻ sĩ Nguyễn Công Trứ 22

1.2 Người nam nhi - Nguyễn Công Trứ trong cuộc đời thực qua nguồn sử liệu, giai thoại 27

1.2.1 Hoạt động thực tiễn của người anh hùng Nguyễn Công Trứ 27

Trang 8

1.2.2 Nguyễn Công Trứ với vai trò một nhà quân sự 29

1.2.3 Nguyễn Công Trứ với vai trò một nhà kinh tế 32

1.2.4 Nguyễn Công Trứ với vai trò một nhà chính trị 35

1.3 Chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ trong nguồn giai thoại 39

CHƯƠNG 2: NHÀ NHO TÀI TỬ NGUYỄN CÔNG TRỨ TRONG THƠ VĂN VÀ TRONG NGUỒN SỬ LIỆU, GIAI THOẠI 43

2.1 Lý luận về nhà nho tài tử và chất tài tử trong thơ văn Nguyễn Công Trứ 43

2.1.1 Lý luận về nhà nho tài tử 43

2.1.2 Chất tài tử trong thơ văn Nguyễn Công Trứ 47

2.2 Chất tài tử của Nguyễn Công Trứ trong cuộc đời thực qua nguồn sử liệu, giai thoại 60

2.2.1 Nguyễn Công Trứ - nhà nho đa tài 60

2.2.2 Nguyễn Công Trứ - nhà nho đa tình 62

CHƯƠNG 3: CẢM THỨC VỀ NHÂN TÌNH THẾ THÁI CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ TRONG THƠ VĂN VÀ TRONG NGUỒN SỬ LIỆU, GIAI THOẠI 68

3.1 Cảm thức về nhân tình thế thái của Nguyễn Công Trứ trong thơ văn 68

3.2 Cảm thức về nhân tình thế thái của Nguyễn Công Trứ qua nguồn sử liệu 75

3.2.1 Sự ghen ghét, đố kỵ với tài năng của giới quan lại 75

3.2.2 Đường lối trị nước: ban ân-gia uy của vương triều Nguyễn 76

3.3 Cảm thức về nhân tình thế thái của Nguyễn Công Trứ trong giai thoại 81

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 9

hệ xã hội, nghề nghiệp…), là hoàn cảnh lịch sử, xã hội …Hai loại nhân tố này cóquan hệ qua lại biện chứng không thể coi nhẹ.

Lịch sử nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam trong khoảng 50 năm trở lạiđây chứng kiến sự dao động quan điểm phê bình giữa hai cực nói trên Trên lậptrường của chủ nghĩa duy vật, coi hiện thực khách quan có vai trò quyết định đếnsáng tác, một thời kỳ dài cho đến mãi những năm 1980, các công trình nghiên cứuthường bắt đầu bằng việc trình bày hoàn cảnh lịch sử xã hội, nhất là đấu tranh giaicấp như bối cảnh trong đó tác phẩm ra đời Nghĩa là sự nhấn mạnh đặt vào các yếu

tố ngoại văn bản Nếu nhà nghiên cứu nào chỉ viết thuần túy về ngôn từ, kết cấu,hình tượng mà không đề cập đến giá trị phản ánh hiện thực của tác phẩm thì nhànghiên cứu đó bị phê phán là kẻ chạy theo hình thức

Ở một thái cực khác, trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, thi pháp học xuấthiện và nhanh chóng chiếm địa vị quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình ởViệt Nam Thi pháp học thực chất có nhiều điểm gặp gỡ với chủ nghĩa hình thức,chỉ tập trung sự quan tâm vào các yếu tố nội văn bản, tức là đóng khung sự chú ývào văn bản, gạt bỏ các yếu tố ngoại văn bản như tiểu sử tác giả, hoàn cảnh lịch sử

xã hội, thậm chí nhà nghiên cứu R Barthes tuyên bố “tác giả đã chết” Tuyên bố nàyđồng nghĩa với việc tuyệt đối hóa vai trò của người đọc Nghiên cứu văn bản dựatrên các yếu tố nội văn bản là hướng nghiên cứu đi rất sâu vào ngôn từ, hình tượng,

Trang 10

kết cấu mà xem nhẹ thậm chí bỏ qua các yếu tố ngoài văn bản Hướng nghiên cứunày xác định: Nhiệm vụ chủ yếu của nghiên cứu giảng dạy văn học là nghiên cứungôn ngữ của văn bản và cách tổ chức văn bản Thi pháp học nhấn mạnh đến “thếgiới nghệ thuật” của văn bản, tức là bản thân cấu trúc khép kín của văn bản, khôngcần liên hệ đến thế giới khách quan bên ngoài văn bản Đến với thế giới nghệ thuậtcủa văn bản, phân tích ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, cấu trúc văn bản, thể loại…tức là các yếu tố nằm trong văn bản (nội văn bản) Vì vậy, các nhà nghiên cứu thipháp thường không quan tâm đến các yếu tố bên ngoài văn bản (bối cảnh lịch sử,

tiểu sử tác giả, thân thế-sự nghiệp bị coi nhẹ) Nếu đọc Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi

pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử, dễ thấy nhà nghiên cứu hầu như không dành

cho hoàn cảnh lịch sử xã hội hay tiểu sử tác giả một địa vị nào Trong các công trìnhtheo thi pháp học, hệ thống vấn đề thường là “quan niệm nghệ thuật về con người”(tức là quan niệm về con người trong văn bản tác phẩm), “không gian nghệ thuật”,

“thời gian nghệ thuật” (tức không gian và thời gian trong tác phẩm) Các yếu tố củađời sống hiện thực xã hội không có vai trò gì trong nghiên cứu thi pháp

Một lý luận khác trong thời gian gần đây được chú ý ở Việt Nam cũng cóảnh hưởng sâu sắc đến kết quả tiếp nhận văn bản, đó là lý thuyết tiếp nhận Ngườiđọc với tầm đón đợi của riêng mình có thể và có quyền tạo nghĩa cho văn bản Tácgiả không có vai trò gì, không có quyền gì đối với nghĩa của văn bản tác phẩm Lýthuyết tiếp nhận có nhiều điểm gặp gỡ với chủ nghĩa hình thức và thi pháp học vìđều không coi trọng tác giả

Hai khuynh hướng trên thực chất là hai thái cực có xu hướng tuyệt đối hóahoặc là các yếu tố ngoài văn bản, tuyệt đối hóa tiểu sử tác giả, tuyệt đối hóa hoàncảnh xã hội, lịch sử hoặc là tuyệt đối hóa các yếu tố nội văn bản Một phương phápkhoa học tiếp cận văn bản cần dựa vào cả hai yếu tố một cách cân bằng

Như vậy, việc nhấn mạnh vai trò của người đọc với “tầm đón đợi” là đúngnhưng nếu chỉ coi trọng vai trò của người đọc, vai trò của văn bản mà phủ nhận vaitrò của tác giả - người tạo ra văn bản thì e rằng phiến diện, cực đoan Tác giả cũng

có những chân trời chờ đợi riêng tức là có những quan niệm đạo đức và thẩm mỹ

Trang 11

riêng Quá trình sáng tác là quá trình chuyển hóa những tư tưởng, những quan niệmthẩm mỹ, cách nhìn nhận về con người, cuộc đời của tác giả vào tác phẩm văn học.Nếu tác phẩm sống mãi với thời gian thì tác giả cũng không bao giờ chết Tác giả làmột trong những yếu tố quan trọng của văn học Chúng ta không thể xem tác giảvăn bản là con số không được Mọi sự cắt nghĩa đều bị cái được cắt nghĩa qui định:

Đó là những yếu tố nội văn bản như ngôn từ, thể loại, cấu trúc, bộ phận,chỉnh thể

và những yêu tố ngoại văn bản như thân thế, cuộc đời, giai thoại Việc đọc, lĩnhhội một tác phẩm văn học chỉ đạt đến mức lý tưởng nhất khi và chỉ khi chúng ta biếthòa hợp giữa chân trời chờ đợi của người đọc và của tác giả nghĩa là người đọc tiếpcận đúng ý đồ sáng tác và tư tưởng tác giả muốn gửi gắm

Mặt khác, những yếu tố ngoài văn bản như tiểu sử của tác giả (cuộc đời hànhtrạng, lời nói, cử chỉ…), hoàn cảnh xã hội, chính trị, kinh tế văn hóa cũng đóng mộtvai trò quan trọng trong quá trình tiếp nhận văn bản Mỗi một sự kiện văn học đềunảy sinh, tồn tại, phát triển trên một cơ sở kinh tế xã hội nhất định Khi chúng tatiến hành nghiên cứu tìm hiểu một xu hướng, một trào lưu hay cụ thể một tác giả,một tác phẩm văn học thì trước tiên phải gắn với hoàn cảnh lịch sử mà nó phát sinh

và tồn tại, nắm được những nét chính trong tiểu sử của tác giả thì mới có nhữngnhận xét, đánh giá đúng về ẩn ý của tác phẩm Nói cách khác tác phẩm là một hiệntượng xã hội, một hình thái văn hóa của xã hội cũng ra đời, phát triển tồn tại trongmột hoàn cảnh xã hội nhất định, mang dấu ấn xã hội lịch sử mà nó nảy sinh, pháttriển Tác giả cũng là một con người cụ thể của xã hội, của thời đại nhất định là sảnphẩm của xã hội, thời đại đó chính vì vậy cũng bị xã hội và thời đại đó quy định.Như vậy, muốn hiểu và cảm thụ một tác phẩm văn học đúng, đòi hỏi phải có quanđiểm lịch sử đúng đắn Bởi việc tìm hiểu cụ thể đó góp phần cắt nghĩa được chínhxác giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm Ví như, để cắt nghĩa nhữngbài thơ của các thiền sư - những bài thơ được sáng tác trong giai đoạn cuối đời(trong lúc hấp hối) – đó là lời chiêm nghiệm trong cả cuộc đời của một con ngườichúng ta cần tìm hiểu về thời đại, luận giải những vấn đề chính trị, xã hội ảnhhưởng trực tiếp đến tâm sinh lý con người đặc biệt là cuộc sống cá nhân của cácthiền sư điều đó góp phần luận giải được sâu sắc, giá trị, ý nghĩa của các bài thơ

Trang 12

tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh thời đại, đặc biệt cần lưu ý tới các tài liệu viết

về thân thế, cuộc đời Nguyễn Công Trứ

Hiện nay, xu thế chung trong nghiên cứu, phê bình văn học là sự triển khainghiên cứu có kết hợp cả hai yếu tố trên Giới nghiên cứu, phê bình đã nhận thứcđược vai trò quan trọng của cả các yếu tố nội văn bản và ngoại văn bản Bất cứ mộtsáng tác văn học nào cũng chịu sự chi phối của đời sống hiện thực, chịu sự chi phốicủa bản thân tác giả, người sống trong thế giới hiện thực, trong các mối quan hệ xãhội và tìm thấy cảm hứng sáng tạo từ cuộc sống xã hội hiện thực Đồng thời, tácphẩm văn học là một thế giới riêng, sản phẩm của tư duy nghệ thuật chủ quan riêng,

có cuộc sống riêng, với từ ngữ, hình tượng riêng Luận văn của chúng tôi thể hiệnmong muốn kết hợp hài hòa giữa nghiên cứu hình thức và nghiên cứu nội dung

