1.2.1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú năm 2016. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể Xác định tỷ lệ nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú năm 2016. Phân tích các yếu tố tác động đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú năm 2016. Khảo sát mức giá sẵn lòng trả cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú năm 2016
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
Trương Thị Mai Huyền
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
MỨC GIÁ SẴN LÒNG TRẢ CHO DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
TẠI NHÀ CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ
TẠI BỆNH VIỆN QUẬN TÂN PHÚ
Chuyên ngành : Kinh tế học và Quản trị lĩnh vực Sức khỏe
LUẬN VĂN CAO HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Phạm Khánh Nam
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Mức giá sẵn lòng trả cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú”
này là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn, tôicam đoan rằng, toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng đượccông bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại cáctrường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Trương Thị Mai Huyền
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG 6
DANH MỤC HÌNH 8
DANH MỤC PHỤ LỤC 9
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 10
1.1 Đặt vấn đề 10
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 12
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
2.1 Lược khảo lý thuyết 14
2.2 Một số nghiên cứu liên quan 17
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Khung phân tích 22
3.2 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên 22
3.3 Thu thập dữ liệu 29
3.4 Các biến số/chỉ số nghiên cứu 31
3.5 Quản lý và phân tích dữ liệu 35
3.6 Thiết kế nghiên cứu 36
3.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ 37
4.1 Tổng quan dịch vụ khám chữa bệnh 37
4.2 Kết quả thống kê mô tả 39
4.3 Nhu cầu của người bệnh về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 46
4.4 Mức giá sẵn lòng trả dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 47
Trang 44.5 Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều
trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú 50
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Hàm ý chính sách 56
5.3 Điểm hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 61
DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 5BVQTP Bệnh viện quận Tân Phú
CSSKTN Chăm sóc sức khỏe tại nhà
CVM Phương pháp đánh giá ngẫu nhiênTTYTDP Trung tâm y tế dự phòng
WTA Mức giá sẵn lòng chấp thuận
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Giới tính, nhóm tuổi và học vấn của người bệnh 39
Bảng 4.2 Dân tộc, nơi ở, quy mô hộ gia đình của người bệnh 40
Bảng 4.3 Khoảng cách từ nhà tới bệnh viện của người bệnh 41
Bảng 4.4 Đặc điểm nghề nghiệp, công việc của người bệnh 41
Bảng 4.5 Đặc điểm thu nhập bình quân của đối tượng nghiên cứu 42
Bảng 4.6 Một số đặc điểm y tế của người bệnh 42
Bảng 4.7 Sự hài lòng của người bệnh hoặc người nhà người bệnh về quy trình, thủ tục 43
Bảng 4.8 Sự hài lòng của người bệnh hoặc người nhà người bệnh về khả năng đáp ứng của nhân viên y tế 43
Bảng 4.9 Sự hài lòng của người bệnh hoặc người nhà người bệnh về thái độ của nhân viên y tế 44
Bảng 4.10 Sự hài lòng của người bệnh hoặc người nhà người bệnh về mức độ tin cậy và chi phí dịch vụ y tế tại bệnh viện 44
Bảng 4.11 Sự hài lòng của người bệnh hoặc người nhà người bệnh về an ninh trật tự và môi trường tại bệnh viện 44
Bảng 4.12 Điểm số hài lòng của người bệnh hoặc người nhà người bệnh về dịch vụ y tế tại bệnh viện 45
Bảng 4.13 Người bệnh hoặc người nhà người bệnh tự đánh giá mức độ hài lòng chung về chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện 46
Bảng 4.14 Sự hài lòng của người bệnh hoặc người nhà người bệnh tại các khoa 46
Bảng 4.15 Tỷ lệ nhu cầu của người bệnh về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 46
Bảng 4.16 Tỷ lệ nhu cầu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà theo khoa 47
Bảng 4.17 Tỷ lệ mức giá người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà do bác sỹ thực hiện 47
Bảng 4.18 Tỷ lệ mức giá người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà do điều dưỡng thực hiện 47
Bảng 4.19 Mức giá WTP trung bình người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ CSSKTN do bác sỹ thực hiện theo phương pháp parametric 48
Bảng 4.20 Mức giá WTP trung bình người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ CSSKTN do điều dưỡng thực hiện theo phương pháp parametric 48
Bảng 4.21 Mức giá WTP trung bình người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ CSSKTN do bác sỹ thực hiện theo phương pháp non-parametric 49
Bảng 4.22 Mức giá WTP trung bình người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ CSSKTN do điều dưỡng thực hiện theo phương pháp non-parametric 50
Bảng 4.23 Mối liên quan giữa đặc điểm dân số xã hội đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà 51
Bảng 4.24 Mối liên quan giữa thu nhập đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà 51
Bảng 4.25 Mối liên quan giữa đặc điểm y tế của người bệnh điều trị nội trú đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà 52
Bảng 4.26 Mối liên quan giữa sự hài lòng của người bệnh đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà 52
Bảng 4.27 Mối liên quan giữa Sự sẵn lòng chi trả đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà53 Bảng 4.28 Kết quả hồi quy đa biến các biến số độc lập có liên quan đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà 53
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ ước lượng WTP dịch vụ CSSKTN do bác sỹ thực hiện 49Hình 4.2 Biểu đồ ước lượng WTP dịch vụ CSSKTN do điều dưỡng thực hiện 50
Trang 8DANH MỤC PHỤ LỤC
Phiếu khảo sát 61Kết quả phân tích dữ liệu 67
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Trong thời gian qua quá tải bệnh viện không chỉ là vấn đề riêng của ngành y tế
