ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THÀNH TRUNG SỰ BIẾN ĐỔI NGHI LỄ HẦU ĐỒNG TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU HIỆN NAY QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH HẢI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THÀNH TRUNG
SỰ BIẾN ĐỔI NGHI LỄ HẦU ĐỒNG
TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU HIỆN NAY (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH HẢI DƯƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: TÔN GIÁO HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THÀNH TRUNG
SỰ BIẾN ĐỔI NGHI LỄ HẦU ĐỒNG
TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU HIỆN NAY (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH HẢI DƯƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: TÔN GIÁO HỌC
Mã số: 60220309
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGÔ HỮU THẢO
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “ Sự biến đổi nghi lễ hầu
đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu hiện nay (Qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Hải Dương)” là công trìnhnghiên cứu của riêng cá nhân tôi và những kết quả
nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực
Hà Nội, tháng 1, năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN!
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy giáo, cô giáo trong
Bộ môn Tôn giáo học - Trường Đại Học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn, ĐHQGHN đã đào tạo, giúp đỡ em trong suốt thời gian học vừa qua và đã tạo điều kiện cho em được thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy PGS TS Ngô Hữu Thảo đã luôn động viên em để sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm và chỉ ra hướng giải quyết có hiệu quả nhất trong suốt quá trình em viết luận văn
Em xin cảm ơn gia đình và các bạn trong tập thể lớp đã giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập và làm luận văn
Luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng toàn thể các bạn để đề tài của em được bổ sung và phát triển hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 1, năm 2018
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
Chương 1: QUAN NIỆM VỀ NGHI LỄ HẦU ĐỒNG VÀ NGHI LỄ HẦU ĐỒNG TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 8
1.1 Quan niệm về nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu 8
1.1.1 Khái niệm “Tín ngưỡng thờ Mẫu” và “nghi lễ hầu đồng” 8
1.1.2 Các quan niệm khác nhau về nghi lễ Hầu đồng 16
1.2 Nghi lễ Hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Dương hiện nay 21
1.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo ở Hải Dương 21
1.2.2 Khái quát về nghi lễ Hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Dương 30
Tiểu kết chương 1 48
Chương 2: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA NGHI LỄ HẦU ĐỒNG, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM GÌN GIỮ GIÁ TRỊ TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TIÊU CỰC CỦA NGHI LỄ HẦU ĐỒNG Ở HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 50
2.1 Sự biến đổi của nghi lễ Hầu đồng ở Hải Dươngvà những vấn đề đặt ra hiện nay 50
2.1.1 Những biểu hiện biến đổi của nghi lễ Hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Dương hiện nay 50
2.1.2 Những vấn đề đặt ra từ sự biến đổi của nghi lễ Hầu đồng 68
2.2 Khuyến nghị nhằm hạn chế mặt tiêu cực và giữ gìn, bảo tồn những nét đẹp của nghi lễ Hầu đồng ở Hải Dương hiện nay 78
Tiểu kết chương 2 93
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam từng được ví như là một bảo tàng về tín ngưỡng, tôn giáo Bên cạnh những tôn giáo thế giới được du nhập vào, như: Đạo Phật, Đạo Kitô, Đạo Islam…nước ta còn có những tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo,… đồng thời tồn tại rất nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian Các hình thức tín ngưỡng dân gian, như tín ngưỡng thờ ông bà tổ tiên, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ Mẫu… là sản phẩm văn hóa của Việt Nam trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, mà nền tảng của nó là chế độ nông nghiệp lúa nước, với gia đình tiểu nông, phụ quyền trong môi
trường làng xã khép kín
Mấy thập kỷ gần đây, Việt Nam đổi mới và mở rộng giao lưu quốc tế
và cùng với sự tác động của kinh tế - xã hội, đã trở thành nhân tố quy định cho sự hồi sinh của nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo Bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo theo đó cũng trở nên đa dạng, với nhiều sắc thái và chiều kích khác nhau, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu Tín ngưỡng thờ Mẫu được tích hợp bởi ba lớp thờ, là thờ nữ thần, thờ Mẫu thần và thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ Nó thực sự là một hiện tượng văn hoá tín ngưỡng tâm linh độc đáo trong
hệ thống tín ngưỡng dân gian của Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu tiếp nhận sự ảnh hưởng tích cực từ các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác, đặc biệt là từ Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo Theo đó, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã khẳng định vị trí “bề thế” của mình trong đời sống tín ngưỡng dân gian truyền thống và trở thành bộ phận, một yếu tố không thể thiếu, cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Đồng thời, nó cũngphản ánh rõ nét đặc trưng văn hóa của người Việt và của nhiều dân tộc thiểu số khác ở nước ta Nó còn góp phần bảo lưu, phát triển nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp của người Việt, như: Đạo
Trang 7lý “uống nước nhớ nguồn”, truyền thống chống giặc ngoại xâm và tôn trọng người phụ nữ… chứng tỏ vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam từ lịch sử đến hiện tại và tương lai
Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, có địa hình, địa mạo đa dạng, phức tạp, gồm cả đồng bằng và đồi núi Ở Hải Dương, tín ngưỡng Thờ mẫu chiếm một vị trí quan trọng, được người dân theo tương đối đông Đa số các ngôi chùa,đền, phủ thờ Mẫu của Hải Dương đều có ban thờ Mẫu với các vị thánh trong điện thờ Mẫu nói chung, cùng với các vị thánh thần mang tính chất địa phương nói riêng, đặc biệt được biểu hiện cụ thể qua nghi lễ hầu đồng
Nghi lễ hầu đồng ở Hải Dương trong khi mang các đặc điểm tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam, thì còn có các đặc điểm riêng, đậm bản sắc người Hải Dương Người dân theo tín ngưỡng thờ Mẫu tại Hải Dương đưa một số vị thánh riêng của địa phương vào điện thờ và khi thực hành nghi lễ hầu đồng, một số thanh đồng cho rằng đã thỉnh được các vị thánh này, cho dù số lần thánh giáng là rất hiếm Với người dân có tâm linh của xứ Đông, tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ lên đồng đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu, có nhiều giá trị văn hóa Vì thế, cùng với sự bùng phát mạnh mẽ của loại hình tín ngưỡng dân gian này, nghi lễ Hầu đồng đã và đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của giới tôn giáo học
Trong đó, không ít công trình khoa học công bố đã đề cập đến hoạt động này như một nghi lễ thực hành tôn giáo, một dạng thức của Saman, một sinh hoạt văn hoá tâm linh,…Điều đó đã gây nhiều tranh luận về nguồn gốc
và bản chất của nó
Mặt khác, bên cạnh những giá trị tích cực, những nét đẹp văn hoá mà nghi lễ hầu đồng đem lại, nghi lễ này cũng vấp phải sự phản đối của không ít người, do nhiều nơi vẫn còn khá phổ biến những hiện tượng lạm dụng nghi lễ
Trang 8này để phục vụ cho mục đích cá nhân gây nên nhiều hậu quả xấu và đó cũng
là vấn đề thực tiễn đặt ra cho nghiên cứu về nghi lễ ấy
Trong năm vừa qua nước ta đã đón bằng Unesco ghi danh “ Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt ” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Từ thực tế đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu hơn nữa về nghi lễ Hầu đồng, nhằm phân định ở một mức độ có thể đâu là giá trị tích cực cần phát huy, đâu là những hạn chế cần khắc phục của hiện tượng văn hoá tín ngưỡng khá đặc biệt này góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, như Đảng ta đã khẳng định trong Nghị quyết Trung ương Năm, khóa VIII
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài:“ Sự biến đổi nghi lễ hầu
đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu hiện nay (Qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Hải Dương)”, làm đề tài luận văn thạc sĩ để góp thêm tiếng nói vào việc bảo
tồn văn hóa dân tộc nơi quê nhà