Thứ hai về cơ sở thực tiễn: Với tính hình tư liệu hiện nay, có thể khẳng địnhrằng trong số các tác giả văn học trung đại, Nguyễn Công Trứ là tác giả mà tiểu sửđược phản ánh một cách phong phú, đa dạng, sống động nhất qua các nguồn sử liệu

và giai thoại văn học Nguồn sử liệu và giai thoại này đã được giới nghiên cứu vậndụng để giải thích thơ văn Nguyễn Công Trứ có hiệu quả Tuy nhiên, gần đây, nhànghiên cứu Đinh Văn Niêm, nối tiếp theo nhà nghiên cứu Mai Khắc Ứng, đã thống

kê, tái hiện, sưu tầm đầy đủ nhất so với trước đây các sự kiện lịch sử liên quan đếnNguyễn Công Trứ Kết quả nghiên cứu, sưu tầm này cho phép chúng ta có cơ sở đểhiểu sâu sắc hơn sáng tác thơ văn –gồm thơ hát nói và thơ Nôm Đường luật củaNguyễn Công Trứ Chưa bao giờ, những tri thức về con người, cuộc đời, hànhtrạng, về các mối quan hệ xã hội và tình hình xã hội của Nguyễn Công Trứ lại đượcphát hiện đầy đủ, phong phú như hiện nay Những phát hiện này tạo điều kiện thuậnlợi cho việc hiểu biết toàn diện, cụ thể sáng tác thơ văn của Nguyễn Công Trứ

Trang 13

Thứ ba về đặc trưng văn học: Chúng ta đều biết rằng đặc trưng của văn học

là tính hình tượng Đối với thể loại thơ, cùng với tính hình tượng, chúng ta phải chú

ý đến tính ước lệ của ngôn từ, đến khuôn khổ thể loại, vần nhịp v.v Một bài thơthường tràn ngập các hình tượng nghệ thuật, các ngôn từ ở dạng khái niệm, các biểutượng Tính hình tượng chính là yếu tố quan trọng số một để phân biệt một vănbản văn học có tính văn chương và một văn bản phi văn chương Vì vậy các tácphẩm văn học đều dùng hình tượng để biểu đạt dụng ý tư tưởng của nhà văn Tínhhình tượng có tính chất cụ thể, cảm tính nhưng trong văn học, tính hình tượng cònliên quan đến vấn đề mẫu gốc (sơ nguyên tượng), đến ký hiệu, biểu tượng nghệthuật Kết hợp với các phương tiện nghệ thuật thơ khác như vần, nhịp, âm điệu …,bài thơ đem lại hứng thú thẩm mỹ cho độc giả Người đọc cảm nhận, chia sẻ, xúcdộng với tâm sự, cảm xúc, chí khí, khát vọng của tác giả thông qua các ngôn từ,biểu tượng, hình ảnh, vần điệu của bài thơ Tuy nhiên cũng phải nhận thấy rằng, vềphương diện nhận thức, không dễ dàng để hiểu một cách cụ thể, chi tiết về cuộc đời,

sự nghiệp, hành trạng của tác giả Vẫn biết rằng cái tôi là một điển hình nghệ thuật

và không thể đồng nhất cái tôi nghệ thuật trong bài thơ với cái tôi tác giả ngoài đời.Song nếu ta biết con người ngoài đời của tác giả với các sự kiện đời sống cụ thể,sinh động thì các tri thức ấy ít nhiều có ích để hiểu cái tôi nghệ thuật trong tác phẩmthi ca Một thi sĩ có những bài thơ tình say đắm, bộc lộ một tình yêu mãnh liệtnhưng ngoài đời, lại không có vợ, không có một người yêu theo nghĩa một ngườiphụ nữ đích thực Đến khi các thiên hồi ký kể về cuộc đời tình ái trong đời thực củathi sĩ xuất hiện, chúng ta chơt hiểu nỗi buồn, sự tiếc nuối, những âm điệu đau khổ

ẩn sau những câu thơ ca ngợi tình yêu mãnh liệt kia Thơ và đời bổ sung cho nhau

Trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ, chúng ta thường gặp những biểu

tượng về không gian như “ trời đất” (Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc, Làm trai

đứng ở trong trời đất ), “núi sông” (phải có danh gì với núi sông) tạo ấn tượng về

không gian vũ trụ bao la cao rộng , môi trường hành động của kẻ sĩ Giới nghiêncứu gọi đó là môi trường của con người vũ trụ Chúng ta cũng gặp những khái niệm

tự họa của nhà nho trung đại như “nam nhi”, “nợ công danh”, “chí tang bồng” Đây

là những khái niệm quen thuộc trong thơ nhà nho, có thể bắt gặp từ thời Trần (ví dụ

Trang 14

bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão) đến đầu thế kỷ XX (ví dụ bài Xuất dương lưu

biệt của Phan Bội Châu) Những từ ngữ, khái niệm đó cấp cho người đọc thế kỷ XX

cảm nhận về những trang nam nhi sinh ra có sứ mệnh cao quý đối với xã hội nhânsinh, điều mà giới nghiên cứu gọi bằng khái niệm “con người tự nhiệm” Nhưngnếu chỉ đọc thơ, người đọc hiện đại rất khó tưởng tượng con người tự nhiệm đó làmnhững việc gì, xử lý các quan hệ xã hội ra sao, sống và chết như thế nào … Hầunhư rất hiếm gặp hay không gặp những từ ngữ diễn đạt cụ thể môi trường xã hội,làng quê, con người Việt Nam trong các bài thơ và hát nói của Nguyễn Công Trứ Nếu chúng ta chỉ căn cứ vào những từ, cụm từ mang tính biểu tượng đó cũng khôngthể hiểu thấu suốt những tư tưởng, cảm xúc của người anh hùng dọc ngang, ngangdọc Nguyễn Công Trứ Trong khi đó những lời nói, tư tưởng, hành động việc làm

cụ thể ngoài đời lại ngồn ngộn chất sống, là những yếu tố cụ thể, trực quan sinhđộng để chúng ta hiểu được thế giới quan, nhân sinh quan của con người phức tạp -Nguyễn Công Trứ Nhưng nhờ có các sự kiện lịch sử phản ánh, ghi chép nhữnghoạt động cụ thể của Nguyễn Công Trứ trong cuộc đời hoạt động không biết mệtmỏi của ông, chúng ta hiểu được, một cách cụ thể, sinh động đằng sau những ngôn

từ không gian ước lệ như “trời đất”, “nam bắc đông tây”, “bốn bể” đó là những địadanh trải dài trên đất nước: Hải Dương, Quảng Yên, Cao Bằng, An Giang, QuảngNgãi, Tiền Hải, Kim Sơn,… những nơi rất xa nhau về khoảng cách địa lý trên đấtnước ta, mà Nguyễn Công Trứ thực tế đã có mặt để dẹp loạn, tiễu phỉ, lãnh đạonhân dân khai hoang, lập làng lập ấp Nhờ các ghi chép của lịch sử đó, chúng tanhận thấy đằng sau các ngôn từ ước lệ tượng trưng là tâm huyết, là chí khí, là nghịlực, là hoài bão thực sự vì dân vì nước Yếu tố ngoài văn bản hỗ trợ tiếp nhận vănbản là như vậy

Thiết nghĩ để cắt nghĩa rõ ràng, thấu đáo một tác phẩm văn học đòi hỏi đốitượng tiếp nhận phải có kiến thức, kỹ năng, thái độ khoa học, lôgic Nói cách khác:

để quá trình tiếp nhận văn học đi đúng hướng, không bị lệch lạc phiến diện chúng tacần có đầy đủ kiến thức kỹ năng phân tích, bình giá về cấu trúc nội văn bản vànhững hiểu biết về những yếu tố ngoại văn bản (các yếu tố về gia đình, thân thế, sựnghiệp của nhà thơ nhà văn) để có những kiến giải sâu sắc và có giá trị

Trang 15

Quan niệm như trên đây đã thôi thúc chúng tôi đi theo hướng đề tài này.Trong luận văn, chúng tôi giới hạn nghiên cứu các yếu tố ngoài văn bản trong hainguồn tư liệu sử học và giai thoại để soi sáng thêm những vấn đề còn khuất lấptrong thơ văn Nguyễn Công Trứ Lý do vì sao chúng tôi lựa chọn hai nguồn tư liệunày vì một điều đặc biệt với Nguyễn Công Trứ - ông là một tác giả duy nhất trongvăn học trung đại và có lẽ trong cả văn học hiện đại được chính sử ghi chép nhiềunhư vậy Về giai thoại, một số tác giả khác có thể có lượng giai thoại tương đốiphong phú như giai thoại về nhà thơ Tú Xương, nhà thơ Nguyễn Khuyến… nhưngnếu xét về việc ghi chép trong chính sử thì Nguyễn Công Trứ là một nhà văn đượcxuất hiện với tần xuất nhiều nhất Điều đó khẳng định một vấn đề Nguyễn CôngTrứ là nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn đến triều chính của Quốc gia, dân tộc, nhânvật tham gia vào chính sự để góp phần điều hành đất nước Hơn nữa, trong số cáctác gia văn học trung đại, Nguyễn Công Trứ là tác giả được nhắc đến nhiều nhấttrong chính sử nhà Nguyễn và qua giai thoại văn học Nguồn sử liệu và giai thoạinày là nguồn tư liệu vô giá giúp hiểu sâu sắc, toàn diện hơn, đúng hơn sáng tác thơvăn của Nguyễn Công Trứ Nhưng cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứunào khai tác một cách hệ thống, đầy đủ mảng tài liệu cận văn học này Luận văn

“Tiếp nhận thơ văn Nguyễn Công Trứ từ nguồn sử liệu và giai thoại” được tiến hành nhằm mục đích bổ khuyết cho mảng trống đó

1.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn “Tiếp nhận thơ văn Nguyễn Công Trứ qua nguồn sử liệu và giaithoại” được thực hiện nhằm phục vụ cho đối tượng là những học sinh, những thầygiáo, cô giáo đang trực tiếp dạy – học trong các nhà trường trung học phổ thôngcómột cuốn tư liệu phù hợp với nội dung, chương trình, trình độ tiếp nhận Bởi trong

chương trình ngữ văn phổ thông hiện hành, có 01 tác phẩm hát nói nổi tiếng Bài ca

ngất ngưởng của tác giả Nguyễn Công Trứ được giảng dạy ở lớp 10 Nếu có thêm

tài liệu tham khảo là những kiến thức đã tổng hợp phân tích trong luận văn sẽ giúpcác thầy cô giáo và em học sinh có những hiểu biết rạch ròi về những cống hiến củaNguyễn Công Trứ trong lịch sử, về mối quan hệ đặc biệt giữa cuộc đời – văn thơ –

Trang 16

giai thoại Nguyễn Công Trứ Bên cạnh đó, luận văn góp phần định hướng cho giáoviên và học sinh những phương pháp tiếp cận sâu sắc hơn về thơ văn Nguyễn CôngTrứ qua các yếu tố ngoài văn bản

Là chuyên viên phụ trách bộ môn Ngữ văn của Sở Giáo dục tỉnh Ninh Bình,mảnh đất từng là môi trường mà Nguyễn Công Trứ đã sát cánh cùng nhân dân khaihoang lấn biển, tôi nhận thấy đề tài luận văn là cần thiết không chỉ trong ý nghĩahọc thuật mà còn phục vụ cho chương trình văn học địa phương

Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Tiếp nhận thơ văn Nguyễn Công Trứqua nguồn sử liệu và giai thoại” làm đề tài của luận văn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thứ nhất: Về lịch sử nghiên cứu Nguyễn Công Trứ và thơ văn của ông bắtđầu từ những năm 20 của thế kỉ XX và đến nay vẫn tiếp tục thu hút sự quan tâm củagiới nghiên cứu

