1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt cho thành phố hà nội

86 174 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, tác giả thấy rằng cần xây dựng một quy trình tiêu chuẩn để dựa vào đó tiến hành đánh giá, lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH cho Thành phố Hà Nội; sao cho phù hợp nhất với điều

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

NGUYỄN THÙY PHƯƠNG

LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CHO THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Kim Nhung

Hà Nội, 2017

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

3 Mục tiêu nghiên cứu 10

4 Phạm vi nghiên cứu 10

5 Mẫu khảo sát 11

6 Câu hỏi nghiên cứu 11

7 Giả thuyết nghiên cứu 11

8 Phương pháp nghiên cứu 12

9 Kết cấu của Luận văn 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CTRSH 14

1.1 Công nghệ xử lý CTRSH 14

1.1.1 Tổng quan về CTRSH 14

1.1.2 Xử lý CTRSH 18

1.1.3 Công nghệ xử lý CTRSH 25

1.2 Quản lý và lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH 26

1.2.1 Công tác quản lý công nghệ xử lý CTRSH 26

1.2.2 Lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH cho các đô thị 27

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ CÁC CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CTRSH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35

2.1 Thực trạng hoạt động quản lý CTRSH tại Thành phố Hà Nội 35

2.1.1 Khái quát về hoạt động quản lý CTRSH tại Việt Nam 35

2.1.2 Thực trạng hoạt động quản lý CTRSH tại Thành phố Hà Nội 39

2.2 Các công nghệ xử lý CTRSH đang áp dụng tại Thành phố Hà Nội 45

Trang 3

2.2.1 Các công nghệ xử lý CTRSH đang áp dụng tại Việt Nam 45

2.2.2 Tổng quan các công nghệ xử lý CTRSH đang áp dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội 49

2.2.3 Đánh giá hiệu quả của các công nghệ xử lý CTRSH tại Hà Nội 54

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CTRSH CHO THÀNH PHỐ HÀ NỘI 59

3.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Thành phố Hà Nội 60

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 60

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 61

3.2 Quy hoạch quản lý CTR của Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 63

3.3 Đề xuất quy trình lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH Hà Nội Xanh cho Thành phố Hà Nội 65

3.3.1 Rà soát các cơ sở pháp lý liên quan đến định hướng xử lý CTRSH 68 3.3.2 Xác định các căn cứ lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH 70

3.3.3 Xây dựng các nhóm tiêu chí lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH 71

3.3.4 Đánh giá các công nghệ xử lý CTRSH đề xuất bằng phương pháp lựa chọn công nghệ theo chỉ tiêu tổng hợp 73

3.3.5 Đánh giá tính khả thi của việc thực hiện lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH theo quy trình Hà Nội Xanh 78

KẾT LUẬN 80

KHUYẾN NGHỊ 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 4

URENCO Công ty Môi trường và đô thị

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1 Nguồn phát sinh CTRSH 16

Bảng 1.2 Minh họa các thành phần của CTRSH 17

Bảng 1.3 Các phương pháp xử lý CTRSH đô thị 22

Bảng 1.4 Phân loại các nhóm công nghệ hiện nay 33

Bảng 2.1 Lượng CTRSH phát sinh tại một số địa phương trên cả nước giai đoạn 2011 - 2015 36

Bảng 2.2 Các loại CTR đô thị của Thành phố Hà Nội năm 2015 40

Bảng 2.3 Dự báo lượng CTRSH phát sinh tại Hà Nội năm 2050 40

Bảng 2.4 Thành phần CTRSH của Thành phố Hà Nội 41

Bảng 2.5 Lượng CTRSH đô thị được thu gom, xử lý bình quân ngày trong năm 2014 - 2015 tại các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng 51

Bảng 3.1 Dự báo nhu cầu sử dụng đất quy hoạch dùng vào mục đích xử lý CTR của Hà Nội đến năm 2050 61

Bảng 3.2 Ví dụ minh họa một phân tích sàng lọc các công nghệ xử lý CTRSH 74

Bảng 3.3 Đánh giá cho điểm các công nghệ xử lý CTRSH bằng phương pháp ma trận 76

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1.1 Mối liên hệ giữa các hoạt động quản lý CTRSH 19

Hình 1.2 Hình minh họa trình độ công nghệ theo thứ tự giảm dần 31

Hình 2.1 Tổng thể hệ thống quản lý CTR đô thị ở Việt Nam 38

Hình 2.2 Chu trình thu gom, vận chuyển CTR trên địa bàn Hà Nội 44

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, cùng với sự hình thành và phát triển không ngừng của các ngành nghề sản xuất là sự gia tăng mạnh mẽ

về dân số, một mặt thúc đẩy phát triển KT-XH của đất nước, mặt khác làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu và năng lượng Quá trình đô thị hóa nhanh chóng ở các đô thị lớn, trong đó có Thành phố Hà Nội đang gây sức ép về suy giảm môi trường sống do không kiểm soát được lượng chất thải phát sinh, nhất là CTRSH Yêu cầu cấp thiết hiện nay là kiểm soát và xử lý chất thải sao cho hiệu quả để ngăn chặn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, đồng thời có thể thu hồi vật liệu, sản phẩm để tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tránh những tác động xấu tới sức khỏe cộng đồng mà vẫn thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước Hiện nay, thông qua hoạt động quản lý CTR, con người kỳ vọng có thể cải thiện và nâng cao chất lượng công tác BVMT, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Trong hoạt động quản lý CTRSH, lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH là một nội hàm quan trọng

Những năm qua, ở nước ta bên cạnh công nghệ chôn lấp truyền thống

đã có một số công nghệ xử lý CTRSH mới được nghiên cứu và đưa vào sử dụng tại các đô thị lớn như công nghệ chế biến phân vi sinh, công nghệ ủ phân hữu cơ, công nghệ ASC, công nghệ Seraphin, công nghệ đốt, công nghệ tái sinh/tái sử dụng Giống như nhiều địa phương trong cả nước, Hà Nội hiện vẫn đang áp dụng công nghệ chôn lấp hở là chủ yếu Một vài công nghệ mới

đã được lựa chọn để áp dụng thử nghiệm song hầu hết chưa mang lại hiệu quả, chưa phù hợp với các đặc điểm của Thành phố Dường như các nhà quản

lý trong lĩnh vực TN&MT vẫn đang phân vân trong việc tìm kiếm và lựa chọn đúng các công nghệ xử lý CTRSH tối ưu Thực tế cho thấy, sau một khoảng thời gian áp dụng, hầu hết các công nghệ được lựa chọn đều chưa thực sự khả

Trang 7

lúng túng trong công tác lựa chọn công nghệ, các công nghệ được chọn chưa phù hợp, hiệu năng của công nghệ thấp Chính vì vậy, tác giả thấy rằng cần xây dựng một quy trình tiêu chuẩn để dựa vào đó tiến hành đánh giá, lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH cho Thành phố Hà Nội; sao cho phù hợp nhất với điều kiện và đặc điểm của Thành phố, nhằm đáp ứng yêu cầu trong công tác BVMT và phát triển bền vững

1.2 Ý nghĩa lý thuyết của nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về CTRSH: Nguồn phát sinh, các loại CTRSH và tính chất của chúng, các phương pháp xử lý CTRSH (tập trung vào các công nghệ

1.3 Ý nghĩa thực tế của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu hỗ trợ cho các nhà quản lý đô thị, quản lý môi trường trong việc quản lý hoạt động xử lý CTRSH, thông qua công tác quản

lý và lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH

Cụ thể, nghiên cứu đã đưa ra được:

- Phân tích các đặc điểm và điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH của Thành

phố Hà Nội

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý CTRSH tại Thành phố Hà Nội

- Phân tích, đánh giá hiệu quả của các công nghệ xử lý CTRSH đang được sử dụng tại Thành phố Hà Nội khi chưa có quy trình lựa chọn công nghệ

- Đề xuất quy trình lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH phù hợp với điều kiện

và đặc điểm của Thành phố Hà Nội

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Từ những năm 2000, quản lý công nghệ (bao hàm lựa chọn công nghệ)

đã chính thức được thế giới công nhận là một ngành khoa học Bởi lẽ, công nghệ và quản lý công nghệ giữ một vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng

Trang 8

và phát triển KT-XH của một quốc gia nói riêng cũng như thế giới nói chung Ngày nay, quản lý công nghệ được phát triển và ứng dụng ngày càng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như kỹ thuật, xây dựng, thương mại, quốc phòng, TN&MT…

Nhiều trường đại học ở Việt Nam đã đưa quản lý công nghệ thành môn học chính thức bắt buộc đối với một số ngành học, trong đó có ngành khoa học quản lý; đã có giáo trình riêng phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu Tiêu biểu nhất có cuốn Giáo trình Quản lý Công nghệ của Bộ môn Quản lý công nghệ - Khoa Khoa học quản lý - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS.TS Nguyễn Đăng Dậu chủ biên, được NXB Thống kê xuất bản lần đầu năm 2007, sau đó tái bản vào năm 2010 và năm 2012

Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, các phòng quản lý công nghệ trực thuộc các sở ban ngành, các công ty được thành lập ngày càng nhiều Riêng với ngành TN&MT, quản lý công nghệ môi trường, mà cụ thể là quản lý công nghệ xử lý chất thải (bao hàm lựa chọn công nghệ xử lý chất thải) rất được quan tâm bởi tác động ngày càng sâu sắc (mà hầu hết là các tác động tiêu cực) của chất thải tới môi trường và sức khỏe con người

Theo tổng hợp của tác giả, hiện đã có một số đề tài nghiên cứu về quản lý công nghệ xử lý CTRSH nói chung, cũng như lựa chọn công nghệ

xử lý CTRSH nói riêng Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:

Đề tài khoa học “Nghiên cứu đánh giá công nghệ xử lý CTRSH ở Hà Nội và đề xuất công nghệ xử lý” (2014) của Trung tâm Phát triển công nghệ cao, trực thuộc Bộ KH&CN Đề tài đã đưa ra được các phân tích và đánh giá tổng thể về hiệu quả của các công nghệ xử lý CTRSH đang được áp dụng trên địa bàn Thành phố; phân tích được ưu, nhược điểm của các công nghệ này; từ đó đề xuất, lựa chọn ra công nghệ xử lý phù hợp Đề tài này chủ yếu

đi vào nghiên cứu các yếu tố kỹ thuật của công nghệ xử lý CTRSH

Kế đến là luận án Tiến sĩ “Mô hình và giải pháp quản lý CTRSH khu ven đô đô thị trung tâm thành phố Hà Nội đến năm 2030” (2015) của tác giả Lê Cường, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Luận án đã đưa ra được một nghiên

Trang 9

cứu tổng thể về vấn đề quản lý CTRSH khu ven đô đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội trước tác động của quá trình đô thị hóa Từ đó tác giả luận án xây dựng ra 03 mô hình quản lý CTRSH và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTRSH cho khu ven đô đô thị trung tâm Hà Nội; nghiên cứu mô hình cơ cấu tổ chức quản lý URENCO huyện, HTX dịch vụ môi trường… trong mối quan hệ hữu cơ giữa các đơn vị; cũng như đưa ra các cơ chế chính sách và xã hội hóa quản lý CTRSH

Thấy rằng, đề tài thứ nhất chủ yếu đi vào đánh giá kỹ thuật của các công nghệ xử lý CTRSH, đề tài thứ hai đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTRSH Vấn đề lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH mới chỉ xuất hiện trong các hội thảo khoa học: Hội thảo “Công nghệ

xử lý CTRSH đô thị và Khu Công nghiệp” (2009) do Bộ Xây dựng phối hợp với Hiệp hội Môi trường đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam tổ chức; hay là hội thảo “Lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH phù hợp với điều kiện Việt Nam” (2011) do Hiệp hội Môi trường đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam tổ chức Nội dung của hai cuộc hội thảo này cũng tập trung vào việc đánh giá, tổng kết hiệu quả của các công nghệ xử lý CTRSH đã áp dụng tại các địa phương trên cả nước, sau đó đề xuất một số công nghệ mới có tính thực thi hơn, tức là đi tìm những giải pháp cụ thể Tuy nhiên, theo tác giả cách giải quyết vấn đề này là không triệt để Mấu chốt là phải tìm ra căn nguyên vì sao mà hầu hết các công nghệ xử lý CTRSH được chọn đều không đem lại hiệu quả như mong muốn Như nhận định của tác giả, nguyên nhân có thể xuất phát từ việc thiếu quy trình lựa chọn được chuẩn hóa, bởi hiện nay khi tiến hành lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH, các địa phương trên cả nước không sử dụng bất kỳ một quy trình lựa chọn nào

Ngoài ra, do những khác biệt đặc thù trong thực trạng quản lý công nghệ xử lý chất thải của từng địa phương, tác giả nhận thấy một khoảng trống nghiên cứu trong hệ thống lý luận về công tác quản lý và lựa chọn công nghệ

xử lý CTRSH Vì vậy, với đề tài “Lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt cho Thành phố Hà Nội”, tác giả hi vọng sẽ góp phần lấp đầy

Trang 10

khoảng trống này bằng việc bổ sung thêm một số lý luận về công tác quản lý công nghệ (cụ thể là lựa chọn công nghệ) xử lý chất thải nói chung và CTRSH nói riêng Trong chương cuối của luận văn, tác giả xin đề xuất quy trình lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH Hà Nội Xanh như một công cụ hỗ trợ cho các nhà quản lý công nghệ môi trường; với hi vọng có thể áp dụng quy trình này vào thực tiễn tại địa bàn Thủ đô Hà Nội, nơi tác giả đang sinh sống, học tập và làm việc

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Nhận dạng đối tượng nghiên cứu

- Các đặc điểm và điều kiện đặc trưng của Thành phố Hà Nội

- Các công nghệ xử lý CTRSH đang được áp dụng tại Thành phố Hà Nội

- Quy trình lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH tại Thành phố Hà Nội

3.2 Mục tiêu tổng quát

Đề xuất quy trình lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH phù hợp với các điều kiện và đặc điểm đặc trưng của Thành phố Hà Nội

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH cho các

đô thị

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý CTRSH tại các đô thị ở Việt Nam nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng Phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả của các công nghệ xử lý CTRSH hiện đang áp dụng tại Thành phố Hà Nội) khi chưa có quy trình lựa chọn

- Đề xuất quy trình lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH phù hợp với điều kiện

và đặc điểm của Thành phố Hà Nội (tầm nhìn đến năm 2025)

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Giới hạn phạm vi về nội dung

Hoạt động quản lý công nghệ xử lý CTRSH, trong đó tập trung vào việc lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH tại Thành phố Hà Nội

4.2 Giới hạn phạm vi không gian khảo sát

Tất cả các quận/ huyện/ thị xã trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Trang 11

5 Mẫu khảo sát

5.1 Nhận dạng khách thể nghiên cứu

Hoạt động quản lý công nghệ xử lý CTRSH, trong đó tập trung vào việc lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH tại Thành phố Hà Nội

5.2 Nhận dạng khách thể để có cơ sở chọn mẫu khảo sát

Giới hạn khách thể cũng chính là mẫu khảo sát:

- Các điều kiện và đặc điểm về tự nhiên, về KT-XH… của Thành phố Hà Nội

- Hoạt động quản lý lý công nghệ xử lý CTRSH tại Thành phố Hà Nội, trong

đó tập trung vào việc lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH

- Các công nghệ xử lý CTRSH đã và đang đƣợc áp dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội

6 Câu hỏi nghiên cứu

6.1 Câu hỏi chủ đạo của đề tài (Leading question)

Làm thế nào để lựa chọn đƣợc công nghệ xử lý CTRSH phù hợp trong điều kiện cụ thể của Thành phố Hà Nội?

6.2 Các câu hỏi cụ thể (Sub-questions)

- Thành phố Hà Nội có các đặc điểm nhƣ thế nào (các điều kiện đặc trƣng về

tự nhiên, điều kiện về KT-XH…)?

- Thực trạng hoạt động quản lý và xử lý CTRSH tại Thành phố Hà Nội ra sao? Các công nghệ xử lý CTRSH đang đƣợc áp dụng mang lại hiệu quả nhƣ thế nào khi chƣa có quy trình lựa chọn công nghệ?

- Làm thế nào để lựa chọn đƣợc công nghệ xử lý CTRSH phù hợp trong điều

kiện cụ thể của Thành phố Hà Nội?