2 Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu nghi lễ Hầu đồng của người Việt đã có nhiều học giả nghiên cứu, tiếp cận dưới các góc độ khác nhau Đó là các công trình do GS Ngô Đức Thịnh chủ biên: “Đạo Mẫu ở Việt Nam” (Nxb Văn hoá Thông tin,
Hà Nội, 1996); “Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004); “Hát văn” (Nxb văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1992); “Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt nam” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001); “Lên Đồng hành trình của thần linh và thân phận” (Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2008),…
Các tác phẩm này đã nghiên cứu một cách cơ bản và tương đối toàn diện, hệ thống về Đạo Mẫu ở Việt Nam, bao gồm các khía cạnh thần tích, truyền thuyết, điện thần, nghi lễ thờ cúng và lễ hội; điều tra và trình bày các hiện tượng thờ Mẫu tiêu biểu ở Việt Nam
Trang 9Ngoài ra còn nhiều các công trình khác cũng nghiên cứu về tín ngưỡng Mẫu, như: “Các nữ thần Việt Nam” của Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc (Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1984); “Văn hoá Thánh Mẫu” của Đặng Văn Lung (Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2004); “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam” của Nguyễn Minh San (Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1994); “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam ” do Nguyễn Đức Lữ chủ biên (Học viện chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, 2000)…
Bên cạnh đó còn nhiều bài viết công bố trên các tạp chí: Nghiên cứu lý luận, Triết học, Tôn giáo, Văn hoá dân gian, Văn học…cũng đã đề cập tới các góc độ khác nhau về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã tiếp cận tín ngưỡng thờ Mẫu từ các góc độ khác nhau, là văn hoá, lịch sử, tôn giáo, nghệ thuật, Trong đó, Hầu đồng được đề cập đến như là một trọng tâm, với nhiều phân tích, tiếp cận nó ở nhiều góc độ khác nhau, với nhiều kết luận đáng chú ý như: Lên đồng phần nào cũng đã đáp ứng được sự giải toả căng thẳng của cuộc sống công nghiệp đang hằng ngày, hằng giờ đè nặng lên mỗi con người Đến với Thờ Mẫu, đặc biệt trong nghi lễ Hầu đồng với các trang phục đặc biệt của mình, con người đã được hoá thân, thăng hoa trong vai các vị Thánh Thần có quyền năng tối thượng, việc lên đồng mang lại một khoái cảm đặc biệt đối với người tham dự, có tác động giải toả và thăng hoa.Người viết đánh giá chung
về các nghiên cứu trên:
- Các công trình đã tiếp cận nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu trên nhiều góc độ khác nhau, mà căn bản là từ thần tích của các vị thần; từ góc
độ nghi lễ, diễn xướng, điện thần và từ công dụng trị liệu của nghi lễ…
- Song việc nghiên cứu sâu, có hệ thống tín ngưỡng thờ mẫu ở Hải Dương nói chung và sự biến đổi của nghi lễ Hầu đồng nói riêng, từ góc độ tôn giáo học chưa có nhiều và ở tỉnh Hải Dương lại càng ít, hầu như là một vấn đề còn bỏ ngỏ
Trang 10Chính vì lẽ đó, tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu này với hy vọng có được những đóng góp mới về khoa học trong công trình đầu tay của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
+ Tìm hiểu với sự biến đổi của nghi lễ này trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp phát huy những giá trị tích cực
và hạn chế mặt tiêu cực của nghi lễ Hầu đồng ở Hải Dương hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu sự biến đổi của nghi lễ Hầu đồng trên địa bàn tỉnh Hải Dương và kiến nghị giải pháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi của nghi lễ Hầu đồng trong tín
ngưỡng thờ Mẫu ở tỉnh Hải Dương và những vấn đề đặt ra hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Sự biến đổi của nghi lễ Hầu đồng của người dân
trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay (từ 1986 trở lại đây)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo
Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành tôn giáo học và các phương pháp nghiên cứu liên ngành, như của sử học, triết học, văn hoá học, điều tra điền dã
6 Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn khái quát hóa những nội dung cơ bản liên quan đến sự biến đổi của nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
- Luận văn rút ra những nét chuyển biến đặc thù,cũng như sự khác biệt trong trong thực hành nghi lễ hầu đồng tại Hải Dương so với các tỉnhkhác ở Bắc Bộ
Trang 11- Luận văn khuyến nghị việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá tín ngưỡng của nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Dương, góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
có kết cấuchủ yếu gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 12Chương 1 QUAN NIỆM VỀ NGHI LỄ HẦU ĐỒNG VÀ NGHI LỄ HẦU ĐỒNG TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 1.1 Quan niệm về nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu
1.1.1 Khái niệm “Tín ngưỡng thờ Mẫu” và “nghi lễ hầu đồng”
1.1.1.1 Khái niệm “Tín ngưỡng thờ Mẫu”
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một khái niệm tương đối phức tạp, với nhiều quan niệm khác nhau và tác giả tổng hợp một số quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất: Xét tín ngưỡng này trong quan hệ với đời sống
tinh thần, thì tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian (bản địa), hình thành trên cái nền chung là thờ nữ thần, một đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng cư dân nông nghiệp Song tín ngưỡng thờ Mẫu không phải là một hình thức tín ngưỡng đơn nhất, mà là một phức hợp của các tín ngưỡng suy tôn quyền năng sinh tồn, sáng tạo của người mẹ, phát triển từ các hình thức sơ khai thờ nữ thần đến thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Thờ Mẫu là hiện tượng phổ quát của các dân tộc Việt Nam và Đông Nam Á
Theo tác giả Nguyễn Hữu Thông, tín ngưỡng thờ Mẫu tuy chịu nhiều ảnh hưởng của các tôn giáo chính thống như Nho, Phật, Lão nhưng các giáo này đều bị dân gian hóa rồi bồi đắp vào tòa điện Mẫu Vậy: “Hình tượng Mẫu hoàn toàn là sản phẩm của loại hình tín ngưỡng dân gian chứ không phải là tôn giáo chính thống Xu hướng biến Mẫu thành tôn giáo chính thống như hiện nay của một số cá nhân là việc làm trái quy luật, không đúng với tiến trình phát triển” [42, tr.53,54] Cũng vậy theo GS.Đinh Gia Khánh: “Thờ Mẫu
là một tín ngưỡng có nguồn gốc dân gian, một tín ngưỡng bản địa, khác với các tôn giáo phổ quát “ [20, tr.8]
Quan điểm thứ hai: Xét từ góc độ biện chứng phát triển, tínngưỡng thờ
Mẫu đang trong quá trình chuyển biến từ một hình thức tín ngưỡng bản địa có
Trang 13tính sơ khai, tản mạn, đã và đang chuyển hóa để trở thành một tôn giáo sơ khai
Nó tiếp thu ảnh hưởng của Đạo giáo, như vũ trụ luận, một số vị thần, nghi thức thờ cúng… để dần dần hình thành một thứ Đạo Mẫu mang tính hệ thống hơn như ngày nay Bởi vậy, tác giả Đặng Văn Lung viết: “Đạo Mẫu là một thứ tôn giáo chứ không còn là một tín ngưỡng, kiểu như thờ cúng tổ tiên trong gia đình hay thờ cúng các anh hùng dân tộc tại một số đền riêng lẻ Đạo Mẫu đã có những hoạt động mang tính đặc trưng tôn giáo” [28, tr.88]
Cũng vậy, có nhiều tác giả cho rằng: “Về phương diện điện thần của Đạo Mẫu ta thấy bước đầu đã được hệ thống hóa, tiến từ đa thần của tín ngưỡng nguyên thủy đến thần điện của tôn giáo mà Mẫu giữ vị trí trung tâm như Đức Phật hay Chúa Giêsu” [38, tr.22] Đó là một hệ thống thần điện tương đối hoàn chỉnh.Các vị thần được phân chia thành các Phủ, các hạng (bậc) từ trên xuống dưới, nhưng đều quy về vị thần chủ cao nhất là Thánh Mẫu.Qua hệ thống thờ cúng, truyền thuyết và thần tích, các bài cúng ta thấy
hé lộ ý niệm vũ trụ luận và ý thức nhân sinh Đó là một vũ trụ luận nhất nguyên - nguyên lý Mẹ (Mẫu), nhưng lưỡng cực (Âm - Dương, Mẹ - Cha) được phân chia thành các Phủ (Thiên phủ, Địa phủ, Thoải phủ, Nhạc phủ) do các thánh Mẫu cai quản Đó là một ý thức xã hội, nhân sinh hướng về cội nguồn mà Mẫu (Mẹ) là biểu tượng trung tâm, một ý thức yêu nước, gắn bó với dân tộc, ý thức về một đời sống thực thường nhật với các nhu cầu, mong ước về sức khỏe và tài lộc…, bước đầu nó đã vượt lên trên tính phân tán, tùy tiện mà hình thành một hệ thống cơ sở thờ tự và lễ hội, các nghi thức cúng lễ được quy chuẩn khá chặt chẽ, trong đó tiêu biểu là nghi thức hầu bóng
Một tín ngưỡng đã bước đầu hình thành một cộng đồng các tín đồ (đệ tử) với các thứ bậc khác nhau: Đồng đền, ông đồng, bà đồng, con nhang, đệ tử… phổ biến trong các tầng lớp xã hội khác nhau Thậm chí ở Huế và Miền Nam trước giải phóng năm 1975 nhiều địa phương đã hình thành một thứ tổ
Trang 14chức gần như giáo hội như: Tiên Thiên Thánh Mẫu giáo ở Huế, Đắk Lắk… có trụ sở, có quy định tổ chức sinh hoạt,…
