HCM ---ĐỖ QUANG LỢI CÁC YẾU TỐ RỦI RO GÂY MẤT AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Kỹ thuật xây dựng công trình dân d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-ĐỖ QUANG LỢI
CÁC YẾU TỐ RỦI RO GÂY MẤT AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-ĐỖ QUANG LỢI
CÁC YẾU TỐ RỦI RO GÂY MẤT AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công
nghiệp
Mã số ngành: 60580208 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS CHU VIỆT
CƯỜNG
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 10 năm
2015
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS CHU VIỆT CƯỜNG
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCMngày …… tháng …… năm 2015
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
Trang 4NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: ĐỖ QUANG LỢI Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 15/02/1979 Nơi sinh: TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp
I- Tên đề tài:
CÁC YẾU TỐ RỦI RO GÂY MẤT AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG CÁC
CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH II- Nhiệm vụ và nội dung:
Nhiệm vụ của luận văn là nghiên cứu Các yếu tố rủi ro gây mất An Toàn Lao Động xây dựng tại các công trường xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Các nội dung chính là:
- Thực hiện nghiên cứu các vấn đề và thành phần quan trọng liên quan đến An ToànLao Động
- Tìm các nguyên nhân gây ra mất an toàn lao động trên công trường
- Thu thập và phân tích dữ liệu từ các nhà thầu, rút ra kết luận làm cơ sở cho việc thực hiện các khuyến nghị cải thiện Công Tác An Toàn Lao Động
III- Ngày giao nhiệm vụ: / /2014
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: / /2015
V- Cán bộ hướng dẫn: TS CHU VIỆT CƯỜNG
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
TS CHU VIỆT CƯỜNG ThS KHỔNG TRỌNG TOÀN
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Các yếu tố rủi ro gây mất toàn lao động trong các công trình xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từngđược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Đỗ Quang Lợi
Trang 6LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu tại trường Đại học Công Nghệ Tp HCM
Em luôn nhận được sự quan tâm chân tình, đầy ý nghĩa của quý thầy cô giảngdạy, Ban giám hiệu, phòng Quản lý khoa học - Đào tạo sau Đại học, Khoa Xây dựng,
đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa học và có nhiều kinh nghiệm, kiến thức
bổ ích
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng nhất đến thầy
TS Chu Việt Cường – Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ emtrong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý cơ quan, đơn vị đã tạo điều kiện về thờigian, sự hỗ trợ, hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tận tình để em tham gia học tập,nghiên cứu trong suốt quá trình từ năm 2013 đến nay Cám ơn sự đồng hành của cácbạn tập thể lớp
13SXD11 và những người thân trong gia đình, nơi công tác, học tập, cư trú…
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã cố gắng hết sức để hoàn thiện Luận văn,trao đổi và nghiêm túc tiếp thu những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy, cô, bạn
bè, đồng nghiệp, tham khảo nhiều tài liệu, khảo sát nhiều địa phương, đơn vị… đểhoàn thiện đề tài, song không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong tiếp tục nhậnđược sự quan tâm, góp ý của quý thầy, cô, bạn bè, đồng nghiệp, người thân, bạn đọc
để đề tài được ứng dụng vào thực tế đạt hiệu quả cao nhất
Xin chân thành biết ơn và ghi ơn sâu sắc!
Đỗ Quang Lợi
Trang 7TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm làm sáng tỏ về Công Tác An Toàn Lao Động của nhàthầu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu cũng cung cấp cái nhìn sâusắc vào những khó khăn thách thức liên quan đến An Toàn Lao Động xây dựng trênđịa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Những đóng góp này có thể giúp mở đường cho sựcải cách An Toàn Lao Động trong ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam
Chương 1 – Mở đầu: cung cấp nền tảng nghiên cứu; chỉ ra lỗ hổng kiến thứcdẫn đến câu hỏi nghiên cứu Mục đích và mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và động lựccho việc nghiên cứu và chiến lược nghiên cứu được sử dụng Cuối cùng là tóm tắtnhững đóng góp kiến thức được thực hiện bởi nghiên cứu này
Chương 2 – Tổng quan: trình bày tổng quan về tình trạng của An Toàn LaoĐộng trong ngành công nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Tìmcác nguyên nhân chính gây ra mất an toàn lao động trên công trường
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 - Kết quả phân tích dữ liệu
Chương 5 - Kết luận và kiến nghị: trình bày tóm tắt về thành quả nghiên cứu,
áp dụng đưa vào thực tiễn, các hạn chế nghiên cứu và những khuyến nghị cho nghiêncứu xa hơn
Trang 8in the Vietnam construction industry.
Chapter 1 – Introduction: delivers research background; points out theknowledge gap that leads to the research question It also highlights the research aimand objectives, the scope and motivation for the research and the research strategyemployed Lastly it summarises the contribution to knowledge made by the study
Chapter 2 – Literature review: presents a review of the status of H&S in theVietnamese construction industry The review also covers H&S management
Chapter 3 – Methodology
Chapter 4 – Data analysis’ result
Chapter 5 – Conclusion: presents the summary of the research studylimitations and recommendations for practice and further research
Trang 9MỤC LỤC
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Bối cảnh nghiên cứu 1
1.3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 6
1.4 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng khảo sát 7
1.5 Đóng góp của nghiên cứu 7
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 8
2.1 Giới thiệu 8
2.1.1 Tầm quan trọng của ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam
8 2.1.2 Liên kết giữa hệ thống an toàn lao động và sự thực hiện an toàn lao động tốt hơn 8
2.2 Quản lý an toàn lao động - Các thành phần 10
2.2.1 Hệ thống quản lý an toàn lao động 10
2.2.2 Lãnh đạo và chính sách 11
2.2.3 Tổ chức 12
2.2.4 Đánh giá và kiểm soát rủi ro 13
2.2.5 Lập kế hoạch và thực hiện 17
2.2.6 Kiểm định và xem xét 18
2.3 Văn hóa an toàn 19
2.3.1 Định nghĩa và tầm quan trọng của văn hóa an toàn 19
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng văn hóa an toàn trong các công trường xây dựng
20 2.4 Tổng quan về hệ thống và quy định quản trị an toàn lao động Việt Nam 21
2.4.1 Hệ thống quản lý an toàn lao động 21
2.4.2 Các quy định 22
Trang 102.4.3 Sự thiếu sót trong Công tác an toàn lao động của các nhà thầu trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh 24
2.5 Tổng quan về rủi ro 25
Nhằm đưa ra cách nhìn tổng quan nhất về rủi ro, sau đây tác giả sẽ trình bày về các vấn đề cơ bản liên quan đến rủi ro 25
2.5.1 Định nghĩa rủi ro 25
2.5.2 Phân loại rủi ro 26
2.5.3 Quản lý rủi ro 27
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Quy trình nghiên cứu 29
3.2 Xác định các yếu tố rủi ro trong quá trình thi công 30
3.3 Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát và thu thập dữ liệu (xem phụ lục 3) 30
3.4 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát và thu thập dữ liệu 30
3.4.1 Thiết kế bảng câu hỏi 30
3.4.2 Nội dung bảng câu hỏi khảo sát: 31
3.4.3 Xác định số lượng mẫu 32
3.4.4 Thu thập dữ liệu 33
3.4.5 Kiểm định thang đo 33
3.4.6 Kiểm định trị trung bình tổng thể 34
3.4.6.1 Kiểm định T-test 34
