Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của giống vải Lai Thanh Hà tại Thanh Hà, Hải Dương ...25 3.2.2.. Nghiên cứu ảnh hưởng của t
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VI T Ệ
NAM
NGUYỄN THỊ HẢI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT
PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG VẢI LAI THANH HÀ TẠI HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số : 60.62.01.10
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Quốc Hùng
2 TS Vũ Thanh Hải
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Vũ Thanh Hải – Học viện Nông nghiệp Việt Nam và PGS, TS Nguyễn Quốc Hùng, TS Đào Quang Nghị – Viện Nghiên cứu Rau quả đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Rau hoa quả - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hải
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan .i
ơn ii Mục lục iii
vi Danh mục hình ảnh vii Trích yếu luận văn viii Thesis Abstract .x
Trang 52.2.1 Yêu cầu sinh thái của cây vải 7
2.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm thực vật học của vải 9
2.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân và cắt tỉa cho cây vải .13
2.3 MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN ĐẤT ĐAI VÙNG NGHIÊN CỨU 21
2.4 NHỮNG KẾT LUẬN QUA PHÂN TÍCH TỔNG QUAN .23
PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 25
cứu 25
cứu 25
Trang 63.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
25
3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng ra hoa, đậu quả, năng
suất và chất lượng của giống vải Lai Thanh Hà tại Thanh Hà, Hải Dương
25
3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng, ra
hoa, đậu quả và năng suất của giống vải Lai Thanh Hà
25
3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón đến năng suất, chất lượng quả
của giống vải lai Thanh
3.3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến khả năng
sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và năng suất vải Lai Thanh Hà
27
3.3.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả
năng sinh trưởng, ra hoa đậu quả và năng suất, chất lượng của vải lai Thanh Hà 29
3.3.4 Xử lý số
liệu 31
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
32
4.1 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, KHẢ NĂNG RA
HOA, ĐẬU QUẢ, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ
Trang 74.1.6 Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh chủ yếu trên giống vải lai Thanh Hà
39
4.2 ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP CẮT TỈA ĐẾN KHẢ NĂNG SINH
TRƯỞNG, RA HOA, ĐẬU QUẢ VÀ NĂNG SUẤT VẢI LAI THANH HÀ 40 4.2.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng phát sinh và phát triển các
đợt lộc
40 4.2.2 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng các đợt lộc của
vải lai Thanh Hà
40
Trang 84.2.3 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra hoa, đậu quả của vải lai
Thanh Hà
42 4.2.4 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất của vải lai Thanh
Hà 43
4.3 ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG THỨC PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG
SINH TRƯỞNG, RA HOA ĐẬU QUẢ VÀ NĂNG SUẤT, CHẤT
4.3.2 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng
suất của vải lai Thanh
Hà 45
4.3.3 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất vải lai Thanh Hà
Trang 9Bảng 4.9 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng các đợt lộc
của vải lai Thanh Hà
40
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra hoa, đậu quả của vải lai
Thanh Hà (Số liệu năm
2015) 42
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến khả năng giữ quả của giống vải Lai
Thanh Hà
42 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất giống vải Lai Thanh Hà tại Hải Dương
43
Trang 10Bảng 4.14 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến khả năng ra hoa và đậu quả của
vải lai Thanh
Hà 45 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất vải lai Thanh
Hà 46
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến một số chỉ tiêu sinh hóa quả vải
Lai Thanh Hà năm 2016.
47
Bảng 4.17: Tính hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân năm 2016
47
Trang 11DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 4.1 Đường kính tán giống vải lai Thanh Hà và vải Thiều Thanh Hà tại
Hải
Dương 35 Hình 4.2 Chiều cao cây của giống vải lai Thanh Hà và vải Thiều Thanh
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Hải
Tên luận văn: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của một số
biện pháp kỹ thuật đến năng suất, chất lượng vải Lai Thanh Hà.
Ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 60.62.01.10
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp
kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất, phục vụ phát triển giống vải Lai Thanh Hà tại địa phương.
Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu, đánh giá về sinh trưởng, ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng và hiệu quả của các giống tại vùng sản xuất bằng cách đánh dấu, theo dõi trực tiếp trên cây
ở các độ tuổi từ 1 đến 7 Đối chứng là giống vải thiều Thanh Hà.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng, ra hoa đậu quả và năng suất của giống vải Lai Thanh Hà Thí nghiệm gồm 2 công thức thí nghiệm và 1 công thức đối chứng được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) thực hiện trên cây 7 năm tuổi Mỗi công thức 3 cây, nhắc lại 5 lần.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng,
ra hoa đậu quả và năng suất, chất lượng của vải lai Thanh Hà Thí nghiệm gồm 5 công thức (CT) được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) thực hiện trên cây 7 năm tuổi từ tháng 5/2015 đến tháng 6/2016 tại Hải Dương Mỗi công thức 3 cây, nhắc lại 3 lần: 4 công thức thí nghiệm kết hợp hai mức đạm: N1: 552g N; N2: 690g N và 2 mức kaliclorua: K1: 960g K2O và K2: 1080g K2O và 1 công thức đối chứng theo cách của người dân: 460g N + 600g K2O cho 1 cây trong 1 năm.
Kết quả chính và kết luận:
- Giống vải lai Thanh Hà sinh trưởng khỏe, khả năng ra hoa và đậu quả tốt với tỷ
lệ đậu quả đạt 0,8% (cây 3 năm tuổi) đến 1,3% (ở cây 7 năm tuổi); Cây 7 năm tuổi đạt năng suất trung bình 68kg/cây; chất lượng được đánh giá tốt, độ brix đạt 17,8% Ưu điểm nổi bật cho rải vụ là có thời gian thu hoạch sớm hơn so với vải thiều Thanh Hà từ
10 – 15 ngày bên cạnh lợi thế vỏ quả dày nên giữ được mã quả lâu hơn và vận chuyển thuận lợi hơn.
Trang 13- Biện pháp cắt tỉa 3 lần trên giống vải lai Thanh Hà tại Hải Dương đã phát sinh các đợt lộc hợp lý, không có hiện tượng phát lộc đông, ra hoa đậu quả tốt Năng suất đạt giá trị cao 74,4kg/cây, vượt 36,7% so với đối chứng.
- Bón phân bổ sung 690g N + 960g K 2 O tức là bón với công thức 3 kg phân vi sinh Sông Gianh + 1,5 kg urê + 1,6 kg Kali clorua + 1,5 kg supe lân cho 1 cây trong 1 năm có năng suất đạt 78,0 kg/cây, vượt 18,5% so với bón theo mức của người dân địa phương Chất lượng quả được cải thiện.
Trang 14THESIS ABSTRACT
Name of Student: Nguyen Thi Hai
Name of study: Study on growth, development and influence of cultural techniques on
yield and quality of lychee var Lai Thanh Ha.
Major: Crop Science Code: 60.62.01.10
Academic Institution: Vietnam National University of Agriculture
Objective of the study:
To complete a cultivation protocol of lychee var Lai Thanh Ha for production in Hai Duong province.
Methodology
- Evaluation of growth, flowering and fruit set, fruit yield and quality of lychee varieties in Hai Duong province through representative observation of lychee trees of 1-
7 years old; Thieu Thanh Ha was the control variety.
- Influence of pruning on growth, flowering and fruit set and yield of Lai Thanh
Ha variety: the experiment consisted of 2 experimental treatments and 1 control, designed in RCBD Observation was conducted on 3 seven-year-old trees each treatment, with 5 replications.
- Influence of fertilizer combinations on growth, flowering and fruit set and yield of Lai Thanh Ha variety: the experiment consisted of 5 treatments arranged in RCBD Observation was conducted on 3 seven-year-old trees each treatment, with 3 replications, from May 2015 to Jun 2016 in Hai Duong province The experiment included 4 combinations of different rates of N fertilizer (N1: 552g N and N2: 690g N) and KCl fertilizer (K1: 960g K2O and K2: 1080g K2O), and a control (common in practice) of (460g N + 600g K2O) applied to a tree within a year of production.
Main outcomes and conclusions
- The lychee var Lai Thanh Hà produced vigorous growth and high rate of flowering and fruit set, from 0.8% (on 3-year-old trees) to 1.3% (on 7-year-old trees); A 7-year-old trees yielded 68kg in average with high quality fruit (Brix: 17.8%) Particularly, Lai Thanh Ha lychee allowed early fruit harvest at 10-15 days earlier than the main-season variety of Thieu Thanh Ha; the thicker fruit skin enabled longer shelf- life providing advantage in transport.
- Applying 3 times of pruning on Lai Thanh Ha lychee in Hai Duong generated reproductive new shoots without formation of winter shoots and high rate of flowering
Trang 15and fruit set, producing a yield of 74.4kg/tree, which was 36.7% higher than that of the control.
- Applying fertilizers at rate of (690g N + 960g K 2 O)/tree/year, equally (3.0 kg
of Song Gianh microorganic fertilizer + 1.5 kg urea + 1.6 kg potassium chloride + 1.5
kg super phosphate)/tree/year enabled a yield of 78.0 kg/tree, which was 18.5% higher than that of the control (common in practice); with higher fruit quality.