Lịch sử nghiên cứu thơ văn Nguyễn Công Trứ được mở đầu với công trìnhnghiên cứu “Sự nghiệp và thi văn của Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ” (Nhà

in Lê Văn Tân, Hà Nội, 1928) của nhà nghiên cứu Lê Thước Theo đó, Lê Thước lànhà nghiên cứu đầu tiên đã chú ý tới nguồn sử liệu ghi chép về Nguyễn Công Trứ

cũng như sưu tầm các giai thoại về ông, trong Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn

tướng công Nguyễn Công Trứ (Nhà in Lê Văn Tân, Hà Nội) Sách gồm hai phần 1)

Lịch sử Nguyễn Công Trứ và 2) Thi văn Nguyễn Công Trứ Trong công trình này,

Lê Thước đọc gia phả, đọc lịch sử, giai thoại để dựng lại tiểu sử Nguyễn Công Trứkhá công phu Cuộc đời Nguyễn Công Trứ được tác giả Lê Thước chia thành cácgiai đoạn I) thời hàn vi; II) Thời hiển đạt gồm các chặng : Hoạn lộ, hoạn hải ba đào;III) Thời hưu trí Sách có mục IV) Công nghiệp Nguyễn Công Trứ dành cho khảovề: công đánh giặc: như dẹp Phan Bá Vành, đánh dẹp mạn Quảng Yên, đánh dẹpNông Văn Vân; đánh thành Trấn Tây; công khẩn hoang: tại hạt Nam Định, tại NinhBình, tại Quảng Yên Trong công trình này,bằng việc tìm tòi, nghiên cứu công phu,

Lê Thước đã thống kê trên 20 sự kiện mà Nguyễn Công Trứ đã lập nên trong cuộc

Trang 17

đời hành trạng của mình Nhưng khi nghiên cứu thơ văn, Lê Thước chưa quan tâmvận dụng các tri thức về tiểu sử Nguyễn Công Trứ để giải thích, cắt nghĩa

Tiếp đến, nhà nghiên cứu Nguyễn Bách Khoa trong sách Tâm lý và tư tưởng

Nguyễn Công Trứ (1944) đã dùng lại các thông tin về tiểu sử Nguyễn Công Trứ mà

sách của Lê Thước đã cung cấp Đây là một công trình quan trọng trong sự nghiệpnghiên cứu của Nguyễn Bách Khoa Công trình này xuất bản năm 1944 khi khoanghiên cứu văn học Việt Nam đang trong tiến trình hiện đại hóa những lý thuyết,phương pháp luận nghiên cứu từ bên ngoài được vận dụng vào Việt Nam NguyễnBách Khoa đã lần đầu tiên vận dụng phương pháp xã hội học văn học, đặt sáng tácNguyễn Công Trứ vào bối cảnh lịch sử từ sự so sánh đối chiếu những cứ liệu lịch

sử, nhà nghiên cứu đã kết luận: “Sự nghiệp Nguyễn Công Trứ gồm có hai phần:một thuộc về võ công, một thuộc về chính trị Về võ công thì thấy sử chép lại 4việc: dẹp giặc Phan Bá Vành ở Nam Định (1826), dẹp giặc bể ở Quảng Yên (1838),dẹp giặc Nông Văn Vân ở Tuyên Quang (1833), đánh thành Trấn Tây (1841) Vềchính trị thì có công cuộc khẩn hoang ở Nam Định, ở Ninh Bình, lập ra được haihuyện Tiền Hải và Kim Sơn, dân cầy cấy được thêm 33.570 mẫu ruộng Nay ởhuyện Tiền Hải, làng Đông Quách vẫn còn đền thờ Nguyễn Công Trứ do nhân dânvùng đó dựng lên để tỏ lòng biết ơn và kỉ niệm Muốn nhận chân được tính cáchchung của sự nghiệp Nguyễn Công Trứ, không thể không nghiên cứu những bài sớtấu của ông dâng lên nhà vua bàn về những công việc ông định làm Những sớ tấu

này đều có chép trong sách Đại Nam chính biên thực lục, giáo sư Lê Thước có trích đăng và dịch ra quốc văn trong cuốn Thân thế và sự nghiệp Nguyễn Công Trứ Tài

liệu dùng ở chương này phần lớn là mượn ở tập ấy của Lê Thước” Sau này, trongcông trình “Tuyển tập nghiên cứu và phê bình” (Nhà xuất bản Lao động, Trung tâmvăn hóa Đông Tây) nhà nghiên cứu lại có những kiến giải rất sâu sắc mối quan hệgiữa cuộc đời và thơ văn Nguyễn Công Trứ

Nhưng Nguyễn Bách Khoa ít quan tâm đến tiểu sử Nguyễn Công Trứ màhướng sự chú ý đến hoàn cảnh lịch sử xã hội rộng lớn trong đó Nguyễn Công Trứ

đã sống, hoạt động, sáng tác Nguyễn Bách Khoa chê Lê Thước không biết vận

Trang 18

dụng phương pháp xã hội học nên không hiểu được Nguyễn Công Trứ Ông Lê

Thước đã thú nhận sự bất lực của mình, khi muốn giải thích tính cách “mâu thuẫn” của tâm lí và cuộc đời Nguyễn Công Trứ” Nguyễn Bách Khoa chủ trương phân

tích tư tưởng và thơ văn Nguyễn Công Trứ trong hoàn cảnh lịch sử xã hội mà ítquan tâm đến tiểu sử Ông có thể là học giả Việt Nam đầu tiên dẫn Các Mác trongmột công trình nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam :

“Trước hết, các nhà khoa học đều công nhận là có những cá nhân đặc biệt, và trong sự sáng tạo, ngoài những động lực xã hội, còn có những động lực tâm lí của

cá nhân dự phần vào Nhưng họ đã tìm được đến cội rễ xã hội của ngay cả những động lực tâm lí ấy Căn cứ vào nguyên tắc căn bản này: Con người là một sản vật kết tinh của những tương quan xã hội (C.Mác) họ đã minh chứng được rằng bao nhiêu thuộc tính sinh lí và tâm lí đặc biệt của người có tài cũng đều là “tác phẩm” của đời sống xã hội cả” (dẫn theo Nguyễn Công Trứ về tác giả , tác phẩm ,tr 104).

Ngoài ra còn một loạt các công trình, các bài viết của các tác giả lớn vềNguyễn Công Trứ: Vũ Ngọc Khánh “Nguyễn Công Trứ một cá nhân, một danhnhân văn hóa” (theo “Nguyễn Công Trứ con người, cuộc đời và thơ”, NXB HNV,

HN 1996) Phan Thế Ngũ với bài viết về sáng tác của Nguyễn Công Trứ (theo

“Nguyễn Công Trứ - về tác giả, tác phẩm – tuyển tập nghiên cứu và phê bình”(NXBGD, H, 2007 Nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích kỹ những yếu tố củathời đại, của tâm lý tư tưởng chi phối và ảnh hưởng đến sáng tác Nguyễn Công Trứ.Nguyễn Đức Mậu “ Hát nói Nguyễn Công Trứ trong lịch sử văn hóa dân tộc”, (theo

“Hát nói Nguyễn Công Trứ chuyên luận và tinh tuyển”, NXB Nghệ An, 2008) TrầnNgọc Vương với bài viết “Từ hồi quang người anh hùng thời loạn đến khuôn hìnhmột tài tử phong lưu” (theo “Nguyễn Công Trứ con người, cuộc đời và thơ”, NXBHNV, HN 1996) Đích của bài viết là tìm hiểu sáng tác của Nguyễn Công Trứ dướiánh sáng của tư tưởng loại hình học tác giả văn học và thông qua đó, chỉ ra lôgíc,tính quy luật của sự vận động nội tại trong lịch sử văn học Việt Nam Trần NhoThìn với bài viết “Nguyễn Công Trứ và thời đại của chúng ta” (theo “Nguyễn CôngTrứ trong dòng lịch sử”, NXB Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2008) Một

Trang 19

bài viết đã vận dụng tri thức và phương pháp nghiên cứu liên ngành để cắt nghĩa lýgiải thơ văn, con người Nguyễn Công Trứ GS.TS Trần Nho Thìn đã chỉ ra phươnghướng suy nghĩ mới, những cứ liệu lịch sử quan trọng để giới nghiên cứu chú ý đisâu nghiên cứu tìm hiểu về Nguyễn Công Trứ Đặc biệt cần tìm hiểu thấu đáo, nhiềuchiều để đánh giá một số sự kiện lịch sử liên quan đến cuộc đời hành đạo NguyễnCông Trứ, tránh cực đoan phiến diện Nguyễn Khoa Điềm với bài viết “NguyễnCông Trứ với chúng ta hôm nay” (theo “Nguyễn Công Trứ con người, cuộc đời vàthơ”, NXB HNV, HN 1996)

Nhìn chung, từ đó về sau, hầu như tất cả các nghiên cứu lớn nhỏ về NguyễnCông Trứ đều ít nhiều dẫn các sưu tầm của Lê Thước về tiểu sử, về giai thoại xungquanh Nguyễn Công Trứ Tuy nhiên, việc vận dụng các tri thức này một cách hệthống và nhằm mục đích hiểu sâu, hiểu toàn diện sáng tác thơ văn Nguyễn CôngTrứ còn ở mức độ rất sơ sài Xu hướng chung, áp đảo là chỉ dừng lại phân tích bảnthân văn bản tác phẩm Nguyễn Công Trứ để rút ra các nhận định về nhà nho tài tử,

về chí nam nhi, về nhân tình thế thái Các nhà nghiên cứu gần đây cũng ít khai thácnhững sưu tầm, khám phá mới về tiểu sử và giai thoại về Nguyễn Công Trứ do MaiKhắc Ứng, Đinh Văn Niêm thực hiện

Thứ hai: Về lịch sử sưu tầm, nghiên cứu tiểu sử và giai thoại Nguyễn Công Trứ

Về nguồn sử liệu: Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa, tuy nhiên chúng ta cóthể hiểu một cách khái quát nhất đó là những tài liệu ghi trong sử sách Sử liệu vềNguyễn Công Trứ bao gồm những ghi chép về những sự kiện lịch sử trong chính sử

nhà Nguyễn: Đại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện, Đại Nam nhất

thống chí… Tiểu sử của Nguyễn Công Trứ được đề cập trong chính sử có tính xác

thực cao Ghi chép về cuộc đời hành trạng của Nguyễn Công Trứ một cách tiêu biểu

và công phu nhất phải kể đến bộ sử liệu Đại Nam thực lục chính biên Tiếp đến là những bộ sử khác như Đại Nam chính biên liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí Bộ

sử Đại Nam chính biên liệt truyện phản ảnh lịch sử Đàng Trong thông qua hệ thống

hành trạng cá nhân – tiểu sử nhân vật Tác phẩm thể hiện quan điểm chính thống vềlịch sử Đàng Trong của giai cấp phong kiến triều Nguyễn, trong đó vai trò của Uy

Trang 20

viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ được ghi chép khá chi tiết với các công cuộcdẹp loạn, an dân và khai hoang mở đất…Người có công sưu tầm lịch sử đầu tiên vềNguyễn Công Trứ trong sử liệu là ông Mai Khắc Ứng Với công tìm kiếm, tra cứu

đã dẫn được hơn 100 sự kiện lịch sử về cuộc đời hành trạng của Nguyễn Công Trứ

(được Trần Nho Thìn đưa vào cuốn Nguyễn Công Trứ về tác giả tác phẩm) Gần

đây, vào năm 2007, nhân kỷ niệm ngày sinh Nguyễn Công Trứ, tác giả Đinh VănNiêm – cựu phi công người Hà Tĩnh đã cất công sưu tầm, tìm kiếm những ghi chép

về cuộc đời Nguyễn Công Trứ một cách đầy đủ nhất Đinh Văn Niêm đã khảo lụcchỉ ra 261 sự kiện ghi chép có liên quan trực tiếp đến Nguyễn Công Trứ, ghép nốilại với nhau thành một “tiểu sử” Nguyễn Công Trứ

