1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3

145 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Luận văn Thạc sĩ Báo chí, đề tài "Vấn đề giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3" đƣợc thực hiện một cách nghiêm túc, kho

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn Thạc sĩ Báo chí, đề tài "Vấn đề giáo dục lối

sống trong chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3" đƣợc thực hiện

một cách nghiêm túc, khoa học và là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, tháng 12 năm 2017

Tác giả

Vũ Thị Đào

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với sự tìm tòi, học hỏi và nghiên cứu của bản thân, cùng với sự giúp đỡ tận tình từ giảng viên hướng dẫn, các anh chị lãnh đạo, đồng nghiệp trong cơ

quan, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình với đề tài "Vấn đề giáo dục

lối sống trong chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3"

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS.Nguyễn Trí Nhiệm, Khoa Phát thanh - Truyền hình, Học viện Báo chí - Tuyên truyền Cám ơn thầy

vì đã hướng dẫn và tạo điều kiện hết mức để tôi có thể hoàn thành Luận văn này

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Ban Sản xuất các chương trình Giải trí, lãnh đạo Phòng Trò chơi và Gặp gỡ Truyền hình 1 - nơi tôi đang công tác, cùng toàn thể các anh chị đồng nghiệp đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu này

Hà Nội, tháng 12/2017

Học viên

Vũ Thị Đào

Trang 5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

ĐH KHXH & NV Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn

Đài THVN Đài Truyền hình Việt Nam

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 1.1 So sánh những đặc điểm của truyền hình thực tế và một số thể loại chương trình truyền hình khác 25 Bảng 2.1.Danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ mua bản quyền chương trình 51 Bảng 2.2 Danh sách các cặp bố con chương trình "Bố ơi! Mình đi đâu thế?" mùa 3 52

Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức công việc ở Đài truyền hình Việt Nam 105

Sơ đồ 3.2 Các cấp duyệt chương trình truyền hình thực tế 105

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC LỐI SỐNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ 14

1.1 Một số khái niệm 14

1.2 Đặc điểm và quy trình tổ chức sản xuất của chương trình truyền hình thực tế 24

1.3 Vai trò của truyền hình thực tế trong việc giáo dục lối sống 33

1.4 Nội dung và hình thức giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế 35

1.5 Yêu cầu đối với chương trình truyền hình thực tế trong việc giáo dục lối sống 39

Chương 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC LỐI SỐNG TRONGCHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TRÊN KÊNH VTV3 43

2.1 Giới thiệu các chương trình truyền hình thực tế khảo sát trên kênh VTV3 43

2.2 Khảo sát thực trạng vấn đề giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3 52

2.3 Thành công, hạn chế và nguyên nhân thành công, hạn chế 76

Chương 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO GIÁO DỤC LỐI SỐNG TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ 87

3.1 Những vấn đề đặt ra 87

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3 100

KẾT LUẬN 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC 122

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng ra đời và phát triển g n liền với các phát minh khoa học và các sự kiện chính trị – xã hội B t đầu xuất hiện từ khoảng giữa thế k XX, truyền hình không ngừng phát triển, đặc biệt trong những năm gần đây Với thế mạnh về hình ảnh, tính chân thực của thông tin và khả năng nhanh nhạy, cập nhật không ngừng, từ khi xuất hiện đến nay, truyền hình luôn là một loại hình báo chí hấp dẫn, đã và đang mở ra một thế giới sôi động đầy màu s c, đáp ứng nhu cầu của khán giả, kể cả những người khó tính nhất

Thực tế, trong khoảng 10 năm trở lại đây, truyền hình đã và đang đổi mới một cách mạnh mẽ cả về nội dung lẫn hình thức và cách thức thực hiện chương trình để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khán giả Một kiểu chương trình mới đã xuất hiện và phát triển ở Việt Nam, thổi một luồng gió mới vào sự phát triển của truyền hình nước nhà, ngay lập tức tạo nên hiệu ứng công chúng rộng kh p Đó

chính là chương trình truyền hình thực tế (Reality Television)

Có thể nói, truyền hình thực tế là một xu hướng phát triển tất yếu của truyền hình hiện đại Đây là kiểu làm truyền hình người thật, việc thật với nội dung ít phụ thuộc vào các kịch bản viết s n, sự s p đặt và diễn xuất được hạn chế tối đa Cùng với đó, cảm tưởng, tâm sự của những người tham gia chương trình được kh c họa, làm nổi bật Sự đặc biệt của các chương trình truyền hình thực tế

là tính chân thật của sự việc Con người thật - Cảm xúc thật - Ấn tượng thật Điều

đó thu hút sự theo dõi của công chúng Nguồn lợi mà những chương trình truyền hình thực tế mang lại cho các đài truyền hình và các đơn vị sản xuất còn không

hề nhỏ Và cũng chính "lối sống, cách hành xử, suy nghĩ" của thí sinh, người trải nghiệm, nhân vật thật đó sẽ tác động trực tiếp tới người xem và vô hình chung,

nó có khả năng tạo ra "trào lưu" trong cuộc sống thật, đặc biệt là với nhóm công chúng trẻ - những người sở hữu tư duy mới mẻ, khả năng học hỏi và b t kịp xu

Trang 9

hướng nhanh nhất trong các nhóm công chúng truyền hình Điều đó có nghĩa là, nếu các chương trình truyền hình thực tế chỉ tập trung vào yếu tố giải trí, "câu kéo" khán giả bằng các thủ thuật, các "scandal" thì vô hình chung, nó lại tạo ra những tác động xấu tới công chúng Cũng như tất cả các thể loại chương trình khác vẫn phải thực hiện nhiệm vụ của báo chí nói chung và truyền hình nói riêng, gồm: chức năng tư tưởng, chức năng văn hóa, chức năng giáo dục Phải kh ng định, bên cạnh những chương trình truyền hình thực tế tốt với nội dung mang tính giải trí và ý nghĩa giáo dục cao, ngày càng xuất hiện nhiều chương trình chạy theo lợi nhuận mà bỏ qua trách nhiệm xã hội, trách nhiệm "giáo dục" của mình

VTV3 là một kênh truyền hình nằm trong hệ thống các kênh phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam, trực thuộc Ban sản xuất các chương trình Giải trí (trước là Ban Thể thao - Giải trí & Thông tin kinh tế) - một cái tên đã quá quen thuộc đối với công chúng cả nước Với phạm vi phủ sóng toàn quốc và thời gian phát sóng 24h/ngày, VTV3 được xem là một trong những kênh truyền hình hàng đầu về văn hóa, giải trí ở nước ta Đa dạng về các thể loại chương trình, cách thể hiện sinh động, hấp dẫn; dễ hiểu khi số lượng công chúng của kênh truyền hình này là hết sức đông đảo Trước áp lực cạnh tranh chung của các loại hình báo chí trong bối cảnh nền kinh tế thị trường có nhiều biến đổi và b t kịp xu hướng chung của báo chí thế giới, VTV3 đã nhanh chóng thay đổi bản thân để nâng cao sức hấp dẫn đối với công chúng truyền hình Các chương trình truyền hình thực

tế được đưa vào sản xuất, phát sóng trên VTV3 ngày một nhiều hơn và ngay lập tức tạo ra những tiếng vang lớn, kh ng định vị thế và cái tên của mình trong lòng công chúng

Hàng loạt các chương trình truyền hình thực tế như: Thần tượng âm nhạc Việt Nam (Vietnam Idol),Giọng hát Việt (The Voice), Tìm kiếm tài năng Việt Nam (Việt Nam's Got talent), Người mẫu Việt Nam (Việt Nam‟s next top model), Cặp đôi hoàn hảo, Bước nhảy hoàn vũ, Bố ơi mình đi đâu thế?, Gương mặt thương hiệu (The Face), Vua đầu bếp (Master Chef), Điều ước thứ 7 đã trở thành cái

Trang 10

tên quen thuộc với khán giả của kênh VTV3 nói riêng và Đài Truyền hình Việt Nam nói chung trong gần như toàn bộ khung vào giờ vàng trên kênh sóng này (bao gồm những chương trình mua bản quyền và cả những chương trình mang ý tưởng thực tế) Những hiệu quả của truyền hình thực tế trên kênh VTV3 là khó

có thể bàn cãi Tuy vậy, thật khó để tránh được những hạn chế đáng tiếc Sự lấn

át một cách ồ ạt của truyền hình thực tế đã khiến cho chất lượng nhiều trong số các chương trình này bị xem nhẹ Vấn đề dàn dựng; vấn đề chạy theo lợi nhuận, tạo sự cố gây chú ý trong các chương trình truyền hình thực tế xảy ra ở một vài chương trình trên VTV3 đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của kênh sóng này

