1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên

116 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đógây khó khăn trong công tác điều trị cũng như xử lý sai phạm trong việc xảy ra NĐTP.Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý nhà nước về Vệ sinh antoàn thực phẩmtại các cơ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGÔ MẠNH TƯỞNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI CÁC CƠ SỞ KINH DOANH ĂN UỐNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã ngành: 60.34.04.10

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Kim Chung

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiêncứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Mạnh Tưởng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy,

cô giáo khoa Kinh tế và phát triển nông thôn – Học viện Nông nghiệp Việt Nam; đặcbiệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của thầy giáo GS.TS Đỗ Kim Chung người trựctiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cá nhân trong các tổ chức thuộc hệthống quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm Huyện khoái Châu, Tỉnh HưngYên, các cơ sở liên quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thuthập tài liệu phục vụ cho luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọiđiều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thànhluận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Mạnh Tưởng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn

iii Mục lục

iv Danh mục chữ viết tắt

vii Danh mục bảng

viii Danh mục hình, sơ đồ, biểu đồ x Trích yếu luận văn xii Phần 1 Mở đầu xi

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu

2 1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

3 1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3 1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

3 1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Đóng góp mới của luận văn

4 Phần 2 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống 5

2.1 Cơ sở lý luận

5 2.1.1 Khái niệm Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm

5 2.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong kinh doanh ăn uống 9

2.1.3 Đặc điểm của Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong kinh doanh ăn uống 12

Trang 5

2.1.4 Nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 12

2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm

trong kinh doanh ăn uống 152.2 Cơ sở thực tiễn 172.2.1 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam 17

2.2.2 Thuận lợi và khó khăn trong vấn đề quản lý an toàn thực phẩm 20

Trang 6

2.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Huyện Khoái Châu, Tỉnh Hưng Yên

24 Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 26

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26

3.1.1 Đặc điểm về tự nhiên 26

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30

3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 33

3.2 Phương pháp nghiên cứu 33

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 33

3.2.2 Phương pháp phân tích 35

3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 36

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 37

4.1 Thực trạng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa bàn huyện khoái châu, tỉnh hưng yên 37

4.1.1 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 37

4.1.2 Tình hình vận dụng, ban hành, tổ chức thực hiện văn bản, chính sách pháp luật về Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 47

4.1.3 Thực trạng công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Khoái Châu 56

4.1.4 Thực trạng công tác đào tạo, thẩm định và cấp phép về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống tại Khoái Châu 58

4.1.5 Thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong phạm vi ngành y tế huyện 61

4.1.6 Thực trạng công tác giám sát, điều tra và xử lý ngộ độc thực phẩm 64

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm 66

4.2.1 Năng lực trình độ cán bộ Quản lý Nhà nước về An toàn thực phẩm 66

4.2.2 Nguồn kinh phí 67

4.2.3 Sự phối hợp của cơ quan quản lý nhà nước 67

4.2.4 Nhận thức của người dân 67

4.2.5 Kiến thức hành vi của các chủ cửa hàng và cơ sở sản xuất kinh doanh 73

4.3 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khoái Châu 78

Trang 7

4.3.1 Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý thanh tra giám sát vệ sinh an toàn

thực phẩm 79

4.3.2 Tăng cường nguồn nhân lực cho công tác Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩmtại các cơ sở kinh doanh ăn uống 79

4.3.3 Hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách 80

4.3.4 Nâng cấp cơ sở vật chất, nguồn vốn phục vụ quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 80

4.3.5 Tăng cường công tác giáo dục, truyền thông 81

4.3.6 Hoàn thiện hệ thống kiểm tra, giám sát vả xử lý vi phạm 82

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 83

5.1 Kết luận 83

5.2 Kiến nghị 83

5.2.1 Kiến nghị – ngành Y tế 83

5.2.2 Kiến nghị đối với UBND huyện Khoái Châu 84

5.2.3 Kiến nghị đối với TTYT 84

Tài liệu tham khảo 85

Phụ lục 87

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

AFTA Khu vực mẫu dịch tự do ASEAN ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ÁATTP An toàn thực phẩm

UBND Ủy ban nhân dân

VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số vụ ngộ độc thực phẩn từ năm 2007- 2014 18

Bảng 2.2 Điểm điểm sảy ra vụ ngộ độc từ năm 2009 – 2014 19

Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Khoái Châu năm 2015 28

Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng đất huyện Khoái Châu 30

Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động 30

Bảng 3.4 Kết quả phát triển kinh tế của huyện Khoái Châu qua các năm (2013-2015) 32

Bảng 3.5 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 34

Bảng 3.6 Các phương pháp phân tích số liệu 35

Bảng 4.1 Trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm cấp huyện 39

Bảng 4.2 Tình hình trang thiết bị phục vụ quản lý nhà nước về ATVSTP tại Khoái Châu 44

Bảng 4.3 Nguồn lực tài chính phục vụ quản lý nhà nước về VSATTP ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2013 - 2015 45

Bảng 4.4 Đánh giá về nguồn nhân lực quản lý VSATTP huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên 46

Bảng 4.5 Đánh giá của cán bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩmTại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khoái Châu 47

Bảng 4.6 Tổng hợp các chính sách về Quản lý VSATTP trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 48

Bảng 4.7 Tình hình thực hiện mục tiêu Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩmtrên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 50

Bảng 4.9 Đánh giá các chính sách về VSATTP trên địa bàn huyện Khoái Châu, Tỉnh Hưng Yên 52

Bảng 4.10 Đánh giá của cán bộ quản lý Nhà nước về cơ chế chính sách về vệ sinh an toàn thực phẩm 55

Bảng 4.11 Tình hình đào tạo, tập huấn kiến thức ATVSTP huyện Khoái Châu giai đoạn 2013– 2015 57

Trang 10

Bảng 4.12 Tình hình tuyên truyền, phổ biến kiến thức về VSATTP tại các cơ sở

kinh doanh ăn uống ở Khoái Châu giai đoạn 2013 - 2015 58

Bảng 4.13 Thực trạng cấp giấy chứng nhận về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống tại Khoái Châu trên địa bàn huyện Khoái Châu giai đoạn 2013 – 2015 59

Bảng 4.14 Đánh giá về công tác, tuyên truyền, cấp giấy chứng nhận 60

Bảng 4.15 Tình hình thanh tra, kiểm tra VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống đoạn 2013 – 2015 61

Bảng 4.16 Tình hình xử lý vi phạm VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống tại huyện Khoái Châu giai đoạn 2013 – 2015 62

Bảng 4.17 Các nội dung vi phạm chủ yếu trên địa bàn huyện Khoái Châu giai đoạn 2013 – 2015 62

Bảng 4.18 Đánh giá về hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 63

Bảng 4.19 Tình hình điều tra và xử lý NĐTP huyện Khoái Châu giai đoạn 2013 – 2015 64

Bảng 4.20 Tình hình xét nghiệm VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống tại huyện Khoái Châu giai đoạn 2013 - 2015 65

Bảng 4.21 Kiến thức về thực phẩm an toàn 68

Bảng 4.22 Kiến thức về các bệnh và triệu chứng mắc phải thì không được tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm 69

Bảng 4.23 Kiến thức về các thông tin trên nhãn thực phẩm bao gói sẵn 70

Bảng 4.24 Kiến thức về cách chọn thịt, cá tươi 71

Bảng 4.25 Tỷ lệ nhà hàng quán ăn sử dụng trang phục chuyên dụng khi làm việc 73

Bảng 4.26 Tỷ lệ chủ nhà hàng, quán ăn tiếp xúc với thực phẩm chín, thực hành vệ sinh móng tay và đeo trang sức khi chế biến thực phẩm 74

Bảng 4.27 Tỷ lệ chủ nhà hàng quán ăn thực hiện đúng quy trình chế biến thực phẩm 74

Bảng 4.28 Thực hành rửa rau, quả tươi của Số chủ Nhà hàng, quán ăn 75

Bảng 4.29 Thực hành sơ chế thực phẩm của chủ cơ sở kinh doanh 76

Bảng 4.30 Thực hành bảo quản và chia thức ăn của chủ cơ sở kinh doanh 77

Bảng 4.31 Thực hành lưu mẫu thực phẩm, nơi lưu mẫu và thời gian lưu mẫu 78

Trang 11

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Hình 3.1 Bản đồ vị trí huyện khoái châu 26

Sơ đồ 4.1 Mạng lưới về VSATTP trong ngành y tế 37

Sơ đồ 4.2 Bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP ngành Y tế huyện 39