mà đã trở thành vấn đề của cả xã hội Quá tải bệnh viện xảy ra không chỉ ở khu vựcphòng khám mà cả ở các khoa điều trị nội trú Bộ Y tế và các bộ, ban, ngành đãphối hợp triển khai một số chương trình giảm quá tải bệnh viện nhằm nâng cao chấtlượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh Một trong những mục tiêu cụ thể cần đạt làgiảm thời gian và lưu lượng người chờ khám bệnh, chữa bệnh tại khoa khám bệnhcủa các bệnh viện Bên cạnh việc đầu tư mở rộng cơ sở vật chất, nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực, tăng cường công tác quản lý và nâng cao toàn diện chấtlượng bệnh viện, thì vấn đề cải tiến quy trình khám bệnh, chữa bệnh và phát triển
mô hình phòng khám bác sĩ gia đình đang được Bộ Y tế đặc biệt quan tâm trongthời gian gần đây
Theo số liệu Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2014, Việt Nam có hơn 90,728triệu dân, tuổi thọ dân số trung bình là 73,2 tuổi và tỷ số giới tính của dân số là 97,4nam/100 nữ, tỷ suất sinh thô là 17,2‰, tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số là 10,3‰ Sốliệu trên cho thấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản, nhi khoa và lão khoa cao.Theo số liệu về cơ cấu số lượt khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế nhà nước trongNiên giám thống kê năm 2010, xu hướng tỷ trọng các bệnh không lây nhiễm giatăng liên tục ở mức cao Nếu tỷ trọng này năm 1986 chỉ là 39% thì năm 1996 tănglên 50%, năm 2006 là 62%, và chỉ sau 05 năm đến năm 2010, tỷ trọng này đã tănglên 10 điểm phần trăm, lên mức 72% Điều này cho thấy nhu cầu chăm sóc sứckhỏe, khám bệnh, chữa bệnh ngày càng tăng
Và trên thực tế trong thời gian qua, các cấp quản lý nhà nước đã triển khainhiều hoạt động giảm quá tải bệnh viện nhưng đến nay tình trạng quá tải bệnh việnvẫn chưa giảm mà ngày càng trầm trọng Tiếp tục triển khai đề án giảm quá tải bệnhviện, năm 2016, Bộ Y tế phê duyệt kế hoạch nhân rộng và phát triển mô hình phòngkhám bác sĩ gia đình trên phạm vi toàn quốc nhằm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức
Trang 10khỏe cơ bản, toàn diện, liên tục cho cá nhân, gia đình và cộng đồng, góp phần tăngcường chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu và giảm quá tải bệnh viện
Trước đây, cơ cấu hoạt động, tổ chức, quản lý loại hình dịch vụ chăm sóc sứckhỏe tại nhà chưa có cơ sở pháp lý Với Quyết định phê duyệt kế hoạch nhân rộng
và phát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình tại Việt Nam, giai đoạn 2016 –
2020 , dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà bao gồm: thực hiện tư vấn sức khỏe, sànglọc, tầm soát phát hiện bệnh sớm; các dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ, chăm sóc cuốiđời; các dịch vụ kỹ thuật bao gồm: khám bệnh, kê đơn thuốc một số bệnh thôngthường; thực hiện một số thủ thuật: thay băng, cắt chỉ, lấy mẫu máu, mẫu nước tiểu
để xét nghiệm, khí dung, tiêm, truyền dịch; phục hồi chức năng và nâng cao sứckhỏe
Triển khai dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà góp phần nâng cao chất lượngdịch vụ y tế, giúp:
Người bệnh hài lòng hơn, an toàn hơn và giảm một phần chi phí điều trị giántiếp, chi phí cơ hội do người bệnh và đôi khi cả người nhà người bệnh phải nghỉ làm
để đưa người bệnh đi khám bệnh, chữa bệnh Người bệnh chủ động trong việc chọngiờ khám bệnh, có thể thu xếp việc cá nhân thuận tiện, không mất thời gian chờ đợikhám bệnh, thời gian di chuyển đến bệnh viện
Bệnh viện giải quyết tình trạng quá tải, chủ động trong công tác tổ chức hoạtđộng khám bệnh, chữa bệnh, tăng doanh thu dịch vụ, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sứckhỏe của người bệnh
Nhân viên y tế hài lòng hơn với công việc, chăm sóc người bệnh tốt hơn, antoàn hơn, làm việc hiệu quả hơn và tăng thêm thu nhập
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu cung cấp bằng chứng thựcnghiệm cho Ban Giám đốc Bệnh viện quận Tân Phú về nhu cầu sử dụng dịch vụchăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú, từ đó khuyến nghị bệnhviện triển khai dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà để góp phần cải tiến nâng caochất lượng khám bệnh, chữa bệnh, giải quyết tình trạng quá tải bệnh viện và đạt
Trang 11được lợi ích 03 bên nêu trên, đồng thời xây dựng mô hình kiểu mẫu nâng cao chấtlượng bệnh viện tuyến quận
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú
Tiêu chuẩn chọn vào:
Người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú đáp ứng các tiêu chuẩnsau:
Người bệnh từ 16 tuổi trở lên đủ năng lực hành vi dân sự, đồng ý trả lời phiếukhảo sát, đồng ý tham gia nghiên cứu
Nếu người bệnh là trẻ em dưới 16 tuổi hoặc những người bệnh gặp khó khăntrong vận động, giao tiếp hoặc bệnh nặng thì khảo sát người nhà trực tiếp chăm sóc
và chi trả viện phí cho người bệnh
Tiêu chí loại ra:
Người bệnh đang trong tình trạng rất nặng hoặc đang trong tình trạng cấp cứuhoặc đang được điều trị hồi sức tích cực
Người bệnh điều trị nội trú chuyển viện đến bệnh viện khác tiếp tục điều trị
Trang 12Người bệnh chưa kết thúc đợt điều trị nội trú nhưng xin ra viện hoặc trốn viện(bỏ về không trở lại điều trị tiếp).
1.3.2 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 7/2016 đến tháng 4/2017
1.3.3 Địa điểm nghiên cứu:
Các khoa nội trú: Nội, Ngoại tổng hợp, Sản, Nhi của Bệnh viện quận Tân Phú
1.3.4 Cấu trúc luận văn:
Luận văn được chia thành 05 chương:
Chương 1 - Giới thiệu: Lý do hình thành đề tài và ý nghĩa thực tiễn, mục tiêunghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chương 2 - Cơ sở lý luận: Trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết, các nghiêncứu liên quan
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Chương này gồm ba phần chính trìnhbày về mô hình nghiên cứu đề nghị, phương pháp nghiên cứu đánh giá ngẫu nhiên,thiết kế và thực hiện nghiên cứu
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả mô tả, phân tích hồi quytuyến tính và mức giá sẵn lòng trả
Chương 5 - Kết luận và hàm ý chính sách: Trình bày tóm tắt kết quả nghiêncứu, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 13CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Lược khảo lý thuyết
2.1.1 Mô hình Grossman