Phải kh ng định, nhận được phản hồi của công chúng càng nhiều, chứng

tỏ sự tin yêu của khán giả dành cho các chương trình trên VTV3 càng lớn Chính

vì thế, ngoài chức năng giải trí, các chương trình trên kênh VTV3 còn phải tăng cường và chặt chẽ thực hiện chức năng giáo dục, đặc biệt là giáo dục lối sống của mình.Bởi lẽ, mỗi chương trình phát ra trên kênh sóng của VTV3 có ảnh hưởng tới khán giả trên phạm vi rộng kh p và tới nhiều nhóm công chúng khác nhau Trong đó, đáng lưu ý là nhóm khán giả trẻ - công chúng tiềm năng của kênh sóng này Vì thế cho nên, nếu như tập trung quá mức vào giải trí mà thiếu đi chức năng giáo dục lối sống, cách hành xử trong một vài chương trình truyền hình thực tế,đã, đang và sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển cũng như định hình lối sống của giới trẻ hôm nay

Vì những lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài“Vấn đề giáo dục lối sống

trong chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3” Truyền hình thực tế

là một đề tài không quá mới mẻ, tuy nhiên, để đi sâu vào vấn đề giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế thì quả là một vấn đề rất cần thiết ở thời điểm hiện tại và tạo tiền đề phát triển trong tương lai Thực tế, với sự phát triển quá nhanh của loại hình này cùng sức hút công chúng lớn, vấn đề tăng cường thực hiện chức năng giáo dục mà cụ thể là giáo dục lối sống trong các

Trang 11

chương trình truyền hình thực tế ngày càng trở nên cấp thiết hơn với cả người sản xuất và các cơ quan báo chí truyền hình Với đề tài này, tác giả có điều kiện thể hiện quan điểm của mình, phát hiện những vấn đề tồn tại, từ đó đóng góp ý kiến nhằm nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình thực tế ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Liên quan đến đề tài “Vấn đề giáo dục lối sống trong các chương trình

truyền hình thực tế ở Việt Nam” có một số công trình nghiên cứu đã đề cập:

Báo ch truyền hình là môn học cơ sở trong chương trình đào tạo về lý

luận và nghiệp vụ báo chí Đây là một lĩnh vực đã được các tác giả nghiên cứu nhiều

Cuốn giáo trình "Báo ch Truyền hình" của PGS.TS Dương Xuân Sơn đã

trình bày khá chi tiết các vấn đề của báo chí truyền hình như: lịch sử ra đời phát triển của truyền hình; khái niệm, đặc trưng; nguyên lý của truyền hình

"Xu hướng phát triển của ngành truyền hình Việt Nam" của tác giả Bùi

Chí Trung (2004), Chuyên san Hội thảo khoa học Khoa Báo chí MGU hướng tới

k niệm 250 năm thành lập Đại học Tổng hợp Quốc gia Mat-xco-va

Bài viết cũng đã đưa ra những dư đoán về những yếu tố hình thành xu hướng phát triển của ngành truyền hình Việt Nam, và ngay từ thời điểm đó đã manh nha những yếu tố có trong một chương trình truyền hình thực tế

Cuốn "Sản xu t chương trình truyền hình" của tác giả - TS Trần Bảo

Khánh (2002), NXB Văn hóa thông tin

Nội dung cuốn sách đã bước đầu đề cập đến nhiều vấn đề của báo chí truyền hình Tác giả cũng bước đầu nhận diện đặc điểm chính của các chương trình truyền hình hiện đại được coi là thế mạnh như: tính trực tiếp, bất ngờ và khả năng lôi cuốn khán giả cùng tham gia Đó là các chương trình mà người xem

Trang 12

hình thực tế đang diễn ra và với cách giải quyết, ứng xử của người dẫn chương trình

“Đặc điểm công chúng truyền hình giai đoạn hiện nay” – Luận án Tiến sĩ của Trần Bảo Khánh (2007), Học viện Báo chí – Tuyên truyền Công trình này

đã nghiên cứu về sự phát triển của truyền hình và nhu cầu thưởng thức chương trình nghe nhìn của công chúng truyền hình Qua đó, công trình lý giải vì sao các công ty truyền thông lại thành công trong lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình ở nhóm chương trình truyền hình Giải trí – Văn hóa nghệ thuật

“Xã hội hóa các chương trình truyền hình của ĐTH Việt Nam - khảo sát kênh VTV1 – VTV3 từ tháng 1/2007 đến tháng 6/2008” – Luận văn Thạc sĩ của

Lê Thị Thu Hoàn (2010), Học viện Báo chí – Tuyên truyền

Công trình này đã tập trung nghiên cứu về thực trạng các chương trình truyền hình đang được xã hội hóa (XHH) trên kênh sóng VTV1 – VTV3 của Đài Truyền hình Việt Nam, qua đó cho thấy những ưu điểm và hạn chế của hoạt động XHH các chương trình truyền hình

Luận văn "Xu hướng truyền hình chuyên biệt dành cho giới trẻ tại Việt Nam" của Lê Mai Hương Trà (2011), Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí

học, trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong luận văn, tác giả đã phân tích những yếu tố thu hút giới trẻ đúng với hướng đi của VTV6 Đồng thời, xác định xu hướng truyền hình dành cho giới trẻ cũng sẽ là những chương trình truyền hình thực tế mang tính trải nghiệm và có yếu tố giải trí

Luận án“Xu hướng phát triển của truyền hình Việt Nam nhìn từ góc độ kinh

tế truyền thông” – Luận án Tiến sĩ của Bùi Chí Trung (2011), ĐH KHXH & NV

"Nghiên cứu truyền hình thực tế ở Việt Nam" - Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Hằng (2012), Trường Đại học KHXH&NV

Trang 13

Luận văn này đã nghiên cứu một số chương trình truyền hình thực tế như:

S-Việt Nam, Con đã lớn khôn, Người mẫu Việt Nam (Vietnam'sNextop Model);

đưa ra những khái niệm chung nhất của truyền hình thực tế ở Việt Nam; chỉ rõ thực trạng, cách thức tổ chức các chương trình truyền hình thực tế, những điểm mạnh cũng như hạn chế của các chương trình mà tác giả khảo sát Qua đó, nhìn nhận xu hướng phát triển của thể loại chương trình truyền hình này hòa trong sự vận động không ngừng của truyền hình Việt Nam

Luận văn "Truyền hình thực tế ở Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa" của

Nguyễn Thị Thu Hương (2013), Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Luận văn đã khảo sát một số chương trình truyền hình thực tế phát sóng

trên VTV3 như: Giọng hát Việt (The Voice), Người mẫu Việt Nam (Vietnam's Nextop Model), Thần tượng Việt Nam (Vietnam's Idol), Tìm kiếm tài năng Việt Nam (Vietnam Got Talent), Cặp đôi hoàn hảo (Just the two of us) từ tháng

1/2012 - 12/2012 Qua đó thể hiện góc nhìn văn hóa từ các chương trình truyền hình thực tế đang tạo ra sức hút

Luận văn "Thực trạng sản xu t chương trình truyền hình thực tế tại VTV6

- Đài truyền hình Việt Nam" của tác giả Hoàng Quốc Lê (2013), Luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Báo chí, Học viện Báo chí và tuyên truyền

Luận văn đã nêu quy trình sản xuất của chương trình truyền hình thực tế,

khảo sát chương trình Sống khác, Sinh ra từ làng, Rec-Phiêu lưu ký từ tháng

6/2012 - 6/2013 Thông qua đó đưa ra thực trạng, thành công, hạn chế và những giải pháp trong việc sản xuất chương trình truyền hình thực tế tại VTV6

Luận văn "Quá trình Việt hóa các chương trình truyền hình thực tế mua bản quyền nước ngoài" của tác giả Đỗ Viết Hùng (2014), Luận văn thạc sĩ

chuyên ngành báo chí học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội

Trang 14

Luận văn đã nêu được thực trạng hầu hết các chương trình truyền hình thực tế đều được xây dựng theo format bản quyền nước ngoài Hơn thế nữa, cũng

so sánh được bản gốc và bản Việt để thấy được những ưu điểm và hạn chế của các chương trình truyền hình thực tế được Việt hóa

Bên cạnh những công trình nghiên cứu trong nước về truyền hình thực tế như đã nêu, trên thế giới có một số đề tài, tài liệu nghiên cứu của các nhà báo, các Đài truyền hình, các công ty truyền thông về vấn đề này Ví dụ như:

Audiences and Popular Factual Television của tác giả Annette Hill, cuốn Understanding Reality TV của tác giả Deboral Jermyn và Su Holmes, cuốn Reality TV của tác giả Mark Andrejeric, cuốn Reality TV: Reamarking Television Culture của Susan Murray, cuốn The Sociological &Psychological Impact of Reality - Based Television on the American Culture (Tác động xã hội học và tâm

lý học của truyền hình thực tế trong văn hóa Mỹ) của tác giả Tiffany J.Ruocco,

cuốn Reality TV and InterpersonalRelationship Perceptionscủa tác giả Kristin

L.Cherry

Trên các báo, các trang mạng điện tử cũng có nhiều bài viết bàn về các

vấn đề liên quan tới truyền hình thực tế như: Truyền hình thực tế cần phải phù hợp với công chúng Việt Nam [73]; Truyền hình thực tế: Thừa chương trình, thiếu tài năng [78]; Truyền hình thực tế Việt 2014: càng nhiều, càng nhạt [59]; Truyền hình thực tế - có thật thực tế?[76]; Truyền hình thực tế ở Việt Nam đã hết thời? [74]; Truyền hình thực tế: nghịch lý ch t và lượng [79];Thực tế, tử tế và tinh tế [60]; Truyền hình thực tế nh : vì trẻ con hay vì kiếm tiền? [77];“PGS-TS Nguy n Thị Minh Thái: Khán giả đã cảnh giác hơn với nước m t" [64]