7 Giả thuyết nghiên cứu

7.1 Giả thuyết chủ đạo

Đề xuất áp dụng quy trình Hà Nội Xanh trong lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH cho Thành phố Hà Nội

7.2 Các luận điểm cụ thể

- Thành phố Hà Nội mang đầy đủ đặc điểm của các đô thị ở Việt Nam, ngoài

ra còn mang những đặc điểm riêng khác biệt: Hà Nội là một thành phố có quá

Trang 12

trình đô thị hóa nhanh, song quỹ đất lại bị giới hạn không đủ phục vụ phát triển; dân cư Thành phố đông đúc và có thành phần đa dạng do sự di cư đến liên tục hàng năm từ các địa phương khác; các ngành dịch vụ, đặc biệt là ngành du lịch của Hà Nội tăng trưởng rất mạnh… Về tổng thể, các hoạt động phát triển KT-XH của Thành phố một mặt giúp cải thiện đời sống người dân, thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ; mặt khác làm gia khối lượng CTRSH phát sinh, tạo ra sức ép mạnh mẽ đến môi trường, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới tài nguyên thiên nhiên và gây mất cân bằng sinh thái

- Thực trạng công tác quản lý công nghệ CTRSH tại Thành phố Hà Nội chưa đồng bộ, chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp Các công nghệ xử lý CTRSH đang áp dụng chưa phù hợp và kém hiệu quả Hầu hết các công nghệ này đều không đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, ít chú trọng đến các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng

từ chất thải

- Cần xây dựng một quy trình để đánh giá và lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH cho Thành phố Hà Nội Đề xuất quy trình Hà Nội Xanh

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Các hướng tiếp cận chủ yếu sẽ được sử dụng

- Các hướng tiếp cận lý thuyết: Thống kê, tổng hợp

- Các hướng tiếp cận phương pháp: Kế thừa, so sánh và đối chứng, phân tích

và tổng hợp

8.2 Các phương pháp thu thập thông tin

- Nghiên cứu tài liệu: Thu thập dữ liệu, so sánh và đối phân tích và tổng hợp

dữ liệu

- Thực nghiệm

- Thu thập thông tin, dữ liệu: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, thu thập số liệu từ các báo cáo tổng hợp của các cơ quan chức năng trong lĩnh vực TN&MT, các báo cáo tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng BCL, các trạm xử lý, nhà máy xử lý chất thải của Thành phố Hà Nội trong giai đoạn

2011 - 2016; thu thập thông tin, dữ liệu từ các văn bản pháp luật hiện hành

Trang 13

của Việt Nam; từ các công trình nghiên cứu đã được công bố về quản lý CTRSH, về quản lý và lựa chọn công nghệ xử lý CTR nói chung và CTRSH nói riêng; các văn bản chỉ đạo của UBND Thành phố Hà Nội

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, chủ yếu là quan sát, nghiên cứu tình huống; sau đó xử lý bằng phương pháp thống kê tổng hợp và so sánh, phân tích để đánh giá thực trạng công tác quản lý, lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH trên địa bàn Thành phố Hà Nội; từ những kết quả đã đạt được cho đến những khó khăn đang gặp phải, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục hạn chế và hoàn thiện hoạt động quản lý, lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH cho Thành phố Hà Nội

+ Phương pháp phân loại và hệ thống hóa được sử dụng để hệ thống hóa cơ sở

lý luận về hoạt động quản lý và lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH

+ Phương pháp thống kê, tổng hợp được sử dụng để thống kê các số liệu, thông tin từ báo cáo của các nguồn chính thống; từ đó chọn lọc, tổng hợp thành các bảng dữ liệu cụ thể về hoạt động quản lý và lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH tại Thành phố Hà Nội

+ Phương pháp so sánh, phân tích được sử dụng để so sánh, phân tích nguồn

dữ liệu đã được tổng hợp; đánh giá tính ưu việt, tính khả thi và đo lường hiệu quả của các phương án công nghệ xử lý CTRSH được đề xuất

9 Kết cấu của Luận văn

Luận văn bao gồm các phần nội dung sau:

Phần mở đầu

Chương 1 Cở sở lý luận về việc lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH

Chương 2 Hoạt động quản lý chất thải và các công nghệ xử lý CTRSH tại

Thành phố Hà Nội

Chương 3 Đề xuất quy trình lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH Hà Nội Xanh

cho Thành phố Hà Nội

Kết luận và Khuyến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Công nghệ xử lý CTRSH

1.1.1 Tổng quan về CTRSH

1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

“Chất thải là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, thương mại, sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn Ngoài

ra, chất thải còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông, chất thải là kim loại hoá chất và từ các vật liệu

khác” [10;41]

Xét về trạng thái tồn tại, chất thải có ba dạng:

+ Chất thải ở trạng thái rắn (thường gọi là CTR), bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải từ các cơ sở chế tạo máy, các khu xây dựng (kim loại, da, hóa chất, nhựa, thủy tinh, vật liệu xây dựng…)

+ Chất thải ở trạng thái lỏng, gồm phân bùn từ cống rãnh, bể phốt; nước thải từ các nhà máy lọc dầu, nhà máy bia rượu, từ nhà máy sản xuất giấy, dệt nhuộm và vệ sinh công nghiệp…

+ Chất thải ở trạng thái khí, bao gồm các khí thải từ các động cơ đốt trong của các máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hoả, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu…

“CTR bao gồm tất cả các chất thải ở dạng rắn, phát sinh do các hoạt động của con người và sinh vật, được thải bỏ khi chúng không còn hữu ích hay khi con người không muốn sử dụng nữa; Thuật ngữ CTR bao gồm tất cả các chất rắn hỗn hợp thải ra từ cộng đồng dân cư đô thị cũng như các CTR đặc thù từ các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng…”

[12;5]

Phần lớn CTR hiện nay là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và các hoạt động sống của con người ở các đô thị, người ta gọi loại CTR

Trang 15

này là CTR đô thị CTR đô thị là loại CTR mà người tạo ra ban đầu vứt bỏ trong khu vực đô thị mà không được đòi hỏi bất kỳ sự bồi thường cho sự vứt bỏ đó; xã hội nhìn nhận CTR đô thị như một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy CTR đô thị bao gồm: CTRSH, CTR xây dựng và đập phá (xà bần), bùn thải từ các bể tự hoại, từ các hoạt động nạo vét cống rãnh và kênh rạch, CTR của các nhà máy xử lý (nhà máy xử lý nước cấp, nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt), lò đốt CTRSH

CTRSH (còn gọi là rác sinh hoạt) là CTR được thải ra từ sinh hoạt cá nhân, các khu nhà ở (biệt thự, hộ gia đình riêng lẻ, chung cư ), khu thương mại và dịch vụ (cửa hàng, chợ, siêu thị, quán ăn, nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, trạm dịch vụ ), khu cơ quan (trường học, viện và trung tâm nghiên cứu, các cơ quan hành chánh nhà nước, văn phòng công ty ), từ các hoạt động dịch vụ công cộng (quét dọn và vệ sinh đường phố, công viên, khu giải trí, tỉa cây xanh, ), từ sinh hoạt (ăn uống, vệ sinh ) của các khoa, bệnh viện không lây nhiễm, từ sinh hoạt của cán bộ, công nhân trong các cơ sở công nghiệp (khu công nghiệp, nhà máy, cơ sở sản xuất vừa và nhỏ) CTRSH chiếm tỷ trọng cao nhất trong thành phần CTR đô thị

Trong phạm vi của luận văn này, tác giả xin thu hẹp nội dung nghiên cứu của mình vào CTRSH tại các đô thị

1.1.1.2 Phân loại CTRSH

Thông thường, CTRSH được phân loại theo mức độ nguy hại đối với con người và sinh vật Việc phân loại CTRSH theo mức độ nguy hại nhằm phục vụ việc nghiên cứu, sử dụng, kiểm soát và quản lý chất thải có hiệu quả

Theo cách phân loại này, CTRSH bao gồm:

+ CTRSH thông thường (sau đây sẽ gọi là CTRSH): là những CTRSH không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp Chúng thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, ở các khu đô thị…

+ Chất thải nguy hại (CTNH) trong sinh hoạt: là những CTNH bị thải lẫn vào CTRSH mang đến bãi chôn lấp, tỷ lệ từ 0,02 - 0,82% CTNH bao gồm

Trang 16

các chất dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, các chất nhiễm khuẩn độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất thải phóng xạ, các kim loại nặng… Các CTNH này tiềm ẩn khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe doạ tới sức khoẻ con người và sự phát triển của các loài động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí

Thực phẩm dư thừa, bao bì hàng hóa (bằng giấy,

gỗ, vải, da, cao su, thiếc, nhôm, thủy tinh…), tro,

đồ điện tử, vật dụng hư hỏng (đồ gia dụng, bóng đèn, đồ nhựa, thủy tinh…) và CTNH (pin, ac- quy, thuốc chuột; bao bì thuốc BVTV và hóa chất; bóng đèn neon; dầu thải từ phương tiện giao thông cơ giới; bơm kim tiêm của người nghiện

và dịch vụ

Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thủy tinh, kim loại

và CTNH (pin, ac-quy, bóng đèn neon…)

Rác, cành cây cắt tỉa, lá cây, chất thải chung tại các khu vui chơi giải trí, bùn cống rãnh…

Trang 17

giả trí, cống rãnh, bùn thải…

hoạch định các hệ thống, chương trình và kế hoạch quản lý CTRSH

Thành phần cơ bản của CTRSH bao gồm:

+ Chất hữu cơ: các chất có nguồn gốc hữu cơ như cây cỏ loại bỏ, lá rụng, các loại thực phẩm hư hỏng, chất thải từ các lò giết mổ, từ các hộ chăn nuôi cho đến các dung môi, dầu mỡ và các loại thuốc bảo vệ thực vật…

+ Chất vô cơ: bao gồm các loại phế thải thủy tinh, sành sứ, kim loại, giấy, cao su, nhựa, túi nilon, vải, đồ điện, đồ chơi…