3.4.6.2 Kiểm định Mann-Whitney 35
3.4.7 Kiểm định hệ số tương quan hạng Spearman 35
3.4.8 Phân tích nhân tố 36
3.4.8.1 Khái niệm về phân tích nhân tố 36
3.4.8.2 Phân tích ma trận tương quan và sự phù hợp của phân tích nhân tố 36
3.4.8.3 Số lượng nhân tố được trích xuất 36
3.4.8.4 Xoay nhân tố 37
3.4.8.5 Đặt tên và giải thích các nhân tố 38
3.4.9 Kiểm định Kruskal-Wallis 38
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 40
4.1 Làm sạch dữ liệu 40
Trang 114.2 Phân tích dữ liệu 40
4.2.1 Thống kê mô tả 40
4.2.1.1 Đơn vị công tác của các đối tượng khảo sát 40
4.2.1.2 Kinh nghiệm của các đối tượng khảo sát 41
4.2.1.3 Chức vụ công tác của người trả lời khảo sát 41
4.2.1.4 Lĩnh vực công tác của các đối tượng khảo sát 42
4.2.1.5 Quy mô công trình lớn nhất mà các đối tượng khảo sát từng thi công 43
4.2.1.6 Kinh phí lớn nhất của các công trình đã thi công 43
4.2.2 Kiểm định thang đo 44
4.2.2.1 Kiểm định thang đo khả năng xảy ra 44
4.2.2.4 Kiểm định thang đo mức độ ảnh hưởng: 45
4.2.3 Kiểm định trị trung bình tổng thể 47
4.2.3.1 Kiểm định trung bình khả năng xảy ra giữa các nhóm 47
4.2.3.2 Kiểm định trung bình mức độ ảnh hưởng giữa các nhóm 48
4.2.4 Xếp hạng các yếu tố rủi ro 49
4.2.4.1 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm Đơn vị thi công 50
4.2.4.2 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm Tư vấn Giám sát 52
4.2.4.3 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm chung 53
4.2.4.4 So sánh xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm các nhóm chung 55
4.2.4.5 Kiểm định tương quan xếp hạng các yếu tố rủi ro giữa các nhóm 57
4.3 Phân tích nhân tố 57
4.3.1 Kiểm định hệ số KMO và Bartlett’s test 60
4.3.2 Số lượng nhân tố được trích xuất 60
4.3.3 Tương quan giữa các nhân tố và các biến 62
4.3.4 Kết quả phân tích nhân tố 63
4.3.5 Đánh giá kết quả 65
4.3.5.1 Nhân tố rủi ro thứ nhất: Rủi ro do ý thức của công nhân tham gia thi công.65 4.3.5.2 Nhân tố rủi ro thứ hai: Rủi ro do chính sách an toàn lao động của nhà thầu.66 4.3.5.3 Nhân tố rủi ro thứ ba: Rủi ro do năng lực cán bộ an toàn lao động 66 4.3.5.4 Nhân tố rủi ro thứ tư: Rủi ro do năng lực thiết bị phục vụ an toàn lao động.67
Trang 124.3.5.5 Nhân tố rủi ro thứ năm: Rủi ro do các thiếu sự phối hợp của các bên liên
quan 67
Vì các nguyên nhân nêu trên nên nhân tố rủi ro thứ năm được đặt tên là Rủi ro do các thiếu sự phối hợp của các bên liên quan là phù hợp 67
4.4 Kiểm định Kruskal-Wallis 67
4.4.1 Phân tích phương sai về kinh nghiệm giữa các nhóm về nhân tố rủi ro thứ nhất 68
4.4.2 Phân tích phương sai về kinh nghiệm giữa các nhóm về nhân tố rủi ro hai 68
4.4.3 Phân tích phương sai về kinh nghiệm giữa các nhóm về nhân tố rủi ro thứ ba68 4.4.4 Phân tích phương sai về kinh nghiệm giữa các nhóm về nhân tố rủi ro thứ tư69 4.4.4 Phân tích phương sai về kinh nghiệm giữa các nhóm về nhân tố rủi ro thứ năm 69
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.2 Đóng góp của nghiên cứu 73
5.3 Giới hạn của nghiên cứu 73
5.4 Đề xuất để nghiên cứu thêm 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2 Ma trận cấp độ rủi ro 17
Bảng 3.1 Thang đo nghiên cứu 32
Bảng 4.1 Đơn vị công tác của các đối tượng khảo sát 40
Bảng 4.2 Kinh nghiệm của các đối tượng khảo sát 41
Bảng 4.3 Chức vụ công tác của người trả lời khảo sát 41
Bảng 4.4 Lĩnh vực công tác của các đối tượng khảo sát 42
Bảng 4.5 Quy mô công trình lớn nhất mà các đối tượng khảo sát từng thi công 43
Bảng 4.6 Kinh phí lớn nhất của các công trình đã thi công 43
Bảng 4.7 Hệ số Item-Total Correclation khả năng xảy ra 44
Bảng 4.8 Hệ số Cronbach’s Alpha mức độ ảnh hưởng 45
Bảng 4.9: Hệ số Item-Total Correclation mức độ ảnh hưởng 45
Bảng 4.10 Hệ số Cronbach’s Alpha mức độ ảnh hưởng 46
Bảng 4.11 Tổng hợp kết quả kiểm định T-test và kiểm định Mann-Whitney 47
Bảng 4.12 Tổng hợp kết quả kiểm định T-test và kiểm định Mann-Whitney 48
Bảng 4.13 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm Đơn vị thi công 50
Bảng 4.14 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm Tư vấn Giám sát 52
Bảng 4.15 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm chung 53
Bảng 4.16 So sánh xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm các nhóm chung 55
Bảng 4.17 Hệ số tương quan hạng Spearman các yếu tố rủi ro giữa hai nhóm 57
Bảng 4.18 Ma trận các rủi ro 58
Bảng 4.19 Bảng đánh thể hiện các trạng thái rủi ro 58
Bảng 4.20 Hệ số KMO và Bartlett’s test: 60
Bảng 4.21 Đại lượng Communalities 60
Bảng 4.22 Tổng phương sai được giải thích 61
Bảng 4.23 Ma trận nhân tố khi xoay 63
Bảng 4.24 Kết quả phân tích nhân tố 63
Bảng 4.25 Kết quả kiểm định kruskal-Wallis của nhân tố rủi ro thứ nhất 68
Bảng 4.26 Kết quả kiểm định kruskal-Wallis của nhân tố rủi ro thứ hai 68
Bảng 4.27 Kết quả kiểm định kruskal-Wallis của nhân tố rủi ro thứ ba 68
Bảng 4.28 Kết quả kiểm định kruskal-Wallis của nhân tố rủi ro thứ tư 69
Bảng 4.29 Kết quả kiểm định kruskal-Wallis của nhân tố rủi ro thứ năm 69
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sự cố của các loại tai nạn trong 6 tháng đầu của năm 2013 3
Hình 1.2 Các rủi ro thường xuất hiện trong hoạt động xây dựng 4
Hình 1.3: Tai nạn lao động công trình xây dựng Sài Gòn South Office 1 5
Hình 2.1 Khuôn khổ quản lý của Hệ thống quản lý an toàn lao động 10
Hình 2.2.BS OHSAS 18001: 2007 Hệ thống quản lý an toàn lao động 11
Hình 2.3 Quy trình đánh giá rủi ro - Fewings (2013) 14
Hình 2.4 Cấp bậc của kiểm soát an toàn lao động 16
Hình 2.5 Hệ thống quản lý an toàn lao động tại Việt Nam 21
Hình 2.6 Các phòng ban chuyên môn Sở Lao động - Thương binh và Xã hội 22
Hình 3.1 Sơ đồ khối của quy trình nghiên cứu 29
Hình 3.2 Sơ đồ khối của quy trình thiết kế bảng câu hỏi 30
Hình 4.1 Đơn vị công tác của các đối tượng khảo sát 40
Hình 4.2 Kinh nghiệm của các đối tượng khảo sát 41
Hình 4.3 Chức vụ công tác của người trả lời khảo sát 42
Hình 4.4 Lĩnh vực công tác của các đối tượng khảo sát 42
Hình 4.5 Quy mô công trình lớn nhất mà các đối tượng khảo sát từng thi công 43
Hình 4.6 Kinh phí lớn nhất của các công trình đã thi công 44
Hình 4.7 Điểm của yếu tố rủi ro 49
Hình 4.8 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm Đơn vị thi công 51
Hình 4.9 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm Tư vấn Giám sát 53
Hình 4.10 Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm chung 55
Hình 4.11 Biểu đồ Scree plot thể hiện giá trị Eignvalue của các nhân tố được trích xuất 62
Trang 15DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTS
Trang 16CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành công nghiệp xây dựng ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn Thànhphố Hồ Chí Minh nói riêng có một ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế quốc gia và cũngphải đối mặt với nhiều thách thức An Toàn Lao Động là một trong những vấn đềđược quan tâm đặc biệt Gần đây, hiệu suất kém trong Công Tác An Toàn Lao Động
đã được coi là một rào cản lớn đối với xu hướng phát triển của Việt Nam Điển hìnhnhư sự việc sập giàn giáo tại một công trình đang xây dựng tại Quận 7 vào tháng 7năm 2015 gây thiệt hại nhiều về người và tài sản Hiện nay, vẫn còn một khoảng cáchlớn về thực tiễn Công Tác An Toàn Lao Động được thực hiện trên các công trườngcủa các nhà thầu xây dựng tại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đó là một trởngại lớn trong việc tìm kiếm giải pháp cho các tình huống đó Khoảng cách này khiếnnghiên cứu này được thực hiện để trả lời câu hỏi: “Công Tác An Toàn Lao Độngđược thực hiện bởi các nhà thầu trong các công trình xây dựng trên địa bàn Thànhphố Hồ Chí Minh là gì?”