Vậy theo quan điểm này, tín ngưỡng thờ Mẫu đến nay đã phát triển không dừng lại ở mức đồng nhất người với tự nhiên, thần linh, ma quỷ trong
xã hội sơ khai, mà đã đạt tới sự chiêm tưởng, cầu nguyện thần linh đầy quyền năng cứu giúp con người khỏi rủi ro, bệnh tật, đạt tới Phúc, Lộc, Thọ
Quan điểm thứ ba: Xét tín ngưỡng Mẫu là văn hóa đạo đức, thì thờ
Mẫu là một “Đạo” nhưng “Đạo” là con đường, cách thức chứ không theo nghĩa tôn giáo Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Đăng Dung khẳng định: “Ở đây cũng vẫn hiểu đạo thờ Mẫu chưa phải là tôn giáo vì nó không có tín điều giáo lý, giáo chủ, đạo là con đường, là cách theo”
Một số người khác vẫn gọi đạo Mẫu, nhưng cũng không xem nó là một tôn giáo như Đạo Kitô, Đạo Phật, Đạo Islam… mà hiểu như đạo làm con, đạo làm người, đạo hiếu… Tác giả Ngô Đức Thịnh viết: “Trong công trình này, đây đó chúng tôi sử dụng thuật ngữ “đạo” như Đạo Mẫu, Đạo tổ tiên… khái niệm đạo ở đây theo ý nghĩa là con đường, cách thức đưa con người đạt tới niềm tin vào cái thiêng liêng, siêu nhiên” [40, tr.17].Vậy quan điểm cũng xem tín ngưỡng thờ Mẫu chỉ là một loại hình tín ngưỡng dân gian
Quan điểm thứ tư: Xét từ góc độ văn hóa, tín ngưỡng thờ Mẫu là một
hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể Tín ngưỡng thờ Mẫu với các thần tích, điện thần, nghi lễ… là nhân tố hạt nhân, từ đó nảy sinh và tích hợp nhiều hiện tượng văn hóa, tạo thành một hiện tượng văn hóa tín ngưỡng tổng thể.Tín ngưỡng này đã nảy sinh hệ thống huyền thoại, truyền thuyết, thần tích, các bài chầu văn, các truyện thơ nôm về Mẫu, các bài giáng bút, các câu đối, đại tự là nguồn cảm hứng sáng tác cho các nhà thơ, nhà văn, tạo nên một hiện tượng văn học trong tín ngưỡng thờ Mẫu
Tín ngưỡng thờ Mẫu còn có kiến trúc thờ tự mang bản sắc dân tộc, các
hệ thống tranh và tượng thờ thấm đẫm phong cách dân gian, các quan niệm về
Trang 15màu sắc tương ứng với các phủ, các hình thức trang trí, trang phục trong lễ nghi và lễ hội…Nó còn nảy sinh các hình thức diễn xướng dân gian độc đáo là
âm nhạc và hát chầu văn, hình thức hát bóng, múa bóng… tạo nên một mảng nghệ thuật tạo hình của tín ngưỡng thờ Mẫu
Tín ngưỡng thờ Mẫu còn có lễ hội với các nghi thức, tập tục mang sắc thái trong bức tranh chung lễ hội “Xuân thu nhị kỳ” của Việt Nam Nó cũng hình thành nên ý thức cộng đồng, các sắc thái tâm lý mang tính đặc thù của những con nhang, đệ tử, tín đồ; các chuẩn mực ứng xử, giao tiếp, hun đúc và củng cố ý thức cội nguồn, làm bền vững khối đại đoàn kết dân tộc
Quan điểm thứ năm: Xét dưới góc độ đời sống xã hội, tín ngưỡng thờ
Mẫu là một sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa mang tính cộng đồng cao Bởi vì theo quan niệm dân gian, Mẫu là biểu trưng cho sức mạnh, quyền năng sáng tạo, che chở cho chúng sinh khỏi bệnh dịch, rủi ro, mưu cầu hạnh phúc, tài lộc, sức khỏe cho mọi người Biểu tượng và niềm tin vào biểu tượng đó từ lâu
đã tập hợp thành một cộng đồng đông đảo từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi đến miền núi và đâu đâu cũng có đền phủ, điện thờ Mẫu Vào ngày mùng một và rằm người ta đến đó để khấn cầu; vào dịp “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” người ta tập hợp đông đảo để mở hội
Với các đền phủ có tiếng, như phủ Dầy, phủ Tây Hồ, điện Hòn Chén, đền Bà Chúa Xứ… có hàng chục vạn người đến hành hương, cúng lễ, vượt qua nhiều lần số ông đồng, bà đồng, con nhang, đệ tử Sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa cộng đồng ấy không thua kém gì cộng đồng Đạo Phật, Đạo Kitô Những sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa đóăn sâu vào tâm thức quần chúng, trở thành một nhu cầu không thể thiếu của đời sống văn hóa tâm linh
Từ những quan điểm khác nhau như trên, tác giả bước đầu đưa ra những nhận định về tín ngưỡng thờ Mẫu như sau:
Một là, Mẫu là danh từ được hiểu là mẹ, hay mụ, mế, mạ, với nghĩa
chỉ người phụ nữ đã sinh thành ra một người nào đó Bởi vậy, Mẫu có thể
Trang 16được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là sự tôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ
có, hoặc không có thật, như Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh,…Hoặc Mẫu còn được dùng chỉ sự sinh sôi nảy nở không ngừng của vạn vật như những danh xưng Mẹ cây, Mẹ lúa, Mẹ nước, Mẹ xứ sở, Mẹ đất…
Hai là, tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian được tích hợp
bởi các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần, thờ Tam phủ - Tứ phủ với niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu - đấng sáng tạo, bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của tự nhiên, xã hội và con người
Ba là, trong tín ngưỡng này, thờ Nữ thần là lớp thờ xuất hiện sớm nhất,
với đối tượng thờ là các vị thần có tính nữ Nữ thần được thờ có thể là thần tự nhiên, như thần Mây, thần Mưa, Mẹ lúa, Mẹ cá;cũng có thể là nhân thần (có thể là huyền thoại), như Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Âu Cơ, Mẫu Ỷ Lan…
Bốn là, trong tín ngưỡng này, thờ Mẫu thần là lớp thờ xuất hiện muộn
hơn lớp nữ thần, với đối tượng thờ là các vị thần tính nữ, nhưng được dân
gian tôn xưng là Mẫu thần Vậy thờ Mẫu thần được phát triển từ thờ Nữ thần
Năm là, nếu thờ Mẫu thần được phát triển trên nền tảng thờ Nữ thần thì tín ngưỡng Tam phủ - Tứ phủ, ra đời vào thế kỷ XVI, có thể được coi là bước
phát triển cao hơn từ thờ Nữ thần
Đến đây chúng ta lại cần phải hiểu thêm về khái niệm “Phủ”, từ đó hiểu
và có quyền năng cai quản 04 vùng - phủ - Tứ phủ này là 04 vị thánh Mẫu:
Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải Phủ, Mẫu Địa Tuy
Trang 17nhiên, trong điện thần chỉ có Tam tòa thánh Mẫu,gồm ba vị là Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải là thường xuyên xuất hiện, còn Mẫu Địa rất ít gặp nơi điện thờ Ở đây còn sự lý giải khác: Tam tòa - Tứ phủ là các phủ Thượng Thiên, phủ Thượng Ngàn, Thủy phủ và một phủ thuộc về con người với sự hiện diện Mẫu Liễu Hạnh Mẫu Liễu Hạnh có lúc lại hóa thân vào Mẫu Thượng Thiên nên trong điện thờ chỉ có Tam tòa, song thực chất lại
có sự hiện diện của Tứ Phủ Do đó mà gọi là Tam tòa - Tứ phủ
Tục thờ Mẫu chưa rõ ràng có từ khi nào, chỉ tin là bà mẹ thần linh này
đã xuất hiện từ buổi “hồng hoang”, từ khi con người khai phá đồng bằng sông Hồng Hơn nữa, Mẫu và quyền năng của Mẫu không chỉ gắn với thần tự nhiên, bà mẹ có công sinh thành dân tộc Việt Nam, như Mẹ Âu Cơ của người
Việt, mẹ Pôn Inư Nưgar của người Chăm, mà còn là cácbà mẹ có công đánh
giặc ngoại xâm, xây dựng, bảo vệ đất nước, như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Chúa kho, Bà Ỷ Lan…
Vậy đến đây, người viết khái quát và định nghĩa khái niệm “tín ngưỡng
thờ Mẫu” rằng: Tín ngưỡng thờ Mẫu là một hình thức tín ngưỡng dân gian ở
Việt Nam với bản chất là mong cầu, đề cao vai trò xã hội của sự sinh sản và nguồn gốc phát triển qua việc tôn sùng người phụ nữ trở thành đối tượng thờ cúng là các nữ thần, các thánh Tam phủ, Tứ phủ
Với định nghĩa trên, người viết đã có chủ ý xuất phát từ phương diện bản thể của tín ngưỡng thờ Mẫu và dành quan tâm cho “nghi lễ Hầu đồng” khi chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề của cuộc đời trần tục
* Khái niệm “nghi lễ Hầu đồng”
Hầu đồng (Lên đồng, Hầu bóng) không đồng nhất với Tín ngưỡng thờ Mẫu mà nó chỉ là một nghi thức, hay một yếu tố cấu thành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ.Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ không thể thiếu nghi thức hầu bóng, lên đồng, cũng như tín ngưỡng thờ Mẫu
không chỉ là hầu bóng và lên đồng Bản chất của lên đồng là nghi thức
Trang 18nhập hồn (hay thoát hồn) một lần hay nhiều lần, của các vị thần vào trong thân xác của ông đồng, bà đồng nhằm phục vụ mục đích chữa bệnh, trừ tà, cầu tài, cầu lộc
Với mục đích của lên đồng như vậy, chúng ta thấy, khác với nhiều hình thức tín ngưỡng khác, tín ngưỡng thờ Mẫu không hướng con người vào thế giới sau khi chết, mà là một thế giới trần tục với mong ước sức khoẻ, tài lộc
Để đạt tới ước vọng trần tục ấy, điểm tựa của người dân lại là thế giới siêu nhiên, với các cuộc hành trình của thần linh từ cõi hư vô trở về tái sinh trên thân xác của các ông Đồng - bà Đồng trong nghi lễ Lên đồng
Hầu đồng là một nghi lễ chính trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần và thờ Mẫu Liễu ở đồng bằng Bắc Bộ Từ đây chia thành hai dòng: dòng Thánh Cha: thờ Đức Thánh Trần, Vua Cha Bát Hải và dòng Đồng Cốt: thờ Thánh Mẫu Đệ tử của dòng thờ Đức Thánh Cha gọi là Thanh đồng.Thanh nghĩa là