Trang 16PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Vải (Litchi chinensis Sonn) thuộc họ Bồ hòn (Sapindacea) được trồng
ở nhiều nước trên thế giới Quả Vải có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao,không những được dùng để ăn tươi, mà còn có thể sấy khô hoặc làm đồ hộp vàchế biến nước giải khát
Hiện nay, Trên thế giới có trên 20 nước trồng vải Tuy nhiên, chỉ có một
số nước sản xuất vải mang tính chất hàng hoá như: Trung Quốc, Ấn Độ, TháiLan, vùng lãnh thổ Đài Loan, Việt Nam
Ở Việt Nam, việc trồng vải đã có cách đây từ cách đây trên 2.000 năm,Vùng trồng vải tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núiphía Bắc Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng diện tích cây vải nước tahiện nay đạt khoảng 70.000 ha, sản lượng đạt khoảng 300.000 tấn với cơ cấugiống không hợp lý Giống vải thiều là giống chính vụ chiếm trên 95% Cácgiống vải khác chỉ chiếm khoảng trên 4% (Nguyễn Văn Dũng và cs, 2010) Dovậy, thời vụ thu hoạch cơ bản chỉ tập trung vào tháng 6 đã tạo áp lực lớn về laođộng cũng như tiêu thụ vải thiều
Hải Dương là một trong số các tỉnh có nhiều giống vải đang được trồng tạicác địa phương trong tỉnh với diện tích 10.700 ha năm 2014, sản lượng đạt48.000 tấn (Cục Thống kê Hải Dương, 2014) Trong số các giống vải hiện có ở ởHải Dương, giống vải chín sớm Lai Thanh Hà (hay còn được gọi là giống TàuLai) là giống đã được Viện Nghiên cứu Rau quả, Trung tâm Giống cây trồng vàCông nghệ Nông nghiệp (thuộc Hội Giống cây trồng) tuyển chọn Đặc nổi trộicủa giống là: chín sớm hơn vải Thiều Thanh Hà bên cạnh tiềm năng về năng suất
và chất lượng quả Đặc biệt, giống có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao chongười trồng nhờ giá bán cao hơn khi bán vào đầu vụ Giống vải này hiện naykhông những đã được Sở Nông nghiệp và PTNT Hải Dương công nhận làgiống tốt mà Sở Nông nghiệp Bắc Giang cũng đã chấp nhận cho nhân giốngnhằm mở rộng sản xuất, phục vụ định hướng rải vụ thu hoạch vải
Tuy nhiên hiện nay, các nghiên cứu về kỹ thuật trên giống vải này chưa
nhiều Việc Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của một
số biện pháp kỹ thuật đến năng suất, chất lượng vải Lai Thanh Hà sẽ góp phần
Trang 17hoàn thiện quy trình sản xuất, làm cơ sở cho việc phát triển diện tích các giốngmang tính rải vụ, nâng cao hiệu quả sản xuất và làm tăng thu nhập cho ngườinông dân.
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biệnpháp kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất, phục vụ phát triểngiống vải Lai Thanh Hà tại địa phương
số biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất và chất lượng của giống
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy
về cây vải ở miền Bắc
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần phát triển giống mang tính rải vụ vàtừng bước nâng cao năng suất, phẩm chất quả và làm tăng thu nhập cho ngườinông dân
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NGUỒN GỐC, LỊCH SỬ VÀ PHÂN LOẠI CÂY VẢI
2.1.1 Nguồn gốc, lịch sử cây vải
Cây vải có nguồn gốc ở vùng giữa miền Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam,bán đảo Malaysia và đã được trồng trọt cách đây trên 3000 năm Hiện tại, ởTrung Quốc vẫn còn có những cây vải tổ trên 1000 năm tuổi ở huyện Bồ Điềntỉnh Phúc Kiến, trong đó cây to nhất có chu vi thân đạt 5,6m, đường kính tán câychỗ lớn nhất đến 40m, chiều cao cây trên 16m và năm cho thu hoạch cao nhấtđến 1,5 tấn quả (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998)
Nhiều tài liệu của Trung quốc cho biết, ở nhiều nơi có cây vải dại như núi
Tạ Hoài Sơn, huyện Liên Giang, tỉnh Quảng Đông; Thạch Phượng Sơn, huyệnBác Bạch, tỉnh Vân Nam Từ Hường Đạo và cộng sự căn cứ điều tra thực địa và
từ góc độ lịch sử, hình thái và đặc trưng quần lạc sinh thái đã kết luận: Đảo HảiNam có nhiều cây vải dại Ngoài ở Dương xuân, Hóa Châu, Liêm Giang và trênsáu vạn núi lởn vùng giáp gianh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnhQuảng Tây…đều có cây vải dại, chứng tỏ cây vải có nguồn gốc phát sinh từTrung Quốc (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998)
Cuối thế kỷ thứ 17, từ Trung Quốc, cây vải đầu tiên được đưa đếnMyanma, sau đó được mở rộng sang Đài Loan, Mautirus, Madagasca và Tây Ấn.Cuối thế kỷ 18, vải được đưa sang Ấn Độ, Anh, Pháp, Úc, Mỹ, (Singh,1954),(Meulen,1957), (Queens and Anon,1962) Đến thế kỷ thứ 19, cây vải được đưađến trồng tại Israel Vào những năm 30 của thế kỷ 20, các công nhân Hoa Kiềugốc Quảng Đông đã đưa vải vượt qua đường xích đạo vào Công Gô (Nghê DiệuNguyên và Ngô Tố Phần, 1998) Hiện nay, vải được trồng ở trên 20 nước trên thếgiới nhưng chủ yếu phân bố ở các nước Đông Nam Á, Châu Đại Dương, các bánđảo ở Thái Bình Dương và miền Nam Châu Phi
Ở Châu Á, các nước trồng vải là: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, ViệtNam, Myanma, Bawnglades, Campuchia, Lào, Maliaxia, Philippin, Srilanca,Indonexia và Nhật Bản
Ở châu Phi có: Nam Phi, Madagasca, Công Gô, Ga Bông, Mautitrius, vàRêuyniông
Châu Đại Dương có: Austraylia và Newzealand
Trang 19Châu Mỹ có Hoa Kỳ, Hundurat, Panama, Cu Ba, Tirinidat, Pooctoricô vàBraxin (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998).
Ở Việt Nam, cây vải được trồng cách đây khoảng 2.000 năm và phân bố
từ 18 – 190 vĩ Bắc trở ra, nhưng chủ yếu vẫn là vùng đồng bằng sông Hồng, trung
du miền núi phía Bắc và một phần khu Bốn cũ Sử sách đã chép lại rằng: cáchđây 10 thế kỷ, dưới thời Bắc thuộc, vải (tiếng Hán là Lệ Chi) là một trong nhữngcống vật hàng năm Việt Nam phải đem nộp cho các vua Trung Quốc Năm 722,Mai Thúc Loan đã hiệu triệu những người dân phu đi gánh vải cống nộp chochính quyền nhà Đường
Theo các tài liệu đã công bố, Việt Nam cũng được coi là một trongnhững nước có nguồn gốc phát sinh của cây Vải Theo tài liệu của Pháp để lại(C Petelot - 1952 ) có nói đến nhiều cây vải dại mọc ở sườn núi Ba Vì Theo
Vũ Công Hậu – 1982, cây Vải đã được phát hiện mọc ở chân núi Tam Đảo, tỉnhVĩnh Phúc Đây là những cây Vải dại, quả có hình dạng, mầu sắc và gai quảgiống hệt vải trồng, chỉ khác quả nhỏ khoảng 6 – 8 gam, cùi mỏng, ăn chua…Ởcác vùng này người ta còn tìm được những cây vải dại quả nhỏ, gai dài, hạt to,
ăn chua…có đặc điểm tương tự như một số loài vải trồng hiện nay (Vũ CôngHậu, 1996)
Vùng Thanh Hà (Hải Dương) hiện nay còn cây vải nhà cụ Hoàng Văn Thụtrên 130 tuổi được coi là cây vải tổ Hàng năm, vào vụ vải chín người dân tônQuý Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương vẫn tổ chức ngày hộilàng để tưởng nhớ người có công đã mang cây vải – cây xóa đới giảm nghèo vàlàm giầu về vùng quê này, góp phần đem lại ấm no cho người dân
Từ vùng Thanh Hà – Hải Dương, cây vải đã được đưa đi trồng trọt ở hầuhết các tỉnh miền Bắc, miền Trung và cả một số tỉnh Tây Nguyên
2.1.2 Phân loại vải
Vải (Litchi chinensis Sonn) thuộc họ bồ hòn (Sapindaceae), bộ Bồ hòn (Sapindales), phân lớp hoa hồng (Rosidae) Họ Bồ hòn có 150 chi, với khoảng
2.000 loài được phân bố ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới, chủ yếu tập trung ởvùng Châu Á và một số ít loài thuộc Nam Mỹ, Châu Phi và Austraylia (HoàngThị Sản, 2003)
Vải có 3 loài phụ:
Litchi chinensis: loài này tập trung các giống vải thương mại ngày nay có
Trang 20nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc Hiện tại Trung Quốc có khoảng trên 100giống trong đó có 15 giống thương mại quan trọng, Ấn Độ có trên 50 giống, Thái
Lan có trên 20 giống, Austraylia có trên 40 giống (Boss et al., 2001).