Biểu đồ 4.1 Đánh giá về nguồn nhân lực quản lý VSATTP Huyện Khoái Châu 66

Biểu đồ 4.2 Kiến thức về nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm 69

Biểu đồ 4.3 Kiến thức về cách xử lý khi mắc các bệnh truyền nhiễm 70

Biểu đồ 4.4 Kiến thức về lấy mẫu khi ngộ độc thực phẩm xảy ra

72 Biểu đồ 4.5 Hiểu biết về các quy định bảo đảm an toàn thực phẩm 72

Biểu đồ 4.6 Kiến thức chung về an toàn thực phẩm 73

Biểu đồ 4.7 Thực hành rửa tay của chủ nhà hàng, quán ăn 75

Biểu đồ 4.8 Thực hành vệ sinh bếp 78

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sứckhỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tácnhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sảnphẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng

Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Khoái Châu,Tỉnh Hưng Yên đã đề ra được mục tiêu, kế hoạch thực hiện QL NN về VSATTP và thểhiện sự phân công nhiệm vụ của từng ngành, cấp thực hiện Tuy trách nhiệm thực hiệnnhiệm vụ chưa gắn liền với điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực con người để thực thi,trong thực tế lực lượng cán bộ mỏng và thiếu máy móc, thiết bị phục vụ cho công táckiểm tra, xét nghiệm là những cản trở cho việc hoàn thành nhiệm vụ Đồng thời, sựchồng chéo trong chính sách và công tác tổ chức thực hiện dẫn đến việc QL NN vềVSATTP còn chưa hoàn thiện Theo đánh giá của đội ngũ cán bộ về cơ sở vật chất,trang thiết bị ở bảng 4.5 cho thấy khoảng 70% cán bộ cho rằng hệ thống cơ sở vật chấtđáp ứng yêu cầu công việc Hệ thống trang thiết bị phục vụ QLNN và VSATTP có tỷ lệđánh giá thấp nhất, trong đó Chi cục ATVSTP là đơn vị có tỷ lệ đánh giá trang thiết bịđầy đủ thấp nhất Là đơn vị trực tiếp thực hiện nên CB tại Chi cục hiểu rõ nhất về tínhphù hợp, đầy đủ của các loại trang thiết bị phục vụ cho quản lý

Công tác tuyên truyền, tập huấn về VSATTP được tổ chức thường xuyên trên địabàn huyện Các lớp tập huấn được tổ chức phù hợp với thực tiễn và tuân theo các quyđịnh của pháp luật, các hình thức tuyên truyền đa dạng, hướng tới nhiều đối tượng Dùvậy, do kinh phí chưa đảm bảo nên hoạt động tập huấn chưa bao quát được toàn bộ cácđối tượng, tuyên truyền chưa sâu, không thực hiện đánh giá được hiệu quả công táctuyên truyền Hiện nay, số lượng cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm đượctập huấn đạt khoảng 85 – 90%, khoảng 80% các đối tượng tiếp cận được các hình thứctuyên truyền

Bên cạnh việc tăng cường các đợt thanh tra, kiểm tra thì chất lượng các cuộcthanh, kiểm tra cũng được coi trọng, sự phối hợp tốt giữa các cơ quan chức năng, cơquan chuyên môn và năng lực chuyên môn tốt hơn đã phát hiện nhiều sai phạm vềVSATTP trên địa bàn Theo bảng 4.15, tỷ lệ cơ sở sai phạm tăng cao, từ 18,87% năm

2014 lên 30,41% (2015) Thực trạng này cũng phản ánh hiệu quả công tác tuyên truyền

về VSATTP chưa cao, ý thức của các cơ sở về tuân thủ các quy định VSATTP cònthấp Năm 2014, tình hình NĐTP xảy ra nhiều trên địa bàn huyện Trong đó, xảy ra 5

vụ NĐTP tại các bếp ăn tập thể với số người mắc cao Năm 2014 cũng là năm duy nhất

có người chết do NĐTP Tuy nhiên việc xác định nguyên nhân gây NĐTP còn yếu kém,

Trang 13

hơn 50% các vụ NĐTP hàng năm chưa được điều tra xác định rõ nguyên nhân Từ đógây khó khăn trong công tác điều trị cũng như xử lý sai phạm trong việc xảy ra NĐTP.

Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý nhà nước về Vệ sinh antoàn thực phẩmtại các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn tỉnh như cơ chế chính sáchchồng chéo; nguồn lực con người và nguồn lực CSVC, tài chính có hạn; thiếu sự phốihợp của các cơ quan trong QL, thanh kiểm tra về ATTP

Xuất phát từ nghiên cứu thực tiễn VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ởKhoái Châu, cần thực hiện một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý VSATTP: Hoànthiện khung pháp lý, cơ chế chính sách; Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra,kiểm tra; Huy động nguồn lực từ bên ngoài tham gia quản lý chất lượng ATVSTP; Tăngcường thông tin giáo dục truyền thông

Trang 14

THESIS ABSTRACT

Food safety is to ensure food does not harm the health and life of the user,ensure food is not damaged, does not contain physical, chemical, biological, orimpurities Exceeding the allowable limit, not the product of the animal or plant diseasecan harm the health of the user

State management of food hygiene and safety in Khoai Chau district, Hung Yenprovince has set objectives and plans for implementation of state management of foodhygiene and safety and show the assignment of responsibilities Department of eachbranch, level of implementation While responsibility for implementing tasks is notlinked to physical facilities and human resources to implement, in reality the staff is thinand there is a lack of machinery and equipment for inspection work Experiments areobstacles to the completion of the task At the same time, the overlap in policy andorganization of implementation leading to the state management of food safety andhygiene is not complete According to staff assessment on facilities and equipment,Table 4.5 shows that about 70% of staff think that the facilities meet the requirements ofwork The system of equipment for state management and food hygiene and safety hasthe lowest rate of appraisal, in which the Department of Food Safety and Hygiene is theunit with the rate of full equipment evaluation Low enough As the unit directlyimplemented, officers at the Sub-Department understand best about the suitability andadequacy of equipment for management

IEC activities on food hygiene and safety are organized regularly in the district.The training courses are organized in accordance with reality and comply with the law,diversified and multi-disciplinary forms of communication However, due to the lack offunding, the training activities did not cover the entire population, propagandizingdeeply and not effectively evaluating propaganda activities Food production,processing and trading activities are about 85-90%, about 80% of the target groups haveaccess to propaganda

Apart from intensifying inspections and inspections, the quality of theinspections and inspections are well respected, the good coordination between thecompetent authorities, the specialized agencies and the better professional capacityThere are many violations on food hygiene and safety in the area According to Table4.15, the incidence of abuse is rising from 18.87% in 2014 to 30.41% in 2015 Thissituation also reflects the effectiveness of propaganda on food hygiene and safety is nothigh, the sense of compliance with low standards of food safety and hygiene In 2014,the situation of food poisoning occurred more in the district Of which, 5 cases of foodpoisoning occurred in the kitchens with high numbers of people 2014 is also the onlyyear in which people die from food poisoning However, the identification of causes of

Trang 15

food poisoning is still weak, more than 50% of cases of food poisoning annually havenot been investigated clearly identify the cause Since it causes difficulties in thetreatment as well as wrong handling in the occurrence of food poisoning.

The study indicates the factors that affect the state management of food hygieneand safety in food businesses in the province such as overlapping policy mechanism;Human resources and resources are limited; Lack of coordination of agencies in foodsafety management and inspection

Starting from the research on food hygiene and safety practice in foodestablishments in Khoai Chau, a number of measures should be taken to improve themanagement of food safety and hygiene: policy mechanisms; To perfect the system oforganization of management, inspection and examination; Mobilize external resources

to participate in management of food safety and hygiene; Enhance communicationeducation information

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Tuyên ngôn của Hội nghị thượng đỉnh về dinh dưỡng toàn cầu tại Romenăm 1992 đã nhận định rằng: tiếp cận đủ nhu cầu dinh dưỡng và an toàn vệ sinhthực phẩm được xem là một trong những quyền cơ bản của con người Một xãhội văn minh không chỉ dừng ở việc đảm bảo cho người dân ăn uống no đủ màcòn phải đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và an toàn thực phẩm.Thực phẩm kém chất lượng và không an toàn là nguyên nhân của một số bệnh cónhiều người mắc, gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cộng đồng và sự phát triểnkinh tế xã hội

Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) không chỉ là mối quan tâm củaĐảng và Nhà nước ta mà còn là vấn đề chung của toàn thế giới VSATTP giữ vaitrò rất quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe con người, làm giảm tỷ lệ bệnh tật,phát triển giống nòi, phát triển kinh tế, lợi ích, hạnh phúc của nhân dân, tăngcường giao lưu quốc tế về kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minhcủa dân tộc

