Công cuộc đổi mới kinh tế của đất nước ta từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Trong những năm qua đã và đang kéo theo hàng loạt những thay đổi tích cực tạo nên những cơ sở quan trọng ban đầu để phát triển thị trường tài chính nhằm đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế một cách bền vững. Cùng với sự phát triển đó, nhu cầu về vốn là vấn đề quan trong được ưu tiên hàng đầu trước khi bắt đầu một năm tài khóa mới. Đề cập đến vấn đề này để thấy rằng việc hình thành một thị trường tài chính cho phát triển kinh tế xã hội là vô cùng quan trọng. Cho nên việc tìm hiểu thị trường tiền tệ hay thị trường vốn là gì có vai trò to lớn như thế nào đối với nền kinh tế Việt Nam là điều hết sức cần thiết, nhưng chúng ta phải đặc biệt chú trọng các công cụ lưu thông trên thị trường này. Việt Nam hiện nay là một quốc gia có thị trường mới phát triển, các công cụ trong thị trường tài chính nhiều cái khá mới mẻ, nhưng với tốc độ đang phát triển thì các công cụ này đã thể hiện được tầm quan trọng của nó trong việc cung cấp vốn cho sản xuất và tiêu dùng, làm cho các dòng vốn được lưu thông một cách hiệu quả nhất. Để làm rõ vấn đề này, bài thảo luận nhóm chúng em hôm nay tập trung phân tích: “Các công cụ trên thị trường tài chính; thực trạng và giải pháp các công cụ này trên thị trường Việt Nam”
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN
BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI: TRÌNH BÀY CÁC CÔNG CỤ CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
CÁC CÔNG CỤ NÀY Ở VIỆT NAM
GV hướng dẫn :
Nhóm thực hiện : 01
Lớp HP : 1774EFIN2811
Hà nội -2017
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới kinh tế của đất nước ta từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường Trong những năm qua đã và đang kéo theo hàng loạt những thay đổi tích cực tạo nên những cơ sở quan trọng ban đầu để phát triển thị trường tài chính nhằm đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế một cách bền vững Cùng với sự phát triển đó, nhu cầu về vốn là vấn đề quan trong được ưu tiên hàng đầu trước khi bắt đầu một năm tài khóa mới Đề cập đến vấn đề này để thấy rằng việc hình thành một thị trường tài chính cho phát triển kinh tế xã hội là vô cùng quan trọng Cho nên việc tìm hiểu thị trường tiền tệ hay thị trường vốn là gì có vai trò to lớn như thế nào đối với nền kinh tế Việt Nam là điều hết sức cần thiết, nhưng chúng ta phải đặc biệt chú trọng các công cụ lưu thông trên thị trường này Việt Nam hiện nay là một quốc gia có thị trường mới phát triển, các công cụ trong thị trường tài chính nhiều cái khá mới mẻ, nhưng với tốc độ đang phát triển thì các công cụ này đã thể hiện được tầm quan trọng của
nó trong việc cung cấp vốn cho sản xuất và tiêu dùng, làm cho các dòng vốn được lưu thông một cách hiệu quả nhất
Để làm rõ vấn đề này, bài thảo luận nhóm chúng em hôm nay tập trung phân tích:
“Các công cụ trên thị trường tài chính; thực trạng và giải pháp các công cụ này trên thị
trường Việt Nam”
Do hiểu biết còn hạn chế và chưa đi sâu vào thực tế, bài thảo luận không tránh khỏi những khiếm khuyết Chúng em mong được nhận sự góp ý của giáo viên bộ môn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan thị trường tài chính
1.1.1 Khái niệm
Thị trường tài chính là loại thị trường thực hiện việc chuyển giao các nguồn vốn từ người cung vốn sang người cầu vốn theo các nguyên tắc thị trường, là tổng hòa của các mối quan hệ hàng hóa – vốn tiền tệ, cung cầu, giá cả phương thức giao dịch và phương thức thanh toán
1.1.2 Các yếu tố cơ bản trên thị trường tài chính
Đối tượng của thị trường tài chính: nguồn cung và cầu về vốn trong xã hội của các chủ thể kinh tế