Litchi philipinsensis: Được trồng nhiều ở Philipin và Papua New Guinea
trên những vùng núi cao, cây sinh trưởng tốt, tán lá rậm rạp mầu xanh sẫm quảnhỏ hình ô van, vỏ quả dày, gai quả nhọn, hạt to dài, cùi chỉ là một lớp mỏng baoquanh hạt, ăn có vị chua và chát
Litchi javenensis: loài phụ này có nguồn gốc từ Malay Peninsula,
Indonesia, Trung Quốc, West Java và Đông Nam Á, có đặc điểm quả nhỏ, hạt to,gai dài và ăn có vị chua
2.1.2.1 Một số giống vải chính trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có nhiều giống vải khác nhau, trong đó Trung Quốcđược coi là nơi có nh iều giống vải nhất, khoảng trên 200 giống và dòng Tuynhiên, chỉ có khoảng 20 giống được phát triển rộng rãi (Chen and Huang, 2000)
Ở tỉnh Quảng Đông các giống vải như: Baila, Baitangying, Heiye (Hắc diệp),Fezixiao, Guiwei (Quế vị), Nuomici (Nhu mễ tư) và Huazhi (Hoài chi) được trồngvới diện tích khá lớn khoảng hơn 140.000 ha, trong đó giống Guiwei, Nuomicichiếm hơn 80% diện tích Tỉnh Phúc Kiến trồng chủ yếu giống vải Lanzhu vớidiện tích khoảng hơn 25.000 ha Phân theo chất lượng các giống vải ở Trung Quốc
có hai nhóm chính: nhóm khi quả chín, thịt quả thường nhão và ướt còn nhóm kiakhi chín thì cùi ráo và khô Phân theo vụ thu hoạch thì có 3 nhóm:
Nhóm chín sớm và cực sớm: giống Sanyuehong, Feizixiao, Edanli,Ziliangxi, các giống này được trồng tập trung chủ yếu ở tỉnh Hải Nam GiốngSanyuehong là giống chín sớm nhất vào cuối tháng 4
Nhóm chín chính vụ: Khoảng 90% sản xuất vải ở Trung Quốc là giốngchính vụ, gồm các giống: Baila, Baitangying, Heiye, các giống này được trồngtập trung ở tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Zhanjiang, Maoming vàYangjiang Thời gian thu hoạch nhóm chính vụ kéo dài khoảng 50 ngày, từ cuốitháng 5 đến giữa tháng 7
Nhóm chín muộn: Guiwei, Nuomici, Huazhi, Feizixiao, Lanzhu, các giốngnày được trồng tập trung ở tỉnh Quảng Đông, đông nam tỉnh Quảng Tây và tỉnhPhúc Kiến (Ghosh et al, 2000); Mitra, 2002 Giống chín muộn nhất là giốngNanmuye, vào giữa tháng 8 ở tỉnh Tứ Xuyên Tại Đài Loan, giống vải chủ yếu làgiống Heiye (Hắc diệp), chiếm hơn 90% tổng diện tích Ngoài ra còn có giống
Trang 21Yuhebao được trồng ở miền Nam và giống Feizixiao được trồng ở miền Trung(Anonymous, 2000) Tại Nam Phi giống vải chủ yếu là Kwaimi (thường đượcgọi là “Mauritius” v có nguồn gốc từ hòn đảo này) chiếm 75% sản xuấ t vải ởNam Phi; tiếp đến là giống McLean -Red, chiếm 16% (Milne, 1999; Ghosh,2001) Ấn Độ có khoảng 51 giống, trong đó giống được trồng nhiều là: Shahi,Bombai, Rose Scented, China, Deshi, Calcutia và Mazaffarpur (Chen and Huang,2000) Giống vải trồng chủ yếu ở Thái Lan là giống Hong Huay, chiếm tới 70%diện tích, sau đó là giống Kom, chiếm 11%, còn lại là các giống khác như O -Hia, Hoài Chi (Huazhi) và Chakrapad (Subhadrabandhu and Yapwattanaphun,2001) Giống vải của Thái Lan được chia làm hai nhóm: nhóm yêu cầu ít chặtchẽ với nhiệt độ lạnh trong mùa đông được trồng ở khu vực trung tâm của TháiLan, nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh chặt chẽ hơn trong mùa đông được trồng ở cáctỉnh phía Bắc (Anupunt, 2003; Teng, 2003) Ở Nam Mỹ, chỉ có 2 nước trồng vải
là Braxin và Mê -xi-cô Giống chủ yếu trồng ở Sao Paulo - Braxin là Bengalinhập từ Ấn Độ và ở Mê -xi-cô là Hắc diệp và Kwaimi do cộng đồng người Hoađưa đến từ Trung Quốc (Yamanishi và cs, 2001) Ở Bắc Mỹ (chủ yếu là Mỹ), v ảiđược trồng ở Florida, chiếm 95% Một số ít được trồng ở Hawai và California.Giống chủ yếu là giống Brewster (Chenzi) Từ năm 1992 có thêm giốngMauritius (Campbell, 2001, Knight, 2001) Các giống vải trồng ở Australia chủyếu là: Kwai May Pi nk, tiếp đến là Feizixiao, Shuidong và Huaizhi Giống địaphương là Salathiel Sản xuất vải ở Australia tập trung chủ yếu ở bangQueensland: có tới 50% diện tích trồng ở phía Bắc, 40% ở phía NamQueensland Chỉ 10% diện tích vải được trồng ở Bắc New South Wales (Menzel,2002) Israel cũng trồng vải từ năm 1930 với những giống: Mauritius nhập nội từNam Phi, giống Floridian nhập nội từ Mỹ và Bengali nhập nội từ Ấn Độ (Goren
và cs, 2001) Tuy nhiên đến năm 1970, trồng vải ở Israel mới trở thành ngành sảnxuất thương mại, với các giống chủ yếu là Mauritius (chiếm 80%) và Floridian(20%) (Gazit, 2001)
2.1.2.2 Một số giống vải chính ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các giống vải được phân theo thời vụ thu hoạch như sau:
Các giống vải chín sớm: các giống có thời gian chín từ 5/5 đến 25/5 hàng
năm Đặc điểm hoa có phủ một lớp lông thưa màu nâu, quả hình tim hoặc trứng,khối lượng quả từ 30 - 40 g Các giống thuộc nhóm này là: vải tu hú, Hùng Long,Bình Khê, Yên Hưng, Yên Phú
Trang 22Các giống vải chín chính vụ: các giống có thời gian chín từ 1/6 đến 25/6
trong điều kiện các tỉnh miền Bắc Chùm hoa có phủ lớp lông màu trắng, khốilượng quả trung bình 25 g, cùi ráo, vị thơm năng suất khá cao Các giống thuộcnhóm này là: thiều Thanh Hà, thiều Phú Hộ
Các giống vải chín muộn: là giống có thời gian chín khoảng từ 30/6 đến
15/7 hàng năm theo điều kiện các tỉnh miền Bắc Chùm hoa có phủ lớp lông màutrắng, khối lượng quả trung bình khoảng 35 g am, phẩm chất khá ngon Tuynhiên ở nước ta hiện nay những nghiên cứu để phân lập nguồn gen của các giốngchín muộn chưa có do vậy các giống chín muộn hiện nay vẫn có thể là các giốngchín chính vụ do sử dụng các biện pháp kỹ thuật mà quả chín muộn hơn Cácgiống vải chín muộn hiện nay có các giống: chín muộn Thanh Hà, chín muộnLục Ngạn (Trần Thế Tục, 2004) Năm 1991 nước ta nhập nội một số giống vải từTrung Quốc là các giống: Heiye (Hắc diệp), Fezixiao (Phi Tử Tiếu), Guiwei (Quếvị), Nuomici (Nhu mễ tư) và Huazhi (Hoài chi), Kwai May Pink (Tam NguyệtHồng) Năm 1991, dự án VIE86 - 003 đã nhập một số giống từ Australia về LụcNgạn như: Waichee, Taiso, Salathiel, Kwai May Pink… Qua theo d.i, các giốngnày đều sinh trưởng kém hơn vải thiều Thanh Hà Năm 1998, huyện Lục Ngạntiếp tục nhập giống Bạnh Đường Anh và năm 2001, Tổng Cô ng ty Rau quả nhậpgiống Đại Bi Hồng cũng trồng tại Lục Ngạn, song các giống này sinh trưởngchậm và vẫn đang được tiếp tục theo dõi Theo kết quả điều tra của Nguyễn VănDũng cs (2005) (tại 13 huyện của 7 tỉnh miền Bắc), Việt Nam có tập đoàn vảikhá phong phú Đã thu thập được 31 giống, trong đó tuyển chọn được 8 giống cókhả năng sinh trưởng, phát triển tốt, có tính chống chịu sâu bệnh khá, năng suấtcao và ổn định Hiện nay, 5 giống đã được công nhận giống quốc gia là thiềuThanh Hà, Hùng Long, Bình Khê, Yên Hưng, Yên Phú Trong đó, trừ giống thiềuThanh Hà ra, 4 giống còn lại đều là giống chín sớm Hiện nay hơn 95% diện tíchtrồng vải của nước ta trồng giống vải thiều Thanh Hà, là giống chính vụ, chín rấttập trung, gây trở ngại cho chế biến và tiêu thụ Chính vì vậy, để nâng cao hiệuquả kinh tế của vườn quả, cần có một cơ cấu giống vải hợp l với thời gian thuhoạch khác nhau Trong đó, giống chín sớm được tập trung ưu tiên mở rộng diệntích do khả năng tiêu thụ và giá bán cao (Vũ Mạnh Hải, 2005)
2.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC VỀ CÂY VẢI
2.2.1 Yêu cầu sinh thái của cây vải
Nhiệt độ: nhiệt độ là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sinh trưởng sinh
Trang 23dưỡng và sinh thực của cây vải, vùng có nhiệt độ bình quân năm từ 21-25oC vảiphát triển tốt, nhiệt độ 0oC đối với giống chín muộn và 4oC đối với giống chínsớm thì cây vải ngừng sinh trưởng.
Nhiệt độ lạnh vào thời kỳ phân hóa mầm hoa như là một yếu tố quyết địnhđến sự ra hoa của vải Tuy nhiên, nếu thời kỳ lạnh đến muộn khi lộc thu đã thànhthục lâu thì cây vải sẽ xuất hiện lộc đông, cũng trong thời kỳ phân hóa hoa nếunhiệt độ xuống quá thấp có thể phá hủy thùy hoa và ảnh hưởng đến sự phát triểncủa hoa (Hieke et al., 2002) Theo Yapwatanaphun (2000), ở Thái Lan các giốngvải được chia làm hai nhóm: nhóm yêu cầu thời gian có nhiệt độ lạnh vào mùađông ngắn hơn và nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh về mùa đông dài hơn
Menzel (1988) nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ ra hoa trên 7giống vải khác nhau cho thấy: nếu nhiệt độ chênh lệch ngày đêm là 25/20 và30/25 thì cây vải không có hoa Nếu nhiệt độ duy trì ở ngưỡng thấp từ 15/10 chođến lúc nở hoa thì số lượng chùm hoa đạt cao nhất, trong thời kỳ này nếu nhiệt
độ ngày đêm tăng dần tỷ lệ hoa đực sẽ tăng và một số chùm hoa sẽ trở lại thànhcành dinh dưỡng Sự thụ tinh xảy ra tốt nhất ở nhiệt độ 19 - 22oC, nếu nhiệt độthấp hơn sẽ ngăn chặn sự phát triển của ống phấn Ở điều kiện nhiệt độ 20/17oChoặc 22/17oC, hạt phấn nẩy mầm trên đầu nhụy mất 5 ngày, nhưng chỉ mất 2ngày khi điều kiện nhiệt độ là 33/27oC Tuy nhiên, nếu nhiệt độ cao và khô hạnthì tỷ lệ đậu quả thấp do hạt phấn bị khô, không nảy mầm và thụ tinh được, năng
suất sẽ giảm trầm trọng (Stern et al., 1997).