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm trên thế giới có khoảng 1,3

tỷ người bị tiêu chảy, 3,2 triệu trẻ em chết do các bệnh tiêu chảy và hàng triệu trẻ

em khác bị tiêu chảy nhiều lần, trong đó 70% nguyên nhân do sử dụng thựcphẩm không an toàn Hơn 1/3 dân số của các nước đang phát triển bị ảnh hưởngsức khỏe bởi các bệnh do thực phẩm gây ra, vấn đề càng trầm trọng hơn đối vớicác nước đang phát triển, tính ra mỗi năm tổn thất hàng chục triệu đô la Mỹ(WHO, 2006)

Trong những năm gần đây, mặt hàng lương thực thực phẩm rất phongphú, đa dạng về số lượng, chủng loại, rất thuận tiện và đáp ứng được nhu cầu củangười tiêu dùng Song mặt trái của nó đang là nỗi lo của người tiêu dùng và toàn

xã hội VSATTP luôn là mối quan tâm lớn của toàn thế giới bởi nguy cơ thựcphẩm không an toàn do bị nhiễm khuẩn Hiện nay, thực phẩm ngày càng có nguy

cơ cao bị ô nhiễm độc hại do việc sử dụng không đúng quy định các hóa chất bảo

vệ thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp, thuốc tăng trọng trong chăn nuôi độngvật, nhiễm độc vi nấm do bảo quản thực phẩm, kim loại nặng trong thực phẩm và

sử dụng không đúng, gian dối các chất phụ gia, phẩm màu trong chế biến thựcphẩm gây ra ngộ độc thực phẩm Tác hại của ngộ độc thực phẩm là vô cùng tolớn: đe dọa trực tiếp đến tính mạng, ảnh hưởng trước mắt và lâu dài đến sức khỏe

Trang 17

con người, làm sa sút kinh tế của gia đình và xã hội.

Mục tiêu đầu tiên của VSATTP là đảm bảo cho người ăn tránh bị ngộ độcthức ăn do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chất độc, gây ảnh hưởng xấu tớisức khỏe Bất kỳ cơ sở chế biến, sản xuất hay cơ sở dịch vụ ăn uống, bếp ăn tậpthể mà không hiểu biết về VSATTP đều có nguy cơ gây nhiễm độc thực phẩmcho người ăn Do đó việc tìm hiểu về VSATTP là yếu tố bắt buộc đối với nhữngnhân viên trực tiếp chế biến tại các cơ sở này Việc đánh giá tiêu chuẩn vệ sinhcủa các bếp ăn đặc biệt là bếp ăn trong các cơ sở ăn uống có thể định hướngcho các nhà quản lý, cũng như cơ quan làm công tác VSATTP có những biệnpháp khắc phục kịp thời, đồng thời cũng đưa ra được những giải pháp tiếp theo.Chất lượng VSATTP đang là vấn đề báo động

Công tác quản lý VSATTP tại huyện Khoái Châu vẫn còn nhiều tồn tại,chưa có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng; điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn;năng lực cán bộ hạn chế, hàng năm có trên 50% số vụ NĐTP không xác định rõnguyên nhân….là những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ nhằm nâng cao hiệuquả quản lý VSATTP của huyện Khoái Châu

Do đó, đứng trước xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam đã trở thànhthành viên chính thức của WTO (World Trade Organization) và thực hiện thỏathuận AFTA (ASEAN Free Trade Area) nên việc sản xuất và chế biến các loạithực phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, đặc biệt là chấtlượng vệ sinh an toàn thực phẩm trở nên rất cần thiết Xuất phát từ những lý dotrên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thựcphẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện Khoái Châu tỉnhHưngYên” nhằm góp phần tăng cường quản lý VSATTP tại các cơ sở kinhdoanh ăn uống và giải quyết những vướng mắc trong quá trình triển khai

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

- Trên cơ sở đánh giá tình hình quản lý Nhà nước vệ sinh an toàn thựcphẩm, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước về vệ sinh an toànthực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện Khoái Châu.1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước

Trang 18

về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống

- Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khóai Châu Hưng Yên

- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm của huyện Khoái Châu

- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khoái Châu

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Tại sao phải quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm?

- Huyện Khoái Châu đã làm gì để quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm?

- Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở huyện hiện nay như thế nào?

- Thuận lợi, khó khăn trong quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện là gì ?

- Yếu tố ảnh hưởng đến kết quả, hiệu lực trong quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ?

- Giải pháp nào để quản lý tốt an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở kinhdoanh ăn uống ở Huyện Khoái Châu?

- Tình hình cấp giấy phép, thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm?

1.4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý Nhà nước Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khóai Châu Hưng Yên

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Các nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về an toàn vệsinh thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện Khoái Châu

Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Khoái Châu

Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về an toàn vệ sinhthực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống từ năm 2013 đến 2015 và đề xuấtđến năm 2020

Trang 19

1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại chosức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, khôngchứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép,không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sứckhỏe người sử dụng

Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nướcthông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tácđộng đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh

và người tiêu dùng tại các cơ sở kinh doanh ăn uống nhằm định hướng, dẫn dắtcác chủ thể này thực hiện tốt các quy định về VSATTP

Đề tài đánh giá thực trạng Quản lý nhà nước về VSATTP trên địa bànhuyện Khoái Châu

Đề tài đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường quản lý vệ sinh an toànthực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khoái Châu.

Trang 20

PHẦN 2.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI CÁC CƠ SỞ KINH DOANH ĂN UỐNG

a Khái niệm vệ sinh thực phẩm

Là mọi điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn và phùhợp của thực phẩm ở mọi khâu thuộc tru trình thực phẩm (Trần Đáng, 2007).b.Khái niệm an toàn thực phẩm

Là thực phẩm bảo đảm không gây hại cho người tiêu dùng khi nó đượcchuẩn bị hoặc ăn theo mục đích sử dụng (Trần Đáng, 2007)

c Định nghĩa về vệ sinh an toàn thực phẩm

Là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảoquản, phân phối, vận chuyển, cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩmsạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khoẻ người tiêu dùng

Theo các chuyên gia của Tổ chức Lương Nông (FAO) và tổ chức y tế thếgiới (WHO, 2000) thì: “Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩmkhông gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không

bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giớihạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gâyhại cho sức khỏe người sử dụng Quan niệm này rất đầy đủ, lột tả được bản chấtcủa vấn đề nhưng đề ngắn gọn và dễ hiểu mà vẫn bao hàm được ý nghĩa trongquản lý nhà nước, khái niệm được chấp nhận hơn cả là: “Vệ sinh an toàn thựcphẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của conngười, không chứa các tác nhân sinh học, hóa học, lý học quá giới hạn cho phép”

Trang 21

2.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước và Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toànthực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống

a Khái niệm quản lý nhà nước:

Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước là sự quản lýcủa nhà nước đối với xã hội và công dân

Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực hiện quyền lựcnhà nước, là tổng thể và thể chế về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước cótrách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhànước (lập pháp, hiến pháp, tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp (côngquyền) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đó giao quyền trong việc tổ chức vàđiều khiển các quan hệ xã hội và hành vi của con người

Quản lý nhà nước tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thểquản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành

vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theonhững mục tiêu nhất định

Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lựcnhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt dộng của con ngườitrên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhànước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổnđịnh và phát triển xã hội (Đỗ Mai Thành, 2010)

b Quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống

Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nướcthông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tácđộng đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh

và người tiêu dùng trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thựchiện tốt các quy định về VSATTP

Quản lý nhà nước về VSATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu:Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, chiến lược, kế hoạch

có liên quan đến vấn đề VSATTP và công tác tổ chức tuyên truyền, giáo dục,công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trongquản lý VSATTP

Trang 22

2.1.1.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Theo quy định của Luật an toàn thực phẩm năm 2010, nguyên tắc quản lý

an toàn thực phẩm được quy định như sau:

Đảm bảo an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sảnxuất, cơ sở kinh doanh ăn uống thực phẩm

Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cánhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm chịu trách nhiệm về an toàn đối với thựcphẩm do mình sản xuất, kinh doanh

Quản lý an toàn thực phầm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng,quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do

tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng

Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sảnxuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thựcphẩm

Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng vàphối hợp liên ngành

Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội2.1.1.4 Trách nhiệm của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

a Trách nhiệm trong quản lý

Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là trách nhiệm của 3 Ngành Y tế,ngành Công thương, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, và Ủy Ban nhân dâncác cấp Căn cứ Luật an toàn thực phẩm, số 55/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm

2010 và Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm, quy định rõtrách nhiệm của từng ngành trong quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thựcphẩm, cụ thể:

Trang 23

Quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sởsản xuất, kinh doanh thực phẩm, đồ uống;

Chủ trì tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về antoàn thực phẩm; cảnh báo sự cố ngộ độc thực phẩm;

Thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với toàn bộ quá trình sản xuất, nhập khẩu,kinh doanh thực phẩm, đồ uống thuộc phạm vi quản lý của các ngành khác khicần thiết

Trách nhiệm trong quản lý ngành:

Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyềnban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch vàvăn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phâncông quản lý;

Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến,bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với phụ gia thựcphẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nuốc uống đóng chai, nước khoáng thiênnhiên, thực phẩm chức năng và các thực phẩm khác theo quy định của Chính Phủ;

Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựngthực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnhvực được phân công quản lý;

Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trongquá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vựcđược phân công quản lý

c Trách nhiệm trong thanh tra an toàn thực phẩm

Thanh tra về an toàn thực phẩm là thanh tra chuyên ngành Thanh tra antoàn thực phẩm do ngành y tế, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngànhcông thương thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra Chính phủ quyđịnh việc phối hợp giữa các lực lượng thanh tra an toàn thực phẩm của các bộ, cơquan ngang bộ với một số lực lượng khác trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm

Nội dung thanh tra về an toàn thực phẩm gồm:

Thanh tra việc thực hiện các quy định kỹ thuật, quy định về an toàn thựcphẩm đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm và sản phẩm thực phẩm do cơquan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành

Trang 24

Việc thực hiện các tiêu chuẩn có liên quan đến an toàn thực phẩm do tổchức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm

và sản phẩm thực phẩm

Hoạt động quảng cáo, ghi nhãn đối với thực phẩm thuộc phạm vi quản

lý Hoạt động chứng nhận hợp quy, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm Thực hiện các quy định khác của pháp luật về an toàn thực phẩm

d Trách nhiệm trong kiểm tra an toàn thực phẩm

Kiểm tra an toàn thực phẩm là trách nhiệm thuộc các ngành được giaotrách nhiệm quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm Cơ quan quản lý an toàn thựcphẩm thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc kiểm tra an toàn thựcphẩm trong phạm vi địa phương theo quy định của ngành quản lý ngành và sựphân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện (Cục quản lý chất lượng vệ sinh antoàn thực phẩm, 2002)

Trong trường hợp kiểm tra liên ngành về an toàn thực phẩm có liên quanđến phạm vi quản lý của nhiều ngành hoặc địa phương, cơ quan chủ trì thực hiệnkiểm tra có trách nhiệm phối hợp với cơ quan hữu quan thuộc các bộ, cơ quanngang bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan đề thực hiện (Cục quản lý chấtlượng vệ sinh an toàn thực phẩm, 2002)

Hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm phải đảm bảo nguyên tắc:

Khách quan, chính xác, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử.Bảo vệ bí mật thông tin, tài liệu, kết quả kiểm tra liên quan đến cơ quan,

tổ chức cá nhân sản xuất, cơ sở kinh doanh thực phẩm được kiểm tra khi chưa cókết luận chính thức;

Không được sách nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân sản xuất kinhdoanh thực phẩm;

Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, có kết luận liên quan;

Bộ trưởng bộ quản lý ngành quy định cụ thể về hoạt động kiểm tra an toànthực phẩm trong phạm vi quản lý nhà nước được phân công

2.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong kinh doanh ăn uống

2.1.2.1 Vai trò của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Trong những năm gần đây vấn đề VSATTP đang diễn ra ngày càng trầm

Trang 25

trọng, nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xẩy ra liên tiếp, gây thiệt hại nhiều đến tínhmạng con người và tiền của Trước những diễn biến đó thì vai trò của nhà nướcđặc biệt quan trọng Trước hết nhà nước thông qua việc hoạch định và ban hànhcác văn bản pháp luật có liên quan đến VSATTP để hướng dẫn các doanh nghiệpsản xuất, kinh doanh thực phẩm có định hướng để sản xuất thực phẩm sạch, đảmbảo vệ sinh an toàn thực phẩm Ngoài ra, thông qua các văn bản chính sách, nhànước cũng quy định rõ nhiệm vụ quản lý của từng Bộ, ngành và các cấp chínhquyền quản lý chặt chẽ vấn đề VSATTP.

Thông qua việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật, cácchương trình, kế hoạch có liên quan đến VSATTP, nhà nước sẽ trực tiếp quản lývấn đề VSATTP nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sátkết quả thực hiện về sản xuất, chế biến cũng như tiêu dùng của tất cả các mặthàng thực phẩm

Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật cũng như đội ngũ thanh tra các cấp

để quản lý vấn đề VSATTP Các bộ phận này có trách nhiệm riêng biệt để thanhtra, kiểm tra lập lại trật tự sản xuất, kinh doanh theo đúng yêu cầu, tiêu chuẩn kỹthuật của nhà nước Các Bộ, ngành có liên quan phối hợp với ngành Y tế để cùngquản lý các vấn đề liên quan đến ATVSTP

Nhà nước tổ chức tuyên truyền, giáo dục về VSATTP cho nhân dân đểnâng cao ý thức và hiểu biết vấn đề này Chỉ đạo tổ chức tháng hành động vì chấtlượng VSATTP, đẩy mạnh công tác phòng chống, công tác tuyên truyền, giáo dụcđạt hiệu quả Như vậy, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định trongmọi lĩnh vực có liên quan đến thực phẩm từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng.Mặt khác, Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là hoạt động củacác cơ quan quản lý nhà nước nhằm định hướng phát triển, nâng cao khả năngkiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hộitrong từng thời kỳ Công tác quản lý chất lượng thực phẩm ra đời và phát triểncùng với các hoạt động của đời sống kinh tế và xã hội, công tác quản lý VSATTP

có vai trò quan trọng, tác động nhiều mặt và sâu sắc đến hầu khắp các lĩnh vực,

từ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cho đến việcbảo vệ môi trường, an toàn sức khoẻ con người, đảm bảo công bằng và lợi íchquốc gia Trong nền kinh tế phát triển sôi động như hiện nay thì vai trò quản lýcủa nhà nước ngày càng trở lên quan trọng Vai trò của quản lý nhà nước vềVSATTP trước hết phải là vai trò định hướng và đảm bảo cho hoạt động có tác

Trang 26

động tích cực đối với sự phát triển kinh tế mang tính dẫn dắt và chỉ hướng Tronggiai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu, màmuốn đẩy mạnh xuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của sảnphẩm, hàng hoá, dịch vụ Như vậy, định hướng cơ bản về công tác VSATTP hiệnnay là đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Làm tốt công tác này sẽ giúp hàng hoá củaViệt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế Cơ quannhà nước là nơi tập hợp, đề xuất và ban hành các tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp(Trần Quang Trung, 2013)

Vai trò không thể thiếu của quản lý nhà nước về VSATTP là việc đảm bảolợi ích quốc gia, dân tộc Thông qua việc quy định và kiểm soát về vệ sinh, antoàn, môi trường, Nhà nước đảm bảo sản phẩm, hàng hóa, nguyên vật liệu…nhậpkhẩu vào Việt Nam phải bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng, an toàncho môi trường tự nhiên và xã hội Bằng các hoạt động kiểm tra giám sát thườngxuyên ở các khu vực cửa khẩu các khu vực buôn bán để kịp thời phát hiện và xử

lý những vi phạm

Nhờ có vai trò quản lý của nhà nước về VSATTP đã tạo niềm tin đối vớingười tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng cảm thấy yên tâm hơn khi sử dụng sảnphẩm dịch vụ trên thị trường

Mặt khác, vai trò của nhà nước còn thể hiện ở chỗ đề ra quy hoạch, kếhoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiệntượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phầnkinh tế đầu tư phát triển trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Định hướngcho công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo đúng chủ trương chínhsách đã đề ra Hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh tronglĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm (Trần Quang Trung, 2013)

2.1.2.2 Vai trò của vệ sinh an toàn thực phẩm

Mọi người chúng ta đều nhận thấy tầm quan trọng của ăn uống, đó là nhucầu hàng ngày không thể thiếu, rất cấp bách và phải đáp ứng Ngay từ trước côngnguyên, các nhà Y học cho rằng ăn uống là một phương pháp chữa bệnh và giữgìn sức khỏe

Thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng như chất đạm, đường, béo,cácsinh tố và muối khoáng, đảm bảo sức khỏe cho con người, đồng thời cũng có thể

là nguồn gây bệnh, thậm chí còn dẫn tới tử vong Không một thức ăn nào đượcgọi là có giá trị dinh dưỡng nếu không đảm bảo VSATTP Theo Hải ThượngLãn Ông,

Trang 27

thức ăn phải có các chất bổ dưỡng cho cơ thể chứ không phải là nguồn gây bệnh Đảm bảo thực phẩm phòng tránh ruồi nhặng, ẩm mốc, ôi thiu và giữ vệ sinhnguồn nước đã được ông khuyên dạy.