Công cụ của thị trường tài chính: các loại chứng khoán
Chủ thể của thi trường tài chính: pháp nhân và thể nhân đại diện cho những nguồn cung, cầu về vốn trên thị trường tài chính
1.1.3 Các loại thị trường tài chính
Căn cứ vào thời hạn thu hồi vốn đầu tư: thị trường tiền tệ, thi trường vốn
Căn cứ vào thời hạn giao nhận và thanh toán: thị trường giao ngay và thị trường có kỳ hạn
Căn cứ vào cơ chế hoạt động: thị trường có tổ chức, thị trường tự do
Căn cứ vào đối tượng giao dịch trên thị trường: thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu, thị trường công cụ phát sinh
1.1.4 Chức năng của thị trường tài chính
Chức năng dẫn nguồn tài chính từ những chủ thể có khả năng cung ứng nguồn tài chính đến những chủ thể cần nguồn tài chính:
Thị trường tài chính đóng vai trò là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người kinh doanh Giúp cho việc chuyển vốn từ người không có cơ hội đầu tư sinh lợi đến những người có cơ hội đầu tư sinh lợi
Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, sản xuất kinh doanh Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, không chỉ đối với người có tiền đầu tư
mà còn cả với người vay tiền để đầu tư Người cho vay sẽ có lãi thông qua lãi suất cho vay Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu quả nhất do họ phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người cho vay đồng thời phải tạo thu nhập và tích lũy cho chính bản thân mình
Trang 4 Thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ thông qua các hình thức như phát hành trái phiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh trong nước
Thị trường tài chính cho phép sử dụng các chứng từ có giá, bán cổ phiếu, trái phiếu, đổi tiền
Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán;
Chức năng cung cấp thông tin kinh tế và đánh giá giá trị của doanh nghiệp
1.4.5 Vai trò của thị trường tài chính
Thị trường tài chính thu hút, huy động các nguồn tài chính trong và ngoài nước, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư;
Thị trường tài chính góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính;
Thị trường tài chính thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của nhà nước
1.2 Các công cụ thị trường tài chính
1.2.1 Thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ là thị trường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn (có kỳ hạn dưới một năm) được mua bán, còn thị trường vốn là thị trường giao dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn (gồm các công cụ vay nợ dài hạn và cổ phiếu) Vốn ngắn hạn chủ yếu do các ngân hàng cung cấp, còn thị trường chứng khoán là đặc trưng cơ bản của thị trường vốn
Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ là cắc tài sản tài chính ngắn hạn (hay công cụ nợ ngắn hạn) có tính thanh khoản cao như:
a Tín phiếu kho bạc
Tín phiếu (TP) kho bạc là loại chứng nhận nợ ngắn hạn của chính phủ do kho bạc nhà nước phát hành nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN và tạo thêm công cụ cho thị trường tiền tệ
Mục đích của việc phát hành các chứng từ cho ta biết thế nào là thâm hụt tạm thời của
NSNN, tạo thêm công cụ cho thị trường tiền tệ
Tín phiếu kho bạc được phát hành dưới hình thức chiết khấu: tín phiếu kho bạc không trả
lãi và được bán ở mức chiết khấu so với mênh giá và được kho bạc chuộc lại với đầy đủ mệnh giá khi đến hạn
Thời hạn của TP kho bạc thường ngắn có thể 3 tháng, 6 tháng, 1 năm
Khi bán với mức chiết khấu thì chúng ta sẽ xác định được:
Giá TP kho bạc, viêc xác định giá TP kho bạc tùy thuộc đó là thị trường sơ cấp, hay thị trường thứ cấp