Về nguồn giai thoại: Đúng theo nghĩa từ nguyên của nó là câu chuyện đẹp

câu chuyện hay là những sáng tác về một nhân vật, hay những sáng tác của chính bản thân nhân vật đó được đồn đại, lưu truyền theo đúng thi pháp giai thoại Ở giai thoại người ta có quyền hư cấu nhưng không vì vậy mà ý nghĩa và giá trị lịch sử của nó bị giảm Chuyện không nhất thiết là có thực song vẫn y như thực Thực ở con người ấy với bản lĩnh, tính cách đã quá rõ ràng, đã được khẳng định với thời gian Thực ở giai đoạn xã hội ấy với những mối tương quan, những điều kiện chủ quan, khách quan đặt ra tình huống ấy và phương pháp giải quyết có cả hư cấu (Vũ

Ngọc Khánh - Kho tàng giai thoại Việt Nam, Nxb Văn hóa -1994 tr18) Nói cáchkhác, giai thoại là những câu chuyện được hư cấu trên cơ sở của sự thật về conngười, cuộc đời Giai thoại khúc xạ sự thật về con người Có người, có việc ắt cógiai thoại đi theo Với Nguyễn Công Trứ không chỉ xuất hiện nhiều qua những ghichép trong chính sử, còn trong các giai thoại Trong số 81 câu chuyện tản mạn vềcon người, cuộc đời Nguyễn Công Trứ được lưu truyền trong dân gian, các tác giả

đã chọn lọc biên soạn lại để đưa vào tập sách 36 giai thoại tiêu biểu Qua đó dựnglên một chân dung Nguyễn Công Trứ qua cái nhìn “dân gian” - từ góc độ khác vớinhững lí giải, nghiên cứu hàn lâm - của hậu thế về con người của cụ Thượng UyViễn

Từ những khái quát trên, soi vào các công trình nghiên cứu đã có, hầu hếtcác nhà nghiên cứu đều vận dụng ở các mức độ khác nhau những hiểu biết về thân

Trang 21

thế, sự nghiệp, con người Nguyễn Công Trứ để cắt nghĩa thơ văn của ông Tuynhiên, trước đó do tình hình sưu tầm, nghiên cứu về tiểu sử Nguyễn Công Trứ cònchưa được thấu đáo (chủ yếu mới dựa trong chính sử nhà Nguyễn và một số giaithoại) nên kết quả nghiên cứu chưa sâu sắc Đến nay, trừ nguồn giai thoại được sưutầm tương đối lâu, nguồn sử liệu đã được các nhà nghiên cứu dày dặn kinh nghiệmMai Khắc Ứng, Đinh văn Niêm…sưu tầm, khảo cứu khá đầy đủ chi tiết theo từngmốc niên đại, ứng với đó là từng công trạng, từng việc làm, hành động , lời nói, cửchỉ…của Nguyễn Công Trứ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ý tưởng khám phá,cắt nghĩa thơ văn, con người Nguyễn Công Trứ sau này

Tuy nhiên các nguồn sử liệu và giai thoại mới chỉ dừng ở việc sưu tầm (giaithoại), trích dẫn theo niên đại (sử liệu); chưa có sự phân loại theo từng mảng nộidung (nội dung chí nam nhi, nội dung nhà nho tài tử, nội dung cảm thức thế tháinhân tình…) để có cái nhìn đối chiếu, so sánh làm tường minh hơn những tác phẩmvăn thơ của Nguyễn Công Trứ

Như vậy, trên cơ sở tổng hợp và phân tích những công trình nghiên cứutrước; thừa hưởng những kết quả khảo cứu về con người và cuộc đời Nguyễn Công

Trứ qua nguồn sử liệu; luận văn quyết định lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thơ văn

Nguyễn Công Trứ qua nguồn sử liệu và giai thoại” Hướng đi mới của đề tài, khai

thác những sự kiện liên quan đến cuộc đời Nguyễn Công Trứ, vấn đề ghi chép vềNguyễn Công Trứ trong Đại Nam Thực lục và các giai thoại để góp phần làm tườngminh giá trị thơ văn Nguyễn Công Trứ Qua cách làm này, học sinh sẽ có căn cứhiểu sâu sắc hơn về giá trị văn thơ Nguyễn Công Trứ; đồng thời thực hiện đúngmục đích: học văn để hiểu đời và hiểu người

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng: Các yếu tố ngoài văn bản (những ghi chép về Nguyễn Công Trứ trong

Đại Nam thực lục và trong các giai thoại) giúp hiểu sâu sắc thơ văn Nguyễn Công

Trứ

Trang 22

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn sử dụng các thông tin từ sử liệu và giai thoại về cuộc đời, conngười Nguyễn Công Trứ để hiểu sâu sắc hơn đầy đủ hơn về thơ văn Nguyễn CôngTrứ, giúp hiểu cả những ẩn ức mà ông khó có thể bộc bạch trên trang viết

3.3 Những vấn đề cơ bản triển khai

Để triển khai luận văn theo đúng nội dung đã xác định, trong quá trình làmluận văn cần làm sáng tỏ một số vấn đề: Thơ văn ông bao hàm nội dung khá phứctạp, kết tinh trạng thái ý thức của một thế hệ nhà nho như Nguyễn Công Trứ Nhưngtổng quát, thơ ông tập trung vào ba chủ đề chính:

- Tư tưởng hành đạo (Chí nam nhi)

- Nhà nho tài tử qua triết lí hưởng lạc

- Cảm nhận về thế thái, nhân tình (đặc biệt nhìn nhận mối quan hệ giữaNguyễn Công Trứ với vương triều Nguyễn)

Hướng khai thác của luận văn đi từ sự tương ứng thơ văn đến các tư liệu lịch

sử, giai thoại để cắt nghĩa, bổ sung làm tường minh ý thơ

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thống kê phân loại các ghi chép về Nguyễn Công Trứ qua nguồn sử liệu vàgiai thoại So sánh đối chiếu, rút ra nhận xét

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Những phương pháp chính được sử dụng khi tiến hành làm luận văn:

- Phương pháp nghiên cứu tiểu sử;

- Phương pháp thống kê phân loại;

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được vận dụng xuyênsuốt trong toàn bộ nội dung luận văn, với các nhận định xen lẫn phân tích và kháiquát trong các chương mục;

Trang 23

- Phương pháp so sánh loại hình: Phương pháp so sánh, đối chiếu được sửdụng để nhằm làm nổi bật đối tượng nghiên cứu, phân tích tốt hơn các tư liệu dẫnchứng, làm cơ sở để rút ra các kết luận có tính đối sánh

5 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu những nét tiêu biểu về Nguyễn Công Trứ qua thơ văn; qua các

ghi chép về ông trong “Đại Nam thực lục” và một số nguồn sử liệu khác; qua các

giai thoại;

Luận văn sử dụng các nguồn tài liệu chính về sử liệu, giai thoại và thơ văndựa theo tổng hợp ghi chép từ các bộ sử như Đại Nam thực lục chính biên do ĐinhVăn Niêm thực hiện Bộ sử tổng hợp những ghi chép các sự kiện từ khichúa Ng u y ễ n H o àng t rấn thủ T huận Hóa (1 558) đến đời vua h ả i ĐịnhK (19 25) doQuốc sử quán tri ề u Ngu y ễ n biên soạn được chuyển dẫn trong cuốn “Nguyễn CôngTrứ trong dòng lịch sử” - Đoàn Tử Huyến (chủ biên), Chương Thâu, Trần NhoThìn, Nguyễn Hoàng Diệu Thủy cùng các cộng tác viên biên soạn; cuốn “Tuyển tậpthơ văn Nguyễn Công Trứ”cùng các công trình nghiên cứu, bình luận về thơ văn

Nguyễn Công Trứ của nhà nghiên cứu Trương Tửu; cuốn Nguyễn Công Trứ về tác

gia và tác phẩm của tác giảTrần Nho Thìn (trong cuốn này GS.TS Trần Nho Thìn

đã dẫn lại tổng hợp lịch sử do Mai Khắc Ứng thực hiện - Tuyển chọn và giới thiệu,Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Thư mục tham khảo, phần nội dung của luận văngồm 3 chương:

Chương I Chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ trong thơ văn và trong nguồn

sử liệu, giai thoại.

Chương II Nhà nho tài tử Nguyễn Công Trứ trong thơ văn và trong nguồn

sử liệu, giai thoại.

Chương III Cảm thức về nhân tình thế thái của Nguyễn Công Trứ trong thơ văn và trong nguồn sử liệu, giai thoại.

Trang 24

7 Đóng góp của luận văn

Giải quyết tốt được những nhiệm vụ đề ra, luận văn "Tìm hiểu thơ văn

Nguyễn Công Trứ qua nguồn sử liệu và giai thoại" đóng góp một cái nhìn toàn diện

về con người, thơ văn Nguyễn Công Trứ theo một lôgic chặt chẽ Kết quả nghiêncứu của luận văn giúp cho việc cắt nghĩa thơ văn Nguyễn Công Trứ rõ ràng hơn vềnhững sự việc đề cập trong thơ văn và cả những góc khuất trong đời sống tâm hồn

mà nhà thơ không tiện bộc bạch Bên cạnh đó cũng góp phần định hướng cho giáoviên và học sinh những phương pháp nghiên cứu hiệu quả khi đi tìm hiểu một tácgia hay tác phẩm (phương pháp tiểu sử, phương pháp thống kê phân loại, phươngpháp so sánh loại hình ) Vì vậy, việc nghiên cứu về "Tiếp nhận thơ văn NguyễnCông Trứ qua nguồn sử liệu và giai thoại" sẽ có giá trị về mặt lý luận và thực tiễnnhất là ứng dụng tốt phục vụ quá trình dạy học và nghiên cứu về tác giả, gợi mở ranhững hướng đi mới trong tương lai ở những đề tài khoa học lớn hơn./

Trang 25

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CHÍ NAM NHI CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ

TRONG THƠ VĂN VÀ TRONG NGUỒN SỬ LIỆU, GIAI THOẠI

Nhận xét về Nguyễn Công Trứ, nhà nghiên cứu Trương Tửu có viết:

“Nguyễn Công Trứ là một kẻ sĩ hoàn danh đáng trân trọng Từ thuở còn là thư sinh

cho đến lúc làm quan, ông đều bộc lộ chí khí của kẻ sĩ nhập thế tích cực, lo cho dân cho nước”(Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ ) Quả thực đúng như những gì nhà

phê bình ghi nhận, Nguyễn Công Trứ tuy đỗ đạt muộn, ông làm quan đến gần ba

mươi năm, giữ nhiều chức vụ khác nhau, hoạn lộ vô cùng sóng gió, nhưng trêncương vị nào ông cũng để lại những kết quả, những thành tựu, không chỉ đối vớitriều đình nhà Nguyễn mà còn đối với sự phát triển của lịch sử xã hội Việt Nam.Ông xuất chính theo ngạch văn - quan, nhưng chẳng bao lâu đã trở thành một võtướng, có nhiều chiến tích đáng trân trọng Vượt lên thói thường đặt nghĩa vụ vànhân phẩm lên trên tiền bạc, hư danh Trong hoàn cảnh xã hội phong kiến, vua quanthối nát, tham ô, chuộng lợi, nhưng ông vẫn sống thanh cao như cây thông trên vách