2.1.3 Đặc điểm của Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trongkinh doanh ăn uống

Từ khái niệm Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm ta rút ra cácđặc điểm của quản lý nhà nước về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uốngnhư sau:

- Quản lý nhà nước về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uốngmang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơnphương của nhà nước

- Quản lý nhà nước về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống mangtính tổ chức và điều chỉnh Tổ chức ở đây được hiểu như một khoa học về việcthiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện quátrình quản lý xã hội

- Quản lý nhà nước về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống mangtính khoa học, tính kế hoạch Đặc trưng này đỏi hỏi nhà nước phải tổ chức cáchoạt động quản lý của mình lên các cơ sở kinh doanh ăn uống phải có mộtchương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên

cơ sở nghiên cứu một cách khoa học

- Quản lý nhà nước về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống lànhững tác động mang tính liên tục, và ổn định lên các quá trình xã hội và hệthống các hành vi xã hội Cùng với sự vận động biến đổi của các cơ sở kinhdoanh ăn uống, hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục,không bị gián đoạn Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định, khôngđược thay đổi quá nhanh Việc ổn định của các quyết định của nhà nước giúp chocác chủ thể quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành

vi xã hội được ổn định

2.1.4 Nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩmtại các cơ sở kinh doanh ăn uống

2.1.4.1 Xây dựng bộ máy quản lý

Bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP đến nay đã được xây dựng hoànchỉnh từ Trung ương đến địa phương

Trang 28

Bố trí nguồn lực cho bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP đảm bảo hoạtđộng có hiệu quả

Đến nay, hệ thống quản lý nhà nước về VSATTP đều được trang bị các thiết

bị thiết yếu phục vụ cho hoạt động như: máy tính, laptop, Projector, màn chiếu,máy ảnh, máy quay, bộ tuyên truyền …

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại cơ sởkinh doanh ăn uống việc trang bị các thiết bị, máy móc phù hợp trong lĩnh vực antoàn vệ sinh thực phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lượng sảnphẩm, phản ánh tính chính xác, giúp cơ quan quản lý nhà nước hoàn thành tốtnhiệm vụ, trách nhiệm của mình

Hệ thống phòng kiểm nghiệm của Viện kiểm nghiệm trung ương và Trungtâm y tế dự phòng các tỉnh, thành phố được trang bị máy móc hiện đại Cácphòng kiểm nghiệm này phần lớn được công nhận đạt chuẩn ISO 17025, thườngxuyên tham gia các chương trình kiểm nghiệm thành thạo với các phòng kiểmnghiệm đạt chuẩn quốc gia và quốc tế đạt kết quả tốt, nâng cao kết quảkiểm nghiệm

2.1.4.2 Ban hành hướng dẫn chính sách pháp luật về VSATTP

- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kếhoạch về vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa phương;

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về vệsinh an toàn thực phẩm, các quy định và tiêu chuẩn về vệ sinh an toànthực phẩm;

- Ban hành các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính

về vệ sinh an toàn thực phẩm và các quy định về chứng nhận y tế trong lĩnh vực

+ Đào tạo thường xuyên

+ Đào tạo nâng cao

chuyên môn nghiệp vụ

Trang 29

+ Đào tạo sau đại học về an toàn vệ sinh thực phẩm

+ Cấp phép về VSATTP: Số cơ sở được cấp phép đủ điều kiện VSATTP,tiếp nhận công bố hợp quy

2.1.4.4 Tuyên truyền và phổ biến kiến thức

- Tổ chức hoạt động giáo dục truyền thông vào các dịp cao điểm

- Tổ chức phát tờ rơi, tờ gấp quy định về điều kiện VSATTP cho cácnhóm đối tượng là cơ sở sản xuất, chế biến và người tiêu dùng

- Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật

Đối với lĩnh vực ATVSTP, thanh tra là để đánh giá thực trạng việc bảođảm ATVSTP của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống vàthức ăn đường phố; đánh giá thực trạng về chất lượng VSATTP của một số nhómmặt hàng thực phẩm lưu thông trên thị trường nhằm phát hiện và cảnh bảo cácmối nguy ảnh hưởng đến ATVSTP Thông qua việc thanh tra tại các cơ sở thựcphẩm và xem xét các hồ sơ liên quan từ đó tiến hành đánh giá công tác quản lýcủa các cơ quan quản lý nhà nước về ATVSTP các cấp trong việc quản lý và cấpcác giấy tờ liên quan đến ATVSTP

2.1.4.6 Công tác giám sát xử lý ngộ độc thực phẩm

Giám sát, điều tra, xử lý ngộ độc thực phẩm là vấn đề rất quan trọng Thựchiện tốt công tác giám sát, điều tra và xử lý NĐTP góp phần kiểm soát, giảmthiểu khả năng và những thiệt hại do NĐTP gây ra, đồng thời sớm có những biệnpháp khắc phục phù hợp, hiệu quả và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật

Hệ thống giám sát NĐTP và các bệnh truyền qua thực phẩm từ huyện đến

cơ sở được thành lập và duy trì hoạt động, cảnh báo được các nguy cơ về ATTP.Các cơ quan chuyên môn đã triển khai thực hiện các hoạt động giám sát tình hình

Trang 30

ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn Nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật để phântích tìm nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm, có biện pháp giải quyết kịp thờicác hậu quả do ngộ độc thực phẩm gây ra

2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thựcphẩm trong kinh doanh ăn uống

2.1.5.1 Năng lực cán bộ làm công tác Quản lý nhà nước về vệ sinh an toànthực phẩm

Trình độ của cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thựcphẩm được thể hiện thông qua bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn mà họ được đàotạo Việc phân công nhiệm vụ phù hợp hay không phù hợp với chuyên môn đượcđào tạo cũng ảnh hưởng đến kết quả công việc được giao

Ngoài ra ý thức trách nhiệm đối với công việc của người làm công tác quản

lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm đóng vai trò quan trọng Ngoài việc cóchuyên môn thì ý thức trách nhiệm quyết định chính trong việc hoàn thànhnhiệm vụ hay không và hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ nào

Một số chỉ tiêu thể hiện trình độ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về

an toàn vệ sinh thực phẩm :

- Số lượng cán bộ

- Trình độ chuyên môn được đào tạo

- Kết quả công tác của mỗi cán bộ

Nguồn nhân lực là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc quản lý nhà nước về

an toàn vệ sinh thực phẩm Bởi lẽ yếu tố con người luôn là yếu tố quyết địnhtrong sự thành công của mọi vấn đề Khi đã sử dụng yếu tố con người hợp lý vớinăng lực, sở trường với chuyên môn của họ thì mới đạt được mục đích và nângcao kết quả trong công việc nói chung và trong quản lý nhà nước về an toàn vệsinh thực phẩm nói riêng

2.1.5.2 Nguồn kinh phí

Nguồn tài chính là điều kiện cần thiết để duy trì bộ máy quản lý nhà nước

và triển khai các hoạt động trong quản lý nhà nước về VSATTP Nguồn kính phí

để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo nâng cao năng lực quản lý của độingũ cán bộ Cơ chế tài chính phù hợp không những khuyến khích, động viên độingũ cán bộ làm có nhiệt tình, hăng say, yên tâm trong công tác từ đó nâng caohiệu quả quản lý mà còn phát triển và đẩy mạnh các hoạt động chuyên mônnhư mở

Trang 31

rộng hệ thống kiểm nghiệm về VSATTP, đầu tư trang thiết bị cần thiết cho hoạtđộng tuyên truyền, tập huấn , thanh kiểm tra.

