Mục tiêu tổng quát Xác định tỷ lệ người Khmer tuổi từ 25 – 64 tại huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh có rối loạn lipid máu và một số yếu tố liên quan năm 2015. Mục tiêu cụ thể 1. Xác định tỷ lệ rối loạn lipid máu ở người Khmer tuổi tử 25 – 64 tại huyện Trà Cú. 2. Xác định mối liên quan giữa thừa đặc điểm dân số xã hội và một số bệnh lý với rối loạn lipid máu. 3. Xác định mối liên quan giữa các yếu tố thói quen sinh hoạt ảnh hưởng với rối loạn lipid máu.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐINH VĂN QUỲNH
RỐI LOẠN LIPID MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI KHMER TỪ 25-64 TUỔI TẠI HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH NĂM 2015
KHÓA LUẬN CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐINH VĂN QUỲNH
RỐI LOẠN LIPID MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI KHMER TỪ 25-64 TUỔI TẠI HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH NĂM 2015
KHÓA LUẬN CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
BS Trần Ngọc Hoàng Pháp ThS BS Nguyễn Thanh Bình
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong luận văn này là được ghi nhận, nhập liệu và phân tích một cách trung thực Luận văn này không có bất kỳ số liệu, văn bản, tài liệu đã được Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh hay trường đại học khác chấp nhận để cấp bằng đại học, sau đại học Luận văn cũng không có số liệu, văn bản, tài liệu đã được công bố trừ khi đã được công khai thừa nhận
Đề cương nghiên cứu này đã được chấp thuận về mặt y đức trong nghiên cứu từ hội đồng duyệt đề cương Khoa Y tế Công cộng số… … ngày …//…//…
Sinh viên thực hiện
Đinh Văn Quỳnh
Xác nhận của người hướng dẫn
BS Trần Ngọc Hoàng Pháp ThS BS Nguyễn Thanh Bình
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
Mục tiêu tổng quát 2
Mục tiêu cụ thể 2
DÀN Ý NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Lipid máu 4
1.1.2 Chuyển hóa lipid 5
1.1.3 Rối loạn lipid máu 6
1.1.4 Phân loại rối loạn lipid máu 6
1.1.5 Đánh giá mức độ rối loạn lipid máu 7
1.2 Tình hình nghiên cứu 8
1.2.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 8
1.2.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam 13
1.2.3 Một vài đặc điểm về địa phương nghiên cứu 14
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Thiết kế nghiên cứu 17
2.2 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2.1 Dân số mục tiêu 17
2.2.2 Dân số chọn mẫu 17
2.2.3 Cỡ mẫu 17
2.2.4 Tiêu chí chọn mẫu 17
2.2.5 Kỹ thuật chọn mẫu 18
2.3 Định nghĩa các biến số 19
Trang 52.3.1 Biến số về đặc điểm dân số xã hội 19
2.3.2 Biến số thói quen sinh hoạt 19
2.3.3 Biến số về bệnh lý nền 21
2.3.4 Biến số rối loạn lipid máu 22
2.7 Thu thập số liệu 23
2.7.1 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.7.2 Công cụ, kỹ thuật thu thập số liệu 23
2.8 Kiểm soát sai lệch 24
2.8.1 Kiểm soát sai lệch chọn lựa 24
2.8.2 Kiểm soát sai lệch thông tin 24
2.9 Quản lý và phân tích số liệu 25
2.9.1 Phương pháp quản lý số liệu 25
2.9.2 Phân tích số liệu 25
2.10 Vấn đề y đức 25
2.11 Tính ứng dụng của đề tài 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 27
3.1 Đặc điểm dân số xã hội của đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Đặc điểm thói quen sinh hoạt của đối tượng nghiên cứu 27
3.3 Đặc điểm các bệnh lý nền ở đối tượng nghiên cứu 29
3.4 Tỷ lệ rối loạn chuyển hóa lipid ở đối tượng nghiên cứu 29
3.5 Các mối liên quan với rối loạn lipid máu 30
3.6 Các mối liên quan với rối loạn từng yếu tố lipid máu 33
3.6.1 Các mối liên quan đến tăng cholesterol toàn phần 33
3.6.2 Các mối liên quan đến tăng triglyceride 36
3.6.3 Các mối liên quan đến tăng LDL-cholesterol 39
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 44
4.1 Đặc điểm dân số học của đối tượng nghiên cứu 44
4.2 Các yếu tố dịch tễ học cơ bản ở đối tượng nghiên cứu 44
4.3 Đặc điểm các bệnh lý nền ở đối tượng nghiên cứu 46
4.4 Tỷ lệ rối loạn lipid máu ở người Khmer từ 25-64 tuổi tại huyện Trà Cú 46
4.5.1 Liên quan giữa đặc điểm dân số học với rối loạn lipid máu 47
Trang 64.5.2 Liên quan giữa hút thuốc với rối loạn lipid máu 48
4.5.3 Liên quan giữa uống rượu bia với rối loạn lipid máu 48
4.5.4 Liên quan giữa chế độ ăn với rối loạn lipid máu 49
4.5.5 Liên quan giữa các bệnh lý nền với rối loạn lipid máu 49
4.6 Điểm mạnh, hạn chế 50
4.6.1 Điểm mạnh: 50
4.6.2 Điểm hạn chế: 51
KẾT LUẬN 52
1 Tỷ lệ rối loạn lipid máu 52
2 Các yếu tố liên quan đến rối loạn lipid máu 52
2.1 Các yếu tố dân số xã hội 52
2.2 Các yếu tố hành vi cơ bản 52
2.3 Các bệnh lý nền 53
KIẾN NGHỊ 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7THA Tăng huyết áp
HDL-c High-Density Lipoprotein cholesterol (lipoprotein tỷ trọng cao) KTC Khoảng tin cậy
LDL-c Low-Density lipoprotein cholesterol (Lipoprotein tỷ trọng thấp) LPL Lipid Lipase
NCEP National Cholesterol Education Program (Chương trình giáo dục
cholesterol quốc gia)
PR Prevalence Ratio (tỷ số tỷ lệ hiện mắc)
RLLM Rối loạn lipid máu
TG Trigliceride
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Phân loại RLLM của Fredrickson /WHO 7
Bảng 1.2: Phân loại RLLP máu EAS (European Atherosclerosis Society) 7
Bảng 1.3: Các mức độ rối loạn lipid máu 7
Bảng 1.4: Chuyển đổi trị số các thành phần lipid máu theo 2 hệ thống đơn vị 8
Bẳng 3.1: Tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 27
Bảng 3.2: Đặc điểm về sử dụng thuốc lá của đối tượng nghiên cứu 27
Bảng 3.3: đặc điểm sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu 28
Bảng 3.4: Đặc điểm chế độ ăn, hoạt động thể lực của đối tượng nghiên cứu 28
Bảng 3.5: đặc điểm các bệnh lý nền 29
Bảng 3.6: Tỷ lệ rối loạn lipid máu 29
Bảng 3.7: Rối loạn lipid máu theo từng yếu tố 29
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với đặc tính dân số học và các bệnh lý nền 30
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với các thói quen sinh hoạt 31
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa tăng cholesterol với đặc tính dân số học và các bệnh lý nền 33
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa tăng cholesterol với các thói quen sinh hoạt 35
Bảng 3.12: Liên quan giữa tăng triglyceride với đặc điểm dân số học và các bệnh lý nền 36
Bảng 3.13: Liên quan giữa tăng triglyceride với các thói quen sinh hoạt 37
Bảng 3.14: Liên quan giữa tăng LDL-c với đặc điểm dân số và các bệnh lý nền 39
Bảng 3.15: Liên quan giữa tăng LDL-c với thói quen sinh hoạt 40
Bảng 3.16: Liên quan giữa tăng HDL-c với đặc điểm dân số và các bệnh lý nền 41
Bảng 3.17: Liên quan giữa giảm HDL-c với thói quen sinh hoạt 42
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Mỗi năm, có khoảng 17,5 triệu người chết vì các bệnh tim mạch trên thế giới, phần lớn liên quan đến xơ vữa động mạch gây ra nhồi máu cơ tim mà yếu tố nguy