Nếu đồng ý với việc xem sức khỏe như một tài sản có thể sản xuất được, việctạo ra sức khỏe có thể coi như một sự đầu tư bù đắp cho phần vốn đã bị tiêu tốn vìtuổi tác và lối sống tạo nên một sự tăng lên trong “vốn sức khỏe” Việc đầu tư nàyđạt được nhờ sử dụng dịch vụ y tế (khám chữa bệnh) và những nỗ lực của chính cánhân trong việc phòng bệnh Lợi ích thu được từ vốn sức khỏe chính là việc giảmthiểu thời gian ở trong một trạng thái sức khỏe “đau ốm” Thời gian khỏe mạnh thuđược có thể làm tăng mức thỏa dụng một cách gián tiếp hay trực tiếp qua thu nhậplao động cao hơn và nhờ đó làm tăng tiêu dùng Những cá nhân lý trí sẽ tối đa hóamức thỏa dụng bằng cách sử dụng theo cách tối ưu lượng vốn sức khỏe trong cuộcđời họ Nghiên cứu của Grossman (1972) phân tích vấn đề tối ưu hóa hoạt động nàyvới lý thuyết kiểm soát tối ưu (Optimal control theory)
Mặt khác, cầu chăm sóc sức khỏe phụ thuộc vào vài nhân tố có liên kết vớinhau Thái độ, nhận thức và quyết định của cá nhân là những nhân tố quan trọngquyết định việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi họ tiếp xúc ban đầu với nhàcung cấp chăm sóc sức khỏe Những nhân tố có ảnh hưởng đến cầu chăm sóc sứckhỏe là tình trạng sức khỏe, thu nhập và giáo dục Tình trạng sức khỏe của một cánhân dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi ích mà người đó nhận được từ điều trị y tế.Tuy nhiên lợi ích nhận được cũng bị ảnh hưởng bởi giáo dục Thu nhập là quantrọng khi nó xác định khả năng chi trả và nó ảnh hưởng đến số tiền kiếm được bị từ
bỏ khi tìm kiếm chăm sóc sức khỏe Lợi ích và chi phí của việc điều trị được kỳvọng có thể khác nhau theo tuổi và giới tính
Xét một cá nhân với một kế hoạch gồm hai giai đoạn Trong mỗi giai đoạn,anh ta hoặc cô ta phải trải qua một lượng thời gian đau ốm ts, nếu vốn sức khỏe cànglớn thì khoảng thời gian này càng ít đi Nói cách khác, thời gian khỏe mạnh chính lànhững lợi ích (không trao đổi được) của vốn sức khỏe Cá nhân đó nhận được mứcthỏa dụng dương từ những hàng hóa tiêu dùng X và những mức thỏa dụng âm từ
Trang 14thời gian đau ốm ts (H) Hàm thỏa dụng dựa trên những điều kiện này được giả định
là không phụ thuộc vào thời gian (tỷ lệ thay thế biên giữa thời gian đau ốm và tiêudùng không thay đổi theo thời gian) Mức thỏa dụng trong tương lai được chiếtkhấu bằng một yếu tố giả định β ≤ 1 Nhờ đó, cá nhân này tối đa hóa mức thỏa dụng
đã chiết khấu µ
Trong mô hình Grossman, sức khỏe và sự sung túc là hai tài sản tương quanvới nhau Giá trị của chúng được quản lý tối ưu qua thời gian bởi các cá nhân.Trong trường hợp sức khỏe, mức thỏa dụng biên của việc có thêm một đơn vị vốnsức khỏe gồm một phần tiêu dùng và một phần đầu tư Tổng của chúng phải bằngvới chi phí biên của việc có thêm một đơn vị vốn sức khỏe
Hàm cầu cho dịch vụ y tế chỉ ra mức cầu để có chi phí thấp nhất đối với cácdịch vụ y tế cho một vốn sức khỏe (không nhất thiết phải tối ưu) cho trước H1 Cầusức khỏe và dịch vụ y tế theo tính chất đã nêu phụ thuộc vào mức lương, mức giádịch vụ y tế, giáo dục và sự sung túc Trong mô hình nhiều giai đoạn, cả hàm cầusức khỏe và dịch vụ y tế phụ thuộc yếu tố tuổi tác nếu tỷ lệ hao mòn vốn sức khỏetăng lên theo thời gian
2.1.2 Lý thuyết đo lường phúc lợi
Theo lý thuyết kinh tế, hàm hữu dụng gián tiếp thường dùng để mô tả mứchữu dụng tối đa của cá nhân sẽ đạt được do phải chi một phần thu nhập (Y), cho sựcung ứng của một sản phẩm nào đó từ mức độ hiện nay (H0) đến mức trong tươnglai (H1), và ứng với giá cả hàng hóa nhất định (P) Trong trường hợp nghiên cứunày, hàng hóa là chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà và hiện tại nó chưa
có trên thị trường tại Bệnh viện quận Tân Phú Ngoài ra, mức hữu dụng của cá nhâncòn được giả định là phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế và xã hội khác (S) đại diệncho sự ưa thích của cá nhân Với những giả định nêu trên, hàm hữu dụng gián tiếpcủa cá nhân có thể viết dưới dạng tổng quát như sau (Bateman và cộng sự, 2002;Hanemann, 1994):
Trang 15Ԑi: là sai số đại diện cho những yếu tố khác của mức hữu dụng mà cá nhânbiết, nhưng nhà nghiên cứu không thể biết (quan sát).
Trong những trường hợp phổ biến thì mức hữu dụng của cá nhân được kỳvọng là sẽ đạt được mức cao hơn khi thu nhập tăng và khi giá hàng hóa giảm Trong nghiên cứu này, khi gia tăng cung cấp dịch vụ y tế tốt hơn sẽ mang lại
sự cải thiện sức khỏe tốt hơn Khi đó, với chất lượng dịch vụ y tế là (H1), cá nhân sẽ
có mức hữu dụng (U1) cao hơn so với chất lượng dịch vụ y tế ban đầu (H0) là (U0)
U0 (Y, P, S, H0, Ԑi) < U1 (Y, P, S, H1, Ԑi) (3.2)
Trong nghiên cứu CVM, câu hỏi về giá sẵn lòng trả cho biết số tiền đối đa mà
cá nhân sẽ sẵn lòng trả để được thụ hưởng một mức độ thay đổi về chất lượng dịch
vụ y tế tốt hơn
Trong mô hình mức hữu dụng của nghiên cứu này, cá nhân được giả định là
họ sẽ so sánh mức hữu dụng hiện tại khi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tạibệnh viện với mức hữu dụng sẽ có được sau khi họ sử dụng dịch vụ chăm sóc sứckhỏe tại nhà Vì cá nhân sẽ có mức hữu dụng cao hơn (U1) với chất lượng dịch vụ y
tế (H1), lý thuyết kinh tế giả định rằng cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra một số tiền nào đó
để có được chất lượng dịch vụ y tế (H1) Nói cách khác WTP được mô tả là số tiềntối đa mà cá nhân sẽ chi trả để bảo đảm là mức hữu dụng của mình tại mức chấtlượng dịch vụ y tế cao ngang bằng (tương tự) với mức hữu dụng của mình tại mứcchất lượng dịch vụ y tế thấp trước đây
WTP trong phương trình (3.3 và 3.4) là giá trị thay đổi đền bù Hicksian dùng
để đo lường sự thay đổi trong phúc lợi (Bateman và cộng sự, 2002; Hanemann,1994)
Dựa theo phương trình (3.4), WTP là một hàm số của các biến trong mô hình,
và được viết dưới dạng tổng quát như sau:
Trang 16Trong đó, H0, H1 là chất lượng dịch vụ y tế trước và sau khi cải thiện; Y là thunhập của cá nhân; P là giá của dịch vụ; và S là véc tơ các biến số kinh tế – xã hội.Theo lý thuyết kinh tế, có một điểm khác cần lưu ý là mức WTP cao nhất trongphương trình (3.5) mà cá nhân có thể chi trả bị giới hạn bởi khả năng chi trả của họ– thu nhập Biến số thu nhập thích hợp nhất trong trường hợp nghiên cứu WTP làthu nhập còn lại của cá nhân (Y1) sau khi chi tiêu cho các khoản cần thiết khác (ăn,mặc, ở, đi lại, giải trí) Nói cách khác là WTP của cá nhân chỉ có thể bằng hoặc thấphơn thu nhập còn lại của họ, và phải lớn hơn hoặc bằng zero Đối với các hàng hóadịch vụ y tế giá trị WTP âm là vô nghĩa, vì nếu hàng hóa đó không mang lại thêm gìcho mức hữu dụng của cá nhân thì không cần phải cung cấp