Một cách tiếp cận định lượng đã được áp dụng bằng cách tiến hành các cuộckhảo sát bằng bảng câu hỏi Từ kết quả nghiên cứu này, Công Tác An Toàn LaoĐộng trên các công trình xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và nhữngthách thức liên quan đến An Toàn Lao Động đã được xác định Kết quả của cácnghiên cứu chứng minh rằng hầu hết các vấn đề trong An Toàn Lao Động trên địabàn Thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến chính sách đối với việc quản lý nhànước về công tác an toàn lao động, thái độ đối với thực tiễn Công Tác An Toàn LaoĐộng và thiếu chuyên môn trong An Toàn Lao Động Từ đó, các nghiên cứu đã chỉ
ra điểm yếu và cách giải quyết các vấn đề Nghiên cứu sâu hơn nữa và các đề xuấtđược cung cấp để hoàn thành các mặt hạn chế trong nghiên cứu này
1.2 Bối cảnh nghiên cứu
"Ở hầu hết các nước phát triển công nghiệp, ngành công nghiệp xây dựng làmột trong những ngành quan trọng nhất đóng góp GDP và cũng ảnh hưởng đến AnToàn Lao Động của người làm việc "- Lingard và Rowlingson, 2005
Trong 30 năm qua, sự đổi mới chính trị của chính phủ Việt Nam đã làm cho
bộ mặt của cả nước được thay đổi đặc biệt là trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 17Phát triển kinh tế làm đời sống nhân dân tốt hơn và cung cấp cơ sở hạ tầng đáp ứngnhu cầu cơ bản mà con người cần Tuy nhiên, do động lực cao để phát triển nền kinh
tế nhanh chóng, các vấn đề An Toàn Lao Động có khuynh hướng xếp ở vị trí thứ hai
Tất cả các thành phần kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã pháttriển mạnh từ năm 1990, và ngành công nghiệp xây dựng cũng không ngoại lệ Có rấtnhiều dự án xây dựng lớn đã hoặc đang được xây dựng trong cả nước Kết hợp với sựbùng nổ trong xây dựng là rất nhiều thách thức, một trong số đó là an toàn lao động
Giai đoạn 2006-2010, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giá trị gia tăngkhu vực công nghiệp-xây dựng tăng bình quân 10,1%/năm (năm 2006: 10,6%, năm2007: 11,8%, năm 2008: 9,5%, năm 2009: 7,3%, năm 2010: 11,5%; kế hoạch 5 nămtăng 12,5%), chiếm 45,3% GDP của Thành phố (theo Nghị quyết 53- NQ/TW: đếnnăm 2010 ngành công nghiệp, xây dựng toàn Vùng chiếm 59-60% GDP)
Xây dựng là một ngành công nghiệp mũi nhọn, chiếm tỉ trọng lớn trong thunhập kinh tế quốc dân (khoảng 13,5%) và lực lượng lao động chiếm khoảng 10%trong tổng số lực lượng lao động Đây cũng là một trong những ngành sản xuất cónhiều yếu tố nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại Việc thực hiện công tác an toàn laođộng trong ngành này cũng rất phức tạp và khó khăn bởi đây là ngành công nghiệp
đa ngành nghề từ sản xuất vật liệu xây dựng (khai thác đá, cát sỏi, sắt thép, đồ dùngnội thất ) đến thi công, lắp đặt bảo dưỡng công trình…; Số lao động chưa qua đàotạo chiếm tỉ lệ rất lớn, các yêu cầu về công việc nặng nhọc kéo dài ở các vị trí khólàm việc; tiếp xúc với thời tiết, bụi, tiếng ồn và khói; sử dụng nhiều hóa chất ăn mòn;
và sử dụng rộng rãi của máy móc thiết bị và các công cụ năng lượng trong một môitrường năng động khi điều kiện thay đổi thường xuyên;
Điều kiện và môi trường lao động đa dạng, phức tạp như làm việc trên cao,dưới nước, trên bộ, trong đường hầm Luôn luôn tiềm ẩn các nguy cơ dẫn đến mất
an toàn lao động và bệnh nghề nghiệp Ngoài ra, vị trí, địa điểm lao động không ổnđịnh gây khó khăn cho công tác quản lý An Toàn Lao Động
Griffith và Howard (2000) cho rằng công trình xây dựng "vốn đã nguy hiểm"
và điều này được chứng minh bởi số lượng lớn các bệnh nghề nghiệp và cái chếtthường được ghi lại trong ngành xây dựng so với các ngành khác
Trang 18Do đặc điểm kỹ thuật của nó, tất cả các dự án xây dựng đòi hỏi phải có một kếhoạch làm việc chi tiết để giảm nguy cơ tai nạn đến mức tối thiểu Mục tiêu này có vẻđơn giản mà thực sự là một vấn đề lớn ở nhiều nước đang phát triển trong đó có ViệtNam
Ngành công nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh vẫn cònnon trẻ và thiếu phương pháp quản lý phù hợp, đặc biệt là trong công tác an toàn laođộng Gần đây, điều kiện an toàn lao động xây dựng yếu kém đã trở thành một vấn đềnghiêm trọng
Dựa trên cuộc khảo sát tiến hành trong năm 2009 và dự báo trong giai đoạn2010-2015, có khoảng 170.000 người bị tai nạn lao động, trong đó có 1.700 trườnghợp tử vong và số lượng của các trường hợp mới mắc bệnh nghề nghiệp Con số này
sẽ được tăng hơn 1.000 người mỗi năm, gây thiệt hại hơn 2.000 tỷ đồng mỗi năm(Chương trình quốc gia lần thứ hai về an toàn lao động, 2011-2015) Có khoảng51,11% những trường hợp đã xảy ra trong lĩnh vực xây dựng
Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam (2014), chỉ 6 tháng đầunăm 2013, trong ngành công nghiệp xây dựng có xấp xỉ:
- 152 vụ tai nạn chết người
- 19.23 tỷ đồng bồi thường cho những người bị tai nạn
- 19,109 ngày làm việc bị mất đi
Hình 1.1 Sự cố của các loại tai nạn trong 6 tháng đầu của năm 2013.
Nguồn: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam (2014)
Qua số liệu thống kê trên, có thể thấy mức độ nguy hiểm trong xây dựng là rấtcao, trong đó số sự cố tai nạn đo giao thông chỉ chiếm tỷ lệ 17%, rất ít so với các lĩnhvực khác mà xây dựng chiếm khối lượng lớn
Trang 194
Trang 20Nổ (lý, hóa)
Vật rơi, đổ, sập
Vật văng, bắn
Hình 1.2 Các rủi ro thường xuất hiện trong hoạt động xây dựng.