So với hơn 60 năm phát triển của truyền hình thực tế trên thế giới, truyền hình thực tế ở Việt Nam còn khá mới mẻ cả về mặt lý luận và thực tiễn Nói về vấn đề giáo dục lối sống lại càng chưa có nhiều sách và các công trình khoa học nghiên cứu trực tiếp về đề tài này Đây chính là một khó khăn lớn của tác giả khi

tiếp cận và triển khai đề tài "V n đề giáo dục lối sống trong chương trình truyền

Trang 15

hình thực tế trên kênh VTV3” Bởi đối chiếu các vấn đề lý luận của truyền hình

với sự phát triển của truyền hình thực tế là một khoảng cách lớn Truyền hình thực tế có nhiều đặc điểm mà lý luận truyền hình chưa đề cập đến hoặc có đề cập

nhưng chưa thực sự sâu s c Nét mới của luận văn "V n đề giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3” là chỉ ra được tầm quan

trọng của vấn đề giáo dục qua các chương trình truyền hình thực tế, đặc biệt là giáo dục về lối sống con người Hiện trạng chạy theo lợi nhuận, đề cao giải trí, xem nhẹ tính giáo dục, tính nhân văn của một số chương trình truyền hình thực tế

ở Việt Nam hiện nay khiến cho vấn đề đó càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết

Ngoài ra, luận văn cũng kh ng những thế mạnh của truyền hình thực tế so với các chương trình truyền hình truyền thống; xu hướng phát triển của các chương trình truyền hình thực tế ở Việt Nam và cách thức sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo cân đối tính giáo dục và giải trí, nhằm phát triển các chương trình truyền hình thực tế một cách hiệu quả, bền vững, thực hiện tốt nhiệm vụ báo chí của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3 - Đài truyền hình Việt Nam từ tháng 1/2016 - 9/2017, luận văn đã đưa ra các giải pháp, cách thức sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo cân đối chức năng giáo dục lối sống và thông tin giải trí, nhằm phát triển các chương trình truyền hình thực tế một cách hiệu quả, bền vững

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ đặt ra cho luận văn:

- Nghiên cứu tài liệu, xây dựng khung lý thuyết về truyền hình,

Trang 16

truyền hình thực tế và giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế; đặc điểm, vai trò của giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế trong bối cảnh hôm nay

- Khảo sát, thống kê, phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề giáo dục lối sống của các chương trình truyền hình thực tế trên VTV3

- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục lối sốngtrong các chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3

4 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3, Đài Truyền hình Việt Nam

4.2 Đối tượng khảo sát

Tác giả tiến hành khảo sát trên 3 chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3 Cụ thể:

Chương trình Giọng hát Việt: là chương trình truyền hình thực tế xuất hiện ở Việt Nam vào năm 2012 Phiên bản gốc của nó là chương trình The Voice - một chương trình tìm kiếm tài năng ca hát Năm 2011, Đài truyền

hình NBC của Mỹ lần đầu tiên đưa chương trình này vào sản xuất Mùa thi đầu tiên đã được các đài truyền hình nổi tiếng của 47 quốc gia trên thế giới phát sóng: Canada, Pháp, Mexico, Argentina, New Zealand, Australia, Singapore, Đan

Mạch The Voice đã trở thành một trong hai chương trình uy tín, thu hút nhiều

người xem với lượng xếp hạng số 1 thế giới Năm 2012, chương trình này được Đài truyền hình Việt Nam và Công ty Cát Tiên Sa phối hợp sản xuất

Chương trình Gương mặt Thương hiệu: là phiên bản Việt Nam của cuộc thi truyền hình thực tế về nghề người mẫu quảng cáo có tên gọi The Face

tại Mỹ Chương trình do siêu mẫu Naomi Camell sáng lập Nó đã tạo ra một sức hút vô cùng lớn tại các quốc gia như Mỹ, Anh, Úc, Thái Lan

Trang 17

Ở Việt Nam, chương trình Gương mặt thương hiệu lần đầu tiên được thực

hiện bởi Đài truyền hình Việt Nam phối hợp cùng công ty Cát Tiên Sa và chính thức phát sóng vào ngày 18/6/2016 trên kênh VTV3 Chương trình đã tạo nên một làn sóng mạnh mẽ đối với công chúng Việt Nam và rất nhiều những phản hồi trái chiều Tương tự với phiên bản gốc, cuộc thi được tổ chức nhằm tìm kiếm một người mẫu xứng đáng trở thành dương mặt đại diện, đại sứ cho các nhãn hàng, thương hiệu

Chương trình Bố ơi! Mình đi đâu thế? là một chương trình truyền

hình thực tế ghi lại quá trình các ông bố nổi tiếng cùng con mình trải nghiệm cuộc sống độc lập mà không có sự chăm sóc của các bà mẹ Qua những tình huống xảy ra và cách xử lý, ứng xử của các ông bố và các em nhỏ, chương trình

có tác động trực tiếp tới việc giáo dục nhân cách trẻ em trong việc ứng xử với phụ huynh, với bạn bè và cũng đề cao tầm quan trọng của vai trò giáo dục con cái của cả bố và mẹ

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Trên kênh VTV3, Đài Truyền hình Việt Nam hiện có rất nhiều chương

trình truyền hình thực tế Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, tác giả chủ yếu

nghiên cứu vấn đề giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế đối với các khán giả là giới trẻ Chính vì thế, tác giả tập trung khảo sát 3 chương

trình truyền hình thực tế phát sóng trên kênh sóng này là Giọng hát Việt, Gương mặt thương hiệu và Bố ơi! Mình đi đâu thế?

Thời gian khảo sát: từ tháng 1/2016 - 9/2017

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về vấn đề giáo dục, giáo dục lối sống

Trang 18

Nhóm kiến thức lý luận về lý thuyết truyền thông; báo chí, báo chí truyền hình; tâm lý học giáo dục, tâm lý học báo chí, xã hội học báo chí, phương pháp nghiên cứu xã hội học

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành những phương pháp sau:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tham khảo tư liệu, tài liệu và xây dựng

khung lý thuyết của vấn đề giáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế

Phương pháp khảo sát, thống kê tác phẩm:thống kê và khảo sát số lượng tác phẩm đã phát sóng, thuộc 3 chương trình: Giọng hát Việt, Gương mặt thương hiệu và Bố ơi! Mình đi đâu thế? Từ đó, làm cơ sở phân tích, đánh giá vấn đề giáo

dục lối sống của các chương trình truyền hình thực tế ở Việt Nam

Phương pháp phân t ch nội dung: thông qua các chương trình truyền hình

thực tế, các tác phẩm cụ thể, giúp tác giả đánh giá thực trạng vấn đề giáo dục lối sống trên truyền hình thực tế Đồng thời cũng phân tích được nguyên nhân thành công và hạn chế của các chương trình truyền hình thực tế trên VTV3 hiện nay trong việc giáo dục lối sống Đây là phương pháp quan trọng nhất, chủ đạo nhất

được sử dụng để thực hiện nghiên cứu này

Phương pháp phỏng v n sâu: Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả tập

trung phỏng vấn sâu các nhà nghiên cứu giáo dục; lãnh đạo cơ quan báo chí; các nhà báo có kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất các chương trình truyền hình thực tế; các giảng viên nghiên cứu báo chí nhằm đưa ra đánh giá về chất lượng giáo dục nhân cách trong các chương trình truyền hình thực tế hiện nay; đề xuất giải pháp, định hướng tham khảo

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1.Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần củng cố lý luận về truyền hình thực tế; tính giáo dục

Trang 19

và vai trò của giáo dục lối sống trong các chương trình truyền hình thực tế, Để thực hiện tốt chức năng của mình, truyền hình thực tế cần phải đảm bảo những nguyên t c, tiêu chí chung của báo chí, nhất là chức năng giáo dục lối sống trong bối cảnh nhiều chương trình truyền hình thực tế bỏ qua tiêu chí quan trọng này

Luận văn định hướng các chương trình thực tế tới những giá trị tốt đẹp Đặc biệt, trong bối cảnh môi trường sống có nhiều biến đổi phức tạp hiện nay, chương trình truyền hình nói chung và truyền hình thực tế nói riêng càng cần phải nâng cao vai trò của mình, phổ biến và gây dựng lối sống tốt đẹp cho mọi người, nhất là giới trẻ

Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất

lượnggiáo dục lối sống trong chương trình truyền hình thực tế trên kênh

VTV3

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC LỐI SỐNG TRONG CHƯƠNG

TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Truyền hình

Thuật ngữ Truyền hình - Television có nguồn gốc từ tiếng La-tinh và tiếng Hy Lạp Từ Tele trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là ở xa và videre của tiếng La-tinh có nghĩa là nhìn hay thấy Ghép hai từ đó lại thành Televidere , có nghĩa là thấy được từ xa Tiếng Anh đọc là "Television" Như vậy, nguồn gốc của thuật ngữ Truyền hình được hiểu là: Xem/nhìn được từ xa