Lợi suất đầu tư TP
Trang 5 Giá bán lại TP theo thời gian
Giá bán từ khi mua tới khi bán
Hình thức mua bán tín phiếu:
Tín phiếu kho bạc có thể phát hành tới tận tay nhà đầu tư hoặc hình thức phổ biến
là kho bạc bán luôn cho NHTW sau đó NHTW bán lại cho nhà đầu tư mà chủ yếu
là bán cho các NHTM
Tín phiếu kho bạc là một trong những hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường tiền tệ vì nó có độ tin cậy cao và độ lỏng cao
b Tín phiếu NHTW
Tín phiếu NHTW là loại công cụ nợ do NHTW phát hành với mục đích là hút tiền về nhằm thắt chặt chính sách tiền tệ
c Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi là loại công cụ nợ do NHTM phát hành để huy động vốn cam kết trả lãi định kỳ cho khoản tiền gửi và sẽ hoàn trả vốn gốc cho người gửi tiền đi đến ngày đáo hạn
d Chấp nhận của ngân hàng
Chấp nhận của NH là giấy đảm bảo rằng NH sẽ thanh toán về điều kiện số tiền mà người nhập khẩu còn thiếu đối với người xuất khẩu vào một ngày nào đó xác định trong tương lai
Chấp nhận của NH thường được sử dụng trong giao dịch thương mại quốc tế thực ra đây chính là hối phiếu phát sinh trong quan hệ mua bán trả chậm giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được NH chấp nhận thanh toán
NHTM thay mặt nhà nhập khẩu chấp nhận hối phiếu do nhà xuất khẩu ký phát bằng cách đóng dấu
e Thương phiếu
Thương phiếu là loại giấy nhận nợ xác định quyền đòi nợ của chủ sở hữu thương phiếu và nghĩa vụ phải hoàn trả của người mua khi đến hạn
Đặc điểm của thương phiếu:
Có tính trừu tượng
Có tính lưu thông : thương phiếu có thể chuyển nhượng từ người này sang người khác
Phân loại thương phiếu:
Căn cứ vào chủ thể lập thương phiếu có 2 loại :
Hồi phiếu: Là thương phiếu do chủ nợ lập để ra lệnh cho người thiếu nợ trả 1 số tiền nhất định cho người hưởng thụ khi món nợ đáo hạn
Lệnh phiếu: Là thương phiếu do người thiếu nợ lập để cam kết trả một món tiền nhất định cho chủ nợ khi đến hạn
Trang 6 Theo hình thức có 2 loại thương phiếu: Thương phiếu vô danh và thương phiếu ký danh
Vai trò của thương phiếu:
Đối với người đầu tư thương phiếu có độ rủi ro thấp , thời hạn thanh toán ngắn nên dung để thay thế cho các công cụ trên thị trường tiền tệ
Đối với người kinh doanh thương phiếu việc mua bán thương phiếu qua 2 cách :
Trực tiếp : Người vay có thể bán trực tiếp cho người đầu tư
Gián tiếp : Mua bán qua các nhà kinh doanh thương phiếu bằng cách mua thương phiếu từ người phát hành với mức lãi suất chiết khấu sau đó bán lại cho các chủ thể đang có vốn thặng dư ngắn hạn
Lợi ích đầu tư của thương phiếu:
Đối với người mua: Thu được lợi nhuận (chênh lệch giữa giá mua và giá bán )
Đối với người đi vay: Lãi suất chiết khấu (lãi xuất vay từ NH có thể thu hút nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư ngắn hạn, có đủ điều kiện để người đi vay có thể tham gia hay rút khỏi thị trường mở
f Hợp đồng mua lại
Hợp đồng mua lại là thỏa thuận giữa 2 bên theo đó bên bán chứng khoán đồng ý mua lại chứng khoản đã bán cho người mua ở một mức giá nhất định Giúp người bán thoả mãn nhu cầu cấp thiết về vốn do chi tiêu hiện tại
Hợp đồng mua lại bao gồm 2 giao dịch:
Bán chứng khoán kèm theo cam kết mua chứng khoán vào một thời điểm trong tương lai có thể theo cùng một mức giá bằng một thời điểm nào đó trong tương lai
và người bán cam kết trả cho người mua một mức lãi suất nhất định
Mua chứng khoán nhưng đưa ra điều kiện người bán phải mua lại chứng khoán trong tương lai, người mua nhận lại tiền gốc cộng với lãi suất nhất định tại một thời điểm nào đó trong tương lai
1.2.2 Thị trường vốn