màu xanh, chỉ thanh thiếu nhi vàở đây là “thanh tiên đồng tử” tức tiên đồng Thanh đồng còn được không ít người hiểu là thanh trừ tà ma quỷ quái
Từ “Đồng” trong “Hầu đồng” có nghĩa là trẻ con Con người thường bị cuộc sống nhân tạo chi phối, kìm hãm khả năng tiếp cận với sự ẩn tàng của
thiên nhiên, vũ trụ Và khi lên đồng bằng xuất thần, trở về với tâm hồn trẻ thơ
hồn nhiên, con người mới tạm gạt bỏ được sự ràng buộc nhân tạo Người ta tin có như vậy mới đồng cảm được với thần linh, hoà hợp với thiên nhiên, vũ trụ và mới biết được sự dạy bảo của đấng thiêng liêng
“Đồng” còn có nghĩa là cùng Con người bằng xuất thần đẩy hồn ra khỏi xác thân để tìm một tâm hồn đồng điệu trong hệ tứ phủ vạn linh, để vị thần mượn xác thân con đồng tiếp cận với tín đồ Một nghĩa khác,“Đồng” là tiên đồng hầu hạ bên cạnh các vị đại Tiên, Thánh, nhận sự ủy thác nhờ cậy của chúng sinh những nguyện cầu về đời sống trần gian mong được Thánh thần giải thoát
Trang 19Còn từ “Cốt” có nghĩa là Bà cốt, được biến âm từ bà cô tí (cô gái nhỏ)
mà người nước ngoài gọi là “bacoti”, chuyển thành Bà cốt “Cốt” còn được hiểu là xương cốt, thân xác người trần và thần linh mượn nó mà nhập vào
Từ thuật ngữ Thanh đồng và Đồng cốt có thể hiểu: Hầu đồng là một
dạng nghi lễ được thực hành bởi những chủ thể, cá nhân có tố chất ngây thơ, trong sáng, thuần khiết, thanh sạch.Ban đầu, Hầu đồng chỉ được thực hiện
bởi những người nhỏ tuổi, sau mở rộng ra cả người trưởng thành nhưng phải
có “căn đồng”
Ở đây còn thuật ngữ “Hầu bóng” Theo tác giả Ngô Đức Thịnh, “bóng” chỉ vị Thần linh nào đó chiếu nhập cái bóng (hồn) của mình vào ông Đồng hay bà Đồng và ông bà Đồng chỉ là người hầu hạ cái bóng Thần linh ấy [38, tr.50] Với quan niệm này, trên thực tế khi ông Đồng (hay bà) đã trùm tấm khăn phủ diện đỏ, cung văn mời thần linh, và ông bà Đồng giơ tay ra hiệu vị Thánh nào giáng, thì lúc đó người ta tin họ là thần linh, hay chí ít cũng đồng nhất với thần linh Vậy nếu coi Hầu bóng là con đồng hầu hạ cái bóng của thần linh là không thoả đáng Nhưng nếu thấy các con nhang đệ tử, cung văn ngồi dự, hát ngợi ca công tích Thánh Thần, dâng tiền, dâng lễ, tung hô, dâng rượu trà cho Thánh khi nhập Đồng vàcác Đồng biểu diễn vũ đạo mua vui cho Thần thì hoàn toàn có thể coi là hầu hạ Thánh
Đồng bóng là một thuật ngữ song ngữ, hầu bóng và hầu đồng cùng có
nghĩa như nhau Một cuộc Hầu đồng được gọi là một vấn hầu hay một canh
hầu Một canh hầu có nhiều vị Thần giáng về “nhập” vào người ngồi đồng
Mỗi lần một vị Thánh giáng, làm việc Thánh và thăng (ra đi) được gọi là một
ghế đồng 1 Như vậy, ai ám thị tốt thì vào vai rất đạt (coi là Thánh nhập), ai ám thị kém thì vào vai không đạt (gọi là đồng lì, đồng đá) Để tự ám thị được bản
1 Ghế ở đây được hiểu là con đồng, là nơi để Thần linh “ngự” vào (nhập vào) Điều này có thể hiểu là xuất phát từ cách nói lịch sự, kính cẩn với Thánh (bề trên) người Việt dùng tiếng Hán “ngự” Ngự có hai nghĩa: ngự - ngồi và từ đây dẫn đến cách gọi một lần Thánh giáng xuống/ nhập xuống người con đồng là một “ghế” đồng (cái để ngồi gọi là ghế); mặt khác ngự còn có nghĩa là ngự trị như cách nói hình ảnh “ai đó luôn ngự trị trong đầu” thì đây là cách để các Đồng tự thôi miên chính mình (tự ám thị mình đồng nhất với Thánh thần)
Trang 20thân, các Đồng phải qua tập luyện và có sự hỗ trợ của các Đồng thầy Con Đồng chỉ đóng vai trò là cái giá hay là cái ghế để Thần linh (nhiều vị) mượn
mà ngự vào, còn phần tinh thần là thuộc về Thánh thần
Trong Hầu đồng, mỗi lần một vị thần linh nhập hồn (giáng đồng), rồi
làm việc quan (tức thời gian thực hiện các nghi lễ, nhảy múa, ban lộc, phán
truyền) và xuất hồn (thăng đồng) được gọi là một giá đồng Nghi lễ lên đồng
có tất cả 36 giá đồng, nhưng thường ở một buổi hầu đồng không thể lên hết được tất cả các giá
Tới đây, tác giả lại khái quát và định nghĩa rằng: Nghi lễ Hầu đồng là
một nghi lễ chính, một thành tố không thể thiếu của tín ngưỡng thờ Mẫu, diễn
tả sự nhập hồn nhiều lần của các vị Thánh Tam phủ, Tứ phủ vào thân xác các ông Đồng, bà Đồng và là sự tái hiện hình ảnh các vị Thánh, nhằm phán truyền, chữa bệnh, ban phúc lộc cho tín đồ tín ngưỡng thờ Mẫu
Với định nghĩa này, chúng tôi cũng đã chú trọng vào phương diện bản thể của vấn đề, cũng như tính chất xã hội đích thực của nghi lễ Hầu đồng nói riêng và của tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung
1.1.2 Các quan niệm khác nhau về nghi lễ Hầu đồng
Hầu đồng cổ xưa ở Việt Nam được một tài liệu nói tới sớm nhất, đó là
“Thượng Kinh Ký Sự” của Hải Thượng Lãn Ông, song cũng chỉ được đề cập thoáng qua với cái tên “tiệc hát” Đó là chưa kể đến “sự nhạy cảm” của hiện tượng này khiến các nghiên cứu công phu về nó càng trở nên ít ỏi, vì vậy mà việc hiểu tường tận về Hầu đồng trở nên khó khăn Tuy nhiên, từ các tài liệu
đã công bố, chúng tôi thấy có một sốquan niệm cơ bản về Hầu đồng, là:
1.1.2.1 Hầu đồng là nghi lễ chính trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần và Thánh Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ
Trong hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam hiện vẫn tồn tại khá nhiều các tôn giáo khác nhau, cùng vớinhiều loại - dòng tín ngưỡng dân gian, trong đó có dòng thờ Thánh.Thờ Thánh của người Việt luôn được đặt ngang
Trang 21hàng với thờ Phật, do hai thế lực Phật - Thánh có tác động nhiều nhất đến đời sống tâm linh của người Việt Thánh của người Việt cùng nằm trong hệ thống Thần linh nói chung, nhưng lại là những thần linh cá biệt, đặc biệt Có ý kiến cho rằng, Thần là có quyền năng vô bờ bến, còn Thánh là sự tích hợp của hai yếu tố Thần và trí tuệ
Thánh ở đồng bằng Bắc Bộ có một số đặc điểm: Nguồn gốc thường là những vị nhân thần sinh thời có tư cách đạo đức tốt, có công lao hiển hách với nước với dân (Trần Quốc Tuấn); là Thiên thần nhưng giáng trần sống cuộc đời trần tục, hiển linh nhiều lần giúp dân, giúp nước (Liễu Hạnh) Thánh bao giờ cũng là những nhân vật có tài năng đặc biệt, có phép thuật, có thể chữa bệnh, bắt tà, cứu dân (Trần Quốc Tuấn), tài trị thuỷ (Tản Viên); phù cho việc buôn bán giỏi giang (Chử Đồng Tử, Mẫu Liễu) Thánh có phép thuật và trở nên bất tử, thể hiện việc thường xuyên hiện hữu giữa đời thường dưới hình thức giáng linh, giáng trần để có thể giải quyết mọi việc trần gian
Trong vô số các Thần linh đất Việt, chỉ có một số được dân gian cũng như triều đình phong Thánh, là Thánh Tản Viên, Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thánh Trần, Thánh Chử Đạo Tổ, Thánh Gióng… và đây cũng là điều đặc biệt Trong số các vị Thánh này lại chỉ có hai vị Thánh Trần và Thánh Mẫu Liễu Hạnh là có vị trí sâu đậm hơn trong tâm tưởng dân gian.Việc ốp đồng, nhập đồng ở đồng bằng Bắc Bộ từ xưa đến nay cũng chỉ xoay quanh thần điện hai vị Thánh này.Còn việc tổ chức Hầu đồng dường như cũng tập trung nhiều nhất ở những địa điểm di tích lịch sử thờ hai vị Thánh này
Là nơi phát tích hai dòng Đồng: Thanh Đồng và Đồng Cốt, khu vực đồng bằng Bắc Bộ trở thành cái nôi của Hầu đồng “Tháng tám giỗ cha, tháng
ba giỗ mẹ”, câu ca dân gian như nhắc nhở các con nhang đệ tử của tín ngưỡng này về nghĩa vụ của mình.Đây cũng là hai thời điểm mà Hầu đồng diễn ra mạnh nhất ở đồng bằng Bắc Bộ Trong suốt cuộc đời thực hành tín ngưỡng của con nhang đệ tử, việc duy nhất của họ là tổ chức những cuộc Hầu đồng
Trang 22Trong các di tích thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Đức Thánh Trần, nghi lễ Hầu đồng luôn là nghi lễ phổ biến nhất Vì vậy,từ góc độ văn hoá và tôn giáo học,
có thể nói Hầu đồng là nghi lễ chính thức thờ hai vị Thánh này nói riêng và tín ngưỡng Tứ phủ nói chung
Tuy nhiên cần thấy, sự tồn tại hai dòng Đồng gắn với hai thánh: Thánh Trần và Thánh Mẫu, thìxưa kia việc Hầu đồng có được tách bạch thành hai nghi thức khác nhau không, về điều nàychưa thấy tài liệu nào ghi chép, mà chỉ viết về Hầu đồng của thờ Mẫu Đây là điều “bỏ ngỏ” cho nghiên cứu
1.1.2.2 Hầu đồng là hiện tượng nhập hồn của chính các thần linh
Đây là quan niệm phổ biến trong dân gian, đúng hơn là quan niệm của những tín đồ thuộc cả hai dòng Thanh đồng và Đồng cốt Với niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng, họ đều cho rằng khi các ông, bà Đồng lên đồng, là lúc thần linh nhập vào, vì vậy, hoạt động của các Đồng lúc đó là hoạt động của Thần linh Với quan niệm này, khi tham gia Hầu đồng, dù ở vai trò đồng lính (đồng mới), con nhang dự hầu, hay thậm chí là vợ, chồng của con Đồng, người ta đều có thái độ ứng xử với con Đồng như ứng xử với Thần linh vậy
Quan niệm này còn hướng tới mối liên hệ với Saman giáo, khi thấy từ