2.1.5.3 Sự phối hợp của các cơ quan Quản lý nhà nước liên quan

Liên kết, phối kết hợp là cùng nhau làm việc theo một kế hoạch chung đểđạt mục đích chung Đó là một trong những kỹ năng quan trọng của nhà quản lý.Bởi lẽ mỗi người, mỗi đơn vị chỉ có thời gian, năng lực để làm một lĩnh vực nào

đó, không thể bao quát tất cả các lĩnh vực Cơ quan y tế trong lĩnh vực an toàn vệsinh thực phẩm là cơ quan thường trực, đầu mối của Ban chỉ đạo liên ngành vềVSATTP Vì vậy giữa cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩmvới các cơ quan liên quan cần có sự phối hợp với nhau để việc đảm bảo an toàn

vệ sinh thực phẩm đạt được kết quả tốt, thông qua các cuộc thanh tra liên ngànhđược tổ chức thường xuyên, liên tục vào các dịp cao điểm trong năm như: TếtNguyên đán, tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tết Trungthu hay thanh tra theo chuyên đề Phối kết hợp trong các hoạt động thanh tra, kiểmtra, tuyên truyền, đào tạo, nghiên cứu khoa học hay trong hoạt động kiểmnghiệm…Thường xuyên duy trì phối hợp với các cơ quan thông tin như: Đài,báo, truyền hình…đưa tin các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh

an toàn thực phẩm, qua đó tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện các quy địnhcủa pháp luật

2.1.5.4 Nhận thức của chủ cơ sở kinh doanh và người dân

.Thực phẩm rất quan trọng đối với cuộc sống của tất cả mọi người trong xãhội, giúp con người duy trì cuộc sống, phát triển giống nòi, trí tuệ và thể lực.Việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) chính là giải pháp nhằmnâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh tật, góp phần làm giảm gánh nặng chobệnh viện và làm tăng GDP của quốc gia Tuy nhiên, không phải lúc nào, mọingười dân và doanh nghiệp đều hiểu đúng và thực hành đúng về VSATTP…2.1.5.5 Kiến thức hành vi của người chủ cơ sở kinh doanh

Thực phẩm có thể truyền bệnh từ người sang người cũng như là một môitrường phát triển cho các vi khuẩn có thể gây ra ngộ độc thực phẩm Cuộc tranhluận về an toàn thực phẩm biến đổi gen bao gồm các vấn đề như tác động củathực phẩm biến đổi gen đối với sức khỏe của các thế hệ xa hơn và ô nhiễm môitrường, di truyền mà có thể phá hủy đa dạng sinh học tự nhiên Ở các nước pháttriển có những tiêu chuẩn rất phức tạp và nghiêm ngặt cho việc chế biến, bảoquản và tiêu thụ thực phẩm, trong khi ở các nước đang phát triển và kém pháttriển thì tiêu chuẩn này quá thấp và việc quản lý vấn đề vệ sinh an toàn thựcphẩm tỏ ra quá lỏng lẽo, yếu kém và xã hội những nước này thường ngày phải

Trang 32

Trong những năm gần đây, tình hình ngộ độc thực phẩm xảy ra trên phạm

vi cả nước có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp hơn năm 2011, cả nước đểxảy ra hơn 148 vụ, số người bị ngộ độc là 4700 người, số người phải nhập viện là

3663 người, số người tử vong do ngộ độ thực phẩm là 27 người Năm 2012, cảnước để xảy ra 168 vụ, số người bị ngộ độc là 5541 người, số người phải nhậpviện là 4335 người, số người từ vong do ngộ độc thực phẩm là 34 người Tới năm

2013 cả nước xảy ra 163 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 5000 nạn nhân trong đó

28 người tử vong (Trần Quang Trung,2013) Tình hình VSATTP tiếp tục vớinhững điểm nóng về ngộ độc thực phẩm tại các bếp ăn tập thể Riêng tháng 10,các tỉnh Bình Dương, Quảng Trị và Tiền giang xảy ra nhiều vụ ngộ độc thựcphẩm với số lượng lớn hàng trăm người công nhân ở các khu công nghiệp phảinhập viện cấp cứu do ngộ độc suất ăn công nghiệp, ăn bánh mỳ bị nhiễm khuẩn

Sang tới năm 2014 tình hình ngộ độc tại các bếp ăn tập thể có xu hướngtăng vọt, ngành Y Tế cho biết, tính đến ngày 30/6/2014 toàn quốc ghi nhận có 90

vụ ngộ độc thực phẩm với 2636 người mắc, 2035 người đi viện và 28 trường hợp

tử vong so với cùng kỳ năm 2013, số vụ giảm 05 (5,3%), tuy nhiên số mắc tăng

528 người (25%), số đi viện tăng 213 người (11,7%) và số tử vong tăng 10người (55,6%) Số vụ ngộ độc thực phẩm lớn (>30 người mức / vụ) tăng 02 vụ(11,8%), ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể tăng 10 vụ ngộ độc thực phẩm dothức ăn đường số giảm 0,5 vụ (62,5%) (Trần Quang Trung, 2014)

Nguyên nhân ngộ độc là do vi sinh vật, độc tố tự nhiên là 27 vụ (30%) vàhóa chất Nguyên nhân gây tử vong chủ yếu do độc tố có trong nấm, cóc, cá nóc,

sò biển, rượu ngâm của ấu tàu, ve sầu, cồn trùng dạng bọ xít đen, độc tố vi nấmtrong bánh trôi, ngô mốc, rượu chứa ethanol Theo báo cáo tổng kết tháng 8 củangành Y Tế chỉ riêng trong tháng 8/2014, cả nước xảy ra 11 vụ ngộ độc thựcphẩm làm 307 người mắc, 216 người đi viện và 1 trường hợp tử vong Tính từđầu năm đã có 87 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 19 người thiệt mạng và hàng ngànngười khác nhập viện và điều trị (Trần Quang Trung, 2014) Hết năm 2014(Tính đến ngày

15/12), toàn quốc ghi nhận 189 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 5100 ngườimắc,4100 người đi viện và 43 trường hợp tử vong (Trần Quang Trung, 2014)

Trang 33

TT Năm Kết quả điều tra

Nguồn: Trần Quang Trung, (2014)

Bảng 2.1 Thống kê các vụ ngộ độc thực phẩm từ năm 2007 tới năm 2014

từ bảng này cho thấy số vụ ngộ độc giảm dần từ năm 2007 tới năm 2011 (từ 247

vụ xuống 148 vụ), nhưng từ năm 2012 tới 2014 số vụ ngộ độc lại tăng lên Năm

2014 so với cùng kỳ năm 2013, số vụ ngộ độc thực phẩm tăng 22 vụ tuy nhiên sốngười mắc giảm 402 người, số người đi viện giảm 901 người và số người tử vongtăn 15 người (50%) (Trần Quang Trung, 2014) Bảng 2.2 Thống kê về địa điểmsảy ra ngộ độc: trong bảng thống kê nổi cộm lên nhóm có nguy cơ cao về số vụngộ độc thực phẩm và số người mắc là nhóm cơ sở bếp ăn tập thể, trung bình tư13,1% - 20,6% số vụ/ năm, chỉ đứng sau nhóm gia đình, các loại cơ sở khác đềusảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm chiếm tỷ lệ ít hơn

Tình trạng an toàn thực phẩm đường phố (TPĐP) đã được cải thiện nhờviệc triển khai xây dựng phường điểm về VSATTP thức ăn đường phố theo quyđịnh của ngành Y tế Tuy nhiên đa số các cơ sở kinh doanh dịch vụ thức ănđường phố được đầu tư ít vốn triển khai trong điều kiện môi chưa đảm bảo vệsinh thiếu hạ tầng cơ sở và các dịch vụ nước sạch và kiến thức VSATTP củangười trực tiếp chế biến kinh doanh còn nhiều hạn chế

Điều kiện VSATTP tại các bếp ăn tập thể của cơ quan trường học đã đượccải thiện đáng kể (Nguyễn Công Khẩn, 2011) Nghiên cứu của Lê Văn Giangnăm 2006 ở Huyện Gia Lâm cho thấy có 20% số cơ sở không đạt về điều kiệnVSATTP (Lê Văn Giang, 2006) Nghiên cứu của Lý Thành Minh ở Thị Xa BếnTre cho thấy tỷ lệ nhiễm S Aureus là 49,6% và Ecoli là 23,6% (Nguyễn ChíLinh, 2007) Năm 2007, Nghiên cứu của Trần Việt Nga cho thấy còn 18,2% bếp

ăn tập thể không đạt tiêu chuẩn về vệ sinh cơ sở, 9% mẫu thức ăn chính khôngkhông đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu Coliforms (Trần Việt Nga, 2007)

Trang 34

Bảng 2.2 Điểm điểm sảy ra vụ ngộ độc từ năm 2009 – 2014

Năm

2009 2010 2011 2012 2013 2014Số

%lượng

Số

%lượng

Số

%lượng

Số

%lượng

Số

%lượng

Số

%lượng

Trang 35

Tại Thanh Hóa, tỷ lệ ô nhiễm chung của các mẫu thức ăn đường phố vàdụng cụ chế biến là 57,74% (Trần Quang Huy và cs., 2007) Năm 2008, kết quảnghiên cứu tại Nha Trang cho thấy có 39,5% món ăn hải sản sống không đạt tiêuchuẩn về vệ sinh Có tới 31,8% bàn tay của nhân viên tiếp xúc trực tiếp với thựcphẩm bị nhiễm S Aureus (Nguyễn Mạnh Hùng, 2007).