Thực phẩm Các chất thải

từ đồ ăn thực phẩm

Cọng rau, vỏ quả, thân cây,

lõi ngô

Cỏ, gỗ, củi, rơm rạ Các sản phẩm và vật liệu được

chế tạo từ tre, gỗ, rơm

Đồ dùng bằng gỗ như bàn, ghế, đồ chơi, vỏ dừa Chất dẻo Các vật liệu và sản phẩm được

chế tạo từ chất dẻo

Phim cuộn, túi chất dẻo, chai,

lọ, dây điện

Trang 18

Da và cao su Các vật liệu và sản phẩm được

chế tạo từ da và cao su

Bóng, giày dép, túi xách, ví, vật dụng bằng cao su

2 Các chất không cháy

Các kim loại sắt Các vật liệu và sản phẩm

được chế tạo từ sắt dễ bị nam châm hút

Vỏ hộp, dây điện, hàng rào, dao, nắp lọ

Các kim loại

phi sắt

Các vật liệu không bị nam châm hút

Vỏ nhôm, giấy bao gói,

đồ đựng

Thủy tinh Các vật liệu và sản phẩm được

chế tạo từ thủy tinh

Chai lọ, đồ đựng bằng thủy tinh, bóng đèn

Đá và sành sứ Các vật liệu không cháy

ngoài kim loại và thủy tinh

Vỏ chai, ốc, xương, gạch, đá, gốm

3 Các chất

hỗn hợp

Tất cả các vật liệu khác không được phân loại trong bảng này

Loại này có thể chia thành hai phần: kích thước > 5 mm

1.1.2 Xử lý CTRSH

1.1.2.1 Quản lý CTRSH

Quản lý CTRSH là hoạt động của các tổ chức và cá nhân nhằm giảm bớt ảnh hưởng của CTRSH đến sức khỏe con người, môi trường hay mỹ quan Giống như công tác quản lý CTR nói chung, quản lý CTRSH cũng có năm mục đích trọng yếu, đó là:

Trang 19

- Bảo vệ sức khỏe cộng đồng

- BVMT

- Sử dụng tối đa vật liệu, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng

- Tái chế và sử dụng tối đa rác hữu cơ

- Giảm thiểu CTRSH

Quản lý CTRSH bao gồm các hoạt động: Quy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, giảm thiểu tại nguồn, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTRSH Trong công tác quản lý CTRSH, thứ tự được sắp xếp ưu tiên là: Giảm thiểu phát thải - Tái sử dụng - Tái chế - Xử lý - Tiêu hủy

Hình 1.1 Mối liên hệ giữa các hoạt động quản lý CTRSH

Nguồn: Giáo trình Quản lý và xử lý CTR, Nguyễn Văn Phước (2013)

Hệ thống quản lý CTRSH ngày nay không ngừng phát triển, đặc biệt là

ở các nước công nghiệp lớn mạnh như Mỹ, Đức, Nhật… Hệ thống này đóng vai trò kiểm soát các vấn đề liên quan đến CTRSH một cách hợp lý, dựa trên

Trang 20

các nguyên tắc cơ bản về bảo vệ sức khỏe cộng đồng, kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan, các vấn đề môi trường dựa trên thái độ cộng đồng Nhiều hệ thống quản lý CTRSH đạt hiệu quả cao nhờ vào sự kết hợp đúng đắn giữa các thành phần:

- Luật pháp và quy định quản lý CTRSH

Xét tổng quát, các hợp phần chức năng của hệ thống quản lý CTRSH ở nước ta tuân theo mô hình phân tầng như sau:

- Bộ TN&MT phối hợp với Bộ KH&CN chịu trách nhiệm đưa ra chiến lược cải thiện môi trường chung cho cả nước, có nhiệm vụ tư vấn, đề xuất lên Chính phủ các chính sách quản lý môi trường quốc gia

- Bộ Xây dựng hướng dẫn chiến lược quản lý xây dựng đô thị, quản lý chất thải

- UBND Tỉnh/Thành phố chỉ đạo UBND các quận/huyện/thị xã và Sở KH&CN, Sở TN&MT phối hợp với các Sở - Ban - Ngành có liên quan thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường đô thị, thực thi các chiến lược chung và các luật về BVMT của Nhà nước, thông qua việc xây dựng các quy tắc, quy chế

cụ thể trong công tác BVMT của tỉnh/thành phố

Trang 21

- URENCO là cơ quan trực tiếp đảm nhận xử lý CTR, nhằm đảm bảo

vệ sinh môi trường theo nhiệm vụ của Sở TN&MT giao

Có hai mô hình quản lý chất thải thường được sử dụng là:

Mô hình phân loại rác thải tại nguồn (PLRTTN):

Trong mô hình này, phương pháp thực hiện tránh phân loại nhầm lẫn, nơi đổ rác hay thu gom rác tại khu dân cư và tính từng bước Hiện nay, chất thải đang là một vấn đề nan giải và vô cùng nhức nhối cho xã hội và môi trường Vì vậy, PLRTTN nếu được thực hiện tốt sẽ cắt giảm chi phí, tạo thuận lợi cho quá trình xử lý, tái chế và làm giảm tác động nguy hại tới môi trường

PLRTTN gồm:

- Phân loại ra rác hữu cơ và rác vô cơ

- Tại các hộ gia đình: Trang bị thùng rác hai ngăn hoặc hai thùng riêng biệt để phân loại rác hữu cơ và rác vô cơ

- Xe thu gom rác: Xe cũng phân hai ngăn tách biệt cho hai loại rác

- Nhà máy chế biến rác: rác sau khi được thu gom được vận chuyển tới ngay nhà máy chế biến rác

Mô hình quản lý dựa vào cộng đồng:

Là mô hình trực tiếp tác động và có ảnh hưởng đến môi trường sống của từng cá nhân trong xã hội Những hoạt động do cộng đồng thực hiện một mặt có thể làm cho môi trường trở nên trong lành, tạo điều kiện cho phát triển KT-XH; mặt khác cũng có thể làm cho môi trường bị ô nhiễm, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người Mô hình quản lý dựa vào cộng đồng sẽ thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến các mô hình bảo vệ môi trường,

mô hình HTX quản lý môi trường dựa vào cộng đồng với những gợi ý, quy định về áp dụng khuôn mẫu chung cho việc xây dựng mô hình HTX dựa vào cộng đồng Sau đó, tiến hành xây dựng và thực hiện chương trình nâng cao nhận thức cho mỗi cán bộ, mỗi xã viên HTX, kết hợp với các chương trình thực tiễn về xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân

để phát huy tối đa quyền tự chủ của mỗi công dân khi tham gia BVMT và

quản lý tài nguyên thiên nhiên

Trang 22

1.1.2.2 Xử lý CTRSH

Xử lý CTRSH là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm biến đổi, loại bỏ, cách ly, tiêu huỷ hoặc phá huỷ tính chất, thành phần nguy hại của CTRSH (kể cả việc tái chế, tận thu, thiêu đốt, đồng xử lý, cô lập, chôn lấp) với mục đích cuối cùng là không gây tác động xấu đến môi trường

và sức khoẻ con người, tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế

Xử lý CTRSH là một hoạt động không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động quản lý CTRSH; sau hàng loạt các hoạt động: Giảm thiểu tại nguồn, thu gom, trung chuyển và vận chuyển chất thải Mục tiêu của xử lý CTRSH là giảm thiểu hoặc loại bỏ các thành phần không mong muốn trong chất thải như các chất độc hại, không hợp vệ sinh, tận dụng vật liệu và năng lượng trong chất thải Phương án xử lý CTRSH phù hợp thể hiện thông qua việc lựa chọn ra công nghệ xử lý tối ưu chính là yếu tố quyết định tới sự thành công của công tác quản lý CTRSH Một phương án công nghệ xử

lý chất thải được lựa chọn phải đáp ứng được ba mục tiêu:

- Nâng cao hiệu quả của việc quản lý chất thải, BVMT và an toàn cho sức khỏe cộng đồng

- Thu hồi vật liệu để tái sử dụng, tái chế

- Thu hồi năng lượng từ rác cũng như các sản phẩm chuyển đổi

Theo nguyên tắc công nghệ, có các phương pháp xử lý CTRSH chủ đạo được thể hiện trong bảng dưới đây:

Bảng 1.3 Các phương pháp xử lý CTRSH đô thị chủ đạo

1 Cơ học Giảm

kích thước

Phân loại theo kích thước

Phân loại theo khối lượng riêng

Phân loại theo điện / từ trường

Trang 23

 Phân loại theo kích thước: Là một quá trình phân loại một hỗn hợp các vật liệu chất thải có kích thước khác nhau thành hai hay nhiều loại vật liệu có cùng kích thước, bằng cách sử dụng các loại sàng có kích thước lỗ khác nhau Quá trình phân loại có thể thực hiện cả khi vật liệu ướt hoặc khô, thông thường quá trình phân loại gắn liền với các công đoạn chế biến chất thải tiếp theo