Thị trường vốn bộ phận của thị trường tài chính, tại đó diễn ra quá trình giao dịch, phát hành, mua bán, chuyển nhượng của các công cụ tài chính trung và dài hạn ( có thời hạn từ một năm trở lên), là nơi cung ứng vố đầu tư trung và dài dài cho nền kinh tế, đồng thời là thị trường đầu tư và quan trong của những nhà đầu tư
Các công cụ lưu thông trên thị trường vốn:
a Cổ phiếu
Cổ phiếu là bằng chứng pháp lý xác định quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn góp vào tổ chức phát hành là công ty
Theo tính chất của các quyền và lợi ích mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông thì có 2 loại cổ phiếu:
Trang 7 Cổ phiếu phổ thông: là loại cổ phiếu có thu nhập không cố định, cổ tức biến động tuỳ theo sự biến động lợi nhuận của công ty Tuy nhiên, thị giá cổ phiếu lại rất nhạy cảm trên thị trường, không chỉ phụ thuộc vào lợi nhuận công ty mà còn rất nhiều nhân tố khác như: môi trường kinh tế, thay đổi lãi suất, hay nói cách khác tuân theo quy luật cung cầu Cụ thể hơn nữa, thị giá cổ phiếu thông thường phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế nói chung và biến động theo chiều ngược lại với biến động lãi suất trái phiếu Chính phủ, các công cụ vay nợ dài hạn lãi suất cố định và lãi suất huy động tiền gửi của ngân hàng
Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu có quyền nhận được thu nhập cố định theo một tỷ
lệ lãi suất nhất định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty Tuy nhiên, thị giá của cổ phiếu này phụ thuộc vào sự thay đổi lãi suất trái phiếu kho bạc và tình hình tài chính của công ty
b Trái phiếu
Trái phiếu là loại chứng khoán xác định quyền và lơi ích hợp pháp của người sở hữu đối với phần vay của tổ chức phát hành Với người mua trái phiếu là nguời cho vay vốn, tổ chức phát hành trái phiếu là người vay vốn
Căn cứ vào chủ thể phát hành trái phiếu có thể chia ra thành:
Trái phiếu Chính phủ: do kho bạc nhà nước phát hành, nhằm huy động vốn phát triển kinh tế - xã hội và bù đắp thâm hụt NSNN Không có rủi ro về thanh khoản và phá sản
Trái phiếu chính quyền địa phương: do chính quyền địa phương phát hành nhằm huy động vốn hỗ trợ ngân sách địa phương Độ rủi ro thấp
Trái phiếu công trình: gắn liền với công trình dự án đầu tư phát triển của kinh tế - xã hội của Chinh phủ chính quyền địa phương Chủ thể phát hành là Chính phủ trung ương, chính quyền địa phương hoặc chủ dự án đầu tư Độ rủi ro cao hơn hai loại trên
Trái phiếu doanh nghiệp: do doanh nghiệp phát hành nhằm mục đích huy động vốn vay đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mức độ an toàn thấp nhưng có thu nhập cao hơn
Ngoài ra còn có một số loại trái phiếu doanh nghiệp lưu hành phổ biến: trái phiếu có đảm bảo, trái phiếu không có đảm bảo, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu có thể mua lại
c Chứng chỉ quĩ đầu tư
Chứng chỉ quĩ đầu tư là loại tài sản tài chính do các quĩ đầu tuư phát hành để huy động vốn thực hiện mục tiêu đầu tư tập thể để thu lợi nhuận
Có 2 mô hình thành lập quĩ đầu tư:
Trang 8 Qũy đầu tư dạng công ty có tư cách pháp nhân, có hội đồng quản trị - cơ quan quản
lý điều hành cao nhất được phép phát hành cổ phần ra công chúng để huy động vốn đầu tư
Qũy đầu tư dạng hợp đồng do một công ty quản lý quỹ huy động đầu tư bằng cách lấy tổng lượng vốn dự kiến để huy động chia nhỏ thành những phần bằng nhau và phát hành chứng chỉ tương ứng với phần vốn đó và bán ra các đơn vị đầu tư
d Chứng khoán phái sinh
Quyền mua cổ phiếu: là loại chứng khoán phát sinh từ cổ phiếu phổ thông, cho phép các cổ đông của công ty cổ phần mua lượng cổ phiếu trong đợt phát hành mới, tương ứng với mức tỷ lệ cổ phần hiện có của họ với mức giá thấp hơn bán ra công chúng