cơ quan trọng chính là do rối loạn lipid máu (RLLM) [25] [26] [39] [52] Ở Châu
Âu, các hướng dẫn giảm nguy cơ bệnh tim mạch và hướng dẫn thực hành lâm sàng hiện nay chủ yếu tập trung vào việc giảm nồng độ cholesterol toàn phần (TC) và cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL)[29] Gần một phần ba dân số của các nước phát triển có rối loạn lipid máu, ở Mỹ cứ 3 người, thì có hơn 1 người mắc bệnh này [22] [27] [57] Ở Việt Nam tỷ lệ người bệnh động mạch vành có rối loạn lipid máu là 67%, một nghiên cứu của Châu Ngọc Hoa năm 2005 cho thấy tỷ lệ RLLM ở người bình thường là khoảng 28,0%, tuy nhiên tỷ lệ này có xu hướng ngày càng gia tăng và ngày càng trẻ hóa [5] [6] [12] Đáng nói là rối loạn lipid máu không có biểu hiện triệu chứng rõ rệt, hầu hết người bệnh chỉ biết mình mắc bệnh khi khám sức khỏe định kỳ hoặc nhập viện do hậu quả của bệnh [44]
Rối loạn lipid máu là một bệnh không lây nhưng mức độ phổ biến rất cao, tỉ lệ gia tăng theo sự phát triển kinh tế đặc biệt là ở nhóm nước đang phát triển.Yếu tố bệnh lý gây rối loạn lipid máu đã được biết là do nhiều nguyên nhân khác nhau như thừa cân béo phì, uống nhiều rượu bia, chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực, các thói quen sinh hoạt không có lợi, hút thuốc lá, di truyền, các thói quen sinh hoạt không có lợi [35].Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước vẫn chưa hệ thống đầy đủ
về các yếu tố dịch tễ liên quan nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến rối loạn lipid máu và đặc biệt tại cộng đồng các dân tộc thiểu số Mặt khác, những yếu tố dịch tễ học này cũng thay đổi từ dân số này sang dân số khác, nên việc
áp dụng kết quả từ các nghiên cứu khác trên thế giới vào nhóm dân số khỏe mạnh tại Việt Nam nói chung hoặc các vùng miền có thể dẫn đến những sai lệch nhất định [35] [43] [53]
Nhằm khảo sát tỷ lệ rối loạn lipid máu và các yếu tố dịch tễ liên quan ở người Khmer huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu này trên các đối tượng có độ tuổi 25 – 64 tuổi
Kết quả của nghiên cứu này giúp ích cho các nhân viên y tế và những cơ quan quản lý y tế có các phương án tiếp cận tư vấn, giáo dục sức khỏe để thay đổi hành
Trang 10vi nhằm cải thiện bệnh cũng như có được sức khỏe và cuộc sống chất lượng hơn, một cộng đồng khỏe mạnh hơn Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn có thể giúp ích cho các bác sĩ lâm sàng trong chẩn đoán và điều trị căn bệnh này [31]
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Tỷ lệ rối loạn lipid máu ở người Khmer tuổi từ 25 – 64 tại huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh năm 2015 là bao nhiêu? Có hay không một số yếu tố liên quan đến rối loạn lipid máu ở người Khmer huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 11DÀN Ý NGHIÊN CỨU
RỐI LOẠN LIPID MÁU
ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ HỌC
(giới, tuổi, học
vấn)
THỪA CÂN BÉO PHÌ, THA, CHỈ SỐ ĐƯỜNG HUYẾT
CHẾ ĐỘ
ĂN DẦU
MỠ, RAU QUẢ
VẬN ĐỘNG THỂ LỰC
UỐNG
RƯỢU BIA
HÚT
THUỐC LÁ
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
Lipid máu hay còn gọi là mỡ trong máu là thành phần cấu tạo quan trọng của
cơ thể [28, 40] Thực tế, lipid máu bao gồm nhiều thành phần khác nhau, trong đó quan trọng nhất là cholesterol Lipid máu gồm 4 thành phần chính: cholesterol toàn phần, triglyceride, HDL-cholesterol và LDL-cholesterol Khi có rối loạn một trong bốn thành phần trên hoặc kết hợp nhiều thành phần thì được gọi là rối loạn lipid máu Rối loạn lipid máu không gây ra bệnh tức thì mà là nguyên nhân chính gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm như: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não,
xơ vữa động mạch…
Cholesterol toàn phần:Cholesterol là chất béo dính giống như sáp, nó là chất tiêu
biểu của các sterol, có hầu hết ở trong các tế bào của cơ thể, đặc biệt là các mô thần kinh, sỏi mật, thể vàng của buồng trứng Trong các dịch của cơ thể, cholesterol có thể ở dạng tự do hoặc ở dạng este hóa với các acid béo Cholesterol phần lớn được tạo ra từ gan để phục vụ cho nhiều chức năng quan trọng trong cơ thể như duy trì thành tế bào, là tiền chất để tạo nên nhiều kích thích tố cũng như nhiều các steroid
có hoạt tính sinh học quan trọng (acid mật, muối mật, vitamin D, hormon sinh dục, hormon vỏ thượng thận)[1] Cholesterol được tổng hợp chủ yếu từ acetyl-CoA theo đường HMG-CoA redutase (3-hydroxy-3methylglutaryl) ở nhiều tế bào/mô Khoảng 20% - 25% lượng cholesterol tổng hợp mối ngày (gần 1g/ngày) xảy ra ở gan, các vị trí khác có tỷ lệ tổng hợp cao gồm ruột, tuyến thượng thận và cơ quan sinh sản Với một người khoảng 68kg, tổng lượng cholesterol trong cơ thể khoảng
35 g (3.500 mg) Trong một ngày lượng nội sinh trung bình khoảng 1.000 mg và từ thức ăn trung bình khoảng 200 đến 300 mg Cholesterol kém tan trong nước, nó không thể tan và di chuyển ở dạng tự do trong máu Thay vào đó, nó được vận
Trang 13chuyển bởi các lipoprotein (LP) Đó là các phương tiện chuyên chở cấp độ phân tử tan trong nước mang theo cholesterol và mỡ Các protein tham gia cấu tạo bề mặt của mỗi hạt lipoprotein quyết định cholesterol sẽ được lấy khỏi tế bào nào và sẽ được cung cấp cho nơi đâu
HDL-cholesterol: HDL-c là cholesterol lipoprotein tỷ trọng cao, còn gọi là
cholesterol tốt , giúp loại bỏ các chất béo ra khỏi cơ thể thông qua gan Ở người, khi HDL-cholesterol trong máu cao thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch sẽ được giảm [21] [28] [45]
LDL-cholesterol:LDL-c là cholesterol lipoprotein có tỷ trọng thấp, được biết đến là
cholesterol xấu, bởi vì nó có thể dẫn đến sự gia tăng cholesterol trong động mạch Ở người, nếu hàm lượng LDL-cholesterol trong máu cao thì quy cơ mắc bệnh tim mạch tăng lên [50] [51]
Triglycerides (TG):TG là một loại chất béo trung tính trong máu Nếu cả hai loại
LDL-cholesterol và TG đều cao thì nguy cơ mắc bệnh nhồi máu cơ tim và tai biến mạch não càng cao [52] [59]
1.1.2 Chuyển hóa lipid
Lipid được chuyển hóa theo hai con đường: ngoại sinh và nội sinh
Đường ngoại sinh:Vào đến ruột non, mỡ bị thủy phân cho ra các sản phẩm là
glycerol và acid béo Tế bào biểu mô ruột non hấp thu cholesterol và các sản phẩm
đó Trong niêm mạc ruột, chylomicron (CM) được thành lập CM là lipid lớn nhất chứa nhiều TG nhất (TG chiếm 90% trọng lượng), CM còn chứa Aporotein B-48, vài phospholipid và lượng nhỏ cholesterol CM đi vào mạch bạch huyết ruột rồi vào ống ngực trước khi vào hệ tuần hoàn Tại hệ mao mạch của mô mỡ và mô cơ, dưới tác dụng của Lipid lipase (LPL) thì CM bị tách ra cho vào mô mỡ và mô cơ, phần còn lại của CM trở lại hệ tuần hoàn và tới gan Tại đây phần lớn cholesterol sau khi vào gan được biến đổi thành acid mật rồi được bài tiết theo mật vào tá tràng, nhưng sau đó 90% acid mật được tái hấp thu trở lại vào máu ở phần cuối của ruột non và được sử dụng lại để tạo mật [9]