 Phân loại theo khối lượng riêng: Là một phương pháp kỹ thuật được sử dụng rất rộng rãi, dùng để phân loại các vật liệu có trong chất thải dựa vào khí động lực và sự khác nhau về khối lượng riêng của chúng Phương pháp này được sử dụng để phân loại CTRSH đô thị, tách rời các loại vật liệu sau quá trình tách nghiền thành hai phần riêng biệt: dạng có khối lượng riêng nhẹ (như giấy, nhựa, các chất hữu cơ…) và dạng có khối lượng riêng nặng hơn (như kim loại, gỗ, phế liệu vô cơ…)

 Phân loại theo điện trường và từ trường: Kỹ thuật này được thực hiện dựa vào tính chất điện từ khác nhau của các thành phần CTRSH Phương pháp phân loại bằng từ trường được sử dụng phổ biến khi tiến hành tách các kim loại màu ra khỏi kim loại đen Còn phương pháp phân loại bằng tĩnh điện được áp dụng để tách ly nhựa và giấy dựa vào sự khác nhau về sự tích điện

bề mặt của hai loại vật liệu này Phân loại bằng dòng điện xoáy là kỹ thuật

Trang 24

phân loại trong đó các dòng điện xoáy tạo ra trong các kim loại không chứa sắt như nhôm và tạo thành nam châm nhôm

 Phương pháp nén: Nén CTRSH là kỹ thuật làm tăng mật độ dẫn đến tăng khối lượng riêng của chất thải để công tác lưu trữ và vận chuyển chất thải đạt hiệu quả cao hơn Ví dụ như công nghệ Hydromex nghiền nhỏ rác, sau

đó polyme hóa và sử dụng áp lực lớn để ép nén, định hình các sản phẩm

 Phương pháp nhiệt: Phương pháp này sử dụng nhiệt để tiêu hủy (bằng việc đốt) chất thải; làm giảm tới mức tối thiểu chất thải cho khâu xử lý cuối cùng Đốt là quá trình oxy hóa CTR bằng oxy không khí dưới tác dụng của nhiệt và quá trình oxy hóa hóa học Đây là một phương pháp hiệu quả và đang được áp dụng phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển nhờ tính ưu việt của nó Nhiệt phát sinh trong quá trình này được thu hồi và tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc cho ngành công nghiệp nhiệt và phát điện Tuy nhiên, việc thu đốt CTRSH bao gồm nhiều chất thải khác nhau sẽ tạo ra khói độc dioxin, nếu không xử lý tốt sẽ rất nguy hiểm tới sức khoẻ Vì vậy, hiện phương pháp đốt rác thường chỉ áp dụng cho xử lý rác thải độc hại như rác thải bệnh viện hoặc rác thải công nghiệp Tùy thuộc vào lượng oxy trong quá trình đốt mà người ta phân loại thành nhiệt phân hay khí hóa

 Quá trình nhiệt phân: Nhiệt phân CTRSH là quá trình phân hủy hay biến đổi CTRSH bằng cách nung chúng trong điều kiện không có oxy; sản phẩm cuối cùng của quá trình biến đổi là các chất ở dạng rắn, lỏng, khí

 Quá trình khí hóa: Khí hóa là quá trình đốt CTRSH trong điều kiện thiếu oxy Kỹ thuật khí hóa được áp dụng với mục đích giảm thể tích chất thải

và thu hồi năng lượng

 Phương pháp chuyển hóa sinh học và hóa học:

 Quá trình ủ phân hiếu khí: Là quá trình biến đổi sinh học được sử dụng rộng rãi, với mục đích là biến đổi các chất thải hữu cơ thành các chất vô cơ dưới tác dụng của vi sinh vật Sản phẩm tạo thành ở dạng mùn gọi là phân compost Phương pháp này thích hợp với các chất hữu cơ trong CTRSH do

Trang 25

chứa nhiều carbonhydrate như đường, cellulose, lignin, mỡ, protein; những chất này có thể phân huỷ đồng thời hoặc từng bước

 Quá trình phân hủy chất thải lên men kỵ khí: Là quá trình biến đổi sinh học dưới tác dụng của vi sinh vật trong điều kiện kỵ khí, áp dụng đối với các loại CTRSH có hàm lượng rắn từ 4 - 8% Sản phẩm cuối cùng là khí metan, khí CO2 và chất mùn ổn định dùng làm phân bón

 Quá trình chuyển hóa hóa học: Bao gồm một loạt các phản ứng thủy phân được sử dụng để tái sinh các hợp chất như là gluco và một loạt các phản ứng khác dùng để tái sinh dầu tổng hợp, khí và axetat xenlulo

 Phương pháp chôn lấp: Chôn lấp hợp vệ sinh là phương pháp kiểm soát phân hủy chất thải trong đất bằng cách chôn nén chặt và phủ lấp bề mặt CTRSH đọng lại trong ô chôn lấp bị tan rữa ra về mặt hóa học và sinh học rồi theo thời gian tạo ra các chất rắn, lỏng, khí Đây là phương pháp xử lý

có mức chi phí thấp, được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển

 Một số phương pháp xử lý khác: Ngoài các phương pháp chủ yếu đã nêu ở trên, rác thải còn được xử lý bằng phương pháp tạo khí ga, hóa rắn để làm vật liệu xây dựng, trung hòa và chưng cất

1.1.3 Công nghệ xử lý CTRSH

Công nghệ dùng để chỉ hoạt động trong mọi lĩnh vực có áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người Còn theo định nghĩa của ESCAP (Ủy ban KT-XH khu vực Châu Á Thái Bình Dương), công nghệ là kiến thức

có hệ thống về quy trình kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin Công nghệ bao gồm kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ Một công nghệ hàm chứa bốn thành phần: Phần kỹ thuật (T), phần con người (H), phần thông tin (I) và phần tổ chức (O)

Công nghệ xử lý CTRSH dùng để chỉ các hoạt động trong lĩnh vực môi trường có áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động xử lý CTRSH

Trang 26

Tùy theo thành phần, tính chất, khối lượng CTRSH và tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương mà lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH cho thích hợp Xét theo mục tiêu xử lý, có các công nghệ xử lý nhằm sử dụng lại thu hồi sản phẩm vật liệu, tái tạo tài nguyên để giải quyết yêu cầu về kinh

tế, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; và các công nghệ xử lý thải bỏ nhằm giải quyết yêu cầu BVMT Các công nghệ xử lý CTRSH hiện có bao gồm:

- Công nghệ chế biến phân hữu cơ;

- Công nghệ đốt;

- Công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh;

- Các công nghệ tái chế, thu hồi năng lượng, sản xuất sản phẩm từ các thành phần có ích trong CTRSH;

- Các công nghệ khác thân thiện với môi trường

Thông thường, CTRSH sau khi thu gom, phân loại, tách các thành phần

có thể tái chế, sử dụng được xử lý theo các công nghệ: Ủ sinh học để chế biến phân compost, thu khí; Chôn lấp (truyền thống và đặc biệt có chế biến khí, sản xuất phân compost); Thiêu đốt (có hoặc không thu hồi năng lượng) Các công nghệ xử lý tương ứng với các phương pháp xử lý

1.2 Quản lý và lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH

1.2.1 Công tác quản lý công nghệ xử lý CTRSH

Quản lý công nghệ xử lý CTRSH là một hệ thống kiến thức liên quan đến việc thiết lập và thực hiện chính sách phát triển, sử dụng công nghệ xử lý CTR và xem xét tác động của công nghệ xử lý CTRSH đối với xã hội, với các

tổ chức, các cá nhân và tự nhiên, nhằm thúc đẩy đổi mới, tạo tăng trưởng kinh

tế và tăng cường trách nhiệm trong sử dụng công nghệ xử lý CTRSH đối với lợi ích của nhân loại Mục tiêu của quản lý công nghệ xử lý CTRSH là nâng cao mặt bằng khoa học và dân trí; đồng thời phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực xử lý chất thải

Công tác quản lý công nghệ xử lý CTRSH là một phần tử quan trọng của hệ của hệ thống quản lý CTR Nguyên tắc chung của hệ thống quản lý CTR là ưu tiên các biện pháp giảm thiểu tại nguồn, sau đó mới đến các biện

Trang 27

pháp khác; do các biện pháp giảm thiểu tại nguồn làm tăng giá trị tiết kiệm trên từng tấn chất thải thông qua việc cắt giảm được chi phí vận chuyển, giảm chi phí xử lý và giảm tác động xấu tới môi trường Tương tự như vậy, quản lý công nghệ xử lý CTRSH cũng ưu tiên các công nghệ xử lý giảm thiểu tại nguồn, sau đó mới đến các công nghệ khác

Thứ tự các công nghệ được ưu tiên lựa chọn là:

- Giảm thiểu tại nguồn

- Tái chế

- Chế biến chất thải, bao gồm: sản xuất phân bón, khí sinh học, đốt tận dụng nhiệt, tiêu hủy

- Chôn lấp hợp vệ sinh

1.2.2 Lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH cho các đô thị

Lựa chọn công nghệ xử lý CTR là khâu cuối cùng trong chu trình quản

lý công nghệ xử lý CTR Một công nghệ xử lý được coi là hiệu quả khi có thể tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy tối đa hiệu quả kinh

tế, đồng thời không gây ra các tác động tiêu cực đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng Công nghệ xử lý CTR được chọn cần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu nêu trên, lại phải phù hợp với đặc thù về điều kiện KT-XH của từng quốc gia/ địa phương, đó chính là công nghệ thích hợp cần tìm kiếm

Cũng giống như công tác lựa chọn công nghệ xử lý CTR, lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH cũng dựa vào các tiêu thức chung để chọn ra công nghệ xử lý thích hợp có thể đáp ứng được các nhu cầu cấp bách về BVMT, an toàn với sức khỏe cộng đồng, phù hợp với định hướng phát triển KT-XH của địa phương, của nền kinh tế quốc gia tại thời điểm mà công nghệ được lựa chọn Từ các tiêu thức và định hướng về công nghệ xử lý CTRSH tại từng thời điểm, các chuyên gia sẽ áp dụng các phương pháp đánh giá để tiến hành

đo lường và so sánh hiệu quả của các công nghệ đang xem xét, sau đó tiến hành chọn ra công nghệ thích hợp nhất

Có ba yêu cầu quan trọng trong lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH đó là:

- Việc lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH phải căn cứ theo tính chất và

Trang 28

thành phần của chất thải và các điều kiện cụ thể của từng địa phương

- Khuyến khích lựa chọn công nghệ đồng bộ, tiên tiến cho hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải để tạo ra nguyên liệu và năng lượng

- Khuyến khích áp dụng công nghệ tiên tiến để xử lý triệt để chất thải, giảm thiểu khối lượng CTRSH phải chôn lấp, tiết kiệm quỹ đất sử dụng chôn lấp và bảo đảm vệ sinh môi trường

1.2.2.1 Khái niệm công nghệ thích hợp

“Công nghệ thích hợp là các công nghệ đạt được các mục tiêu của quá trình phát triển KT-XH, trên cơ sở phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của địa phương” [7;137]

Tuy nhiên, công nghệ thích hợp chỉ mang tính tương đối, luôn thay đổi theo từng khoảng thời gian và không gian khác nhau Do đó, tính thích hợp và không thích hợp của một công nghệ cần được xem xét thường xuyên

Kết hợp những điều này với khái niệm công nghệ thích hợp đã trình bày ở trên, theo ý kiến cá nhân của tác giả: Công nghệ thích hợp phải là công nghệ hướng tới đạt chuẩn, phù hợp với năng lực và điều kiện thực tiễn

Đặc trưng của công nghệ thích hợp ở các nước đang phát triển như Việt Nam là cố gắng để thích nghi và triển khai công nghệ phù hợp với hoàn cảnh Việc lựa chọn được một giải pháp và các đối tác triển khai công nghệ phù hợp

sẽ góp phần giúp cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế quốc gia/địa phương tiết kiệm được thời gian và chi phí trực tiếp cũng như các chi phí cơ hội phải trả, đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao từ sự phát triển của xã hội và thế giới Rõ ràng, không có công nghệ nào là thích hợp với tất cả các quốc gia, với tất cả các vùng miền hoặc địa phương khác nhau Bất kỳ một công nghệ nào cũng chỉ thích hợp với một hoặc vài vài quốc gia/ vùng/ địa phương nhất định

Lựa chọn được các công nghệ thích hợp sẽ đem lại những lợi ích sau:

- Tìm ra mối quan hệ hài hòa hơn và có thể chấp nhận được với hoàn cảnh xung quanh

- Tìm ra được cách để thoát khỏi sự khủng hoảng về nguyên liệu và năng lượng đang thúc bách lúc bấy giờ

Trang 29

- Giảm bớt các công việc nặng nhọc mà ít người muốn làm

- Triển khai thêm nhiều hơn các việc làm để có lợi cho xã hội

- Đưa các ngành kinh tế địa phương phát triển đúng hướng, cùng lúc tăng

số lượng các doanh nghiệp do chính người địa phương điều hành và làm chủ

Để xác định ra các công nghệ thích hợp, có một vài căn cứ chủ yếu:

- Hoàn cảnh, bao gồm: Dân số, tài nguyên, kinh tế, công nghệ, môi trường sống, văn hóa, xã hội, chính trị, pháp luật, quan hệ quốc tế

- Mục tiêu phát triển: Dựa vào các mục tiêu quốc gia, của ngành, của địa phương, của cơ sở mà xác định, nhưng phải phù hợp với từng điều kiện

và hoàn cảnh cụ thể, cùng lúc tối đa hiệu quả và tối thiểu hậu quả

1.2.2.1 Các tiêu thức lựa chọn công nghệ thích hợp

Có một số tiêu thức chung để tiến hành lựa chọn công nghệ, với lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH trong lĩnh vực môi trường cũng không ngoại

lệ Theo giáo trình Quản lý công nghệ (2013) của tác giả Nguyễn Đăng Dậu,

- Công nghệ thích hợp đảm bảo chi phí và kỹ năng thấp

- Công nghệ thích hợp tạo ra khả năng hoạt động cho cả các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ

- Công nghệ thích hợp tiết kiệm tài nguyên

- Công nghệ thích hợp thu hút sử dụng dịch vụ, nguyên liệu trong nước

- Công nghệ thích hợp có khả năng sử dụng được phế liệu và không gây

ra ô nhiễm môi trường

Trang 30

- Công nghệ thích hợp tạo ra cơ hội tăng trưởng kinh tế cho xã hội và đông đảo quần chúng nhân dân

- Công nghệ thích hợp tạo ra sự phân bố rộng rãi và giảm sự bất bình đẳng trong thu nhập

- Công nghệ thích hợp không gây xáo trộn đối với văn hóa, xã hội

- Công nghệ thích hợp tạo tiền đề để tăng cường xuất khẩu, phân công hợp tác quốc tế

- Công nghệ thích hợp tạo ra tiềm năng nâng cao năng lực công nghệ

- Công nghệ thích hợp được hệ thống chính trị chấp nhận

Nhận thấy rằng những tiêu thức để lựa chọn công nghệ thích hợp này đặc biệt phù hợp với các nước đang phát triển như Việt Nam Dù vậy, do sự vận động và bến đổi liên tục của môi trường nên sự liệt kê trên đây chưa thực

sự đầy đủ và có thể thay đổi theo thời gian Sự thích hợp của công nghệ không phải là bản chất nội tại của bất kỳ một công nghệ nào mà xuất phát từ môi trường xung quanh, trong đó công nghệ được sử dụng (khi được xem xét một cách toàn diện) Xét theo góc độ môi trường, có hai loại công nghệ là công nghệ ô nhiễm và công nghệ sạch (công nghệ thân môi trường) Công nghệ sạch có quá trình sản xuất tuân theo điều kiện giảm ảnh hưởng ô nhiễm tới môi trường, sử dụng các nguồn nguyên liệu thô và năng lượng với chi phí hợp lý, kinh tế Đây chính là những công nghệ xử lý CTRSH mục tiêu mà nhà quản lý cần cân nhắc lựa chọn Các nhà quản lý sẽ xác định sự thích hợp bằng cách phối hợp tối đa hiệu quả và tối thiểu hậu quả của công nghệ cho hiện tại cũng như tương lai

1.2.2.2 Định hướng công nghệ thích hợp

Có năm cách để định hướng công nghệ thích hợp thường được áp dụng đó là:

Định hướng theo trình độ công nghệ:

Cơ sở của định hướng này là có một loại công nghệ sẵn có để thỏa mãn một nhu cầu nhất định Vấn đề đặt ra là lựa chọn công nghệ như thế nào cho phù hợp Người ta sắp xếp các công nghệ theo thứ tự giảm dần về trình độ

Trang 31

Hình 1.2 Hình minh họa trình độ công nghệ theo thứ tự giảm dần

Nguồn: Bài giảng Quản lý công nghệ, Nguyễn Đình Bình

Đối với các nước đang phát triển, để dung hòa lợi ích có thể lựa chọn công nghệ trung gian, tức là loại công nghệ có trình độ ở giữa công nghệ thô

sơ và công nghệ tiên tiến, hiện đại Bởi lẽ, công nghệ trung gian có thể:

+ Dung hòa được giữa các nước phát triển và cả các nước đang phát triển về công nghệ

+ Được xây dựng với quy mô từ nhỏ tới lớn, từ đơn giản đến phức tạp,

từ trình độ trung bình đến hiện đại

+ Có điều kiện triển khai nhiều công nghệ để giải quyết nhiều mục tiêu trong điều kiện nguồn vốn bị hạn chế