Theo thơng tin từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong 6 tháng đầunăm 2014 trên tồn quốc đã xảy ra 3.454 vụ tai nạn lao động (tăng 3% với cùng kỳnăm 2013) làm 3.505 người bị tai nạn (tăng 2%), trong đĩ cĩ 280 người chết (giảm8%), 660 người bị thương nặng Theo số liệu thống kê, tổng số các vụ TNLĐ trongxây dựng thì cĩ tới 55% do ngã cao, 24% gặp các vấn đề về điện và 10% do sập đổthiết bị trên cơng trình
Theo Thái Ngọc (2014), trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong 06 tháng đầu
năm 2014 đã xảy ra 37 vụ tai nạn lao động, làm chết 37 người, bị thương 1
người
So với cùng kỳ năm trước, số tai nạn lao động đã giảm được 6 vụ Trong số 37
vụ tai nạn lao động thì lĩnh vực xây dựng chiếm đến 24 vụ; sản xuất cơng nghiệp 8
vụ và ngành dịch vụ 5 vụ Mới chỉ cĩ 10 vụ cĩ được kết luận nguyên nhân xảy ra tainạn, số cịn lại cịn đang trong quá trình điều tra
Nguyên nhân của tình trạng tai nạn lao động cao được Sở LĐ-TB & XH cho rằng dongười sử dụng lao động chưa được huấn luyện về an tồn vệ sinh lao động, các cơ sởsản xuất, cơng trình xây dựng khơng xây dựng quy trình làm việc và sử dụng thiết bịkhơng đảm bảo
Từ đầu năm 2014 đến nay, trong số 21 cơng trình xây dựng mà Thanh tra SởLao động - Thương binh và Xã hội tiến hành thanh tra, cĩ đến 14 cơng trình vi phạm
an tồn lao động, bị xử phạt hành chính với tổng số tiền 114 triệu đồng
Đồn điều tra đã đình chỉ thi cơng 1 cơng trình, đình chỉ việc sử dụng 12 thiết
bị xây dựng cĩ yêu cầu nghiêm ngặt về an tồn lao động nhưng khơng đủ chuẩn và
đề nghị khởi tố 4 vụ tai nạn nghiêm trọng
Trang 21Ông Huỳnh Tấn Dũng, Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xãhội cho rằng, việc tiết giảm chi phí đầu tư nguồn lực và tận dụng thiết bị cũ kỹ, cóyếu tố nguy hiểm tại công trình khiến cho tai nạn xây dựng khó có thể giảm xuống.
Hình 1.3: Tai nạn lao động công trình xây dựng Sài Gòn South Office 1
Theo Ông Huỳnh Tấn Dũng: “Nhiều nhà thầu vi phạm các chế độ về huấnluyện an toàn lao động, về trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, công tác kiểm tragiám sát điều kiện an toàn lao động trên công trường Vi phạm phổ biến nhất là viphạm về các quy định an toàn trong việc sử dụng điện, phòng chống tai nạn từ trêncao Tình trạng trách nhiệm của các nhà thầu hoặc chủ đầu tư đối với trang thiết bịtrên công trình mình quản lý không tốt, đe dọa đến sự an toàn của công trình và nhândân xung quanh”
Theo ông Nguyễn Văn Minh, Chủ tịch Hội đồng Bảo hộ lao động thì để ngườilao động có ý thức trong việc tự bảo vệ mình, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền:
“Phải làm công tác truyền thông bằng nhiều cách, nhiều phương pháp, để thuyếtphục, chuyển nhận thức cho tốt Làm sao trong quá trình lao động người ta thực thiquy định cho tốt”
Để hạn chế những tai nạn đáng tiếc, không chỉ riêng người lao động, mà quantrọng hơn là ý thức, trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc sử dụng nguồn nhân lực có
Trang 22chất lượng, được đào tạo cơ bản, thực hiện giám sát điều kiện lao động tại các côngtrình Cùng với đó, các cơ quan chức năng, địa phương cần phối hợp chặt chẽ hơnnữa trong công tác kiểm tra, xử phạt nghiêm đối với những công trình xây dựng viphạm về an toàn lao động.”
So sánh tình hình Việt Nam với các nước phát triển (Úc, Anh, Singapore…)
để thấy tình hình An Toàn Lao Động tại Việt Nam là rất kém
Ví dụ tại Úc, trong giai đoạn 5 năm từ 08/2007 đến 12/2011, đã có 211 trườnghợp tử vong (An toàn lao động, so sánh hiệu suất, theo dõi báo cáo, so sánh về antoàn lao động và biểu đồ bồi thường của công nhân tại Úc và New Zealand, 2013)
Tại Singapore, tai nạn lao động chiếm 33 trong tổng số 59 trường hợp tử vongtại nơi làm việc trong năm 2013 Kết quả là tỷ lệ tử vong của ngành tăng vọt đến 7lần cho mỗi 100.000 lao động, tăng từ 5,9 của năm trước (Tan, 2014) Mặc dù kếtquả này đã được coi là "tồi tệ nhất" trong 10 năm qua tại Singapore, nó vẫn còn tốthơn nhiều so với tai nạn lao động xây dựng Việt Nam
Con số các vụ tai nạn xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh gián tiếpđưa dự án xây dựng vào một tình huống mà họ phải chịu nguy cơ cao về sự chậm trễ
và vượt ngân sách Trung tâm của sự lo ngại về hoàn cảnh An Toàn Lao Động trongngành công nghiệp xây dựng của Việt Nam là vấn đề của Công Tác An Toàn LaoĐộng yếu kém trong các dự án Có 1 sự cần thiết phải cải thiện Công Tác An ToànLao Động trong xây dựng Tuy nhiên, bất kỳ nỗ lực theo hướng này sẽ phải đượcđịnh hướng bởi các biện pháp An Toàn Lao Động hiện tại được thực hiện bởi các nhàthầu các dự án Điều này đòi hỏi nghiên cứu để chẩn đoán Công Tác An Toàn LaoĐộng hiện đang được sử dụng cho các dự án xây dựng
1.3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của luận văn là để nghiên cứu các nhân tố chính ảnh hưởng đếnCông Tác An Toàn Lao Động xây dựng được triển khai trên các công trường xâydựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Các mục tiêu chính để đạt được mục đích này là:
- Nghiên cứu, đánh giá tổng quan các vấn đề và thành phần quan trọng liênquan đến An Toàn Lao Động;
- Tìm các nguyên nhân gây mất an toàn lao động trên công trường;
Trang 23- Thu thập và phân tích dữ liệu từ các Đơn vị thi công và Tư vấn giám sát để
xác định các nhân tố chính tác động trực tiếp đến Công Tác An Toàn Lao Động, rút
ra kết luận làm cơ sở cho việc thực hiện các khuyến nghị cải thiện Công Tác AnToàn Lao Động
1.4 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng khảo sát
Về không gian: Nghiên cứu thực hiện khảo sát các công trình nhà cao tầng
trong phạm vi Tp.HCM trong những năm gần đây (2010 đến 2014)
Đối tượng khảo sát: Đối tượng nghiên cứu mà đề tài hướng đến là các
Chuyên gia, Giám đốc các dự án, Chỉ huy trưởng và Kỹ sư Tư vấn giám sát đã từng tham gia tại các công trình nhà cao tầng tại Tp.HCM
Góc độ phân tích: Phân tích nhìn từ góc độ của Đơn vị thi công và Tư vấn
giám sát, đơn vị trực tiếp tham gia tất cả công tác thi công để có cái nhìn cụ thể, chính xác nhất các rủi ro
1.5 Đóng góp của nghiên cứu