Cây vải muốn có năng suất phải qua 2 thời kỳ: ra được mầm hoa và đậuđược quả Thời kỳ phân hóa mầm hoa cây vải cần có nhiệt độ lạnh, thời kỳ nởhoa phải ấm không có gió bấc và mưa phùn Năm nào nhiệt độ mùa đông thấp,khô, biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn sẽ có lợi cho phân hóa mầm hoa, tích lũydinh dưỡng vào quả và cây có khả năng cho năng suất cao Thời kỳ phân hóa hoakhác nhau tùy theo giống, các giống chín sớm phân hóa hoa vào tháng 11 cácgiống chín trung bình và muộn phân hóa tháng 12 (Trần Thế Tục, 1997)
Trần Thế Tục (2004) cho rằng, các giống vải khác nhau yêu cầu nhiệt độthấp vào mùa đông khác nhau, các giống chín sớm có thể hình thành mầm hoa ởnhiệt độ cao hơn so với vải Thanh Hà và Phú Hộ Vũ Mạnh Hải (2000) cho thấy,nhiệt độ các tháng 12 đến tháng 2, lượng mưa tháng 11, 12, số giờ nắng tháng 11,
12 có tương quan đến năng suất giống vải Thanh Hà
Trang 24Ánh sáng: vải là cây ưa sáng, tổng số giờ chiếu sáng trong năm khoảng
1.800 giờ thích hợp cho vải Ánh sáng đầy đủ làm tăng khả năng đồng hóa, xúctiến quá trình phân hóa mầm hoa, tăng màu sắc của vỏ quả và làm tăng phẩmchất quả Nếu không đủ ánh sáng hoặc trồng quá dày, quá trình quang hợp bị hạnchế thì sự ra hoa đậu quả sẽ khó khăn Đối với vườn vải khi trồng quá dầy hoặckhông cắt tỉa thường xuyên sẽ làm giảm số chùm hoa và chiều dài chùm hoa(Phạm Văn Côn, 2004)
Lượng mưa và độ ẩm: Đối với cây vải, thời gian vải phân hóa mầm hoa,
lượng mưa có ảnh hưởng đến tỷ lệ hoa đực và hoa cái Mưa nhiều cũng ảnhhưởng đến tỷ lệ đậu quả của vải Thời kỳ nở hoa gặp mưa cộng thêm gió rétkhiến cho hạt phấn phát dục kém, quá trình thụ phấn bị ảnh hưởng, mặt khácmưa ẩm làm phát sinh nhiều nấm bệnh trên cây dẫn đến giảm tỷ lệ đậu và tăng tỷ
lệ rụng quả Thời gian vải chín, nếu gặp mưa sẽ ảnh hưởng đến chất lượng quả
do vỏ quả bị nứt (Trần Thế Tục, 2004)
Lượng mưa và độ ẩm cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sinhtrưởng của vải Mùa hè, lượng mưa tương đối nhiều là thời kỳ sinh trưởng sinhdưỡng của cây vải, mùa đông ít mưa, đất khô hạn đã ức chế sinh trưởng của rễ vàcành, thuận lợi cho phân hóa mầm hoa (Ngô Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1991)
Gió: Gió có tác dụng hỗ trợ hoa thụ phấn, thụ tinh Gió Tây Bắc khô làm
khô đầu nhụy ảnh hưởng đến thụ phấn, gió Đông Nam ẩm ướt làm hoa vải có thể
bị rụng Thời gian quả phát triển gió to làm quả bị rụng, cành gãy, thậm chí đổcây Chính vì vậy, khi thiết kế chọn vườn cần phải chọn đất và thiết kế đai rừngchắn gió, quá trình chăm sóc nên cắt tỉa thường xuyên để cây có tán thấp
Đất: Cây vải có tính thích nghi cao với nhiều loại đất khác nhau Ở các
loại đất như đất đỏ, đất vàng, đất cát pha, đất phù sa và đất thịt nặng cây vải đềuphát triển được và cho năng suất Loại đất thích hợp nhất cho cây vải là đất phù
sa có tầng canh tác dầy, thoát nước tốt Vùng đất trũng cũng có thể trồng đượcvải, nhưng phải làm luống cao, có rãnh thoát nước Theo Trần Thế Tục (2004)yếu tố hạn chế vùng trồng vải không phải là loại đất mà chủ yếu là thời tiết khíhậu Trong đó, hai yếu tố quan trọng nhất là nhiệt độ thấp, lượng mưa ít vàotháng 12 và tháng 1 để cây phân hóa mầm hoa
2.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm thực vật học của vải
Nghiên cứu các đặc điểm thực vật thông qua chỉ tiêu về sinh trưởng và
Trang 25phát triển của cây trong điều kiện khí hậu của một khu vực qua nhiều năm có thểđánh giá được mức độ thích nghi, khả năng bảo tồn các đặc tính vốn có củagiống cũng như tiềm năng cho năng suất.
Rễ: Cây vải có bộ rễ rất khỏe gồm rễ ăn đứng và rễ ăn ngang, bộ rễ ăn
sâu, nông, rộng, hẹp tùy thuộc vào cách nhân giống, đất trồng, nước phân bón,không khí và chế độ nhiệt trong đất Đại bộ phận rễ tơ tập trung trong và phạm vingoài tán 10 - 50 cm, độ sâu 0 - 50 cm Hoạt động của bộ rễ vải chia làm 3 thờikỳ: Thứ nhất sau lúc hoa nở rộ đến giữa tháng 6, đây là thời kỳ bộ rễ hoạt độngmạnh mẽ và nhiều rễ nhất; thứ hai vào giữa tháng 8; thứ ba sau khi lộc thu thànhthục (vào khoảng trung tuần tháng 10) Với bộ rễ phát triển, có khả năng hấp thụmạnh nên vải có khả năng chịu hạn Yuan and Huang (1993) khi nghiên cứu sựphát triển bộ rễ của giống Nuamici cho thấy, đợt rễ xuất hiện vào tháng 5 lànguyên nhân gây rụng quả trầm trọng Zhou et al, (1996) cũng nhận thấy, nếu đợt
rễ mới không phát triển vào tháng 5 đối với hai giống Huaizu và Nuamici thì tỷ
lệ rụng quả sẽ giảm hẳn Kết quả cho thấy nghiên cứu đối với sự sinh trưởng của
bộ rễ có thể tác động các biện pháp kỹ thuật làm giảm bớt tỷ lệ rụng quả sinh lýcho vải
Thân, cành: Cây trưởng thành cao tới 10 - 15 m, tán hình mâm xôi hoặc
bán cầu, đường kính tán từ 8-10 m Thân có đường kính lớn, vỏ nhẵn, màu tối, gỗmàu nâu Đối với cây vải tùy vào điều kiện sinh thái, khả năng trồng trọt, mộtnăm cây thường ra 3 đến 4 đợt lộc Các đợt lộc có liên quan chặt chẽ với nhau,quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho việc ra hoa kết quả ở năm sau Thôngthường cành mẹ của cây vải là cành thu, tùy theo giống, tùy tuổi cây mà một năm
có thể có từ 1 - 2 đợt cành thu (Hieke and Menzel, 2001) Hoa vải ra chủ yếu từlộc xuân mọc từ cành thu năm trước, nhưng không phải có lộc thu là có hoa Nếulộc thu ra quá muộn, sinh trưởng tích lũy kém, dù gặp điều kiện khí hậu thuận lợicũng không thể phân hoá mầm hoa được Nếu lộc thu ra sớm mà ngay sau đó làđợt lộc đông thì cây cũng không có khả năng ra hoa Phân hóa mầm hoa sớm haymuộn còn do tuổi cành mẹ chi phối, cành mẹ thành thục sớm thì phân hóa mầmhoa sớm, cành mẹ thành thục muộn thì phân hóa mầm hoa muộn Nghiên cứu củaMenzel (1992); Ngô Xuân Bình (2005) cho thấy, cành vải trong vụ xuân có baloại: một loại phát sinh chùm hoa, một loại phát sinh chùm hoa có kèm theo lá vàmột loại phát triển thành cành dinh dưỡng (không ra hoa) Loại cành có hoa kèmtheo lá thường có tỷ lệ đậu quả thấp hơn
Trang 26Do vậy, khống chế được thời gian hình thành và tốc độ sinh trưởng củacành thu có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phân hóa mầm hoa (Zeng et al.,2002) Nghiên cứu thời gian ra lộc của cây, xác định đợt lộc có khả năng ra hoa
và cho năng suất cao nhất, tìm ra sự liên hệ giữa các đợt lộc sẽ là nền tảng choviệc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, thúc đẩy đợt lộc tốt, hạn chế đợt lộc có khảnăng cho năng suất thấp Nghiên cứu sinh trưởng của các giống vải chín sớmtrồng tại Viện Nghiên cứu Rau quả cho thấy: các giống vải chín sớm có khả năng