Còn định nghĩa dưới góc độ kỹ thuật, Truyền hình là hệ thống phát và thu hình ảnh, âm thanh bằng những thiết bị truyền dẫn tín hiệu từ qua cáp, sợi quang

và quan trọng nhất là sóng điện từ [30]

Ở Việt Nam, truyền hình được Từ điển Tiếng Việt định nghĩa "là quá trình truyền hình ảnh, âm thanh bằng sóng vô tuyến điện" Trong cuốn Giáo trình Báo chí Truyền hình của PGS.TS Dương Xuân Sơn, thuật ngữ "truyền hình" được định nghĩa như sau: "Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc truyền đi xa bằng sóng vô tuyến điện" Đây là một định nghĩa khá rõ ràng về loại (phương tiện truyền thông đại chúng), vai trò (đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng), hình thức thể hiện (hình ảnh và âm thanh) khác biệt đối với những phương tiện truyền thông đại chúng khác (báo in, phát thanh, báo mạng )

Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng cho rằng:

"Truyền hình là một loại phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Nguyên nghĩa thuật ngữ "vô tuyến truyền hình" - television b t nguồn từ hai từ là "tele" - ở xa và "vision" - nghĩa là thấy được, tức

Trang 21

là 'thấy được từ xa'" Có thể thấy định nghĩa này cũng khá đầy đủ về loại, vai trò

và phương thức truyền hình Đồng thời còn thấy được truyền hình có khả năng lôi cuốn đông đảo công chúng Khả năng này của truyền hình được lý giải bằng đặc tính của nó "thấy được từ xa"

Tuy nhiên, nhìn vào thực tế hiện nay, truyền hình không còn chỉ nằm vỏn vẹn trên vô tuyến điện mà nó còn được mở rộng và xuất hiện trên những chiếc điện thoại thông minh (smartphone), máy tính hay rất nhiều thiết bị điện tử khác

mà ta gọi chung là "truyền hình trực tuyến" Chính vì thế khái niệm "truyền hình"

có một vài đổi khác

Tựu chung lại, truyền hình là một loại hình báo ch đặc biệt, truyền tải thông tin tới công chúng một cách tổng hợp dưới các hình thức đa dạng như: hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, ngôn ngữ Truyền hình đã trở thành một trong số

các phương tiện truyền thông đại chúng (Mass Communication/Mass Media) rất phổ biến hiện nay

Chính thức xuất hiện vào thập niên 40 của thế k XX, truyền hình nhanh chóng trở thành một hiện tượng của làng báo chí thế giới và phát triển với nhịp

độ hết sức nhanh chóng Ở thập k 50 của thế k XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin Dần dần, truyền hình

đã tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, truyền tải thông tin ở mọi lĩnh vực của đời sống tới mọi đối tượng trên phạm vi rộng kh p Đặc biệt, với sự ra đời của truyền hình màu vào năm 1951 đã đánh dấu mốc quan trọng trong chặng đường phát triển và bùng nổ của các phương tiện truyền thông đại chúng thế giới

Tại Việt Nam, ngày 7/9/1970, Đài Truyền hình Việt Nam chính thức phát sóng những giờ đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của ngành Truyền hình ở Việt Nam Ngay lập tức, truyền hình đã tỏ rõ lợi thế cũng như tầm quan trọng của mình trong nền báo chí nước nhà Hơn 40 năm hình thành và phát triển, từ một ĐTH trung ương chỉ phát sóng một kênh duy nhất, giờ đây, hệ thống truyền hình tại

Trang 22

Việt Nam đã có tới 67 đài phát thanh - truyền hình từ trung ương đến địa phương với gần 100 kênh truyền hình đang phát sóng qua các loại hình công nghệ khác nhau Từ đó cho thấy ngành Truyền hình Việt Nam hôm nay đã không ngừng lớn mạnh, đáp ứng sự tăng lên về nhu cầu thông tin trên nhiều lĩnh vực: kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của mọi đối tượng công chúng

Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn gia tăng cả về chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên kh p hành tinh Với những ưu thế vè kỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã và đang làm cho cuộc sống như được cô đọng hơn, ý nghĩa cuộc sống lan tỏa nhiều hơn, làm giàu thêm

ý nghĩa tốt đẹp và sáng tỏ hơn về hình thức thể hiện cũng như phong phú về nội dung sản xuất

Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV) và truyền hình cáp (CATV)

Xét dưới góc độ thương mại có truyền hình công cộng (public TV) và truyền hình thương mại (Commercial TV)

Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí

Xét theo góc độ kỹ thuật, có truyền hình tương tự (Analog TV) và truyền hình số (Digital TV)

Trang 23

Còn TS Hugh Dancey của Đại học Newcastle lại định nghĩa:

“Truyền hình thực tế là những thước phim hàng ngày về sự dũng cảm, nó dựa trên những cảm xúc chân thật của nhân vật và những hành động mang t nh

ch t cá nhân” [52]

Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm Reality show (tạm dịch là Truyền hình

thực tế) ngày càng trở nên phổ biến và liên tục được nh c đến Nhưng trên thực

tế, Reality show chỉ là một bộ phận của Reality Television (Reality TV) Reality

TV mới là tên gọi được sử dụng phổ biến trên thế giới để nói về truyền hình thực

tế Reality TV bao gồm đầy đủ các thể loại chương trình truyền hình thông

thường như: Tài liệu (Documentary style), chương trình giao lưu tọa đàm (Talk show), chương trình trò chơi (Gameshow) Có thể nói đây vừa là một loại

chương trình truyền hình kiểu mới, vừa là một phương pháp, một hình thức thể hiện mới của các chương trình truyền hình

Có khá nhiều quan niệm khác nhau được đề cập khi bàn về Reality TV

Ch ng hạn như quan niệm của Annette Hill là giáo sư đồng thời là giám đốc trung tâm nghiên cứu của Đại học Truyền thông – Nghệ thuật – Thiết kế Westminster (Anh Quốc):

Truyền hình thực tế bao gồm t t cả các chương trình giải tr trên truyền hình về người thật Nhiều khi thể loại này còn được gọi là truyền hình dựa trên

sự thực tế (popural factual television) Truyền hình thực tế nằm trên ranh giới lãnh thổ của thông tin và giải tr , tài liệu và kịch [44, tr.2]

Một số nhà phê bình thế giới quan niệm Truyền hình thực tế có phần là dùng thuật ngữ sai Theo họ những chương trình kiểu này chỉ thường xuyên miêu

tả một cách sinh động hiện thực được biến đổi Trong đó, những người tham gia được đặt trong những vị trí, hoặc những tình huống khác thường Đôi khi người chơi của những chương trình này còn được hướng dẫn cách diễn xuất bởi những nhà huấn luyện sau màn hình Mỗi sự kiện trong từng cảnh được điều khiển một

Trang 24

Truyền hình thực tế do đó chỉ là sự phản ánh tính đa nghĩa của truyền hình:

nó là một sản phẩm vừa có tính hướng nội, vừa có tính hướng ngoại Các nhân vật trong chương trình sống ở hai thế giới Họ đi vào cuộc sống của khán giả từ một thế giới khác để rồi tham gia vào cuộc sống hàng ngày của chúng ta

Chúng ta có thể chấp nhận sự thật ở hai thực tế khác nhau: thực tế nơi mà chúng ta sống và thực tế trên tivi Thực tế thứ nhất chính là những con người và những thứ xung quanh chúng ta; và thực tế thứ hai là trong giới hạn rộng lớn của

các hoạt động văn hóa truyền thông

Một số khác lại cho rằng, tên gọi "Truyền hình thực tế" là một cách định danh sai cho một số loại chương trình có tính s p đặt Trong một số chương trình

như: Big Brother, Survivor hay The Real World nhà sản xuất thiết kế một

khung chương trình dành riêng cho nó Hàng ngày, họ kiểm soát những hoạt động của các nhân vật và bối cảnh xung quanh, tạo ra một thế giới tưởng tượng Trong đó, sự cạnh tranh sẽ diễn ra Nhà sản xuất sẽ s p đặt những nhân vật, những bối cảnh đó để kích thích những hành vi và mâu thuẫn đặc biệt Mark

Burnett - nhà viết kịch bản cho Survivor và nhiều chương trình truyền hình thực

tế khác cũng đồng ý với nhận định trên Theo Mark Burnett, những chương trình

đó không phải là những chương trình truyền hình thực tế mà là "những vở kịch không kịch bản"

Trong từ điển Longman, Truyền hình thực tế được định nghĩa "là chương trình ghi lại hình ảnh những người đang làm việc thực tế (v dụ: nhân viên cảnh sát đuổi theo chiếc xe bị đánh c p) hoặc những người đã được đặt trong tình huống khác nhau và quay phim liên tục trong khoảng thời gian vài tuần hoặc vài tháng (v dụ như chương trình Người gi u mặt, Cuộc đua kỳ thú )"

Từ điển Macmilan lại định nghĩa:

Trang 25

Truyền hình thực tế là chương trình truyền hình không sử dụng di n viên chuyên nghiệp và th y các sự kiện thực tế, các tình huống liên quan đến những người bình thường"

Ở Việt Nam, hiện tại chưa có một định nghĩa chính xác cho thuật ngữ

Với định nghĩa này, tác giả đã nêu ra những điểm dễ nhận biết của một chương trình truyền hình thực tế theo con m t của khán giả xem truyền hình Tuy nhiên, quan niệm này chỉ gói gọn vào "cách giải quyết, ứng xử của người dẫn chương trình", nghĩa là những tình huống thực tế chỉ xoay quanh người dẫn chương trình, chứ chưa xoay quanh những nhân vật tham gia vào chương trình

mà cụ thể hơn là những nhân vật trải nghiệm

Mỗi quan điểm đều xuất phát từ những góc độ nhận thức khác nhau về truyền hình thực tế, nhưng nhìn chung, các quan điểm trên đều thống nhất ở các khía cạnh tình huống, lời thoại, cánh ứng xử trong chương trình truyền hình thực

tế không bị đạo diễn và s p đặt trước Mặc dù chưa đi đến sự thống nhất về cách định nghĩa "truyền hình thực tế" ở nước ta, tuy nhiên, dựa trên những phân tích trên, có thể rút ra:

"Truyền hình thực tế là một thể loại chương trình truyền hình, trong đó, miêu tả thật những tình huống, hoàn cảnh và sự kiện đã được phác họa trước nhưng không được đạo di n trước Nhân vật ch nh có thể là b t cứ ai và họ sẽ phải trải nghiệm những tình huống, hoàn cảnh bằng cảm xúc và hành động thật

Trang 26

có một số thuật ngữ gần gũi khác cũng được sử dụng trong ngôn ngữ thường nhật như Life Style hoặc Life Form Trong tiếng Đức cũng có một số thuật ngữ thường được dùng để chỉ lối sống với những s c thái khác nhau, như Lebensfuehrung , Lebensweise , Lebenshaltung Bên cạnh đó còn có một số thuật ngữ gần gũi được sử dụng như Lebensstil , Lebensform Trong tiếng Việt, thuật ngữ lối sống cũng được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh với những

s c thái ngữ nghĩa khác nhau, nhưng hiếm khi được định nghĩa rõ ràng về nội hàm hay s c thái với tính cách một phạm trù khoa học

Thông thường thuật ngữ lối sống được sử dụng để mô tả và kèm theo đó

là sự định giá, đánh giá về một hay một loại hoạt động sống, lối sống nào đó, ví dụ: lối sống giản dị , lối sống xa hoa , lối sống lành mạnh , lối sống sa đọa , lối sống giả tạo , lối sống hiện đại , lối sống thành thị , lối sống nông thôn Bên cạnh đó còn có một số thuật ngữ gần gũi, đôi khi được dùng lẫn lộn

để chỉ lối sống, như lẽ sống , cách sống , phong cách sống , phương thức sống

Định nghĩa của Đô-bơ-ria-nốp: Lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động của con người [59]

Trang 27

Định nghĩa của Sô-rô-khô-va: Lối sống là toàn bộ những hình thức hoạt động sinh sống tiêu biểu, là phương thức hoạt động đã được xác định [16]

Định nghĩa của Trần Văn Bính và cộng sự: Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm

xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất định, và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa [10]

Theo tác giả Nguyễn Trần Bạt trong cuốn sách Văn hóa & Con người,

2005 của Nhà xuất bản (NXB) Hội Nhà văn:

"Lối sống là những cách thức, phép t c tổ chức và điều khiển đời sống cá nhân và cộng đồng đã được thừa nhận rộng rãi và trở thành thói quen Lối sống

có quan hệ chặt chẽ với phương thức sản xu t của mỗi thời đại.Lối sống không chỉ là hành vi như cách đi lại, ăn nói, nó là hành vi hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tư duy, làm việc và phương cách xử lý các mối quan hệ."

Theo tác giả Phạm Hồng Tung trong bài viết "Nghiên cứu về lối sống: một

số vấn đề về khái niệm và cách tiếp cận":

“Lối sống của con người là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người Lối sống bao gồm t t cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống được một bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người

ch p nhận và thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương tác biện chứng của các điều kiện sống hiện hữu và trong các mối liên

hệ lịch sử của chúng”

Tác giả Phạm Hồng Tung cũng kh ng định, "lối sống của con người chính

là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người trong những điều kiện sống xác

Trang 28

có lối sống tập thể Vì vậy mà không phải bất cứ hoạt động sống nào, không phải toàn bộ các hoạt động sống của con người đều được coi là lối sống, mà chỉ những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống nào lặp đi lặp lại,

có tầm ảnh hưởng mạnh và độ phổ biến cao trong đa số cá thể của một nhóm, một cộng đồng người hay trong toàn xã hội thì mới được coi là lối sống và các biểu hiện của lối sống Đương nhiên, cần phải chú ý là khi một lối sống mới ra đời thì tầm ảnh hưởng, tính phổ biến và tần suất lặp lại của nó không cao

Ở cấp độ thứ hai, có thể hiểu lối sống là tất cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống được một bộ phận lớn hoặc toàn thể các nhóm, các cộng đồng người chấp nhận và thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định

Theo Giáo sư Hồ Ngọc Đại, "Lối sống chính là cách sống Nó là thể thống nhất của hoàn cảnh sống, phương thức sản xuất và tương ứng với nó là quan niệm sống Có thể thấy, lối sống g n liền với hoạt động hằng ngày của con người, là những nét điển hình, được lặp đi lặp lại và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, hay cả một nền văn hóa Nhưng không phải tất cả các khía cạnh của một lối sống được hình thành một cách tự nhiên mà cần được giáo dục"

Một cách khái quát nhất, có thể hiểu:

"Lối sống là t t cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống được một bộ phận lớn hoặc toàn thể các nhóm, các cộng đồng người ch p nhận và thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định"

Biểu hiện cụ thể của nó nằm ở các khía cạnh như:

 Cách thức lao động sản xuất: chọn nghề, kỹ năng nghề nghiệp

 Các phong tục tập quán

 Cách ứng xử: giao tiếp, hành động

 Phong cách: thời trang, làm đẹp, xu hướng giải trí

Trang 29

 Quan niệm sống: về đạo đức, nhân cách, về tình yêu, về vật chất,

 Xu hướng sống: hưởng thụ, tự do, thích nổi tiếng

Cũng như hành vi cá nhân, lối sống cá nhân không tuyệt đối Lối sống cá nhân bị lệ thuộc rất nhiều vào lối sống cộng đồng Cộng đồng sống, với cá nhân

đó, được định nghĩa như là một thói quen, một tiêu chuẩn được chấp nhận bởi cộng đồng sống thường xuyên mà người ta gọi là lưu trú, cư trú Mật độ thời gian

đi lại, giao lưu với các cộng đồng khác ngày càng lớn hơn do nhu cầu làm ăn phát triển, hội nhập, giao lưu Như vậy các cá nhân không những va chạm với cộng đồng mình mà còn va chạm với cộng đồng khác và các cộng đồng cũng va chạm với nhau Điều này tạo ra sự hình thành các tiêu chuẩn về lối sống, về giao lưu rất đặc biệt trong thời đại của chúng ta

1.1.4 Giáo dục lối sống

Việc hình thành thói quen, lối sống, các tiêu chuẩn hành vi càng ngày càng trở nên phức tạp Các tiêu chuẩn và phong thái có tính chất khu trú càng ngày càng bị bẻ gẫy, nghiền nát, uốn mềm đi để phù hợp với tiêu chuẩn hội nhập Hội nhập không phải là vấn đề chính trị mà là quy luật của đời sống hiện đại

Lối sống của con người luôn luôn thay đổi theo không phải bao giờ cũng tích cực Một ví dụ rõ nét nhất là ảnh hưởng của chủ nghĩa vật chất thái quá Những hậu quả của tâm lý chạy theo lợi nhuận thật là trầm trọng đối với xã hội

và đối với lối sống của con người nói chung Tâm lý này làm đảo lộn các thước

đo giá trị và làm rạn nứt các quan hệ xã hội Nói đến lối sống, người ta buộc phải nói đến một khái niệm kề cận là nhân cách

Chính vì thế, việc giáo dục lối sống, đặc biệt là giáo dục lối sống cho giới trẻ trở thành mối quan tâm hàng đầu

Một cách chung nhất, có thể hiểu: “Giáo dục lối sống là giáo dục cách cư

xử có văn hóa với thế giới xung quanh và với chính bản thân mình."