đá cheo leo, càng rét lá càng xanh tươi Công lao to lớn của ông trong lịch sử dântộc được tạo ra khi ông được trao chức quan Dinh điền sứ, tổ chức khai hoang lấnbiển lập ra hai huyện Kim Sơn – Ninh Bình, Tiền Hải- Thái Bình Cả cuộc đời, ông

đã thực hiện chữ “hành đạo” theo quan niệm của Nho giáo là phò đời, giúp nước.Triết thuyết “hành đạo” được Nguyễn Công Trứ hiện thực hóa trong đời

trong cả trong thơ

1.1 Chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ trong thơ văn

1.1.1 Khảo sát ngôn từ về Chí nam nhi trong thơ, hát nói của Nguyễn Công Trứ

Có thể khẳng định, bất cứ một nhà nho nào khi được đào tạo trong cửaKhổng sân trình, được vỡ đạo thánh hiền đều mong muốn đem điều sở học thựchiện trong xã hội để giúp xây dựng nền thái bình thịnh trị, quốc thái dân an NguyễnCông Trứ cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ, ngay từ thủa thiếu thời ông

đã mang tư tưởng nhập thế tích cực Nhà nghiên cứu Nguyễn Bách khoa từng ghi

Trang 26

nhận khi nghiên cứu thơ văn Nguyễn Công Trứ: “Có cái quan niệm nào được nhắc

đi nhắc lại luôn luôn dưới ngòi bút thi ca của Nguyễn Công Trứ lúc thanh niên, đóphải là quan niệm “chí nam nhi” Trong đầu ông, chí nam nhi là một quan niệm

mơ hồ về sự nghiệp cá nhân của kẻ làm trai, gồm đủ cả: chí anh hùng, sự tangbồng hồ thỉ, khí tiết trượng phu, mộng công hầu khanh tướng và lòng thèm muốnlưu danh thiên cổ Có lúc tất cả những khái niệm liên đới ấy dồn dập xáo độngtrong tâm trí ông và chen nhau, đẩy nhau, vấp nhau trong vần điệu thi ca”

(Nguyễn Bách Khoa, Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ, chuyển dẫn theo

Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, NXB Nghệ An-Trung tâm Ngôn ngữ -Văn

hóa Đông Tây, 2008, tr 535)

Bàn về Chí nam nhi trong thơ Nguyễn Công Trứ , nhà nghiên cứu Trần NhoThìn trong bài viết “Nguyễn Công Trứ và thời đại chúng ta” (Sđd, tr 27) nhận xét:

“Chí nam nhi thực ra không phải là sáng tạo riêng của Nguyễn Công Trứ, nó đãđược giới trí thức chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo từ thời Lý- Trần Chúng ta đềubiết đã có một Quảng Nghiêm (1122-1190) nói

“ Hữu thời trực thướng cô phong đính Hưu hướng Như Lai hành xứ hành”

Một Phạm Ngũ Lão với nỗi niềm:

“Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu

(Thuật Hoài)

Đó là khao khát khẳng định một cái gì đó của chính mình trong cuộc đời này,một khao khát làm nên sự nghiệp bằng hành động thực tiễn chứ không phải líthuyết, sách vở Họ đứng từ góc độ hành động thực tiễn để phát huy chí nam nhi”.Đoạn khác ông viết: “Chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ giống với chí nam nhi củacác trí thức Lí - Trần, một mặt cũng như tất cả mọi người thời trung đại, ông tinrằng có số mệnh, có trời trong số phận nhưng mặt khác, ông cũng tin vào bản thân

và sự nỗ lực của bản thân: “Tất do thiên âu phận ấy là thường, Hữu kì đức ắt trời kia

Trang 27

chẳng phụ” Như vậy, so với tư tưởng thoát li của cuộc sống, phủ nhận vai trò củacon người, chí nam nhi của nho gia là tích cực, nó khẳng định vị trí và vai trò của cánhân đối với cộng đồng, làm cho cuộc sống của con người trở nên có ý nghĩa.Trong hoàn cảnh một xã hội ổn định, giai cấp thống trị đang có vai trò tích cực, biết

gắn “trung quân với ái quốc”, thì đấy là “đất dụng võ” của kẻ nam nhi Vì vậy nó

trở thành nỗi niềm tâm sự tốt đẹp đầy tinh thần lạc quan, tin tưởng của những ngườinhư Thiền sư Khổng Lộ, Quảng Nghiêm… các võ tướng văn thần như Trần QuốcTuấn, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Nguyễn Công

Trứ…

từ sau:

Tư tưởng nhập thế trong thơ ông được biểu hiện qua việc khảo sát ngôn

Theo khảo cứu của các nhà nghiên cứu trong cuốn “Nguyễn Công Trứ Trongdòng lịch sử”, NXBVH Đông Tây, 2008 thống kê: toàn bộ sự nghiệp văn chươngcủa Nguyễn Công Trứ gồm 54 bài thơ, 67 bài hát nói, 01 bài phú, 02 tuồng hát và37câu đối Trong hệ thống tác phẩm đó, chúng ta có thể khẳng định rằng các kháiniệm về chí nam nhi, kẻ sĩ, anh hùng, chí khí anh hùng, nợ tang bồng được xuất hiệnvới tần xuất dày đặc (đặc biệt trong các bài hát nói – thể loại sở trường của NguyễnCông Trứ) Điều đó cho thấy trong tiềm thức, vấn đề công danh sự nghiệp đặt ra vớiông thật da diết Trong đó:

Những từ, cụm từ chỉ tư tưởng chủ đạo của người anh hùng: “nợ tang

bồng”, “nợ công danh”, “nợ phong lưu”, “nợ kiếm cung”, “nợ trần hoàn”, “nợ cầm thư”, “Ơn thuỷ thổ”, “gánh trung hiếu”, “Gánh kiền khôn”“tang bồng hổ thỉ”, “chí tang bồng », « gánh giang hồ », « Túi kinh luân”, “kiếm cung”, “quân thần”, , “Phù thế giáo”, “Cầm chính đạo”, “Trung trinh”, “Báo quốc” “Xe bồ luân”…

Những từ, cụm từ chỉ chí của người anh hùng: “chí khí anh hùng”, “chí nam

nhi”, “Hồi cuồng lan”, “Hội rồng mây”…

Những từ, cụm từ chỉ cuộc đời con người: “Ba vạn sáu nghìn ngày” (thâu

tóm trong tầm tay), “Mấy trăm năm », « ba vạn sáu », “nghìn sau”…

Trang 28

Những từ, cụm từ chỉ hành động, tư thế của người anh hùng: “xẻ núi lấp

sông”, “bốn bể”, “vẫy vùng cho hết đất”, “vẫy vùng cho phỉ chí”, “theo việc kiếm cung », “Tay kiếm cung”

bài: Chí nam nhi, Chí anh hùng, Phận sự làm trai, Nợ công danh, Nợ tang bồng,

Nước nhà, Kẻ Sĩ, Cầm kì thi tửu, Người với tạo vật, Nghĩa người đời, Quân tử cố cùng, Con Tạo ghét ghen, Đắc chí ngao du, Thoát vòng danh lợi, Bài ca ngất ngưởng, Hành tàng, Thư kiếm vẫy vùng, Hàn Nho phong vị phú v.v

Đối với Nguyễn Công Trứ đích cao cả, lớn nhất của đời người là lập cônggiương danh Bởi âm hưởng chủ đạo trong ông là một nỗi niềm đau đáu với món

“nợ tang bồng”, “nợ công danh”…Đó là món nợ của kẻ làm trai Tích xưa kể rằng: Tang bồng: là nói tắt của Tang hồ bồng thỉ Tang là cây dâu, hồ là cái cung, tang hồ là cung bằng gỗ dâu; bồng là cỏ bồng, thỉ là mũi tên, hồ thỉ là tên bằng cỏ

bồng Tục truyền, ngày xưa ở Trung Quốc hễ đẻ con trai thì dùng loại cung tên nàybắn sáu phát ra bốn hướng, lên trời, xuống đất, ngụ ý là sau này trưởng thành ngườicon trai sẽ tung hoành dọc ngang trời đất Người quân tử đã mang nợ ắt cần phải trả

Cứ theo những cụm từ đã thống kê trong thơ thì Nguyễn Công Trứ ngay từ khi cất

tiếng khóc chào đời ông đã “nợ” quá nhiều: nợ cha mẹ, nợ dân nước, nợ với chính

bản tính nam giới của mình

Xác định rõ ràng trách nhiệm của bản thân nên cái triết thuyết “hành

đạo” được Nguyễn Công Trứ xây dựng được gọi bằng những ngôn từ mang tính

biểu tượng, hàm súc cao như: “chí khí anh hùng”, “chí nam nhi”,…Đó là cái chí

của kẻ làm trai cần “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” và đặc biệt phải thực hiện được “túi kinh luân” - nghĩa bóng chỉ những việc trị nước Thân làm quan,

phụng sự triều đình, phụng sự dân nước nhưng ông luôn tụng niệm những tư tưởng:

“Ơn thuỷ thổ, “trung trinh”, “Báo quốc”… Tinh thần tự nhiệm cao cả đó lúc nào

Trang 29

cũng dằn vặt tâm can ông, thôi thúc ông hành động Ta hãy xem người hùngNguyễn Công Trứ thể hiện chí lớn bản thân mình trong thơ văn khăc rõ.

Các cụm từ chỉ hướng xuất hiện trong thơ văn ông có chiều kích rất rộng:

“Nam Bắc Đông Tây”, “bốn bể” Không gian hoạt động của người hùng NguyễnCông Trứ được trải dài từ Bắc chí nam, từ đông sang tây Không gian nghệ thuậtthường xuất hiện trong thơ Nguyễn Công Trứ là những hình ảnh “vũ trụ”, “trời đất”,

“giang sơn”, “dọc ngang, ngang dọc”, “bốn bể”, “trong lăng miếu, ngoài biênthùy”… không gian mang chiều kích của vũ trụ đã được dùng để làm thước đo cholòng người quân tử Đó là nghệ thuật ước lệ, tượng trưng thường xuất hiện trongvăn học trung đại Có điều đối với thơ văn Nguyễn Công Trứ, không gian này đượcxuất hiện với tần xuất cao hơn biểu đạt dụng ý nghệ thuật sâu sắc “Cái tôi” nhà thơđược đặt trong tương quan vũ trụ với tính chất động chứ không phải tĩnh Khác hẳn

“cái tôi” trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, đầy ưu tư, sầu muộn,trầm ngâm trongnhững không gian ảm đạm, “cái tôi” của Nguyễn Công Trứ vẫy vùng, hoạt động

thật tự tin, phóng túng, ngạo nghễ Nói như nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ “cái thể

chất của Nguyễn Công Trứ, một thể chất mạnh, đầy nhựa sống, đầy men hăng say Ông không phải như Nguyễn Du 30 tuổi đầu đã bạc, bệnh về thể xác, bệnh về tâm hồn, đeo vết thương của thời đại như một ám ảnh chung thân Công Trứ trái lại có sức khoẻ bền bỉ, tinh thần tỉnh táo, tính hiếu động, thực tế, lạc quan Ông là con người của dục vọng mãnh liệt cũng như của ý chí phi thường (Nguyễn Công Trứ - Tác gia và tác phẩm,chuyển dẫn theo Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, NXB

Nghệ An-Trung tâm Ngôn ngữ -Văn hóa Đông Tây, 2008, tr 570) Chính vì vậy cáitôi của ông khi nói về chí nam nhi cũng đầy khẩu khí:

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc,

Nợ tang bồng vay trả, trả vay.

Chí làm trai nam bắc đông tây, Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.