ra lộc tốt, thời gian hoàn thành các đợt lộc hè từ 36 - 49 ngày, lộc thu từ 38 - 50ngày Các chỉ tiêu về đường kính, chiều dài, số lá của các đợt lộc của vải chínsớm đều cao hơn vải Thanh Hà (Nguyễn Văn Dũng, 2005)
Lá: Lá vải thuộc lá kép lông chim gồm 2 - 4 đôi, mọc so le, lá chét cứng,
dai có chất sừng Cuống lá ngắn, mặt lá xanh đậm, phản quang, rìa lá không gợnsóng, nhẵn bóng, mặt dưới lá mầu trắng xám, gân nhẵn, không nổi rõ lên trên lá.Mút lá nhọn, gốc lá hơi tù, lá non khi mới ra màu tím đỏ, khi cành thành thụcmàu xanh đậm Kích thước lá của các giống vải chín sớm lớn hơn so với vảiThanh Hà, màu sắc lá non lúc mới ra cũng sẫm hơn Theo Nguyễn Văn Dũng(2005), kích thước lá vải chín sớm dài từ 13 - 15 cm, rộng 3 - 4 cm trong khi vảiThanh Hà lá chỉ dài từ 9 - 10 cm, rộng từ 3,4 - 3,6 cm Nghiên cứu của Lê ĐìnhDanh và Nguyễn Quang Huy (1999) cũng cho thấy: lá vải Hùng Long có kíchthước to, lộc non lúc mới ra có mầu sẫm hơn so với vải Thanh Hà
Hoa: Bản chất hoa vải là hoa lưỡng tính Tuy nhiên, trong quá trình phát
triển, một số bộ phận không phát triển (nhị/nhuỵ) hoặc bị tiêu biến (cánh hoa).Một số hoa có các bộ phận mang tính đực (nhị) không phát triển bình thường,nhỏ lại các bộ phận này không có tác dụng trong sinh sản được gọi là hoa cái.Ngược lại, đa số hoa có các bộ phận mang tính cái (nhuỵ, bầu) không phát triển
và không có tác dụng trong sinh sản được gọi là hoa đực:
Hoa đực có khả năng tung phấn để thụ tinh Hoa cái thường có hai bầuphát triển, sau khi thụ tinh xong, thường chỉ có một bầu phát triển thành quả(Trần Thế Tục, 2004)
Hoa cái: khi hoa phát triển hoàn toàn, ba bộ phận bầu nhụy, vòi nhụy vàđầu nhụy phân hóa khá rõ Bầu nhụy phát triển thường có 2 - 3 tâm bì Khi nhụychín đầu nhụy tiết ra dịch là thời điểm thụ phấn tốt nhất Với sản xuất hoa cái rấtquan trọng, tuy nhiên tỷ lệ hoa cái nhiều hay ít tùy thuộc vào từng giống và điềukiện môt trường
Trang 27Nhiệt độ là yếu tố môi trường chính ảnh hưởng tới tỷ lệ giới tính Một thínghiệm cho thấy, cây 2 năm tuổi của 5 giống đặt trong điều kiện chế độ nhiệt
15o/10o, 20o/15o, 25o/20o và 30o/25oC thì ở chế độ nhiệt thấp, cây cho tỷ lệ hoacái cao nhất, trung bình lần lượt là: 72, 49, 27 và 11% Dưới chế độ nhiệt
25o/20oC giống Bengal và Souey Tung (Thủy Đông) không ra hoa cái, còn giốngHuazhi (Hoài Chi) không ra hoa cái ở chế độ nhiệt 30o/25oC (Menzel andSimpson, 1992)
Trong một chùm hoa, số hoa cái có khả năng đậu quả cũng chỉ chiếm từ
15 - 20% tổng số hoa Thông thường cành hoa ngắn, có tỷ lệ đậu quả cao, mật độquả dầy và đều hơn so với loại hình cành hoa dài Tuy nhiên tỷ lệ đậu quả củacác giống vải lại liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ hoa cái và hoa lưỡng tính Quan sáttrên các chùm hoa nở sớm cho thấy, chùm hoa thường có kích thước lớn, tỷ lệhoa đực cao và tỷ lệ đậu quả kém Các chùm hoa nở muộn hơn thường là chùmhoa nhỏ, với tỷ lệ hoa đực ít hơn và đậu quả tốt hơn (Mezel, 1988)
Yuan and Huang (1993) khi nghiên cứu sự nở hoa của vải cho thấy, có sựtương quan chặt giữa số lượng lá trên cành mẹ với số quả đậu/chùm Trên mộtchùm hoa, nếu có nhiều lá lá tỷ lệ đậu quả sẽ thấp và ngược lại Khi nghiên cứu
về khả năng ra hoa của 7 giống vải chín sớm được tuyển chọn so với Thanh Hàcho thấy các giống vải chín sớm có số lượng hoa/chùm dao động từ 2.832,5 -3.758,4 hoa/chùm so với 940,5 hoa/chùm của giống Thanh Hà (Nguyễn VănDũng, 2005)
Hạt phấn của giống khác đôi khi góp phần làm tăng tỷ lệ đậu quả Một sốnghiên cứu về canh tác ở các trang trại trồng hồng cũng như chôm chôm, xoài vàvải cho thấy: trồng xen làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả Tuy nhiênmỗi giống lại yêu cầu một loại cây trồng xen khác nhau Trong một chùm hoavải, số lượng hoa đực chiếm khoảng 70 - 80% tổng số hoa Mặt khác, hoa đực vàhoa cái không nở cùng một lúc mà nở xen kẽ đôi khi hoa đực nở trước sau đó hoacái mới nở Nếu trong vườn chỉ trồng thuần một loại giống sẽ xảy ra thụ phấnkhông đều làm cho tỷ lệ đậu quả kém
Theo Li (2000), để vải tự thụ phấn, tỷ lệ đậu quả là 4,2%, nếu thụ phấnchéo đạt 6,9% Thời gian vải nở hoa, nếu cách ly không cho côn trùng lui tới tỷ
lệ đậu chỉ đạt 0,026 0,105%, để côn trùng tự do hoạt động tỷ lệ này là 0,17 11,25% (Trần Thế Tục, 2004) Sự thiếu hụt số lượng hạt phấn cũng như các hạtphấn khỏe mạnh vào thời điểm hoa cái nở là một trong những nguyên nhân dẫnđến tỷ lệ đậu quả thấp hoặc gây rụng quả sinh lý Theo Goren (2000), một số
Trang 28-trang trại trồng vải của Israel mặc dù đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật như bónphân, phun chất điều hòa sinh trưởng, khoanh cành mà năng suất vẫn thấp,nguyên nhân do vải không được thụ phấn đầy đủ Do vậy, khi được trồng thêmcác cây thụ phấn bổ khuyết, năng suất đã tăng từ 20 - 30%.
Nghiên cứu của Singh and Chaudhary (2004) ở Ấn Độ cũng cho thấy: cáccây vải thụ phấn tự do có tỷ lệ quả đậu cao hơn so với các cây tự thụ phấn Kíchthước quả của cây thụ phấn tự do cũng lớn hơn so với tự thụ Theo Trần Thế Tục(2004), Việt Nam chưa áp dụng thụ phấn nhân tạo cho vải nhưng ở Trung Quốc đã
có kinh nghiệm thụ phấn cho vải: trên cây vải khi hoa đực nở thu gom tất cả cáchạt phấn chế thành dung dịch rồi phun cho cây vào thời kỳ hoa cái nở rộ Kết quả
có thể làm tăng tỷ lệ đậu quả ở thời kỳ đầu từ 129 - 314% so với thụ phấn tự nhiên
Quả: Có nhiều dạng: hình trứng, hình bầu dục, hình trái tim, hình cầu tùy
từng giống Cùi vải thường chiếm 60-70%, vỏ hạt chiếm 20-30% khối lượng quả,lúc còn xanh, quả có màu xanh nhạt, khi chín màu đỏ thẫm, cùi vải mầu trắng vịngọt pha chua hoặc rất chua tùy theo giống Hạt vải hình bầu dục dài, màu nâubóng Thời gian từ lúc hoa cái bắt đầu nở đến lúc thu hái được quả ngắn nhấtcũng mất 70 ngày, dài đến hơn 100 ngày, quả vải phát dục có ba giai đoạn và có
ba lần rụng quả:
Giai đoạn 1: Tế bào tăng trưởng mạnh để phát triển phôi, vỏ hạt, vỏ quả.Sau hoa cái nở 10 ngày, quả bằng hạt đậu thì rụng quả sinh lý đợt 1
Giai đoạn 2: Hạt phát triển nhanh, tăng nhanh về thể tích và khối lượng
Vỏ hạt cứng dần cho đến lúc thịt quả bao kín hạt Lúc thịt quả bao kín hạt từ 1/3đến 2/3, do thiếu dinh dưỡng hoặc bên trong thiếu các chất kích thích sinhtrưởng, xuất hiện rụng quả lần 2
Giai đoạn 3: Thịt quả phát triển rất nhanh và quả đến giai đoạn chín Từlúc thịt quả bao kín hạt cho đến khi quả chín thời gian từ 19 - 25 ngày Thời giannày dinh dưỡng và khoáng tích lũy nhanh vào quả, vỏ quả đã có phần chuyểnmàu Do cường độ tích lũy nhanh nếu gặp thời tiết bất thuận (nắng hạn, mưa to)
sẽ làm rụng quả (Trần Thế Tục, 2004)
2.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân và cắt tỉa cho cây vải.