Trang 30

Giáo dục đạo đức, lối sống có vai trò rất lớn trong việc hình thành ý thức, tình cảm cũng như các hành vi đạo đức của con người nói chung, của học sinh, sinh viên nói riêng Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, trước nhiều biến động phức tạp của đạo đức xã hội; trước những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên thì công tác giáo dục đạo đức, đặc biệt là giáo dục lối sống cho thế hệ trẻ càng trở nên quan trọng

Vấn đề cân bằng giữa lối sống cá nhân và lối sống cộng đồng đòi hỏi việc giáo dục lối sống phải được thực hiện trên nhiều phương diện khác nhau:

 Giáo dục lối sống qua chương trình giáo dục các cấp

 Giáo dục lối sống qua các phương tiện truyền thông đại chúng

 Giáo dục lối sống trong gia đình

 Giáo dục lối sống dựa trên cách cư xử giữa người với người

sự chân thực của báo chí nói chung Bởi lẽ, tất cả chúng ta đều biết, một trong những nguyên t c bất di bất dịch của báo chí toàn thế giới là phản ánh khách quan trung thực thực tế cuộc sống xã hội Truyền hình và mọi thể loại của nó

không nằm ngoài nguyên t c này

Để có thể so sánh và tìm ra những đặc điểm của truyền hình thực tế, trước hết chúng ta sẽ cùng phân tích tính chân thực, xác thực, thực tế của một số thể loại truyền hình cơ bản như Tin tức, Phóng sự, Phim tài liệu, Trò chơi truyền hình

Trang 31

Tin tức Phóng sự Phim tài liệu Trò chơi truyền hình

Là một thể loại

thông tấn phổ biến

Đứng độc lập hoặc xen kẽ trong các chương trình thuộc thể loại khác

Tính xác thực không cao bằng phóng sự

Được s p xếp kĩ lưỡng

từ kịch bản đến khâu ghi hình tại trường quay

Tác giả cũng có quyền hư cấu ở mức

độ vừa phải một số chi tiết mang tính

quanh nhân vật hay đối tượng chính của tác phẩm

Là những trò chơi với diễn biến thật trong khuôn khổ sân khấu/nơi diễn ra cuộc thi

Thông tin không

kèm theo cảm xúc

chuyện và cả cảm xúc thật của nhân vật

Cho phép tác giả lồng ghép khá nhiều cảm xúc cá nhân

Ghi lại cảm xúc thật của người chơi, người dẫn chương trình và khán giả

diễn biến của các

sự kiện xoay quanh

thông tin ấy

Người làm phóng

sự có quyền xếp đặt bối cảnh, chuẩn

bị câu hỏi, s p xếp nhân vật theo ý đồ mục đích đường dây kịch bản của mình

Nội dung mà tài liệu

đề cập đề cập tới thường trải ra trong một thời gian dài và một không gian rộng lớn; không thể đi sâu vào từng chi tiết sự kiện ở nhiều góc độ

mà sẽ khai thác nó trên khía cạnh tổng hợp

Ít có sự thay đổi giữa thực tế thực hiện và

Bảng 1.1 So sánh những đặc điểm của truyền hình thực tế và một số thể loại chương trình truyền hình khác

Trang 32

Trên đây tác giả đã đề cập và phân tích qua về mức độ chân thực trong 4 thể loại chương trình truyền hình phổ biến nhất hiện nay Trong truyền hình thực tế cũng được chia làm nhiều thể loại, nhưng trong phần này, chúng ta sẽ chỉ đề cập đến những đặc điểm chung nhất của các chương trình truyền hình thực tế nói chung chứ không đi vào phân tích cụ thể bất kỳ thể loại nào

T nh thực tế - đặc điểm chung nhất của mọi loại chương trình truyền hình

chính là đặc điểm lớn nhất của truyền hình thực tế, được đẩy lên mức độ cao Các nhà nghiên cứu đã đánh giá các chương trình truyền hình thực tế giống như những vở kịch không kịch bản Tại đây, người xem không hoặc rất ít tìm thấy dấu hiệu của sự xếp đặt hay đạo diễn đối với nhân vật, với sự kiện trong khuôn hình Không đơn thuần chỉ đề cập đến người thực, việc thực mà các chương trình truyền hình thực tế ghi nhận sự phát triển của nhân vật trong một quá trình thông qua những tình huống diễn biến thực tế Đã có rất nhiều chương trình truyền hình thực tế dạng trò chơi truyền hình đã được triển khai thành những chuỗi (series) chương trình truyền hình nhiều tập, các mùa (seasons) chương trình diễn biến qua nhiều năm khác nhau Thông qua quá trình diễn biến chi tiết và cụ thể đó, nhân vật trong những tình huống không lường trước sẽ bộc lộ những tính các, cảm xúc, và phản ứng thật

1.2.2.Quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế

Giống như bất kỳ thể loại tác phẩm truyền hình, việc sản xuất chương trình truyền hình thực tế trải qua 2 khâu lớn là tiền kỳ và hậu kỳ

Công tác tiền kỳ, bao gồm:

 Xây dựng format chương trình

 Khảo sát, lên kịch bản khung chương trình

 Liên hệ các bên phối hợp sản xuất, thông qua kế hoạch sản xuất

 Truyền thông, quảng bá chương trình (cả tiền kỳ, hậu kỳ)

 Tổ chức tuyển chọn thí sinh/nhân vật trải nghiệm

 Tiến hành ghi hình (hoặc truyền hình trực tiếp)

Trang 33

Công tác hậu kỳ, bao gồm:

 Biên tập hậu kỳ: hình ảnh, âm thanh, phụ đề, hiệu ứng

 Duyệt và chỉnh sửa nội dung

 Phát sóng (hoặc truyền hình trực tiếp)

Với thời gian ghi hình dài, thời lượng phát sóng lớn và chia làm nhiều tập khiến cho mọi công đoạn trong việc sản xuất cũng như tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế đều đòi hỏi một lực lượng nhân lực, vật lực lớn Chi phí

để sản xuất ra một chương trình truyền hình thực tế cũng cao hơn rất nhiều so với những dạng chương trình truyền hình khác

Thông thường, khi đã có format một chương trình truyền hình thực tế, nhà sản xuất cùng với đội ngũ tổ chức sản xuất sẽ phải tham gia công tác khảo sát chương trình một cách vô cùng chặt chẽ Các địa điểm trải nghiệm, các thử thách đặt ra, chủ đề của từng vòng thi, tính chính xác của luật chơi, tất cả đều phải được định hình một cách rõ nét trước khi chương trình diễn ra Thậm chí, với những chương trình truyền hình thực tế dạng trải nghiệm, việc tổ chức sản xuất còn bao gồm cả đạo cụ trò chơi/thử thách và người sản xuất cũng phải thử nghiệm trò chơi/thử thách đó để đảm bảo tính hợp lý và an toàn đối với các nhân vật trải nghiệm tham gia chương trình

Với thời gian kéo dài thậm chí đến vài tháng và địa điểm quay liên tục thay đổi làm cho việc ghi hình những chương trình truyền hình thực tế đòi hỏi số lượng máy móc thiết bị tham gia ghi hình lớn và hiện đại, chi phí cao Chưa kể đến, công tác hậu kỳ cũng trở nên vô cùng vất vả để đảm bảo không bị thiếu hình cũng như xây dựng từ các file quay thô chưa xử lý thành những hình ảnh ng n gọn mà không hề thiếu đi tính tự nhiên, thực tế vốn có

Một công tác vô cùng quan trọng trong việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế là duyệt sản phẩm Không một tác phẩm báo chí nào ở mọi loại hình báo chí có thể bỏ qua bước quan trọng này Đặc biệt với những chương

Trang 34

trình truyền hình thực tế, việc cân nh c giữa các yếu tố "thực" với các yếu tố như văn hóa, lối sống là điều không hề dễ dàng

Ngoài ra, xét về cách thức sản xuất chương trình truyền hình thực tế, thường có 2 dạng:

 Chương trình truyền hình thực tế do Đài truyền hình sản suất

 Chương trình truyền hình thực tế có sự liên kết giữa Đài truyền hình và một công ty truyền thông (hay còn gọi là chương trình xã hội hóa)

Đối với những chương trình truyền hình thực tế do Đài truyền hình sản xuất và trực tiếp phát sóng, việc tổ chức sản xuất chương trình diễn ra một cách bình thường theo quy trình đã nêu trên Tuy nhiên, với những chương trình được sản xuất bằng hình thức xã hội hóa, tất cả các hoạt động từ khâu tiền kỳ đến hậu

kỳ rồi phát sóng sẽ phải có thêm một công đoạn là giám sát chương trình từ phía Đài truyền hình

Việc giám sát chương trình truyền hình thực tế xã hội hóa được thực hiện

từ khâu lên ý tưởng, kịch bản, sản xuất cho đến khâu hậu kỳ và duyệt bài phát sóng Việc làm này nhằm đảm bảo sự chính xác về thông tin, sự hấp dẫn về nội dung, sự hoàn thiện về hình thức cũng như lan tỏa những thông điệp tốt đẹp từ chính chương trình đó tới công chúng

1.2.3.Ưu điểm của truyền hình thực tế

 Tính giải trí

Ưu điểm đầu tiên và cũng là ưu điểm dễ nhìn thấy nhất của truyền hình thực

tế đó chính là tính giải trí Truyền hình thực tế đem lại những phút giây nghỉ ngơi, thư giãn và hưởng thụ văn hóa nghệ thuật Dù nhiều chương trình đã trở nên cũ song nó vẫn đang là món ăn tinh thần cho rất đông khán giả Thay vì việc phải ngồi dán m t hàng giờ xem các phim truyền hình hay nghe tin tức, khán giả

có thể có những trải nghiệm mới với truyền hình thực tế

Truyền hình thực tế cũng mang lại sự đa dạng hóa cho các chương trình giải trí Sự đa dạng hóa này đã góp phần phát triển ngành giải trí Ngoài ra, truyền