Chứng quyền: alf loại chứng khoán cho phép người sở hữu nó mua một số lượng chứng khoán xác định nào đó của tổ chức phát hành với mọt mức giá và thời gian xác định
Quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ quyền được mua được bán một khối lượng cổ phiếu, trái phiếu,… ghi trong hợp đồng
PHẦN 2: THỰC TRẠNG CÁC CÔNG CỤ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TẠI VIỆT
NAM 2.1 Thị trường tiền tệ
a Tín phiếu kho bạc nhà nước
* Thực trạng:
Ngày 1/4/1990 ở Việt Nam mới hình thành kho bạc nhà nước Khi đó chính phủ giao cho kho bạc nhiệm vụ phát hành tín phiếu với thời gian 3 tháng Nhưng ngân sách vẫn mất cân đối, Chính phủ đã phải phát hành tiếp có đợt số thuế mới phục vụ cho trả nợ
là cũ chiếm tới 60-75% Hiện tại tín phiếu kho bạc nhà nước Việt Nam vẫn là một công
cụ vay nợ ngắn hạn với chính phủ để bù đắp thâm hụt ngân sách tạm thời Với tình hình chính trị ổn định ở Việt Nam cùng với các biện pháp trả nợ của chính phủ thì tín phiếu kho bạc nhà nước đảm bảo độ an toàn cao, mức lãi suất phù hợp, thế nhưng những năm
1990, lãi suất kho bạc nhà nước lại lớn hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngân hàng Vì trong thời gian đầu khi kho bạc nhà nước phát hành tín phiếu kho bạc, dân chúng chưa biết nhiều, họ vẫn quen gửi tiết kiệm vì vậy để hấp dẫn dân chúng thì lãi suất tín phiếu kho bạc tăng lên Mặt khác, lúc đó nhu cầu vay của chính phủ lớn đẻ bù dắp thâm hụt ngân sách Hiện nay tín phiếu kho bạc có lãi suất nhỏ hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng
Nhìn chung những năm gần đây thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc có nhiều mới mẻ, đặc biệt năm 1998 kho bạc nhà nước phối hợp với ngân hàng nhà nước tổ chức
Trang 9được 46 phiên đấu thầu loại kỳ hạn 1 năm tăng 9 lần so với năm 1997 Năm 1998 là năm khá sôi động, thành công cưa thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc Cho đến năm 2000 thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước đã hoạt động thường xuyên, góp phần hoàn thiện thị trường tài chính ở nước ta Đến tháng 10/2000 đã có 47 thành viên tham gia thị trường Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, các phiên chợ đấu thầu tín phiếu kho bạc vẫn còn kém sôi động Nhận diện các thành phần tham dự thầu hầu hết chỉ
là các ngân hàng thương mại quốc doanh và các công ty bảo hiểm, rất ít ngân hàng thương mại cổ phần tham dự và không có ngân hàng liên doanh hay chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia Về lãi suất trúng thầu đã giảm từ6%/ năm trong phiên thứ nhấtxuống còn 5.95%; 5.88%; 5.7% trong các phiên tiếp theo Và từ 12/6/2000 đến nay lãi suất trúng thầu chỉ dao động quanh mức 4.95 – 5.1%/ năm Qua hoạt động của thị trường này, cùng với thị trường mở mua bán tín phiếu kho bạc và thị trường chứng khoán, nơi phát hành trái phiếu chính phủ…sẽ làm tăng tính linh hoạt chu chuyển vốn trong nền kinh tế, góp phần cho ngân hàng nhà nước hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suât
cơ bản
* Những tích cực trong việc phát hành tín phiếu kho bạc nhà nước và trong hoạt động của thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước:
Với mức lãi suất thấp nhưng tín phiếu kho bạc nhà nước có độ an toàn gần như tuyệt đối, mức rủi ro rất thấp Có tính lỏng cao nhất trong số các công cụ nợ ngắn hạn Do
đó dễ thu hút đầu tư của các nhà đầu tư vào tín phiếu kho bạc Trong những năm gần đây thị trường tín phiếu kho bạc hoạt động sôi động có hiệu quả giúp nhà nước tiết kiệm hàng
tỉ đồng từ khoản chênh lệch lãi suất giữa phát hành trực tiếp và qua đấu thầu, thị trường này đã dần đi vào ổn định, nề nếp, tổ chức đấu thầu đã được duy trì khá tốt, tổ chức 1phieen đấu thầu trên 1 tuần