xa xưa Saman giáo dường như gắn chặt với nghi lễ của Thánh Mẫu.Quan niệm này càng được thể hiện đậm nét khi nhiều học giả nói về nghi lễ Hầu đồng Rằng: “Hầu đồng hay Hầu bóng là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của nhiều vị thần linh Trong đó, mỗi lần một vị thần linh nhập hồn (ốp đồng, giáng đồng), rồi làm việc quan (tức thời gian thực hiện các nghi lễ nhảy múa, ban lộc, phán truyền) và xuất hồn (thăng đồng) được gọi là một giá đồng” [38, tr.49] Hầu đồng do đó được quan niệm thuộc thể loại tín ngưỡng nhập hồn
Năm 2004, Viện nghiên cứu văn hoá xuất bản cuốn “Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á".Trong đó, nghi
lễ lên đồng của người Việt được hiểu, được xếp là một dạng thức Saman của nhiều dân tộc trên thế giới.Song chúng tôi thấy, hầu đồng với Saman giáo
Trang 23không phải là một, mà hầu đồng chỉ ít nhiều mang tính chất Saman giáo Bởi
vì, hiện tượng xuất thần của Saman gồm hai cách, hoặc thần linh nhập vào người thầy pháp, hoặc là hồn thầy pháp chu du lên xứ sở thần linh; còn Hầu đồng Việt là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh Tứ phủ vào thân xác các ông Đồng, bà Đồng
1.1.2.3 Hầu đồng là hiện tượng tâm lý học tôn giáo
Đây là một cách tiếp cận mới về Hầu đồng, mà tiêu biểu là nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh Theo ông, “Lên đồng là một hiện tượng cổ xưa về sau được các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau hấp thụ, phát triển thành một bộ phận cấu thành các tín ngưỡng, tôn giáo như thờ cúng tổ tiên, Đạo giáo, Shaman giáo” [13,tr 872] Từ đó, tác giả Nguyễn Duy Hinh cho rằng: lên đồng cổ sơ có nguồn gốc từ một dạng cổ tục có tên gọi là Thi công hí (Sư công hí) là một dạng nghi lễ tế tự vong hồn người chết từ thời cổ đại, trong đó
có vai trò của Sư công (pháp sư, vũ sư) và lấy cháu của người chết làm Đồng
Về sau cổ tục này chấm dứt vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc (thế kỷ VIII - III Tr CN) và chỉ còn lưu lại trong dân gian các dân tộc ít người với những tên gọi như: Tiên bà, Tiên công (nam) và Tiên Đồng,…
Những cổ thuật này có đặc điểm: Đồng là đối tượng trung gian giữa thần và người; khi lên đồng, chủ thể (Đồng) ở vào trạng thái tâm sinh lý rối loạn hốt hoảng một cách thần bí, gọi đó là trạng thái xuất thần, mê man mất tri giác Để có thể rơi vào trạng thái đó, các Đồng đều có sự trợ giúp của các
sư công dưới các hình thức thôi miên, múa biểu diễn… Khi lên đồng, con Đồng ở vào trạng thái tâm sinh lý đặc biệt mà chỉ có thể dựa vào lý thuyết của
phân tâm học mới có thể hiểu được bản chất của lên đồng.Theo đó, nhà
nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh kết luận: “Hiện tượng lên đồng là một hiện tượng bệnh lý xuất phát từ tiềm thức” đó là “hiện tượng bất bình thường của con người bình thường trong trạng thái ý thức không kiểm soát được hành vi
Trang 24(hành vi, ngôn ngữ do tiềm thức điều khiển) Cơ chế đó chỉ có ở một số người đặc biệt mà người ta gọi là căn Đồng” [13,tr.871]
Vậy, lên đồng là hiện tượng phân tâm học thuộc lĩnh vực mà S.M.Freud nghiên cứu, nên “không có trong/ ngoài, Đồng/ Thần, tất cả diễn ra trong tiềm thức của chủ thể (Đồng) và thể hiện ra bên ngoài Đó là hiện tượng tiềm ẩn trong tiềm thức lúc nào đó đột nhiên lên, tức xuất hiện” [16,tr.874].Từ lập luận này có thể hiểu khi chủ thể bắt đầu “lên đồng” là lúc đột khởi trạng thái tâm lý đặc biệt xuất phát từ tiềm thức, đượctác giả Nguyễn Duy Hinh gọi là: “Hiện tượng bất bình thường trong trạng thái ý thức không kiểm soát được hành vi”
Nhưng đáng lưu ý ở đây là, khi lên đồng, nhiều Đồng ở vào trạng thái đặc biệt của tâm lý và ý thức mà năng lượng từ vô thức được bột phát trỗi dậy, phát huy được một số tính năng/ công năng, nhờ đó họ có khả năng làm được những việc phi thường, như xiên lình, rạch lưỡi, tiên tri…
1.1.2.4 Hầu đồng là hiện tượng tà giáo
Hầu đồng là hiện tượng tín ngưỡng dân gian khá nhạy cảm, xưa cũng như nay, nên số phận của nó cũng lao đao không kém tình hình của Saman giáo dưới thời Nga Sa Hoàng Do tính chất khó lý giải của Hầu đồng, trong một thời gian rất dài, Hầu đồng bị coi là hiện tượng mê tín dị đoan và bị đặt ra ngoài lề hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng dân tộc Hầu như các thể chế chính trị, các tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống rất ngại nhắc đến hiện tượng Hầu đồng, thậm chí nhiều lúc, nhiều nơi và nhiều giai đoạn nó còn bị coi như một hiện tượng tà giáo
Điển hình cho sự công khai công kích Hầu đồng là những tờ báo xuất bản những năm thực dân Pháp đô hộ Việt Nam.Các tờ báo, tạp chí lúc bấy giờ, như Nam Phong, Đông Dương tạp chí, Tri Tân,… trong đó, tạp chí Nam Phong phản ánh nhiều về phong hoá Việt Nam đương thời và có đề cập đến
tục Hầu đồng Hầu đồng cùng phong thuỷ, bốc phệ bị báo chí phê bình là hủ
Trang 25tục nước Nam, là những điển hình về dị tục, hay trò mê tín, là tà giáo cần phải dẹp bỏ Quan niệm này về sau vẫn còn phổ biến trong giới báo chí
Nguồn cơn của “sự ngược đãi” này, một phần là do “tính bí hiểm” của Hầu đồng; mặt khác là do tín ngưỡng dân gian không có giáo lý, giáo hội nên khó nắm bắt và khó kiểm soát; trong nghi thức Hầu đồng, tính thực dụng lại nổi lên như một thế ứng xử với thần linh Trải qua bao thăng trầm, sóng gió, nghi lễ này vẫn tồn tại, cho thấy tất yếu phải có lý do tự thân Hoặc phải chăng, Hầu đồng đã “may mắn” tồn tại trên nền tảng của tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, Thánh Mẫu, vốn là hai hình thức tín ngưỡng có vai trò, ảnh hưởng rất lớn và nhiều mặt trong đời sống nhân dân Việt Nam thời hiện đại
Các quan điểm khác nhau về nghi lễ Hầu đồngnhư trên cũng đang tồn tại ở Hải Dương, và để hiểu rõ hơn về nghi lễ này tại đây, trước hết cần tìm hiểu cơ sở kinh tế - xã hội của nó
1.2 Nghi lễ Hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Dương hiện nay
1.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo ở Hải Dương
1.2.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá ở Hải Dương
Về tự nhiên: Hải Dương thuộc đồng bằng sông Hồng, với diện tích 1.662
km2, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía Tây Hải Dương phía Tây Bắc giáptỉnh Bắc Ninh, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Đông giáp thành phố Hải Phòng, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Tây giáp tỉnh Hưng Yên
Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc thị xã Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn Vùng đồng bằng còn
Trang 26lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu
mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm
Về kinh tế: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GDP theo giá 2010) ước
tăng 7,7% so với năm 2013 (kế hoạch năm tăng từ 7 - 7,5%), cao hơn bình quân cả nước (cả nước ước tăng 5,8%) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, ước đạt 16,5% - 51,2% - 32,3% (năm
xa đó, tín ngưỡng Mẫu ở Hải Dương đã và đang phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ hơn bao giờ hết
Về văn hoá: Hải Dương là một trong những vùng đất "địa linh nhân
kiệt", vùng văn hoá và văn hiến tâm linh chính của cả nước Hải Dương có 1.098 di tích lịch sử, trong đó có 133 di tích cấp quốc gia và nhiều di tích xếp hạng đặc biệt, như Côn Sơn, Kiếp Bạc Hải Dương cũng là miền đất sinh ra và gắn liền với tên tuổi của nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới như: danh nhân quân sự thế giới Trần Hưng Đạo, một trong mười tướng tài trên thế giới, vị anh hùng dân tộc Việt Nam với chiến công hiển hách - ba lần chiến thắng quân Nguyên; Danh sư Chu Văn An, nhà giáo tài đức vẹn toàn, lịch sử tôn ông là nhà nho có đức nghiệp lớn nhất; Hai anh em cùng đậu tiến
sỹ làm quan đồng triều thời Lý là Mạc Hiển Tích- Mạc Kiến Quang; danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi; lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh
Trang 27Chiđã góp phần làm dạng danh đất nước; Đại danh y Tuệ Tĩnh, vị thánh thuốc nam Hải Dương cũng là quê hương củaPhạm Sư Mạnh, Đoàn Nhữ Hài, cùng
với Mạc Đĩnh Chi là những đại thần có tài đức, được xếp vào hàng "Người
phò tá có công lao tài đức đời Trần"
Trí tuệ, tài năng của người Hải Dương đóng góp cho sử sách Việt Nam 486 tiến sỹ (tính theo đơn vị hành chính mới, 637 vị tính theo đơn vị hành chính cũ) trong tổng số 2.989 vị đỗ đại khoa qua các triều đại, chiếm 16% (22%) đứng đầu cả nước Tiêu biểu là làng Mộ Trạch (Bình Giang - Hải Dương), một "lò tiến sỹ xứ Đông" có 36 vị đỗ đại khoa, đứng đầu số người đỗ tiến sỹ tính theo đơn vị làng xã trong cả nước Vào thời Lê sơ, ở Hải Dương