0 ≤ WTP (H 0 , H 1 , Y, P, S, Ԑ i ) = H (WTP) + Ԑ i ≤ Y (3.6)
Ký hiệu H trong phương trình (3.6) là giá trị kỳ vọng của WTP Mô hình (3.6)
là mô hình lý thuyết cơ bản để nghiên cứu về WTP của cá nhân trong các nghiêncứu về CVM, được áp dụng trong nghiên cứu này
2.2 Một số nghiên cứu liên quan
2.2.1 Các nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện được thực
hiện khá nhiều tại Việt Nam, chủ yếu tập trung đánh giá tình trạng quá tải bệnh việnhay phân loại bệnh nhân đến bệnh viện Tuy vậy, có rất ít nghiên cứu thực sự phântích sâu về sở thích, nhu cầu của người bệnh đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tạibệnh viện
Lê Quang Cường và cộng sự (2007) đánh giá tình hình quá tải tại một số bệnhviện tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Tất cả các bệnh viện được điều tra đềuhoạt động vượt công suất thiết kế: công suất sử dụng giường bệnh luôn từ 165 đến200%; số giường bệnh thực kê vượt so với số giường chỉ tiêu đến 200%; Số ngày sửdụng thực tế trung bình 1 giường bệnh/năm dao động từ 390 –774 ngày/giườngbệnh/năm (bình thường 280 ngày/giường/năm) Tình trạng quá tải xảy ra ở cả khuvực điều trị nội trú và khám bệnh ngoại trú Đối với bệnh viện đa khoa, tình trạng
Trang 17quá tải trong điều trị nội trú chủ yếu chỉ xảy ra ở các khoa điều trị các bệnh mạntính, khó chữa.
Trương Đức Tuấn và cộng sự (2015) Khảo sát nhu cầu khám chữa bệnh tạiKhoa Khám bệnh tại Bệnh viện 19-8 trong trong 3 năm (2013-2015) cho thấy sốlượng bệnh nhân đến ngày càng tăng, đối tượng chủ yếu là BHYT, nhân dân và cán
bộ chiến sỹ trong ngành Tuổi thường gặp là tuổi trưởng thành và người cao tuổi.Nhóm bệnh chiếm tỷ lệ lớn hơn cả là Đông y, Tim mạch, Truyền nhiễm, Sản khoa,Chấn thương, Tiết niệu, Ung bướu, Hồi sức cấp cứu số lượng bệnh nhân đến khámtăng 3%/ 1 năm, đối tượng chủ yếu là BHYT (44,2%), nhân dân (33,5%) và cán bộchiến sỹ trong ngành (22,3%) Tuổi thường gặp là tuổi trưởng thành và người caotuổi (98%) Nhóm bệnh chiếm tỷ lệ lớn hơn cả là Đông y, Tim mạch, Truyềnnhiễm, Sản khoa, Chấn thương, Tiết niệu, Ung bướu
Các nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà của người dân,
người bệnh điều trị ngoại trú đã được thực hiện khá nhiều ở một số tỉnh/thành phốmiền Bắc và miền Trung và ở đối tượng người cao tuổi Tuy vậy, chưa có nghiêncứu thật sự phân tích sâu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điềutrị nội trú tại các tỉnh/thành phố miền Nam
Phạm Nhật An Cơ (2009) điều tra về thực trạng chăm sóc sức khỏe tại hộ giađình thì phụ nữ sau đẻ được cán bộ chuyên môn chăm sóc tại nhà ở các tỉnh/ thànhphố phía Bắc có tỉ lệ khá cao (66,7% - 80,0%) so với các địa phương khác (29,7% -40%); người bệnh mạn tính có cán bộ chuyên môn tới hỗ trợ tại nhà chiếm từ 3,7%-21,4%
Bùi Thùy Dương (2010) đã tiến hành nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu chămsóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân tại bệnhviện Đại học Y Hà Nội năm 2010 cho thấy có 51.1 % đến 70.9% khách hàng chorằng bệnh viện nên triển khai các dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà Bệnh nhân
và người nhà bệnh nhân đều có nhu cầu cao sử dụng dịch vụ CSSK ngoài giờ vàtại nhà (53.3% - 90.3%), nhất là dịch vụ khám vào ngày thứ 7 và chủ nhật
Trang 18Trần Thị Hạnh (2008) đánh giá mối quan hệ giữa nhu cầu CSSK và thực trạngCSSKTN của người cao tuổi Hầu hết người cao tuổi tự thực hiện những sinh hoạtthường ngày (91%) Khi họ bị bệnh, hơn một nữa vẫn tự chăm sóc mình Gia đình
họ có trách nhiệm khoảng 22% cho toàn bộ hoạt động Vai trò cán bộ y tế đối vớiCSSKTN cho người cao tuổi mờ nhạt
Hoàng Trung Kiên và cộng sự (2013) với nghiên cứu khảo sát sức khỏe và nhu cầu CSSK của người cao tuổi tại bốn xã huyện Đông Anh, Hà Nội cho thấynguyện vọng chủ yếu của người cao tuổi là được khám chữa bệnh tại nhà với chiphí phải chăng (87,8%) và cung cấp thông tin phòng bệnh, CSSK (82,7%) Vàkhông có sự khác biệt về tình trạng và nhu cầu CSSK của người cao tuổi ở bốn xãnghiên cứu
Trần Thanh Long (2010) tiến hành nghiên cứu khảo sát nhu cầu dịch vụ chămsóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người sử dụng dịch vụ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010 và kết quả cho thấy rằng hầu hết các đối tượng đến khám bệnh đều có nhu cầu với các dịch vụ khám buổi chiều ngày thường, khám ngoài giờ ngày thường, khám ngày thứ 7 và chủ nhật và khám tại nhà với tỉ lệ lần lượt là 55,3%, 62,5%, 64,3% và 64,3% Nghiên cứu này cũng đã đưa ra được rằnghầu hết người sử dụng dịch vụ đều có khả năng chi trả các dịch vụ y tế CSSK ngoàigiờ và tại nhà, đặc biệt là khám ngoài giờ ngày thường Đối với dịch vụ khám ngoàigiờ ngày thường, tỷ lệ người sử dụng có nhu cầu về dịch vụ này đều đạt trên 70% Đặng Thị Lan Phương (2009) nghiên cứu về thực trạng và nhu cầu CSSK hộ gia đình tại tỉnh KonTum cho thấy phần lớn mọi người đều muốn có bác sĩ, cán bộ
y tế khám và CSSK tại nhà Khám, chăm sóc, tư vấn hướng dẫn người bệnh mãn tính tại nhà đạt tỷ lệ cao có 53,8%, được tư vấn huấn luyện điều trị là 15,4 %,
số người không được tư vấn huấn luyện điều trị là 69,2%, có thể nhận thấy ngườidân có nhu cầu chăm sóc nhưng sự đáp ứng các dịch vụ y tế còn chưa đầy đủ Nguyễn Văn Sỹ (2009) nghiên cứu về thực trạng và nhu cầu CSSK hộ giađình tại tỉnh Yên Bái cho thấy tại đây người dân chỉ đi khám sức khỏe khi có vấn đề
về bệnh tật chiếm 42,7%, khi có ốm đau họ tự chữa ở nhà với tỉ lệ 21,9% sau đó
Trang 19mới đến các cơ sở y tế khác của nhà nước vì họ cho rằng đến cơ sở y tế nhất làkhông phải tuyến y tế cơ sở thì rất phiền hà và tốn kém Khi chăm sóc người nhàmắc bệnh mãn tính họ tự tìm hiểu cách chăm sóc cho người nhà mình vì do thiếunhân lực cán bộ y tế đến tư vấn hỗ trợ chỉ có ở mức 35,7%.