Đường nội sinh: Phần lớn cholesterol được sinh tổng hợp ở gan, nhưng tất cả các tế
bào khác trong cơ thể cũng có thể tổng hợp được một ít cholesterol từ Acetyl- CoA Hai dạng chính chuyên chở cholesterol nội sinh là LDL và HDL LDL có vai trò
Trang 14chuyên chở cholesterol tới các tế bào của các mô, gan, đại thực bào và cung cấp cholesterol cần dùng cho tế bào Khi tế bào cần cholesterol thì sự tổng hợp các thụ thể của LDL tăng lên HDL chuyên chở cholesterol dư thừa không cần thiết ở các
mô trở về gan Một số cholesterol này được sử dụng lại [9]
1.1.3 Rối loạn lipid máu
Lipid là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể, tham gia cung cấp 25%- 30% năng lượng cơ thể 1g lipid cung cấp đến 9,1 kcal Lipid là nguồn năng lượng
dự trữ lớn nhất trong cơ thể, dạng dự trữ là mỡ trung tính triglycerid tại mô mỡ Bình thường khối lượng mỡ thay đổi theo tuổi, giới và chủng tộc Nhu cầu về lượng chưa được chính xác, vào khoảng 1g/kg thể trọng ngày, nên dùng lượng lipid với 2/3 dầu thực vật (acid béo không bão hòa) và 1/3 mỡ động vật (acid béo bão hòa) với lượng cholesterol dưới 300 mg/ngày [3]
Rối loạn lipid máu (RLLM) là tình trạng bệnh lý khi có một hoặc nhiều thông
số lipid bị rối loạn (tăng cholesterol hoặc tăng triglicerid, hoặc tăng LDL-c, hoặc giảm HDL-c…) RLLM thường được phát hiện cùng lúc với mội số bệnh lý tim mạch-nội tiết-chuyển hóa Đồng thời RLLM cũng là yếu tố nguy cơ của bệnh lý này Nguyên nhân của RLLM có thể do nguyên phát như di truyền hoặc thứ phát do phong cách sống không hợp lý Điều trị RLLM thay đổi lối sống (tăng cường vận động thể lực, thay đổi chế độ ăn: hạn chế bia rượu, mỡ động vật…) hoặc dùng thuốc giảm lipid máu Điều trị RLLM góp phần vào điều trị bệnh nguyên của nhiều bệnh tim mạch, nội tiết, chuyển hóa [3]
1.1.4 Phân loại rối loạn lipid máu
Có nhiều cách phân loại rối loạn lipid máu, tập trung mô tả tình trạng rối loạn lipid máu hoặc hướng vào việc xử lý trong thực hành lâm sàng Phân loại tăng lipoprotein máu Frederickson/WHO là cách phân loại hướng tới mô tả tình trạng rối loạn lipid máu Fredrickson chia tăng lipoprotein máu ra làm 5 type, sau đó được các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phân loại bổ sung type II thành týp IIa và týp Iib [13]
Trang 15Bảng 1.1: Phân loại RLLM của Fredrickson /WHO
Type Thành phần lipoprotein tăng Thành phần lipid tăng
Bảng 1.2: Phân loại RLLP máu EAS (European Atherosclerosis Society)
Loại Tăng cholesterol Tăng triglyceride Thể tăng kết hợp
1.1.5 Đánh giá mức độ rối loạn lipid máu
Tất cả những người trên 20 tuổi cần được xét nghiệm về lipid máu mỗi 5 năm cần bao gồm đủ 4 chỉ số cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol, HDL-cholesterol
và triglyceride Kết quả xét nghiệm được đánh giá theo bảng sau:
Bảng 1.3: Các mức độ rối loạn lipid máu [36]
Trang 16Các trị số của từng thành phần lipid máu thường được tính theo đơn vị mg% hoặc mmol/L
Bảng 1.4: Chuyển đổi trị số các thành phần lipid máu theo 2 hệ thống đơn vị
Công thức chuyển đổi:
Y (mmol/L) = hệ số chuyển đổi 1 x X (mg%)
X (mg%) = hệ số chuyển đổi 2 x Y (mmol/L
Chất Hệ số chuyển đổi 1 Hệ số chuyển đổi 2
1.2.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Quri M và cộng sự (1980) về mối quan hệ giữa hút thuốc là và lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-cholesterol) theo dõi trên 2.663 người đàn ông và 2.553 phụ nữ tuổi từ 20-69 ở Bắc Mỹ cho thấy những người đàn ông và phụ nữ hút thuốc lá có mức độ HDL-cholesterol thấp hơn so với những người không hút hoặc hút thuốc lá ít Nghiên cứu này sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính để khắc phục
sự khác biệt mức độ HDL-cholesterol theo độ tuổi, tình trạng thừa cân béo phì, uống rượu bia và vận động thể lực Đối với những người đàn ông hút thuốc hơn 20 điếu/ ngày thì HDL-cholesterol trung bình thấp hơn những người không hút là 5,3 mg/dl (11%) (p<0,01), đối với những phụ nữ hút thuốc hơn 20 điếu/ngày thì HDL-cholesterol thấp hơn nhóm không hút thuốc là 9,4mg/dl (14%) Những phát hiện này chỉ ra rằng hút thuốc lá liên quan đến sự giảm HDL-cholesterol đáng kể [23] Nghiên cứu của Jeremiah S (1986) theo dõi 356.222 người đàn ông tuổi từ 35-57 không có tiền sử nhập viện do nhồi máu cơ tim trong một thời gian dài cho thấy, với mỗi nhóm tuổi, có mối tương quan tuyến tính mạnh giữa cholesterol huyết thanh và tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành, theo đó những người 35-57 tuổi có cholesterol huyết thanh ≥ 180 mg/dl là 46%, tỷ lệ tử vong trong nhóm này là gần một nửa [37]
Nghiên cứu của Famingham (1987) về mối liên quan giữa cholesterol và tử vong ở 1.959 người đàn ông và 2.415 phụ nữ từ 31- 65 tuổi không có bệnh tim mạch và ung thư cho thấy: ở độ tuổi dưới 50, mức độ cholesterol có liên quan trực
Trang 17tiếp với tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, cụ thể cứ tăng cholesterol lên mỗi 10 mg/dl thì tỷ lệ mắc bệnh tim mạch tăng 9%, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch tăng 5% Có mối liên quan giữa nồng độ cholesterol trong 14 năm đầu với tử vong trong 18 năm
kế tiếp, cụ thể cứ mỗi năm cholesterol tăng 1mg/dl thì tỷ lệ mắc bệnh tim mạch tăng 14% và tử vong do bệnh tim mạch tăng 11% Kết quả này khuyến nghị rằng để cải thiện tuổi thọ, cần duy trì cholesterol ở mức thấp [40]
Báo cáo của một nhóm chuyên gia (1988) về cholesterol đã đưa ra những hướng dẫn mới trong điều trị tăng cholesterol máu ở người ≥ 20 tuổi Cholesterol toàn phần được phân loại như sau: mức bình thường (<200 mg/dl), tăng cholesterol mức thấp (200-239 mg/dl), tăng cholesterol mức cao (≥ 240 mg/dl) Chế độ ăn uống
là phương pháp điều trị chủ yếu để làm giảm cholesterol trong máu Báo cáo này cũng quy định cụ thể mức độ LDL-c cần điều trị bằng chế độ ăn uống và cung cấp hướng dẫn chi tiết về chế độ ăn uống này Nếu sau 6 tháng điều trị bằng chế độ ăn uống, LDL-c vẫn trên mức cho phép thì xem xét điều trị bằng thuốc [49]
Nghiên cứu của Andrew K và các cộng sự (1988) về mối quan hệ giữa cholesterol với tiêu thụ rượu, các yếu tố lối sống khác với bệnh mạch vành trên 88 người đàn ông và 49 người phụ nữ tuổi 35-64 Kết quả nghiên cứu này cho thấy HDL-cholesterol tương quan nghịch với bệnh mạch vành, có mối liên quan chặt chẽ giữa uống rượu và HDL-cholesterol [18]
HDL-Jame D Neaton và cộng sự (1992) theo dõi 316.099 người đàn ông trong 12 năm cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa cholesterol huyết thanh mức trên 180 mg/dL, HA tâm thu trên 110 mmHg và HA tâm trương trên 70 mmHg với tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành Nam giới hút thuốc với cholesterol huyết thanh cao và