đã có trường thi và miếu thờ các vị đại nho, tiêu biểu là Văn miếu Mao Điền Hiện nay, tỉnh Hải Dương còn nhiều di tích lịch sử-văn hóa, như: Đền Kiếp Bạc thờ Đức thánh Trần, Đền thờ Mạc Hiển Tích, Mạc Kiến Quang, Lưỡng quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi; Long động đền Đoan và đền Tranh thờ Quan lớn Tuần Tranh; chùa Côn Sơn gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi; đền Cao, Văn miếu Mao Điền, khu di tích Kính Chủ - An Phụ Không những thế, các nhà nghiên cứu đã và đang còn tiếp tục làm rõ và cho thấy rằng Hải Dương vùng đất xứ Đông có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú Nhiều đồ đồng trong ngôi mộ cổ, những đồ trang sức đẹp bằng đá quý sản xuất với quy mô lớn công xưởng ở di chỉ khảo cổ trên các khu vực núi đá vôi… đã được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam
Với hàng nghìn di tích lịch sử văn hóa, danh thắng đã chứng minh về một Hải Dương là miền đất có bề dày lịch sử, văn hóa, truyền thống phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Các di tích lịch sử văn hóa như đình, miếu, đền, chùa, danh lam thắng cảnh…là bộ phận hữu cơ của di sản văn hóa dân tộc, có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần và tín ngưỡng của nhân dân
Về văn hóa dân gian, Hải Dương có các loại hình truyện kể, tục ngữ, ca dao, hò, vè, các hình thức diễn xướng, chèo, tuồng, múa rối cạn, múa rối nước, hát đúm; các trò chơi mang nhiều ý nghĩa xã hội và lịch sử như chọi
Trang 28trâu, chọi gà, vật võ, đánh phết, đu tiên, đua ngựa gỗ, đua thuyền, pháo đất, trong đó có vài môn dường như chỉ Hải Dương còn giữ được đến ngày hôm nay Nghề tạc tượng xưa và nghề dệt thảm len sau này, nhiều sản phẩm đã trở thành tác phẩm nghệ thuật và người chế tác không còn là thợ thủ công mà thực sự là những nghệ sĩ
1.2.1.2 Về tín ngưỡng, tôn giáo nói chung ở Hải Dương
Đối với người Hải Dương - tôn giáo tín ngưỡng là một phần không thể thiếu về tinh thần, có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tâm linh.Những năm gần đây, hoạt động tôn giáo - tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Hải Dương phát triển mạnh trên cả ba bình diện: cơ sở thờ tự, số lượng tín đồ và chức sắc tôn giáo Hải Dương hiện có 04 tôn giáo có tư cách pháp nhân,là Phật giáo, Công giáo, Tin Lành và đạo Cao Đài Tín đồ các tôn giáo cótrên 40 vạn người, chiếm 20,91 % dân số, trong đó, Công giáo 4,5 vạn người; đạo Phật hơn 35 vạn người; đạo Tin Lành có 2.000 người; đạo Cao Đài 300 người Tổng số chức sắc tôn giáo có 156người; chức việc 302người; nhà tu hành 73người.Có 713 cơ sở thờ tự (598 chùa; 111 nhà thờ Công giáo; 01 thánh thất họ đạo Cao Đài, 03 nhà
thờ đạo Tin Lành và hơn 700 đình, đền, miếu của tín ngưỡng dân gian)
Đồng bào có đạo tại Hải Dương không ngừng phát triển theo hàng năm: năm 2003 có 203.302 người (chiếm 11,21%), năm 2005 có 203.850 người (chiếm 11,99%); năm 2010 có 349.681 người (chiếm 18,43%); năm 2012 có 397.300 người (chiếm 21,62%) Ngoài ra còn một số hoạt động tôn giáo mới, đạo lạ đang hoạt động chưa được ghi nhận tư cách pháp nhân như: Thanh Hải
vô thượng sư, Ngọc phật Hồ Chí Minh, Pháp luân công…
1.2.1.3 Khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu nói chungở Hải Dương
Tín ngưỡng thờ Mẫu đem lại sức mạnh tinh thần cho người dân Hải Dương Những nơi thờ Mẫu thường là nơi linh thiêng nhất mực đối với người Hải Dương Người Hải Dương coi trọng và thờ Mẫu với ba lý do
Trang 29Thứ nhất, là về không gian sống, cư trú bao gồm sông, ngòi, đất đai,
ruộng vườn, đồi bãi Người Hải Dương cũng như người dân Việt Nam nói chung có quan niệm “đất có thổ công, sông có hà bá” và những vị Thánh Mẫu ngày đêm tác động rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội của con người cũng như vạn vật trong một không gian sống như vậy
Thứ hai, người dân Hải Dương sống gắn với trồng lúa nước, đánh bắt
thủy sản trên các con sông như sông Thái Bình, Kinh Thầy cho nên phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tự nhiên Muốn cho mưa thuận gió hòa, phong đăng hòa cốc, thóc lúa đầy bồ, tôm cá đầy thuyền không thể không cầu các
vị Thánh Mẫu
Thứ ba, Hải Dương đang đô thị hóa, nền kinh tế thị trường phát triển
mạnh và con người luôn căng thẳng có thể dẫn đến stress.Vậy, người Hải Dương tin vào sự linh thiêng, phù độ của các vị Thánh Mẫu để được bình yên trong cuộc sống
Do vậy, ta thấy không một địa phương nào của Hải Dương lại không có
vị Thánh Mẫu bảo vệ cộng đồng và dân cư luôn bày tỏ thái độ sùng kính với các vị Thánh Mẫu của mình Tục thờ Mẫu ở Hải Dương thể hiện sự biết ơn,
ăn quả nhớ kẻ trồng cây, là tâm lý uống nước nhớ nguồn của người Hải Dương Thờ Mẫu, lễ phẩm dâng lên Mẫu, hầu đồng hằng năm mong cho sức khỏe được bền, tài lộc thường xuyên và gặp nhiều may mắn thì nhớ ơn những người đã phù hộ độ trì cho mình Đây là giá trị tinh thần, giá trị đạo đức và giá trị truyền thống Việt Nam
Tín ngưỡng thờ Mẫu mang tính phổ biến tại Hải Dương Hiện nay, tín đồ theo tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Dương rất đông, họ đến các đền, chùa, đình
để cầu mong sức khỏe, tài lộc và may mắn cho cuộc sống của con người Đa
số các di tích vốn được người dân lập nên để tôn thờ từng nhân vật riêng rẽ nhưng do biến thiên lịch sử và quá trình tiếp biến văn hóa, hiện tại đã được
mở rộng và phối thờ nhiều thành phần khác nhau kèm theo hàng loạt các loại
Trang 30hình sinh hoạt văn hóa đan xen phức tạp, phong phú, tùy theo mức độ, cấp độ
và phạm vi nhất định của các vật chủ điện thờ được tôn vinh, thờ phụng
Nghi lễ Hầu đồng là nghi lễ đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu và cũng
là sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo diễn ra thường xuyên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ nói chung, của người dân Hải Dương nói riêng Nếu như các tín ngưỡng, tôn giáo khác hứa hẹn cho con người cuộc sống tốt đẹp ở kiếp sau thì người Việt đến với tín ngưỡng thờ Mẫu với ước vọng cầu sức khoẻ, tài lộc ngay tại cuộc sống trần thế
Qua thực tế khảo sát của mình, tác giả thấy trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Dương, hầu đồng giữ vai trò trung tâm và như nhiều địa phương khác, đều có quy trình tương đối giống nhau Có hai hình thức hầu đồng: hầu xuôi
và hầu ngược Trước đây, các thanh đồng Hải Dương hầu đồng theo lối hầu xuôi, từ Tam tòa thánh Mẫu, Đức Thánh Trần, Tứ phủ chầu Bà, Ngũ vị Quan lớn, các ông Hoàng, đến hàng cô, hàng cậu Còn ngày nay, họ hầu ngược, từ Tam tòa Thánh Mẫu, Ngũ vị Quan lớn, Tứ phủ chầu Bà, các ông Hoàng, đến hàng Cô, hàng Cậu
Qua khảo sát về các điện thần ở các đền, điện, phủ thờ Mẫu tại Hải Dương đã hình thành một hệ thống tương đối nhất quán Mỗi điện thần với khoảng hơn 50 vị thần lớn nhỏ đều quy về vị thần chủ cao nhất là Thánh Mẫu.Trong mỗi không gian thờ Mẫu có rất nhiều sự khác biệt trong cách bài trí hệ thống tượng thờ.Về cơ bản hệ thống thần linh trong điện thờ Mẫu bao gồm: Phật Bà Quan Âm, Ngọc Hoàng, Tam Tòa Thánh Mẫu, Ngũ vị quan Ông, Tứ phủ chầu Bà, Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu, Ông Lốt, Quan Ngũ Hổ.Trong các điện Mẫu tại Hải Dương, Tam Tòa Thánh Mẫu là bộ tượng phổ biến nhất và thường được đặt ở nơi tôn nghiêm nhất, sâu nhất trong hậu cung
Sự bài trí của bộ tượng Tam Tòa đã có sự thay đổi: Thời kỳ đầu (tương
ứng với nền sản xuất nông nghiệp), bộ tượng Mẫu bao gồm Mẫu Thượng Thiên (trùm khăn đỏ, ngồi giữa), Mẫu Thoải Phủ (trùm khăn trắng, ngồi bên
Trang 31trái Mẫu Thượng Thiên), Mẫu Địa (trùm khăn xanh lam hoặc vàng) Khi nền kinh tế thương mại phát triển thì Tam Tòa Thánh Mẫu chuyển thành: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn (trùm khăn xanh), Mẫu Thoải Phủ
Ban thờ Ngọc Hoàng.Ngọc Hoàng không phải là thần xuất thân từ tín
ngưỡng thờ Mẫu mà là thần chủ của Đạo giáo Trung Quốc, có quyền lực rất lớn, đứng đầu thiên đình.Nhưng khi xâm nhập vào tín ngưỡng thờ Mẫu, vai trò và quyền lực của Ngọc Hoàng lại bị mờ nhạt so với Thánh Mẫu Ngọc Hoàng trong điện thờ Mẫu đã được chuyển hóa thành Cha, tương ứng với Mẹ
Có nhiều nơi Đức Vua Cha (Ngọc Hoàng) đã hóa thân thành Tam vị để thích ứng với Tam Tòa Thánh Mẫu, như: Vua Cha Bát Hải (Thủy phủ), Vua Cha Ngọc Hoàng (Thiên phủ), Vua Cha Diêm Vương (Địa phủ) Một điều đặc biệt
là, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu mặc dù được thờ trong điện thờ Mẫu nhưng không bao giờ giáng đồng như các vị thần khác
Ngũ vị Tôn Ông.Đó là những người con trung hiếu của Mẫu, là năm