+ Công nghệ trung gian cũng tạo điều kiện cho việc tiếp thu và đồng hóa trở nên dễ dàng hơn

Định hướng theo nhóm mục tiêu:

Cơ sở của định hướng này là dựa vào các nhóm mục tiêu phát triển công nghệ, làm cơ sở để lựa chọn công nghệ thích hợp theo từng giai đoạn nhằm thực hiện các mục tiêu đó Nhóm mục tiêu bao gồm:

+ Thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống đồng đều

+ Tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh trên thị trường

+ Tự lực và độc lập về công nghệ

Trang 32

Định hướng theo sự hạn chế các nguồn lực:

Cơ sở của định hướng này xem xét công nghệ có thích ứng với nguồn tài nguyên vốn có hay không, có phù hợp với điều kiện chung trong sự phát triển ở địa phương không Có ba nguồn lực chủ đạo cần được xem xét là: nhân lực, vốn đầu tư và nguyên nhiên vật liệu Hiện nay, ở nước ta sự giới hạn nguồn lực thể hiện dưới dạng khan hiếm vốn và lao động Câu hỏi đặt ra

là làm thế nào để tối đa hóa lợi ích sử dụng của các nguồn lực này trong hiện tại, lẫn sử dụng hợp lý, hiệu quả và đảm bảo lâu dài

Định hướng theo sự hòa hợp (không gây đột biến):

Cơ sở của định hướng này là mong muốn có được tiến bộ công nghệ thông qua phát triển chứ không phải cách mạng, phải có sự hài hòa giữa việc

sử dụng, thích nghi, cải tiến và đổi mới Điều này có nghĩa là khi tiếp nhận công nghệ không được gây ra những xáo trộn, biến động hay sự phát triển gây mất hài hòa, mất cân đối Cần đảm bảo sự hài hòa tự nhiên, kết hợp công nghệ nội địa và công nghệ nhập ngoại, tạo lập sự phát triển nhanh và bền vững, cũng như không gây ra mâu thuẫn giữa quốc gia và địa phương, hòa hợp giữa công nghệ truyền thống và hiện đại

Định hướng theo sự dự báo phát triển công nghệ:

Dự báo phát triển công nghệ giúp cho các nhà quản lý có kế hoạch hành động, trước hết là lựa chọn công nghệ ưu tiên và tranh thủ các thành tựu của thế giới Theo đó, công nghệ sử dụng giúp tiết kiệm nguồn lực tự nhiên,

sử dụng ít năng lượng, năng suất lao động cao Công nghệ đó còn phải là công nghệ sạch, hạn chế gây ra ô nhiễm Một công nghệ theo định hướng này sẽ tạo ra các sản phẩm có tính ưu việt, giá cả cạnh tranh và có thể hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Hơn thế nữa, công nghệ đó sẽ mang tính cách mạng, làm thay đổi các phương pháp truyền thống Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, để thực hiện lựa chọn công nghệ thích hợp cần chia các công nghệ thành ba nhóm

Trang 33

Bảng 1.4 Phân loại các nhóm công nghệ hiện nay

Chỉ tiêu quan trọng nhất

để xuất khẩu

Tối đa lợi nhuận trong ngoại thương

Dự báo; Đánh giá; NC&TK; Marketing

Thông qua CGCN; Đánh giá và thích nghi công nghệ

Các

công nghệ

phát triển

Có được các công nghệ có giá trị để thỏa mãn nhu cầu của đại đa số thông qua công nghệ nội sinh

Cực tiểu biến đổi đột ngột trong công nghệ truyền thống

Thông tin; Đánh giá; Thích nghi và đổi mới

Nguồn: Giáo trình Quản lý công nghệ, Nguyễn Đăng Dậu (2013)

1.2.2.3 Một số phương pháp lựa chọn công nghệ thích hợp

Để có thể tìm ra công nghệ nào là tốt nhất, phù hợp nhất trong danh mục các công nghệ đạt tiêu chuẩn, có bốn phương pháp lựa chọn:

- Lựa chọn công nghệ theo hàm lượng công nghệ: Công nghệ nào có hiệu suất hấp thụ lớn hơn sẽ là công nghệ được lựa chọn

- Lựa chọn công nghệ theo các chỉ tiêu tổng hợp: Căn cứ vào các điều kiện thực tiễn, để lựa chọn một công nghệ cần xem xét, đánh giá và thỏa mãn rất nhiều yếu tố: Kinh tế, kỹ thuật, tài nguyên, môi trường…

và xét tổng thể công nghệ trong mối tương quan giữa các yếu tố này Phương pháp này không chỉ tính toán một cách độc lập, đồng thời các giá trị đặc trưng của công nghệ mà còn đưa ra các thông số tổng hợp của các đặc trưng này cho mỗi phương án được đưa ra xem xét

- Lựa chọn công nghệ theo công suất tối ưu: Phương pháp lựa chọn này thường được áp dụng trong giai đoạn xây dựng luận chứng kinh tế - kỹ thuật, vì chủ yếu dựa vào số liệu báo cáo và điều tra thị trường

Trang 34

- Lựa chọn công nghệ theo nguồn lực đầu vào: Để đạt được một hàm mục tiêu nhất định, có thể sử dụng nhiều công nghệ khác nhau Có hai nguồn lực đầu vào chính cần xem xét là vốn và lao động Việc cần thiết nhất là loại bỏ các công nghệ kém hiệu quả trong số danh mục các công nghệ đã chọn

1.2.2.4 Quy trình lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH

Đứng ở góc độ của nhà chuyên môn, trước khi tiến hành đánh giá công nghệ xử lý CTRSH, chuyên gia phân tích công nghệ cần xác định môi trường công nghệ hiện tại, sau đó tiến hành đánh giá các công nghệ một cách tổng quan (bao gồm các mặt kỹ thuật, tài chính, các tác động đến môi trường của công nghệ…) nhằm đưa ra kết luận về khả năng thực thi của các công nghệ trong thực tế và tiềm năng phát triển của công nghệ trong tương lai; từ đó đưa

ra kết luận lựa chọn công nghệ xử lý nào là khả thi nhất

Trên phương diện của nhà quản lý công nghệ, hoạt động lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH chính là việc tìm ra công nghệ xử lý CTRSH thích hợp nhất Tuân theo lý thuyết quản lý công nghệ đã trình bày ở trên, quy trình lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH trải qua các bước sau:

- Xây dựng các căn cứ nhằm xác định công nghệ thích hợp, dựa vào: + Các tiêu thức lựa chọn công nghệ thích hợp

+ Định hướng công nghệ thích hợp tại thời điểm xem xét

- Xác định phương pháp lựa chọn công nghệ thích hợp để tiến hành đánh giá, so sánh hiệu quả các công nghệ đề xuất

- Đưa ra quyết định lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH thích hợp nhất

Trang 35

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ CÁC CÔNG NGHỆ

2.1 Thực trạng hoạt động quản lý CTRSH tại Thành phố Hà Nội

2.1.1 Khái quát về hoạt động quản lý CTRSH tại Việt Nam

Trong những năm qua, ô nhiễm CTR tiếp tục là một trong những vấn

đề môi trường trọng điểm Tính trên phạm vi cả nước, lượng CTR phát sinh ngày càng tăng với tốc độ gia tăng khoảng 10% mỗi năm; con số này sẽ còn tiếp tục tăng lên trong thời gian tới cả về lượng và mức độ độc hại Đối với CTRSH nói riêng, theo thống kê, CTRSH phát sinh ở các đô thị chiếm hơn 50% tổng lượng CTRSH của cả nước mỗi năm Xét theo phạm vi, hai khu vực

có lượng CTRSH phát sinh cao nhất cả nước là Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng

Đối với khu vực đô thị, lượng CTRSH phát sinh liên tục gia tăng Theo

số liệu từ báo cáo “Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch năm 2016 của ngành xây dựng” của Bộ Xây dựng, lượng CTRSH phát sinh trên toàn quốc trong giai đoạn 2011 - 2015 liên tục tăng lên với mức tăng trung bình 12% mỗi năm và đang có xu hướng tăng nhanh hơn nữa trong giai đoạn 2016 - 2020 Vào năm 2007, tổng khối lượng CTRSH phát sinh tại các đô thị trên toàn quốc mới chỉ là 17.682 tấn/ngày; đến năm 2014, khối lượng này đã tăng lên 32.000 tấn/ngày (tăng gần 81% sau

7 năm); năm 2015 là 38.000 tấn/ngày

Ở khu vực nông thôn, ước tính mỗi năm tại khu vực này phát sinh khoảng 7 triệu tấn CTRSH Vấn đề quản lý CTRSH khu vực nông thôn hiện nay đang là vấn đề nóng của các địa phương Nguyên nhân chính là do sự phát triển của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại, đúc đồng cũng tạo sức ép lớn đối với môi trường khi thải ra lượng CTRSH lớn