HA tâm thu ở mức cao nhất thì có tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành cao gấp 20 lần
so với những người đàn ông không hút thuốc với cholesterol và HA tâm thu ở mức thấp nhất Điều này chứng tỏ mức độ nguy hiểm của nồng đồ cholesterol trong máu cao kết hợp tình trạng hút thuốc lá và HA cao ở nam giới [33]
Nghiên cứu của Monique (1995) theo dõi 12.467 người đàn ông từ 40-59 tuổi
ở 16 vùng thuộc 7 quốc gia (5 nước châu Âu, Mỹ và Nhật Bản) cho thấy cholesterol liên quan tuyến tính với sự gia tăng tương đối tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành
Trang 18Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố khác như chế độ ăn uống có vai trò rất quan trọng trong phòng ngừa bệnh [46]
Nghiên cứu của Jonathan R Embersona và cộng sự (2003) theo dõi nguy cơ mắc bệnh mạch vành trong 10 năm ở 6.513 người đàn ông tuổi trung niên ở Anh không có bệnh mạch vành, cho thấy có ít nhất 80% nguy cơ cao mắc bệnh mạch vành có thể do 3 yếu tố: tăng cholesterol, cao huyết áp và hút thuốc [38]
Tất cả các nghiên cứu Framingham về tim mạch (2003) từ năm 1971 đến năm
1996 trên những đối tượng không có bệnh mạch vành, và không được điều trị hạ lipid máu ở các lứa tuổi 40 – 80, đối tượng nghiên cứu được phân tầng theo mức độ cholesterol toàn phần và cholesterol thành phần Nguy cơ mắc bệnh mạch vành ở mọi lứa tuổi đều tăng mạnh nếu có mức cholesterol cao Những dữ liệu này có vai trò quan trọng trong việc sàng lọc cholesterol ở những người trẻ, giúp các đối tượng
có nguy cơ cao có định hướng thay đổi lối sống hoặc điều trị bằng thuốc [24]
Báo cáo của NECP Hoa Kỳ (2015) đã có những bước tiến quan trọng trong việc hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ cholesterol trong máu cao Điều này được chứng minh trong các kết quả điều tra quốc gia Giai đoạn 1983-1995, tỷ lệ dân số
Mỹ đã từng bị tăng cholesterol máu là 35-75% Từ năm 1978, cholesterol trung bình của người Mỹ giảm từ 213 mg/dl xuống còn 203 mg/dl và tỷ lệ có cholesterol ≥ 240 mg/dl giảm từ 26% xuống 19% Cũng theo đó, tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành cũng tiếp tục giảm Các con số này chứng minh công tác giáo dục cộng đồng về cholesterol đã có nhiều tác động đáng kể [47]
Scott M Grundy (2007) báo cáo rằng, một số nhà nghiên cứu vẫn lập luận rằng không nên dùng thuốc hạ cholesterol cho phụ nữ không có bệnh tim mạch vì không
đủ bằng chứng về các thử nghiệm phòng ngừa ban đầu ở phụ nữ Họ cho rằng phụ
nữ không có bệnh tim mạch phản ứng khác nhau với thuốc, nếu thực sự như vậy thì phụ nữ có thể không đáp ứng với điều trị kể cả khi họ có mức độ nguy cơ như người đàn ông Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu cũng cho thấy tăng cholesterol là yếu tố chính gây cơn đau tim ở cả nam giới và nữ giới Các cơ sở bệnh lý cho thấy sự khác biệt về điều trị hạ cholesterol giữa nam và nữ không mắc bệnh tim mạch là rất khó phân biệt Mặc dù phụ nữ thường xảy ra xơ vữa động mạch muộn hơn đàn ông [54]
Trang 19Nghiên cứu của Kuninori S và các cộng sự (2005) trên 1.427 người độ tuổi
30-60 sống ở Nhật, Hàn Quốc, Mông Cổ cho thấy chỉ số BMI có mối tương quan thuận với triglyceride và tương quan nghịch với HDL-cholesterol [41]
Nghiên cứu của Luiz José de Souza và cộng sự (2003) thực hiện trên 1.039 đối tượng sống ở Campos dos Goytacazes, Rio de Janeriro – Brazil cho thấy RLLM là 24,2% trong đó: tỷ lệ tăng cholesterol toàn phần là 4,2%, tăng TG là 17,1%, giảm HDL-c là 18,3%, tăng LDL-c là 3,5% Tỷ lệ RLLM ở giới nam cao hơn giới nữ và tăng dần theo độ tuổi, cụ thể độ tuổi từ 50-59 có tỷ lệ cao nhất là 37,7% Người bị béo bụng làm tăng tỷ lệ rối loạn cholesterol và TG so với những người không béo bụng, những người có lối sống tĩnh tại có nguy cơ tăng TG so với những người có hoạt động thể lực Tỷ lệ tăng TC, TG, LDL-c và giảm HDL-c ở người đái tháo đường, tăng huyết áp cao hơn người bình thường [58]
Nghiên cứu của Myung Ha Lee và các CS (2005) tại Hàn Quốc đã tiến hành theo dõi người từ 20 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ RLLM tăng dần từ 32,4% năm 1998 lên 42,6% năm 2001 và 44,1% năm 2005 Độ tuổi có RLLM cao nhất là từ 60-69 tuổi Theo đó, trong năm 2005 tỷ lệ tăng cholesterol toàn phần là 8,7% (ở nam và
nữ là 8,5% và 8,9%); tăng LDL-c là 33,4% (ở nam 43,5% và nữ 24,5%); tăng TG là 14,8% (nam 20,8% và nữ 8,9%) [42]
Theo báo cáo của MESA-Hoa Kỳ (2006), một nghiên cứu thực hiện trên 6.704 đối tượng tại 6 tiểu bang của Hoa Kỳ cho thấy có khoảng 29,3% bị RLLM Trong
đó ở nhóm người gốc Á, RLLM ở nam (26,9%) cao hơn ở nữ (21%) Nhóm người
da đen có tỷ lệ RLLM ở nam (31,2%) cao hơn nữ (29,1%) Một nghiên cứu khác cũng chứng tỏ yếu tố dân tộc có ảnh hưởng đến tỷ lệ rối loạn lipid máu, nghiên cứu của… [27]
Báo cáo của chương trình y tế quốc gia Thái Lan (NHES) lần thứ IV (2009), một nghiên cứu của Wichai Aekplakorn và các CS đã được thực hiện trên 19.021 người dân Thái Lan cho thấy có khoảng 66,5% người dân bị RLLM, trong đó tỷ lệ tăng LDL-c, TG và giảm HDL-c lần lượt là 29,6%; 38,6%; 47,1% Tỷ lệ RLLM ở giới nam và nữ gần như tương đương nhau, độ tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc càng cao
Có mối liên quan giữa những người bị thừa cân (BMI 23-25 kg/m2) với RLLM, cụ thể những người bị thừa cân có nguy cơ tăng cholesterol máu 1,53 lần, tăng TG
Trang 201,64 lần, tăng LDL-c 1,68 lần và giảm HDL-c 1,26 lần so với những người không thừa cân (BMI <23 kg/m2) Tỷ lệ tăng TC, TG, LDL-c và giảm HDL-c ở cao hơn ở người đái tháo đường và tăng huyết áp [17]
Nghiên cứu của İlhan ÇETİN và các CS (2010) trên 1.095 người tại tỉnh Tokat, Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy 33,7% những người tham gia có tăng cholesterol máu,
tỷ lệ tăng LDL-c là 36,2%, tỷ lệ tăng TG là 36,1% và giảm HDL-c là 50,9% Những đối tượng có béo bụng thì giá trị trung bình cholesterol máu, LDL-c cao hơn và HDL-c thấp hơn những người không béo bụng Các giá trị trung bình TC, TG, LDL-c ở người đái tháo đường cao hơn người bình thường [32]
Nghiên cứu của Shashank R Joshi và các CS (2014) thực hiện trên 16.607 người từ 20 tuổi trở lên tại 3 bang và một số lãnh địa ở Ấn Độ cho thấy khoảng 79% dân số Ấn Độ có bất thường một trong các thông số lipid máu, trong đó 13,9% rối loạn cholesterol máu, 29,5% tăng TG, 11,8% tăng LDL-c và 72,3% giảm HDL-c Béo bụng làm tăng nguy cơ rối loạn cholesterol máu lên 3,41 lần, tăng TG 4,15 lần, tăng LDL-c 2,83 lần và giảm HDL-c 2,29 lần Những người có lối sống tĩnh tại có nguy cơ tăng TG 1,43 lần, tăng LDL-c 1,42 lần và giảm HDL-c 1,37 lần so với những người có hoạt động thể lực Những người có uống rượu bia làm giảm sự tăng LDL-c và giảm HDL-c 0,55 và 0,6 lần [56] Những con số này cho thấy một tỷ lệ rất cao mắc rối loạn lipid máu và các yếu tố hành vi lối sống liên quan chặt chẽ đến rối loạn lipid máu