Kiến thức thái độ và hành vi của người kinh doanh chế biến thực phẩm,người tiêu dùng là yếu tố quan trọng để đảm bảo thực thiện VSATTP Hầu hếtcác nghiên cứu về kiến thức, thực hành VSATTP của các nhóm đối tượng còn rấtthấp (chung cho các nhóm đối tượng mới đạt khoảng 50%) Còn nhiều phong tụccanh tác sinh hoạt, ăn uống lạc hậu là mối nguy ngộc độc thực phẩm và bệnhtruyền qua thực phẩm (Trần Quang Huy và cs., 2007)

Theo văn phòng đại diện WHO tại Việt Nam thì chi phí nhân lực do cácbệnh lây truyền qua thực phẩm, thiệt hại về năng xuất lao động do bệnh tật vàthiệt hại thị trường liên quan vượt quá con số 1 tỷ đô la mỗi năm (2% GDP).Điều này đã cho thấy vấn đề về an toàn thực phẩm đóng một vai trò vô cùng quantrọng và cần có sự tham gia tích cực của toàn dân các doanh nghiệp, các banngành và sự quan tâm sâu sắc với hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tại các bếp

sự vào cuộc mạnh mẽ của các ban ngành Tuy nhiên các vụ ngộ độc thực phẩmvẫn tiếp tục xảy ra, thậm chí còn có xu hướng phức tạp khó kiểm soát và khó xácđịnh được nguyên nhân hơn Điều này là do đâu ? Do các văn bản quy phạmpháp luật, thông tư, nghị định không được thực hiện tốt? Hay không phù hợp ?hay do ý thức tuân thủ của cơ sở kinh doanh ăn uống chưa tốt ?

Thực tế, các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ATTP, các thông tưquy định về điều kiện chung bảo đảm ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh

Trang 36

thực phẩm là rất nhiều ví dụ như

- Cụ thể , điều 317 quy định chi tiết

Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm

Người nào chế biến, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết rõ đó là thựcphẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệthại nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng, thì bị phạt tù từmột đến năm năm

Tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mườinăm năm

Người phạm tội còn có thể bị phạt từ 15.000.000 triệu đồng đến100.000.000 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Tuy nhiên, qua phương tiện thông tin đại chúng thì chúng ta thấy là có rất

ít vụ việc bị khởi tố, điều tra và sử lý hình sự theo quy định của điều 244 nêu trên

Vì vậy , không tạo ra tính răn đe và không nâng cao được ý thức củangười kinh doanh trong lĩnh vực này

- Thông tư 15/2015/TT – BYT Quy định về điều kiện chung bảo đảm antoàn thực phẩm;

- Thông tư 47/2014/TT-BYT hướng dẫn quản lý ATTP đối với cơ sở kinhdoanh dịch vụ ăn uống;

- Thông tư liên tịch 13/2015/TTLT- BYT – BNNPTNT- BCT hướng dẫnviên phân công phối hợp trong quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm;

- Quy định 4128/2010/QĐ- BYT Quy định về điều kiện đảm bảo an toànthực phẩm tại các nhà ăn, bếp ăn tập thể và cơ sở kinh doanh chế biến suất ăn sẵn;

Trang 37

- Quy định 43/2005/QĐ – BYT Quy định yêu cầu kiến thức về VSTTP đốivới người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm;

- Nghị định số 79/2008/ NĐ – CP ngày 18/7/2008 của chính phủ về việcquy định hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra kiểm nghiệm về VSATTP

2.2.2.2 Khó khăn

Tuy nhiên, những văn bản trên một mặt dùng chủ yếu để phục vụ thanhkiểm tra, thường là khi các vụ ngộ độc đã xảy ra rồi lúc ấy các nhà chức trách xẽtiến hành so sánh và đối chứng dựa trên những văn bản quy định đưa ra các biệnpháp nộp phạt đối với cơ sở vi phạm, mặt khác, những văn bản trên đa phần thiếu

sự hướng dẫn cụ thể cho các cơ sở làm sao để giúp họ thực hiện tốt vấn đề đảnbảo an toàn thực phẩm phù hợp với từng đặc thù cơ sở của họ Kiến những ngườichủ các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm có tư tưởng thực hiện để đối phókhi có sự kiểm tra của cơ quan chức năng

Đối với các chương trình quản lý an toàn thực phẩm tiến tiến như ISO

22000, và HACCP thì đây là những chương trình phát huy hiệu quả rất cao cho:Các nông trại, ngư trường và trang trại sữa; các đơn vị chế biến thịt, cá và thức

ăn chăn nuôi; các nhà máy sản xuất bánh mỳ ngũ cố, thức uống, thực phẩm đônglạnh hoặc đóng hộp; các dịch vụ hỗn hợp bao gồm lưu trữ và phân phối thựcphẩm, phụ gia nguyên vật liệu Dịch vụ dọn dẹp và vệ sinh đóng gói Tuy nhiênvấn đề đảm bảo ATTP cho các nhóm ngành chế biến và phục vụ ăn uống baogồm: Nhà hàng khách sạn, bếp ăn tập thể, thức ăn nhanh và thức ăn đường phố

có đặc điểm là có chế biếp phụ vụ ăn ngay tại chỗ hoặc mang đi nhưng thựcphẩm được chế và ăn ngay lại gặp khá nhiều khó khăn trong khi đó các vụ ngộđộc thực phẩm từ các cơ sở này lại đóng vai trò vô cùng lớn và gây thiệt hại nặng

nề về người và của Đặc thù của các nhóm ngành này lại rất đặc biệt, từ lựclượng tham gia chế biến đến nguồn cung cấp thực phẩm đầu vào vào điều kiện cơ

sở vật chất rất đa dạng và rất khó kiểm soát Bao gồm sự phức tạp về các côngđoạn trong chế biến nấu ăn; lực lượng tham gia sản xuất, chế biến không đượcđào tạo về các kiến thức quản lý an toàn còn ít do chủ yếu các lao động phổthông và thường xuyên biến động mặt khác tiềm lực về kinh tế đa số là hạn chế.2.2.2.3 Bài học cho huyện Khoái Châu trong việc quản lý vệ sinh an toànthực phẩm

Vệ sinh an toàn thực phẩm đang là đề tài nóng bỏng của chúng ta hiện nay,

Trang 38

- Nhất thiết phải xây dựng được hệ thống quy định pháp luật đồng bộ từcác biện pháp VSATTP đến các biện pháp kiểm dịch động vật theo tiêu chuẩnchung quốc tế (có tính đến điều kiện cụ thể của đất nước) Hệ thống này phải đầy

đủ trên các khía cạnh về luật thực phẩm, phụ gia thực phẩm, ethanol vấn đề hóachất bảo vệ thực vật, vấn đề kiểm dịch …và việc cụ thể hóa các quy định củapháp luật bằng những biện pháp cụ thể trong từng hoạt động sản xuất, kinhdoanh, xuất nhập khẩu, lưu thông thực phẩm đóng vai trò quan trọng khi thực thichúng

- Trên cơ sở nguyên tắc tiếp cận hệ thống và toàn bộ chu trình thực phẩm,xây dựng bộ máy quản lý và kiểm soát VSATTP, phân công trách nhiệm các bộ/ngành, địa phương liên quan và cơ chế phối hợp giữa chúng bởi năng lực của bộmáy là yếu tố quyết định hiệu quả công tác quản lý thực phẩm

- Công tác thanh tra là biện pháp quan trọng nhất trong kiểm soát thựcphẩm, vì vậy cần có đội ngũ thanh tra đủ lớn và bảo đảm đủ năng lực chuyênmôn mới kiểm soát và xử lý được tất cả các khâu của chu trình thực phẩm

- Cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn VSATTP mang tính khả thi, hiệu quảcao trong phòng ngùa và xử lý, khắc phục những vi phạm an toàn thực phẩm saocho phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đặc biệt là phù hợp về mức thu nhập vàtập quán ăn uống Tuy nhiên, trong công tác xây dựng tiêu chuẩn vẫn cần lấychuẩn quốc tế làm cơ sở để từng bước điều chỉnh quy định trong nước, nhất làcác quy định liên quan đến thực phẩm xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu

- Xác định hệ thống HACCP là điều kiện tiên quyết đề thâm nhập vào thịtrường quốc tế, phát triển kinh doanh, do đó các doanh nghiệp sản xuất và chếbiến thực phẩm xuất khẩu cần hết sức chú trọng điều này

- Hệ thống kiểm nghiệm, phân tích thực phẩm có ý nghĩa quan trọng trongviệc bảo đảm tính chính xác, khoa học của hoạt động thanh tra, kiểm tra chấtlượng VSATTP để từ đó rà soát, sửa đổi, bổ xung những quy định cho phù hợpthực tế, vì vậy Việt nam nhất thiết cần xây dựng, quy định cụ thể chức năng,

Trang 39

quyền hạn của các phòng thí nghiệm, hệ thống phòng phân tích chuẩn kiểm nghiệm chất lượng VSATTP ở tỉnh và các trung tâm y tế dự phòng cấp huyện.