2.2.3.1 Những nghiên cứu ngoài nước
* Nghiên cứu về kỹ thuật cắt tỉa
Ở tất cả các nước trồng vải trên thế giới đều có những nghiên cứu về các
Trang 29biện pháp cắt tỉa, tạo hình và đều nhằm mục đích tạo cho cây có bộ khung táncân đối, thuận lợi cho quang hợp, hạn chế sâu bệnh hại, dễ chăm sóc, quản lý,làm tăng năng suất, phẩm chất quả Sự sinh trưởng tự nhiên của cây ăn quảthường không đáp ứng yêu cầu về cấu trúc tối ưu và thuận lợi cho việc chăm sóctán cây Cắt tỉa nhằm mục đích điều hòa sinh trưởng, ra hoa kết quả của cây Cắttỉa làm giảm chiều dài cành, tỉa bớt cành nhánh, hướng cành ra phía ngoài làmgiảm số lượng mầm sinh trưởng dẫn tới việc phân phối lại các chất giữa các cơquan còn lại, làm cho quả phát triển to hơn Cắt tỉa còn hạ bớt chiều cao cây, giữđược ánh sáng tối ưu chiếu vào cây ăn quả, nâng cao năng suất lao động khichăm sóc vườn Cắt tỉa nâng cao tính hoạt động sinh lý của mô tế bào và hiệusuất thoát hơi nước trong điều kiện khô hạn Đây là một trong những biện phápcải thiện chế độ ẩm cho cây.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc: biện pháp quan trọng
để cây vải năm nào cũng ra hoa là giữ lại lộc thu đúng lúc, khống chế lộc đông.Trong ba loại lộc thu: lộc thu trên cành hè, lộc thu trên cành cắt ngắn, lộc thu trêncành quả sau thu hoạch có số quả đậu trên chùm và năng suất chùm quả cao nhất(Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1991)
Tác giả Stern et al (2005) cho thấy: nếu cắt tỉa cho vải sớm từ giữa tháng
10 - 11 thì vải nở hoa đều, nếu không cắt tỉa thì chỉ có 65 - 79% số cây trongvườn nở hoa, tuy nhiên cắt tỉa muộn vào tháng 12 - 2 làm số cây nở hoa giảm đi
và năng suất giảm rõ rệt
Theo tác giả Hieke, Menzel et al (2002): khi cắt tỉa khoảng 50% số cành
của vải và tỉa đều trên toàn cây cho thấy những cây cắt tỉa cho năng suất cao hơn
từ 30 - 40% so với cây không cắt tỉa
Trong kỹ thuật làm vườn hiện đại, cắt tỉa là khâu kỹ thuật then chốt, cần
có kiến thức, kinh nghiệm và tay nghề (Phạm Văn Côn, 2004; Ngô Xuân Bình,2005)
Phương pháp cắt tỉa nhìn chung tương đối giống nhau Tùy theo từng loạicây mà phương pháp cắt tỉa có thể là tạo tán mở hình phễu hay tạo tán hình rẻquạt Ngoài việc cắt tỉa cành, ở Trung Quốc còn sử dụng biện pháp cắt ngắnchùm hoa nhằm hạn chế tiêu hao dinh dưỡng, giúp cho quá trình đậu quả và pháttriển của quả tốt hơn
Theo Hertslet (1989), đốn, cắt tỉa, tạo hình có thể coi như là các kỹ thuậtđiều chỉnh sinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung và cây vải nói riêng
Trang 30Muốn biết cắt tỉa vào lúc nào, những cành nào nên cắt bỏ thì phải có nhữngnghiên cứu cụ thể, dựa trên các nguyên lý chung sau đây:
+ Sự phát triển của các bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất có sự cânbằng theo tỷ lệ nhất định đối với từng loài cây trồng Nếu phá vỡ sự cân bằngnày, cây sẽ tự thiết lập lại một cân bằng mới, dựa vào đặc điểm này ta có thể thaylộc, cành mới hay phục tráng lại bộ rễ
+ Những cành ở trên mặt tán có hiện tượng ưu thế ngọn, kìm hãm sự pháttriển của các cành phía dưới Phá vỡ hiện tượng ưu thế ngọn sẽ tạo điều kiện chocác cành phía dưới phát triển
+ Theo lý luận về giai đoạn phát dục của các vị trí cành trên cây, sự phátdục giảm dần từ cành ngọn xuống cành ở dưới Vì vậy, cần tạo cho cây có bộ tánphân bố đều Mặt khác, thông qua cắt tỉa sẽ làm tăng khả năng ra hoa, đậu quảcủa cây
Nguyên tắc cắt tỉa: Theo Cục hợp tác nghiên cứu về sản xuất Nông nghiệp
Úc (2001), nguyên tắc cắt tỉa với các đối tượng cây như sau:
+ Đối với cây vải trẻ: thời kỳ này cây vải mới cho quả nên cắt tỉa nhẹ, đểlại nhiều cành Nói chung, chỉ cắt bỏ những cành đã mất khả năng quang hợp,cành la sát mặt đất và một số ít cành mọc sít nhau, cành tăm, cành sâu bệnh Thời
kỳ này chỉ cắt tỉa khoảng 10% số cành
+ Đối với cây vải trưởng thành: giai đoạn này cây vải đã chuyển sang thời
kỳ sai quả, tiêu hao nhiều dinh dưỡng vì vậy nên cắt tỉa nặng, để dinh dưỡng tậptrung cho những cành còn lại, thúc đẩy lộc thu phát triển, bảo đảm chắc chắnsang năm có quả Thời kỳ này cắt tỉa khoảng 20 - 30% số cành
- Đối với cây vải già: căn cứ vào khả năng sinh trưởng và tình hình ra quả
vụ trước để xác định mức độ cắt tỉa nặng hay nhẹ Cây có nhiều cành, cành yếuthì cắt tỉa nặng, làm giảm sinh trưởng để tập trung dinh dưỡng ra lộc mới mập vàkhoẻ hơn Trọng tâm thời kỳ này là phục tráng và trẻ hóa bộ tán lá
Phương thức cắt tỉa:
+ Cắt tỉa cành: thời gian cắt tỉa tiến hành trước khi nhú lộc xuân là thíchhợp Sau khi cắt tỉa, trong năm sẽ ra 2 - 3 đợt lộc để khôi phục tán Ở thời kỳ này,nếu cần phục tráng cây, có thể phải hủy bỏ 1 - 2 vụ quả tiếp theo để tập trungdinh dưỡng tái tạo lại thân, cành và bộ tán
Trang 31+ Thay rễ mới: việc thay rễ mới cũng được coi là một biện pháp cắt tỉa.
Bộ rễ có tác dụng quyết định đối với sinh trưởng của cây Nếu bộ rễ già cỗi, nănglực hấp thu kém, lộc mới sinh trưởng cũng kém, mức độ nặng dẫn đến rụng láthậm chí cây bị chết khô Cắt đứt rễ cũ sẽ thúc đẩy phát sinh nhiều rễ mới, nângcao khả năng hấp thu, tạo cơ sở vật chất cho cành sinh trưởng Biện pháp hữuhiệu nhất là làm đứt rễ đúng mức và cải tạo đất
Theo Menzel (2002), đốn tạo hình cho các giống như: Tai So, Kwai MayPink trong thời kì cành sinh trưởng mạnh hoặc tạo những cành mẹ, người ta cắt
đi xấp xỉ 15 cm trong vụ xuân (ở lộc xuân năm thứ 2) Việc tăng số lượng củachồi ở các điểm cắt sẽ tạo ra số lượng lớn hoa và quả, giảm bớt sự rủi ro khi cành
bị điều kiện ngoại cảnh xấu tác động Với những giống phân cành dày như: KwaiMay Pink, Wai Chi thì cắt đi xấp xỉ 10 - 20% số cành trong tán ở năm thứ 3
Mặc dù đã được đốn tỉa nhưng với những giống như: Tai So thì cành vẫn
có khả năng bị bẻ gẫy (cành yếu) Để giảm bớt sự rủi ro này, người trồng vải ởAustralia đã dùng biện pháp: treo cành to, nặng vào thân chính để chống cành
bị chẻ ra Biện pháp này cũng rất phù hợp với các giống ở Châu Á (Simpson et
al., 1992).
Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1998), khi cắt tỉa, bắt đầu tiếnhành từ cành to trong tán trở ra Sau khi cắt tỉa xong, giữ cho các cành xungquanh tán phân bố đều, tầng lá dầy Khi ánh sáng chiếu xuống dưới tán chỉ thấyđốm sáng bằng đồng xu là vừa Sau khi cắt tỉa, mầm bất định ở gần vết cắt củacành mọc ra làm rối loạn hình dạng tán, tiêu hao dinh dưỡng Cần vặt bỏ kịp thờinhững chồi này (tỉa chồi)
Ảnh hưởng của gió, bão cũng là một trong những yếu tố cần chú ý đối với
một số giống vải Theo Nakasone et al (1998), việc đốn tỉa cho các cây còn trẻ
sẽ tạo cho chúng một cấu trúc khoẻ mạnh, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởngcủa gió bão và làm tăng diện tích mang quả Với những giống có cành dài như:Fay Zee Siu, Tai So cành rất dễ bị chẻ ra khi gặp gió Với những giống phâncành ngắn và dày, ví dụ như: Wai chi, No Wai Chi, gặp gió bão có thể bị bẻ gãy
ở phần sát mặt đất Cần quan tâm chăm sóc cho cây thường xuyên trong suốt 4năm đầu tiên, tỉa bỏ những cành yếu, cành mọc trong tán và những cành có phần
vỏ sát vào nhau
Trang 32* Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân
Bảng 2.1 Hàm lượng dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải
tính theo khối lượng
và hàm lượng dinh dưỡng trong đất của từng năm, đồng thời xác định hàm lượngcác chất dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải
Với cây vải trong thời kỳ chưa cho quả, bón phân chủ yếu tập trung nuôicây và thúc đẩy sự sinh trưởng của thân cành, nguyên tắc bón phân của thời kỳnày là nên bón làm nhiều lần và bón lượng ít cho mỗi lần Năm thứ nhất do bộ rễhẹp, tán nhỏ nên bón: 20 - 25g Urê, 15 - 20 g KCl và 50 - 70 g Lân Supe Từnhững năm sau, lượng bón tăng lên 40 - 60% so với năm thứ nhất tuỳ thuộc vào
trạng thái sinh trưởng của cây, loại phân và tính chất đất (Menzel et al., 1986).