Nghiên cứu của Bayram và các CS (2014) khảo sát 4.309 đối tượng cho thấy
có 43% tăng cholesterol, 41,5% giảm HDL-C, 36,2% tăng LDL-C, và 35,7% tăng
TG Trong số đó, tỷ lệ có rối loạn ít nhất là 1 thành phần lipid máu ở 78,7% nam và 80,4% nữ Tăng cholesterol, TG và LDL-c gia tăng theo tuổi, với tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi 46 đến 65 tuổi RLLM liên quan đến tuổi, chỉ số khối cơ thể, vòng eo, đường huyết, huyết áp [20]
Nghiên cứu của Wen-Qing Ni và các CS (2015) đã khảo sát cắt ngang 1.995 người cho kết quả: tỷ lệ tăng cholesterol, TG, LDL-c và giảm HDL-c là 14,49%, 16,14%, 12,13 và 8,82% Tỷ lệ rối loạn lipid máu là 34,64% Rối loạn lipid máu liên quan đáng kể với sự gia tăng tuổi tác, tình trạng hút thuốc, cao huyết áp, tiểu đường, và chỉ số khối cơ thể [48]
Trang 211.2.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của Châu Ngọc Hoa (2005) trên 3.474 người cho thấy nồng độ cholesterol trung bình tăng theo tuổi, nhất là sau 45 tuổi Tỷ lệ người tăng TC là 28,4%, tăng TG là 41,5%, tăng LDL-c là 19,4% Nghiên cứu này thực hiện trên các đối tượng đến kiểm tra sức khỏe tại bệnh viện, có thể rằng xác suất họ đang mắc một bệnh lý nào đó nên chưa thực sự đại diện cho dân số bình thường [7]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh và các CS (2010) trên 1.066 sĩ quan thuộc Bộ Tư lệnh Biên phòng tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ RLLM tăng rõ rệt theo BMI
Ở những đối tượng thừa cân béo phì, tỷ lệ tăng cholesterol là 34%, tăng Tg 49% tăng LDL-c 27,5% và giảm HDL-c 17,5% [11]
Nghiên cứu của Vương Thanh Mai (2013) ở 380 cán bộ tỉnh Tây Ninh cho thấy tỷ lệ RLLM là 50% Trong đó tăng cholesterol 42,4%, tăng TG 29,5%, tăng LDL-c 29,2% và giảm HDL-c 8,4% RLLM ở nhóm thừa cân béo phì 32,1% [10]
“Khảo sát đặc điểm rối loạn chuyển hóa lipid trên đối tượng cán bộ diện quản
lý sức khỏe của ban bảo vệ sức khỏe tỉnh Vĩnh Long” của Lê Văn Trung trên 315 đối tượng cho thấy nhóm rèn luyện thể dục thể thao thì có TC, TG và LDL-c thấp hơn nhóm không rèn luyện, nhóm công việc ít vận động có tỷ lệ tăng TC và TG cao hơn nhóm công việc đòi hỏi vận động, nhóm huyết áp cao có tỷ lệ tăng TG, TC cao hơn nhóm huyết áp bình thường Nhóm uống rượu bia, nhóm đái tháo đường có tỷ
lệ tăng TG cao hơn nhóm không uống rượu bia và nhóm không đái tháo đường, nhóm gan nhiễm mỡ có tỷ lệ tăng TC, TG, LDL-c cao hơn nhóm không có gan nhiễm mỡ, nhóm thừa cân có tỷ lệ tăng TC, TG cao hơn và HDL-c thấp hơn nhóm bình thường [15]
Nghiên cứu của Nguyễn Chí Đức và Nguyễn Đức Công (2012) trên 154 nam
sĩ quan cao cấp tuổi 40 – 58 quân đoàn K cho thấy có 87,7% có ít nhất 1 thành phần lipid bị rối loạn; trong đó đối tượng bị kết hợp cả hai; ba và bốn thành phần lipid cùng rối loạn có tỷ lệ lần lượt là 18,2%; 36,4% và 3,9%; tỷ lệ rối loạn duy nhất 1 thành phần 29,2%; kết hợp triglyceride cao với cholesterol toàn phần cao có tỷ lệ cao nhất 42,8% Tỷ lệ tăng triglycerid 63,6%; tăng cholesterol toàn phần 61%, tăng
tỉ số LDL-c/HDL-c (≥2,23) là 53,3%, tăng cholestrol/HDL-c là 53,2%; tăng LDL-c
Trang 22chiếm 42,5%, giảm HDL-c chiếm 11,0% HDL-c và tỉ số cholesterol/HDL-c và LDL-c/HDL-c có liên quan với chỉ số khối cơ thể BMI và vòng bụng [4]
Các kết quả của các nghiên cứu trên những khác biệt với nhau và cho thấy tỷ
lệ RLLM nói chung tăng theo thời gian Đối tượng nghiên cứu của các nghiên cứu này là những cán bộ hoặc sỹ quan bộ tư lệnh hoặc sỹ quan quân đoàn K, có thể họ
có nhiều khác biệt về học vấn, công việc, các hành vi cơ bản như uống rượu bia, hút thuốc, thói quen ăn uống, sinh hoạt, các hoạt động trong công việc, do đó không thực sự đại diện cho một dân số bình thường
Nghiên cứu của Huỳnh Hữu Duyên (2013) trên 416 đối tượng công nhân công
ty xi-măng Holcim trong đợt khám sức khỏe định kỳ cho thấy có tới 73,6% có rối loạn ít nhất một thành phần lipid máu Trong đó Tỷ lệ tăng TC chiếm 41,4%, tăng
TG chiếm 47,4%, tăng LDL‐c 10,1%, giảm HDL-c chiếm 28,1%, tăng Lipid toàn phần chiếm 46,4% RLLM có liên quan chặt chẽ đến giới tính và nhóm tuổi, giới nam có tỷ lệ cao hơn nữ, tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng TC càng tăng Chỉ số khối cơ thể càng tăng thì tỷ lệ TG càng tăng và HDL càng giảm, những người đã từng uống rượu có tỷ lệ tăng TG và giảm HDL cao hơn những người không uống [5] Nghiên cứu này thực hiện trên đối tượng là công nhân, về các đặc tính dân số học như giới, tuổi học vấn và các thói quen sinh hoạt có thể mang tính đại diện cho dân số bình thường, tuy nhiên họ vẫn có những khác biệt trong hoạt động trong công việc, tình trạng sức khỏe …
1.2.3 Một vài đặc điểm về địa phương nghiên cứu
Vị trí địa lý:
Trà cú nằm cách tỉnh lỵ Trà Vinh 33km đường lộ trên tuyến quốc lộ 53 và 54 Phía Đông tiếp giáp huyện Cầu Ngang , phía Nam giáp huyện Duyên Hải, phía Bắc giáp huyện Tiểu Cần và Châu Thành, phía Tây giáp sông Hậu.Đây là tuyến vận tải hàng hóa quốc tế qua cửa biển Định An
Trang 23Hình 1: Bản đồ đơn vị hành chính tỉnh Trà Vinh
Phía Đông giáp huyện Cầu Ngang, Duyên Hải
Phía Tây giáp sông Hậu(tỉnh Sóc Trăng)
Phía Nam giáp huyện Duyên Hải
Phía Bắc giáp huyện Châu Thành, Tiểu Cần [16]
Diện tích:
Diện tích huyện Trà Cú khoảng 369,9 km2 Đất nông nghiệp là 31.261,7 ha, chiếm 84,51% diện tích tự nhiên gồm: đất trồng cây hàng năm 23.986,81 ha, chiếm 76,73% diện tích đất nông nghiệp(trong đó đất trồng lúa); đất trồng cây lâu năm 4.919,77 ha, chiếm 15,74% diện tích đất nông nghiệp; đất nuôi trồng thủy sản 2.355,12 ha, chiếm 7,53% diện tích đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp 5.708,85 ha; đất chưa sử dụng 21,9 ha; sông rạch 3.043,24 ha [16]
Trang 24Dân số:
Huyện có đông đồng bào Khmer nhất tỉnh, chiếm 60% dân số so với dân số toàn huyện, chủ yếu sinh sống ở các xã vùng sâu, vùng xa Trung tâm của huyện là thị trấn Trà Cú Dân số năm 2011 là 167.637 người người, mật độ dân số khoảng
453 người/km2 Dân cư phân bố không đều, thường tập trung ở khu vực thị trấn, trung tâm xã và ven đường giao thông, còn vùng sâu, vùng xa dân cư thưa thớt [16] Nguồn lao động tại địa phương rất dồi dào, số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 68,9 % dân số toàn huyện, phần lớn là lao động nông thôn và lao động phổ thông [16]
Trang 25CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Trong đó: Z(1-α/2) = 1,96 với độ tin cậy 95%
p = 0,736 Theo nghiên cứu của Huỳnh Hữu Duyên năm 2013 về “tỷ lệ rối
loạn lipid máu và các yếu tố liên quan ở công nhân công nhân công ty ximăng Holcim” cho thấy tỷ lệ người có rối loạn ít nhất một thành phần lipid máu là 73,6%