(Chí khí anh hùng)

Trang 30

Trời đất dọc ngang - ngang dọc, nam – bắc, đông – tây những cặp từ mangtính đối xứng đã góp phần diễn tả cái chí của người quân tử Độ cao của bầu trời, độrộng của mặt đất, độ sâu của vũ trụ đã được Nguyễn Công Trứ đổ dồn trong lời thơ

để nhấn mạnh ý chí quyết tâm về cái cao sâu của chí khí, cái hào sảng của tư tưởng

Đó là cái vỗ ngực đầy tự hào về bản thân: Hình như trời đất sinh ra ông để hànhđộng cho nhân sinh, cho vũ trụ

Thời gian ông hành đạo dường như trải dài cả một đời con người “Ba vạn

sáu nghìn ngày”, “Mấy trăm năm”, “ba vạn sáu” Những cụm từ mang tính ước lệ

cao thể hiện chí lớn khôn cùng của người quân tử Trong không gian, thời gian đó

người anh hùng hiện lên với những hành động mạnh mẽ, quyết liệt “xẻ núi lấp

sông”, “vẫy vùng cho hết đất” Cái tôi nhập thế Nguyễn Công Trứ hoạt động một

cách tích cực Bóng dáng người anh hùng lồng lộng hiện lên với khát vọng và chíhướng mãnh liệt tương ứng với chiều kích của không gian vũ trụ Triết

thuyết “hành đạo” được Nguyễn Công Trứ gọi bằng những chữ: “chí khí anh

hùng”, “chí nam nhi”, “nợ tang bồng”, “nợ nam nhi” Thời thế tạo anh hùng, biến

động xã hội càng lớn bao nhiêu thì tài năng, tâm huyết của người nam nhi càng

được khẳng định bấy nhiêu Những hình ảnh ước lệ tượng trưng “tay buồm lái”

“Xẻ núi lấp sông” tượng trưng cho những công việc phi thường, to lớn mà ta

thường thấy xuất hiện nhiều trong các thần thoại truyền thuyết như: Nữ oa vá trời,Ông khổng lồ gánh núi, Thần trụ trời – những con người, những nhân vật tái sinh rathế giới, cuộc sống lần thứ hai

Như vậy, xét về mặt câu từ, chữ nghĩa, chí nam nhi được thể hiện bao trùmtrong thơ văn Nguyễn Công Trứ Các từ, cụm từ mang tính khái quát (biểu tượng)xuất hiện dày đặc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ Nó trở thành động lực cho ônghành động, trở thành mục đích cho ông phấn đấu

1.1.2 Mục tiêu phục vụ của kẻ sĩ Nguyễn Công Trứ

Trong thơ văn đã nhiều lần Nguyễn Công Trứ nhắc đến chữ tài, có khi

là cái vỗ ngực trực tiếp “Ông Hy văn tài bộ đã vào lồng”, có khi gián tiếp bộc lộ

qua các từ, cụm từ “công danh”, “mặt tu mi nam tử”, “mặt anh hùng” “Mặt anh

Trang 31

hùng” chính là khuôn mặt mà các sĩ tử trong cõi trần ai phải tự họa bằng màu mựccuộc đời của mình qua tài năng, nhân cách…Tất cả cái tài đó đều hướng vào mụctiêu cao nhất của nam nhi, kẻ sĩ là thực hiện đạo quân thần Đạo cao nhất mà ngườiquân tử mang trong mình là đạo trung hiếu Trung với vua, hiếu nghĩa với cha mẹ -người đã sinh thành, dưỡng dục ra mình Ông vẫn tuân thủ những điều răn dạy của

Tống nho: giữ gìn tôn ti trật tự và quân quyền tuyệt đối Bản thân xác định “Cái

nghĩa vua tôi không thể trốn đâu trong trời đất” (Lữ Đông Lai) Vua là cha mẹ là

thiên tử con trời Dân là con, là kẻ phụng sự mệnh lệnh để thiên tử làm tròn mệnhtrời giao phó Chính vì vậy, nghĩa vụ tối thượng của một người chỉ là nghĩa vụ đốivới vua (quân) và cha mẹ (thân) Từ cơ sở đó Nguyễn Công Trứ đã phát biểu chínam nhi một cách say mê, hào hứng và hăm hở hành động trên cơ sở hoàn cảnh xãhội cụ thể và những điều kiện của bản thân Đứng về phía ông mà nói ông cúc cungtận tuỵ với triều đình, “chí làm trai” trước kia còn mơ hồ, nay thì đã có một nộidung cụ thể Ông đổi ra thành đạo “vi thần”, làm tôi tớ phục vụ nhà vua vô điềukiện Trong thơ ông cũng từng tuyên bố:

“Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp, Xuất mẫu hoài tiện thị mẫu quân thân…”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc từng có những phản biện về hai chữ công

danh trong cuộc đời Nguyễn Công Trứ: “Có người cho quan niệm công danh của

ông chỉ là một quan niệm hưởng thụ, nhà thơ có vẻ say sưa với cái bả vinh hoa tầm thường Không đúng! Xét trong toàn bộ cuộc đời và thơ văn Nguyễn Công Trứ, phải thấy quan niệm công danh của nhà thơ trước hết có nghĩa là nhiệm vụ của người làm trai, là một món “nợ nần” phải trả Nguyễn Công Trứ không có quan niệm nào khác là con người sống trong xã hội phải chiếm lấy một địa vị để trên cơ sở đó làm việc “trí quân trạch dân” Vì vậy nên quan niệm công danh của ông thường gắn liền với quan niệm trung hiếu, quân thân:

Đường trung hiếu chữ quân thân là gánh vác.

Có trung hiếu nên đứng trong trời đất,

Trang 32

Không công danh thời nát với cỏ cây”.

(Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII-hết thế kỷ XIX, NXB

giáo dục 1999, tr 501)Đối với ông công danh gánh với trung hiếu, quân thân với công hầu, khanhtướng có thể xem đó là một bản tuyên ngôn của ông khi nhập thế cuộc Công danh

ấy luôn luôn gắn liền với đạo làm con, đạo làm tôi:

“Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái Cái công danh là cái nợ nần Nặng nề thay hai chữ: quân thân Đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ!”

(Trên vì nước, dưới vì nhà).

Bàn về cái chí, cái hướng trong thơ văn Nguyễn Công Trứ, nhà nghiên cứu

Vũ Đình Trác từng nhận xét: “Nguyễn Công Trứ trung thành cả với Trái Đất và

Bầu Trời, mà lại trung thành cả với Không gian và Thời gian Nghĩa là ông sống đúng là một con người trong vũ trụ, trong cuộc sống và trong trường đời nữa Đây cũng là đạo Dũng của Nho gia mà thôi Đạo Dũng của Nho gia không bao giờ đơn độc, mà luôn luôn đi theo với Nhân và Trí Theo kiểu nói của Hiện sinh: đó là một kiếp nhân sinh toàn diện theo đúng thực tại con người: có ý thức (tinh thần),

có tình cảm (vật chất) Tinh thần thuộc về Trí, tình cảm thuộc về Nhân Có sự vươn lên mãnh liệt, đó là Dũng” (Vũ Đình Trác, triết lý chấp sinh Nguyễn Công

Trứ, chuyển dẫn theo “Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử”, NXBVH Đông Tây,

2008, tr 838)

Như vậy, có thể khẳng định thơ văn về lí tưởng và chí hướng của NguyễnCông Trứ chiếm một dung lượng lớn trong sự nghiệp sáng tác của ông, nó phongphú và dồi dào hơn các đề tài khác và đó cũng là những bài lỗi lạc nhất của thi bộ

Cụ thể như những bài: Chí nam nhi, Chí anh hùng, Phận sự làm trai, Nợ công danh,

Nợ tang bồng, Nước nhà, Kẻ Sĩ, Cầm kì thi tửu, Nghĩa người đời, Bài ca ngất

Trang 33

ngưởng, Thư kiếm vẫy vùng, Hàn Nho phong vị phú v.v Về mặt câu chữ, những

bài thơ này hấp dẫn không phải ở sự mới mẻ, vì nhiều người đã viết, đã dùng; cáihay cái đẹp ở đây là với ngôn ngữ, hình ảnh ước lệ ấy, ông đã đặt đúng chỗ, nóiđúng lúc, diễn tả một cách hùng hồn, lôi cuốn, chấn động cái chí khí kẻ sĩ của mình.Tuy nhiên tất cả những từ, cụm từ nêu trên chỉ là những từ mang tính ước lệ tượngtrưng Chúng xuất hiện nhiều trong các dạng thơ tỏ chí của văn học trung đại Nóicách khác chúng trở thành motip văn học khi nói về chí của kẻ sĩ Vì vậy, dẫu hay,dẫu nhiều, dẫu độc đáo nhưng những bài thơ hay đó mới chỉ làm chúng ta hàohứng, sảng khoái trước cái đẹp của chí khí được phát biểu bằng lời mà không chochúng ta những nhận thức về thời đại xã hội, về tình hình đất nước, về lòngdân nói cách khác, những bài thơ và hát nói đó vang lên âm hưởng hào hùng,mạnh mẽ của chí làm trai, nhưng không cho người đọc biết rõ, biết cụ thể là trongcuộc đời trần thế, giữa xã hội (chứ không phải là không gian vũ trụ hoành tráng) củangười anh hùng, trang nam nhi, những việc làm cụ thể là gì, quan hệ của ngườinam nhi này với xã hội là quan hệ nào Đọc thơ, chúng ta có cảm giác NguyễnCông Trứ là một vị thần hoạt động trên mấy trên gió, trong trời đất, vũ trụ chungchung mà không có cương vực lãnh thổ, không có thời đại sống và những hànhđộng cụ thể Có nghĩa là chí nam nhi, tư tưởng hành đạo trong con người NguyễnCông Trứ mới chỉ dừng trên sách vở Các ngôn từ này nói mới chỉ nói lên chí khí,hoài bão, nhiệt huyết mà không cho chúng ta biết cụ thể về việc Nguyễn Công Trứtriển khai trên thực tế chí nam nhi, chí khí anh hùng, nợ nam nhi bằng những việclàm, hành động, quan điểm giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể như thế nào Nói mộtcách khác, những tác phẩm thơ văn rất hùng hồn nhưng chưa cung cấp cho chúng

ta những thông tin cụ thể xác thực Một loạt các không gian vũ trụ mang tính ước

lệ được xuất hiện trong lời thơ (nam bắc đông tây, vòng trời đất, dọc ngang ngangdọc,…) nhưng không có dấu ấn của lịch sử xã hội, dấu ấn của những biến cố đờisống để cần đấng nam nhi trổ tài mà chỉ thấy bóng dáng người anh hùng lồng lộnghiện lên trên lời thơ, cánh tay, khối óc và trái tim phò đời giúp nước…

GS.TS Trần Nho Thìn nhận xét: “Trên thực tế, Nguyễn Công Trứ không chỉnói chí một cách công thức, sách vở mà đã thực hiện chí hướng bằng hành động cụ

Trang 34

thể, bằng cuộc đời hoạt động sôi nổi, đầy ắp sự kiện, không biết mỏi mệt của mìnhtrên một địa bàn trải dài từ Đông sang Tây, từ Nam ra Bắc trong suốt mấy chục nămlàm quan cho nhà Nguyễn” (Theo “Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử”, NXBVHĐông Tây, 2008, tr 29) Trong suốt hành trình sống của bản thân, Nguyễn Công Trứ