Ông lớn và là lực lượng thực hiện ý đồ của Mẫu làm việc thiện Mỗi khi giáng đồng thường mặc trang phục có màu sắc về màu phủ của mình quản cai Quan lớn đệ Nhất là phái viên của Mẫu Thượng Thiên nên mặc màu đỏ Quan lớn
đệ Nhị (Quan giám sát) là phái viên của Mẫu Thượng Ngàn nên mặc áo màu xanh Quan lớn Đệ Tam là con của Vua Cha Bát Hải Long Vương thuộc về Thủy phủ thường choàng áo màu trắng, Quan lớn đệ Tứ (Quan Khâm sai) là phái viên của Mẫu Địa, đi khâm sai các vùng dân cư sinh sống, giữ bình an, thái bình cho loài người, thường mặc áo màu vàng Quan lớn đệ Ngũ (hay còn gọi là Quan Tuần Tranh) thuộc hàng thoải phủ, mặc áo màu xanh nước biển khi giáng đồng
Để ý định của Mẫu thành hiện thực, cần có các nữ thần, là Tứ Phủ Chầu
Bà Tứ Phủ Chầu Bà được coi là một hóa thân, phục vụ trực tiếp của Tứ Vị
Thánh Mẫu Có tất cả 12 vị Chầu Bà, trong số đó, các Chầu Bà từ Đệ Nhất đến Chầu Lục, Chầu Bé thường hay giáng đồng nên được mọi người biết đến, có
Trang 32nơi thờ riêng, còn lại ít giáng đồng và không mấy biết tới Trong đó Chầu Đệ Nhất thuộc thiên phủ, Chầu Đệ Nhị, Chầu Lục, Chầu Bé và Chầu Mười thuộc về Nhạc phủ, Chầu Đệ Tam thuộc về Thoải phủ, Chầu Đệ Tứ thuộc về Địa phủ
Dưới đó nữa là hàng các ông Hoàng Theo quan niệm của tín ngưỡng
thờ Mẫu, ông Hoàng là những vị thần có nguồn gốc từ hồ Động Đình, hoặc cũng có thể là những người có công đánh giặc, khai phá mở mang đất đai bờ cõi cho đất nước Có tất cả 10 ông Hoàng với tên gọi theo thứ tự từ ông Hoàng đệ Nhất đến ông Hoàng Mười Tượng thờ tại các đền Mẫu tại Hải Dương thấy ba tượng Hoàng Bơ, Hoàng Bảy, Hoàng Mười và cũng là 3 vị thánh hay giáng đồng trong các buổi hầu đồng
Cuối cùng là hàng Cô, hàng Cậu - gồm những người làm nhiều điều tốt
lành sau khi chết được hầu hạ Mẫu hay các ông Quan, ông Hoàng hoặc những người chết trẻ sau đó hiển linh thành các bé Thánh Có từ 10 đến 12 thánh thuộc hàng Cô và hàng Cậu
Trong điện thờ Mẫu tại Hải Dương còn có sự hiện diện của hai vị thần
động vật Đó là thần rắn còn gọi là Ông Lốt (gồm 2 Ông rắn, một Ông màu
trắng (Bạch Xà) và một Ông màu xanh nhạt (Thanh Xà) nằm vắt ngang phía
trên điện chính thờ Thần Hổ còn gọi là Quan Ngũ Hổ hay Ông Hổ được thờ ở
hạ ban phía dưới ban Công đồng Quan ngũ hổ và Ông Lốt ít khi giáng đồng Một khi đã giáng đồng thường hay có động tác như phun lửa, nhai bó hương cháy hay làm các động tác như hổ vồ mồi, hổ ngồi…
Trong điện thờ Mẫu tại Hải Dương, ngoài hệ thống thần linh mang tính phổ biến trên còn có phối thờ Đức Thánh Trần cùng các thuộc hạ của ngài, mặc dù về bản chất dòng thờ Đức Thánh Trần (thanh đồng) khác với dòng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh (đồng cốt) Như vậy, với nhu cầu tâm linh đa dạng và phong phú dân gian đã đưa Đức Thánh Trần vào điện Mẫu, biến ông trở thành một trong những vị thần quan trọng trong Tứ Phủ Ông hay giáng đồng, nhập đồng để trừ tà ma, chữa bệnh Trong thứ tự giáng đồng của những người có
Trang 33căn nhà Trần thì Đức Thánh Trần xuất hiện sau các giá vị Thánh Mẫu và trước giá hàng quan
Như vậy, trong tín ngưỡng dân gian, thờ Mẫu không phải chỉ có một mình Mẫu mà có cả một hệ thống thờ Mẫu mang tính sáng tạo của người dân Mẫu ở Việt Nam còn hóa thân thành Phật Bà Quan Âm, do vậy, Mẫu đã được đưa vào thờ ở nhiều ngôi chùa tại thành phố Hải Dương và khắp nơi trên đất nước, đúng như câu “Tiền Phật hậu Mẫu”
Những nơi thờ Mẫu ở Hải Dương còn có tính hỗn dung với các tín
ngưỡng và tôn giáo khác Đa số các ngôi chùa ở Hải Dương đều có ban thờ Mẫu với những vị thánh trong điện thờ Mẫu.Giữa tam giáo (Phật, Nho, Lão)
và tín ngưỡng dân gian, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu có mối quan hệ chặt chẽ, đan xen và thâm nhập vào nhau Trong các điện thần thờ Mẫu ở chùa, đền, phủ, đình, miếu (ở Hải Dương một số ngôi đình thờ thần Hoàng hay những nhân thần cũng đã xuất hiện phối thờ tín ngưỡng thờ Mẫu) có cả hệ thống các thần linh vốn xuất phát từ những tôn giáo, tín ngưỡng khác, như Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo… Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng không đóng khung trong một khuôn hình mà bung ra nhiều cung cách, dáng vẻ, nhiều khi còn mở toang cửa cho các thần thánh của các tôn giáo, tín ngưỡng khác ùa vào như một
Đệ Nhị (11/11),…Trong cả năm như vậy, các cuộc Hầu đồng thường tập trung hơn vào dịp tháng Ba - Giỗ Mẹ (Thánh Mẫu) và tháng Tám - Giỗ Cha
Trang 34(Ngọc Hoàng, Vua Cha Bát Hải, Đức Thánh Trần) theo thể thức “Tháng Tám giỗ Cha Tháng Ba giỗ Mẹ”
Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Dương là một đặc sắc của tín ngưỡng thờ Mẫu của vùng Bắc bộ Việt Nam và điều đó có sự khác nhau đáng
kể với các vùng miền khác của Việt Nam Chẳng hạn, thờ Mẫu ở Trung Bộ,
mà chủ yếu ở khu vực nam Trung bộ, có đặc trưng cơ bản là không có sự hiện diện của mẫu Tam phủ, Tứ phủ, mà chỉ có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần Hình thức thờ Nữ thần như thờ Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành và hình thức thờ Thánh Mẫu như thờ Thiên Y A Na, Po Nagar
Còn thờ Mẫu ở Nam bộ, so với Bắc Bộ, có sự phân biệt nhất định, với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn Điều nàycó nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước, tạo nên bức tranh đa dạng trong văn hoávà trong tín ngưỡng.Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô, và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc,
Bà Thiên Hậu,
1.2.2 Khái quát về nghi lễ Hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Dương
1.2.2.1 Các yếu tố người - vật cấu thành một nghi lễ Hầu đồng
Theo quá trình khảo sát tại một số buổi hầu tại các đền, điện và phủ trên địa bàn tỉnh Hải Dương tác giả nhận thấy, để diễn ra một buổi hầu cần có các yếu tố, đó là: đền, điện thờ; cung văn; trang phục và dâng cúng các lễ vật
1) Điện thờ
Điện thờ là một trong những yếu tố cấu thành hết sức quan trọng, nó
là không gian diễn ra một buổi hầu đồng Trong các đền phủ thì điện thờ
Trang 35chính thờ hệ thống Mẫu Tứ Phủ, Mẫu Thượng Thiên (Trời) ở giữa, Mẫu Ðịa (Ðất) ở bên phải, Mẫu Thoải (Nước) ở bên trái, Mẫu Thượng Ngàn (Núi, Rừng)
Ở các chùa chiền, miếu mạo thường những bức tranh thờ bà Chúa, đức Thánh Trần, ông Hoàng Ba, Hoàng Bẩy, Tam Phủ, Tứ Phủ theo nghệ thuật thời thượng Đông Hồ, Hàng Trống hay Sỳnh Người hầu đồng trước tiên phải chọn ngày lành tháng tốt để chuẩn bị hầu với thủ nhang nhà đền, phủ hay điện
2) Cung văn
Giúp việc trực tiếp cho ông Đồng và bà Đồng trong buổi hầu đồng là
Hầu dâng và Cung văn Đối với các ông, bà đồng bóng, âm nhạc và hát văn là
những yếu tố quan trọng, góp phần tạo điều kiện cho sự xuất thần của người hầu, do vậy trong một vấn Hầu đồng ở điện Mẫu không thể thiếu các cung văn Họ đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong một vấn hầu, một yếu
tố quan trọng tạo nên không gian tâm linh mang tính linh thiêng khác biệt so với các tôn giáo khác
Trong đó dàn nhạc Hầu Bóng (hay còn gọi là cung văn) Dàn nhạc hầu bóng gồm có 1 đàn nguyệt, 1 đàn nhị, 1 sáo, 1 trống lớn, 1 trống nhỏ, 1 cảnh đôi, 1 phách Tùy từng địa phương, tùy hoàn cảnh hành lễ mà người ta có thể thêm bớt nhạc cụ này hoặc nhạc cụ khác, nhưng người ta không thể bớt đi đàn nguyệt, trống nhỏ, cảnh đôi vì đây là những nhạc cụ nòng cốt, nhạc cụ tính cách của dàn nhạc Hầu Bóng Họ xướng nhạc và hát cho việc trình diễn của con Đồng khi Thánh nhập Nhạc cụ chủ đạo của cung văn là đàn nguyệt, ngoài ra còn có trống ban, cảnh đồng, phách, thanh la…
Trong cung văn, có người gảy đàn, gõ trống, phách… nhưng cũng có thể họ vừa chơi nhạc, vừa hát, chỉ dừng lại những lúc Thánh nhập, Thánh xuất, lúc dâng hương Đặc biệt trong khi múa đồng, ban phát lộc, thưởng thơ phú… thì cung văn phải vừa chơi nhạc, vừa hát
Trang 363) Người Hầu dâng
Trước hết, người dâng cúng (người hầu dâng) rất quan trọng.Họ thường cũng là những người đã từng hầu đồng Họ giúp ông Đồng và bà Đồng trong việc hầu Thánh, như thắp hương, dâng các loại vũ khí, dâng thuốc lá, rượu, trầu,… đặc biệt giúp người Hầu trong việc thay lễ phục khi chuyển từ giá này sang giá khác Hai người Hầu dâng ngồi hai bên ông Đồng hay bà Đồng trước ban thờ Thánh, họ mặc áo dài đen, quần trắng, đội khăn xếp (nếu là nam), áo dài màu (nếu là nữ)
4) Trang phục
Trang phục cũng là một yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành công của một buổi hầu.Trang phục phải thích hợp cho từng vị thánh, thần nhập đồng Vì vậy người hầu đồng phải chuẩn bị đầy đủ trang phục tùy theo định hầu mấy giá Thường thì cần những trang phục sau đây: Khăn đỏ phủ diện, ít nhất là 5 chiếc áo dài mầu sắc khác nhau và một quần dài trắng Khăn tấu hương và một ít loại khăn khác, thắt đai lưng mầu, thẻ ngà, kiềng bạc, vòng, hoa tai, chuỗi hạt, xuyến, quạt và son phấn, tuy nhiên cũng có trường hợp, người hầu đồng chỉ cần một vuông vải đỏ Tuy nhiên, màu sắc của trang phục phải phù hợp với mầu sắc của từng phủ.Màu đỏ Thiên Phủ, màu vàng Địa Phủ, màu xanh Nhạc Phủ và màu trắng Thoải Phủ