Cũng theo Menzel and Simpson (1989), khi nghiên cứu về mối quan hệgiữa dinh dưỡng cho đất trồng vải đã đưa ra khoảng tối thích về dinh dưỡng chođất với cây vải trưởng thành, trong đó, ngoài các yếu tố về đa lượng, các nguyên
tố vi lượng đặc biệt là Bo không những là yếu tố bắt buộc mà còn chiếm tỷ lệ caohơn hẳn các nguyên tố khác
Trang 33Từ lâu, ở các vùng trồng vải truyền thống của Trung Quốc như QuảngTây, Phúc Kiến, Quảng Châu đã có tập quán bón phân phân hữu cơ cho vải Ở
Ấn Độ, theo tài liệu “The Litchi” 1989 của tác giả R.M PanDey, ngoài bón phânhữu cơ người ta còn kết hợp bón phân vô cơ theo độ tuổi cây Đối với cây 1 tuổi,bón 60 kg phân hữu cơ, 350 g đạm, 225 g lân và 60 g Kali
Theo H.Y.Nakasone, R.E.Paull (1997), ở Trung Quốc, trên đất đỏ Bazan,lượng bón hàng năm cho vải từ 300 đến 400 gam Ure cộng với 100 gamSuperphosphate và 25 - 50 kg phân hữu cơ/cây Trong khi đó, ở Australia, lượngbón hàng năm cho cây vải 5 năm tuổi là 150 gam ure, 300 gam Superphosphate
và 150 - 200 gam Sunphat kali cho một lần bón Lượng bón này được tăng dần
20 - 30% mỗi năm cho tới khi cây đạt 15 năm tuổi
Qua phân tích đối với quả vải nếp và Hoài chi, Nghê Diệu Nguyên và LýQuang Minh cho biết: để có được 100 kg quả thì cây vải phải lấy đi từ đất 0,14 -0,16 kg N, 0,03 kg P2O5 và 0,13 - 0,15 kg K2O Đối với cây trên 30 tuổi thìlượng bón để đạt 100 kg quả vải tươi là 1,38 kg N, 0,8 kg P2O5, 1,5 kg K2O.Nguyên tắc bón bất luận nhiều lần hay ít lần, chủ yếu xoay quanh thúc hoa, thúcquả và thúc lộc
Bón phân dựa vào tính chất nông hoá - thổ nhưỡng, nhu cầu dinh dưỡngcủa cây ăn quả Một số nước đã áp dụng công nghệ tin học xác định hàm lượngdinh dưỡng dựa trên phân tích lá, phân tích đất để bón phân cho cây ăn quả như ởIsrael, Đài Loan, Nhật Bản
* Nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá
Biện pháp bổ sung các loại dinh dưỡng qua lá được sử dụng rộng rãi ở tất
cả các nước trên thế giới Có rất nhiều loại chế phẩm dinh dưỡng với các nguyên
tố đa, vi lượng có thể phối trộn với một số chất điều tiết sinh trưởng Ở TrungQuốc, phun dinh dưỡng lên lá thường dùng: urê 0,3 - 0,5%, KalidihydrogenPhotphat 0,3 - 0,4%, KCl 0,3 - 0,4%; tro bếp 1 - 3% hoặc dung dịchSurperphotphat ngâm lộc 1 - 3% Thời gian lá non, nụ và quả non nên phun nồng
độ thấp, khi lá già và quả lớn thì phun nồng độ cao hơn Đây là phương phápnhằm giúp cây hấp thu dinh dưỡng trực tiếp qua lá nhằm tăng khả năng tích luỹtrong cây, thúc đẩy các đợt lộc trong năm của cây nhanh thành thục
Theo Lương Xương, sau khi rữa hoa, thời kỳ gộp hạt và thời kỳ hạt bạidục, dùng dung dịch 0,2 % Kali dihydrogen photphat, thêm 0,8% ure + 0,1%sunphat Magie phun lên lá làm tăng tỷ lệ đậu quả 13,1% so với đối chứng
Trang 342.2.3.2.Những nghiên cứu trong nước
* Nghiên cứu về kỹ thuật cắt tỉa
Ở nước ta, trước những năm 1996, việc cắt tỉa hầu như không được biếtđến Ngay cả ở những vùng trồng tập trung, người dân chỉ chú ý đến cắt bỏnhững cành bị sâu bệnh đã chết khô trên cây Trong những năm gần đây, nhờ cócác đề tài nghiên cứu khoa học, chương trình khuyến nông, các dự án giống cây
ăn quả, các chương trình hợp tác quốc tế, người dân đã được chuyển giao cácbiện pháp kỹ thuật, trong đó có kỹ thuật cắt tỉa và được ứng dụng ngay tại từngvườn hộ gia đình Các biện pháp cắt tỉa như tạo bộ tán thông thoáng để hạn chếsâu bệnh, tiết kiệm dinh dưỡng; đốn hạ thấp bộ tán; đốn trẻ lại đã được áp dụng ởnhiều vùng sản xuất tập trung như Thanh Hà, Hải Dương; Lục Ngạn, Bắc Giang;Đông Triều - Quảng Ninh Vùng vải Lục Ngạn - Bắc Giang cũng đã được cácchuyên gia Thái Lan chuyển giao kỹ thuật đốn tỉa khống chế chiều cao cây và đãxây dựng được các mô hình trình diễn rất có hiệu quả
Hiện nay nước ta đang đưa vào cơ cấu giống các giống vải chín sớm nhằmgóp phần rải vụ thu hoạch, giảm sức ép trong mùa thu hoạch Các giống vải chínsớm thường có tỷ lệ bật lộc đông cao, làm cho cây không có quả hoặc giảm năngsuất Cắt tỉa, tạo hình để tạo cho cây có bộ khung cân đối, tán cây có khả năng hấpthu tốt nhất ánh sáng mặt trời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm bón, phòngtrừ sâu bệnh, điều tiết sinh trưởng Đã có những nghiên cứu về cắt tỉa đượctiến hành trên vải chín sớm: Cắt tỉa tạo hình cho cây trong giai đoạn kiến thiết
cơ bản, cắt tỉa cho cây đang thời kỳ kinh doanh Cắt tỉa theo phương pháp bấmđầu cành sau thu hoạch và theo quy trình của Viện Nghiên cứu rau quả chogiống chín sớm Yên Hưng và Hùng Long có tác dụng điều chỉnh số lượng lộchữu hiệu, nâng cao chất lượng lộc thu, giảm tỷ lệ lộc đông Cắt tỉa cũng làmtăng tỷ lệ hoa cái, số chùm quả/cây và làm tăng năng suất vải (Nguyễn VănDũng, 2005; Hoàng Chúng Lằm, 2005)
Hoàng Lâm (1999) và cs khi nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằmngăn chặn bệnh chết rũ cho cây vải thiều đã kết luận: nếu cây vải bị bệnh đượccắt tỉa đúng kỹ thuật (cắt nhẹ 1/3 tán đồng thời sử dụng với các biện pháp kỹthuật khác) thì có tới 90% số cây hồi phục bật lộc thu bình thường và 100% sốcây ra hoa, đậu quả trở lại
Theo nghiên cứu của Ngô Xuân Bình (2005), cắt tỉa khoảng 10% số đầucành sau khi thu hoạch đã tăng năng suất vải từ 16,92 kg/cây lên 27,74 kg/cây
Trang 35Nguyễn Khắc Thái Sơn (2006) cho thấy: đốn phớt cành vải Thanh Hà sauthu hoạch từ 20 - 40 cm làm tăng đường kính lộc thu, tăng số lượng quả trênchùm và năng suất, thời điểm vải chín chậm lại từ 5-7 ngày, có ý nghĩa với côngtác rải vụ thu hoạch cho vải.
Vũ Mạnh Hải và cs (2006): Cắt tỉa theo phương pháp bấm đầu cành (cắt
bỏ các đầu cành ở vị trí 1 - 2 cm từ phần bẻ quả hoặc đỉnh sinh trưởng) và quytrình của Viện Nghiên cứu Rau quả (sau thu hoạch cắt tỉa toàn bộ các cành sâubệnh, cành tăm, cành vượt, tỉa bỏ bớt cành thu kém chất lượng, tỉa hoa vụ xuân)giúp rút ngắn thời gian hoàn thành một đợt lộc từ 3 - 5 ngày, làm tăng chất lượnglộc, diện tích lá, khả năng đậu quả và làm tăng năng suất vải từ 24,6 - 29,4% sovới đối chứng không cắt tỉa
Nguyễn Văn Nghiêm và cs (2006): đã cải tiến biện pháp cắt tỉa trên vảichín sớm Yên Hưng và Yên Phú từ 3 lần cắt tỉa chỉ còn 2 lần, lần 1 sau thu hoạch
15 ngày, lần 2 vào giữa tháng 11 đã tiết kiệm được công lao động, khả năng rahoa, đậu quả tốt, năng suất không sai khác so với phương pháp cũ và cao hơnnhiều so với đối chứng
* Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân
Ở Việt Nam, theo quy trình bón phân cho vải chín sớm của Viện Nghiên cứuRau quả, lượng phân bón cho cây ở các thời kỳ chưa cho quả và cho quả nhưsau:
- Bón phân thời kỳ kiến thiết cơ bản:
T
u
ổi
L g P
K a l 30 45 70
- Bón phân cho vải ở thời kỳ kinh doanh
T
u
ổi
L ph P
Trang 36Các nghiên cứu về sử dụng dinh dưỡng qua lá trên cây vải ở nước ta hiệncòn ít Để cung cấp dinh dưỡng cho cây, người ta thường sử dụng biện pháp, bónphân vào đất, kết hợp phun dung dịch phân trên lá Tuy nhiên, trong một sốtrường hợp bộ rễ yếu hoặc điều kiện ngoại cảnh bất thuận ảnh hưởng đến hấpthu cũng như khi cây cần gấp bổ sung một nguyên tố nào đó thì bón phân trên láphát huy kết quả tốt Ví dụ: vụ đông và đầu vụ xuân do đất khô hạn nhiệt độ thấp,năng lực hoạt động của rễ kém, hấp thu phân chậm thì bón phân trên lá có tácdụng hỗ trợ cho cây sinh trưởng tốt hơn Trong thời kỳ phân hoá mầm hoa hoặctrong thời gian hoa phát triển và thời kỳ quả non, bón phân lên lá sẽ tăng khảnăng ra hoa, đậu quả.