Nguyễn Thanh Bình về ”Thực trạng tăng huyết áp ở người Khmer tỉnh Trà Vinh và
hiệu quả một số biện pháp can thiệp”, các dữ liệu được thu thập đồng thời trong
nghiên cứu của NCS Nguyễn Thanh Bình
2.2.4 Tiêu chí chọn mẫu
Tiêu chí đưa vào
Những người Khmer từ 25 – 64 tuổi thường trú trên 1 năm tại xã được chọn tính đến thời điểm nghiên cứu và họ đồng ý tham gia nghiên cứu Dựa vào đăng ký
Trang 26cư trú để xác định thời gian thường trú, dựa vào giấy khai sinh, giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ khẩu để xác định tuổi và dân tộc
Tiêu chí loại trừ
Những người đã ăn hoặc uống trong vòng 12 tiếng trước khi lấy máu ngoại trừ nước lọc hoặc không đủ điều kiện để lấy máu xét nghiệm
Những người phụ nữ đang mang thai
Những người có dị tật cột sống hoặc dị tật ở chân không đo được chiều cao…
2.2.5 Kỹ thuật chọn mẫu
Mẫu nghiên cứu chúng tôi chọn là phần đối tượng trong nghiên cứu của NCS
Nguyễn Thanh Bình năm 2015 ở địa điểm 12 xã tại huyện Trà Cú Đề tài “Thực
trạng tăng huyết áp ở người Khmer tỉnh Trà Vinh và hiệu quả một số biện pháp can thiệp” của NCS Nguyễn Thanh Bình
Kỹ thuật chọn mẫu trong nghiên cứu của NCS Nguyễn Thanh Bình: chọn mẫu cụm ngẫu nhiên theo kích cỡ dân số (PPS), số cụm là 30 cụm, đơn vị cụm là xã/phường
Bước 1: Lập danh sách các xã và dân số các xã tại tỉnh Trà Vinh (phụ lục)
Các xã được lựa chọn lựa trong nghiên cứu của chúng tôi bao gồm : An Quảng Hữu, Tân Sơn, Tập Sơn, Ngãi Xuyên, Phước Hưng, Long Hiệp, Ngọc Biên, Thanh Sơn, Tân Hiệp, Hàm Tân, Đôn Xuân, Đôn Châu
Bước 2 : Tính dân số cộng dồn (tích lũy) của các xã trong huyện Tính khoảng
cách mẫu K= tổng số dân cộng dồn/30 cụm Tổng dân số cộng dồn là 187096 người Như vậy K=187.096/30 = 6.236
Chọn số ngẫu nhiên m=2.345 (thỏa điều kiện 1≤ m ≤6.236)
Chọn 30 cụm (phưỡng/xã) : Gọi n là số thứ tự xã được chọn trong danh sách
(n=1 ; 2 ; 3 ;… ;30) Chọn các cụm theo nguyên tắc Số dân cộng dồn của các xã ≥
m + (n-1)K
Danh sách các xã được chọn (phụ lục)
Bước 3 : Chọn đối tượng bằng phương pháp phân tầng theo nhóm tuổi và giới
cho những xã đã được chọn : Số mẫu được chọn ở mỗi cụm là 40 người
Phân tầng theo giới và nhóm tuổi: ở mỗi giới chia tuổi làm 4 nhóm tuổi 25
-34, 35 – 44, 45 – 54, 55 – 64
Trang 27Vậy mỗi xã sẽ có 8 nhóm đối tượng, mỗi nhóm chọn 5 người Dùng phương pháp chọn ngẫu nhiên hệ thống chọn các đối tượng vào mẫu như sau :
Lập danh sách toàn bộ người dân tộc Khmer 25 – 64 tuổi ở mỗi xã theo tầng
và theothứ tự tên ABC; Với mỗi tầng, xác định khoảng cách i theo công thức ”i= số dân mỗi nhóm tuổi theo giới/số mẫu cần chọn ở mỗi nhóm tuổi theo giới” Tiến hành chọn trên bảng số ngẫu nhiên một số h trong khoảng từ 1 đến i là đối tượng đầu tiên được chọn vào mẫu Chọn những cá thể trong danh sách trên có số thứ tự lần lượt là h, h+ i, h +2i, h + 3i cho đến đủ số đối tượng cần chọn
2.3 Định nghĩa các biến số
2.3.1 Biến số về đặc điểm dân số xã hội
Giới tính: là giới tính tại thời điểm khảo sát, gồm 2 giá trị là nam và nữ
Tuổi: là biến số định lượng được tính theo năm dương lịch từ lúc sinh cho đến thời điểm nghiên cứu (2015) Trong phân tích các dữ liệu, tuổi được biến đổi thành biến
số thứ tự với 4 nhóm sau đây:
2.3.2 Biến số thói quen sinh hoạt
Hút thuốc 6 tháng qua: là biến số nhị giá gồm:
Có: hiện đang hút thuốc bất kỳ loại thuốc nào như thuốc lá, thuốc lào, xì gà
hay tẩu thuốc, hoặc đã bỏ hút thuốc chưa đầy 6 tháng
Không: hoàn toàn không hút thuốc hoặc đã bỏ hút thuốc trên 6 tháng [5] [8]
Lượng hút thuốc mỗi ngày: là biến số thứ tự gồm 3 giá trị:
Lượng ít: đang hút bất kỳ loại thuốc nào như: thuốc điếu, thuốc giồng, xì gà
hay tẩu thuốc với lượng dưới 10 điếu/ngày
Lượng trung bình: đang hút bất kỳ loại thuốc nào như: thuốc điếu, thuốc
giồng, xì gà hay tẩu thuốc với lượng 10- <20 điếu/ngày
Trang 28Lượng nhiều: đang hút bất kỳ loại thuốc nào như: thuốc điếu, thuốc giồng, xì
gà hay tẩu thuốc với lượng ≥ 20 điếu/ngày [5] [8]
Thời gian hút thuốc: là biến số thứ tự gồm các giá trị
Dưới 5 năm
5 đến 10 năm
Trên 10 năm [5] [8]
Thường xuyên uống rượu bia 12 tháng qua: là biến số nhị giá gồm các giá trị
Có: uống bất kỳ thức uống có cồn nào tương đương từ 1 đơn vị chuẩn trở lên
trong vòng 12 tháng qua với tần suất ≥ 1 ngày/tuần (01đơn vị chuẩn tương đương 10g ethanol tương đương 330ml bia, 30ml rươu mạnh, 120ml rượu vang)
Không: hoàn toàn không uống hoặc đã bỏ uống các thức uống có cồn trên 12
tháng qua hoặc có uống nhưng không đạt chuẩn trên [5] [8] [19]
Lạm dụng rượu: là biến số nhị giá gồm:
Có: Khi uống ≥ 5 ly chuẩn (đối với nam), ≥ 4 ly chuẩn (đối với nữ) vào bất kỳ
ngày nào trong tuần (01đơn vị chuẩn tương đương 10g ethanol tương đương 330ml bia, 30ml rươu mạnh, 120ml rượu vang)
Không: khi không uống hoặc có uống nhưng uống < 5 ly chuẩn (đối với nam),
< 4 ly chuẩn (đối với nữ) ở tất cả các ngày trong tuần [5] [8] [19]
Vận động thể lực: là biến số nhị giá, được đánh giá dựa theo bộ câu hỏi và hướng dẫn phân tích của WHO (GPAQ)
Có: khi vận động thể lực nặng ≥ 75 phút/tuần hoặc vận động cường độ trung
bình ≥ 150 phút/tuần hoặc tích lũy cả hai cường độ đạt ≥600 MET-phut/tuần
Không: không thỏa tiêu chí trên
Thường sử dụng mỡ: là biến số nhị giá gồm
Không: sử dụng dầu (chất béo) có nguồn gốc từ thực vật
Có: sử dụng các loại dầu, mỡ có nguồn gốc từ động vật như mỡ heo,…
Chế độ ăn rau quả: là biến số nhị giá, được phân loại theo khuyến nghị ăn rau quả của WHO:
Có: khi lượng rau hoặc quả ăn trung bình mỗi ngày ≥ 5 suất Mỗi suất rau quả
tương đương với 80 g
Không: khi không thỏa tiêu chí trên
Trang 292.3.3 Biến số về bệnh lý nền
Thừa cân – béo phì: được đánh giá dựa trên chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tiêu chuẩn của WHO cho người Châu Á Chỉ số khối cơ thể (BMI): tính theo công thức: BMI =
Theo WHO, tình trạng BMI có các mức sau: + Gầy: BMI dưới 18.5
+ Bình thường: BMI từ 18.5 đến dưới 25
+ Thừa cân: BMI từ 25 đến dưới 30
+ Béo phì: BMI lớn hơn hoặc bằng 30
Cân nặng: là trọng lượng thật của người đó khi mặc quần áo mỏng, trang phục nhẹ không đáng kể, tính theo đơn vị kilogram (kg)
Chiều cao: là chiều cao tính từ gót chân đến đỉnh đầu, tính theo mét (m)
Biến số thừa cân béo phì có 3 giá trị sau:
Có: khi vòng bụng ≥ 90cm đối với nam hoặc vòng bụng ≥ 80 cm đối với nữ
Vòng bụng là chu vi vòng eo thật của người đó khi mặc quần áo mỏng đo ở trung điểm đường nối giữa xương sườn thấp nhất và đỉnh của mào chậu, tính theo đơn vị centimet (cm) (theo WHO)
Không: Vòng bụng < 90 cm đối với nam hoặc < 80 cm đối với nữ
Tăng huyết áp: là biến số nhị giá, gồm:
Có: khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥
90mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hằng ngày