Trang 35

hình thực tế giúp tìm ra rất nhiều nghệ sĩ, những người làm nghệ thuật thực sự có tài đóng góp cho nền văn hóa, nghệ thuật nước nhà Đồng thời, gián tiếp tạo ra một môi trường văn hóa lành mạnh cho đông đảo người dân

Điều đặc biệt là những nhân vật/nhân vật trải nghiệm/giám khảo trong các chương trình truyền hình thực tế lại rất rộng: từ người bình thường đến ngôi sao lớn, người nổi tiếng Chính vì thế làm tính giải trí cũng như sức thu hút của các chương trình dạng này tăng lên gấp nhiều lần

Tính đại chúng

Như phần nói về khái niệm của truyền hình thực tế, chúng ta đã được biết, đây là một phương pháp thể hiện mới của truyền hình và những ứng dụng vào rất nhiều thể loại khác nhau Các số liệu thống kê ở các phần trên đã cho thấy các chương trình truyền hình thực tế thu hút khá đông sự quan tâm của người xem

Sự đa dạng về khán giả đã tạo cho thể loại chương trình truyền hình này một vị

trí khá cao so với các chương trình truyền hình thể loại khác

Về mặt thể loại, các chương trình truyền hình thực tế trên thế giới vô cùng

đa dạng về chủ đề: từ chuyện làm tóc, vật nuôi gia đình đến chuyện hẹn hò, thi

đấu thể thao, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp

Trong cuốn Audiences and popural factual television , giáo sư Annette

Hill cũng đưa ra một số thống kê và điều tra khác cho thấy sức hút mạnh mẽ của thể loại này:

"Tại Anh vào năm 2000, hơn 70% dân số trong độ tuổi từ 4 đến 65 thường xuyên theo dõi các chương trình truyền hình thực tế Trong đó những chương trình về hoạt động của công an của ITV 1 thu hút 72% người lớn và 71% trẻ em; các chương trình mang t nh địa phương như Sân bay (Airport) của hãng BBC1 được xem bởi 67% người lớn và 84% trẻ em; hay những chương trình thú nuôi trong gia đình như Animal Hospital của BBC1 có tỉ lệ người xem là 83% trẻ em

và 63% người lớn."

Trang 36

 Tính hấp dẫn, mới lạ

Chương trình truyền hình thực tế hấp dẫn trước hết bởi sự sống động về mặt hình ảnh Máy quay được chạy liên tục tạo ra những khuôn hình không xếp đặt tạo nên một cảm giác chân thực, mới mẻ

Chương trình truyền hình thực tế không c t dựng trong lúc ghi hình đã tạo nên những tình huống, bối cảnh ứng xử tự nhiên, không ngụy tạo, đề phòng Chính độ chân thực đạt đến độ cao của chương trình truyền hình thực tế đã lôi cuốn người xem Sẽ rất thú vị khi thấy được con người với một cách hành xử, nói năng, cảm xúc mang đầy tính cá nhân, riêng biệt Khán giả dễ hòa chung cảm xúc với nhân vật trong chương trình

Truyền hình thực tế hấp dẫn bởi sự thay đổi: người xem được chứng kiến theo dõi xuyên suốt quá trình thay đổi của các nhân vật, diễn biến tình huống – điều mà không một thể loại nào khác có thể cung cấp cho khán giả

Một điều hấp dẫn khác của chương trình truyền hình thực tế chính là sự nổi tiếng nhanh chóng của những người tham gia chương trình (bởi nó thu hút người tham gia và hấp dẫn khán giả mong muốn được như nhân vật trong chương trình) Với hình thức theo chân nhân vật và truyền hình nhiều tập, nhân vật trong các chương trình truyền hình thực tế sẽ liên tục xuất hiện trên màn hình với một cường độ lớn và trong một thời gian khá dài Họ có mặt trong câu chuyện một cách xuyên suốt trong một quá trình diễn biến như một bộ phim về đời sống thực Chính điều này khiến cho những người bình thường trở nên nổi tiếng vô cùng nhanh chóng sau khi tham gia chương trình truyền hình thực tế Song yếu tố tạo nên sự hấp dẫn này xét trên một khía cạnh khác lại cũng là nhược điểm của chương trình truyền hình thực tế mà tác giả sẽ đề cập trong phần tiếp theo

Tính hấp dẫn còn được thể hiện ở một khía cạnh khác nữa là yếu tố tự phát triển của các nhân vật trong chương trình và khán giả xem truyền hình Tìm hiểu, theo dõi cuộc sống thực của một người h n sẽ rất thú vị với nhiều khán giả truyền hình Nếu nhân vật là người nổi tiếng, thì mức độ quan tâm đến đời tư của

Trang 37

nhân vật này của khán giả sẽ càng cao Nếu nhân vật là những người bình thường, người xem truyền hình rất có thể sẽ thấy hình bóng mình trong những nhân vật đó, và sẽ thích thú theo dõi những trải nghiệm, sự phát triển của nhân vật trong cảm giác được khám phá khả năng tiềm ẩn của chính mình nếu mình được đặt trong tình huống tương tự

 Tính giáo dục

Chức năng giáo dục là một trong những chức năng cơ bản của báo chí nói chung và báo chí truyền hình nói riêng Có thể nói nhiều chương trình truyền hình thực tế đã thực hiện khá tốt chức năng này theo một cách rất riêng Hầu hết người xem, đặc biệt là giới trẻ đã học hỏi được rất nhiều điều của cuộc sống từ những chương trình truyền hình thực tế Đó có thể là bài học về kinh nghiệm ứng

xử, về các mối quan hệ, về các kĩ năng nghề nghiệp cũng như những kĩ năng sống Những bài học ở các chương trình truyền hình thực tế thực sự thiết thực, gần gũi Hơn thế cách thể hiện sinh động và hấp dẫn của các chương trình loại này khiến cho những bài học đó trở nên đáng tin cậy và dễ tiếp thu Đây chính là một ưu điểm lớn của truyền hình thực tế

1.2.4 Nhược điểm

Bên cạnh rất nhiều ưu điểm được đề cập ở trên, chương trình truyền hình thực tế cũng không tránh khởi những nhược điểm của thể loại mà hiện nay vẫn đang tồn tại

 Xâm phạm đời tư

Một trong những hạn chế đầu tiên của những chương trình thực tế mà tác giả muốn nói đến chính là sự mất tự do, tính chất cá nhân, riêng tư bị xâm phạm Đối tượng phải hứng chịu hậu quả này rõ rệt nhất chính là những nhân vật tham gia chương trình Thực tế đã chứng minh, chương trình truyền hình thực tế khiến cho những người tham gia trở nên nổi tiếng một cách hết sức nhanh chóng, nhưng đồng thời, họ cũng phải chấp nhận mất đi sự riêng tư, thậm chí là sự tôn

Trang 38

trọng, và có thể cả rất nhiều tổn thương tinh thần khi trở lại cuộc sống bình thường Trong các chương trình này, trình độ, hiểu biết, cách xử sự, thái độ, cảm xúc tất cả những gì riêng tư nhất của bạn sẽ bị cả thế giới theo dõi Có những cảm xúc, những phản ứng là bất chợt trong một hoàn cảnh nhất định Có những hình ảnh đẹp và sẽ có cả những hình ảnh xấu về một con người được phơi bày khá hiện thực trong các chương trình truyền hình thực tế

Lan truyền một số thông điệp chưa chuẩn mực

Những con người xuất hiện trên các chương trình truyền hình thực tế là những con người bình thường nhất của cuộc sống Nhưng sau khi đã trải qua những thử thách, trải qua những tập chương trình dài kì họ đã trở thành những nhân vật nổi tiếng và có những ảnh hưởng tác động riêng đến những người xem truyền hình hâm mộ mình Trong các chương trình truyền hình thực tế, cá tính riêng được tạo điều kiện để phát triển, điều này dễ khiến cho các nhân vật bộc lộ hành vi thật đôi khi không được đẹp hoặc không được tốt Hãy thử đặt một trường hợp nhân vật được hâm mộ trong truyền hình thực tế là một người nghiện

ma túy hay nghiện rượu (trên thế giới đã có những trường hợp tương tự) Điều này ch c ch n sẽ tác động không nhỏ tới những người hâm mộ họ Trong khi đó

xu hướng thần tượng một nhân vật nổi tiếng hiện đang rất thịnh hành trong giới trẻ Và làm mọi điều để được giống như thần tượng cũng là mốt phổ biến trong giới trẻ hiện nay Do đó những tấm gương xấu từ các chương trình truyền hình thực tế là một điều đáng lo ngại