Nghiên cứu này đã làm sáng tỏ về Công Tác An Toàn Lao Động của nhà thầutrên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc vàonhững thách thức liên quan đến An Toàn Lao Động xây dựng trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh Những đóng góp này có thể giúp mở đường cho sự cải cách An ToànLao Động trong ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam
Trang 24CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN2.1 Giới thiệu
Tổng quan tài liệu có một cái nhìn chung về việc xác định các điểm yếu trongcác tài liệu hiện có và xác định những lỗ hổng mà vẫn chưa được đưa vào xem xét tạiViệt Nam Hơn nữa, nó đóng vai trò là nền tảng để lựa chọn một chiến lược nghiêncứu
2.1.1 Tầm quan trọng của ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam
Ngành xây dựng chắc chắn là một ngành công nghiệp lớn và đóng vai tròquan trọng trong mọi nền kinh tế quốc gia Sheahan (2012) viết: “Ngành công nghiệpxây dựng là điều cần thiết cho sự phát triển của các thành phố, cộng đồng, khu dân cư
và công nghiệp Nền kinh tế dựa vào các hoạt động xây dựng cho sự tiến bộ và pháttriển” Việt Nam có thể không phải là một ngoại lệ Ngành công nghiệp xây dựng làmột trong những ngành công nghiệp lớn nhất tại Việt Nam với nhiệm vụ chính là đểthực hiện và hoàn thành giai đoạn cuối cùng của quá trình hình thành tài sản cố định.Vai trò và ý nghĩa của nó có thể thấy rõ thông qua sự đóng góp vào quá trình tái tạotài sản cố định (tân trang, xây dựng mới…)
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, ngành xây dựngchiếm 5,94% tổng sản phẩm quốc nội (GDP); trong đó Theo số liệu thống kê củaTổng cục Thống kê Việt Nam tình hình kinh tế xã hội năm 2013 trên địa bàn Thànhphố Hồ
tích cực trong việc tăng trưởng kinh tế năm 2013; và góp phần đáng kể vào việc giảiquyết những khó khăn của nền kinh tế quốc gia
2.1.2 Liên kết giữa hệ thống an toàn lao động và sự thực hiện an toàn lao động tốt hơn
Việt Nam vẫn còn thực hiện kém trong an toàn lao động xây dựng (được thểhiện trong các chương trước) Tuy nhiên, các điều khoản “hệ thống quản lý an toànlao động” vẫn có vẻ xa lạ với hầu hết những người làm việc trong ngành công nghiệpxây dựng Việt Nam
Nhiều tai nạn lao động xảy ra trong quá trình xây dựng và thực hiện côngtrình xây dựng có tỷ lệ cao về tai nạn nghiêm trọng Trong các công trường xây dựng,
Trang 25nhiều người làm việc gần nhau do đó nó đòi hỏi rất nhiều sự tương tác và các hoạtđộng đó là không thể đoán trước vì bản chất động của công trình xây dựng.
Ngoài ra, trong hầu hết các nền văn hóa, công trình xây dựng có khả năngchịu đựng khá cao đối với rủi ro làm cho sự cố xảy ra thường xuyên và có tác độngcao Vì vậy nó được gọi là một sự cần thiết hiệu quả cho công tác an toàn lao độngtrong xây dựng, và hệ thống an toàn lao động được tạo ra
Gallagher et al (2001) định nghĩa các hệ thống an toàn lao động là “ một sựkết hợp của việc lập kế hoạch và đánh giá, sắp xếp tổ chức quản lý, sắp xếp tư vấn,
và các yếu tố chương trình cụ thể làm việc với nhau một cách tích hợp để cải thiệnhiệu suất an toàn lao động” Griffith và Howarth (2001) ngụ ý: " cách thích hợpnhất cho nhà thầu chính để giải quyết các yêu cầu về an toàn lao động xây dựng làthiết lập bên trong tổ chức của hệ thống an toàn lao động và an toàn"
Fewings (2013) khẳng định rằng một hệ thống an toàn lao động tốt chắc chắn có thểmang lại lợi ích cho các tổ chức xây dựng bao gồm:
- Giảm chi phí;
- Giảm rủi ro;
- Giảm nhân viên vắng mặt và doanh thu lãi;
- Ít tai nạn;
- Giảm bớt các mối đe dọa pháp lý;
- Cải thiện chỗ đứng trong số các nhà cung cấp và các đối tác;
- Danh tiếng tốt hơn cho công ty giữa các nhà đầu tư, khách hàng và cộng đồng;
- Tăng năng suất, là kết quả của nhân viên khỏe mạnh, hạnh phúc hơn và cóđộng lực
Cho đến nay, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra yếu tố chính của hệ thống an toànslao động mà liên quan đến việc thực hiện an toàn lao động tốt hơn Griffith vàHowarth (2001) tin rằng một hệ thống quản lý an toàn lao động hiệu quả nên đượcdựa trên một hệ thống tiếng nói tập thể, trong đó có thủ tục xem xét an toàn lao độngnhư là một “đóng góp lớn cho tổ chức thành công toàn diện” Gallagher (1997) chothấy rằng yếu tố quan trọng cho việc thực hiện an toàn lao động thành công nên baogồm: mức độ cao của sự cam kết quản lý cấp cao; Trách nhiệm quản lý an toàn laođộng được biết đến; tham gia giám sát được khuyến khích; tham gia tích cực củangười đại diện quản lý an toàn lao động, người có vai trò rộng lớn; chấp hành an toàn
Trang 26nghề nghiệp hiệu quả; xác định nguy cơ kế hoạch, đánh giá kiểm soát rủi ro và chú trọng loại trừ; và tiếp cận toàn diện trong việc kiểm tra và điều tra.
2.2 Quản lý an toàn lao động - Các thành phần.
2.2.1 Hệ thống quản lý an toàn lao động
Gần đây, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để giải quyết những vấn đề, kếtquả là tạo ra hệ thống quản lý mới Boyle (2008) nói rằng quá trình quản lý rủi ro đốivới an toàn lao động là không có khác biệt so với bất kỳ hoạt động quản lý khác Nóchỉ là một chút khó khăn hơn do tính phức tạp của nó Việc thực hiện và duy trì một
Hệ thống quản lý an toàn lao động là những yêu cầu đầu tiên để quản lý hiệu quả cácrủi ro về an toàn lao động qua một tổ chức Boyle (2008) và Fewings (2013) trìnhbày khuôn khổ quản lý với tên gọi khác nhau, nhưng về cơ bản có các bước và ýtưởng tương tự
Fewings (2013) cho rằng các vấn đề quản lý chủ chốt chứa các yếu tố sau đây:(i) khuôn khổ chính sách cơ bản; (ii) người chịu trách nhiệm; (iii) thiết kế an toàn;(iv) lập kế hoạch và tổ chức toàn diện; (v) giám sát tốt; (vi) khu vực tách biệt hoặchạn chế; (vii) có sẵn các thiết bị bảo vệ cá nhân; (viii) sắp xếp cẩn thận các hoạt động
có ảnh hưởng đến nhau; và (ix) đào tạo với quá trình giám sát và kiểm tra
Hình 2.1 Khuôn khổ quản lý của Hệ thống quản lý an toàn lao động.
Nguồn: Fewings (2013)
Trang 27Trong khi đó, Boyle (2008) cho thấy các hệ thống quản lý an toàn lao động như làmột mô hình tương tự:
Hình 2.2.BS OHSAS 18001: 2007 Hệ thống quản lý an toàn lao động.