Hiện nay ở Hải Dương xu hướng quay trở lại với các trang phục cổ, lên khăn buồm giá các chầu theo lối cổ đang được các thanh đồng sử dụng rộng rãi và phổ biến hơn nhằm khôi phục lại những nét đẹp cổ truyền trong nghi lễ hầu đồng
5) Các lễ vật dâng cúng
Theo khảo sát của tác giả tại các buổi lễ trên địa bàn tỉnh Hải Dương
cùng với quá trình phỏng vấn các thanh đồng thủ nhang và được biết lễ vật
dùng trong nghi lễ hầu đồng được trình bày trên một kỷ tháp hình chữ nhật kê
Trang 37chính giữa và gồm những thứ lễ vật phục vụ riêng cho từng phần - nội dung lễ khác nhau Đó là:
+ Lễ cáo: trầu cau, rượu thuốc, chè, lễ mặn, hoa quả, vàng hương, sớ
Đây là nghi lễ như hình thức để báo cáo với các quan cai quản, các thần thổ địa bản cảnh về chứng cho thanh đồng chuẩn bị bắc ghế hầu thánh
+ Lễ phát tấu: 5 ngựa 5 mầu đỏ, xanh, trắng, vàng, tím, 5 mũ, 5 quần
áo tượng trưng cho năm phương ngũ hành, hoa quả, lễ mặn, rượu, trầu cau Mâm phát tấu gồm có: 9 gương, 9 lược, 9 quạt, 9 bút, 9 vở, 9 quả trứng sống,
9 khăm mặt bông, 9 kéo, 9 dao, 9 thỏi mực đỏ, 9 kim, 9 thoi chỉ ngũ sắc, 9 đôi giầy kí linh, 9 bao thuốc, 9 lạng chè, 9 miếng trầu trăm, 9 lọ nước hoa, 9 đồng tiền hành sai, 9 bao diêm, 1 mâm gạo, 1 cân muối Lễ phát tấu là nghi lễ mời quan sứ giả đi thỉnh thánh ngũ phương về ngự đàn duyên
+ Lễ phật: oản, ngũ quả, tiền phật quan, vàng lá, trầu, hương, nước
thanh thủy, nước chè, xôi chè dâng cúng Phật
+ Lễ tam tứ phủ: tam sinh (gà, ngan, lợn), trầu, rượu thuốc, hoa quả,
vàng hương
+ Mâm phủ gồm: 4 mâm cho bốn phủ Thiên, Thoải, Thượng, Địa trên
mỗi mâm đó các thức đều có 9 gọi là: “Cửu phẩm Liên Hoa Sinh Lão Thọ và cát tường phú quý”: 9 gương, 9 lược, 9 quạt, 9 bút, 9 vở, 9 quả trứng sống, 9 khăn mặt bông, 1 kéo, 1 dao, 9 thỏi mực đỏ, 9 kim, 9 thoi chỉ ngũ sắc, 1 bao thuốc, 1 lạng chè, 9 miếng trầu trăm, 9 đồng tiền hành sai, 9 bông hoa, 1 bát gạo (thóc), 1 ít muối, 1 lọ nước hoa Trứng bọc giấy màu, vàng đại, vàng tiểu,
1 hộp sớ, 1 bó đuốc và 9 nén hương phủ, 4 chum nước bịt giấy đỏ, 4 bát con,
4 gáo dừa, 4 cầu giấy đỏ, 4 khăn đỏ dài 1 thước 2 Tùy vào từng phủ mà mâm
lễ mang các màu sắc đặc trưng.Trong đó số 9 tượng trưng cho 9 vía của bà đồng, với các thanh đồng là nam thì là 7
+ Lễ còn thêm 1000 vàng trung Tam phủ, 1000 vàng trung Tứ Phủ,
1000 vàng hoa đỏ trung dâng về các phủ, 3000 vàng đại đỏ xanh trắng (hoặc:
Trang 381000 vàng đại 3 màu lễ mẫu), 1000 vàng đại thiếc dâng bản cảnh, 1000 vàng thiếc dâng nhà Trần, 1000 vàng đại xanh dâng chúa, 1000 vàng cô xanh, 1 vỉ hải sảo dâng cô, 1 mâm hài 24 đôi (12 đôi to, 12 đôi bé) dâng mẫu và tùy tòng, 5 hình nhân (4 người 4 màu dâng 4 phủ, 1 người màu đỏ dâng bản mệnh), 1 ngựa đại hoặc trung màu đỏ, 1 thuyền rồng trắng, 1 voi vàng (đại hoặc trung), 1 lốt tam đầu trắng, bộ mũ gồm có: mũ bình thiên (đỏ, xanh, trắng, vàng), 1 mũ Ngọc hoàng vàng, 1 nam tào đỏ, 1 bắc đẩu tím, 1 đương niên (tùy vào năm đó), 1 đương cảnh vàng, 5 mũ quan võ 5 màu, 5 quan văn 5 màu, 5 mũ chúa ôn 5 màu, 3 lốt cửu vĩ đỏ, xanh, vàng, 1 bà chúa sơn trang xanh, 2 chầu hầu cận, 12 cô sơn trang, 1 thoi xanh, 1 mảng trắng, 1 voi rừng tiểu, 1 ngựa bạch, 1 gà rừng, 1 tòa núi (trong núi có núi vàng, núi bạc, có động sơ trang, cây cối hoa quả, bách thú, chúa và các cô sơn trang, thập nhị tiên nàng) 36 quả trứng sơn trang, 5 quả trứng hạ ban, 36 cái quạt, 36 gương,
36 lược, 36 khăn mặt, 36 kim, 36 thoi chỉ, nước hoa, 1 buồng cau trình chầu
đệ nhị Thượng ngàn, 13 miếng trầu têm cánh phượng, 1 gói thuốc lào, 3 chén rượu nồng
+ Mâm lễ sơn trang gồm: đậu xanh, chè kho, chè đường, nước chè
xanh, bánh đúc, bánh đa, khế chua, hoa hồi, măng, quế, chanh ớt, mắm tôm, tôm cua ốc, gà đồng, thịt nướng, cơm lam, bún bánh, đậu phụ, mực, cá… những sản vật đặc trưng của vùng núi rừng Phần lễ vật còn cần thêm các phẩm vật dâng thánh của các “hàng giá” khi ngự đồng thường dâng theo màu sắc hoặc các đặc sản dân gian mà các vị thánh đó khi sinh thời thường dùng
+ Mâm lễ chúng sinh: lễ chúng sinh được đặt trên một cái mâm, trên
đó có các đồ vàng mã cắt thành hình quần áo, tiền, lá vàng, thỏi bạc, những bát cháo, bánh trái và những thức ăn khác Có khi trên mâm còn có mấy đồng tiền bỏ vào chậu nước dành cho những vong hồn chết đuối Lễ chúng sinh có mặt trong tất cả các nghi lễ của tín ngưỡng Tam phủ, Tứ Phủ và các tín ngưỡng dân gian khác, dành cho những vong hồn chết dữ hay không có người
Trang 39thừa nhận, không có người hương khói cúng giỗ… Ngày ngay lễ vật có thay đổi đôi chút tùy nơi, tuy nhiên vẫn phải giữ căn bản tối thiểu tùy đồng tiền dâng cúng
1.2.2.2 Trình tự của một nghi lễ Hầu đồng tại Hải Dương
Theo trật tự thời gian, có thể phân một buổi hầu đồng thành các bước, các khâu là: Thánh giáng và Thánh thăng, thay lễ phục, thắp hương làm phép, múa đồng, ban lộc, và nghe chầu văn, Thánh thăng Theo đó:
- Bước chuẩn bị và thực hiện các nghi thức cúng lễ “trình đồng”: Khâu
chuẩn bị về con người và vật chất khá công phu và nhiều khoản, cũng như đòi hỏi cả thời gian Còn phần nghi lễ cúng lễ trình đồng cũng khá nhiều Như: Trình đình, trình miếu, trình đền, trình nghè, trình chùa, phần lễ này là những phần lễ cáo báo với chư vị thánh và quan Đương Niên Thành Hoàng, xin ngày
giờ ra trình đồng hầu thánh
- Thay Lễ phục: Mỗi vị thánh đều có lễ phục riêng phù họp với danh
hiệu của vị đó và mầu sắc cũng khác biệt tùy từng phủ, từng gốc tích sắc tộc gốc, phẩm hàm cũng như văn hay võ
- Dâng hương hành lễ: Đây là một nghi thức không thể thiếu được cho
bất cứ gía nào Hầu đồng tay trái cầm một bó nhang đã đốt sẵn, bọc trong một chiếc khăn có tẩm hương Tay phải rút một nén nhang rồi huơ lên bó nhang trong tay làm động tác phù phép mà ngôn ngữ hầu đồng gọi là khai cuông, khai quang để xua đuổi tà ma
- Lễ thánh giáng: Khi hầu đồng có thánh nhập vào thì buông các nén
hương đang cầm theo tay chắp, nghiêng mình ra hiệu thánh thuộc hạng thứ bậc nào Có hai hình thức thánh giáng: Giáng trùm khăn (hầu tráng mạn) với các giá thánh mẫu Mẫu chỉ đến chứng giám rồi đi ngay.Giáng mở khăn với các hang quan trở xuống Khi thánh đã nhập, người hầu đồng không còn là người phàm nữa, xuất thần, tự thôi miên đã giúp cho họ nhảy múa một cách
Trang 40uyển chuyển, nhịp nhàng mà bình thường họ không làm được Đó chính là hứng khởi mang tính tâm linh tôn giáo (Chỉ có ở một số người)
- Múa đồng: Múa đồng là một hình thức diễn xướng đã được cách điểm
hóa, khẳng định sự ứng nhập của thần linh Bởi vậy động tác múa khác nhau tùy theo từng vị thánh Nhưng chung chung thì thấy có ảnh hưởng của chèo và
vũ điệu dân gian Mỗi động tác múa trong các giá chầu phản ảnh con người thật của vị thánh giáng đồng Khi múa đồng thì ông đồng bà cốt sử dụng một số lễ
cụ như kiếm, đao, gậy, mái chèo, quạt hay cờ…Trước khi sử dụng lễ cụ, người hầu đồng bắt chéo hai dụng cụ lên trước trán, sau đó cúi đầu làm lễ Khi múa xong một giá, người hầu đồng lại bắt chéo hai lễ cụ trước trán để tạ lễ
- Ban Lộc và nghe Văn chầu: Sau khi đã múa các thánh thường ngồi
nghe cung văn hát, kể sự tích lai lịch vị thánh đang giáng Với các giá ông Hoàng thì cung văn ngâm các bài thơ cổ Thánh biểu hiện sự hài long bằng động tácvề gối và thưởng tiền cho cung văn Lúc nầy cũng là lúc, thánh dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu thuốc lá, trầu nước v.v Các thứ thánh dùng phải làm nghi thức khai cương (khai quang) cho thanh sạch Lúc này những người ngồi dự chungquanh đến gần để cầu xin hoặc nghe thánh phán truyền và xin lộc thánh Lộc thánh gồm nhiều thứ như: hoa quả, bánh trái, gương lược, tiền bạc, nén nhang cháy v.v
- Thánh thăng: Cuối cùng là dấu hiệu thánh thăng Người hầu đồng
ngồi yên, hai tay bắt chéo trước trán, quạt che lên đỉnh đầu, khẽ rung mình, lúc ấy hai người phụ hầu đồng cấp tốc phủ khăn diện lên đầu người hầu đồng, cung văn trổi nhạc và hát điệu thánh xa giá hồi cung
1.2.2.3 Nội dung diễn biến của một nghi lễ Hầu đồng ở Hải Dương
Nắm vững về kết cấu và trình tự cơ bản của một buổi Hầu đồng, tác giả
đã bằng phương pháp điền dã của tôn giáo học và xã hội học, với không ít lần, tại ngôi đền Tranh, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, để chiêm ngưỡng, nghiên cứu nội dung diễn biến trong quá trình thực hiện một nghi lễ Hầu