Trang 36

Bảng 2.1 Lượng CTRSH phát sinh tại một số địa phương trên cả nước

Trang 37

Qua bảng số liệu trên, thấy rằng các đô thị thuộc khu vực đồng bằng và vùng biển (nơi tập trung đông dân cư và phát triển hoạt động du lịch) có tỷ trọng phát sinh CTRSH cao hơn nhiều so với các tỉnh ở khu vực miền núi Về thành phần, CTRSH đô thị ở Việt Nam có tỷ lệ hữu cơ cao, từ 54 - 77%, các chất thải có thể tái chế (có thành phần nhựa và kim loại) chiếm 8 - 18%

Về tỷ lệ thu gom CTRSH tại các đô thị đạt từ 84 - 85%, tăng 3 - 4% so với giai đoạn trước Tỷ lệ thu gom CTRSH ở khu vực nông thôn còn rất thấp (khoảng 40%), chủ yếu được tiến hành ở các thị trấn, thị tứ Cho đến nay, vấn

đề PLRTTN vẫn chưa được triển khai mở rộng

Hiện tại, nước ta chủ yếu xử lý CTRSH bằng phương pháp chôn lấp lộ thiên hoặc lò đốt chất thải CTR thông thường từ hoạt động công nghiệp, y tế hầu hết được thu gom, tự xử lý tại cơ sở hoặc thông qua công ty môi trường

đô thị Đối với CTNH, công tác quản lý đã được quan tâm đầu tư với khối lượng CTNH được thu gom, xử lý tăng qua từng năm, tuy nhiên tỷ lệ vẫn còn thấp Nhìn chung, vấn đề quản lý và đầu tư cho công nghệ xử lý CTR nói chung và CTRSH nói riêng chưa có nhiều cải thiện so với giai đoạn trước Tổng thể, công tác quản lý CTRSH ở nước ta hiện đang tồn tại nhiều điểm hạn chế như là:

- Sự phân công trách nhiệm quản lý chất thải giữa các ngành chưa rõ ràng, chưa có hệ thống quản lý thống nhất riêng đối với CTR công nghiệp

- Cơ chế thực hiện dịch vụ thu gom và quản lý CTRSH vẫn còn mang nặng tính bao cấp mặc dù Việt Nam đã có chính sách xã hội hóa công tác này

- Chưa có thị trường thống nhất về trao đổi, tái chế CTR nói chung và CTR công nghiệp nói riêng, chỉ có một phần rất nhỏ CTR công nghiệp được thu hồi, tái chế và tái sử dụng

- Phần lớn CTR công nghiệp, kể cả chất thải nguy hại bị thải lẫn lộn với CTR đô thị và được đưa đến BCL vốn chưa được thiết kế hợp vệ sinh từ đầu

- Việc thu gom CTR chủ yếu sử dụng lao động thủ công Chưa có sự tham gia rộng khắp của cộng đồng, của khu vực tư nhân vào việc thu gom và quản lý chất thải Ngoài ra, tuy đã có một số mô hình thu gom, XLCT đô thị

Trang 38

của tư nhân và cộng đồng tổ chức thành công, nhưng do hạn chế về nguồn vốn đầu tư nên số lượng và chất lượng dịch vụ vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu phát triển bền vững

- Thiếu sự đầu tư thỏa đáng và lâu dài đối với các trang thiết bị thu gom, vận chuyển, phân loại, xây dựng các BCL đúng quy cách và các các công nghệ xử lý chất thải phù hợp

- Chưa có các công nghệ và phương tiện hiện đại cũng như vốn đầu tư

để tái chế chất thải đã thu gom, còn thiếu kinh phí cũng như công nghệ thích hợp để xử lý CTNH

- Nhận thức của cộng đồng về BVMT và an toàn sức khỏe liên quan tới công tác thu gom, xử lý và quản lý CTR còn ở mức thấp CTR bị đổ bỏ bừa gây mất vệ sinh nghiêm trọng, gây nguy cơ suy thoái môi trường nước mặt

Hệ thống quản lý CTR đô thị ở nước ta được phân theo các cấp Có sơ đồ sau:

Hình 2.1 Tổng thể hệ thống quản lý CTR đô thị ở Việt Nam

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trang 39

2.1.2 Thực trạng hoạt động quản lý CTRSH tại Thành phố Hà Nội

2.2.2.1 Nguồn gốc, khối lượng phát sinh và thành phần CTRSH phát sinh trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Về nguồn gốc phát sinh:

- Từ các khu dân cư: Đây là nguồn thải CTRSH chính tại Thủ đô Các hoạt động hàng ngày của con người tạo ra một lượng chất thải rất đa dạng và phức tạp, bao gồm: các thực phẩm thừa, túi, bao bì các loại… Nguồn rác này

đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng và thay đổi về tỷ lệ các thành phần

- Từ các nhà hàng, khách sạn: Nguồn thải này bao gồm thức ăn thừa,

chai lọ, đồ hộp, giấy, vải vụn…; thường được các URENCO thu gom và một

phần nhỏ được bán cho tư nhân làm thức ăn chăn nuôi

- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng: Nguồn thải này không gây nhiều tác động xấu tới môi trường do có thành phần không quá phức tạp, thường là giấy vụn, văn phòng phẩm hư hỏng…; phần lớn đều được

thu gom bởi các URENCO

- Từ các khu chợ: CTRSH từ nguồn này có thành phần phức tạp, bao gồm từ rau củ quả, các loại bao bì, túi nilon, chai lọ, xác động vật… có tác động mạnh đến môi trường xung quanh Lượng rác này có hàm lượng hữu cơ cao nên thường được ủ làm phân compost

- Từ các bệnh viện: Bao gồm chất thải của nhân viên bệnh viện, của bệnh nhân và rác thải nhà bếp Lượng rác này cũng được thu gom cùng với CTRSH của Thành phố

Về khối lượng rác thải phát sinh:

Khối lượng CTRSH phát sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm: Tỷ

lệ tăng trưởng dân số, mức tăng trưởng kinh tế, trình độ KH-KT và dân trí về môi trường… Theo thống kê của URENCO Hà Nội năm 2015, lượng CTRSH phát sinh trung bình tính trên đầu người ở Thành phố Hà Nội dao động từ 0,4

- 0,6 m3/người/ngày Về tỷ trọng rác thải trung bình là 0,416 tấn/m3

Tổng

khối lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn Thành phố là 6.500 tấn/ngày

Trang 40

Bảng 2.2 Các loại CTR đô thị của Thành phố Hà Nội năm 2015

STT Thành

phần

Khối lượng (tấn/ngày)

Tỷ lệ (%)

Thành phần chính Biện pháp xử lý

1 CTRSH 6.500 76,78 Chất vô cơ: Gạch đá

vụn, tro xỉ than tổ ong, sành sứ…

Chất hữu cơ: Rau củ quả, rác nhà bếp…

Các chất còn lại

Chôn lấp hợp vệ sinh Sản xuất phân hữu cơ (60 tấn/ ngày)

Tái chế: 10%, tự phát tại các làng nghề

mỡ, dầu thải…

Một phần được xử lý tại Khu XLCT công nghiệp

3 CTR y tế 15 Bông băng, dụng cụ

y tế nhiễm khuẩn

Xử lý bằng công nghệ

lò đốt Delmonego 200 Italia: 100%

Tổng 8.465 100

Nguồn: URENCO Hà Nội (2015)

Qua số liệu trong bảng trên, thấy rằng lượng CTRSH chiếm tỷ trọng cao nhất (tới 76,78%) trong tổng lượng chất thải phát sinh của Thành phố Đặc điểm của loại chất thải này này là sự phân tán, rộng khắp, từ mọi ngóc ngách, mọi đường của thành phố Điều này đòi hỏi công tác quản lý chặt chẽ từ khâu thu gom rác, đến vận chuyển và xử lý

Bảng 2.3 Dự báo lượng CTRSH phát sinh tại Hà Nội năm 2050

Khối lượng CTRSH phát sinh

(Đơn vị tính: tấn/ngày đêm)

8.500 11.300 15.900

Nguồn: Quyết định 609/QĐ-TTg về việc Phê duyệt quy hoạch xử lý CTR Thủ đô

Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (2014)

Ngày đăng: 09/01/2019, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Văn Phước (2013), Giáo trình Quản lý và Xử lý chất thải rắn, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý và Xử lý chất thải rắn
Tác giả: Nguyễn Văn Phước
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2013
14. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (201), Luật bảo vệ môi trường 2014 Khác
15. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Quyết định số 609/QĐ-TTg ngày 25/04/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 Khác
16. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05/09/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Khác
17. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Quyết định số 166/QĐ-TTg ngày 21/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành kế hoạch thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Khác
18. Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội (2015), Kế hoạch số 221/KH-UBND ngày 21/12/2015 của UBND Thành phố Hà Nội về việc thực hiện chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w