- Đánh giá và kiểm soát rủi ro;
- Kiểm soát hồ sơ và xem xét
2.2.2 Lãnh đạo và chính sách
Vai trò của lãnh đạo là: “xác định và ủy quyền cho chính sách an toàn laođộng của tổ chức” (Boyle, 2008) Chính sách đối với an toàn lao động giúp tối đa hóachi phí – có hiệu quả trong điều khoản an toàn và phục vụ tốt nhất trong việc đáp ứngtrách nhiệm của tổ chức đối với pháp luật hiện hành và trách nhiệm công cộng(Griffith và Howard, 2001)
Lãnh đạo chịu trách nhiệm cho an toàn lao động và Hệ thống quản lý an toànlao động Trách nhiệm nên được phân bổ rõ ràng để không có nhiệm vụ quan trọng
"rơi giữa các vết nứt" (Lingard và Rowlinson, 2005) Do sự đặc biệt của các côngtrình xây dựng, có các bên khác nhau tham gia, ví dụ, an toàn lao động của các nhàthầu chính và các nhà thầu phụ phải được hiểu rõ ràng Có những người hoặc nhómnhỏ của đội ngũ quản lý chịu trách nhiệm cụ thể cho việc thực hiện Hệ thống quản lý
Trang 28an toàn lao động Có những khoản phạt được quy định trước khi sai lầm, tai nạn xảy
ra ở mức độ nghiêm trọng Giám sát cũng có trách nhiệm như lãnh đạo Giám sátkhông thể được gộp chung, nhưng được kết nối với những gì đang xảy ra (Fewings,2013) Thực hiện an toàn lao động phải được theo dõi và đo thường xuyên để kiểmtra xem các mục tiêu đạt được hiệu quả công việc và phát hiện ra bất kỳ vấn đề nào
có thể xảy ra
2.2.3 Tổ chức
Theo Griffith và Howard (2000), tổ chức nhà thầu chính cho quản lý an toànlao động liên quan đến việc “thiết lập trách nhiệm và mối quan hệ giữa các cá nhân làcần thiết để khuyến khích an toàn lao động tích cực tại các công trình” Các yếu tốcủa tổ chức cần được xem xét như: sự giao tiếp, sự hợp tác, năng lực, kiểm soát, lãnhđạo và giám sát
Truyền thống an toàn lao động là vô cùng quan trọng trong các dự án xây
dựng để đảm bảo rằng lực lượng lao động có thể hiểu và thực hiện các chính sách antoàn lao động thành công Emmett and Gorse (2003) chỉ ra những “Lý thuyết cânbằng trong sự tương tác nhóm”, có thể được chia thành 3 giai đoạn:
- Định hướng: Giai đoạn đầu của định hướng được đánh dấu bằng mức độ caocủa công việc - liên quan đến thông điệp trong các hình thức của thông tin, ý kiến và
đề nghị, và những phản ứng tích cực và tiêu cực với thông tin này Giai đoạn này liênquan đến truyền thông về bản chất của vấn đề được giải quyết
- Đánh giá: Giai đoạn thứ hai được đặc trưng bởi việc giảm trao đổi hành vithông tin, một sự cân bằng của ý kiến và đánh giá, đi kèm với hành vi gợi ý và phảnứng tích cực và tiêu cực, sau đó cho thấy “phải làm gì và làm như thế nào”
- Kiểm soát: Thiết lập "kiểm soát" được đánh dấu bằng một sự suy giảm tiếptục và khôn ngoan trong hành vi thông tin, giảm nhẹ ý kiến, và giảm số lượng các đềxuất và phản ứng cảm xúc tiêu cực, và tăng phản ứng tích cực
Burke (2006) cho rằng người quản lý dự án và văn phòng dự án là trung tâmcủa hệ thống thông tin và kiểm soát của dự án, và ông ấy cần phải phác thảo các kếhoạch truyền thông sau đây:
- Ai: Dây chuyền truyền thông - những người gửi và người nhận - trách nhiệm
và thẩm quyền
Trang 29- Cái gì: Phạm vi truyền thông và định dạng.
- Làm thế nào: Email, tài liệu, điện thoại, hội họp, thuyết trình.
- Thời gian: Lịch trình.
- Phản hồi: Xác nhận tin nhắn nhận được và hiểu - kiểm soát tài liệu.
Sự phối hợp giữa tất cả các thành viên tham gia một dự án xây dựng (bên
ký hợp đồng, nhân viên các bên…) là rất cần thiết và có ảnh hưởng đến kết quả antoàn của dự án “Sự tham gia là thuộc tính quan trọng để củng cố quyền sở hữu củacác chính sách an toàn lao động, chia sẻ mục tiêu và thực hiện an toàn cho các nơilàm việc” (Griffith và Howard, 2000) Có một số cách để củng cố hợp tác như chấphành an toàn lao động, lược đồ đề xuất, giải thưởng cho công tác an toàn, và suy nghĩ
về sự kết nối của an toàn lao động để thu thập ý kiến từ cuộc thảo luận để xem xéthiệu quả và phát triển chính sách an toàn lao động
Năng lực của người quản lý và nhân viên và người giám sát công trình
phải được đảm bảo Quản lý và giám sát phải hiểu được vai trò của mình và sức khỏehiện tại và pháp luật để thực hiện an toàn lao động Lãnh đạo cũng chịu trách nhiệmkiểm soát tất cả vấn đề an toàn lao động trên các công trình (Griffith và Howard,2000) Mục tiêu này phụ thuộc vào tính hiệu quả của việc tuyển dụng, hướng dẫn vàđào tạo
Lãnh đạo và giám sát cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý an
toàn lao động trên các công trường Lãnh đạo phải đến công trình không chỉ vì côngtác an toàn lao động, mà còn từ các chuyên gia xây dựng và quản trị viên giải quyếtvới toàn bộ quá trình trên các công trường (Lingard và Rowlinson, 2005) Người laođộng khác nhau đòi hỏi mức độ khác nhau của giám sát và phải ý thức được an toànlao động hơn là giám sát Ví dụ, người lao động mới hoặc lao động trẻ cần giám sátnhiều hơn công nhân có kinh nghiệm, hoặc công việc có rủi ro cao cần phải giám sátnhiều hơn công việc rủi ro thấp
2.2.4 Đánh giá và kiểm soát rủi ro
Rủi ro trong công trường xây dựng có thể được phân thành ba loại: nguy cơ,tác hại và rủi ro đáng kể Ba yếu tố này được định nghĩa là:
- Nguy cơ: là khả năng gây hại Nó không gây ra bất kỳ thiệt hại vật chất hoặctinh thần ngay lập tức nhưng nó có thể là nguyên nhân gây ra tai nạn
Trang 30- Tác hại: là một thuật ngữ dùng để chỉ một tổn thương hoặc các vấn đề an toàn lâu dài.
- Nguy cơ đáng kể: có nhiều khả năng được hiểu như là tai nạn nghiêm trọng gây thiệt hại về thể chất hoặc tử vong
Theo Fewings (2013), quá trình đánh giá rủi ro có ba bước chính:
Hình 2.3 Quy trình đánh giá rủi ro - Fewings (2013)
Quy trình này được thực hiện theo các bước sau:
- Xây dựng một bản kế hoạch để thiết lập các thủ tục;
- Đào tạo nhân viên;
- Tổ chức các nhân viên và phân công trách nhiệm và trao đổi thông tin cho tất
cả những người bị ảnh hưởng;
- Hãy chắc chắn rằng các thủ tục được hiểu và được thực hiện;
- Đánh giá phương pháp kiểm soát rủi ro thường xuyên để đảm bảo rằng nó cóliên quan và có hiệu quả
Tai nạn lao động được chia làm 3 loại:
- Tai nạn lao động chết người;
- Tai nạn lao động nặng; và
- Tai nạn lao động nhẹ.
Để đánh giá tình trạng tai nạn động, thường dựa vào hệ số tần suất tai nạn
lao động K; là số tai nạn lao động tính trên 1000 người 1 năm.
Trang 32Khi một số rủi ro gây ra bởi các mối nguy hiểm đã được đề cập hoặc kiểmsoát, chúng được gọi là rủi ro còn lại Mục tiêu chính của đánh giá rủi ro là giảm tất
cả các rủi ro còn lại càng nhiều càng tốt Hughes và Ferrett (2007) đề cập đến hai loạiđánh giá rủi ro, đó là đánh giá rủi ro định tính và định lượng Tuy nhiên, họ cũng nóirằng đánh giá rủi ro về chất lượng sẽ không được hoàn toàn phù hợp Trong quá trìnhđánh giá này, mức độ rủi ro được đánh giá là thấp, trung bình hoặc cao xét về mặt rủi
ro của người bị thương
Đánh giá rủi ro định lượng xem xét rủi ro về hai yếu tố chính:
- Xác suất - Làm thế nào rủi ro có thể được xảy ra?