Nguyễn Huyền Trang (2012) đưa ra các kết luận thống kê về nhu cầu chămsóc sức khỏe ở Hải Dương Những người đã bị ốm và đã từng đi khám ở các cơ sởkhám chữa bệnh tại bệnh viện huyện, cơ sở y tế tư nhân, trạm y tế xã hoặc từngkhám tại nhà đều có nguyện vọng được sử dụng dịch vụ khám tại nhà cao hơn cácđối tượng chưa sử dụng các dịch vụ khám bệnh kể trên cao gấp 3,87; 16,15; 1,70;2,18 lần
2.2.2 Các nghiên cứu ngoài nước:
Nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà đã được thực hiện nhiều
ở một số nước trên thế giới Các nghiên cứu cho thấy thể chất, tình trạng sức khỏe,thu nhập, tình trạng bảo hiểm, phương tiện đi lại, khoảng cách từ nhà đến bệnh viện,chi phí dịch vụ khám bệnh tại nhà có mối liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụchăm sóc sức khỏe tại nhà
Shipman C & Dale J (1999) nghiên cứu về sự đánh giá của bác sỹ đối vớinhu cầu khám chữa bệnh ngoài giờ theo các nhu cầu về thể chất, tâm sinh lý(psychological/emotional) và xã hội ở một vùng của Vương quốc Anh 66% các yêucầu khám bệnh ngoài giờ có liên quan đến các yêu cầu về thể chất, tâm sinh lý(psychological/emotional) và xã hội và 10.7% các trường hợp là không xác địnhđược mối liên quan
Salisbury (2002) xem xét các nghiên cứu nhu cầu về dịch vụ khám bệnh ngoàigiờ của bác sỹ ở nước Anh cho biết, tất cả các dịch vụ khám bệnh ngoài giờ đềutính chi phí gia tăng (night visit fee) Chi phí này khác nhau giữa các vùng, trình độ
và các bác sỹ khác nhau
Kajal (2003) tiến hành nghiên cứu phân tích nhu cầu dịch vụ chăm sóc sứckhỏe ngoại viện của các cựu chiến binh được hỗ trợ bởi Medicare phát hiện rằng sốtiền chênh sau khi được Medicare hỗ trợ và khoảng cách từ nhà đến bệnh viện làm
Trang 20giảm khả năng lựa chọn dịch vụ chăm sóc ngoại viện Một số yếu tố khác như thunhập, tình trạng bảo hiểm, phương tiện đi lại, công việc, sức khỏe và tình trạng cácchẩn đoán cũng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ chăm sóc sức khỏengoại viện
LG Glynna, M Byrnea, J Newellb and AW Murphya (2004) nghiên cứu về sựảnh hưởng của tình trạng sức khỏe đối với sự hài lòng của người bệnh khi sử dụngdịch vụ ngoài giờ được bác sỹ gia đình cung cấp ở Cộng hòa Ireland cho thấy ngườibệnh có tình trạng sức khỏe yếu hơn có mức độ hài lòng cao hơn với dịch vụ này.Đồng thời họ cũng khuyến nghị đây là một trong các chỉ số để triển khai dịch vụngoài giờ
Eric và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu về nhu cầu khám, chăm sóc vàđiều trị ngoài giờ trong dịch vụ khám bệnh và cấp cứu ở Hà Lan thấy rằng bác sỹtiếp nhận 88% thăm khám ngoài giờ, trong khi đó bộ phận cấp cứu chỉ phải tiếpnhận 12% các dịch vụ này Phần lớn các nhu cầu khám ngoài giờ của các đối tượngnam giới trưởng thành là các chấn thương, trong đó có 19% là các chấn thương gẫyxương
Trang 21CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khung phân tích
3.2 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
3.2.1 Nội dung của Phương pháp
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method – CVM)được sử dụng để ước tính nhu cầu của bệnh nhân thông qua giá sẵn lòng trả chodịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE TẠI NHÀ
Đặc tính cá nhân:
Mức lương, Giáo dục, Tuổi tác, Sự sung
túc (Grossman (1972b)
Tuổi tác, Tình trạng sức khỏe
(Wagstaff (1986) và Leu và Gerfin (1992))
Giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe
tại nhà Sản phẩm thay thế (Sự hài lòng chất lượng dịch vụ tại bệnh viện)
Trang 22Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) được gọi là phương pháp "tuyên bố
sở thích", bởi vì nó yêu cầu người trực tiếp trả lời nêu giá trị của họ, chứ không phải
là các giá trị từ sự lựa chọn thực tế
CVM dùng các kỹ thuật phỏng vấn cá nhân để định giá loại hàng hóa hay dịch
vụ vốn không có trên thị trường CVM là một hình thức nghiên cứu thị trường, ở đó
“sản phẩm” là sự thay đổi trong môi trường CVM khác với nghiên cứu thị trườngchung là ở chỗ nó đề cập đến một sự kiện mang tính giả thiết
CVM bao gồm các cuộc phỏng vấn cá nhân, các cuộc điều tra bằng thư và cáccuộc điều tra qua điện thoại để biết được mức giá sẵn lòng trả của người tiêu dùng
về các hàng hóa không có trên thị trường dựa trên một kịch bản giả định để đolường các giá trị liên quan đến các hàng hóa
Ưu điểm của CVM: ít tốn chi phí hơn so với phương pháp thử nghiệm thực tếthị trường, không cần dựa vào nguồn dữ liệu thứ cấp như các phương pháp khác
Nhược điểm của CVM: Khi sử dụng CVM, kết quả điều tra phụ thuộc vào cácđiều kiện của thị trường giả định, cách đặt vấn đề của người điều tra, cách chọn mẫulàm cho câu trả lời của các cá nhân không đúng với giá trị thực
Theo một số tác giả, có một số trở ngại tiềm ẩn đối với nhà phân tích thiếuthận trọng sẽ làm sai lệch:
(1) Nói ít đi giá sẵn lòng trả (Willing To Pay – WTP): cho rằng bản chất giảthuyết của CVM làm cho câu trả lời của các cá nhân không đúng với sự thật, có xuhướng nói bớt đi cái giá mà người ta sẽ thực sự trả Tuy vậy phần bớt này tương đốinhỏ nên không phải vấn đề nghiêm trọng
(2) Giá sẵn lòng trả (WTP) hay giá sẵn lòng chấp nhận (Willing To Accept –WTA) không tương đồng: Khi đem so sánh giữa mức giá sẵn lòng trả (WTP) vàmức giá sẵn lòng nhận bao nhiêu (WTA) để được bồi thường cho việc từ bỏ dịch vụnày, bao giờ WTA cũng cao hơn WTP rất nhiều
Khi đem so sánh hai dạng trên các nhà phân tích cho rằng mức sẵn lòng chấpnhận WTA cao hơn mức sẵn lòng trả WTP rất nhiều, trên lý thuyết mức sẵn lòng trả
và chấp nhận có giá trị tương đương nhưng thực tế khác nhau hoàn toàn
Trang 23So sánh khi hỏi về mức giá sẵn lòng trả – WTP, người được hỏi thường trả lờimức sẵn lòng trả tối thiểu, nhưng khi hỏi về mức giá sẵn lòng chấp nhận – WTA, họ
sẽ trả lời mức chấp thuận tối đa, vì mức sẵn lòng trả chịu ảnh hưởng bởi giới hạnthu nhập của người được phỏng vấn còn mức sẵn lòng chấp nhận thì không bị ảnhhưởng Điều này có thể được giải thích rằng sự ưa thích và lựa chọn của con ngườikhông hoàn toàn giống nhau
WTP thể hiện mức độ ưa thích của một cá nhân về một mặt hàng nào đó Ởđây mặt hàng đó là dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, là một mặt hàng mà chỉ khi
cá nhân nhận thức được giá trị của chi phí cơ hội của thời gian di chuyển, thời gianchờ đợi khám bệnh và thu nhập bị mất do phải nghỉ làm để đi khám chữa bệnh; sự
an toàn, sự tiện ích khi được khám bệnh tại nhà; tình trạng sức khỏe không bị giảm
đi do những yếu tố khách quan trong quá trình di chuyển và đến bệnh viện khámchữa bệnh
Còn WTA thì ngược lại là khi họ không thích một điều gì đó, họ cũng sẽ sẵnlòng trả một mức giá nào đó để tránh nó hoặc sẵn lòng chấp nhận mức đền bù nào
đó để chịu đựng điều mà họ không thích
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp thường được áp dụng nhiều trong tất cả cácnghiên cứu, nhất là trong phương pháp định giá ngẫu nhiên, nó giúp người điều tra
và người được phỏng vấn gần gũi, thân thiện, dễ dàng trao đổi các thông tin, đưa ranhiều tình huống giả định, đồng thời kết hợp nhiều dẫn chứng, minh họa để chứngminh tình huống nào tốt nhất để người được hỏi so sánh lựa chọn, kết quả chấtlượng cuộc phỏng vấn được tốt hơn Hạn chế của phương pháp này đòi hỏi người điđiều tra phải nắm vững chuyên môn yêu cầu mục đích của việc điều tra, các tìnhhuống giả định để phân tích, tốn nhiều thời gian, chi phí và công sức
(3) Thiên lệch một phần – toàn phần: Nếu người lần đầu tiên được hỏi WTPtrả cho một phần tài sản và sau đó được hỏi đánh giá cho toàn bộ thì số tiền đượcphát biểu là như nhau vì tổng ngân sách của họ ổn định, do đó dễ sai lệch khi hỏiquy mô rộng lớn
Trang 24(4) Thiên lệch điểm khởi đầu: Do ban đầu gợi ý cho người trả lời đưa ra mứctrả khởi đầu từ thấp đến cao hoặc từ cao xuống thấp, thì việc lựa chọn mức khởi đầunày sẽ ảnh hưởng đến sự trả lời WTP của họ
(5) Thiên lệch theo phương tiện: Khi xây dựng câu hỏi WTP người thiết kếđiều tra phải xác định rõ phương tiện đóng góp Với mỗi phương tiện đóng gópkhác nhau như: bằng tiền mặt, bằng tài khoản thì mức WTP cũng khác nhau Tùythuộc vào điều kiện cụ thể mà chúng ta xác định phương tiện đóng góp hay sử dụngnhất để tránh trở ngại này
Khi thực hiện nghiên cứu này thì dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà chưa đượctriển khai tại Bệnh viện quận Tân Phú, vì thế nghiên cứu này sử dụng phương phápđánh giá ngẫu nhiên để xác định nhu cầu của người bệnh và cách hỏi mức giá sẵnlòng trả (WTP) để xác định mức giá sẵn lòng trả của người bệnh tại Bệnh viện quậnTân Phú cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
3.2.2 Các bước thực hiện CVM
Để thu thập dữ liệu hữu ích và cung cấp kết quả có ý nghĩa, nghiên cứu nàythực hiện khảo sát đánh giá ngẫu nhiên, kiểm tra trước, thực hiện câu hỏi khảo sáttập trung vào dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà và một bối cảnh cụ thể được xácđịnh rõ ràng để người trả lời khảo sát hiểu rõ hiệu quả của dịch vụ CSSKTN, vàthực sự nói rõ giá trị sẵn lòng trả của họ đối với các dịch vụ này khi họ trả lời cáccâu hỏi định giá Quá trình thu thập dữ liệu được thực hiện như sau:
Bước 1: Xác định các mục tiêu cụ thể:
Xây dựng các công cụ cho điều tra gồm các phương tiện mà dựa trên nguyên
lý để tìm ra WTP/ WTA của các cá nhân, và để thực hiện các việc đó cần:
Xác định đối tượng cần được đánh giá
Thiết kế một kịch bản giả thiết
Thiết lập giá trị cần được ước lượng và đơn vị đo lường qua việc chọn lựa câuhỏi WTP hay WTA bởi vì trong mỗi hoàn cảnh khác nhau thì phương cách trả lờikhác nhau
Xác định đơn vị thời gian của WTP/ WTA
Trang 25Xác định đối tượng phỏng vấn.