Mặc dù hấp dẫn nhưng nhiều chương trình truyền hình thực tế trên thế giới đầy các cảnh bạo lực, hoặc những hình ảnh khêu gợi quá mức Những kích thích theo chiều hướng không lành mạnh sẽ ảnh hưởng rất xấu đến quá trình nhận thức cũng như lành mạnh sẽ ảnh hưởng rất xấu đến quá trình nhận thức cũng như hành vi của giới trẻ Một nghiên cứu bởi Parent Television Council cho thấy các cảnh tục tĩu, khiêu dâm trên các chương trình truyền hình thực tế nhiều

hơn so với các chương trình truyền hình khác Chương trình The Osborne‟s trên

Trang 39

MTV (nói về cuộc sống một ca sĩ nhạc rock) đang là chương trình gây phản cảm nhất, nhưng vẫn có tỉ lệ người xem cao Một số chương trình khác thì làm cho người xem cảm giác bi quan, thất vọng

Chưa đồng bộ trong khâu tổ chức sản xuất

Truyền hình thực tế cần một lực lượng nhân sự lớn, trang thiết bị kỹ thuật cần đầu tư nhiều và phải ghi hình dài ngày Để làm được điều này cần kinh phí sản xuất chương trình rất lớn và đòi hỏi đội ngũ tổ chức sản xuất trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và nhiều kinh nghiệm để có thể sản xuất thành công chương trình

Nhìn chung, bên cạnh những ưu điểm thì rõ ràng truyền hình thực tế cũng

mang lại không ít phiền toái cho cả người thực hiện lẫn công chúng truyền hình Tuy nhiên, đây vẫn là một thể loại chương trình truyền hình được yêu thích và chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của nó trong lĩnh vực truyền thông đại chúng này

1.3 Vai trò của truyền hình thực tế trong việc giáo dục lối sống

Dù là thể loại báo chí truyền hình ra đời muộn hay sớm, cách thể hiện hấp dẫn hay chưa hấp dẫn công chúng thì tất cả các thể loại tác phẩm truyền hình đều phải thực hiện những chức năng của truyền hình nói riêng và báo chí nói chung Truyền hình thực tế cũng không nằm ngoài yêu cầu đó

Bên cạnh những chức năng chính như: chức năng thông tin, chức năng tư tưởng, chức năng tổ chức - quản lý xã hội, chức năng phát triển văn hóa và giải trí, chức năng giám sát xã hội thì chức năng giáo dục của các chương trình truyền hình thực tế là không thể không quan tâm và đặc biệt chú trọng Phải nhấn mạnh đến chức năng giáo dục mà đặc biệt là giáo dục về lối sống cho thế hệ trẻ trong chương trình truyền hình thực tế là bởi chính những ưu điểm của truyền hình thực tế mà không phải thể loại tác phẩm nào cũng có được

Trang 40

Đầu tiên và không thể không kể đến, đó là tính giải trí đầy p trong những chương trình truyền hình thực tế Điều này đem lại những phút giây nghỉ ngơi, thư giãn và hưởng thụ văn hóa nghệ thuật cho khán giả Đặc biệt là đối với những khán giả trẻ với nhu cầu thông tin giải trí cao, trình độ văn hóa và sự tiếp cận văn hóa nước ngoài giúp họ b t kịp với cái mới, từ đó, có nhu cầu được hưởng thụ và học theo những hình thức giải trí mới như: âm nhạc, thời trang, vũ đạo Đây lại chính là thế mạnh khó có loại hình nào vượt qua được truyền hình thực tế

Về mặt thể loại, các chương trình truyền hình thực tế trên thế giới vô cùng

đa dạng về chủ đề: từ chuyện làm tóc, vật nuôi gia đình, đến chuyện hẹn hò, thi đấu thể thao, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp Tất cả giúp truyền hình thực tế thu hút được một lượng khán giả đông đảo, mà ở đó, đa phần là giới trẻ

Tuy nhiên, một cách công bằng mà nói, chính những gì đang diễn ra trong các chương trình truyền hình thực tế lại đang ngày từng ngày tác động không hề nhỏ đến lối sống của chính giới trẻ hôm nay Tác động tốt thì thật đáng hoan nghênh, tuy nhiên, những tác động tiêu cực đến lối sống của giới trẻ qua các chương trình truyền hình thực tế lại vô cùng lớn Bởi lẽ nó âm thầm từng ngày và

số lượng công chúng trẻ bị tác động lại không hề nhỏ

Trong bối cảnh bùng nổ các chương trình truyền hình thực tế, đơn vị sản xuất nào cũng muốn mua về cho mình những format chương trình mới nhất, những ý tưởng táo bạo, ăn khách nhất; những lĩnh vực giải trí nóng hổi nhất nhưng lại phải ra m t khán giả nhanh nhất đang tạo ra một nguy cơ lớn về việc thiếu cân nh c nội dung cũng như hình ảnh trên sóng Bên cạnh những chương trình truyền hình thực tế tốt, tạo được tiếng vang thì có nhiều chương trình truyền hình thực tế khi vừa ra m t đã bị "ghét" bởi những màn cãi vã, tranh đấu và cách

cư xử thiếu văn hóa của các nhân vật trải nghiệm, các thí sinh tham gia chương

trình Ví dụ dễ thấy nhất là vào đầu năm 2017, khi chương trình Gương mặt thương hiệu (The face Vietnam) ra m t trên sóng truyền hình, hàng loạt các cuộc

đấu đá, âm mưu gạt thí sinh đội của nhau giữa các HLV đã khiến cho khán giả

Ngày đăng: 09/01/2019, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thanh Bình, Phí Thị Thanh Tâm (2009), Quản lý nhà nước và pháp luật về báo ch và xu t bản, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước và pháp luật về báo ch và xu t bản
Tác giả: Lê Thanh Bình, Phí Thị Thanh Tâm
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2009
2. Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng (2007), Những v n đề của báo ch hiện đại, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những v n đề của báo ch hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
3. Vũ Phương Dung (2005), Nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh viên Hà Nội, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Báo chí & Truyền thông, ĐH KHXH&NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh viên Hà Nội
Tác giả: Vũ Phương Dung
Năm: 2005
4. Đào Hữu Dũng (2003), Quảng cáo truyền hình trong kinh tế thị trường , NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng cáo truyền hình trong kinh tế thị trường
Tác giả: Đào Hữu Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
5. Nguyễn Văn Dững (2004), Báo ch truyền thông hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo ch truyền thông hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
6. Nguyễn Văn Dững và cs (2006), Tác phẩm báo chí, tập 2, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững và cs
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Chỉ thị 42/CT-TW ngày 25/8/2004 yêu cầu thực hiện các chủ trương về công tác xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 42/CT-TW
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2004
8. Đài Truyền hình Việt Nam (2010), Sống với nghề truyền hình, Ấn phẩm k niệm lần thứ 40 ngày phát sóng chương trình truyền hình đầu tiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với nghề truyền hình
Tác giả: Đài Truyền hình Việt Nam
Năm: 2010
9. Hà Minh Đức và cs (1997), Báo chí những v n đề lý luận và thực ti n, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những v n đề lý luận và thực ti n
Tác giả: Hà Minh Đức và cs
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 1997
10. Vũ Quang Hào (2004), Báo ch và đào tạo báo ch Thụy Điển, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo ch và đào tạo báo ch Thụy Điển
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2004
11. Nguyễn Thị Thu Hằng (2012), Nghiên cứu truyền hình thực tế ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học, Trường ĐH KHXH & NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu truyền hình thực tế ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng
Năm: 2012
12. Lê Thị Thu Hoàn (2010), Xã hội hóa các chương trình truyền hình của Đài Truyền hình Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí, Học viện Báo chí - Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa các chương trình truyền hình của Đài Truyền hình Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Thu Hoàn
Năm: 2010
13. Đỗ Viết Hùng (2014), Quá trình Việt hóa các chương trình truyền hình thực tế mua bản quyền của nước ngoài, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học, Trường ĐH KHXH & NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình Việt hóa các chương trình truyền hình thực tế mua bản quyền của nước ngoài
Tác giả: Đỗ Viết Hùng
Năm: 2014
14. Nguyễn Thị Thu Hương (2013), Truyền hình thực tế ở Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí, Học viện Báo chí - Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền hình thực tế ở Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Năm: 2013
15. Nguyễn Hường (2011), Xu hướng phát triển kênh truyền hình chuyên biệt, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng phát triển kênh truyền hình chuyên biệt
Tác giả: Nguyễn Hường
Năm: 2011
16. Nguyễn Ánh Hồng, Phân tích về mặt tâm lý học lối sống của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ, 2005, tr. 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích về mặt tâm lý học lối sống của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
17. Trần Bảo Khánh, Trần Đăng Tuấn, Tác phẩm truyền hình, Tài liệu giảng dạy, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm truyền hình
18. Trần Bảo Khánh (2003), Sản xu t chương trình truyền hình, NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xu t chương trình truyền hình
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội
Năm: 2003
19. Trần Lâm (1995), Truyền hình Việt Nam một phần tƣ thế kỷ, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền hình Việt Nam một phần tƣ thế kỷ
Tác giả: Trần Lâm
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
20. Hoàng Quốc Lê (2013), Thực trạng sản xu t chương trình truyền hình thực tế tại VTV6 - Đài truyền hình Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí, Học viện Báo chí - Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sản xu t chương trình truyền hình thực tế tại VTV6 - Đài truyền hình Việt Nam
Tác giả: Hoàng Quốc Lê
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w