- Hậu quả - Nghiêm trọng thế nào khi rủi ro xảy ra?
Xác suất và hậu quả cao hơn, rủi ro hơn sẽ cao Xác suất phụ thuộc vào cácyếu tố như các biện pháp kiểm soát tại chỗ Hậu quả phụ thuộc vào mức độ nguyhiểm
Hughes và Ferrett (2007) cho thấy một công thức để mô tả mức độ rủi ro:
Bảng 2.1 Ma trận cấp độ rủi ro
Nguồn: Giới thiệu về An toàn lao động trong xây dựng Hughes và Ferrett (2007)
Trang 33Một khi mức độ rủi ro được xác định, một lịch trình của giảm thiểu rủi ro cóthể được xây dựng Để giảm nguy cơ tai nạn lao động, tổ chức phải “hiểu nhữngphương pháp kiểm soát rủi ro có sẵn và chọn các biện pháp kiểm soát cao nhất đó làthực tế hợp lý để thực hiện” (Lingard và Rowlinson, 2005).
Lingard và Rowlinson (2005) tin rằng sự kiểm soát dựa vào hành vi của conngười là ít đáng tin cậy bởi vì con người là có thể sai lầm và dễ bị mắc ỗi, vì vậy họphát triển một hệ thống kiểm soát rủi ro tập trung vào “các biện pháp công nghệ”.Holt (2005) định nghĩa các biện pháp như:
- Loại bỏ nguy hiểm (ví dụ như sử dụng các lựa chọn thay thế, cải tiến thiết kế)
- Thay thế (ví dụ như thay thế một chất hóa học với một chất khác ít rủi ro hơn,
sử dụng thiết bị an toàn hơn);
- Sử dụng các rào cản: cô lập các mối nguy hiểm; cách ly người lao động khỏi mối nguy hại
- Sử dụng các thủ tục: thời hạn tiếp xúc
- Sử dụng hệ thống cảnh báo: dấu hiệu, hướng dẫn, nhãn…
- Sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân: chỉ sử dụng khi tất cả các phương án khác đã cạnkiệt và không có cách nào khả thi để kiểm soát rủi ro bằng cách hiệu quả hơn Bất lợicủa thiết bị bảo hộ cá nhân là sự can thiệp vào khả năng thực hiện các công việc vàthất bại có thể gây ra các mối nguy hiểm cho người sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân
Hình 2.4 Cấp bậc của kiểm soát an toàn lao động.
Nguồn: Lingard và Rowlinson 2005
Trang 34Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, đối với xác xuất xảy ra và hậu quả củaviệc mất an toàn lao động được phân thành 5 mức độ, cu thể như sau:
Bảng 2.2 Ma trận cấp độ rủi ro.
Hậ u
4 N h
5 R ấ
2.2.5 Lập kế hoạch và thực hiện
Lập kế hoạch được coi là một phần quan trọng của sức khỏe nghề nghiệp vàquản lý an toàn lao động “Các nhà thiết kế có trách nhiệm tuân theo các quy địnhquản lý và thiết kế xây dựng để tạo ra một thiết kế an toàn và để đánh giá thiết kế củahọ” (Fewings, 2013)
Ở các nước phát triển nhất, xây dựng kế hoạch đấu thầu về An toàn lao động để
hỗ trợ việc xem xét trong quá trình đấu thầu là luôn luôn cần thiết Việc tạo ra sự bốtrí có tổ chức để thực hiện các chính sách và quá trình đo lường, giám sát và kiểmsoát an toàn lao động đều phải được lên kế hoạch, và ở mỗi giai đoạn có mục tiêu rõràng, mục tiêu có thể đo lường được và chỉ số hiệu suất nên được thiết lập (Lingard
và Rowlingson, 2005) Điều quan trọng là một kế hoạch an toàn lao động được cósẵn trước khi bắt đầu công việc và điều này có thể được phát triển liên tục trong quátrình thiết kế và xây dựng Kế hoạch phải phù hợp cho từng dự án, bao gồm các quytắc của công trình cụ thể và các quy định an ninh riêng biệt
Holt (2005) tin rằng thành công trong quản lý an toàn dựa vào việc thành lập, vận hành và bảo trì hệ thống kế hoạch Những hệ thống nên:
- Xác định mục tiêu và các mục tiêu đó có thể đạt được và phù hợp;
Trang 35- Thiết lập các tiêu chuẩn thực hiện cho quản lý;
- Xem xét và kiểm soát rủi ro cho các bên liên quan;
- Đảm bảo tài liệu của tất cả các tiêu chuẩn thực hiện
Holt (2005) cũng kết luận rằng tổ chức có kế hoạch theo cách này có thể hyvọng thiệt hại ít hơn, giảm chi phí bảo hiểm, nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng
có hệ thống của toàn bộ hệ thống quản lý an toàn lao động (Lingard và Rowlinson,2005)
Holt (2005) chỉ ra hai mục tiêu chính của kiểm định là:
- Để đảm bảo rằng các tiêu chuẩn phù hợp các mục tiêu đặt ra trong an toànlao động càng nhiều càng tốt
- Cung cấp thông tin để chứng minh cho việc thực hiện với chiến lược tương
tự, hoặc một sự thay đổi phương hướng
Để thực hiện một cuộc kiểm định đơn giản, tất nhiên chỉ cần có tài liệu củacông ty và chuyển các yêu cầu của nó thành câu hỏi Câu hỏi cho việc xem xét nênbao gồm những điều sau đây:
- Dự án tổ chức đã đạt được mục tiêu và mục đích không? Nếu không, tại sao?Các mục tiêu hoặc mục đích nên được thay đổi không?
- Chính sách an toàn lao động vẫn phù hợp đến hoạt động của tổ chức không?
- Có các vai trò an toàn lao động và trách nhiệm rõ ràng không, nó thích hợpkhông?
- Các thủ tục an toàn lao động rõ ràng và đầy đủ không?
Trang 36- Có các tài nguyên đang được triển khai để an toàn lao động phù hợp không?
- An toàn lao động được giám sát một cách hiệu quả không?
- Điều gì ảnh hưởng để làm thay đổi vật liệu, sản phẩm của tổ chức?
- Có sự thay đổi về luật an toàn lao động đòi hỏi phải thay đổi về chính sáchhoặc quy trình an toàn lao động của tổ chức không?
- Kể từ lần xem xét cuối cùng, có bất kỳ mối quan tâm của các bên liên quanđược thể hiện không?
- Làm thế nào để quản lý an toàn lao động được cải thiện?