* Những tồn tại hạn chế trong thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc:
Các thành viên tham gia là còn hạn chế, kho bạc nhà nước, ngân hàng nhà nước vẫn chưa tìm được phương thức hữu hiệu nhất thu hút vốn thích hợp để có thể tăng khối lượng thành viên tham gia và trúng thầu lên cao hơn, trên cơ sở đó tăng khối lượng kho bạc nhà nước đưa ra đấu thầu Thị trường thứ cấp nơi diễn ra việc mua đi bán lại tín phiếu kho bạc đã phát hành lần đầu qua đấu thầu là chưa hoạt động Việc thanh toán lãi suất tín phiếu kho bạc còn cứng nhắc chưa linh hoạt
b Các chứng chỉ tiền gửi
Ở Việt Nam hiện nay chưa có một thị trường thứ cấp phát triển nên mặc dù chứng chỉ tiền gửi ngân hàng đã có nhưng chưa phát triển Vì vậy biện pháp hữu hiệu nhất để chứng chỉ tiền gửi ngân hàng phát triển được thì đòi hỏi không thể thiếu là phải có 1 thị trường thứ cấp phát triển
c Thương phiếu
Trang 10* Thực trạng:
Ở Việt Nam đã ra đời kì phiếu thương mại, phát triển theo luật lệ nhà nươc nhưng chưa ở mức độ phổ biến rộng rãi Để tạo môi trường cho sự tồn tại và phát triển của thương phiếu trong diện hoạt ngân hàng còn sơ khai vốn tự có của nền sản suất thấp Từ năm 1995 việc soạn thảo pháp lệnh thương phiếu đã được đề cập đến nhưng phải đến tháng 6/1999 dự thảo pháp lệnh thương phiếu mới được trình lên để Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua Được kiến nghị định hướng dẫn chi tiết pháp luật thương phiếu được bắt đầu soạn thảo từ tháng 1/2000 với sự phối hợp của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ Bên cạnh kỳ phiếu thương mại còn có hối phiếu, ngày nay vẫn đang tồn tại và được sử dụng trong quan hệ xuất nhập khẩu
Những tồn tại tích cực trong khi lưu hành thương phiếu : Là 1 phương tiện thanh toán, thương phiếu có tác dụng không thể phủ nhận là thúc đẩy kinh doanh, mở rộng sản xuất trong nền kinh tế thị trường với đặc trưng cơ bản là khan hiếm tiền tệ Hạn chế sự lệch pha giữa nhu cầu và khả năng thanh toán, cũng như giảm sự hạn chế về khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng ngân hàng của các đơn vị kinh tế
Đi cùng với sự ra đời, phát triển của thương phiếu là sự xuất hiện của và phát triển của thị trường thứ cấp, thị trường chiết khấu của ngân hàng thương mại và thị trường tái chiết khấu của ngân hàng nhà nước với các thương phiếu
Thương phiếu giúp chủ sở hữu nó và các tác nhân trong nền kinh tế thực hiện được muc tiêu lợi nhuận trong nền kinh tê thị trường Họ đến với nhau và cùng thoả mãn nhu cầu bằng cách giao dịch (mua - bán) thương phiếu trên thị trường cấp 2
Thương phiếu có tác dụng tích cực với hệ thống ngân hàng,hạn chế bành chướng tín dụng ngân hàng, bảo đảm khan hiếm tiền tệ trong toàn bộ nền kinh tế, góp phần thực hiện cân đối tiền hàng trên thị trường thương phiếu Ngân hàng sẽ có thêm 1 loại hình tài sản để đa dạng hoá loại hình hoạt động sử dụng vốn và tăng cường điều tiết vốn khả dụng Giúp ngân hàng nhà nước thực hiện vai trò điều tiết trong đièu kiện khan hiếm tiền tệ
d Các kì phiếu ngân hàng
Ở Việt Nam, ngân hàng nhà nước đã có thể phát hành kì phiếu ngân hàng và có quy chế phát hành ngày 23/10/1999 Chúng thực chất là 1 công cụ vay nợ ngăn hạn của ngân hàng thương mại để thu hút vốn phục vụ kinh doanh ngắn hạn của mình, vay mang tính chất chủ động của ngân hàng thương mại Có trường hợp ngân hàng trung ương phát hành kì phiếu để thực thi chính sách tiện tệ quốc gia ( thu hồi lượng tiền trực tiếp từ ngân hàng thương mại về) Hiện nay ở Việt Nam mệnh giá lớn tối thiểu là 100 triệu đồng/kì phiếu ngân hàng Chúng được mua bán trên cơ sở tự nguyện, trong trường hợp cần thiết