- Hoàn thiện hệ thống phân phối và bán lẻ trong nước để khỏi bỏ sót mộtloại hàng hóa nào liên quan đến vấn đề ăn, uống của người dân mà không đượckiểm soát chất lượng VSATTP

2.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Khoái Châu, tỉnhHưng Yên

- Trong những năm gần đây trên địa bàn huyện liên tiếp xảy ra các vụ ngộđộc thực phẩm với quy mô ngày càng rộng, tỷ lệ bệnh nhân phải nhập viện dongộ độc thực phẩm cũng tăng cao, không chỉ gây ảnh hưởng tới sức khỏe và cuộcsống của con người, mà còn thiệt hại về kinh tế đối với cá nhân người mắc bệnh,gia đình họ và cả cộng đồng Các bệnh này đã tạo ra một gánh nặng lớn cho hệthống chăm sóc sức khỏe và giảm đáng kể năng suất kinh tế Chính vì vậy việcđảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được coi là một trong những vấn đề quantrọng trong việc bảo vệ sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội của thế kỷ 21

- Các cơ quan quản lý nhà nước được giao nhiệm vụ này cần đẩy mạnh cáchoạt động (thanh tra, kiểm tra, giám sát; thông tin, truyền thông , giáo dục…),nhằm nâng cao nhận thức của người sản xuất, chế biến và người tiêu dùng, gópphần hạn chế ngộ độc thực phẩm xẩy ra, tăng cường bảo vệ sức khỏe nhân dân,từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống

- Xây dựng mô hình điểm chợ điểm về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh

ăn uống, khuyến khích người dân sản xuất, chăn nuôi sạch bằng cách quy hoạchcác điểm trồng rau sạch và xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn

Hiện nay huyện Khoái Châu cũng như nhiều huyện trong cả nước đã có quyhoạch vùng sản xuất rau an toàn, tập trung ở khu vực Văn Lâm và huyện VănĐức Trong tương lai hai điểm này sẽ cung cấp rau xanh cho toàn tỉnh

Hưng Yên là tỉnh có rất nhiều khu công nghiệp phát triển như: KCN PhốNối A, KCN Minh Đức, KCN TX Hưng Yên nhiều làng nghề truyền thống và lễhội, thu hút số lượng lao động lớn đến làm việc, thăm quan Đảm bảo VSATTP

để hạn chế ngộ độc thực phẩm, đồ uống xẩy ra trong các bếp ăn tập thể và trongdịp lễ hội truyền thống, luôn là mối quan tâm của các nhà quản lý về vệ sinh antoàn thực phẩm Việc xây dựng các mô hình điểm về VSATTP là điều hết sức

Trang 40

cần thiết trong thời điểm này Hiện tại, huyện vẫn chưa thực hiện xây dựng được

mô hình tiên tiến về VSATTP, chưa có lò giết, mổ gia súc tập trung… việc quyhoạch 2 điểm trồng rau sạch cũng chưa thực hiện được

Ngày đăng: 10/01/2019, 09:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (2002). An toàn thực phẩm sức khỏe đời sống và kinh tế xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn thực phẩm sức khỏe đời sống và kinh tế xã hội
Tác giả: Cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
Năm: 2002
9. Lê Văn Giang (2006). Đánh giá tình hình thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại các bếp ăn tập thể huyện Gia Lâm sau khi áp dụng các biện pháp can thiệp truyền thông, kỷ yếu hội nghị khoa học An toàn thực phẩm lần thức 4 – 2007. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. tr. 91- 97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại các bếp ăn tập thể huyện Gia Lâm sau khi áp dụng các biện pháp can thiệp truyền thông
Tác giả: Lê Văn Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
10. Nguyễn Công Khẩn (2011). Chiến lược an toàn thực phẩm tại Việt NamY học dự phòng và y tế công cộng, thực trạng định hướng tại Việt Nam trường ĐHY Hà Nội, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. tr. 527- 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược an toàn thực phẩm tại Việt NamY học dự phòng và y tế công cộng, thực trạng định hướng tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Khẩn
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
11. Sở y tế Nghệ An (2014). Hội thảo về giải pháp đẩy mạnh quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Nghệ An. Truy cập ngày 12 tháng 06 năm 2016 tại http: / /s o y te n g h e a n . g ov.vn/ v e - si n h - a n -t o an- t huc-p h a m / 1 940- h i-tho-v - g ii- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo về giải pháp đẩy mạnh quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Nghệ An
Tác giả: Sở y tế Nghệ An
Năm: 2014
15. Trần Quang Trung (2014). Đặc điểm sự số an toàn thực phẩm ở Việt Nam giai đoạn 2007- 2014 và đề xuất giải pháp kiểm soát, Hội thảo quản lý chất lượng VSATTP lần thứ 2, Đại Học Bách Khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sự số an toàn thực phẩm ở Việt Nam giai đoạn 2007- 2014 và đề xuất giải pháp kiểm soát
Tác giả: Trần Quang Trung
Nhà XB: Hội thảo quản lý chất lượng VSATTP lần thứ 2
Năm: 2014
2. Bộ Y tế (2012). Thông tư 15/2012/TT- BYT, quy định về điều kiện an toàn thực phẩm Khác
3. Bộ Y tế, (2013). Tập hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ATTP từ năm 2011-2013 Khác
4. Phòng y tế huyện Khoái Châu, (2014). Báo cáo tổng kết an toàn vệ sinh thực phẩm huyện năm 2013 Khác
5. C Phòng y tế huyện Khoái Châu, (2015). Báo cáo tổng kết an toàn vệ sinh thực phẩm huyện năm 2014 Khác
6. Phòng y tế huyện Khoái Châu, (2016). Báo cáo tổng kết an toàn vệ sinh thực phẩm huyện năm 2015 Khác
8. Đỗ Mai Thành (2010). Kinh nghiệm quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của liên minh Châu Âu và bài học đối với Việt Nam, Tạp chí cộng sản điện tử, số 12 trang (204) năm 2010 Khác
12. Sở y tế tỉnh Hưng Yên (2013). Quyết định số 618/QĐ-SYT về việc Phân cấp quản lý nhà nước về an toàn thưc phẩm thuộc lĩnh vực ngành y tế trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Khác
14. Trần Quang Huy (2007). Khảo sát tình hình ô nhiễm thức ăn đường phố và yếu tố liên quan tại Thành phố Thanh Hóa, Kỷ yếu hội nghị khoa học An toàn thực phẩm lần thứ 5- 2009, Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội. tr.197- 203 Khác
16. Tuấn Dũng (2010). Đà Nẵng: Thách thức về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm.Truy cập ngày 09 tháng 03 năm 2016 tại http: / / d a n a n g z .com/da- n a n g-th a ch- t huc- ve-van-de-ve-sinh-an-toan-thuc-pham.html Khác
17. Ủy ban huyện Khoái Châu (2012). Quyết định số 1151/QĐ-UBND của UBND huyện Khoái Châu về việc thực hiện chiến lược quốc gia về VSATTP giai đoạn 2011 – 2015 Khác
18. Ủy ban nhân dân huyện Khoái Châu (2013). Chỉ thị số 03/CT-UBND về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Khoái Châu Khác
19. Ủy ban nhân dân huyện Khoái Châu (2013). Quyết định số 101/2013/QĐ-UBND về quy định phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về VSATTP trong 3 ngành y tế, công thương và nông nghiệp Khác
20. WHO (2000). The world health report 2002 - Reducing Risks, Promoting Healthy Life. Truy cập ngày 07 tháng 03 năm 2016 tại http: / /ww w .who.int / w h r/2002/en/ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w