đã tự khẳng định mình là một tài năng đích thực: Chính ông đã dẹp loạn, trị thủy,khai hoang, vỡ đất lập ra 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình)…Như vậy, Nguyễn Công Trứ là một con người có công danh: ông đã sống một đờisống phong phú, mãnh liệt như câu thơ ông đã viết Chẳng thế mà năm 1858, Pháp

nổ súng xâm lược nước ta đánh vào bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, lúc bấy giờ NguyễnCông Trứ đã 80 tuổi vẫn dâng tấu sớ xin vua Tự Đức cho cầm quân ra trận đánh giặc

Như vậy, nếu chỉ đọc riêng các tác phẩm thơ văn của ông, chúng ta khó cómột hình dung cụ thể, sinh động, đầy đủ về chí nam nhi, tư tưởng hành đạo của nhànho Nguyễn Công Trứ Điều đó sẽ được các sự kiện tiểu sử của ông do sử sách đờiNguyễn, các giai thoại dân gian ghi lại, truyền lại; giúp ta hình dung rõ hơn, bổ sungcho những hình tượng nghệ thuật mới chỉ có tính khái quát Việc tìm hiểu trên lờithơ, ý văn mới chỉ dừng lại ở bình diện cắt nghĩa câu chữ Tức là mới xem xét vănbản trên phương diện một chiều – yếu tố nội hàm văn bản mà chưa mở rộng ra cácyếu tố ngoại văn bản Vì vậy, muốn cắt nghĩa một cách ngọn ngành chí làm trai,khát vọng lập công giương danh của người hùng Nguyễn Công Trứ; muốn xemNguyễn Công Trứ đã hiện thực hóa những ý nghĩa của cụm từ đó như thế nào trongđời của mình Chúng ta cần tìm hiểu, đối chiếu qua nguồn sử liệu và giai thoại đểchứng minh một điều: Mặc dù Nguyễn Công Trứ cách xa chúng ta gần hai thế kỷ

mà tiếng thơ ông vẫn còn nguyên tính thời sự; cách hành xử trong con người củaông còn đáng để các kẻ sĩ muôn đời phải noi theo

Trang 35

1.2 Người nam nhi - Nguyễn Công Trứ trong cuộc đời thực qua nguồn sử liệu, giai thoại

Như đã đề cập trong phần Mở đầu, Nguyễn Công Trứ một tác giả văn học,một nhân vật lịch sử có những cống hiến lớn lao trên rất nhiều phương diện (vănhóa, chính trị, quân sự, kinh tế…) Chính vì lẽ đó , ông là tác gia văn học trung đạiduy nhất và có thể của cả văn học Việt Nam được chính sử nhà Nguyễn ghi chép

nhiều nhất Trong cuốn “Đại nam thực lục” - một bộ biên niên sử Việt Nam (gồm

587 quyển) được biên soạn bởi tập thể các sử quan, trong nhiều thời kì của Quốc sử

quán triều Nguyễn, ghi chép các sự kiện lịch sử nhà Nguyễn từ khi Nguyễn Ánhlàm chúa (1778) đến đời Đồng Khánh (1887), sau này được viết thêm đến đời vuaKhải Định (1925) Trong cuốn sử này, ông Đinh Văn Niêm đã khảo lục chỉ ra 261 sựkiện ghi chép có liên quan trực tiếp đến Nguyễn Công Trứ, ghép nối lại với nhauthành một “tiểu sử” Nguyễn Công Trứ trong “Quốc sử” Bàn về những cống hiến

của Nguyễn Công Trứ trong thực tế đời sống Vũ Đình Trác có viết: “trên hoạn

trường, ông là một chính trị gia đại tài: biết cầm chính đạo, biết thứ dân ở chỗ khai khẩn dinh điền, lập ấp dựng cư, biết phú dân ở chỗ cải cách điền địa, khuếch trương kinh tế, biết giáo dân ở chỗ thiết lập trường học và lập ngôn lập đức để giữ cương thường, để phù thế giáo Ông lại còn biết an dân bằng cách đánh đông dẹp bắc: chống ngoại xâm, đánh tan nội loạn.( “Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử”,

NXBVH Đông Tây, 2008, tr 895)

1.2.1 Hoạt động thực tiễn của người anh hùng Nguyễn Công Trứ

Là một quan văn nhưng Nguyễn Công Trứ lại sống bôn ba ngang dọc trongcuộc đời của một võ tướng đánh đông dẹp bắc ghi được những chiến tích lẫy lừng.Dưới tài thao lược mà ông đã tự hào vỗ ngực trong Bài ca ngất ngưởng “gồm thaolược đã nên tay ngất ngưởng” cùng với một số chiến tướng khác, ông đã làm nênnhững điều làm vua phải nể phục Qua những ghi chép về Nguyễn Công Trứ trong

"Đại Nam thực lục" chúng ta nhận thấy những công trạng lớn của ông ở các lĩnhvực:

Dẹp loạn Phan Bá Vành (1827), Nông Văn Vân (1833 - 1835); dẹp giặcbiển (1833 – 1838);

Trang 36

Hành quân sang Nam Vang;

Khai hoang: Khai khẩn những miền đất mới,hoặc đất lâu năm bị hoang hóavùng: Nam Định (1828), Ninh Bình (1829), Thái Bình, Quảng Yên (1832), HảiDương (1835);

Chủ khảo trường thi: Hà Nội, Huế, một trí thức khoa bảng từng giữ chứclãnh đạo một trường đại học tại kinh đô (Tế tửu Quốc Tử Giám thời Minh Mệnh);

Các chủ trương khác : lập trường học, lập xã thương (kho thóc cứu đói) trongbản tấu sớ (1828), biện pháp chống cường hào, tham nhũng trong bản tấu sớ (1828)

Như vậy tổng kết trong hành trình cuộc đời Nguyễn Công Trứ chúng ta nhậnthấy ông là một nhà nho nhập thế rất tích cực.Tương ứng với các chức vụ mà ôngđảm nhiệm là địa bàn mà ông đã đi qua và làm việc tại đó:

Đảm nhiệm các công việc chính trị ở các vùng miền: Tham hiệp Thanh HoaTrấn tây Tham tán; Tổng đốc Hải An, Tuần phủ An Giang; Dinh điền sứ tướng quân

- Ninh Bình và Thái Bình, Nam Định, Hải Dương; Thừa Thiên Phủ Doãn – Huế;lính thú – Quảng Ngãi

Đảm nhiệm việc dẹp giặc ở các vùng miền: dẹp giặc Phan Bá Vành ở vùngNam Định; dẹp giặc Nông Văn Vân ở Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng; dẹp giặccướp, giặc biển ở Liêu Lạc - Nam Định, Quảng Yên , huyện Tứ Kì -Hải Dương,Vân Đồn-Quảng Ninh; diệt trừ thổ phỉ, giặc cướp ở các hạt Đông Thành, Quỳnh Lưu

Nghệ An, Ngọc Sơn, Nông Cống Thanh Hoá, Tam Điệp Ninh Bình, Bỉm Sơn Thanh Hoá ; dẹp giặc ở thành Trấn Tây – Cao man; dẹp giặc ở Gia Định; Năm 63tuổi, ông tình nguyện đi chinh phạt ở Trấn Tây Năm 79 tuổi, thân lão vẫn còn dũngchí, ông lại tình nguyện ứng chiến với ngoại xâm tại chiến trường Đà Nẵng

-Đảm nhận việc khai khẩn đất hoang, phát triển kinh tế ở các vùng miền: các

huyện Giao Thuỷ, Chân Định- Nam Định, Tiền Hải- Thái Bình, Kim Sơn, Yên Khánh, Yên Mô -Ninh Bình; xã Minh Liễn, huyện Nghi Dương- Hải Dương; xã

Lưu Khê, Vĩ Dương, Yên Phong- Quảng Yên

Trang 37

Những cứ liệu sát thực trong nguồn sử liệu đã phần nào làm sáng tỏ chí làmtrai, độ tung hoành ngang dọc của Nguyễn Công Trứ trong văn thơ Nếu như trongcác bài thơ tỏ chí, phần lớn là những lời nói, việc làm mang tính ước lệ, tượng trưngkhông có bóng dáng của thời đại lịch sử rõ ràng, không có dấu ấn con người Đếnvới nguồn sử liệu, chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ đã được định hình rõ nétthông qua những lời nói và việc làm cụ thể Con người anh hùng tung hoành ngangdọc của Nguyễn Công Trứ đã được những cứ liệu lịch sử minh chứng rất rõ ràng.Vùng không gian thực tế mà ông đã hoạt động bôn ba suốt từ Nam chí Bắc, từ miềnbiển đến miền núi, môi trường kinh đô (triều đình Huế) đến vùng nông thôn Nhữngđịa danh, những tên đất tên làng, tên núi tên sông đã bổ sung tri thức để hiểu cụ thể,sinh động những khái niệm không gian như “trời đất”, “bốn bể”, “nam bắc đôngtây” vốn khá ước lệ xuất hiện trong các vần thơ tỏ chí của Nguyễn Công Trứ Thờigian hoạt động của ông cũng là những mốc thời gian cụ thể (1826-1858) từ thời đầuxanh tuổi trẻ đến khi về già qua các thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Gia Long.Cái khát vọng “xẻ núi lấp sông” “dời non lấp bể” đã được minh chứng qua một loạtcác trận đại chiến thu phục kẻ thù, hoặc xây thành đắp lũy Quả thực với nhữnghành xử, những công trạng của mình Nguyễn Công Trứ đã thực sự làm nên “đấnganh hùng” trong thiên hạ Các công trạng cứu chúa an dân: Công khai hoang, mởđất, công dẹp giặc cướp, tiễu phỉ; công diệt trừ tham nhũng; công trị thủy phát triểnkinh tế vùng miền…sử sách vẫn lưu danh, nhân dân đời đời ghi nhớ Dấu chân củaông đã đặt lên mọi miền của Tổ Quốc trên bản đồ Việt Nam Ông được ghi nhậntrong chính sử như một nhân vật hoạt động vì nhân dân Việt Nam vì hoạt động vì

xã hội Việt Nam

1.2.2 Nguyễn Công Trứ với vai trò một nhà quân sự

Theo Nguyễn Công Trứ nỗi nguy hại lớn nhất của một quốc gia dân tộc làthù trong giặc ngoài Chính vì vậy để phát triển đất nước trước hết cần phải dẹp

loạn, an dân An dân cho nhân dân đất đai canh tác, thượng chí quân hạ trạch dân –

đối với người dân rất cần an cư lập nghiệp, đất đai canh tác, thiếu đất đai canh tác,thiếu cơm ăn áo mặc cũng chính là nguyên nhân làm nên đại loạn Vậy việc tiễu phỉ

Trang 38

dẹp trừ các cuộc nổi loạn loạn: bao gồm cả dẹp Phan Bá Vành, Nông Văn Vân, giặcbiển, tiễu phỉ, dẹp trộm cướp…đã chứng minh rõ tư tưởng trên vì nước dưới vì nhàcủa ông.