Theo Nguyễn Văn Dũng (2009), khi nghiên cứu ảnh hưởng của một sốchất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả,năng suất, phẩm chất vải chín sớm cho thấy: Sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng
và dinh dưỡng qua lá có tác động tốt đến năng suất, chất lượng vải cụ thể là:
- Phun GA3 nồng độ 50 ppm làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng số lượng quảđậu/chùm lên 31,8% và tăng năng suất 45,4%, không thay đổi đáng kể chất lượngquả
- Phun Bo 0,1% + Urê 10g/lít rút ngắn được thời gian thành thục lộc thu 7ngày, tăng tỷ lệ đậu quả, tăng năng suất 53,7% so với đối chứng Trong đó, phun
Bo 0,1% + Urê 10g/lít tăng hàm lượng đường tổng số, vitamin C, chất khô, giảmhàm lượng axit, nâng cao phẩm chất quả vải
2.3 MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN ĐẤT ĐAI VÙNG NGHIÊN CỨU
Đất Hải Dương được hình thành chủ yếu từ mẫu chất phù sa với một sốloại đá mẹ khác nhau Hầu hết đất khu vực đồng bằng được hình thành do quátrình lắng đọng vật liệu phù sa của hệ thống sông Thái Bình Sản phẩm mẫu chấtphù sa mới gặp ở khu vực ngoài đê, còn tòan bộ khu vực trong đồng là đất phù sakhông được bồi hàng năm Ngoài ra, một phần mẫu chất phù sa cổ gặp ở vùnggiáp gianh giữa đồi núi với đồng bằng và ở một số diện tích đồi núi chủ yếu đượchình thành từ các loại đá trầm tích như: cát, kết, bột kết, sét kết vỡ đá vôi Quátrình phong hóa các loại đá này tạo nên nhóm đất đỏ vàng (đất feralit) của tỉnh
Đất Hải Dương được phân chia thành 04 nhóm với 9 loại đất khác nhauđược trình bày trong bảng 2.2
Trang 37Bảng 2.2 Phân loại đất tỉnh Hải Dương.
Nguồn: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Tạp chí Khoa học và phát triển (2009)
- Nhóm đất mặn (FLS): Diện tích 4.064,1 ha, chiếm 2,46% diện tích đất tựnhiên, phân bố tập trung ở vùng đất ven sông Kinh Thầy, sông Văn úc của cáchuyện Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Tứ Kỳ
- Nhóm đất phèn (FLt): Diện tích 3.028,9 ha, chiếm 1,83% diện tích tựnhiên, phân bố ở các huyện Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Tứ Kỳ
- Nhóm đất phù sa: Diện tích 85.852,9 ha, chiếm 51,88% diện tích tựnhiên Loại đất này được phân bố ở ven các con sông Đây là nhóm đất có hàmlượng dinh dưỡng khá, rất thích hợp với các loại cây trồng ngắn ngày Do sự chiphối của địa hình, khí hậu và tác động của con người trong quá trình khai thác sửdụng đã phân hoá nhóm đất phù sa thành 4 loại đất chính (đất phù sa trung tính, ítchua, đất phù sa chua, đát phù sa giây, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng Loạiđất này rất thích hợp cho trồng vải
- Nhóm đất xám: Diện tích 14320,2 ha, chiếm 8,65% diện tích tự nhiênvới 1 loại đất chính là đất bạc màu trên phù sa cổ Loại đất này được phân bố ởhầu khắp các huyện trong tỉnh
Trang 3813 5,6 2, 0,18 8,
4 4,9 0, 0,0 0, 2, 13
(cm) K+ Na+ CA2+ Mg2+ CEC Set Limon Cats 0-
- Nguồn: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Tạp chí Khoa học và phát triển (2009)0,08 0, 2,8 1, 10, 45 34 32 33
Xã Thanh Cường, huyện thanh Hà, tỉnh Hải Dương là một trong nhữngđịa điểm nằm trong vùng đất được hình thành từ phù sa do con sông Thái Bìnhbồi đắp Đất ở đây chủ yếu là dạng đất phèn Tầng đất từ 0 - 45cm có độ pH từ5,6 - 5,9; Mùn tổng số từ 2,0 - 2,2%; hàm lượng lân tổng số đạt 0,13 - 018%, dễtiêu đạt 8,4 - 8,6mg%; Kali dễ tiêu đạt 4,1- 4,9mg% Tầng đất sâu từ 45 - 125cm
có độ chua cao, pH chỉ đạt 3,8, các chất khoáng đa phần có trị số thấp hơn so vớitầng đất phía trên
Đây là loại đất thích hợp cho trồng lúa Để trồng cây ăn quả, đặc biệt câyvải cần phải đào mương, lên líp và cải tạo đất cho bớt chua, phèn Các chấtkhoáng trong đất chỉ ở mức trung bình nên cần bổ sung phân bón hợp lý khi sửdụng trong trồng trọt
2.4 NHỮNG KẾT LUẬN QUA PHÂN TÍCH TỔNG QUAN.
Qua tổng hợp một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về câyvải có thể rút ra một số kết luận sau:
- Vải là cây ăn quả có yêu cầu khá khắt khe về điều kiện khí hậu Trên thếgiới chỉ có khoảng 20 nước trồng được vải, đây chính là thế mạnh của cây ăn quảđặc sản này Có rất nhiều giống vải trên thế giới, theo vụ thu hoạch có thể phânlàm các nhóm chính là: nhóm chín sớm, nhóm chính vụ và nhóm chín muộn Tùy
Trang 39theo điều kiện khí hậu của từng nước khác nhau mà thời vụ thu hoạch, cung cấpvải cho thị trường có khác nhau.
- Vấn đề chính hiện nay của sản xuất, tiêu thụ vải Việt Nam là: giống vảiđược trồng chủ yếu tại các vùng sản xuất là giống thiều Thanh Hà; Vải thườngthu hoạch tập trung, quả khó bảo quản nên giá thành lúc chính vụ thấp nên cầnphải rải vụ tốt hơn
- Biện pháp kỹ thuật tích cực đối với khả năng ra hoa, đậu quả của cây vảingoài biện pháp khoanh cành và cắt tỉa vào các thời điểm khác nhau, biện phápphun chất điều hòa sinh trưởng cũng có tác dụng nâng cao tỷ lệ ra hoa, đậu quả
và năng suất
- Ở nước ta hiện nay, các nghiên cứu đang tập trung vào chọn, tạo cácgiống vải có thời vụ thu hoạch sớm hoặc muộn hơn vải Thanh Hà để giảm sức éptrong vụ thu hoạch Viện Nghiên cứu Rau quả và Trung tâm Giống cây trồng vàCông nghệ Nông nghiệp (thuộc Hội Giống cây trồng) tuyển chọn đã nghiên cứutuyển chọn và công nhận được nhiều giống vải chín sớm trong đó có giống vảiLai Thanh Hà Tuy nhiên hiện nay, các nghiên cứu về kỹ thuật trên giống vải nàychưa nhiều Vấn đề chính đặt ra đối với Thanh Hà nói riêng và các vùng trồngvải nói chung là phải định hình được quy mô sản xuất vải và xây dựng một cơcấu giống hợp lý, đồng thời áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nâng cao năng suất, chấtlượng, đảm bảo sản xuất ổn định Giống vải chín sớm Lai Thanh Hà hiện đang có
xu hướng phát triển mạnh tại địa phương Cùng với các ưu điểm: chín sớm, mẫu
mã đẹp là các nhược điểm; khả năng sinh trưởng khỏe, dễ bật lộc đông; tỷ lệ đậuquả thấp, kích thước hạt lớn Do vậy, công tác nghiên cứu các biện pháp kỹthuật nhằm nâng cao khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và phẩm chất cho giống
cụ thể này càng cần được quan tâm
Trang 40PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng ra hoa, đậu quả,năng suất và chất lượng quả được thực hiện trên 2 giống: vải Lai Thanh Hà, vảiThiều được nhân giống bằng phương pháp chiết cành, cây từ 1 đến 7 năm tuổi
- Nghiên cứu biện pháp cắt tỉa, bón phân thực hiện trên giống vải LaiThanh Hà được nhân giống bằng phương pháp chiết cành, cây 7 năm tuổi
- Vật tư, hóa chất: Các loại phân bón: Kaliclorua (60% K2O) được phânphối bởi công ty Hà Anh, supe lân (16% P2O5) được phân phối bởi công ty supephốt phát và hóa chất Lâm Thao, đạm urê (46% N) được phân phối bởi công tyđạm Hà Bắc
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Các thí nghiệm được bố trí tại: Thanh Hà - Hải Dương; từ tháng 1 năm
2015 đến tháng 6 năm 2016
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của giống vải Lai Thanh Hà tại Thanh Hà, Hải Dương
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của giống: đặc điểm sinh trưởng củathân, cành, khả năng sinh trưởng các đợt lộc
- Nghiên cứu khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống
- Đánh giá chất lượng quả của giống
3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và năng suất của giống vải Lai Thanh Hà
3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón đến năng suất, chất lượng quả của giống vải lai Thanh Hà.
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
3.3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng
ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của một số giống vải lai Thanh Hà