Bước 2: Thiết kế bảng câu hỏi, gồm các phần:
Giới thiệu
Thông tin cá nhân
Đặc điểm nghiên cứu
Tình huống giả định
Câu hỏi WTP
Thông tin kinh tế
Bước 3: Tiến hành khảo sát:
Xác định phương pháp lấy mẫu
Quyết định tiến hành phỏng vấn như thế nào, ở đâu và khi nào
Huấn luyện phỏng vấn viên
Thực hiện phỏng vấn
Bước này là bước quyết định ban đầu của cuộc điều tra, bao gồm cách tiếnhành điều tra bằng gửi thư điện tử, gọi điện hay điều tra trực tiếp người dân; kíchthước mẫu tiến hành điều tra bao nhiêu, đối tượng điều tra là ai và các thông tin liênquan khác trong bảng hỏi Câu trả lời cho những vấn đề này dựa vào những thôngtin khác nhau như tầm quan trọng của vấn đề định giá, tống họp các câu hỏi đượchỏi, và chi phí tiến hành điều tra
Bản thân cuộc phỏng vấn nhìn chung ảnh hưởng bởi tống hợp các câu hỏi vì
nó thường dễ dàng hơn để giải thích xung quanh thông tin được yêu cầu trả lời.Người phỏng vấn thường phải tiến hành điều tra trong thời gian dài do người đượchỏi thiếu thông tin về vấn đề nghiên cứu Trong một số trường hợp, những sự giúp
đỡ cần thiết là cung cấp video hay tranh ảnh màu cho đối tượng hỏi để họ hiểu đượcđiều kiện giả định mà họ sẽ định giá
Trong quá trình điều tra thì phỏng vấn là quan trọng nhất Tuy nhiên, quá trìnhđiều tra bằng gửi thư điện tử với mục đích tỉ lệ trả lời cao có thể cũng khá đắt giá.Điều tra bằng cách gọi điện hoặc gửi thư điện tử rất ngắn gọn Điều tra bằng cáchgọi điện thoại có thể chi phí thấp hơn nhưng thông thường rất khó để hỏi những câu
Trang 26hỏi CVM đối với đối tượng hỏi bởi vì giới hạn số lượng xung quanh thông tin yêucầu.
Trong trường hợp giả định tiến hành bằng gửi thư điện tử thì người điều tramuốn khảo sát một mẫu rộng, trên nhiều vùng địa lý và hỏi những câu hỏi về vị trí
cụ thể và lợi ích của nó; cái mà dễ dàng được miêu tả trong bài viết
Bước 4: Xây dựng cơ sở dữ liệu và phân tích số liệu:
Thu thập và kiểm tra dữ liệu
Loại bỏ các bảng câu hỏi không phù hợp
Xây dựng cơ sở dữ liệu
Phân tích dữ liệu
Bước 5: Ước lượng mức WTP:
Bước này là bước hoàn thành phân tích và báo cáo kết quả Dữ liệu được phântích bằng các phần mềm thống kê để xác định các thông số cần thiết cho báo cáonhư trung bình của mẫu, WTP trung bình
Sau khi đã tính toán xong cần phân tích độ nhạy tức là xem xét sự thay đổi củagiá trị đã tính toán trước sự biến động của thị trường Cụ thể, xem xét liên quan đến
tỷ số chiết khấu và biến động về giá trị ròng trong thực hiện đưa vào phân tích chiphí – lợi ích sức khỏe và đó là kết quả chúng ta đề xuất cho các nhà hoạch địnhchính sách và sử dụng
3.2.3 Phương pháp hỏi giá sẵn lòng trả (WTP)
Mục đích chính của CVM là để suy ra giá trị mà người ta gán cho loại “sảnphẩm” đang nghiên cứu và khả năng chi trả thực tế Hỏi các cá nhân về số tiền tối
đa mà họ sẵn lòng trả (WTP) để sử dụng “sản phẩm” đó hay số tiền mà họ sẵn lòngchấp nhận (WTA) để từ bỏ “sản phẩm”
Trang 27thông tin Câu hỏi mở giúp tránh được thiên lệch từ phía người hỏi nhưng có thể bịthiên lệch từ phía người trả lời Thông tin phong phú nhưng xử lý thông tin và phântích dữ liệu khó hơn.
b) Bidding games: Phỏng vấn viên đưa ra mức giá đầu tiên và yêu cầu ngườiđược phỏng vấn trả lời Nếu được trả lời "Có", phỏng vấn viên sẽ đưa ra giá ngàycàng cao cho đến khi người được phỏng vấn trả lời "không" và ngược lại Đây chính
là mức sẵn lòng trả tối đa của người trả lời Với cách hỏi này, thông thường trongcác nghiên cứu, người tổ chức thường chia số mẫu phỏng vấn thành nhiều nhóm vàmỗi nhóm sẽ có một mức giá khởi đầu khác nhau
Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là các sai lệch xảy ra trong mứcgiá khởi đầu Mức giá khởi đầu quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến kết quảcuối cùng của nghiên cứu
c) Payment card: Một loạt các mức giá được viết lên thẻ và người trả lời đượcyêu cầu chọn một mức giá Cách hỏi này thường đem lại mức sẵn lòng trả thấp, vìtrong một loạt mức giá được ghi trên thẻ thì các mức giá thấp thường được ngườitrả lời chú ý hơn
d) Câu hỏi đóng : Có hai cách hỏi dưới đây
Single – Bounded Dichotomous Choice: Tiến hành phân khoản từ mức WTP
kì vọng cao nhất đến WTP kì vọng thấp nhất Tại mỗi mức giá này, sẽ tiến hành hỏimột nhóm đối tượng phỏng vấn, người được phỏng vấn sẽ trả lời “đồng ý” hay
“không đồng ý” với mức giá này
Ưu điểm: giúp người trả lời dễ quyết định
Nhược điểm: phải đảm bảo mức độ tin cậy trong việc lấy mẫu ngẫu nhiên.Double – Bounded Dichotomous Choice: Trong phương pháp này, người đượcphỏng vấn sẽ được hỏi một câu hỏi “ Có - Không” về việc họ sẵn lòng trả mộtkhoản tiền nhất định cho mục đích mà nó đã được mô tả Nếu họ trả lời “có” thì câuhỏi này sẽ được lặp lại với một số tiền lớn hơn, nếu họ trả lời “không” thì câu hỏithứ hai sẽ hỏi với một khoản tiền nhỏ hơn Điều này được lặp lại cho đến khi WTPcuối cùng được xác định
Trang 28Hiện tại, dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà chưa triển khai tại Bệnh viện quậnTân Phú, trên 90% người bệnh sử dụng dịch vụ BHYT và có thu nhập không cao,trình độ học vấn đa số dưới trung cấp Để giúp người bệnh dễ dàng trả lời cho quyếtđịnh về mức giá dịch vụ, và đảm bảo giá trị ròng trong thực hiện đưa vào phân tíchchi phí đề xuất cho các nhà hoạch định chính sách giá, nghiên cứu này chọn cáchhỏi WTP (mức giá tối đa mà người bệnh sẵn lòng trả để sử dụng dịch vụ) với dạngcâu hỏi Single – Bounded Dichotomous Choice để xác định khoản WTP kỳ vọng.