2.3 Văn hóa an toàn
2.3.1 Định nghĩa và tầm quan trọng của văn hóa an toàn
Wamuziri (2006) trích dẫn một định nghĩa toàn diện về văn hóa an toàn từ Ủyban Tư vấn về Cài đặt An toàn Hạt nhân đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều nghiêncứu và các ấn phẩm Định nghĩa nói rằng: “văn hóa an toàn của một tổ chức là sảnphẩm của các cá nhân và các giá trị nhóm, thái độ, nhận thức, năng lực và mô hìnhhành vi để xác định các cam kết, phong cách và trình độ của quản lý an toàn lao độngcủa một tổ chức Các tổ chức với một nền văn hóa an toàn tích cực được đặc trưngbởi giao tiếp xây dựng trên sự tin tưởng lẫn nhau, bởi nhận thức chung về tầm quantrọng của an toàn, và niềm tin vào hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa”.Wamuziri (2013) cũng mô tả văn hóa an toàn là một “khía cạnh cụ thể hoặc tập hợpcon của văn hóa tổ chức” và định nghĩa của nó do đó phải phù hợp với văn hóa tổchức
Theo kết luận của “Hội nghị lao động Quốc tế tổ chức vào tháng 6 năm 2003”,Văn hoá phòng ngừa trong lĩnh vực An toàn - Vệ sinh lao động (AT-VSLĐ) mangtầm quốc gia, là một văn hoá trong đó quyền của người lao động được tạo điều kiện
về môi trường làm việc an toàn và vệ sinh, được tất cả các bên tôn trọng Đó là vănhoá trong đó Nhà nước, những người sử dụng lao động và người lao động phải thamgia tích cực vào việc bảo đảm một môi trường làm việc an toàn và vệ sinh thông quamột hệ thống với các quyền, trách nhiệm và bổn phận được xác định là văn hoá trong
đó nguyên tắc phòng ngừa được đặt vào vị trí ưu tiên hàng đầu Như vậy, Văn hoá antoàn qua cách trình bày ở trên chính là văn hoá phòng ngừa tai nạn lao động (TNLĐ),bệnh nghề nghiệp (BNN)
Để xây dựng một hệ thống quản lý an toàn hiệu quả, văn hóa an toàn đóng vaitrò quan trọng Gần đây, văn hóa an toàn thường được chấp nhận như là một yếu tố
Trang 37có ảnh hưởng mạnh mẽ trong tai nạn lao động và tai nạn tại nơi làm việc (Smith vàWadsworth, 2009) Smith và Wadsworth (2009) phát biểu rằng có một nền văn hóa
an toàn tập thể cho thấy “giá trị chung trong một tổ chức có ảnh hưởng đến thái độ,giá trị và niềm tin của thành viên liên quan đến an toàn”
Mối quan hệ giữa văn hoá an toàn và thực hiện an toàn cũng đã được chứngminh Azeres và Miguel (2003) kết luận rằng văn hóa an toàn là một yếu tố quantrọng để đảm bảo hiệu quả của kiểm soát rủi ro Hơn nữa, một nền văn hóa an toàntốt ảnh hưởng tích cực trong hành vi và thái độ của người lao động, thông qua đó,nâng cao hiệu quả công tác an toàn lao động
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng văn hóa an toàn trong các công trường xây dựng
Wamuziri (2013) kết luận trong nghiên cứu của mình rằng có một số yếu tốquan trọng chính ảnh hưởng mạnh mẽ về văn hoá an toàn trong tổ chức xây dựng, đólà:
- Sự cam kết của lãnh đạo để đảm bảo an toàn;
- Sự tham gia của nhân viên bao gồm các nhà quản lý cấp trung và các giám sát;
- Các loại, kích thước và vị trí của dự án, do đó bắt theo những rủi ro vốn có;
- Đào tạo quản lý cấp cao về an toàn;
- Truyền thông chính thức và không chính thức về các vấn đề an toàn đượcxây dựng trên sự tin tưởng;
- Sử dụng các chương trình dựa trên hành vi an toàn;
- Giám sát chặt chẽ của các nhóm lao động có nguy cơ như trẻ và thiếu kinh nghiệm
- Khuyến khích mở báo cáo tai nạn và suýt tai nạn;
- Đào tạo định kỳ để xác định các nguy cơ phát sinh từ công nghệ mới, kếhoạch và dự án xây dựng
Azeres và Miguel (2003) cung cấp một ý tưởng mà hệ thống an toàn lao độngcũng ảnh hưởng đến văn hóa an toàn, mà "tác động lần lượt về hiệu quả của hệ thốngquản lý an toàn lao động" Vì vậy, các yếu tố hệ thống an toàn lao động cũng đóngvai trò rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường an toàn trong các tổ chức Nóichung, Wamuziri (2013) nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến khí hậu an toàn trong sáuloại: các yếu tố tổ chức; các yếu tố cá nhân; các yếu tố liên quan đến dự án; các yếu
tố quản lý và các yếu tố giám sát
Trang 382.4 Tổng quan về hệ thống và quy định quản trị an toàn lao động Việt Nam 2.4.1 Hệ thống quản lý an toàn lao động
Sau khi giới thiệu các chính sách thị trường mới trong năm 1986, nền kinh tếViệt Nam đã phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, khuôn khổ của hệ thống hành chínhvẫn không thay đổi nhiều Về cơ bản, chính phủ Việt Nam có một bộ phận chủ yếuchịu trách nhiệm về an toàn lao động, được gọi là Bộ Lao động Thương binh và Xãhội (Bộ LĐTBXH) Ở mỗi 64 tỉnh thành, họ có Sở Lao động Thương binh và Xã hội(Sở LĐTBXH) Năm 2005, họ thành lập Hội đồng Quốc gia Việt Nam về an toàn laođộng Các chức năng của Hội đồng này là:
- Tư vấn và hỗ trợ cho Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo cụ thể về cơ chế, chínhsách của an toàn lao động;
- Đo lường việc tuân thủ các chính sách an toàn lao động;
- Làm đầu mối phối hợp các hoạt động an toàn lao động
Hình 2.5 Hệ thống quản lý an toàn lao động tại Việt Nam
Sau ngày 30/04/1975, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội được thành lập
từ hai sở là Sở Lao động và Sở Thương binh Xã hội Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội có chức năng tham mưu cho Ủy ban Nhân dân thành phố về các lĩnh vựcchính sách lao động, việc làm, dạy nghề, chính sách có công, chính sách xã hội,thanh tra chính sách, thanh tra lao động trên địa bàn thành phố
Hiện nay, Sở Lao động Thương binh và Xã hội gồm: Cơ quan Sở Lao động Thương binh và Xã hội và 41 đơn vị trực thuộc
Trang 39-Hình 2.6 Các phòng ban chuyên môn Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.
Hệ thống quản lý này của Việt Nam còn phân tán và thiếu phối hợp giữa các
bộ phận khác nhau Mỗi bộ phận sở hữu cơ cấu quyền lực của nó, do đó họ không thểtham gia với các hoạt động của bộ phận khác Ví dụ, nếu Bộ Y tế muốn tập hợpthống kê của an toàn lao động trong ngành công nghiệp xây dựng, họ phải chờ cho
Bộ Xây dựng gửi các chỉ thị cho các ngành thấp hơn của nó Nó dẫn đến lãng phíthời gian và công sức của con người, và tạo thành một điểm yếu lớn trong quản lý antoàn lao động
2.4.2 Các quy định
Bộ luật Lao động năm 2012
Điều 133-152, chương IX của Bộ luật Lao động Việt Nam xác định các quyđịnh chung về an toàn lao động Điều 138 quy định trách nhiệm sử dụng lao động của:
- Đảm bảo nơi làm việc đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về các yếu tốđộc hại (gió, bụi, hơi, khí, phóng xạ, điện, nhiệt độ, độ ẩm )
- Kiểm tra và đánh giá các yếu tố nguy hiểm, lập kế hoạch các giải pháp giảmnhẹ và loại bỏ mối nguy hiểm
- Cung cấp các hướng dẫn về an toàn lao động, an toàn lao động ở các vị trí rõràng trong những nơi làm việc
Điều 139 nói: “Chủ công trình phải chỉ ra người chịu trách nhiệm quản lý antoàn lao động”
Trang 40Điều 142 xác định tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình làm việc,
nó gây hại bất kỳ phần nào, chức năng nào hoặc gây tử vong cho lao động
Điều 148 quy định trách nhiệm cụ thể của xây dựng kế hoạch và chính sách antoàn lao động hàng năm
Điều 149 quy định rõ người sử dụng lao động phải cung cấp thiết bị bảo vệ cánhân cho người lao động;
Điều 150 đề cập đến các quy định vệ sinh lao động và đào tạo an toàn, trong đó: Người sử dụng lao động, người quản lý an toàn lao động phải được chứng
nhận trong việc quản lý an toàn lao động
Người sử dụng lao động phải thiết lập các chương trình đào tạo an toàn laođộng, hội thảo và thông báo cho người lao động các quy định an toàn lao động.Người sử dụng lao động phải tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ và trả tiền cho cácdịch vụ đó
Các biện pháp đảm bảo an toàn, nội quy về an toàn lao động phải được niêmyết công khai trên công trường xây dựng, cơ sở sản xuất kinh doanh để mọi ngườibiết và chấp hành; những vị trí nguy hiểm phải có cảnh báo đề phòng tai nạn