Không: khi huyết áp tâm trương <90 mmHg và huyết áp tâm thu <140 mmHg
đồng thời chưa được chẩn đoán THA trước đó bởi nhân viên y tế
Chỉ số đường huyết: là chỉ số đường huyết đo dược sau 12 giờ nhịn ăn/uống, được chuyển thành biến số nhị giá trong phân tích, gồm giá trị:
Cao: chỉ số đường huyết ≥ 6,4 mmol/dL
Bình thường: chỉ số đường huyết <6,4 mmol/dL
Trang 302.3.4 Biến số rối loạn lipid máu
Cholesterol toàn phần [52]: Là biến số định lượng liên tục, được biến đổi thành biến đổi thành biến định tính với 2 giá trị
Bình thường: ≤ 200 mg/dl
Tăng (có rối loạn TC): > 200 mg/dl
Triglyceride [52]: là biến số định lượng liên tục Được biến đổi thành biến định tính gồm hai giá trị
Bình thường: TG ≤ 150 mg/dl
Tăng (có rối loạn TG): TG > 150 mg/dl
LDL – cholesterol [52]: là biến số định lượng liên tục được biến đổi thành biến số định tính với hai giá trị
Bình thường: ≤ 160 mg/dl
Tăng (có rối loạn LDL): > 160 mg/dl
HDL – cholesterol [52]: Là biến số định lượng liên tục được biến đổi thành biến số định tính với hai giá trị
Bình thường: ≥ 40 mg/dl
Giảm (có rối loạn HDL): < 40 mg/dl
Rối loạn lipid máu [40]: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị
Có: khi có rối loạn bất kỳ một trong bốn thành phần lipid máu gồm cholesterol
toàn phần, Triglyceride, LDL – cholesterol, HDL – cholesterol hoặc kết hợp giữa các thành phần trên
Không: khi không rối loạn bất kỳ thành phần nào
Rối loạn lipid máu theo thành phần: là biến số danh định gồm các giá trị
Không rối loạn: Khi không rối loạn bất kỳ thành phần nào
Rối loạn 1 chỉ số
Rối loạn 2 chỉ số
Rối loạn 3 chỉ số
Rối loạn 4 chỉ số
Trang 312.7 Thu thập số liệu
2.7.1 Phương pháp thu thập số liệu
Xét nghiệm máu: Lấy 2 ml máu xét nghiệm vào buổi sáng trước khi đối tượng
ăn sáng, gửi ngay về phòng xét nghiệm, bao gồm các chỉ số đường huyết, cholesterol toàn phần (TC), triglyceride (TG), lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) và lipoprotein tỷ trọng cao (HDL)
Đo huyết áp: Đo 2 lần, mỗi lần cách nhau từ 3-5 phút ở tư thế ngồi, cánh tay trái, mức ngang tim, chênh lệch huyết áp tâm thu trên 20 mmHg hoặc huyết áp tâm trương trên 10 mmHg thì tiến hành đo lần 3 Không đo khi đối tượng hút thuốc, uống rượu bia hoặc cà phê, các chất kích thích khác trước khi đo 8 giờ hoặc đối tượng chưa được nghỉ ngơi sau khi vận động, không nói chuyện khi đo Đo huyết áp được thực hiện bởi các nhân viên y tế được tập huấn, có kỹ năng chuyên môn
Đo chiều cao, vòng eo: sử dụng thước dây theo đơn vị centimet sai số chuẩn 0,5 cm; đối với đo chiều cao: đo tư thế đứng 5 điểm chạm tường gồm chẩm, vai, mông, bắp chân và gót chân; đo vòng eo: lấy mốc là điểm giữa của mào chậu trước trên với bờ dưới của xương sườn dưới cùng ở hai hông trái phải, các kỹ thuật thực hiện bởi điều tra viên đã được tập huẫn kỹ lưỡng
Phỏng vấn: tiến hành ngay sau khi lấy máu xét nghiệm, thực hiện bởi các nghiên cứu viên, cộng tác viên là bác sĩ, cử nhân, y sĩ, sinh viên năm 4 trường Đại học Y dược TP.HCM
2.7.2 Công cụ, kỹ thuật thu thập số liệu
Xét nghiệm máu: sử dụng bộ dụng cụ lấy máu được lưu trữ trong tube huyết thanh ở nhiệt độ lạnh, xét nghiệm lipid máu theo phương pháp đo điểm cuối (Enzymatic end point) bằng máy sinh hóa tự động AU 680 Thuốc thử được cung cấp bởi hãng Human (Đức) Các xét nghiệm được thực hiện nội kiểm hằng ngày và tham gia ngoại kiểm định kỳ theo quy định của Bộ Y tế Các xét nghiệm có giá trị nằm ngoài giá trị bình thường được kiểm tra lại bằng máy bán tự động Human
2000 Xét nghiệm đường huyết bằng máy CERA-CHEK 1070
Đo huyết áp: sử dụng máy đo Microlife BP 3BM1-3 được chuẩn hóa tại cơ sở trước khi sử dụng
Đo cân nặng: sử dụng cân đo sức khỏe điện tử Elite
Trang 32Bộ câu hỏi phỏng vấn đối tượng nghiên cứu soạn sẵn đã được chuẩn hóa và tu chỉnh qua các nghiên cứu trước, phù hợp với địa phương nghiên cứu
2.8 Kiểm soát sai lệch
2.8.1 Kiểm soát sai lệch chọn lựa
Kiểm soát sai số do chọn mẫu: Tuân thủ theo nguyên tắc chọn mẫu ngẫu nhiên; kế hoạch; qui trình thực hiện
Để hạn chế các đối tượng bỏ cuộc, không có mặt tại địa phương, chúng tôi tổ chức địa điểm khám bệnh và thu thập dữ liệu phù hợp; Phát thư mời đồng thời giải thích nội dung, các yêu cầu nghiên cứu, vận động đối tượng tham gia nghiên cứu; Cộng tác viên có nhiệm vụ đến nhà tiếp tục vận động họ tham gia nghiên cứu
2.8.2 Kiểm soát sai lệch thông tin
Để tránh sai lệch thông tin do người nghiên cứu nên bộ câu hỏi được thiết kế đúng với mục tiêu nghiên cứu, dùng từ rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và dễ trả lời Các biến số được định nghĩa rõ ràng
Trước và khi nghiên cứu, các đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích, quy trình thu thập dữ liệu và được giải thích mọi thắc mắc để tự nguyện tham gia vào nghiên cứu
Kiểm soát sai số do điều tra viên: chọn điều tra viên có cùng trình độ và tập huấn kỹ lưỡng Các nghiên cứu viên, cộng tác viên, phiên dịch viên đều là bác sỹ, nhân viên y tế tại các bệnh viện, nhân viên y tế tại địa phương và sinh viên năm thứ
tư trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh được tập huấn kỹ về quy trình
và kỹ thuật phỏng vấn lấy thông tin, cân đo, lấy máu xét nghiệm, thực hiện nghiên cứu thử 10 người
Thành lập đoàn giám sát kiểm tra thực hiện nghiên cứu
Kiểm soát sai số do dụng cụ, máy đo HA, cần được hiệu chỉnh hằng ngày Kiểm soát thông tin trên phiếu điều tra ngay sau mỗi ngày điều tra, số liệu nghi ngờ phải xác minh ngay
Các số liệu được phân tầng, chuẩn hóa trước khi xử lý để khử các yếu tố nhiễu như tuổi, dân tộc, giới tính
Giảm sai số do thu thập thông tin sai số do các dụng cụ đo, dụng cụ xét nghiệm: Máy đo HA, cân, thước dây, đều được Trung tâm thẩm định đo lường chất
Trang 33lượng TPHCM kiểm định Trong quá trình xét nghiệm luôn test thử trước khi đưa vào xét nghiệm chính thức Các thông tin được kiểm tra lại sau khi kết thúc mỗi trường hợp nghiên cứu
2.9 Quản lý và phân tích số liệu
2.9.1 Phương pháp quản lý số liệu
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được kiểm tra tất cả các thông tin, thu thập lại đầy đủ thông tin đối với những bộ câu hỏi chưa được trả lời đầy đủ, các bộ câu hỏi không trả lời đầy đủ thông tin hoặc không hợp lệ bị loại bỏ Sau khi làm sạch số liệu, các thông tin sẽ được nhập liệu và quản lý bằng phần mềm Epidata phiên bản 3.1, việc nhập liệu được thực hiện bởi nhóm nhập liệu đã được tập huấn Chỉ có nhà nghiên cứu được tiếp cận dữ liệu nghiên cứu nhằm phục vụ cho nghiên cứu để đảm bảo tính bảo mật, tất cả các dữ liệu được xử lý sau thời gian lưu trữ quy định
2.9.2 Phân tích số liệu
Chúng tôi phân tích các dữ liệu bằng phần mềm STATA 12
Thống kê mô tả: Chủ yếu sử dụng tỷ lệ phần trăm, tần số và khoảng tin cậy 95% (KTC 95%)