Bàn về hai cuộc nổi dậy tiêu biểu của Phan Bá Vành và Nông Văn Vân,GS.TS Trần Nho Thìn trong cuốn “Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử” đã có bàiphân tích rất rõ về nguyên cớ của hai cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân và Phan BáVành: “Đã có nhiều người viết về khởi nghĩa Phan Bá Vành nhưng có lẽ chưa chú

ý đúng mức đến bối cảnh lịch sử phức tạp của thời Minh Mệnh, đặc biệt là hoạtđộng chống phá của một số giáo sĩ, gây nguy cơ mất ổn định, phương hại đến sựthống nhất đất nước đang là điều vốn rất cần lúc đó để tăng cường tiềm lực đấtnước nhằm đối phó với cuộc xâm lăng sắp tới của thực dân Pháp” Trong quá trìnhnghiên cứu, dựa trên những cứ liệu lịch sử GS.TS đã khẳng định: “có sự dính líu ởmức độ nào đó của giáo hội Công giáo với cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân vàPhan Bá Vành” ở đoạn khác ông viết : “Đành rằng các cuộc nổi dậy đều phảnánh một vấn đề xã hội nào đó cần được triều đình xem xét và giải quyết …Vấn đềnày cần phải được giới sử học nghiên cứu đầy đủ hơn nữa, nhưng hiện thời có thểnói rằng không nên xem cuộc nổi dậy Phan Bá Vành chỉ đơn thuần là cuộc nôngdân khởi nghĩa phản ánh đơn thuần quyền lợi của nông dân Vả lại, trong con mắtmột nhà nho như Nguyễn Công Trứ, mọi cuộc nổi dậy chống triều đình đều làloạn, cần phải dẹp loạn để an dân Chúng ta ngày nay cần tính đến hậu quả làmmất ổn định tình hình đất nước của những cuộc nổi dậy như thế và sự lợi dụng tình

trạng mất ổn định này của Giáo hội vì những mục tiêu riêng.” (Nguyễn Công Trứ

trong dòng lịch sử, NXBVH Đông Tây, tr18,19).

Sử liệu đã chứng minh: Năm 1827 Nguyễn Công Trứ đồng chủ tướng trấn ápcuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành; năm 1833 Nguyễn Công Trứ làm Tổng đốc Hải Ankết hợp với Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên là Lê Văn Đức tiến quân đi đánh dẹp giặcNông Văn Vân miền Tuyên Quang Cuộc dẹp loạn Phan Bá Vành và Nông VănVân kéo dài gần ba năm trời bởi Nguyễn Công Trứ gặp phải sự kháng cự của sốđông quần chúng nhân dân Vì nhân dân không nhận rõ bản chất của kẻ đứng đầu,

Trang 39

chúng đang mượn sức mạnh của quần chúng để thực hiện ý đồ chính trị Chúng lợidụng điểm yếu bị mất ruộng đất của nhân dân để hô hào hiệu triệu người dân đứnglên làm phản triều đình Thực chất hai cuộc nổi loạn này đã được chính sử phântích rõ: khoác áo của cuộc khởi nghĩa nông dân để che mắt thế gian nhằm thực hiệnmột mưu đồ chính trị đen tối đó là lật đổ vương triều, cướp ngôi, cướp đất hòng làm

bá chủ thiên hạ Như vậy việc dẹp loạn Nông Văn Vân, Phan Bá Vành của NguyễnCông Trứ thể hiện mục đích chính trị rõ ràng Đứng trên lập trường của một mệnhquan triều đình, để bảo đảm sự an nguy của xã tắc, đảm bảo quyền lợi của nhân dân

và tránh sự lợi dụng của những phe phái, tổ chức không chính thống, Nguyễn CôngTrứ cùng với một số tướng lĩnh trong triều đã ra công đánh dẹp đại loạn Hành độngnày nếu không được diễn giải, cắt nghĩa cụ thể mọi ý kiến sẽ quy chụp rằng NguyễnCông Trứ trung quân một cách mù quáng, hết lòng phụng sự cho triều đình nhàNguyễn mà đi ngược lại quyền lợi của giai cấp nông dân (trấn áp hai cuộc khởinghĩa nông dân Nông Văn Vân và Phan Bá Vành) Như vậy, tìm hiểu cứ liệu lịch sử

sẽ góp phần lý giải những hành động, những sự việc mà bao lâu nay con ngườichúng ta vẫn luôn ngộ nhận, chưa phân định rạch ròi mối quan hệ giữa hiện tượng

và bản chất, góp phần giải tỏa những ẩn ức cho con người

Với khát vọng của một người hùng “xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài yên”,

Nguyễn Công Trứ còn ra tay dẹp trừ giặc cướp, tiễu phỉ Nguyễn Công Trứ liêntiếp lập những chiến tích thắng lợi diệt trừ thổ phỉ, giặc cướp ở Kiến Xương –Nam Định, Nông Cống - Thanh Hóa,Quỳnh lưu - Nghệ An: Bính Tuất, MinhMệnh năm thứ 7, 1826: Tham hiệp Thanh Hoa là Nguyễn Công Trứ tâu xin thânđem thủ hạ đi đánh bắt thổ phỉ; Đinh Hợi, Minh Mệnh năm thứ 8, 1827 đảng giặc

ở Nam Định 5000 người cướp phủ Kiến Xương, Phó Thống thập cơ Hùng dũngcủa Hữu quân là Phan Đình Bảo và Tham tán Nguyễn Công Trứ cũng đều đemquân chia đường tiến đánh

Không chỉ ra tay dẹp loạn mà với tài thao lược, mưu trí của mình NguyễnCông Trứ còn dâng tấu sớ cắt lẽ nguồn cơn nảy sinh đại loạn hay tệ nạn giặc cướp,thổ phỉ rất sâu sắc để triều đình có những biện pháp xử lý, nhằm triệt tận gốc nguồn

Trang 40

ác Ông đã dâng nhiều tấu sớ với nội dung lập nghiêm phép nước và diệt trừ trộmcướp Ông đã có những phân tích thấu đáo về nguyên nhân sinh đại loạn, những

biểu hiện khác nhau của đại loạn và cách diệt trừ “Phàm gọi là làm loạn, không

phải cứ đánh thành, cướp đất mới là làm loạn; người không ở yên thuận lẽ cũng là loạn Ngạn ngữ nói: “Loạn thì chém” không dùng phép nặng không ngăn được loạn.” Với những kế sách đó ông cùng các tướng lĩnh đã dẹp giặc yên ở các nơi

xung yếu.“Tài thao lược đã nên tay ngất ngưởng” mà Nguyễn Công Trứ thể hiện ở

trong thơ đã được thể hiện rõ nét thông qua những mưu cao, kế sâu được đề xuấttrong tấu sớ Với Nguyễn Công Trứ không chỉ ra tay dẹp giặc, dẹp loạn mà điềuquan trọng là triều đình phải ngăn chặn không cho các đảng ác xuất hiện, không đểloạn tặc nổi lên nhũng nhiễu đất nước, đe dọa đến việc an dân Muốn như thế phải

am hiểu thời thế, phải đi sâu tìm hiểu nguồn cơn, phải dựa vào nhân dân để trị vì.Bên cạnh đó, triều đình cũng cần phải có những biện pháp cứng rắn mang tính chất

răn đe, ngăn chặn: Ngạn ngữ nói: “Loạn thì chém” không dùng phép nặng không

ngăn được loạn Chân lý Nguyễn Công Trứ đưa ra đúng với mọi thời đại Chính

nhờ có những tư tưởng đúng đắn, những tấu sớ với các ý tưởng sáng suốt đánhtrúng vào điểm yếu để khắc phục, vì vậy triều đình nhà Nguyễn vẫn có thể dẹp yên,ngăn chặn các cuộc nổi loạn

1.2.3 Nguyễn Công Trứ với vai trò một nhà kinh tế

Bằng sự am hiểu, thấu suốt về tình hình thời sự, chính trị Nguyễn Công Trứ

đã đề xuất những cách cắt nghĩa rất sâu xa để tìm ra nguồn cơn của những cuộcnổi loạn, thậm chí ông biết những người theo loạn Phan Bá Vành là những ngườinông dân vô tội vì mất ruộng đất – mất kế sinh nhai mà hồ đồ đi theo Đó là sự nổiloạn của người nông dân mất đất Chính vì vậy, sau khi dẹp xong loạn dấu chânông đã đặt đến những vùng hoang sơ nhất như Tiền Hải – Thái Bình, Kim Sơn –Ninh Bình, hạt Quảng Yên để khai khẩn đất hoang, giải quyết đời sống sinh nhaicho bà con làm ấm nhà yên xã tắc Như vậy cái hào sảng trong lời thơ cũng khôngthể cho ta thấy những việc làm cụ thể, tận tâm, tận huyết của Nguyễn Công Trứđến vậy Trên địa danh bản đồ Việt Nam bóng dáng ông lúc Cao Bằng lúc An

Ngày đăng: 10/01/2019, 09:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nam Phong tạp chí. Thơ cụ Nguyễn Công Trứ, các số 11 (1918); 12 (1918); 89 (1924); 90; 91; 93 (1925) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ cụ Nguyễn Công Trứ
2. Lê Thước. Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, Nxb.Lê Văn Tân, Hà Nội, 1928 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ
Nhà XB: Nxb.Lê Văn Tân
3. Bùi Quý Lộ. Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Tiền Hải (1828): LA. PTS. Khoa học Lịch sử, 1987. Kí hiệu Thư viện Quốc gia Hà Nội: LA04.02136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Tiền Hải
4. Nguyễn Văn Ngọc. Đào nương ca, Việt Văn thư xã, Vĩnh Long thư quán xuất bản, Hà Nội, 1932 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào nương ca
5. Nguyễn Bách Khoa. Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ, Tạp chí Văn mới, Hà Nội, 1944 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bách Khoa. Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ, Tạp chí Văn
6. Hoàng Liên Sơn (sưu tập, chú dẫn). Nguyễn Công Trứ: Thi ca tập, Hiệu sách Văn Hiến, Hà Nội, 1949 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Trứ: Thi ca tập
7. Nguyễn Tường Phượng - Bùi Hữu Sủng. Văn học sử Việt Nam tiền bán thế kỷ thứ XIX, tài liệu giáo khoa, Hà Nội, 1951 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học sử Việt Nam tiền bán thế kỷ thứXIX
8. Nhiều tác giả. Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập II, Nxb. Xây dựng, Hà Nội, 1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Xây dựng
9. Nhiều tác giả. Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập II, Nxb. Xây dựng, Hà Nội, 1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Xây dựng
10. Lê Thước, Hoàng Ngọc Phách, Trương Chính (giới thiệu và đính chính). Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Nxb. Văn hoá, 1958 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Công Trứ
Nhà XB: Nxb. Văn hoá
11. Nhiều tác giả. Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, quyển V, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sử học
12. Hoàng Xuân (sưu tập và chú dẫn). Nguyễn Công Trứ thi tập, in lần 2, Anh Phương, Sài Gòn, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Trứ thi tập
13. Nguyễn Duy Diễn - Bàng Phong. Nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp Nguyễn Công Trứ, Á Châu, Sài Gòn, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp NguyễnCông Trứ
14. Phạm Thế Ngũ. Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập II, Việt văn xuất bản, Sài Gòn, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên
15. Nhiều tác giả. Hợp tuyển thơ Văn Việt Nam thế kỷ XVIII - giữa thế kỷ XIX, Nxb.Văn hoá, Hà Nội, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển thơ Văn Việt Nam thế kỷ XVIII - giữa thế kỷ XIX
Nhà XB: Nxb.Văn hoá
16. Nhiều tác giả. Lịch sử văn học Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
17. Hồng Liên Lê Xuân Giáo. Hy Văn tướng công di truyện - Giai thoại về Nguyễn Công Trứ, Bộ Giáo dục, Sài Gòn, 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hy Văn tướng công di truyện
18. Nguyễn Lộc. Giáo trình Văn học Việt Nam: Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửađầu thế kỷ XIX, tập II, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học Việt Nam: Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa"đầu thế kỷ XIX
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
19. Nguyễn Nghiệp. Mấy suy nghĩ một tấm lòng: phê bình, tiểu luận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ một tấm lòng
Nhà XB: Nxb Văn học
20. Nguyễn Nghiệp. Mấy suy nghĩ một tấm lòng: phê bình, tiểu luận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ một tấm lòng
Nhà XB: Nxb Văn học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w