Với: 01 bid = 01 mức giá ước lượng
Trong nghiên cứu này, với ước lượng 06 mức giá sẵn lòng trả lần lượt là:100.000đ, 200.000đ, 250.000đ, 300.000đ, 400.000đ, 500.000đ
Dự trù 10% những trường hợp phiếu khảo sát không đảm bảo đủ thông tinhoặc mất mẫu Cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu là n = 264 người dân Thực tế khảosát trên 306 người bệnh
Khảo sát tiến hành tại 04 khoa Nội, Ngoại tổng hợp, Sản, Nhi với số ngườibệnh được khảo sát tại mỗi khoa là n1 = n2 = n3 = n4 = 264/4 = 66 người
Với 06 mức giá, mỗi mức giá có 11 quan sát/khoa
Kỹ thuật chọn mẫu:
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
Tiêu chuẩn chọn vào:
Người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú đáp ứng các tiêu chuẩnsau:
Người bệnh từ 16 tuổi trở lên đủ năng lực hành vi dân sự, đồng ý trả lời phiếukhảo sát, đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 29Người bệnh là trẻ em dưới 16 tuổi hoặc những người bệnh gặp khó khăn trongvận động, giao tiếp hoặc bệnh nặng thì khảo sát người nhà trực tiếp chăm sóc và chitrả viện phí cho người bệnh.
Ngay thời điểm lấy mẫu đã điều trị nội trú ≥ 24 giờ và trước thời gian xuấtviện trong vòng 24 giờ sẽ được khảo sát cho đến khi đủ số cỡ mẫu tại từng khoa.Tiêu chuẩn loại ra:
Người bệnh đang trong tình trạng rất nặng hoặc đang trong tình trạng cấp cứuhoặc đang được điều trị hồi sức tích cực
Người bệnh điều trị nội trú chuyển viện đến bệnh viện khác tiếp tục điều trị.Người bệnh chưa kết thúc đợt điều trị nội trú nhưng xin ra viện hoặc trốn viện(bỏ về không trở lại điều trị tiếp)
Thời gian thu thập dữ liệu: từ ngày 01/8/2016 cho đến khi đủ mẫu
3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Công cụ thu thập dữ liệu:
Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phiếu khảo sát
Người bệnh/ người nhà người bệnh được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏithiết kế sẵn của phiếu khảo sát
Bộ công cụ thu thập dữ liệu sẽ được thử nghiệm với 48 quan sát (02 quan sát/mức giá với 06 mức giá, tại 04 khoa) trước khi đưa vào áp dụng chính thức để thuthập dữ liệu cho nghiên cứu
Bộ câu hỏi thu thập thông tin của người bệnh/ người nhà người bệnh gồm 03phần: Phần I – Thông tin cá nhân (Tuổi, giới, học vấn, nghề nghiệp…); Phần II –Thông tin về dịch vụ; Phần III – Thông tin kinh tế
Quy trình thu thập dữ liệu:
Ngay sau khi đề cương nghiên cứu được thông qua cùng với sự chấp thuậncho tiến hành nghiên cứu của Hội đồng Khoa học Công nghệ – Bệnh viện quận TânPhú => thực hiện nghiên cứu thử
Trang 30Bước 1: Tập huấn cho các điều tra viên về phương pháp và nội dung thu thậpthông tin phiếu khảo sát, giải thích các thắc mắc liên quan đến quy trình nghiên cứutrong thời gian 01 buổi
Bước 2: Thực hiện thu thập dữ liệu nghiên cứu thử với 48 mẫu quan sát Xử lý
dữ liệu và hiệu chỉnh phiếu khảo sát
Bước 3: Thu thập dữ liệu nghiên cứu chính thức
Bước 4: Xử lý dữ liệu, phân tích kết quả
3.4 Các biến số/chỉ số nghiên cứu
Biến phụ thuộc Y: là biến giả (dummy), quyết định đồng ý sử dụng dịch vụ
CSSKTN, nhận giá trị 1 khi người được phỏng vấn trả lời có nhu cầu sử dụng dịch
vụ và nhận giá trị 0 khi người được phỏng vấn trả lời không có nhu cầu sử dụngdịch vụ
Biến phụ thuộc Y được xây dựng thông qua tình huống giả định và câu hỏiWTP nhu sau
Tình huống giả định trong phiếu khảo sát CVM:
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện
Mất thời gian di chuyển từ nhà đến bệnh
viện trong khoảng 30 phút
Mất thời gian chờ đợi khám bệnh cho 01
đợt khám khoảng 120 phút – 180 phút
Thời gian khám bệnh và được tư vấn chăm
sóc sức khỏe ít hơn
Không được chủ động chọn giờ khám bệnh
Không đảm bảo sự riêng tư và bí mật về
tình trạng bệnh
Khi di chuyển đến bệnh viện có thể gặp
nguy hiểm, tai nạn trên đường
Mất chi phí cơ hội do nghỉ làm (người bệnh
và đôi khi của người nhà) để đi khám bệnh
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
Không mất thời gian di chuyển
Không mất thời gian chờ đợi
Thời gian khám bệnh và được tư vấnchăm sóc sức khỏe nhiều hơn
Chủ động chọn giờ khám bệnh.Đảm bảo sự riêng tư và bí mật vềtình trạng bệnh
Không cần di chuyển đến bệnh viện,
an toàn tại nhà
Không tốn chi phí cơ hội do nghỉ làm
để đi khám bệnh
Trang 31Sức khỏe về thể chất và cả tâm lý có thể
giảm do bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi
trường (nóng bức, vệ sinh, khả năng lây
nhiễm bệnh truyền nhiễm, …)
Thể chất và tâm lý thoải mái
Tuổi tuoi biến định lượng, quy đổi từ dữ liệu “Năm sinh”Giới gioi biến định tính, nhận 02 giá trị: nếu người bệnh
là nam sẽ nhận giá trị = 1, là nữ =0Dân tộc dtoc biến định tính, nhận 03 giá trị: nếu người bệnh
là dân tộc Kinh sẽ nhận giá trị = 1, Hoa = 2,dân tộc khác = 3
Nơi ở noio biến định tính, nhận 04 giá trị: người bệnh
thường trú hay tạm trú tại quận Tân Phú = 1,quận Tân Bình = 2, quận Bình Tân = 3, cácquận khác = 4
Trình độ học vấn hocvan biến định tính, nhận 06 giá trị: người bệnh có
trình độ học vấn cấp 1= 1, cấp 2 = 2, cấp 3 = 3,trung cấp/cao đẳng = 4, đại học = 5, sau đại học
= 6 Nghề nghiệp nghe biến định tính, nhận 06 giá trị: 1 = công chức,
viên chức nhà nước, 2 = cán bộ, nhân viêndoanh nghiệp ngoài nhà nước, 3 = tự kinhdoanh, 4 = nội trợ, 5 = hưu trí, 6 = khác (thấtnghiệp, già, sinh viên,…)
Thời gian làm việc lamviec biến định tính, nhận 03 giá trị: 1 = tự do, 2 =
làm ca, 3 = hành chính