Thống kê phân tích: Sử dụng kiểm định chi bình phương (hoặc kiểm định Fisher nếu không thỏa điều kiện) để kiểm định mối liên quan Mức độ kết hợp được ước lượng bằng tỉ số tỉ lệ hiện mắc (PR: Prevalence Ratio) với khoảng tin cậy 95%
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p_value < 0,05
2.10 Vấn đề y đức
Nghiên cứu không có tác động tổn hại sức khỏe nào hay tốn thêm chi phí cho người tham gia nghiên cứu Nghiên cứu được sự chấp thuận của hội đồng y đức viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương
Đối tượng nghiên cứu được khám bệnh, tư vấn và phát thuốc miễn phí, được tặng quà
Đối tượng nghiên cứu được giải thích cụ thể để tự nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quá trình nghiên cứu Đối tượng Có quyền từ chối tham gia hoặc có thể chấm dứt nghiên cứu bất cứ lúc nào
Trang 34Thông tin của đối tượng được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu Khi phát hiện đối tượng bị bệnh, chúng tôi tư vấn và giới thiệu đến cơ sở y tế phù hợp
Nghiên cứu được sự chấp thuận của Sở Y tế và Trạm y tế xã Kết thúc nghiên cứu có báo cáo phản hồi kết quả cho địa phương để có kế hoạch cụ thể trong việc chăm sóc sức khỏe cho người dân
2.11 Tính ứng dụng của đề tài
Qua việc xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến rối loạn lipid máu trên đối tượng người Khmer 25 – 64 tuổi tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh sẽ góp phần cảnh báo sớm đồng thời giúp ích cho các nhân viên y tế và những đơn vị quản lý y tế có thể đề xuất các biến pháp quản lý, can thiệp nhằm dự phòng bệnh, tiếp cận tư vấn, GDSK để giúp cho người dân địa phương có nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và tích cực thay đổi hành vi không có lợi nhằm cải thiện bệnh cũng như có được sức khỏe và cuộc sống chất lượng hơn Không những thế kết quả nghiên cứu còn có thể giúp ích cho các bác sĩ lâm sàng trong chẩn đoán và điều trị căn bệnh này
Trang 35CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ
Có 472 người thỏa đầy đủ các tiêu chí trong 480 người được chọn được đưa vào phân tích Kết quả thu được như sau:
3.1 Đặc điểm dân số xã hội của đối tượng nghiên cứu
Bẳng 3.1: Tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân bố đều theo giới và các nhóm tuổi
Phần lớn có trình độ học vấn là tiểu học hoặc dưới tiểu học, tỷ lệ có học vấn
ở cấp tiểu học cao nhất với 33,9% Chỉ có 4,0% số người có học vấn đại học, cao đẳng hoặc trung cấp
3.2 Đặc điểm thói quen sinh hoạt của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2: Đặc điểm về sử dụng thuốc lá của đối tượng nghiên cứu
Trang 36Phần lớn đối tượng hút thuốc có tuổi đời cao và hút thuốc từ lúc còn rất trẻ, tỷ
lệ có thời gian hút thuốc trên 10 năm là cao nhất 84,4% trong khi tỷ lệ hút thuốc dưới 5 năm chỉ chiếm 2,8% những người từng hút thuốc
Bảng 3.3: đặc điểm sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu
≥ 5 ngày mỗi tuần 27 13,1
1 – 4 ngày mỗi tuần 41 19,9
1 – 3 ngày mỗi tháng 69 33,5
Ít hơn 1 lân mỗi tháng 69 33,5
Tỷ lệ thường xuyên sử dụng rượu bia trong 12 tháng qua chiếm 14,1%
Tỷ lệ đối tượng có uống rượu bia với tần suất <1 lần/tháng hoặc 1-3 ngày/tháng là cao nhất 33,5% và thấp nhất là ≥ 5 ngày/tuần 13,1%
Tỷ lệ thường sử dụng mỡ động vật cao chiếm 16,5%
Tỷ lệ ăn rau quả đáp ứng với khuyến nghị của WHO chỉ chiếm 9,1%
Phần lớn các đối tượng đều có hoạt động thể lực đáp ứng với các khuyến nghị
về vận động thể lực, tỷ lệ vận động thể lực đáp ứng 74,5%
Trang 373.3 Đặc điểm các bệnh lý nền ở đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ đối tượng có thừa cân/béo phì chiếm 17,4% trong đó, tỷ lệ béo phì 1,1%
Tỷ lệ đối tượng có béo phì dạng nam chiếm tỷ lệ cao 20,1%
Tỷ lệ tăng huyết áp cao chiếm 35,0 %
Tỷ lệ có chỉ số đường huyết ≥ 6,4 mmol/dL chiếm 8,3%
3.4 Tỷ lệ rối loạn chuyển hóa lipid ở đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.6: Tỷ lệ rối loạn lipid máu
Rối loạn Lipid máu Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Bảng 3.7: Rối loạn lipid máu theo từng yếu tố
Rối loạn lipid các thành phần Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trang 38Bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ rối loạn cholesterol máu toàn phần là cao nhất 40,9%
và giảm HDL-c chiếm tỷ lệ thấp nhất 2,7%
3.5 Các mối liên quan với rối loạn lipid máu
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với đặc tính dân số học và các bệnh lý nền
Kiểm định chi bình phương.(1) kiểm định Fisher (*) mức p có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Bảng 3.8 cho thấy: Cứ tăng 10 tuổi thì tỷ lệ RLLM tăng 1,21 lần (KTC95%: 1,09-1,36) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Tỷ lệ RLLM ở nhóm thừa cân và béo phì cao gấp 1,44 và 2,07 lần những nhóm cân nặng bình thường (KTC95%: 1,11-1,87 và 1,21-3,02) Sự khác nhau này
có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Trang 39Tỷ lệ RLLM ở nhóm béo phì dạng nam cao gấp 1,59 (1,36-1,88) lần những người không béo phì dạng nam Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Tỷ lệ RLLM ở nhóm THA cao gấp 1,41 (KTC95%:1,19-1,67) lần nhóm không THA Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Tỷ lệ RLLM ở nhóm có chỉ số đường huyết cao (≥6,4 mmol/dL) cao gấp 1,38 lần nhóm có chỉ số đường huyết bình thường (KTC 95%: 1,10-1,74) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,022)
Không tìm thấy liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính, trình độ học vấn với rối loạn lipid máu (p>0,05)
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với các thói quen sinh hoạt
Trang 40Bảng 3.9 cho thấy:
Tỷ lệ RLLM ở những nhóm có hút thuốc trong 6 tháng qua gấp 1,49 lần (KTC95%: 1,26-1,76) nhóm không hút thuốc hoặc đã bỏ hút thuốc hơn 6 tháng Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Tỷ lệ RLLM ở những nhóm đang hút thuốc với lượng trung bình (10-20 điều/ngày) và nhiều (≥ 20 điếu/ngày) cao hơn lần lượt 1,24 và 1,54 lần (KTC95% là 0,94-1,65 và 0,90-2,76) so với nhóm hút thuốc <lượng ít (<10 điếu/ngày), sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê (p=0,028)
Tỷ lệ RLLM ở nhóm lạm dụng rượu gấp 1,37 lần (KTC95%:1,10-1,69) so với nhóm không lạm dụng rượu, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,015)
Tỷ lệ RLLM ở nhóm thường sử dụng mỡ động vật cao gấp 1,72 lần nhóm không thường sử dụng (KTC95%:1,47-2,01), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Tỷ lệ RLLM ở nhóm ăn rau ít rau quả (không đáp ứng khuyến nghị) cao hơn 1,45 lần nhóm đáp ứng (KTC95%: 1,15-1,82), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,012)
Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa RLLM và thời gian hút thuốc, thường xuyên uống rượu trong 12 tháng qua và vận động thể lực (p>0,05)